Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Mối Quan Hệ Giữa Chức Năng Đối Nội Và Đối Ngoại Của Nhà Nước Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Like | Photomarathonasia.com

Giải Quyết Mối Quan Hệ Giữa Quốc Phòng, An Ninh Và Đối Ngoại

Chính Sách An Ninh Đối Ngoại Của Nhật Bản Có Gì Mới?

Những Điểm Mới Trong Chính Sách An Ninh Đối Ngoại Của Nhật Bản

Khu Nhà Ở Cán Bộ Tổng Cục An Ninh Giá Gốc 16 Triệu

Bộ Công An Sẽ Không Còn Những Tổng Cục Nào?

Tập Huấn 4 Đạo Luật Và Công Ước Của Liên Hợp Quốc

Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại

Kế thừa kế sách “tạo lực, lập thế, tranh thời” của tổ tiên ta trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước; phát huy kết quả đường lối lãnh đạo trong cách mạng giải phóng dân tộc, với tinh thần cách mạng tiến công, để phù hợp với tình hình thế giới, khu vực và trong nước, từ năm 1991 đến nay, Đảng ta đã không ngừng đổi mới tư duy lãnh đạo, trong đó có đổi mới tư duy về việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đã đề cập đến mối quan hệ giữa quốc phòng và an ninh với việc xác định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh, quốc phòng  - an ninh với kinh tế trong các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội”(1). Cương lĩnh cũng chỉ rõ mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là giữ vững môi trường hòa bình cho sự nghiệp phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát huy tiềm năng, lực lượng mọi mặt của đất nước, cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… vào củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh quốc gia; việc củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của toàn dân và của Nhà nước. Do đó, cần phải “phối hợp lực lượng quốc phòng và an ninh trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự”(2). Tuy nhiên, lúc này Đảng ta chưa đặt vấn đề kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển của đất nước.

Đến Đại hội VIII của Đảng (năm 1996), nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại mới rõ ràng, cụ thể hơn, nổi bật là nhận thức rõ vai trò của đối ngoại trong các hoạt động quốc phòng, an ninh, đặc biệt là các hoạt động đấu tranh trên mặt trận ngoại giao. Đảng chủ trương: “Kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế. Gắn chặt nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh, hai mặt có mối quan hệ khăng khít trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ trong tình hình mới. Phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng, an ninh với hoạt động đối ngoại”(3). Từ đây, mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại luôn được Đảng khẳng định và đề cập trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị về quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đại hội IX của Đảng (năm 2001) tiếp tục bổ sung những quan điểm mới về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và mối quan hệ giữa các hoạt động này. Văn kiện Đại hội khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh, quốc phòng và an ninh với kinh tế trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Phối hợp hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại”(4). Điểm mới trong nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng và an ninh lúc này là đã cụ thể hóa mối quan hệ đó vào trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, đưa vào hoạt động thực tiễn của các cấp, các ngành, trong đó nhấn mạnh cần phải tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương, cơ sở. Tuy nhiên, việc cụ thể hóa quan điểm, nhận thức của Đảng vẫn chỉ tập trung ở lĩnh vực quốc phòng, an ninh, chưa cụ thể hóa mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại thành chiến lược, chính sách, kế hoạch cụ thể.

Đến Hội nghị Trung ương 8 khóa IX, với việc đề ra “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã trở nên đầy đủ, toàn diện, cụ thể và có bước phát triển hơn so với các kỳ đại hội trước, không chỉ trong trong hoạt động nhận thức mà còn cả trong hoạt động thực tiễn với sự cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách thành quy hoạch, kế hoạch, quy chế quản lý và phối hợp hoạt động giữa các lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đến năm 2005, mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại được Nhà nước đưa vào Luật Quốc phòng. Điều 5 Luật Quốc phòng đã chỉ rõ nguyên tắc của hoạt động quốc phòng là “kết hợp với hoạt động an ninh và hoạt động đối ngoại”.

Đại hội XI của Đảng (năm 2011) tiếp tục khẳng định việc “phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân; giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh”(7) là quan điểm nhất quán đối với công tác quản lý, phối hợp các hoạt động quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đặc biệt, Đảng nhấn mạnh việc tiếp tục chủ động, tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Điều này cho thấy, Đảng đã đề cập trực tiếp và đánh giá cao tầm quan trọng của hoạt động đối ngoại quốc phòng, an ninh đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đến Đại hội XII (năm 2022), Đảng tiếp tục nhấn mạnh việc “kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại; tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh”, trong đó xác định quan điểm chủ động giữ nước trong thời bình: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”(8), và chỉ rõ quá trình hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cho nên cần phải chủ động trong việc dự báo, xử lý linh hoạt, kịp thời mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu, bất lợi. Việc xác định quan điểm nêu trên là rất cần thiết để tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động với việc chủ động giữ nước trong thời bình.

Từ sau Đại hội XII của Đảng, các quan điểm nêu trên trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Trong quá trình triển khai thực hiện, các cấp, các ngành, nhất là các cơ quan thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã chủ động kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, năm 2022, Bộ Chính trị đã phê duyệt “Chiến lược Quốc phòng Việt Nam”, làm cơ sở cho việc hình thành các chiến lược cụ thể, như “Chiến lược Quân sự Việt Nam thời kỳ mới”, “Chiến lược Tác chiến trên không gian mạng” và Luật Quốc phòng (sửa đổi) năm 2022. Điều 3 Luật Quốc phòng năm 2022 đã xác định nguyên tắc của hoạt động quốc phòng là: “Kết hợp quốc phòng với an ninh, đối ngoại”. Việc kết hợp quốc phòng, an ninh và đối ngoại được xác định là một trong những nội dung quan trọng của nền quốc phòng toàn dân.

Từ Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đến nay, nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã có sự phát triển mới, ngày càng toàn diện, đầy đủ và sâu sắc; từng bước thấy rõ hơn vai trò của an ninh, đối ngoại đối với quốc phòng và sự cần thiết phải gắn chặt quốc phòng, an ninh với đối ngoại trong một chiến lược thống nhất.

Kết quả phát triển nhận thức về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại

Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại được biểu hiện thông qua các kết quả cụ thể như sau:

Về đối nội: Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại, chúng ta đã từng bước tăng cường tiềm lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước; sức mạnh quân sự, quốc phòng không ngừng lớn mạnh; thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được tăng cường, củng cố vững chắc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, giữ vững môi trường hòa bình, tạo ra những điều kiện thuận lợi để đất nước phát triển nhanh, toàn diện và vững chắc; sớm nhận diện và kịp thời đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; ngăn chặn các nguy cơ chiến tranh và xung đột vũ trang.

Về đối ngoại: Với những quan điểm, chủ trương, đúng đắn và sự nỗ lực không ngừng trên các phương diện, Đảng đã từng bước lãnh đạo đất nước phá thế bao vây cấm vận từ bên ngoài; giải quyết tốt mối quan hệ giữa đối tượng và đối tác; chuyển hóa tính chất, nâng cấp mối quan hệ với một số nước thành quan hệ đối tác, đối tác toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện; hình thành thế trận ngoại giao vững chắc, bao gồm: đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với các nước láng giềng; giải quyết các tranh chấp, bất đồng, mâu thuẫn với các nước trong khu vực bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; thiết lập quan hệ song phương với các nước, đưa quan hệ hợp tác với các đối tác đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn; từng bước xây dựng được vị thế, uy tín của Việt Nam là một trụ cột quan trọng trong các diễn đàn, các tổ chức quốc tế, khu vực. Đặc biệt, sự kiện Việt Nam trở thành Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2022 – 2022 với số phiếu bầu là 192/193 đồng ý, càng khẳng định rõ vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế… Với tư cách là một thành viên tích cực, chủ động và có trách nhiệm, Việt Nam đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại ở một số ngành, địa phương vẫn còn hạn chế; hệ thống luật pháp về việc giải quyết mối quan hệ này chưa hoàn thiện, việc cụ thể hóa sự kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại thành các quy hoạch, kế hoạch, quy chế, cơ chế hoạt động có lúc chưa đồng bộ; sự kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong việc giải quyết một số vấn đề cụ thể thiếu chặt chẽ; sự phối hợp trong nghiên cứu, dự báo về chiến lược quốc phòng, an ninh và đối ngoại có mặt chưa theo kịp diễn biến của tình hình.

Phương hướng giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời gian tới

Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục biến động nhanh chóng, phức tạp và khó lường, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bất ổn định, đe dọa đến môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới, tác động không nhỏ đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa… Điều đó đòi hỏi phải đồng thời thực hiện nhiều giải pháp khác nhau, trong đó nổi bật là sự kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Để thực hiện có hiệu quả việc giải quyết mối quan hệ này, cần tập trung vào một số phương hướng cơ bản sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với mọi hoạt động quốc phòng, an ninh, đối ngoại và việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước đối với việc giải quyết mối quan hệ này phải thông qua đường lối, chủ trương và hệ thống pháp luật. Đường lối, quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh và đối ngoại phải được luật hóa thông qua hệ thống pháp lệnh, nghị định, kế hoạch và các quy chế, quy định, bảo đảm tính nguyên tắc, tính pháp lý trong quá trình thực hiện.

Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và việc kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đẩy mạnh việc xây dựng, hoạch định, hoàn thiện chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng giai đoạn cách mạng, không để rơi vào thế bị động, bất ngờ cả về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Ban hành và duy trì nghiêm các quy chế, quy định mới về việc phối hợp giữa các ngành, các cấp, các địa phương, đặc biệt là giữa các ngành quân đội, công an và ngoại giao. Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện về nội dung, hình thức, biện pháp kết hợp đấu tranh quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng, hành động sai trái, thù địch, xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Hai là, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao tiềm lực kinh tế, tăng cường tiềm lực quân sự, xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững chắc.

Thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sẽ tạo điều kiện, cơ sở vật chất, kỹ thuật của đất nước, hình thành nền tảng để phát triển sức mạnh kinh tế, tạo dựng tiềm lực quân sự, quốc phòng và khả năng huy động tiềm lực kinh tế phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở đó, từng bước phát triển tiềm lực quân sự, quốc phòng, tạo thế và lực để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng, an ninh là quá trình tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nhằm tạo ra nguồn lực tổng hợp bảo đảm tốt nhất cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là tạo lập sức mạnh về kinh tế – xã hội, tạo cơ sở, tiền đề để tạo lập sức mạnh về quân sự, quốc phòng, an ninh, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nếu không có sức mạnh, tiềm lực kinh tế thì không có sức mạnh, tiềm lực quân sự, quốc phòng, an ninh. Chính tiềm lực quân sự, quốc phòng, an ninh mạnh sẽ góp phần bảo vệ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước. Vấn đề quan trọng đặt ra là chú trọng triển khai thực hiện có hiệu quả việc phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh, bởi đây là bộ phận của công nghiệp quốc gia, một phần quan trọng của thực lực và tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.

Mục đích cao nhất trong quan hệ đối ngoại là phục vụ lợi ích quốc gia – dân tộc, theo đó, trong quan hệ đối ngoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực, tuyệt đối không để Việt Nam rơi vào thế bị bao vây, cô lập, bị động, bất ngờ, đặc biệt là rơi vào trạng thái đối đầu có thể dẫn đến xung đột. Việt Nam cần tiếp tục tích cực, chủ động trong thiết lập, đẩy mạnh các mối quan hệ đối ngoại; trong hóa giải các bất đồng, mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích; trong đề xuất những giải pháp xây dựng hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới. Giải quyết quan hệ hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, khu vực trên tinh thần “hợp tác vì hòa bình và phát triển bền vững, cùng nhau giải quyết các vấn đề chung của khu vực và toàn cầu, các xung đột, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”(9). Tiếp tục nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong việc giải quyết những vấn đề chung, xây dựng lòng tin chiến lược, hướng đến hòa bình và ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Bốn là, linh hoạt, sáng tạo trong giải quyết các vấn đề đối ngoại trên cơ sở lợi ích quốc gia – dân tộc.

Trên tinh thần “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, Việt Nam cần phải linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo trong giải quyết các vấn đề đối ngoại, lấy lợi ích quốc gia – dân tộc là mục tiêu cao nhất, quan trọng nhất, có ý nghĩa định hướng hoạt động đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực. Lợi ích quốc gia – dân tộc Việt Nam là toàn diện, bao gồm lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích văn hóa…; lợi ích vật thể, lợi ích phi vật thể; lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; không chỉ có lợi ích trong nước mà còn các lợi ích hợp pháp khác ở ngoài nước.

Trong giải quyết mọi vấn đề đối ngoại, với mọi đối tượng, đối tác, phải bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, thực hiện bình đẳng, cùng có lợi, với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; không nóng vội, mà phải “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”(10); tăng cường sự gắn kết an ninh và ổn định của nước ta với an ninh và ổn định của khu vực, từng bước nâng cao mức độ đan xen lợi ích về quốc phòng, an ninh theo hướng tăng cường nhận thức, hợp tác về các vấn đề có chung quan tâm và lợi ích; giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế, vì lợi ích quốc gia – dân tộc.

Năm là, nâng cao tinh thần yêu nước và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.”

Lịch sử Việt Nam đã chứng minh tinh thần yêu nước và đoàn kết của nhân dân là một động lực vô cùng to lớn, giúp dân tộc ta phát huy sức mạnh tổng hợp, giành chiến thắng trước mọi kẻ thù xâm lược lớn mạnh gấp mình rất nhiều lần. Tinh thần yêu nước đã tạo nên sức mạnh của dân tộc Việt Nam, giúp cho dân tộc tồn tại và phát triển qua những thử thách cam go, khốc liệt và hào hùng của lịch sử. Tuy nhiên, trước những biến động lớn của thời cuộc hiện nay, đòi hỏi tinh thần yêu nước Việt Nam, một mặt, phải duy trì, củng cố những đặc trưng làm nên sức mạnh truyền thống của dân tộc; mặt khác, phải xây dựng và củng cố thêm những nền tảng lý luận và sức mạnh mới nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Do đó, cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc của người Việt Nam; nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cấp, các ngành, các lực lượng, nhất là phát huy vai trò của hệ thống giáo dục, đào tạo và các phương tiện truyền thông trong việc tuyên truyền, giáo dục này; nghiên cứu, lựa chọn nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục phải phù hợp với từng hoàn cảnh, đối tượng cụ thể, nhất là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu, nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, cần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Lấy lợi ích chung của quốc gia – dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động làm mục đích của cách mạng. Tích cực đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị các cấp; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tích cực, tự giác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xử lý hài hòa các mối quan hệ giai cấp và dân tộc, giai cấp, dân tộc và nhân loại, quốc gia và quốc tế, chiến lược và sách lược, lợi ích toàn bộ và bộ phận, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội; tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tổ chức, cá nhân cùng tiến bộ, trưởng thành, có đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng chung vì lợi ích quốc gia  - dân tộc./.

(1) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 17

(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 87

(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 40

(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 117

(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 111

(6) Bộ Quốc phòng: Quốc phòng Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2009, tr. 20 – 21

(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 238

(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2022, tr. 149

(9) Chỉ thị số 25-CT/TW, ngày 8-8-2018, của Ban Bí thư “Về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030”, Hà Nội, 2022, tr. 3

(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 153

Kết Hợp Chặt Chẽ Quốc Phòng Với An Ninh Và Đối Ngoại Theo Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng

Đảng Ủy Phòng An Ninh Đối Ngoại: Gắn Việc Học Tập Và Làm Theo Bác Với Thực Hiện Nhiệm Vụ Chính Trị Được Giao

Thực Phẩm Chức Năng Cho Phụ Nữ Tiền Mãn Kinh Nào Là Tốt Nhất

Phụ Nữ Tiền Mãn Kinh Nên Ăn Gì? Tránh Ăn Gì? Để Kéo Dài Thanh Xuân

Loạn Sản Phẩm Hỗ Trợ Tiền Mãn Kinh

Phòng Quan Hệ Đối Ngoại

Phòng Kinh Tế Đối Ngoại Và Hỗ Trợ Doanh Nghiệp

Đối Ngoại Việt Nam 2022: Bản Lĩnh Và Tâm Thế Mới

Phòng Hợp Tác Quốc Tế

Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Của Sở

Những Việc Làm Thiết Thực, Hiệu Quả Ở Phòng An Ninh Đối Nội

1. Quan hệ đối ngoại

-  Xây dựng mục tiêu và kế hoạch tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, phát triển thương hiệu và hình ảnh của Trường.

-  Chủ động tìm kiếm, tìm hiểu các tổ chức, cá nhân có năng lực, uy tín và thiện chí hợp tác trong lĩnh vực đào tạo, NCKH, giới công nghiệp, … để đề xuất với Hiệu trưởng xác lập quan hệ hợp tác. Đề xuất phương án chọn lựa đối tác, lĩnh vực hợp tác. Duy trì mối quan hệ hợp tác với đối tác.

làm việc tại Trường; theo dõi, đánh giá kết quả làm việc và rút kinh nghiệm để tham mưu cho Hiệu trưởng.

-  Đầu mối giao tiếp: sắp xếp lịch làm việc, tiếp đón khách trong nước của Trường. Đảm bảo chỗ ăn, ở thuận lợi, chu đáo cho khách trong thời gian công tác tại Trường. Chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho lãnh đạo cấp Trường đi công tác.

-  Chuẩn bị, tổ chức các buổi làm việc và ghi chép biên bản các phiên làm việc giữa lãnh đạo Trường với các đoàn khách nước ngoài.

-  Xin phép tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học, sinh hoạt học thuật quốc tế. Phối hợp với các đơn vị chức năng tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học, sinh hoạt học thuật quốc tế,

-  Xây dựng/triển khai các chương trình giao lưu, trao đổi học thuật với các đối tác.

-  Tiếp nhận, soạn thảo, dịch và gửi các tài liệu, thư, điện phục vụ cho các hoạt động quan hệ quốc tế chung của Trường. Dịch các bảng điểm, văn bằng, chứng chỉ do Trường cấp sang tiếng Anh cho người học. Chứng nhận các bản dịch thư mời đi công tác nước ngoài.

2. Quản lý dự án

-  Xây dựng chiến lược hợp tác quốc tế, xây dựng tiếp nhận và quản lý các dự án quốc tế của Trường. Tổ chức ký kết, theo dõi thực hiện, đánh giá định kỳ, tổng kết và đánh giá kết thúc các dự án hợp tác quốc tế.

-  Tìm kiếm và quản lý các chương trình học bổng quốc tế (đại học và sau đại học) cho SV và cán bộ của Trường.

-  Phối hợp với Đoàn thanh niên, Hội sinh viên tìm các nguồn học bổng cho SV từ trong và ngoài nước.

Bộ Trưởng Tô Lâm Kiểm Tra Công Tác Tại Cục An Ninh Đối Ngoại

Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ An Ninh Tinh Thông, Sắc Bén Về Nghiệp Vụ

Phòng An Ninh Đối Nội Triển Khai Chương Trình Công Tác Năm 2022

Đảng Bộ Phòng An Ninh Đối Ngoại, Công An Tỉnh: Vững Vàng Hướng Tới Nhiệm Kỳ Mới

Nhiệm Vụ, Ký Hiệu, Ý Nghĩa Từng Vị Trí

Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng Của Tiền Tệ

Bài Giảng Tài Chính Tiền Tệ

Trường Đại Học Kinh Tế Công Nghiệp Long An

Chức Năng Nào Dưới Đây Là Một Trong Những Chức Năng Của Tiền Tệ?

Trắc Nghiệm Gdcd 11, Bài 2: Hàng Hóa

Bài Tập Trắc Nghiệm Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 11: Hàng Hóa

13078

Quan điểm của K.Marx: tiền tệ bao gồm 5 chức năng: Chức năng thước đo giá trị, Chức năng phương tiện lưu thông, Chức năng phương tiện thanh toán, Chức năng phương tiện dự trữ, Chức năng tiền tệ thế giới.

Mối quan hệ giữa các chức năng của tiền tệ

– Chức năng thước đo giá trị

Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng:

+ Giá trị hàng hoá.

+ Giá trị của tiền.

+ Ảnh hưởng của quan hệ cung – cầu hàng hoá.

Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen.

– Chức năng phương tiện lưu thông

Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá. Công thức lưu thông hàng hoá là: H- T – H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế.

Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. Sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công nhận trong phạm vi quốc gia.

– Chức năng phương tiện cất trữ

Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

– Chức năng phương tiện thanh toán

Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng … Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình thức giao dịch này trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá. Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán. Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt. Mặt khác, trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên.

– Chức năng tiền tệ thế giới

Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết với nhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá.

Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xã hội.

Khái Niệm, Bản Chất Và Chức Năng Tiền Tệ

Chức Năng Cất Trữ Giá Trị (Store Of Value) Của Tiền Tệ Là Gì?

Đâu Không Phải Là Chức Năng Của Tiền Tệ?

Các Chức Năng Của Tiền Tệ (Chuc Nang Cua Tien Te)

Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ Quá Trình Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Ở Việt Nam

Bảo Đảm An Ninh, An Toàn Hoạt Động Đối Ngoại Của Đảng, Nhà Nước

Phòng An Ninh Đối Ngoại Công An Tỉnh

Bộ Đội Biên Phòng Thực Hiện Quản Lý Nhà Nước Về Quốc Phòng, An Ninh, Đối Ngoại Ở Khu Vực Biên Giới, Cửa Khẩu

Đảng Bộ Phòng An Ninh Đối Ngoại: Phấn Đấu Giữ Vững Danh Hiệu Trong Sạch, Vững Mạnh Tiêu Biểu

Công An Hà Nội Bổ Nhiệm 10 Trưởng Phòng

Cục Đối Ngoại Bộ Công An Triển Khai Công Tác Năm 2022

Năm 2022, Cục An ninh đối ngoại đã chủ động trong công tác nắm tình hình, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; kịp thời tham mưu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Công an nhiều chủ trương, giải pháp đảm bảo an ninh đối ngoại…

Phát huy tốt vai trò chủ trì, phối hợp với các lực lượng triển khai kế hoạch đảm bảo an ninh các sự kiện quan trọng đối ngoại của đất nước. Những kết quả trên của Cục An ninh đối ngoại đã góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị quan trọng của Đảng, Nhà nước, nâng cao uy tín, hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thứ trưởng Bùi Văn Nam phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.

Với sự nỗ lực, phấn đấu của cấp ủy, lãnh đạo và toàn thể cán bộ, chiến sỹ, năm 2022 nhiều tập thể, cá nhân thuộc Cục An ninh đối ngoại đã được tặng thưởng Bằng khen, Giấy khen, gồm: 1 cá nhân được Chủ tịch nước tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì; 1 cá nhân được Chủ tịch nước tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì; 1 tập thể và 1 cá nhân được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen; 8 tập thể và 33 cá nhân được Bộ trưởng Bộ Công an tặng Bằng khen; 1 tập thể, 3 cá nhân được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao tặng Bằng khen; 1 tập thể, 3 cá nhân được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tặng Bằng khen…

Thứ trưởng Bùi Văn Nam cùng các đại biểu và CBCS Cục An ninh đối ngoại.

Tổng kết phong trào thi đua “Vì an ninh Tổ quốc” năm 2022, Cục An ninh đối ngoại vinh dự được Bộ Công an tặng Cờ thi đua xuất sắc.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Thứ trưởng Bùi Văn Nam biểu dương những kết quả, thành tích nổi bật mà Cục An ninh đối ngoại đạt được trong năm 2022. Đồng chí Thứ trưởng khẳng định, những kết quả, thành tích đạt được của Cục An ninh đối ngoại góp phần quan trọng vào thành tích chung của toàn lực lượng Công an nhân dân.

Chỉ đạo nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện trong thời gian tiếp theo, Thứ trưởng Bùi Văn Nam đề nghị Cục An ninh đối ngoại bám sát các Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ, lãnh đạo Bộ Công an về các mặt công tác trọng tâm năm 2022, đặc biệt là tham gia đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước, các sự kiện diễn ra trong năm Chủ tịch ASEAN; công tác đảm bảo an ninh Đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Cần chú trọng nâng cao hiệu quả công tác nắm tình hình, phân tích, xử lý thông tin, kịp thời đề xuất tham mưu Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực an ninh đối ngoại… Tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế trên lĩnh vực an ninh; triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết về Chiến lược an ninh quốc gia trong tình hình mới.

Tiếp tục triển khai chỉ đạo của Đảng uỷ Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ về công tác Đảng, công tác xây dựng lực lượng; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, chiến sỹ trong đơn vị, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Công Tác An Ninh Đối Ngoại Góp Phần Bảo Vệ Vững Chắc Anqg Và Lợi Ích Của Đất Nước

Lễ Tân Ngoại Giao Có Thể Hiện Đường Lối Chính Sách Đối Ngoại Của Một Nhà Nước?

Những Tiền Vệ Phòng Ngự Sáng Giá Nhất Hiện Nay

Yếu Tố Cần Có Của Một Tiền Vệ Tấn Công Giỏi?

Tiền Vệ Là Gì? Chìa Khoá Dẫn Đến Thành Công Của Một Đội Hình

🌟 Home
🌟 Top