Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng Của Tiền Tệ

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Giảng Tài Chính Tiền Tệ
  • Trường Đại Học Kinh Tế Công Nghiệp Long An
  • Chức Năng Nào Dưới Đây Là Một Trong Những Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Trắc Nghiệm Gdcd 11, Bài 2: Hàng Hóa
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 11: Hàng Hóa
  • 13078

    Quan điểm của K.Marx: tiền tệ bao gồm 5 chức năng: Chức năng thước đo giá trị, Chức năng phương tiện lưu thông, Chức năng phương tiện thanh toán, Chức năng phương tiện dự trữ, Chức năng tiền tệ thế giới.

    Mối quan hệ giữa các chức năng của tiền tệ

    – Chức năng thước đo giá trị

    Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng:

    + Giá trị hàng hoá.

    + Giá trị của tiền.

    + Ảnh hưởng của quan hệ cung – cầu hàng hoá.

    Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen.

    – Chức năng phương tiện lưu thông

    Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá. Công thức lưu thông hàng hoá là: H- T – H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. Sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công nhận trong phạm vi quốc gia.

    – Chức năng phương tiện cất trữ

    Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

    – Chức năng phương tiện thanh toán

    Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng … Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình thức giao dịch này trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá. Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán. Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt. Mặt khác, trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên.

    – Chức năng tiền tệ thế giới

    Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết với nhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá.

    Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm, Bản Chất Và Chức Năng Tiền Tệ
  • Chức Năng Cất Trữ Giá Trị (Store Of Value) Của Tiền Tệ Là Gì?
  • Đâu Không Phải Là Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ (Chuc Nang Cua Tien Te)
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ Quá Trình Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Ở Việt Nam
  • Mối Quan Hệ Giữa Thị Trường Hàng Hoá Và Tiền Tệ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 5 Trang 26 Gdcd 11
  • Lưu Thông Tiền Tệ (Currency In Circulation) Là Gì? Các Hình Thức Lưu Thông Tiền Tệ
  • Làm Kế Toán: Chức Năng Và Cơ Cấu Của Thị Trường Tiền Tệ
  • Thị Trường Tiền Tệ Là Gì?
  • De Thi Csdl Nang Cao Csdl K52 Doc
  • Khi tiến hành giao dịch bất kỳ thị trường phái sinh, các trader – những người mới tham gia cần tìm hiểu kĩ về mối tương quan giữa thị trường hàng hoá và tiền tệ. Điều này khá quan trọng để xác định thời điểm và tối ưu chi phí giao dịch để đưa ra quyết định đầu tư thành công.

    Thị trường, hàng hoá và tiền tệ là gì?

    – Thị trường là lĩnh vực trao đổi, mua bán mà ở đó các chủ thể kinh tế tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ được trao đổi mua bán.

    – Các dạng tồn tại:

    • Thị trường giản đơn (hữu hình) như thị trường tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt…
    • Thị trường hiện đại như thị trường gạo, thị trường cà phê, thị trường chứng khoán…

    – Là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi mua – bán.

    – Các dạng tồn tại:

    • Dạng vật thể (hữu hình) như: bàn, ghế, bảng…
    • Dạng phi vật thể (hàng hóa dịch vụ) như: dịch vụ chăm sóc da, dịch vụ tắm trắng, dịch vụ tour du lịch…

    – Tiền tệ là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của sản xuất, trao đổi hàng hoá và các hình thái giá trị.

    – Các dạng tồn tại:

    • Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên.
    • ​​Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng.
    • ​​​Hình thái chung của giá trị.
    • Hình thái tiền tệ.

    Chức năng của thị trường, hàng hoá và tiền tệ

    Thứ nhất, các chức năng cơ bản của thị trường được thể hiện qua:

    Chức năng thực hiện (hay thừa nhận) giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa thông qua việc hàng hóa đó có bán được hay không, bán với giá thế nào.

    Chức năng thông tin cung cấp thông tin cho người sản xuất và người tiêu dùng thông qua sự biến động của nhu cầu xã hội như số lượng, chủng loại, giá cả,…

    Chức năng điều tiết, kích thích hoặc hạn chế sản xuất và tiêu dùng.

    Thứ hai, các chức năng của hàng hóa được thể hiện qua:

    Giá trị hàng hóa hao phí sức lao động và người sản xuất để làm ra một đơn vị hàng hóa.

    Thứ ba, các chức năng của tiền tệ được thể hiện qua:

    Mối quan hệ giữa thị trường hàng hoá và tiền tệ?

    Không phải tất cả mối tương quan giữa hàng hóa và tiền tệ đều có giá trị, các trader cần phải cẩn trọng trong việc giao dịch, xem xét phí bổ sung, tính thanh khoản và những thông tin được tiếp cận.

    Các chỉ báo tương quan hoặc quan sát các biểu đồ là cách hiệu quả để nhận thấy sự thay đổi nhập khẩu và xuất khẩu của mỗi quốc gia. Điều này sẽ giúp các trader xác định được cách thức họ sẽ đầu tư trong hàng hóa, tiền tệ hoặc cả hai.

    Australia là quốc gia sản xuất vàng lớn nhất thế giới nên giá vàng và số lượng nó xuất khẩu sẽ gây ảnh hưởng đến nền kinh tế.

    Những mối quan hệ hàng hóa và tiền tệ có thể thấy ở hầu hết các quốc gia xuất khẩu – nhập khẩu hàng hóa lớn thông qua các cặp tỷ giá. Qua nội dung tìm hiểu về thị trường hàng hoá và tiền tệ, hy vọng các nhà đầu tư đã có thêm những kiến thức bổ ích cho mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Fân Tích Các Chức Năng Và Hình Thái Biểu Hiện Của Tiền Tệ. Júp E Với!!
  • Nêu Tên Các Chức Năng Của Tiền Câu Hỏi 29782
  • Tác Động Của Chính Sách Tiền Tệ Đến Tăng Trưởng Kinh Tế
  • Trả Lời Câu 5 Trang 26 Sgk Gdcd 11
  • Giao An Dien Tu Giao An Gdcd 11 Tron Bo 3 Cot
  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Và Ví Dụ Cụ Thể (Có Ảnh Minh Họa)
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Tiền Tệ Là Gì? Vai Trò Và Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Hình thái trao đổi đơn giản hay ngẫu nhiên:

    1 tấm bò = 2 cái rìu

    Hình thái giá trị tương đối – vật ngang giá chung

    Giá trị của bò được biểu hiện ở rìu, còn rìu là cái được dùng làm phương tiện để biểu hiện giá trị của bò. Hàng hoá (bò) mà giá trị của nó được biểu hiện ở một hàng hoá khác (rìu) thì gọi là hình thái giá trị tương đối. Còn hàng hoá rìu mà giá trị sử dụng của nó biểu hiện giá trị của hàng hoá khác (bò) gọi là hình thái vật ngang giá chung.

    – Hình thái giá trị toàn bộ hay mở rộng xuất hiện sau lần phân công lao động lần thứ nhất – bộ lạc du mục tách rời khỏi toàn bộ lạc đòi hỏi có sự trao đổi bằng nhiều hàng hoá khác nhưng vẫn trực tiếp. Lúc này giá trị của vật không chỉ biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của một vật mà còn biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của nhiều hàng hoá khác

    Ví dụ: 1 con gà = 10 kg thóc / 1 cái rìu/1 m vải / 0,1 chỉ vàng (chưa cố định)

    Ví dụ: 10 kg thóc

    2 con gà = 1 m vải (vật ngang giá nhưng chưa cố định)

    0,1 chỉ vàng

    – Hình thái tiền tệ khi vật ngang giá chung cố định ở một thứ hàng hoá, đó là kim loại (kẽm, đồng, sắt, bạc, vàng.) chỉ đến lúc này thì hình thái tiền tệ mới được xác lập và vàng với tư cách là vật ngang giá chung và đã trở thành tiền tệ, gọi là kim tệ. Vì vậy, vàng – tiền tệ được coi là một HH đặc biệt.

    Kết luận:

    – Tiền tệ là một phạm trù kinh tế và cũng là một phạm trù lịch sử. Sự xuất hiện của tiền là một phát minh vĩ đại của loài người, nó làm thay đổi bộ mặt của nền KT – XH

    – Sự ra đời và tồn tại của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và tồn tại của sản xuất và trao đổi HH. Và trong quá trình này nó xuất hiện vật ngang giá chung.

    – Vàng – tiền tệ được coi là một hàng hoá đặc biệt.

    Tiền tệ là một phạm trù lịch sử, nó là sản phẩm tự phát của nền kinh tế hàng hóa, sản phẩm của sự phát triển các hình thái giá trị. Đồng thời cũng là sản phẩm của sự phát triển mâu thuẫn giữa lao động và phân công lao động xã hội trong sản xuất hàng hóa. Sự ra đời và phát triển của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa.

    Theo Mac, tiền tệ là một thứ hàng hoá đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hoá, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác. Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa.

    Theo các nhà kinh tế hiện đại: Tiền được định nghĩa là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ.

    3.1 Chức năng thước đo giá trị (standard of value)

    Tiền tệ thực hiện chức năng thước đo giá trị khi tiền tệ đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác.

    Chúng ta đo lường các giá trị của hàng hóa và dịch vụ bằng tiền giống như chúng ta đo khối lượng bằng kilogram hoặc đo khoảng cách bằng kilomét. Để thấy vì sao chức năng này lại quan trọng, chúng ta nhìn vào nền kinh tế đổi chác, trong đó tiền không thực hiện chức năng này.

    Nếu nền kinh tế chỉ có ba mặt hàng, ví dụ: vải, gạo, muối thì chỉ có ba giá để có thể trao đổi thứ này với thứ khác: giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kiliogram gạo, giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kilogram muối và giá của một kilogram gạo tính bằng bao nhiêu kilogram muối. Nếu có mười mặt hàng, chúng ta sẽ có 45 giá để trao đổi mặt hàng này với mặt hàng khác, với 100 mặt hàng chúng ta có đến 4950 giá, với 1000 mặt hàng có 499.500 giá.

    Công thức cho chúng ta biết số giá ta cần khi có N mặt hàng: N(N -1)/N

    3.2 Chức năng phương tiện trao đổi (Medium of exchange)

    Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện trao đổi khi tiền tệ môi giới cho quá trình trao đổi hàng hóa.

    Khi tiền tệ xuất hiện, hình thái trao đổi trực tiếp bằng hiện vật dần dần nhường chỗ cho hình thái trao đổi gián tiếp thực hiện thông qua trung gian của tiền tệ. Hình thái trao đổi này trở thành phương tiện và động lực thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, buôn bán trở nên dễ dàng, sản xuất thuận lợi. Có thể ví tiền tệ như một chất nhớt bôi trơn guồng máy sản xuất và lưu thông hàng hóa. Khi mức dộ tiền tệ hóa ngày càng cao thì hoạt động giao lưu kinh tế càng được diễn ra thuận lợi, trôi chảy.

    Nghiệp vụ trao đổi giá tiếp thực hiện qua trung gian của tiền tệ, gồm hai vế:

    – Vế thứ nhất: bán hàng để lấy tiền: H-T

    – Vế thứ hai : dùng tiền để mua hàng T – H

    Nhưng thỉnh thoảng hai vế này không di liền với nhau. Tiền tệ là phương tiện làm trung gian trao đổi dần dần trở thành mục tiêu trong các cuộc trao đổi và được ưa chuộng.

    3.3 Chức năng phương tiện thanh toán (standard of deferred payment)

    Quá trình lưu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan hệ hàng hóa – tiền tệ, còn phát sinh những nhu cầu vay mượn, thuế khóa, nộp địa tô…bằng tiền. Trong những trường hợp này, tiền tệ chấp nhận chức năng thanh toán.

    Như vậy, khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền tệ không còn là môi giới của trao đổi hàng hóa, mà là khâu bổ sung cho quá trình trao đổi, tức là tiền tệ vận động tách rời sự vận động của hàng hóa.

    Tiền tệ khi thực hiện chức năng làm phương tiện chi trả đã tạo ra khả năng làm cho số lượng tiền mặt cần thiết cho lưu thông giảm đi tương đối vì sự mua bán chịu, thực hiện thanh toán bù trừ lẫn nhau.

    Muốn được chấp nhận làm phương tiện thanh toán, tiền tệ phải có sức mua ổn định, tương đối bền vững theo thời gian, chính sức mua ổn định đã tạo cho người ta niềm tin và sự tín nhiệm tiền tệ.

    3.4 Chức năng phương tiện tích lũy (store of value or store of purchasing power)

    Tiền tệ chấp hành chức năng phương tiện tích lũy khi tiền tệ tạm thời rút khỏi lưu thông, trở vào trạng thái tĩnh, chuẩn bị cho nhu cầu chi dùng trong tương lai.

    Khi tiền tệ chưa xuất hiện, người ta thường thực hiện tích lũy dưới hình thái hiện vật, hình thái này không tiện lợi vì nó đòi hỏi phải có chỗ rộng rãi, phải tốn nhiều chi phí bảo quản, dễ hư hỏng, khó lưu thông và it sinh lời.

    Khi tiền tệ xuất hiện, người ta dần dần thay thế tích lũy dưới hình thái hiện vật bằng hình thái tích lũy dưới dạng tiền tệ. Hình thái này có nhiều ưu điểm, điểm nổi bật là dễ lưu thông và thanh khoản. Tuy nhiên, tích lũy dưới hình thái tiền tệ có nhược điểm là có thể dễ mất giá khi nền kinh tế có lạm phát. Do vậy, để tiền tệ thực hiện được chức năng phương tiện tích lũy đòi hỏi hệ thống tiền tệ quốc gia phải đảm bảo được sức mua.

    3.5 Chức năng tiền tệ thế giới (world currency)

    Tiền tệ thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền tệ thực hiện bốn chức năng thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy ở phạm vi ngoài quốc gia, nói cách khác là đồng tiền của một nước thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền của quốc gia đó được nhiều nước trên thế giới tin dùng và sử dụng như chính đồng tiền của nước họ.

    Tóm lại, điều kiện quan trọng nhất để cho một vật được sử dụng làm tiền tệ thực hiện các chức năng: thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy, tiền tệ thế giới là chúng phải có sức mua ổn định, bền vững, tạo được niềm tin và sự tín nhiệm của dân chúng.

    Nguồn: trithuccongdong.net

    Trong các chức năng của tiền tệ trên thì chức năng phương tiện trao đổi chính là chức năng quan trọng nhất của tiền tệ. Bởi vì, ngày nay tiền tệ luôn là phương tiện bôi trơn cho phép nền kinh tế hoạt động trôi chảy hơn, từ đó giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Và Chức Năng Của Protein Trong Dinh Dưỡng
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Protein
  • 9 Chức Năng Quan Trọng Của Protein Đối Với Cơ Thể
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Adn Và Arn
  • Adn Là Gì? Cấu Trúc Không Gian Và Chức Năng Của Adn Và Arn
  • Mối Quan Hệ Giữa Chức Năng Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Nguyên Tắc Cơ Bản Đảm Bảo Thực Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Chức Năng Phản Biện Xã Hội Của Báo Chí Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Đề Cương Môn Học Xã Hội Học Trong Lãnh Đạo, Quản Lý
  • 10 Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Xã Hội / Văn Hóa Chung
  • Theo quan niệm mácxít, nhà nước vừa có chức năng xã hội – chính trị, vừa có chức năng xã hội – dân sự. Tư tưởng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về vấn đề này là cơ sở phương pháp luận quan trọng đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Để phát triển sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cần: Nhận thức và xử lý đúng đắn những mâu thuẫn chủ yếu trong sự thống nhất giữa các chức năng của nhà nước; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta; xây dựng mối quan hệ hữu cơ giữa phương thức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, phương thức tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước và phương thức làm chủ của nhân dân.

    1. Cuộc cách mạng vĩ đại về lý luận – tư tưởng do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện, V.I.Lênin phát triển, đã đem lại quan niệm khoa học về nhà nước và chức năng của nhà nước trên nhiều bình diện, đặc biệt là mối quan hệ giữa chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự trong kiện toàn Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    Quan điểm mácxít khẳng định rằng, nhà nước chỉ xuất hiện khi đời sống xã hội đòi hỏi và đảm bảo đủ điều kiện để nhà nước hoạt động. Trong thực tiễn lịch sử, điều kiện cần và đủ cho sự hình thành nhà nước là sự phát triển sản xuất xã hội đã đạt đến một trình độ nhất định, cho phép xã hội có của dư. Khi xã hội tạo được của dư tất yếu sinh ra chế độ tư hữu, lúc đó, xã hội bắt đầu có sự phân hoá giai cấp và mâu thuẫn đối kháng giai cấp không thể điều hoà. Đặc trưng của nhà nước trước hết là thực hiện sự quản lý theo lãnh thổ; đồng thời, quản lý xã hội bằng pháp luật. Quyền lực nhà nước được hình thành, phát triển trên cơ sở kinh tế – xã hội và phản ánh bản chất giai cấp của nhà nước đó. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác khẳng định: “Trước hết, bất cứ quyền lực chính trị nào ban đầu đều dựa trên một chức năng kinh tế, xã hội… Hai là, … tác động theo ý nghĩa và chiều hướng của sự phát triển kinh tế có tính quy luật. Như vậy, giữa quyền lực chính trị và phát triển kinh tế không có một sự xung đột nào và phát triển kinh tế được đẩy nhanh hơn, hoặc nó chống lại sự phát triển kinh tế, khi đó trừ một vài trường hợp ngoại lệ, thường thường nó chịu sức ép của sự phát triển kinh tế”(1). Chức năng xã hội của nhà nước được C.Mác và Ph.Ăngghen tiếp cận dưới nhiều góc độ, song đều xuất phát từ nguyên tắc giai cấp của nhà nước. Trong các luận giải của mình về nhà nước, các ông đã phân tích sự vận động biện chứng của hai lớp nhà nước chính trị và nhà nước xã hội. Đó là sự phản ánh quá trình chuyển hoá biện chứng khách quan giữa nhà nước chính trị và nhà nước xã hội, mà tập trung nhất là đời sống kinh tế. Bí mật của mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội là ở chỗ, nhà nước tách ra thành một bộ phận độc lập, đối lập với xã hội. Song, “không phải nhà nước chế định và quyết định xã hội công dân mà xã hội công dân chế định, quyết định nhà nước”(2).

    Dưới góc độ phương pháp luận mácxít, nhà nước không chỉ thực hiện sự thống trị của giai cấp, tức chức năng xã hội – chính trị, mà còn thực hiện chức năng công cộng, tức chức năng xã hội – dân sự. Hai chức năng đó tuy khác nhau nhưng biểu hiện cùng một bản chất do tính quy định của nó. “Gia đình và xã hội công dân là những bộ phận hiện thực của nhà nước, là phương thức tồn tại của nhà nước. Gia đình và xã hội công dân tự chúng cấu thành nhà nước”(3). Như vậy, nhà nước là tổng thể của sự tồn tại của nhân dân và nhà nước chính trị chính trị.

    Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về chức năng xã hội – chính trị có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay. Nó đòi hỏi phải tiếp cận mối quan hệ biện chứng giữa chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự của nhà nước bằng nguyên tắc khách quan, toàn diện và lịch sử – cụ thể; bằng tính hệ thống, tính chỉnh thể, tính lôgíc biện chứng trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp; bằng tính giai cấp, tính đảng, tính nhân dân. Mục đích xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xét đến cùng, là đảm bảo tốt hơn sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Để giữ vững định hướng chính trị đối với tất cả các quan hệ xã hội, việc thực hiện chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải dựa trên cơ sở lợi ích và ý chí của giai cấp công nhân; tuân theo sự dẫn dắt, định hướng, chế ước của các quan hệ xã hội – chính trị. Định hướng xã hội – chính trị của nhà nước phải được giữ vững trong quá trình thực hiện chức năng xã hội – dân sự, không đi ngược lại lợi ích của nhân dân lao động và toàn xã hội. Lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn xã hội càng phù hợp với nhau thì các chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự càng phát triển theo hướng tích cực. Định hướng xã hội – chính trị chỉ đứng vững khi bản thân nó không tiềm ẩn nguy cơ phá vỡ nền tảng đời sống sinh hoạt bình thường của xã hội dân sự. Nhân dân đóng góp cho nhà nước bao nhiêu về phương diện xã hội – chính trị thì nhà nước cũng phải thoả mãn bấy nhiêu yêu cầu của họ về phương diện xã hội – dân sự. Các nguyên tắc này đòi hỏi phải loại bỏ quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng không chỉ vì lý do chính trị, mà cả lý do khoa học.

    Để tiếp cận đúng mối quan hệ biện chứng giữa chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, còn cần phải tuân thủ nguyên tắc về sự thống nhất giữa vai trò của quần chúng nhân dân và người lãnh đạo. Cơ sở khoa học của nguyên tắc này xuất phát từ lý luận và thực tiễn của mối liên hệ hữu cơ giữa cá nhân với xã hội mà C.Mác, Ph.Ăngghen đã phân tích sâu sắc trong các tác phẩm của mình. Nhà nước thực hiện các chức năng của nó không chỉ thông qua vai trò của cộng đồng xã hội, mà còn thông qua vai trò hoạt động tích cực của cá nhân, đặc biệt là người lãnh đạo chủ chốt.

    Trên cơ sở phương pháp luận của C.Mác và Ph.Ăngghen, việc xem xét các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước luôn được đặt trong mối liên hệ với xã hội dân sự. Thực hiện tốt vấn đề này không chỉ nâng cao vị thế của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, mà còn tăng thêm mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà nước với đời sống xã hội dân sự.

    Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa luôn luôn đòi hỏi việc thực hiện chức năng xã hội – chính trị phải dựa trên cơ sở thoả mãn nhu cầu xã hội dân sự; trong đó, nhu cầu thiết yếu nhất là “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định, phương thức thực hiện sự thống trị của giai cấp công nhân bằng nhà nước chủ yếu phải là mở rộng dân chủ. Pháp quyền chỉ đứng vững và hiệu quả khi thực hiện bằng dân chủ. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chính là hiện thân tối ưu của các hình thức dân chủ hoá. Dù trình độ dân chủ phát triển đến đâu, tính chất dân chủ ấy như thế nào thì nó vẫn phải được pháp chế hoá bằng luật pháp. Để thực hiện sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự, phải phát triển mối quan hệ chặt chẽ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với đời sống xã hội dân sự.

    Mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với đời sống xã hội dân sự được biểu hiện một cách đa dạng trên nhiều nội dung và ở mọi lĩnh vực xã hội, trong đó những nội dung quan trọng cần khẳng định là các mối quan hệ biện chứng giữa tập trung và dân chủ, giữa chính trị và nhân văn, giữa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế thị trường và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

    2. Các Nghị quyết Đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX, các Nghị quyết Trung ương chuyên đề, như Nghị quyết Trung ương 3, khoá VII (6 – 1992) Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, Nghị quyết Trung ương 3, khoá VIII (6 – 1997) Về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnhVề chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nghị quyết Trung ương 7, khoá VIII (8 -1999) Về một số vấn đề về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị và tiền lương, trợ cấp xã hội thuộc ngân sách nhà nước… được các ngành, các địa phương nghiêm túc triển khai thực hiện đã góp phần quan trọng trong việc ổn định tư tưởng, thống nhất nhận thức và hành động trong Đảng và nhân dân, giữ vững ổn định xã hội – chính trị, thực hiện có hiệu quả chức năng xã hội – dân sự. Từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa cũng như việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá đã tạo nền tảng vật chất vững chắc để Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phát triển và quan hệ chặt chẽ hơn với đời sống xã hội dân sự, không gây nên những biến động lớn làm đảo lộn đời sống xã hội dân sự, không có sự tranh giành quyền lực chính trị trong nội bộ cơ quan quyền lực. Đồng thời, tạo cơ sở cho Nhà nước thực hiện một cách thống nhất các chức năng xã hội – chính trị với chức năng xã hội – dân sự của mình.

    Trong thời đại toàn cầu hoá, xu hướng luật pháp hoá các lĩnh vực của đời sống xã hội đã có ảnh hưởng rất lớn và tích cực đối với việc thực hiện sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước ta. Điều này biểu hiện ở vai trò ngày càng tăng của nhân tố pháp quyền, sự quan tâm hơn của nhà nước đến vấn đề con người và đời sống xã hội, sự hoàn thiện ngày càng cao của kỹ năng lập pháp, hành pháp và tư pháp. Kỹ năng, kỹ thuật tổ chức nhà nước cũng có những nét mới, hợp lý, như sự hình thành và phát triển hệ thống pháp luật quốc tế, lý thuyết về liên minh quốc hội và liên minh chính phủ…

    Ngoài những thành tựu to lớn và cơ bản trên, việc thực hiện và đảm bảo sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự của Nhà nước ta trong thời gian qua không tránh khỏi một số bất cập, chủ yếu do các nguyên nhân cơ bản sau đây:

    Nguyên nhân chủ quan

    Chúng ta chưa nhận thức và vận dụng đúng, thậm chí vi phạm những nguyên lý cơ bản về mối liên hệ biện chứng giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước. Trong tổ chức thực hiện, nhất là ở cơ sở, có lúc, có nơi, chúng ta còn tách rời chức năng xã hội – dân sự với chức năng chính trị – xã hội; quá nhấn mạnh, tuyệt đối hoá hoặc là chức năng xã hội – chính trị, hoặc là chức năng xã hội – dân sự. Đặc biệt, chưa nhận thức và xử lý đầy đủ, đúng đắn những mâu thuẫn chủ yếu của sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do chúng ta chưa luận giải đúng nguồn gốc, động lực, phương thức và khuynh hướng phát triển mối liên hệ biện chứng giữa các chức năng xã hội – chính trị và xã hội – dân sự trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chưa nhận thức và vận dụng đúng phương thức chuyển hoá của việc thực hiện sự thống nhất chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; chưa xây dựng được mối quan hệ hữu cơ vững chắc giữa phương thức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phương thức tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước và phương thức làm chủ của nhân dân lao động. Công tác xây dựng, tổ chức đảng “chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ “còn những biểu hiện tập trung quan liêu, dân chủ hình thức”, “lúng túng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ”. ” Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng“(4). Tổ chức bộ máy Nhà nước còn cồng kềnh, việc phân công, phân cấp giữa bộ và chính quyền địa phương còn nhiều vấn đề chưa rõ; thủ tục hành chính còn nhiều phiền hà và chậm được đổi mới, hiệu lực thi hành pháp luật yếu. Kỹ thuật tổ chức hành chính cả về phương diện lập pháp, hành pháp, tư pháp trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn nhiều hạn chế. Tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của các đoàn thể và hội quần chúng chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác vận động quần chúng trong tình hình mới…(5). Văn hoá dân chủ, văn hoá pháp luật của nhân dân còn thấp.

    Nguyên nhân khách quan

    Điểm xuất phát kinh tế của nước ta còn thấp, các yếu tố của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được tạo lập đồng bộ. Thị trường hàng hoá và dịch vụ, thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường khoa học công nghệ chưa phát triển. Những tàn dư văn hoá – xã hội, như lề thói độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng, gia đình chủ nghĩa và việc thiếu một mặt bằng văn hoá pháp luật, văn hoá dân chủ cao… đã gây không ít khó khăn cho việc thực hiện chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước.

    Mặt khác, các thế lực đế quốc và lực lượng chống cộng hiện đang cấu kết với nhau, lợi dụng sự thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực để tiến hành chiến lược “diễn biến hoà bình” chống chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những biện pháp thâm độc và nguy hiểm của chúng trước hết tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng xuyên tạc, rêu rao rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn sai con đường phát triển xã hội; rằng, “không thể có chủ nghĩa xã hội trong thực tế” và kích động phải thực hiện “tư nhân hoá”, “đa nguyên chính trị”… Thực chất là chúng muốn chia rẽ Đảng với Nhà nước, Đảng và Nhà nước với nhân dân; tách quần chúng nhân dân khỏi ảnh hưởng của Đảng, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng… nhằm phá hoại sự thống nhất trong thực hiện chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

    3. Để phát triển sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo chúng tôi, cần thực hiện một số giải pháp sau:

    Một là, cần nhận thức và xử lý đầy đủ, đúng đắn những mâu thuẫn chủ yếu trong sự thống nhất giữa chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của nhà nước; luận giải một cách khoa học nguồn gốc, động lực, phương thức và khuynh hướng phát triển mối quan hệ cũng như sự chuyển hoá giữa các chức năng đó. Đồng thời, phân tích một cách khách quan những nhân tố tác động đến sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước. Để có thể xử lý đúng đắn và khoa học sự tác động đó, cần xem xét nó một cách toàn diện, hệ thống, vừa theo tính chất, vừa theo những lát cắt đồng đại.

    Hai là, tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, ” thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa… như: thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ… Hình thành tương đối đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”(6). Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là không ngừng giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta. Phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần là phát huy mọi nguồn lực, đặc biệt là lực lượng sản xuất của xã hội, để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội hiện thực. Giữa các khía cạnh đó có mối liên hệ hữu cơ hết sức chặt chẽ và có sự tương tác biện chứng với nhau, chúng vừa là điều kiện, tiền đề, vừa là kết quả của nhau. Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa là sự phản ánh khía cạnh xã hội – chính trị. Phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là khía cạnh xã hội – dân sự. Đó cũng là những biện pháp quan trọng nhất để nâng cao không ngừng đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và thắt chặt mối quan hệ giữa Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam với đời sống xã hội dân sự, nhân tố quyết định sự phát triển thống nhất giữa các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước.

    Ba là, xây dựng mối quan hệ hữu cơ giữa phương thức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phương thức tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước và phương thức làm chủ của nhân dân lao động. Đây là biện pháp không thể thiếu để duy trì và phát triển sự thống nhất các chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước do nhân dân lao động làm chủ và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, toàn bộ chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta đều phải thể hiện nguyện vọng và ý chí của nhân dân, vì lợi ích của nhân dân.

    Tóm lại, để Nhà nước thực hiện tốt chức năng xã hội – chính trị và chức năng xã hội – dân sự, chúng ta phải đẩy mạnh quá trình “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng”, “cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước”, “phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế”, “xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực” và tích cực “đấu tranh chống tham nhũng”(7) – như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã vạch ra.

    Đã xem: 4304

    Thời gian đăng: Thứ sáu – 02/02/2018 11:34

    Người đăng: Phạm Quang Duy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lợi Ích Của Các Mối Quan Hệ Xã Hội Với Sức Khỏe Ít Ai Ngờ Tới
  • Bàn Về Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước, Thị Trường Và Xã Hội
  • Mạng Lưới Xã Hội Trong Khám Chữa Bệnh Cho Lao Động Nông Thôn
  • Lý Thuyết Mạng Lưới Xã Hội Trong Nghiên Cứu Tin Đồn
  • Biến Đổi Cơ Cấu Và Chức Năng Gia Đình. Đề Cương Môn Học
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Tiền Tệ Là Gì? Vai Trò Và Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Tin Học 12 Bài 2: Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Bài 2: Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Bài 2. Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Theo C. Mác, tiền tệ có năm chức năng sau đây:

    Thước đo giá trị

    – Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ cũng phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức nâng thước đo giá trị phải là tiền vàng.

    – Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là điển mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó trong ý tưởng. Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó.

    – Giá trị hàng hoá đưọc biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá. Hay nói cách khác, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá.

    Giá cả hàng hoá chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau đây:

    + Giá trị hàng hoá.

    + Giá trị của tiền.

    + Quan hệ cung – cầu về hàng hoá.

    Nhưng vì giá trị hàng hóa là nội dung của giá cả, nên trong ba nhân tố nêu trên thì giá trị vẫn là nhân tố quyết định giá cả.

    – Để tiền làm được chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được quy định một đơn vị tiền tệ nhất định làm tiêu chuẩn đo lường giá cả của hàng hoá. Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ. Ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Đơn vị tiền tệ và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả. Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu chuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị. Là thưốc đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ.

    Phương tiện lưu thông

    – Tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá đòi hỏi phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá.

    Công thức lưu thông hàng hoá là: H – T – H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế.

    – Ở mỗi thời kỳ nhất định, lưu thông hàng hoá bao giờ cũng đòi hỏi một lượng tiền cần thiết cho sự lưu thông, số lượng tiền này được xác định bởi quy luật chung của lưu thông tiền tệ.

    Theo C. Mác, nếu xem xét trong cùng một thời gian và trên cùng một không gian thì khối lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông được xác định qua công thức:

    Trong đó: T là số lượng tiền tệ cần cho lưu thông, H là số lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường, G h là giá cả trung bình của 1 hàng hóa, G là tổng số giá cả của hàng hóa, N là số vòng lưu thông của các đồng tiền cùng loại.

    – Quá trình hình thành tiền giấy: lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thoi, bạc nén. Dần dần nó được thay thế bằng tiền đúc. Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dần và mất một phần giá trị của nó. Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủ giá trị.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò trong chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị.

    Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của giá trị, do đó việc in tiền giấy phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy.

    Phương tiện cất trữ

    – Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

    – Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải.

    – Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông. Nếu sản xuât tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

    Phương tiện thanh toán

    – Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng…

    – Làm phương tiện thanh toán có thể bằng tiền mặt, séc, chuyển khoản, thẻ tín dụng… Khi sản xuất và trao

    đổi hàng hoá phát triển đến một trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, ngươi bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên.

    – Trong điều kiện tiền thực hiện chức năng phương tiện thanh toán thì công thức số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông sẽ được triển khai như sau:

    Nếu ký hiệu:

    T là số lượng tiền tệ cần cho lưu thông.

    G là tổng số giá cả của hàng hóa.

    G c là tổng số giá cả hàng bán chịu.

    T k là tổng số tiền khấu trừ cho nhau.

    T tt là tổng số tiền thanh toán đến kỳ hạn trả.

    N là sô vòng lưu thông của các đồng tiền cùng loại.

    Ta có:

    Tiền tệ thế giới

    Khi quan hệ buôn bán giữa các quốc gia với nhau xuất hiện, thì tiền tệ làm chức năng tiền tệ thế giới, nghĩa là thanh toán quốc tế. Làm chức năng tiền tệ thế giới phải là tiền vàng hoặc tiền tín dụng được thừa nhận thnanh toán quốc tế. Việc đổi tiền của một quốc gia này thành tiền của một quốc gia khác được tiến hành theo tỷ giá hối đoái – đó là giá cả đồng tiền của một quốc gia này so với đồng tiền của quốc gia khác.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ
  • 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Và Ví Dụ Cụ Thể (Có Ảnh Minh Họa)
  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Protein Trong Dinh Dưỡng
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Protein
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Phương Tiện Trao Đổi (Medium Of Exchange) Của Tiền Tệ Là Gì?
  • Em Hãy Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Thị Trường. Lấy Ví Dụ Mỗi Chức Năng. Nêu Mong Muốn Của Bản Thân Em Trong Việc Phát Triển Kinh Tế
  • Tiền Tệ Là Gì? Chức Năng Và Tầm Quan Trọng Của Tiền Tệ
  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Và Hình Thái Của Tiền Tệ
  • Bài 2 Gdcd Lớp 11 Trường Thpt Tân Trào.html
  • Kết quả

    Các Chức Năng Của Tiền Tệ:

    Dù biểu hiện dưới hình thức nào, tiền tệ cũng có ba chức năng cơ bản: chức năng phương tiện trao đổi, chức năng đơn vị đánh giá và chức năng phương tiện dự trữ giá trị.

    1. Chức năng phương tiện trao đổi

    Là một phương tiện trao đổi, tiền tệ được sử dụng như một vật môi giới trung gian trong việc trao đổi các hàng hoá, dịch vụ. Đây là chức năng đầu tiên của tiền tệ, nó phản ánh lý do tại sao tiền tệ lại xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá .

    Trong nền kinh tế trao đổi trực tiếp, người ta phải tiến hành đồng thời hai dịch vụ bán và mua với một người khác. Điều đó là đơn giản trong trường hợp chỉ có ít người tham gia trao đổi, nhưng trong điều kiện nền kinh tế phát triển, các chi phí để tìm kiếm như vậy quá cao. Vì vậy người ta cần sử dụng tiền làm môi giới trong quá trình này, tức là người ta trước hết sẽ đổi hàng hoá của mình lấy tiền sau đó dùng tiền mua thứ hàng hoá mình cần. Rõ ràng việc thực hiện lần lượt các giao dịch bán và mua với hai người sẽ dễ dàng hơn nhiều so với việc thưc hiện đồng thời hai giao dịch đối với cùng một người.

    Để thực hiện chức năng phương tiện trao đổi tiền phải có những tiêu chuẩn nhất định:

    – Được chấp nhận rộng rãi: nó phải được con người chấp nhận rộng rãi trong lưu thông, bởi vì chỉ khi mọi người cùng chấp nhận nó thì người có hàng hoá mới đồng ý đổi hàng hóa của mình lấy tiền;

    – Dễ nhận biết: con người phải nhận biết nó dễ dàng;

    – Có thể chia nhỏ được: để tạo thuận lợi cho việc đổi chác giữa các hàng hoá có giá trị khác nhau;

    – Dễ vận chuyển: tiền tệ phải đủ gọn nhẹ để dễ dàng trong việc trao đổi hàng hoá ở khoảng cách xa;

    – Không bị hư hỏng một cách nhanh chóng;

    – Được tạo ra hàng loạt một cách dễ dàng: để số lượng của nó đủ dùng trong trao đổi;

    – Có tính đồng nhất: các đồng tiền có cùng mệnh giá phải có sức mua ngang nhau.

    2. Chức năng đơn vị đánh giá.

    Chức năng thứ hai của tiền là một đơn vị đánh giá, tức là tiền tệ được sử dụng làm đơn vị để đo giá trị của các hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế. Qua việc thực hiện chức năng này, giá trị của các hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện ra bằng tiền, như việc đo khối kượng bằng kg, đo độ dài bằng m…nhờ đó mà việc trao đổi hàng hoá được diễn ra thuận lợi hơn.

    Nếu giá trị hàng hoá không có đơn vị đo chung là tiền, mỗi hàng hoá sẽ được định giá bằng tất cả các hàng hoá còn lại, và như vậy số lượng giá các mặt hàng trong nền kinh tế ngày nay sẽ nhiều đến mức người ta không còn thời gian cho việc tiêu dùng hàng hoá, do phần lớn thời gian đã dàng cho việc đọc giá hàng hoá. Khi giá của các hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện bằng tiền, không những thuận tiện cho người bán hàng hóa mà việc đọc bảng giá cũng đơn giản hơn rất nhiều với chi phí thời gian ít hơn sử dụng cho các giao dịch.

    Là một đơn vị đánh giá, nó tạo cơ sở thuận lợi cho việc sử dụng tiền làm phương tiện trao đổi, nhưng cũng chính trong quá trình trao đổi sử dụng tiền làm trung gian, các tỉ lệ trao đổi được hình thành theo tập quán – tức là ngay từ khi mới ra đời, việc sử dụng tiền làm phương tiện trao đổi đã dẫn tới việc dùng tiền làm đơn vị đánh giá. Đầu tiên những phương tiện được sử dụng làm tiền để biểu hiện giá trị hàng hoá cũng có giá trị như các hàng hoá khác. Cơ sở cho việc tiền biểu hiện giá trị các hàng hoá khác chính là tiền cũng có giá trị sử dụng như các hàng hoá khác (Theo phân tích của Marx về sự phát triển của các hình thái biểu hiện giá trị hàng hoá: giá trị hàng hoá được biểu hiện ở giá trị sử dụng của hàng hoá đóng vai trò vật ngang giá, vật ngang giá chung). Vì vậy trong thời đại ngày nay, mặc dù các phương tiện được sử dụng là tiền không còn có giá trị như các hàng hoá khác nhưng nó được mọi người chấp nhận trong lưu thông (có giá trị sử dụng đặc biệt), do đó vẫn được sử dụng để đánh giá giá trị các hàng hoá. Trong bất kể nền kinh tế tiền tệ nào việc sử dụng tiền làm đơn vị đo lường giá trị đều mang tính chất trừu tượng, vừa có tính pháp lý, vừa có tính quy ước.

    3. Chức năng phương tiện dự trữ giá trị

    Là một phương tiện dự trữ giá trị, tiền tệ là nơi cất giữ sức mua qua thời gian. Khi người ta nhận được thu nhập mà chưa muốn tiêu nó hoặc chưa có điều kiện để chi tiêu ngay, tiền là một phương tiện để cho việc cất giữ sức mua trong những trường hợp này hoặc có thể người ta giữ tiền chỉ đơn thuần là việc để lại của cải.

    Việc cất giữ như vậy có thể thực hiện bằng nhiều phương tiện ngoài tiền như: Cổ phiếu, trái phiếu, đất đai, nhà cửa…, một số loại tài sản như vậy đem lại một mức lãi cao hơn cho người giữ hoặc có thể chống đỡ lại sự tăng cao về giá so với việc giữ tiền mặt. Tuy nhiên người ta vẫn giữ tiền với mục đích dự trữ giá trị bởi vì tiền có thể chuyển đổi một cách nhanh chóng ra các tài sản khác, còn các tài sản khác nhiều khi đòi hỏi một chi phí giao dịch cao khi người ta muốn chuyển đổi nó sang tiền. Những điều đó cho thấy, tiền là một phương tiện dự trữ giá trị bên cạnh các loại tài sản khác.

    Việc thực hiện chức năng phương tiện dự trữ giá trị của tiền tốt đến đâu tuỳ thuộc vào sự ổn định của mức giá chung, do giá trị của tiền được xác định theo khối lượng hàng hoá mà nó có thể đổi được. Khi mức giá tăng lên, giá trị của tiền sẽ giảm đi và ngược lại. Sự mất giá nhanh chóng của tiền sẽ làm cho người ta ít muốn giữ nó, điều này thường xảy ra khi lạm phát cao. Vì vậy để tiền thực hiện tốt chức năng này, đòi hỏi sức mua của tiền phải ổn định.

    Nguồn: Th.S Trần Ái Kết (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu 5 Trang 26 Sgk Giáo Dục Công Dân Lớp 11
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Chức Năng Của Tiền Tệ: Phân Tích Cụ Thể Mỗi Chức Năng Của Tiền
  • Tiền Tệ Là Gì Công Dân 11?
  • Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Các Chức Năng Quản Trị Là Gì? Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Chức Năng Quản Trị Công Ty Chip & Chip
  • Chặn Người Dùng Wifi, Xem Ai Đang Sử Dụng Wifi Chùa Và Ngắt Kết Nối
  • Trình Quản Lý Thiết Bị Android Là Gì, Cách Bật, Tắt, Sử Dụng Ra Sao?
  • Phần Mềm Quản Lý Máy Móc Thiết Bị
  • Kích Hoạt, Tắt Tài Khoản Quản Trị Ẩn Trên Windows 7, 8, 8.1, 10.
  • Các chức năng quản trị trong đều có vai trò vô cùng quan trọng quyết định đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Mỗi chức năng quản đều có mỗi quan hệ mật thiết và bổ trợ lẫn nhau. Cùng Luận Văn Việt tìm hiểu ngay qua bài viết sau đây.

    Quản trị là một khái niệm rất cần thiết trong bất kỳ công việc nào hay các hoạt động đời sống hàng ngày. Quản trị một tổ chức là sự phối hợp của nhiều nhóm người, nhiều công cụ khác nhau để cùng nhau hoàn thành một loạt các nhiệm vụ, mục tiêu của tổ chức đó.

    Các chức năng chính của quản trị bên dưới sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn:

    Hoạch định là việc hoạch định những kế hoạch và định hướng cho doanh nghiệp trong tương lai. Với sự chi tiết và hợp lý giúp doanh nghiệp được hoạt động có lộ trình và phát triển theo từng giai đoạn.

    Việc hoạch định là công việc quan trọng gắn liền với tầm nhìn phát triển của công ty, do đó đòi hỏi sự đóng góp của toàn bộ cán bộ, đoàn thể của nhân viên, với sự dẫn dắt của ban lãnh đạo doanh nghiệp.

    Hai yếu tố quan trọng nhất của hoạch định là cách thức thực hiện và thời gian. Nhà quản trị phải lên kế hoạch điều phối hợp lí giữa hai yếu tố đó, thể hiện sự liên kết chặt chẽ giữa các phòng ban khác nhau. Hoạt động hoạch định cũng phải tận dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp để đảm bảo kế hoạch đề ra được triển khai thuận lợi.

    Đây là chức năng giúp doanh nghiệp có thể vận hành trơn tru và liên tục, duy trì sự phát triển bền vững trong tương lai. Một cơ cấu tổ chức tốt có nghĩa là doanh nghiệp ấy có đủ nguồn lực về tài chính, nhân sự, nguyên vật liệu,… được xây dựng thành một tổ chức chặt chẽ.

    Duy trì chức năng tổ chức hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp dễ dàng phát triển cả chiều dài lẫn chiều rộng, duy trì sự bền vững lâu dài. Chức năng quản trị tổ chức luôn luôn linh hoạt và thay đổi để đáp ứng được mục đích phát triển của doanh nghiệp cũng như tình hình thị trường.

    Chức năng chỉ đạo tốt khi chức năng của nhà quản trị được thể hiện rõ nét, nhà quản trị biết tạo động lực và khuyến khích sự sáng tạo của nhân viên sẽ giúp cho nhân viên phát huy hết năng lực và đóng góp lớn nhất vào doanh nghiệp.

    Là chức năng điều chỉnh tất cả các hoạt động để chúng được phối hợp một cách ăn ý, nhuần nhuyễn, giúp doanh nghiệp vận hành hiệu quả nhất. Chính sự ảnh hưởng từ thái độ, cách ứng xử của nhân viên sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phối hợp công việc giữa các phòng ban và các cấp quản lý.

    Chức năng của việc điều phối trong quản trị giúp cho doanh nghiệp hoạt động trơn tru, kỷ luật và tạo không khí thoải mái cho các phòng ban. Để chức năng quản trị điều phối hiệu quả, các nhà quản lý cần có năng lực quản trị tốt, thông qua quản trị cách ứng xử và phối hợp hoạt động của nhân sự, doanh nghiệp mới có thể đạt được mục tiêu đặt ra.

    Kiểm soát nghĩa là những công việc theo dõi tình hình hoạt động của doanh nghiệp, quản lý hiệu quả công việc của nhân viên, xem xét liệu rằng các nhân viên có đáp ứng đúng mục tiêu công việc đưa ra hay không.

    Chức năng quản trị kiểm soát giúp thiết lập tiêu chuẩn các hoạt động của doanh nghiệp, đưa ra những KPI hợp lý và đo lường, lập báo cáo hoạt động thực tế cho doanh nghiệp.

    Chức năng kiểm soát sẽ giúp doanh nghiệp có được góc nhìn rộng và thực tế trong hiệu quả kinh doanh, đưa ra các dự báo rủi ro và kế hoạch phòng ngừa cũng như phát triển hợp lý trong tương lai.

    Các chức năng quản trị có sự liên kết với nhau, dù là doanh nghiệp lớn hay nhỏ, các chức năng quản trị cũng sẽ giúp doanh nghiệp quản trị được nguồn lực và duy trì sự phát triển bền vững trong tương lai.

    Các doanh nghiệp lớn có cấp quản trị rõ ràng, và phân cấp bậc, những nhà quản trị lớn chỉ tập trung thời gian vào quản lý những nhà quản trị cấp trung.

    Trong một doanh nghiệp, các cấp quản trị được phân công ở nhiều mức độ khác nhau, mỗi cấp độ sẽ có một vai trò và vị trí nhất định trong tổ chức, cấp độ quản trị càng cao thì chức năng hoạch định và tổ chức càng cao, và ngược lại, chức năng điều hành càng thấp khi cấp quản trị càng thấp.

    Các chức năng của quản trị có mối quan hệ gắn kết với nhau, chức năng này bổ trợ cho chức năng kia, các chức năng quản trị phối hợp hài hòa sẽ giúp tổ chức phát triển và lớn mạnh hơn qua thời gian.

    Như vậy, qua bài viết trên, các bạn hiểu hơn về chức năng quản trị rồi đúng không? Với những chia sẻ trên, Luận Văn Việt hy vọng rằng bạn đã thật tự tin trong kiến thức của mình và định hướng tốt cho lộ trình phát triển của mình trong vai trò các nhà quản trị tương lai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyền Hạn Của Trưởng Ban Quản Trị Nhà Chung Cư
  • Cư Dân Chung Cư Cần Biết: Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Ban Quản Trị Chung Cư?
  • Kinh Tế Chia Sẻ: Sân Nhà Về Tay Đội Khách
  • Chức Năng Của Kế Toán Quản Trị
  • Quản Lý Vận Hành Nhà Chung Cư: Tranh Nhau Vào Ban Quản Trị Để Trục Lợi?
  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Và Hình Thái Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 2 Gdcd Lớp 11 Trường Thpt Tân Trào.html
  • Bài 2: Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Bài 3: Sự Phát Triển Các Hình Thái Tiền Tệ
  • Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ Theo Quan Điểm Của Nhà Kinh Tế Học Hiện Đại? Nêu Ý Nghĩa?
  • Hệ Thống Tiền Tệ Quốc Tế
  • Tiền tệ là gì?

    Thông thường, tiền tệ là định nghĩa cho bất kỳ loại tiền nào được sử dụng để lưu thông trên toàn thế giới. Các loại tiền tệ được làm từ nhiều vật liệu khác nhau như giấy, polime hoặc kim loại. Nó thường được ban hành và duy trì bởi một cơ quan quản lý của quốc gia hay liên minh, khu vực. Điều này có nghĩa là giá trị của đồng tiền không đến từ vật liệu được tạo ra, mà bằng giá trị mà nó đại diện theo nền kinh tế và tổ chức phát hành.

    Các chức năng chính của tiền tệ

    Tiền tệ có 3 chức năng cơ bản là:

    • Phương tiện trao đổi
    • Phương tiện bảo tồn giá trị
    • Phương tiện hạch toán

    Khi tiền đóng vai trò phương tiện trao đổi, tiền được sử dụng trong giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ, điều đó đòi hỏi người bán phải chấp nhận nó với tư cách là phương tiện thanh toán trong các giao dịch trên thị trường. Từ các giao dịch bình thường hay các hợp đồng giao dịch lớn giữa các tác nhân đều thỏa thuận về phương tiện thanh toán. Không có một phương tiện trao đổi được chấp nhận rộng rãi, lưu thông hàng hóa sẽ dựa vào chế độ hàng đổi hàng. Chế độ hàng đổi hàng đơn giản là sự trao đổi trực tiếp. Trong điều kiện đó, dân cư sẽ mất nhiều thời gian để thực hiện các giao dịch.

    Với chức năng là phương tiện bảo tồn giá trị, tiền là một hình thức để chuyển sức mua từ hiện tại sang tương lai. Nhờ chức năng này người dân có thể lựa chọn giữ một số của cải trực tiếp bằng tiền. Tuy nhiên, trong điều kiện có lạm phát, giá trị của tiền giảm theo thời gian, vì thế tiền trở thành phương tiện bảo tồn giá trị không hiệu quả

    Chức năng đơn vị hạch toán của tiền, chỉ ra sự tiện lợi khi có một phương tiện được chấp nhận rộng rãi để định giá và ghi sổ sách. Tiền còn là cơ sở để hạch toán các hoạt động kinh tế. Nó còn là cơ sở để hạch toán mọi hoạt động kinh tế từ sản xuất, lưu thông và tiêu dùng của mọi quốc gia.

    Trong các chức năng của tiền tệ, chức năng phương tiện trao đổi là chức năng quan trọng nhất, vì nó thể hiện được bản chất của tiền.

    Các loại hình thái của tiền tệ

    Theo tiến trình lịch sử, tiền tệ đã trải qua ba hình thái: tiền hàng hóa, tiền quy ước và tiền qua ngân hàng.

    Tiền hàng hoá

    Tiền hàng hóa là một loại hàng hóa nào đó được người ta công nhận để làm vật trung gian cho việc giao dịch mua bán hàng hóa.

    Lúc đầu người ta sử dụng các loại hàng hóa thông dụng trong trao đổi như lúa mì, súc vật… Điều này đem tới nhiều bất tiện, do tiền hàng hóa chỉ được chấp nhận trong một nhóm người hay trong một địa phương, lại không thuận tiện cho việc di chuyển, và trong nhiều trường hợp khó phân chia thành nhiều đơn vị cần thiết.

    Tiền kim loại được sử dụng lần lượt đồng, bạc, vàng, do có nhiều ưu điểm hơn các kim loại khác.

    Nguyên tắc chung của tiền hàng hóa là giá trị của tiền bằng với giá trị của vật dùng làm tiền.

    • Ưu điểm: Những hàng hóa được chọn làm tiền tệ có giá trị sử dụng cần thiết chung cho nhiều người, có thể bảo tồn lâu và mang tính chất phổ biến, đặc trưng cho địa phương, khu vực diễn ra trao đổi.
    • Nhược điểm: Không đồng nhất; Dễ hư hỏng; Khó phân chia hay gộp lại; Khó bảo quản cũng như vận chuyển; Mang tính khu vực, địa phương…

    Tiền quy ước (tiền pháp định)

    Tiền quy ước hay tiền pháp định là loại tiền được lưu hành do quy định của nhà nước. Tiền được gọi là tiền quy ước bởi vì giá trị ghi trên bề mặt đồng tiền chỉ là giá trị tượng trưng, tức là lớn hơn hay nhỏ hơn so với giá trị của vật dùng làm tiền. Nó biểu thị cho một lượng giá trị nào đó mà mọi người thừa nhận chúng và tin vào đó để sử dụng. Sự khác nhau cơ bản giữa tiền hàng hóa và pháp định là ở chỗ đối với tiền pháp định giá trị của tiền tệ lớn hơn giá trị của vật dùng làm tiền, trong khi đó đối với tiền hàng hóa thì hai giá trị đó phải bằng nhau.

    Tiền quy ước cũng có hai dạng:

    Cả hai loại này đang được lưu hành trên thế giới. Tiền kim loại, trước đây người ta sử dụng các loại kim loại quý như bạc, vàng… về sau sử dụng loại kim loại rẻ hơn, tiền được sử dụng nhiều hơn. Tại nước ta hiện nay, tiền xu các loại đang được sử dụng trong lưu thông, đây cũng cũng là dạng tiền kim loại như nhiều nước trên thế giới đang sử dụng.

    Đối với tiền giấy có hai loại tiền giấy khả hoán và tiền giấy không khả hoán.

    Tiền giấy khả hoán xuất hiện vào thế kỉ XVII, lần đầu tiên do ngân hàng Amsterdam của Hà Lan thực hiện. Đối với loại tiền này khi có một lượng tiền nào đó bạn có thể đến nơi mà chính phủ quy định đổi lấy một lượng vàng hoặc bạc tương đương. Lượng quy kim đó được căn cứ vào bản vị tiền tệ, là lượng mà Chính phủ dùng để định nghĩa giá trị một đơn vị tiền tệ của quốc gia. Ví dụ ở Mỹ vào năm 1775 người ta định nghĩa 1USD = 25,92 g bạc 99,99%; và vào năm 1900 định nghĩa 1USD = 1504,6 mg vàng 99,99%. Nếu định nghĩa theo vàng thì gọi là chế độ bản vị vàng và theo bạc thì ta có chế độ bản vị bạc. Việc sử dụng tiền khả hoán đòi hỏi chính phủ có một lượng dự trữ vàng hoặc bạc tương đương với lượng tiền phát hành. Mục đích của chế độ phát hành này là muốn bảo đảm giá trị của đồng tiền đang lưu hành. Trong thực tế việc này không phải lúc nào cũng thực hiện được. Cho đến giữa những năm 1930, hầu như các quốc gia đều bỏ chế độ tiền giấy khả hoán chuyển sang sử dụng tiền giấy bất khả hoán.

    Tiền giấy bất khả hoán là loại tiền bắt buộc lưu hành, dân chúng không thể mang tiền giấy đến ngân hàng để đổi lấy vàng hay bạc.

    • Ưu điểm: Nhẹ, dễ vận chuyển và cất trữ; Có đầy đủ mệnh giá; Chính phủ tốn ít chi phí sản xuất.
    • Nhược điểm: Không bền; Khá cồng kềnh khi giao dịch lớn; Tốn chi phí vận chuyển và dễ gặp rủi ro; Có thể bị làm giả; Dễ rơi vào tình trạng bất ổn (đồng tiền bị mất giá)

    Tiền qua ngân hàng

    Tiền qua ngân hàng là tiền ký thác hay tiền ký thác không kỳ hạn sử dụng séc hay tiền ghi nợ. Loại tiền này được tạo ra từ tài khoản séc.

    Từ nợ ở đây là chỉ khoản nợ của ngân hàng đối với người mở tài khoản séc tại ngân hàng. Khi mở tài khoản séc tức là người ta đưa vào ngân hàng một lượng ký thác không kỳ hạn. Người chủ tài khoản có thể viết một tờ séc cho mình hoặc cho một người nào đó để yêu cầu ngân hàng thanh toán một lượng tiền khi tờ séc được xuất trình và chưa quá hạn. Lượng tiền ký thác không kỳ hạn đó chính là tiền qua ngân hàng. Nhưng bản thân những tờ séc không phải là tiền, vì khi nhận tờ séc từ tay một người nào đó thì người ta không thể dùng nó vào việc thanh toán nợ hay mua bán hàng hóa.

    • Ưu điểm: Tiết kiệm chi phí giao dịch; Nhanh, đơn giản và an toàn; Thuận lợi khi giao dịch lớn.
    • Nhược điểm: Mất thời gian vận chuyển séc, kiểm tra tính hợp pháp của séc..nên không phù hợp khi cần thanh toán nhanh; Tốn kém chi phí xử lý chứng từ.; Cần một khoảng thời gian dài để đưa vào ứng dụng phổ biến, rộng rãi.

    Trong ba hình thái tiền tệ nêu trên hiện nay chỉ phổ biến hai hình thái là tiền quy ước và tiền qua ngân hàng. Nền kinh tế càng phát triển, hệ thống ngân hàng càng hoàn thiện thì vai trò của ngân hàng càng quan trọng. Ở nước ta, từ trước đến nay sử dụng chủ yếu vẫn là tiền giấy, tiền qua ngân hàng còn chưa sử dụng phổ biến nhưng trong xu hướng chung thì loại tiền này sẽ được sử dụng nhiều hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiền Tệ Là Gì? Chức Năng Và Tầm Quan Trọng Của Tiền Tệ
  • Em Hãy Nêu Các Chức Năng Cơ Bản Của Thị Trường. Lấy Ví Dụ Mỗi Chức Năng. Nêu Mong Muốn Của Bản Thân Em Trong Việc Phát Triển Kinh Tế
  • Chức Năng Phương Tiện Trao Đổi (Medium Of Exchange) Của Tiền Tệ Là Gì?
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Câu 5 Trang 26 Sgk Giáo Dục Công Dân Lớp 11
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ Và Quy Luật Lưu Thông Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ?
  • Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Tiền Tệ Là Gì? Vai Trò Và Phân Tích Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Tin Học 12 Bài 2: Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • Bài 2: Hệ Quản Trị Cơ Sở Dữ Liệu
  • a) Các chức năng của tiền tệ

    Theo C.Mác, tiền tệ có năm chức năng sau đây:

    – Thước đo giá trị

    Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hóa. Muốn đo lường giá trị của các hàng hóa, bản thân tiền tệ cũng phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hóa không cần thiêt phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó trong ý tưởng. Sở dĩ có thế làm được như vậy vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hóa trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó. Giá trị hàng hóa được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hóa. Hay nói cách khác, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa.

    Giá cả hàng hóa chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau đây:

    + Giá trị hàng hóa.

    + Giá trị của tiền.

    + Quan hệ cung – cầu về hàng hóa.

    Nhưng vì giá trị hàng hóa là nội dung của giá cả nên trong ba nhân tố nêu trên thì giá trị vẫn là nhân tố quyết định giá cả.

    Để tiền làm được chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được quy định một đơn vị tiền tệ nhất định làm tiêu chuẩn đo lường giá cả của hàng hóa. Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ. Ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Chẳng hạn ở Mỹ, tiêu chuẩn giá cả của 1 đồng đôla có hàm lượng vàng là 0.736662gr, ở Pháp 1 đồng frăng hàm lượng vàng là 0,160000gr, ở Anh 1 đồng Fun St’zelinh có hàm lượng vàng là 2,13281 gr.. .Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu chuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng; làm thước đo giá trị. Là thước đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hóa khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ. Giá trị của hàng hóa tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó. Giá trị hàng hóa tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Ví dụ. 1 đôla vẫn bằng 10 xen.

    – Phương tiện lưu thông

    Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hóa. Để làm chức năng lưu thông hàng hóa đòi hỏi phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hóa lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hóa.

    Công thức lưu thông hàng hóa là: H – T – H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hóa đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế.

    Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thỏi, bạc nén. Dần dần nó được thay thế bằng tiền đúc. Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dần và mất một phần giá trị của nó. Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủ giá trị.

    Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. Sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương lện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giám bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Nhà nước có thể in tiền giấy ném vào lưu thông. Nhưng vì bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của nén vàng, nên nhà nước không thể tùy ý in bao nhiêu tiền giấy cũng được, mà phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy. Quy luật đó là: “việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn trong số lượng vàng (hay bạc) do tiền giấy đó tượng trưng, lẽ ra phải lưu thông thực sự”. Khi khối lượng tiền giấy do nhà nước phát hành và lưu thông vượt quá khối lượng tiền cần cho lưu thông, thì giá trị của tiền tệ sẽ bị giảm xuống, tình trạng lạm phát sẽ xuất hiện.

    -Phương tiện cất trữ

    Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền, vàng, bạc. Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hóa nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hóa lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

    -Phương tiện thanh toán

    Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng… Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình thức giao dịch này, trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hóa. Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán. Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt. Mặt khác, trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh tóan được sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên.

    – Tiền tệ thế giới

    Khi trao đổi hàng hóa vượt khỏi biên giới quốc gia thì nên làm chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện mua bán hàng hóa, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xã hội.

    Năm chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hóa quan hệ mật thiết với nhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa.

    b) Quy luật lưu thông tiền tệ và vấn đề lạm phát

    Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật quy định số lượng tiền cần cho lưu thông hàng hóa ở mỗi thời kỳ nhất định.

    ( Mác cho rằng, số lượng tiền tệ cần cho lưu thông do ba nhân tố quy định: số lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường, giá cả trung bình của hàng hóa và tốc độ lưu thông cua những đơn vị tiền tệ cùng loại. Sự tác động của ba nhân tố này đối với khối lượng tiền tệ cần cho lưu thông diễn ra theo quy luật phổ biến là: Tổng số giá cả của hàng hóa chia cho ô vòng lưu thông của các đồng tiền cùng loại trong một thời gian nhất định.

    + Khi tiền mới chỉ thực hiện chức năng là phương tiện lưu thong, thì số lượng tiền cần thiết cho lưu thong được tính theo công thức :

    Trong đó:

    M: là phương tiện cần thiết cho lưu thông

    P: là mức giá cả

    Q: là khối lưojwng hàng hóa đem ra lưu thông

    V: là số vòng luân chuyển trung bình của một đơn vị tiền tệ

    + Khi tiền thực hiện cả chức năng phương tiện thanh toán thì số lượng cần thiết cho lưu thông được xác định như sau:

    – Lạm phát: Khi vàng và bạc được dùng làm tiền thì số lượng tiền vàng hay bạc được thích ứng một cách tự phát với số lượng tiền cần thiết cho lưu thông. Khi phát hành tiền giấy thì tình hình sẽ khác. Tiền giấy chỉ là ký hiệu của giá trị, hay thế tiền vàng hay bạc trong chức năng phương tiện lưu thông, bản thân tiền giấy không có giá trị thực, do đó số lượng tiền giấy phải bằng số lượng tiền vàng hoặc bạc mà nó tựơng trưng. Khi số lượng tiền giấy đưa vào lưu thông vượt quá số lượng tiền vàng hay bạc mà nó đại diện thì sẽ dẫn đến hiện tượng lạm phát.

    Lạm phát là một hiện tượng kinh tế phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đó là hiện tượng khủng hoảng tiền tệ, nhưng nó là sự phản ánh và thể hiện trạng thái chung của toàn bộ nền kinh tế. Có nhiều quan niệm khác nhau về lạm phát, nhưng đều nhất trí rằng: Lạm phát là tình trạng mức giá chung của toàn bộ nền kinh tế tăng lên trong một thời gian nhất định.

    Căn cứ vào mức giá tăng lên, có thể chia lạm phát thành: lạm phát vừa phải (chỉ số giá cả tăng dưới 111% năm), lạm phát phi mã (trên 10%/năm) và siêu lạm phát (chỉ số giá cả tăng lên hàng trăm, hàng nghìn lần và hơn nữa). Khi lạm phát xảy ra sẽ dẫn tới sự phân phối lại 10 nguồn thu nhập giữa các tầng lớp dân cư: người nắm giữ hàng hóa, người đi vay được lời; người có thu nhập và nắm giữ tài sản bằng tiền, người cho vay bị thiệt (do sức mua của đồng tiền giảm sút); khuyến khích đầu cơ hàng hóa, cản trở sản xuất kinh doanh, các hoạt động kinh tế bị méo mó biến dạng, tâm lý người dân hoang mang…

    Lạm phát là hiện tượng gây nhiều tác động tiêu cực tới kinh tế và xã hội, bởi vậy chống lạm phát được xem là một trong những mục tiêu hàng đầu của các nước trên thế giới. Để ổn định kinh tế vĩ mô, chống lạm phát, cần phải tìm hiểu đúng nguyên nhân dẫn tới lạm phát, đánh giá đúng dạng lạm phát để có cách xử lý tốt hơn.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Và Ví Dụ Cụ Thể (Có Ảnh Minh Họa)
  • Tiền Tệ Là Gì? Các Chức Năng Của Tiền Tệ
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Protein Trong Dinh Dưỡng
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Protein
  • 9 Chức Năng Quan Trọng Của Protein Đối Với Cơ Thể
  • Mối Quan Hệ Giữa Marketing Với Các Bộ Phận Chức Năng Khác Của Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Mô Tả Công Việc Các Nhân Viên Bộ Phận Marketing
  • Quan Hệ Giữa Chức Năng Quản Trị Marketing Với Các Chức Năng Quản Trị Khác Trong Doanh Nghiệp
  • Sale Marketing Là Gì? Khác Nhau Cơ Bản Giữa Sale & Marketing
  • Sale Marketing Là Gì ? Phân Biệt Sales Và Marketing
  • Sales Là Gì ? Tất Tần Tật Các Công Việc Của Nhân Viên Sales
  • Marketing phản ánh một chức năng cơ bản của kinh doanh, giống như chức năng sản xuất – tài chính – nhân sự. Những chức năng này đều là những bộ phận tất yếu về mặt tổ chức. Về mặt tổ chức của một doanh nghiệp, chức năng cơ bản của marketing là tạo ra khách hàng cho doanh nghiệp, giống như sản xuất tạo ra sản phẩm. Từ đó, xét về mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành trong hệ thống hoạt động chức năng quản trị doanh nghiệp thì marketing cũng là một chức năng có nhiệm vụ kết nối, nhằm bảo đảm sự thống nhất hữu cơ với các chức năng. Khi xác định chiến lược marketing, các nhà quản trị marketing phải đặt ra nhiệm vụ, mục tiêu, chiến lược marketing trong mối tương quan ràng buộc với các chức năng khác. Chức năng marketing của doanh nghiệp luôn chỉ cho doanh nghiệp biết rõ những nội dung cơ bản sau đây:

    – Khách hàng của doanh nghiệp là ai? Loại hàng hóa đó có những đặc tính gì? Vì sao họ cần những đặc tính đó mà không phải là những đặc tính khác? Những đặc tính hiện thời của hàng hóa còn thích hợp với khách hàng nữa hay không? So với nhãn hiệu hàng hóa cạnh tranh, hàng hóa của doanh nghiệp có ưu thế và hạn chế gì? Có cần phải thay đổi hàng hóa không?

    – Giá cả hàng hóa nên quy định là bao nhiêu? Tại sao lại quy định mức giá như vậy mà không phải là mức giá khác? Mức giá trước đây còn thích hợp không? Nên tăng hay giảm giá?

    – Doanh nghiệp nên tự tổ chức lực lượng bán hàng hay dựa vào các lực lượng khác? Cụ thể là ai? Bao nhiêu người?

    – Làm thế nào để khách hàng biết, mua và yêu thích hàng hóa của doanh nghiệp? Tại sao lại dùng cách thức này mà không phải là cách thức khác? Dùng phương tiện nào để giới thiệu sản phẩm của công ty cho khách hàng? Tại sao lại dùng phương tiện này mà không dùng phương tiện khác?

    – Hàng hóa của doanh nghiệp có cần dịch vụ sau khi bán không? Loại dịch vụ nào doanh nghiệp có khả năng cung cấp nhất? Vì sao?

    Đó là những vấn đề mà không một hoạt động chức năng nào của doanh nghiệp ngoài marketing có trách nhiệm trả lời. Mặc dù, mục tiêu cơ bản của mọi công ty là thu lợi nhuận nhưng nhiệm vụ cơ bản của hệ thống marketing là đảm bảo cho sản xuất và cung cấp những mặt hàng hấp dẫn, có sức cạnh tranh cao so với các thị trường mục tiêu. Nhưng sự thành công của chiến lược còn phụ thuộc vào sự vận hành của các chức năng khác trong công ty, đó là mối quan hệ hai mặt, vừa thể hiện tính thống nhất, vừa thể hiện tính độc lập giữa các chức năng của một công ty hướng theo thị trường, giữa chúng có mối quan hệ với nhau, nhưng hoàn toàn không thể thay thế cho nhau. Đây là yếu tố đảm bảo cho công ty thành công.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trưởng Phòng Kinh Doanh Đảm Trách Công Việc Gì?
  • Kỹ Năng Cần Có Của Trưởng Phòng Kinh Doanh
  • Mục Tiêu Của Trưởng Phòng Marketing Trong Doanh Nghiệp
  • Trưởng Phòng Marketing Làm Gì?
  • 1.2.3 Mô Tả Công Việc Trưởng Phòng Marketing
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100