Phương Pháp Và Phương Pháp Luận

--- Bài mới hơn ---

  • Nêu Chức Năng Của Bộ Xương
  • Mạng 4G Là Gì? 4G Lte Là Gì? 4G Và 4G Lte Giống Hay Khác?
  • Lte Là Gì? Và Một Số Câu Hỏi Nổi Bật Liên Quan Đến Lte
  • Tiềm Lực Là Gì? Động Lực Phát Triển Cho Bản Thân Và Doanh Nghiệp
  • Quản Trị Nguồn Nhân Lực Là Gì? Vai Trò, Mục Tiêu Và Ý Nghĩa
  • 1. Phương pháp

    Theo nghĩa thông thường phương pháp (tiếng Hy Lạp, phương pháp – methodos) là cách thức, thủ đoạn mà chủ thể sử dụng để đạt một mục đích nhất định. Thí dụ để hỏi quả trên cây, người ta có thể dùng nhiều cách: Trèo lên để bứt, dùng gậy để khều, hoặc dùng dao để chặt; muốn qua sông người ta có thể dùng nhiều cách: bơi bằng phao, hoặc dùng thuyền, hoặc dùng bè v.v. Ngay trong việc bơi cũng có nhiều cách như bơi ếch, bơi bướm, bơi sải v.v. Đó là những phương pháp hoạt động thực tiễn. Trong quá trình nhận thức cũng có nhiều cách để đi đến kết quả cần thiết. Thí dụ, để tính toán tổng các số chẵn có hai chữ số: 12 + 14 + 16 + ….+ 98, ta có ba cách: một là cộng lần lượt từ số thứ nhất đến số cuối cùng.

    Hai là có thể nhóm thành từng cặp có giá trị bằng nhau rồi nhân với số lượng các cặp bằng nhau đó: 12 + 98 = 110;

    ………………

    Có 22 cặp số mà tổng bằng 110 vậy tổng dãy số trên là: 22 X 110 = 2420.

    Cách thứ ba: ta có nhận xét nếu cộng tổng hai dãy số trên theo thứ tự tăng dần và giảm dần như sau:

    12+14+16+……. + 96 + 98

    110 + 110 + 110 + …+ 110+ 110. Có 44 số hạng bằng 110 trong tổng này, nên ta có thể tính dễ dàng bằng: 110 X 44 = 4840.

    Nếu định nghĩa một cách khái quát, khoa học và chặt chẽ thì phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằm thực hiện một mục đích nhất định.

    Định nghĩa nêu trên vừa nói lên được một cách khái quát hình thức thể hiện của phương pháp vừa nói lên được nguồn gốc và vai trò của phương pháp.

    Một vấn đề đặt ra là những nguyên tắc đó được con người rút ra như thế nào, từ đâu, và bản chất của nó là gì? Trả lời vấn đề này có một số quan điểm khác nhau.

    Nguồn gốc và bản chất của phương pháp

    Có một số quan niệm khác nhau về nguồn gốc và bản chất của phương pháp.

    Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm cho phương pháp là nhũng nguyên tắc do lý trí con người tự ý đặt ra để tiện cho nhận thức và hoạt động thực tiễn. Như vậy, theo quan niệm này, phương pháp là phạm trù thuần tuý chủ quan, không phụ thuộc vào đối tượng nhận thức và đối tượng tác động thực tế của con người. Thoạt nhìn, chúng ta thấy quan niệm này có vẻ hợp lý. Nhưng xem xét tỷ mỷ hơn chúng ta thấy con người không thể tuỳ tiện đặt ra những cách thức cho hoạt động của mình được. Thí dụ, khi bơi, chúng ta không thể hoạt động một cách tuỳ tiện, mà phải phối hợp cử động chân, tay một cách nhịp nhàng mới bơi được. Neu không phối hợp tay, chân một cách nhịp nhàng, người bơi sẽ không tạo ra một lực nâng tổng họp lớn hơn trọng lượng cơ thể, người đó thì sẽ bị chìm. Một thí dụ khác, khi chèo thuyền phải khua mái chèo theo một tư thế nhất định thuyền mới chạy đúng hướng được, nếu ìchông thuyền sẽ đứng tại chỗ mà không tiến lên phía trước như mong muốn. Như vậy hoạt động của con người không thể tuỳ tiện theo ý muốn chủ quan được, mà bị quy định bởi tính tất yếu bên ngoài, phụ thuộc vào đối tượng mà con người tác động.

    Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: phương pháp dù là những nguyên tắc do con người đặt ra và dùng để điều chỉnh hoạt động của mình nhằm đạt mục đích nhất định, nhưng không được đặt ra một cách hoàn toàn chủ quan, tuỳ tiện, cũng không phải là những nguyên tắc có sẵn bất biến trong tự nhiên. Phương pháp phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu và đối tượng tác động, phụ thuộc vào mục đích đặt ra của chủ thể. Đối tượng tác động và mục đích của con người không phải do con người tạo ra theo ý nuốn chủ quan thuần tuý của mình. Muốn tiếp cận đối tượng và giải quyết nhiệm vụ đặt ra, chủ thể phải nghiên cún đối tượng và mục đích cần đạt tới một cách khách quan. Nghĩa là phải vạch rõ đối tượng có tính chất gì, các yếu tố cấu thành nên đối tượng, giới hạn tồn tại của đối tượng là gì, v.v. Từ đó chủ thể nhận thức rõ những quy luật tồn tại và biến đổi của đối tượng. Chỉ trên cơ sở đó và sau đó chủ thể mới xác định được phải nghiên cún và hành động như thế nào và cần phải sử dụng những phương tiện, công cụ và biện pháp gì cho thích hợp, cũng như cần phải kết họp các yếu tố đã cho theo một trình tự như thế nào cho họp lý để đạt được mục đích. Như vậy phương pháp mà con người dựa vào đe hoạt động, phải tuân theo một lôgic nhất định, tuỳ thuộc vào lôgic của đối tượng. Rõ ràng phương pháp bắt nguồn từ hiện thực khách quan, phản ánh nhũng quy luật khách quan của đối tượng nghiên cứu chứ không phải là những nguyên tắc được đặt ra một cách tùy tiện, theo ý muốn chủ quan của chủ thể (con người). Nhưng phương pháp phải do hoạt động có ý thức, có mục đích của chủ thể mới hình thành được. Hoạt động có ý thức ở đây không phải là ý thức thuần tuý tưởng tượng ra các nguyên tắc, không dựa vào hiện thực khách quan, mà là quá trình ý thức con người phản ánh hiện thực khách quan, rút ra những mối liên hệ bản chất của đối tượng, căn cứ vào đó để điều chỉnh hoạt động của mình phù hợp với quy luật vận động của đối tượng. Do vậy cũng có thể nói phương pháp là sản phẩm của hoạt động có ý thức của con người, là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người.

    Phương pháp làm cho hoạt động củả con người phù họp với quy luật khách quan của đối tượng, nhờ vậy mới nhận thức và cải tạo được đối tượng. Do vậy phương pháp là một trong những yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại đối với hoạt động của con người. Nếu với những điều kiện khách quan nhất định như nhau, phương pháp đúng đắn thì kết quả đạt được càng cao và ngược lại phương pháp không phù hợp có thể không đưa đến kết quả như mong muốn, hoặc hiệu quả công việc không cao. Bê-cơn, một nhà triết học Anh thế kỷ XVIII nói: phương pháp như ngọn đèn soi đường đi cho khách lữ hành trong đêm tối. Hêghen – một nhà triết học lỗi lạc của Đức thế kỷ XVIII – XIX cho phương pháp gắn liền với đối tượng và phụ thuộc vào đối tượng, phương pháp là “linh hồn” của đối tượng. Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin rất coi trọng phương pháp, nhất là phương pháp hoạt động thực tiễn cách mạng, phương pháp vận động quần chúng. Chính phương pháp làm cho hoạt động của con người mang tính tự giác, có mục đích và có tính sáng tạo. Đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta, việc vạch ra mục tiêu phương hướng cách mạng đúng là yếu tố quan trọng cho thành công của cuộc cách mạng. Tuy nhiên nếu không có phương pháp hoạt động cách mạng đúng đắn, thì với những điều kiện vật chất nhất định sẽ không thể đưa cách mạrig tiến lên đế đạt được mục tiêu đã định. Vậy phương pháp là một nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của việc thực hiện mục tiêu hoạt động của con người.

    Căn cứ vào nội dung, phạm vi ứng dụng và mức độ phổ biến người ta phân chia phương pháp ra làm nhiều loại khác nhau như:

    – Phương pháp nhận thức và phương pháp hoạt động thực tiễn.

    – Phương pháp riêng

    – Phương pháp chung

    – Phương pháp chung nhất (hay phương pháp phổ biến)

    Phương pháp riêng chỉ áp dụng cho từng bộ mổn khoa học, cho một đối tượng riêng, cụ thể. Thí dụ: phương pháp phân loại thực vật, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp chứng minh trong toán học v.v.

    Phương pháp chung được áp dụng cho nhiều môn khoa học khác nhau, hoặc cho các đối tượng thuộc các lĩnh vực khác nhau như: phương pháp quan sát, phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình hoá, phương pháp hệ thống cấu trúc, v.v.

    Phương pháp chung nhất (hay còn gọi là phương pháp phổ biến) áp dụng cho mọi lĩnh vực khoa học và hoạt động thực tiễn. Đó là phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử như: phương pháp kết hợp phân tích và tổng họp, phương pháp kết hợp lôgic và lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá v.v.

    Trong phương pháp nhận thức khoa học lại có thể chia một cách tương đối ra thành nhóm các phương pháp thu nhận tri thức ở trình độ kinh nghiệm và nhóm các phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học.

    Nhóm các phương pháp thu nhận tri thức ở cấp độ kinh nghiệm như:

    Phương pháp quan sát, là phương pháp nghiên cứu để xác định các thuộc tính, các quan hệ của sự vật hiện tượng riêng lẻ của thế giới xung quanh trong điều kiện tự nhiên vốn có của nó. Thí dụ: Quan sát các hiện tượng thời tiết như: diễn biến thời tiết trước, trong và sau khi bão, mưa, lốc xoáy; quan sát, sự biến đổi cây cối trong năm; quan sát sự sinh trưởng của cây. Qua quan sát, con người thấy được các đặc điếm của sự vật và các mối liên hệ giữa đặc điểm này với các đặc điểm khác.

    Phương pháp thí nghiệm, là phương pháp nghiên cứu các sự vật, hiện tượng bằng cách sử dụng các phương tiện vật chất để can thiệp vào trạng thái tự nhiên của chúng, tạo ra những điều kiện đặc biệt (có tính chất nhân tạo), tách chúng thành các bộ phận và kết họp chúng lại, sản sinh chúng dưới dạng thuần khiết. Thí dụ: lai ghép cây, lai tạo các giống động vật, sinh sản vô tính, thí nghiệm để xác định độ chịu lực của vật liệu, thí nghiệm một phương pháp sản xuất mới, một công nghệ mới. Ngày nay thí nghiệm được sử dụng rộng rãi cả trong khoa học tự nhiên, trong kỹ thuật và trong xã hội. Thí nghiệm như một dạng cơ bản của hoạt động thực tiễn, giữ vai trò là cơ sở của nhận thức khoa học và tiêu chuẩn để kiểm tra tính chân lý của nhận thức khoa học.

    Nhóm các phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học gồm những phương pháp sau:

    Phương pháp kết hợp phân tích và tổng hợp: Phân tích là quá trình phân chia cái toàn bộ ra thành từng bộ phận để đi sâu nhận thức các bộ phận đó. Tổng họp là quá trình liên kết thống nhất các bộ phận đã được phân tích lại nhằm nhận thức cái toàn bộ. Nhận thức phải kết họp cả quá trình phân tích và tổng họp. Không có phân tích thì không thể tổng hợp được và ngược lại không tổng họp thì phân tích chỉ đưa lại hình ảnh rời rạc về sự vật, không thể có được hình ảnh toàn diện về sự vật.

    Phương pháp kết hợp quy nạp và diễn dịch: quy nạp là phương pháp đi từ tri thức về cái riêng đến tri thức về cái chung, từ tri thức về cái ít chung đến ứi thức về cái chung hơn. Diễn dịch là phương pháp đi từ tri thức về cái chung đến tri thức về cái riêng, từ tri thức về cái chung đến tri thức về cái ít chung hơn. Quá trình nhận thức phải có sự kết họp giữa phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch mới phản ánh được đầy đủ những đặc tính của sự vật cũng như phát huy được tính tích cực chủ động của hoạt động chủ quan của chủ thể nhận thức.

    Phương pháp lịch sử và lôgic

    Phương pháp lịch sử đòi hỏi phải phản ánh trong tư duy quá trình lịch sử cụ thể của sự vật với những chi tiết của nó, phải nắm lấy sự vận động lịch sử trong toàn bộ tính phong phú của đối tượng, phải theo dõi mọi bước đi của đối tượng theo trình tự thời gian.

    Phương pháp lôgic vạch ra bản chất, tính tất yếu, tính quy luật của sự vật dưới hình thức lý luận trừu tượng và khái quát. Phương pháp lôgic có nhiệm vụ dựng lại lôgic khách quan của sự vật.

    Quá trình nhận thức phải kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic mới phản ánh đúng và đầy đủ được sự vận động phát triển của sự vật. Nếu nhận thức chỉ dựa vào phương pháp lịch sử tách rời phương pháp lôgic thì nhận thức không thể phản ánh được bản chất của các sự kiện lịch sử. Các sự kiện lịch sử hiện ra trước con neười như một bức tranh rất nhiều màu sắc, nhiều đường nét chằng chịt, nhưng còn lộn xộn, chưa theo trật tự có tính tất yếu. Ngược lại nếu nhận thức chỉ dựa vào phương pháp lôgic tách rời phương pháp lịch sử thì hình ảnh về sự vật chỉ là một bức tranh không có màu sắc, thiếu đường nét, khô khan nghèo nàn và đon điệu, một bức tranh méo mó về sự vật. Phương pháp lịch sử và lôgic phải kết hợp chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, giúp cho con người không những nhận thức được những mối liên hệ bản chất của sự vật, mà cả những biểu hiện đa dạng của các mối liên hệ đó trong những điều kiện lịch sử khác nhau. Như vậy kết họp phương pháp lịch sử và lôgic giúp con người phản ánh sự vật đầy đủ, sâu sắc và đúng đắn.

    Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể

    Cái cụ thể là phạm trù chỉ những sự vật, hiện tượng nhất định của thế giới khách quan. Phản ánh cái cụ thể khách quan trong nhận thức dưới hai hình thức: Thứ nhất, cái cụ thể cảm tính – điểm bắt đầu của nhận thức, hình ảnh cảm tính về cái cụ thể khách quan; thứ hai, cái cụ thể trong tư duy- kết quả của tư duy lý luận, của nhận thức khoa học, phản ánh cái cụ thể khách quan bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật.

    Cái trừu tượng là một trong những yếu tố, một trong những vòng khâu của quá trình nhận thức. Cái trừu tượng trong tư duy là kết quả của sự trừu tượng hoá một mặt, một mối liên hệ nào đó trong tổng thể phong phú các mối liên hệ của sự vật. Do vậy trừu tượng là một mặt, một biểu hiện của cái cụ thể trong tư duy, là bậc thang của nhận thức cái cụ thể.

    Nhận thức về một đối tượng nhất định gồm hai giai đoạn (hay hai quá trình) quan hệ chặt chẽ với nhau: Một là đi từ cái cụ thể cảm tính đến cái trừu tượng, hình thành cái trừu tượng trong tư duy. Hai là đi từ trừu tượng đến cụ thể, hình thành cái cụ thể trong tư duy. Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể là phương pháp nhận thức khoa học quan trọng, nhờ đó mà tư duy quán triệt được cái cụ thể cảm tính ban đầu và tái tạo nó với tư cách là một cái cụ thể trong tư duy. Đây là phương pháp cơ bản được Mác sử dụng trong Tư bản. Tuy nhiên đây không phải là phương pháp duy nhất và cũng không phải là Mác sử dụng một cách tách rời với các phương pháp khác trong Tư bản.

    Như vậy chúng ta thấy có nhiều phương pháp nhận thức khoa học khác nhau, có quan hệ biện chúng với nhau. Sự phân biệt các loại phương pháp chỉ mang ý nghĩa tương đối, tuỳ theo góc độ và tiêu chuẩn phân loại khác nhau. Trong hệ thống các phương pháp, mỗi phương pháp đều có vị trí nhất định. Tùy từng đối tượng và điều kiện lịch sử khác nhau mà chủ thể hoạt động có thể lựa chọn phương pháp nào đó là phương pháp chủ yếu, nhưng đồng thời kết họp với các phương pháp khác. Không nên coi mọi phương pháp đều ngang bằng nhau, có thế thay thế cho nhau một cách tùy tiện, hoặc một phương pháp nào đó luôn là quan trọng nhất có thể bao trùm, thay thế cho mọi phương pháp khác. Không nên tuyệt đối hoá phương pháp này, hạ thấp phương pháp kia. Trên thực tế, hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn thường phải sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp mới nhanh chóng đạt được mục đích.

    2. Phương pháp luận Khái niệm phương pháp luận

    Trên thực tế, để giải quyết một công việc đã định người ta có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau. Trong các phương pháp đó có phương pháp thích hợp đưa lại hiệu quả cao, cũng có phương pháp không thích họp, đưa lại hiệu quả thấp. Làm thế nào để chọn được một phương pháp thích họp nhất trong số rất nhiều phương pháp có thế sử dụng? Trả lời cho vấn đề này làm nảy sinh nhu cầu tri thức về phương pháp. Từ nhu cầu tri thức về phương pháp đưa đến sự ra đời khoa học và lý luận về phương pháp. Đó chính là phưo’ng pháp luận. Vậy ta có thể nói phương pháp luận là lý luận về phương pháp (hay khoa học về phương pháp).

    Phương pháp luận giải quyết những vấn đề như: Phương pháp là gì? bản chất, nội dung, hình thức của phương pháp là thế nào? cách phân loại phương pháp như thế nào? vai trò của phương pháp trong nhận thức và hoạt động thực tiễn như thế nào? phương pháp thích hợp nhất là phương nào V.V.? Mục đích của những vấn đề lý luận trên là xác định được những quan điểm, nguyên tắc cơ bản nhất để trên cơ sở của những nguyên tắc đó con người có thể lựa chọn được những phương pháp hoạt động thực tiễn và nhận thức thích họp. Từ đó ta có thể định nghĩa phương pháp luận một cách rõ ràng hơn như sau:

    Phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát rút ra từ một lý thuyết hoặc một hệ thống lý luận nhất định, để chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như trong việc xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng một cách họp lý, đưa lại hiệu quả tối đa. Thí dụ phương pháp luận toán học, xuất phát từ việc nghiên cún các lý thuyết toán học để đề xuất được những nguyên tắc chung chỉ đạo quá trình xác định và áp dụng các phương pháp toán học V.V.; phương pháp luận kinh tế học có nhiệm vụ nghiên cứu các lý thuyết kinh tế, để rút ra những quan điểm, nguyên tắc cơ bản như: quan điểm về hiệu quả; quan điểm về tiến bộ xã hội; quan điểm về phát triển bền vững v.v. làm cơ sở cho việc xác định các phương pháp kinh tế cụ thể như: phương pháp điều tra chọn mẫu; phương pháp phân tích các hoạt động kinh tế, phương pháp thống kê v.v. Việc lựa chọn một phương pháp kinh tế cụ thể nào đó phải xuất phát từ các nguyên tắc phương pháp luận chung đó.

    Phân biệt phương pháp luận và phương pháp

    Phương pháp và phương pháp luận không đồng nhất với nhau, tuy có quan hệ chặt chẽ với nhau. Phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là nhũng quan điểm, những nguyên tắc xuất phát để chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp một cách đúng đắn, còn phương pháp là những nguyên tắc cụ thể để chủ thể dựa vào đó điều chỉnh cách thức hoạt động cho thích họp với một đối tượng cụ thể. Phương pháp luận là những nguyên tắc được rút ra từ một lý thuyết mang tính chất thuần tuý lý luận, chưa gắn với một đối tượng cụ thể nào. Mỗi hệ thống lý luận (thậm chí mỗi lý thuyết) đều bao hàm một nội dung phương pháp luận nhất định. Còn phương pháp là những nguyên tắc nhận thức và hoạt động thực tiễn được rút ra từ tri thức về các đối tượng cụ thể. Phương pháp luận nghiên cứu phương pháp nhưng không nhằm ‘mục đích xác định một phương pháp cụ thể nào, mà nhằm rút ra những quan điểm, nguyên tắc xuất phát, làm cơ sở cho việc xác định và áp dụng phương pháp, còn phương pháp là những nguyên tắc do kết quả nghiên cứu đối tượng, những nguyên tắc quy định các thủ đoạn cụ thể để tiếp cận đối tượng và cải tạo các đối tượng cụ thể.

    Tuy nhiên phương pháp và phương pháp luận lại thống nhất với nhau ở chỗ phương pháp và phương pháp luận đều phản ánh nhũng mối liên hệ tất nhiên của hiện thực khách quan, chính vì vậy nó mới là cơ sở cho hoạt động của con người. Phương pháp luận là cơ sở lý luận cho việc xác định các phương pháp cụ thể, còn phương pháp phải xuất phát từ quan điểm, nguyên tắc của phương pháp luận để xác định các cách thức hoạt động phù hợp với một đối tượng nhất định.

    Phân loại phương pháp luận

    Phương pháp luận có các cấp độ khác nhau.

    Phương pháp luận môn học là cấp độ hẹp nhất, trong đó các quan điểm, các nguyên tắc được rút ra từ một lý thuyết khoa học chuyên ngành, phản ánh quy luật của một lĩnh vực cụ thể. Những nguyên tắc đó chỉ là cơ sở để xác định các phương pháp của một môn học nhất định nào đó.

    Phương pháp luận chung có cấp độ rộng hơn phương pháp luận môn học, đó là những quan điểm, nguyên tắc được rút ra từ những lý thuyết khoa học phản ánh quy luật chung của một số môn học, hoặc một số lĩnh vực của hiện thực khách quan. Những ngiịyên tắc chung này làm cơ sở cho việc xác định các phương pháp chung cho một số môn học hoặc một số lĩnh vực nào đó, Thí dụ phương pháp luận chung của các môn khoa học xã hội, hay phương pháp luận chung của các môn khoa học tự nhiên v.v.

    Phương pháp luận chung nhất (hay phương pháp luận phổ biến) có cấp độ rộng nhất, đó là những quan điểm, nguyên tắc chung nhất được rút ra từ những lý thuyết khoa học có cấp độ khái quát cao nhất, làm cơ sở cho việc xác định phương pháp chung cho nhận thức và hoạt động thực tiễn trên tất cả các lĩnh vực. Có thể nói, phương pháp luận chung nhất được rút ra từ lý luận triết học, trong đó phép biện chứng là một trong những bộ phận quan ứọng nhất của lý luận triết học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Quan Về Lý Thuyết Cấu Trúc
  • Phương Pháp Luận Và Vai Trò Của Phương Pháp Triết Học Trong Nghiên Cứu Khoa Học
  • Mọi Điều Bạn Cần Biết Về Lý Thuyết Chức Năng Luận ·
  • Tìm Hiểu Về Kiểm Thử Chức Năng (Functional Testing) Trong Kiểm Thử Phần Mềm
  • Tìm Hiểu Về Quy Trình Kiểm Thử Website
  • Phương Pháp, Phương Pháp Luận Và Vai Trò Của Phương Pháp Luận Triết Học Mác Lênin

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 18. Vận Chuyển Máu Qua Hệ Mạch. Vệ Sinh Hệ Tuần Hoàn
  • Giải Pháp Không Khí Sạch Cho Lớp Học Mầm Non, Nhà Trẻ Và Trường Học
  • Hướng Dẫn Vệ Sinh Môi Trường Trong Lớp Học Mầm Non
  • Những Vấn Đề Vệ Sinh Trường Mầm Non Bạn Cần Biết
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Trẻ 5 6 Tuổi Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường Mầm Non
  • Thứ năm – 15/12/2016 07:51

    ThS. Trần Thiên Tú

    Phó Trưởng khoa LL M-LN, TT HCM

    `

    Ngoài chức năng thế giới quan, phương pháp luận là một trong hai chức năng cơ bản nhất của triết học, nó định hướng cho con người xác định, lựa chọn, sử dụng phương pháp trong nhận thức và hoạt động thực tiễn một cách hiệu quả. Tuy nhiên, hiện nay, do chưa nghiên cứu sâu, có nhiều người vẫn hiểu chưa đúng và chưa phân biệt giữa phương pháp luận với phương pháp luận triết học; ngoài ra, họ còn đồng nhất phương pháp với phương pháp luận, phương pháp luận với phương pháp hệ, phương pháp luận với phương pháp luận triết học. Việc nhầm lẫn này sẽ đánh giá không đúng vị trí, vai trò của triết học trong cuộc sống cũng như hạ thấp chức năng của triết học.

    Hiểu đúng về phương pháp luận nói chung và phương pháp luận triết học nói riêng sẽ có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt là đối với hoạt động dạy và học lý luận. Trong giảng dạy lý luận, đặc biệt là triết học, giảng viên sẽ phải chú trọng nhiều hơn đến phần ý nghĩa phương pháp luận; trong quá trình học tập, học viên sẽ hiểu sâu phần này hơn; trong hoạt động thực tiễn, con người sẽ biết vận dụng sáng tạo, triệt để hơn lý luận vào thực tế. Tất cả những điều này sẽ giúp con người hiệu quả hơn trong hoạt động cải tạo tự nhiên và xã hội.

    Với tầm quan trọng như trên, con người phải được trang bị lý luận về phương pháp luận, đặc biệt là phương pháp luận triết học. Để hiểu đúng về phương pháp luận, chúng ta phải hiểu về khái niệm phương pháp, phương pháp luận, phương pháp hệ; các cấp độ của phương pháp và phương pháp luận; vai trò của phương pháp luận triết học.

    1. Phương pháp, phương pháp hệ, phương pháp luận

    a. Phương pháp (methos): Có các cách hiểu về phương pháp như sau:

    Theo phạm vi ảnh hưởng, có thể phân phương pháp thành các cấp độ sau:

    Phương pháp riêng (ngành): là các phương pháp chỉ sử dụng trong các ngành riêng biệt. Mỗi khoa học đều có các phương pháp đặc thù, chỉ sử dụng riêng trong ngành mình, không thể sử dụng cho ngành khác; ví dụ: ẩn dụ, thậm xưng, … trong văn học; log, tích phân, … trong toán học.

    Phương pháp chung: là các phương pháp có thể được áp dụng trong nhiều ngành khác nhau; ví dụ: quy nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp, điều tra xã hội học, xác suất thống kê, …

    Phương pháp chung nhất: là các phương pháp có thể sử dụng cho tất cả các ngành khoa học, đó là phương pháp của triết học.

    b. Phương pháp hệ (Methodica): là nhóm các phương pháp được sử dụng phối hợp trong một lĩnh vực khoa học hay một đề tài cụ thể; là hệ thống các thủ thuật hoặc biện pháp để thực hiện có tuần tự, có hiệu quả một công trình nghiên cứu khoa học. Sử dụng phối hợp các phương pháp là cách tốt nhất phát huy các điểm mạnh và khắc phục điểm yếu của từng phương pháp. Đồng thời chúng hỗ trợ, bổ sung, kiểm tra lẫn nhau trong quá trình nghiên cứu và để khẳng định tính xác thực của các luận điểm khoa học. Như vậy, thì phương pháp hệ thống nhất với nghĩa thứ 2 của “phương pháp” và được sử dụng trong nghiên cứu khoa học.

    c. Phương pháp luận (Methodology): hiện nay, có nhiều cách hiểu gần giống nhau về phương pháp luận. Có ba cách hiểu phổ biến nhất:

    Những tin mới hơn Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Iphone Lock Sử Sụng Khác Iphone Quốc Tế Như Thế Nào? Và Cách Nhận Biết Iphone Lock? Iphone Lock Là Gì?
  • Phương Pháp Dạy Học Là Gì? Phân Biệt Với Thủ Pháp Dạy Học
  • Phân Biệt Sáng Chế Và Giải Pháp Hữu Ích Như Thế Nào?
  • Kiến Nghị Là Gì? Cách Viết Một Bản Kiến Nghị Như Thế Nào?
  • Phần 2: Các Giải Pháp Kỹ Thuật Và Biện Pháp Thi Công Các Công Trình Điện Nước
  • Phương Pháp Luận Là Gì? Ý Nghĩa Và Phân Loại Phương Pháp Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Luận Là Gì? Ý Nghĩa Nghiên Cứu Phương Pháp Luận
  • Giải Pháp Đối Với Vấn Đề Đại Diện (Agency Problem) Trong Doanh Nghiệp
  • Chi Phí Đại Diện Thực Tiễn Và Giải Pháp
  • Những Phương Pháp Giải Quyết Xung Đột Nơi Công Sở Mà Nhà Quản Lý Cần Biết
  • Bản Chất Xung Đột Lao Động Và Cách Khắc Phục
  • 4.7

    /

    5

    (

    7

    bình chọn

    )

    1. Tìm hiểu về phương pháp luận

    1.1. Phương pháp luận là gì

    Phương pháp luận là mặt học thuyết hay lý luận về phương pháp, hay hệ thống những quan điểm, nguyên lý đã được công nhận là chuẩn xác và sử dụng hiệu quả. 

    Theo như quan điểm của triết học Mác – Lênin thì phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là hệ thống các quan điểm, các nguyên tắc chỉ đạo con người tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp trong nhận thức và thực tiễn.

    Phương pháp luận là một phạm trù rất rộng, phạm vi bao quát của phương pháp luận rất lớn. Cho nên để biết rõ về phương pháp luận cần hiểu rõ ý nghĩa của nó. Một số ví dụ nổi bật về phương pháp luận: 

    • Phương pháp Hiện tượng học (Phenomenology) 

    • Phương pháp Dân tộc học (Ethnography)

    • Phương pháp Lý thuyết cơ sở (Grounded Theory)

    Nếu bạn đang gặp bất kỳ khó khăn nào trong quá trình làm bài nghiên cứu khoa học. Hãy liên hệ ngay với DỊCH VỤ VIẾT LUẬN VĂN của Luận Văn Việt. Đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm sẽ giúp bạn hoàn thành bài NCKH một cách tốt nhất.

    1.2. Ý nghĩa của phương pháp luận

    Phương pháp luận là gì là điều mà chúng ta cứ mãi thắc mắc và đã được hé lộ ở trên. Thế ý nghĩa phương pháp luận ra sao, nó có thật sự quan trọng hay không?

    Có phương pháp luận, bài nghiên cứu của bạn không những logic trong cấu trúc câu từ mà nội dung có sức thuyết phục rất cao. Phương pháp luận có ý nghĩa như cách để xác định hướng đi cho tiến trình nghiên cứu một đề tài và tìm ra cấu trúc logic nhất cho các công trình khoa học hiện tại.

    Phương pháp luận cũng chú ý đến phương pháp tổ chức, quản lý nghiên cứu hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ, cách để nâng cao tiềm lực khoa học và để các công trình khoa học đạt hiệu quả cao.

    1.3. Phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học là gì?

    Trong nghiên cứu khoa học, phương pháp luận là những hệ thống, nguyên lý, quan điểm làm cơ sở để xây dựng các phương pháp và định hướng cho việc nghiên cứu khoa học. 

    Các quan điểm mà phương pháp luận nghiên cứu khoa học đưa ra thường mang khuynh hướng triết học, tuy nhiên không đồng nhất với triết học. 

    Phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học cũng được xem như là một hệ thống lý thuyết về phương pháp nhận thức khoa học bao gồm đốc các lý thuyết về cơ chế sáng tạo.

    Tham khảo ngay phương pháp nghiên cứu khoa học là gì để tìm hiểu thêm về các phương pháp này.

    2. Phân loại phương pháp luận

    Phương pháp luận được chia làm hai loại chính, đó là: 

    2.1. Phương pháp luận bộ môn (ngành)

    Phương pháp luận bộ môn hay phương pháp luận môn học có cấp độ hẹp nhất. Ở phương pháp này, các nguyên tắc và quan điểm được rút ra từ một lý thuyết khoa học chuyên ngành, nó phải phản ánh được quy luật của một lĩnh vực cụ thể như triết học, kiểm toán, văn học, toán học,… 

    2.2. Phương pháp luận chung 

    Phương pháp luận chung được chia thành 2 cấp độ khác nhau:

    • Phương pháp luận chung nhất: Là phương pháp thể hiện chung nhất để mô tả tổng quan nhất các nguyên tắc, quan điểm khái quát. Phương pháp này được sử dụng như cơ sở để xác định phương pháp luận chung và phương pháp luận ngành.

    • Phương pháp luận chung: Là phương pháp dùng để xác định phương pháp hay phương pháp luận của nhóm có đối tượng được nghiên cứu chung.

    3. Ví dụ về phương pháp luận

    Đối với phương pháp luận trong kinh tế học, các nhà kinh tế có thể chấp nhận những phương pháp luận trong ngành tự nhiên, nhưng thực tiễn xã hội là một hệ thống mở. Đó có thể là có nhiều biến số can thiệp, hoặc không nhất thiết phải kiểm soát mọi yếu tố như trong phòng thí nghiệm.

    Về chủ nghĩa thực chứng, lý thuyết phải nhất quán với nhau và thể hiện được sự logic của nội dung. Ví dụ một số phát biểu về phương pháp luận “Không gì có thể được chứng minh là luôn luôn đúng”:

    • Chúng ta không bao giờ chắc chắn được rằng mô hình của mình là hoàn chỉnh hoặc đã thiết lập quan hệ nhân quả.

    • Chúng ta tiến bộ nhờ chứng minh vấn đề là sai bằng cách lặp lại các thử nghiệm và loại bỏ những vướng mắc không có tác dụng.

    5/5

    (1 Review)

    Hy vọng có thể mang đến cho bạn đọc thật nhiều thông tin bổ ích về tất cả các chuyên ngành, giúp bạn hoàn thành bài luận văn của mình một cách tốt nhất!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiến Nghị Và Đề Xuất Hỗ Trợ Phát Triển Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa
  • Điều Gì Tạo Nên Một Kiến Trúc Sư Phần Mềm Chuyên Nghiệp?
  • Kiến Trúc Sư Giải Pháp Và Cơ Hội Nghề Nghiệp
  • Sự Khác Nhau Giữa Kiến Trúc Sư Giải Pháp Và Kiến Trúc Sư Phần Mềm – Apmp
  • Chương 7 : Kỹ Năng Mềm – Kỹ Năng Tư Duy Sáng Tạo – Công Ty Tnhh Mtv Vinabook
  • Giải Pháp Và Phương Pháp Luận Tư Vấn Giám Sát

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Các Nghiên Cứu Về Chủ Đề “Quản Lý Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Định Hướng Giá Trị” Ở Việt Nam Và Trên Thế Giới
  • Thuyết Minh Biện Pháp Tổ Chức Thi Công Đường Giao Thông Cấp 3 Miền Núi
  • Tình Hình Lao Động, Việc Làm Ở Việt Nam Trong Đại Dịch Covid
  • Giải Pháp Mạng Wifi Diện Rộng
  • Các Giải Pháp Wifi Diện Rộng Cho Khu Du Lịch
  • Đang xem: Giải pháp và phương pháp luận tư vấn giám sát

    III. GIẢI PHÁP VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TỔNG QUÁT ĐỀ XUẤT ĐỂ THỰC HIỆN

    DỊCH VỤ TƯ VẤN

    III.1. GIẢI PHÁP VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN.

    III.1.1. HiÓu biÕt vÒ dù ¸n:

    1. Tên dự án:

    2. Tên gói thầu: Tư vấn giám sát thi công xây dựng, giám sát lắp đặt thiết bị.

    3. Chủ đầu tư: BBBB

    4. Nguồn vốn: Vốn XDCB tập trung từ Ngân sách Nhà nước.

    5. Văn bản pháp lý:

    – Quyết định số 3699/QĐ-BGDĐT ngày 15/09/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về

    việc phê duyệt kế hoạch đấu thầu dự án Cải tạo, xây dựng Trường thực nghiệm khoa học

    giáo dục BBBB.

    6. Địa điểm xây dựng:.

    7. Quy mô xây dựng:

    + Phương án xây dựng: Cải tạo, nâng cấp

    + Loại, cấp công trình: Công trình dân dụng, Cấp công trình, cấp II.

    III.1.2. HiÓu biÕt vÒ nhiÖm vụ gãi thÇu:

    1. Yêu cầu chung đối với tư vấn giám sát.

    – Thực hiện ngay từ khi hợp đồng có hiệu lực.

    – Thường xuyên, liên tục trong quá trình thi công xây dựng.

    án đầu tư XDCT, Quyết định phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công và dự toán ) Hồ sơ thiết

    kế bản vẽ thi công, chỉ dẫn kỹ thuật được duyệt, quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng được áp

    – Trung thực, khách quan, không vụ lợi.

    2. Phạm vi công việc trong gói thầu mà tư vấn AAA sẽ thực hiện giám sát thi công

    xây dựng.

    – Tư vấn giám sát thực hiện gói thầu, các nội dung công việc thuộc dự án gồm:

    I Phần xây lắp

    1 Xây dựng công trình nhà học A ( khối THPT – nhà số 3 )

    2 Xây dựng công trình nhà học B ( khối THCS – nhà số 4 )

    3 Xây mới nhà đa năng

    4 Phá dỡ nhà cũ và các hạng mục giải phóng mặt bằng

    5 Xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật, cây xanh, thảm cỏ

    II Phần thiết bị

    1 Thiết bị điều hòa không khí cho nhà học khối THCS và THPT ( nhà số 03, 04 )

    2 Thiết bị xây mới nhà đa năng

    3 Thiết bị xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật, cây xanh thảm cỏ

    4.1 Thiết bị phòng học

    4.2 Thiết bị nhà ăn ( bếp nấu, bàn soạn, bàn ghế, bát đĩa )

    4.3 Bộ âm thanh ngoài trời công suất lớn

    4.4 Phòng dạy nghề may

    4.5 Phòng dạy nghề điện dân dụng

    4.6 Phòng dạy nghề điện tử

    4.7 Phòng dạy nghề mộc

    3. Nhiệm vụ cụ thể của tư vấn giám sát:

    chúng tôi đoạn chuẩn bị thi công.

    Công trình xây dựng chỉ được khởi công khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

    án đầu tư XDCT, Quyết định phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công và dự toán )

    – Nghiên cứu hồ sơ mời thầu, và hồ sơ dự thầu do nhà thầu nộp và hợp đồng thi công

    xây lắp để đảm bảo tuân thủ các quy định.

    áp dụng và nghiên cứu Luật xây dựng số 16/2003/QH11, Nghị định số 15/2013/NĐ-CP

    ngày 06/02/2013 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng, Thông tư số

    10/2013/TT-BXD ngày 25/07/2013 của Bộ xây dựng hướng dẫn một số nội dung và quản

    lý chất lượng công trình xây dựng.

    – Kiểm tra việc khảo sát và bàn giao tim tuyến, mốc cao trình, bãi mượn vật liệu như

    đã thỏa thuận giữa Chủ đầu tư và nhà thầu thi công xây dựng;

    – Có mặt bằng xây dựng để bàn giao toàn bộ hoặc từng phần theo tiến độ xây dựng.

    – Có bản vẽ thi công đã được duyệt.

    – Có hợp đồng thi công xây dựng.

    – Có biện pháp để đảm bảo an toàn, vệ sinh môi trường trong quá trình xây dựng.

    – Kiểm tra điều kiện năng lực xây dựng của nhà thầu thi công xây dựng.

    chúng tôi đoạn giám sát thi công.

    a. Kiểm tra hệ thống quản lý chất lượng của nhà thầu có phù hợp với yêu cầu, tính

    chất, quy mô công trình xây dựng và các điều kiện nêu trong hợp đồng giao nhận thầu xây

    dựng, quy trình và phương án tự kiểm tra chất lượng của nhà thầu thi công xây dựng công

    trình.

    b. Kiểm tra sự phù hợp năng lực của nhà thầu thi công xây dựng công trình với hồ sơ

    dự thầu và hợp đồng xây dựng bao gồm:

    – Kiểm tra về nhân lực, thiết bị thi công của nhà thầu đã vào công trường.

    – Kiểm tra giải pháp sử dụng các máy móc, thiết bị, vật tư có yêu cầu về an toàn

    phục vụ thi công xây dựng công trình.

    – Kiểm tra phòng thí nghiệm và các cơ sở sản xuất vật liệu, cấu kiện sản phẩm xây

    dựng phục vụ thi công xây dựng của nhà thầu thi công.

    c. Kiểm tra và giám sát chất lượng vật tư, vật liệu, thiết bị lắp đặt vào công trình do

    nhà thầu thi công cung cấp gồm:

    – Kiểm tra giấy chứng nhận chất lượng của nhà sản xuất, kết quả thí nghiệm của các

    phòng thí nghiệm hợp chuẩn và kết quả kiểm định chất lượng thiết bị của các tổ chức được cơ

    quan nhà nước có thẩm quyền công nhận đối với vật liệu, cấu kiện, sản phẩm xây dựng, thiết

    bị lắp đặt vào công trình trước khi đưa vào xây dựng công trình.

    – Trường hợp nghi ngờ các kết quả kiểm tra chất lượng vật liệu, thiết bị lắp đặt vào công

    trình do nhà thầu thi công xây dựng cung cấp thì TVGS báo cáo chủ đầu tư để tiến hành thực

    hiện kiểm tra trực tiếp vật tư, vật liệu và thiết bị lắp đặt vào công trình xây dựng.

    d. Kiểm tra và giám sát trong quá trình thi công xây dựng công trình, bao gồm:

    – Thường xuyên kiểm tra an toàn lao động trên công trường;

    – Kiểm tra biện pháp thi công của nhà thầu thi công xây dựng công trình phù hợp với hồ

    sơ mời thầu, hồ sơ trúng thầu được duyệt;

    – Kiểm tra và giám sát thường xuyên có hệ thống quá trình nhà thầu thi công xây dựng

    công trình triển khai các công việc tại hiện trường. Kết quả kiểm tra đều phải ghi nhật ký

    giám sát của chủ đầu tư hoặc biên bản kiểm tra theo quy định;

    – Xác nhận bản vẽ hoàn công;

    – Nghiệm thu công trình xây dựng theo quy định của pháp luật về quản lý chất lượng

    công trình xây dựng ( Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ về

    quản lý chất lượng công trình xây dựng, Thông tư số 10/2013/TT-BXD ngày 25/07/2013

    của Bộ xây dựng hướng dẫn một số nội dung và quản lý chất lượng công trình xây dựng);

    – Tập hợp, kiểm tra tài liệu phục vụ nghiệm thu công việc xây dựng, bộ phận công trình,

    giai đoạn thi công xây dựng, nghiệm thu thiết bị, nghiệm thu hoàn thành từng hạng mục công

    trình xây dựng và hoàn thành công trình xây dựng;

    – Phát hiện sai sót, bất hợp lý về thiết kế để đề xuất với chủ đầu tư kịp thời điều chỉnh,

    sửa đổi;

    – Phối hợp với chủ đầu tư tổ chức kiểm định lại chất lượng bộ phận công trình, hạng

    mục công trình và công trình xây dựng khi có nghi ngờ về chất lượng;

    trong thi công xây dựng công trình.

    e. Kiểm tra biện pháp thi công, các công tác xây lắp chính và các hạng mục công

    trình của nhà thầu xây dựng lập.

    f. Kiểm tra và giám sát thường xuyên có hệ thống quá trình nhà thầu thi công xây

    dựng công trình triển khai các công việc tại hiện trường. Kết quả kiểm tra đều phải ghi

    nhật kí giám sát thi công hoặc lập biểu bảng kiểm tra theo quy định, bao gồm các công

    việc chính sau:

    Các căn cứ để thực hiện công tác giám sát chất lượng thi công gồm có hợp đồng xây

    dựng, thiết kế bản vẽ thi công được duyệt, Luật xây dựng, Nghị định số 15/2013/NĐ-CP

    ngày 06/02/2013 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng, Thông tư số

    10/2013/TT-BXD ngày 25/07/2013 của Bộ xây dựng hướng dẫn một số nội dung và quản

    lý chất lượng công trình xây dựng

    + Kiểm tra về khối lượng và chất lượng của vật tư, vật liệu, số lượng nhân công máy

    móc thiết bị thi công đáp ứng tiến độ thi công theo yêu cầu;

    + Khi nghi ngờ các kết quả kiểm tra chất lượng vật liệu, thiết bị đưa vào lắp đặt tại

    công trình do Nhà thầu cung cấp, thì cần kiểm tra trực tiếp tại hiện trường và báo cáo Chủ

    đầu tư để có biện pháp xử lý;

    + Kiểm tra và giám sát thường xuyên, có hệ thống trong quá trình thi công xây dựng

    công trình của Nhà thầu; triển khai các công việc tại hiện trường. Kết quả kiểm tra đều

    phải ghi vào nhật ký giám sát hoặc biên bản kiểm tra theo quy định;

    công xây dựng công trình;

    + Đánh giá tính đầy đủ, chính xác các thí nghiệm về vật liệu, cấu kiện do Nhà thầu

    cung cấp;

    + Giám sát, đánh giá và báo cáo các ảnh hưởng của việc thi công đến các công trình

    lân cận và kịp thời để xuất các biện pháp cải thiện tình trạng theo yêu cầu, phối hợp với

    Chủ đầu tư, Nhà thầu thi công để nhanh chóng giải quyết sự cố (nếu có) nhằm giảm thiểu

    + Giám sát, đánh giá và báo cáo các ảnh hưởng đến môi trường trong quá trình thi

    công và đề xuất các biện pháp cải thiện tình trạng theo yêu cầu;

    + Phát hiện sai sót, bất hợp lý về thiết kế bản vẽ thi công báo cáo Chủ đầu tư để xem

    xét, xin điều chỉnh chủ trương kịp thời;

    + Cùng Chủ đầu tư tổ chức kiểm định lại chất lượng bộ phận công trình hạng mục

    công trình và công trình xây dựng khi có nghi ngờ về chất lượng;

    công xây dựng công trình;

    + Tư vấn và trợ giúp trong việc thành lập phòng thí nghiệm hiện trường (nếu thấy cần

    thiết) để kiểm tra chất lượng các công việc xây dựng;

    + Tham mưu, đề xuất về sự thay đổi các công việc xây dựng (nếu cần);

    + Xem xét, xác nhận khối lượng để Chủ đầu tư tạm ứng, thanh toán theo kỳ thanh

    toán và quyết toán cuối cùng cho Nhà thầu, phù hợp với quy định Nhà nước và cam kết

    giữa Chủ đầu tư với Nhà thầu thi công trong Hợp đồng tư vấn;

    + Chỉ dẫn cho Nhà thầu hoàn thành các báo cáo cuối cùng và hồ sơ hoàn công theo

    quy định;

    + Soạn thảo và trình nộp các báo cáo hoàn thành công việc tư vấn giám sát công trình

    theo quy định.

    chúng tôi đoạn sau khi thi công hoặc giai đoạn hoàn thành.

    + Theo dõi quá trình vận hành thử công trình;

    + Kiểm tra hồ sơ hoàn thành công trình;

    + Lập báo cáo đánh giá chất lượng và báo cáo hoàn thành.

    III.1.3. Hiểu biết về hiện trường:

    1. Vị trí địa lý.

    2. Thời tiết, khí hậu.

    Quận Ba Đình có cùng chung chế độ khí hậu của thành phố Hà Nội, đó là khí hậu

    nhiệt đới, ẩm, gió mùa. Từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa hạ, khí hậu ẩm ướt, mưa nhiều.

    Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là mùa đông, thời kỳ đầu khô – lạnh, nhưng cuối mùa lại

    mưa phùn, ẩm ướt. Giữa hai mùa là thời kỳ chuyển tiếp tạo cho quận Ba Đình cũng như

    Hà Nội có bốn mùa phong phú: xuân, hạ, thu, đông.

    Nhiệt độ trung bình hàng năm của quận Ba Đình là 25

    0

    C, hai tháng nóng nhất là

    tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất thường xảy ra vào tháng 7 là

    37,5

    0

    C. Hai tháng lạnh nhất là tháng 1 và 2, nhiệt độ trung bình của tháng 1 là 13

    0

    C.

    Độ ẩm trung bình của quận Ba Đình là 84%, độ ẩm này cũng rất ít thay đổi theo các

    tháng trong năm, thường dao động trong khoảng 80 – 87%.

    Số ngày mưa trong năm khoảng 144 ngày với lượng mưa trung bình hàng năm 1600

    – 1800 mm. Trong mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10) tập trung tới 85% lượng mưa toàn

    năm. Mưa lớn nhất vào tháng 8, với lượng mưa trung bình 300 – 350 mm. Những tháng

    đầu đông ít mưa, nhưng nửa cuối mùa đông lại có mưa phùn, ẩm ướt. Vào mùa đông, còn

    phải chịu các đợt gió mùa đông bắc.

    3. Đặc điểm địa chất thủy văn.

    + Đặc điểm địa chất thuỷ văn nổi bật của vùng Hà Nội và quận Ba Đình nói riêng là

    có nhiều tầng chứa nước nhưng đóng vai trò quan trọng là các tầng chứa nước trầm tích

    bở rời tuổi Đệ Tứ phân bố rộng khắp trên toàn vùng nghiên cứu với bề dày khá lớn. Các

    thành tạo chứa nước khe nứt có diện phân bố nhỏ hẹp ở phần phía bắc thuộc huyện Sóc

    Sơn, Đông Anh và đóng vai trò thứ yếu trong cung cấp nước.

    + Khu vực Hà Nội là nơi có động thái phá huỷ. Đây là khu vực duy nhất trong cả

    nước hiện đang sử dụng 100% nước ngầm cho các mục đích nên sự hạ thấp mực nước rất

    lớn. Phễu hạ thấp mực nước rộng đến gần 300km NDĐ vùng Hà Nội là nước nhạt, có thể

    đáp ứng được yêu cầu cungcấp nước hiện tại cũng như trong tương lai. Loại hình hoá học

    của nước là Bicacbonat canxi hoặc bicacbonat canxi, natri, hiếm khi gặp loại hình kháccủa

    nước.

    + Do hoạt động kinh tế xã hội nên các tầng chứa nước ở Hà Nội đang đứng trước các

    vấn đề: suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước. Mực nước của các tầng chứa nước hạ

    thấp nhanh, trung bình mỗi năm tầng chứa nước pleistocen hạ thấp từ 0,3-0,4m. Phễu hạ

    thấp mực nước có diện tích tăng theo thời gian.

    4. Nhận xét chung.

    + Thuận lợi:

    Nhìn chung công trình nằm tại vị trí khá thuận lợi về giao thông liên lạc, việc trao

    đổi thông tin giữa nhà thầu tư vấn giám sát với chủ đầu tư và các nhà thầu khác là khá dễ

    dàng.

    + Khó khăn.

    Công trình xây dựng nằm trong khu vực trung tâm nội thành Hà Nội, công tác

    giám sát về an toàn lao động, vệ sinh môi trường, chống ồn, chống bụi, đảm bảo giao

    thông phải được tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Nhà nước và Thành phố. Vì vậy

    nhà thầu phải bố trí đội ngũ cán bộ hợp lý để thực hiện tốt các khâu. Các bên tham gia xây

    dựng công trình phải có sự phối hợp nhịp nhàng và cụ thể để đảm bảo tiến độ chi tiết và

    đảm bảo tốt về khâu vận chuyển vật tư vật liệu, đảm bảo thời gian thi công tránh ảnh

    hưởng đến quá trình học tập và làm việc của học sinh và cán bộ nhân viên của trường,

    cũng như dân cư sinh sống xung quanh khu vực xây dựng công trình.

    III.1.4. QUY TRÌNH GIÁM SÁT, KIỂM TRA, NGHIỆM THU.

    III.1.4.1. CƠ SỞ THỰC HIỆN CÔNG TÁC GIÁM SÁT

    1. Các quy định của Nhà nước:

    1.1 Luật Xây dựng, của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, số

    16/2003/QH11 ngày 26/3/2003, được thông qua tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá 11.

    1.2 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính Phủ về quản lý dự án

    đầu tư xây dựng công trình.

    1.3 Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính Phủ về quản lý chất

    lượng công trình xây dựng.

    1.4 Thông tư 10/2013/TT-BXD ngày 25/07/2013 của Bộ Xây dựng hướng dẫn một

    số nội dung về Quản lý chất lượng công trình xây dựng.

    1.5 Hệ thống các tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng Việt Nam và các tiêu chuẩn quốc

    tế có áp dụng cho công trình này

    2. Các quy định khác theo thỏa thuận thêm giữa 2 bên:

    2.1 Hồ sơ thiết kế (TK) bản vẽ thi công đã được CĐT phê duyệt bằng quyết định và

    đóng dấu “bản vẽ thi công đã phê duyệt” theo quy định.

    2.2 Hồ sơ mời thầu thi công xây lắp và Hồ sơ dự thầu thi công xây lắp của NT trúng

    thầu thi công xây dựng công trình (NT), kèm theo Hợp đồng thi công xây dựng và các tài

    2.3 Những yêu cầu riêng của CĐT quy định cho công trình.

    III.1.4.2. VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN.

    1. Chủ đầu tư:

    kinh tế, hoặc thoả thuận riêng trong khuôn khổ luật pháp cho phép.

    c. Thay đổi hoặc yêu cầu AAA thay đổi người giám sát trong trường hợp người giám

    sát không thực hiện đúng quy định.

    d. Đình chỉ thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng với AAA theo quy định trong hợp

    đồng kinh tế và theo pháp luật.

    g. Xử lý kịp thời những đề xuất của KS TVGS AAA.

    h. Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng với AAA.

    k. Không được thông đồng hoặc dùng ảnh hưởng của mình để áp đặt làm sai lệch kết

    quả giám sát.

    l. Lưu trữ kết quả giám sát thi công xây dựng công trình.

    2. Tư vấn giám sát của AAA:

    a. Tư vấn giám sát AAA có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ vai trò trách nhiệm của mình như

    đã ký kết (hoặc thoả thuận bằng văn bản) với CĐT bằng Hợp đồng kinh tế. Thực hiện trách

    nhiệm giám sát độc lập từng hạng mục công trình theo nghĩa vụ của mỗi thành viên của liên

    danh trong việc thực hiện nghĩa vụ tại gói thầu.

    b. Nghiệm thu xác nhận khi công trình đã thi công bảo đảm đúng TK, theo quy chuẩn,

    tiêu chuẩn xây dựng và đảm bảo chất lượng.

    c. Từ chối nghiệm thu công trình không đạt yêu cầu chất lượng.

    d. Đề xuất với CĐT xây dựng công trình những bất hợp lý về TK nếu phát hiện ra để

    kịp thời sửa đổi.

    e. Yêu cầu NT thi công xây dựng thực hiện đúng hợp đồng thi công xây lắp ký với

    CĐT.

    g. Bảo lưu các ý kiến của AAA đối với công việc giám sát do mình đảm nhận.

    3. Nhà thầu chính: Ngoài những yêu cầu đã nêu trong hợp đồng với Chủ đầu tư, Nhà

    thầu chính phải có trách nhiệm sau:

    – Tổ chức công trường và thi công an toàn phù hợp với các văn bản pháp quy hiện

    hành.

    – Tuân thủ các yêu cầu thiết kế, kỹ thuật, các tiêu chuẩn và quy phạm viện dẫn trong hồ

    sơ thầu hoặc các tiêu chuẩn chuyên nghành khác.

    – Trước khi bắt đầu thi công các hạng mục, công trình tối thiểu thời gian ít nhất 1 tuần ,

    Nhà thầu chính phải cung cấp cho Chủ đầu tư và Tư vấn giám sát các tài liệu sau:

    + Kế hoạch, biện pháp thi công tổng thể của các hạng mục, công trình.

    + Kế hoạch kiểm soát và đảm bảo chất lượng nội bộ của Nhà thầu thi công.

    + Biện pháp thi công chi tiết từng hạng mục.

    + Hàng tuần Nhà thầu chính phải báo cáo cho Chủ đầu tư và Tư vấn giám sát bằng

    văn bản về tình hình thi công trong tuần, kế hoạch tiến độ thi công dự kiến của tuần tiếp

    theo, với các nội dung tối thiểu:

    *

    Số lượng nhân công hiện có và dự kiến bổ sung .

    * Hiện có và dự kiến vật tư, thiết bị thi công sử dụng trên công trường. ( tình trạng

    thiết bị)

    * Những ngày dự kiến không thi công.

    * Sơ bộ tóm tắt và đánh giá về mặt khối lượng, chất lượng, tiến độ, ATLĐ – VSMT

    thi công trong tuần.

    + Cung cấp cho đơn vị TVGS đầy đủ và kịp thời các bằng chứng chứng nhận chất

    lượng dự án và chất lượng thi công, đáp ứng các yêu cầu về công tác giám sát của Chủ

    đầu tư.

    4. Mối quan hệ giữa Nhà thầu chính với Tư vấn giám sát và Chủ đầu tư trong

    công tác giám sát chất lượng:

    đoạn thi công:

    Sơ đồ tổ chức nhân sự ( ghi rõ trách nhiệm, quyền hạn, điện thoại liên hệ…)

    Sơ đồ tổ chức nhân sự của Nhà thầu: Nhà thầu trình Tư vấn giám sát xem xét, góp ý

    nhà thầu trình Chủ đầu tư phê duyệt.

    Sơ đồ tổ chức nhân sự của Tư vấn giám sát: Tư vấn giám sát trình Chủ đầu tư phê

    duyệt

    Sơ đồ tổ chức của Chủ đầu tư: Chủ đầu tư phát hành cho các bên tại công trình

    a. Chỉnh sửa thiết kế ( nếu có )

    Thông tin không ảnh hưởng giá thành

    3- Phê Duyệt

    4- Phát hành

    NHÀ THẦU

    TƯ VẤN GIÁM SÁT

    CHỦ ĐẦU TƯ

    1-Đề xuất, báo

    cáo

    2- Xem xét

    đánh giá

    1.Đ

    ề xuất, báo

    cáo

    TƯ VẤN

    THIẾT KẾ

    TƯ VẤN

    GIÁM SÁT

    NHÀ THẦU

    CHỦ ĐẦU TƯ

    2

    1

    1

    2

    3

    3

    1

    Thông tin có ảnh hưởng giá thành

    b. Khối lượng phát sinh:

    NT đề nghị, TVGS xem xét, trình CĐT duyệt.

    c.

    Tổ chức nghiệm thu:

    Nghị định 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 Thông tư

    10/2013TT-BXD ngày 25/07/2013

    d.

    Bàn giao mặt bằng:

    CĐT bàn giao cho NT; TVGS chứng kiến.

    e.

    Hồ sơ hoàn công:

     Trách nhiệm của chủ đầu tư: cung cấp các hồ sơ pháp lý

     Trách nhiệm của nhà thầu chính: lập và trình TVGS các hồ sơ kỹ thuật, kể cả

    các tài liệu, bản vẽ do thay đổi thiết kế.

     Trách nhiệm của TVGS: tập hợp đủ theo yêu cầu, xem xét và trình CĐT.

    6. Quy định cách thức trao đổi thông tin, tài liệu, báo cáo giữa các bên :

    a. Cách thức trao đổi thông tin :

    – Trao đổi đột xuất, kịp thời có thể bằng miệng, e-mail, điện thoại, nhưng sau đó

    cần xác nhận bằng văn bản.

    – Trao đổi chính thức là bằng văn bản gửi tay, bưu điện, fax.

    – Tất cả văn bản, tài liệu, báo cáo . . . đều phải có ngày tháng năm rõ ràng, nếu là

    quy trình phải có ghi rõ lần ban hành, ngày ban hành, chỉnh sửa . . . .

    – Quy định đánh ký mã hiệu các tài liệu phát sinh của Tư vấn GS cho dự án: gồm

    các ký tự

    b. Tài liệu, báo cáo gửi các bên :

    TT Tên tài liệu/ báo cáo

    Trách nhiệm của các bên

    NT chính TVGS TVTK CĐT

    1

    Tiến độ thi công thi công

    tổng thể

    Lập Xem xét, đ. giá

    Phê duyệt

    2

    Tiến độ thi công tuần Lập Xem xét, đ. giá,

    theo dõi

    Theo dõi

    3

    Báo cáo tuần c/c để biết Lập

    Nhận

    4

    Kế hoạch kt, thí nghiệm Lập Nhận

    5

    Kế hoạch nghiệm thu Lập Nhận

    Nhận

    6

    Báo cáo công việc KPH c/c để biết Lập

    Nhận b/c

    7

    Biện pháp KP việc KPH Đề xuất Xem xét, đ. giá

    Phê duyệt

    8

    B/C giải toả việc KPH c/c để thực hiện Lập

    Nhận b/c

    9

    Yêu cầu thông tin Lập c/c để biết

    Nhận

    10

    Trả lời yêu cầu thông tin Nhận trả lời c/c để biết Phối hợp trả

    lời

    Trả lời

    11

    Chỉ thị công trường Nhận Lập c/c để biết

    12

    Thư tay công trường Nhận Lập c/c để biết

    13

    Nhật ký công trường Lập Cho ý kiến Cho ý kiến Cho ý kiến

    c. Quy định chương trình họp định kỳ, bất thường:

    2

    3

    – Thành phần tham dự : CĐT TVTK TVGS NT

    – Chủ trì : CĐT

    III.1.5. QUY TRÌNH GIÁM SÁT THI CÔNG XÂY DỰNG.

    1. Nguyên tắc chung.

    Giám sát chất lượng là loại trừ những sai phạm kỹ thuật, công trình xây dựng đạt

    chất lượng thiết kế, phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật được phép áp dụng.

    Đơn vị tư vấn phải theo dõi thường xuyên, liên tục, có hệ thống tại hiện trường để

    quản lý khối lượng, chất lượng, tiến độ, các công tác xây dựng, theo hồ sơ thiết kế bản vẽ

    thi công đã được phê duyệt, quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng.

    2. Quản lý chất lượng chung đối với các nhà thầu thi công xây dựng các hạng

    mục công trình của gói thầu:

    – Đoàn TVGS tiến hành các công việc sau đây trên công trường:

    – Tổ chức, phổ biến Nghị định 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ về

    quản lý chất lượng công trình xây dựng và Thông tư số 10/2013TT-BXD ngày 25/07/2013

    của Bộ Xây dựng quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng với các nhà thầu;

    – Kiểm tra, đánh giá hệ thống tự đảm bảo chất lượng nội bộ của nhà thầu trước khi

    thực hiên công tác thi công xây dựng trên công trường.

    – Hướng dẫn nhà thầu triển khai thực hiện Nghị định 15/2013/NĐ- CP ngày

    06/02/2013 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng và Thông tư số

    10/2013TT-BXD ngày 25/07/2013 của Bộ Xây dựng quy định về quản lý chất lượng công

    trình xây dựng với các nhà thầu;

    – Hướng dẫn nhà thầu lập hồ sơ pháp lý và tài liệu quản lý chất lượng xây dựng công trình

    – Hướng dẫn nhà thầu lập và thống nhất cùng chủ đầu tư các vấn đề sau:

    căn cứ theo hồ sơ thiết kế, hồ sơ dự thầu và hợp đồng thi công.

    + Các mẫu biên bản: Nghiệm thu công việc xây dựng, nghiệm thu bộ phận công

    trình xây dựng, giai đoạn thi công xây dựng; Nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình

    xây dựng và nghiệm thu hoàn thành công xây dựng.

    + Tập hợp, kiểm tra tài liệu phục vụ nghiệm thu công việc xây dựng, bộ phận công

    trình, giai đoạn thi công xây dựng, nghiệm thu thiết bị, nghiệm thu hoàn thành từng hạng

    mục công trình xây dựng và hoàn thành công trình xây dựng.

    + Tổ chức kiểm định lại chất lượng bộ phận công trình, hạng mục công trình và công

    trình xây dựng khi có nghi ngờ về chất lượng.

    thi công xây dựng công trình.

    3. Kiểm tra hồ sơ thiết kế:

    – Các bộ phận TVGS cùng nhà thầu kiểm tra sự đầy đủ và đồng bộ của hồ sơ, bản vẽ

    thiết kế. Nếu phát hiện thiếu (thừa) báo cáo Chủ đầu tư biết để xử lý kịp thời.

    – Xem xét các đề xuất của nhà thầu về sự thay đổi thiết kế cho phù hợp với thực tế

    thi công, nếu thấy hợp lý sẽ xác nhận vào đề xuất của nhà thầu để chuyển tới Chủ đầu tư

    và tư vấn thiết kế giải quyết. Các thủ tục thay đổi thiết kế phải tuân theo quy định về quản

    lý xây dựng cơ bản của Nhà nước.

    4. Kiểm tra biện pháp thi công của nhà thầu :

    – Trước khi triển khai thi công nhà thầu phải lập biện pháp thi công để chủ đầu tư và

    TVGS tham gia, góp ý kiến và phê duyệt.

    – Cán bộ TVGS xem xét và đưa ra ý kiến về sự phù hợp của “biện pháp thi công”đối với

    việc đảm bảo chất lượng và tiến độ thi công của công việc đó, giai đoạn đó, hạng mục đó.

    – Cán bộ TVGS theo dõi, nhắc nhở và giám sát nhà thầu trong khi thi công phải thực

    hiện đúng biện pháp thi công đã được chu đầu tư phê duyệt.

    * Ghi chú:

    – Nhà thầu chỉ được phép thi công sau khi biện pháp thi công do nhà thầu lập ra

    được chủ đầu tư phê duyệt.

    – Trong khi thi công nhà thầu phải tuân thủ đúng biện pháp thi công đã được chủ

    đầu tư phê duyệt

    – Góp ý bản tiến độ thi công và bản kế hoạch tổ chức thi công của nhà thầu.

     Trước khi triển khai công tác thi công trên công trường, đoàn TVGS xem xét và

    đưa ra tính khả thi, về sự phù hợp hay không phù hợp của bản tiến độ của bản thi công và

    bảng kế hoạch tổ chức thi công chi tiết cho các giai đoạn, các bộ phận các hạng mục và

    cho toàn công trình do nhà thầu lập và đệ trình so với hợp đồng và ttổng tiến độ của dự án

    để nhà thầu báo cáo chủ đầu tư phê duyệt.

     Trong quá trình giám sát, đoàn TVGS thường xuyên đối chiếu kế hoạch, tiến độ chi

    tiết đã được phê duyệt, có ý kiến về sự điều chỉnh kế hoạch (nếu cần) để đảm bảo tiến độ

    công trình.

    * Ghi chú

    – Nhà thầu phải chấp hành nghiêm chỉnh tổng tiến độ thi công đã được chủ đầu tư

    phê duyệt.

    – Trong khi thi công nhà thầu không được tự động điều chỉnh tổng tiến độ thi công

    đã được chủ đầu tư phê duyệt;khi phát hiện ra tiến độ thi công bị chậm thì nhà thầu phải

    có kế hoạch làm tăng ca, tăng thiêt bị nhân lực vật lực để làm bù tiến độ dã bị chậm đó;

    – Tiến độ thi công chi tiết phải phù hợp và không làm ảnh hưởng đến tổng tiến độ

    thi công đã được chủ đầu tư phê duyệt.

    5. Kiểm tra thiết bị và điều kiện thi công :

    – Để kiểm soát được chất lượng thi công, các cán bộ TVGS yêu cầu nhà thầu xuất

    trình các lý lịch của thiết bị được dùng để thi công, đặc tính kỹ thuật của từng thiết bị nhất

    là đối với thiết bị đo lường, thí nghiệm, thiết bị trong công nghệ sản xuất bêtông. Đồng

    thời trong khi thi công phải kiểm tra công tác kiểm định an toàn đối với các thiết bị nâng,

    vận chuyển như cẩu, tời,vận thăng

    – Công tác chuẩn bị mặt bằng thi công, kho, sân bãi để tập kết vật liệu, lắp dựng thiết

    bị phục vụ thi công của nhà thầu cũng cần được TVGS kiểm tra xem xét và góp ý.

    – Cán bộ TVGS cần thường xuyên nhắc nhở các nhà thầu về vấn đề an toàn lao động

    – Khi phát hiện có sự vi phạm an toàn lao động dẫn đến nguy hiểm cho người, thiết

    bị và công trình TVGS có quyền ra quyết định ngừng thi công.

    * Ghi chú

    – Nhà thầu phải chấp hành nghiêm chỉnh chế độ kiểm định an toàn và đăng kiểm cho

    các thiết bị nâng, thiết bị chịu áp lực, thiết bị đo, thiết bị điện khi đưa vào sử dụng để thi

    công trên công trường;

    – Tất cả các thiết bị nâng, thiết bị chịu áp lực, thiết bị đo, thiêt bị điện phải có đủ hồ

    sơ kỹ thuật, giấy phép đăng kiểm, tem kiểm định (đối với các thiết bị đo, thí nghiệm) kiểm

    định an toàn đối với thiết bị nâng;

    – Nhà thầu phải có bộ phận quản lý an toàn lao động trên công trường. Phải ban

    hành quy chế nội quy an toàn lao động trên công trường;

    – Tất cả cán bộ công nhân viên của nhà thầu tham gia lao động trên công trường phải

    được học luật lao động đúng theo quy quy định của nhà nước quy định và phải có thẻ.

    III.1.6. PHƯƠNG PHÁP GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÁC CÔNG

    TÁC CHÍNH TRÊN CÔNG TRƯỜNG.

    A. Phương pháp giám sát chất lượng công tác trắc địa công trình.

    a. Nội dung: Kiểm tra lưới khống chế tọa độ và cao độ công trình, kiểm tra các cấu kiện

    và hạng mục công trình: vị trí, kích thước hình học, độ thẳng đứng, độ dốc, độ cao, kiểm tra

    đo vẽ công trình; kiểm tra công tác quan trắc lún, đo chuyển vị và biến dạng công trình.

    b. Kiểm tra công tác chuẩn bị.

    – Kiểm tra biện pháp thi công quy trình thi công cho công tác trắc đạc.

    + Kiểm tra việc lập các mốc chuẩn, các mốc gửi, lưới khống chế mặt bằng, biện

    pháp và quy trình đo kiểm tra của nhà thầu về công tác trắc đạc: đo góc, đo cạnh, đo cao

    cho các cấu kiện, hạng mục công trình.

    + Kiểm tra các biện pháp đảm bảo an toàn cho công tác trắc đạc.

    – Kiểm tra sự phù hợp thiết bị thi công.

    + Kiểm tra sự phù hợp của các thiết bị thi công đo đạc của nhà thầu so với các yêu

    cầu kỹ thuật và hồ sơ dự thầu.

    + Kiểm tra chứng chỉ kiểm định thiết bị, thời hạn kiểm định, chế độ bão dưỡng, kiểm tra.

    – Kiểm tra sự phù hợp nhân lực của nhà thầu.

    + Kiểm tra sự phù hợp về công tác bố trí nhân lực thực hiện công tác trắc đạc của

    nhà thầu.

    + Kiểm tra bằng cấp, chứng chỉ của cán bộ thực hiện công tác trắc đạc của nhà thầu.

    c. Kiểm tra các cấu kiện, hạng mục công trình.

    – Kiểm tra độ ổn định các mốc chuẩn, lưới khống chế mặt bằng và độ cao.

    + Kiểm tra quy trình thành lập lưới khống chế trắc địa của công trình của nhà thầu

    xây lắp.

    + Kiểm tra việc triển khai phương án kỹ thuật.

    + Kiểm tra công tác chôn mốc ngoài thực địa

    + Kiểm tra công tác đo góc, đo cạnh và đo cao độ trong lưới khống chế.

    + Kiểm tra công tác xử lý toán học và các kết quả đo đạc.

    Trong quá trình giám sát, sẽ thường xuyên kiểm tra độ ổn định của các mốc khống

    chế mặt bằng một cách định kỳ, ngoài ra sẽ đo kiểm tra đột xuất, bất thường khi cần thiết.

    – Kiểm tra công tác trắc đạc các cấu kiện, hạng mục công trình.

    + Kiểm tra xác định tọa độ thực tế của các điểm đặc trưng cần kiểm tra so sánh với

    tọa độ thiết kế và các yêu cầu kỹ thuật.

    + Kích thước hình học, vị trí, tim trục, cao độ.

    + Độ thẳng đứng, độ dốc, độ song song của các hạng mục và các cấu kiện.

    d. Kiểm tra công tác đo vẽ hoàn công và báo cáo trắc đạc.

    – Kiểm tra các bảng biểu ghi chép trắc địa của nhà thầu và các báo cáo trắc địa cho từng

    công việc phù hợp. Kiểm tra tính chính xác của công tác đo đạc và ghi chép của nhà thầu.

    – Kiểm tra công tác đo vẽ hoàn công của nhà thầu: vị trí, kích thước, độ cao, độ thẳng

    đứng các đối tượng thi công đã hoàn thành so với thiết kế.

    – Kiểm tra công tác thiết lập bản vẽ hoàn công của nhà thầu: Kiểm tra công tác xử lý

    tổng hợp các số liệu, thông tin nhận được trong quá trình đo vẽ hoàn công để thiết lập một

    bản vẽ chính thức, đúng tiêu chuẩn, trên đó thể hiện đầy đủ vị trí, kích thước, cao độ các

    đối tượng xây dựng và các sai lệch của chúng so với thiết kế, yêu cầu kỹ thuật.

    – Kiểm tra công tác xử lý số liệu, lập hồ sơ hoàn công và báo cáo trắc địa.

    B. Phương pháp giám sát chất lượng vật tư, vật liệu, thiết bị trước khi đưa vào

    xây lắp tại công trường.

    – Phát hiện sớm những thiếu sót trong hồ sơ bản vẽ về vật liệu và chi tiết cấu kiện.

    Cùng kỹ thuật nhà thầu giải quyết những vướng mắc trong quá trình chuẩn bị vật liệu thô,

    bê tông và các vật liệu xây dựng khác đưa và công trình.

    – Kiểm tra các chứng chỉ chất lượng các loại vật liệu, cấu kiện, sản phẩm xây dựng

    chế sẵn tại công trường do nhà thầu thi công xây dựng thực hiện và đệ trình. Cụ thể là: đất

    đắp, đá các loại, cát, xi măng, phụ gia, nước thi công, gạch xây, sắt tròn, thép ứng suất

    trước, thép tấm, thép hình, các loại vật liệu đặc chủng dùng cho kéo căng, chống thấm,

    gạch ốp lát, hoàn thiện, các loại vật liệu trang trí, các trang thiết bị nội ngoại thất,vật liệu

    làm cốt pha đà giáo, sàn công tác vv

    – Kiểm tra chứng chỉ thiết bị thí nghiệm, thiết bị chế tạo bê tông các trạm trộn, kho

    chứa vật liệu hiện trường, phương thức vận chuyển bảo quản vật liệu, tuỳ mức độ vi phạm

    ảnh hưởng tới chất lượng có thể nhắc nhở và lập biên bản.

    – Loại bỏ tất cả các loại vật liệu kém phẩm chất, không hợp chuẩn ra khỏi công

    trường.

    – Xem xét đánh giá sự phù hợp của các biện pháp thi công bê tông khối lớn, bê tông

    chống thấm, bê tông tự đầm (nếu có), vữa không co.

    – Kiểm tra sử dụng cấp phối bê tông, vữa theo yêu cầu của thiết kế và tiêu chuẩn phù

    hợp với điều kiện thi công của công trình.

    – Hướng dẫn nhà thầu thực hiện thống nhất các công tác quản lý chất lượng vật liệu:

     Nhà thầu có tránh nhiệm thông báo kịp thời khi đưa bất kì loại vật liệu, cấu kiện,

    sản phẩm chi tiết nào vào công trình kèm theo các chứng chỉ chất lượng, bản hướng dẫn

    sử dụng của nơi sản xuất và kết quả thí nghiệm do các phòng thí nghiệm hợp chuẩn thực

    hiện, kèm theo bản thống kê khối lượng chủng loại vật liệu đưa vào;

     Nhà thầu có trách nhiệm tổ chức lấy mẫu vật liệu tại hiện trường cùng TVGS.

    Mẫu phải lấy theo đúng quy định của thiết kế và quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật có liên

    quan, các bên tham gia lấy mẫu phải ký vào biên bản lấy mẫu làm của quy trình này. Mẫu

    phải được thí nghiệm lại tại các phòng thí nghiệm hợp chuẩn (Las);

     Trong quá trình thi công các nhà thầu phải cử cán bộ chuyên môn tự kiểm tra chất

    lựơng vật liệu sử dụng trước khi gửi phiếu yêu cầu nghiệm thu tới TVGS;

     Khi nghiệm thu chất lượng, khối lượng vật liệu nhà thầu phải có đủ tài liệu, chứng

    chỉ thí nghiệm phù hợp kết hợp với kiểm tra thực tế sản phẩm xây dựng đã thi công tại

    công trình, xem lại nhật ký thi công, biên bản hiện trường (nếu có) trường hợp có nghi vấn

    về chất lượng vật liệu TVGS yêu cầu nhà thầu phải tổ chức kiểm định lại theo xác xuất, có

    biện pháp khác phục khuyết tật xong mới tiến hành tổ chức nghiệm thu lại;

     Nghiêm cấm nhà thầu đưa vật liệu xây dựng không rõ nguồn gốc xuất xứ, chưa

    được thí nghiệm kiểm tra trên mẫu lấy tại hiện trường, chưa được nghiệm thu vào thi công

    xây dựng tại công trình;

     Khi TVGS phát hiện hoặc nghi vấn các vật liệu, cấu kiện, sản phẩm xây dựng,

    thiết bị và máy móc đưa vào lắp đặt, thiết bị thi công, biện pháp thi công không đảm bảo

    chất lượng, khác với hồ sơ thiết kế, hồ sơ dự thầu hoặc với bản đăng ký cam kết của nhà

    thầu thì có quyền tạm ngừng thi công, lập biên bản hiện trường;

     TVGS từ chối nghiệm thu khi nhà thầu đưa vào công trình các vật liệu, chi tiết

    cấu kiện không đáp ứng với nhu cầu của hồ sơ thiết kế đã được chủ đầu tư phê duyệt (vật

    liệu không rõ nguồn gốc xuất xứ, chưa qua kiểm tra, kiểm định, chất lượng quy cách

    không phù hợp mác, phẩm chất yêu cầu);

     Tất cả các kết cấu bê tông cốt thép đủ thời gian quy định mới được tháo cốt pha

    đà giáo, khi tháo côt pha xong nhà thầu phải báo cho TVGS kiểm tra bề mặt để kiểm tra

    khuyết tật rỗng rỗ, nứt. Nghiêm cấm nhà thầu tự trát vá sửa chữa trước, nếu vi phạm

    TVGS sẽ từ chối nghiệm thu chất lượng bê tông. Nhà thầu phải tiến hành nghiệm thu hoàn

    thành từng bước, từng công việc theo thứ tự. Nếu vì lý do nào đó phải thay đổi chủng loại

    quản lý xây dựng cơ bản của Nhà nước;

     Tất cả các vật liệu xây dựng đưa đến công trường sau khi kiểm tra không đạt chất

    lượng nhà thầu phải lập biên bản có sự xác nhận của tư vấn giám sát. Trong biên bản phải

    ghi rõ chủng loại, số lượng vật tư không đạt yêu cầu, ghi rõ thời gian dự kiến chuyển ra

    khỏi công trường. Khi chuyển ra khỏi công trường phải có sự chứng kiến và xác nhận của

    cán bộ TVGS hoặc của Chủ đầu tư. Thời hạn chuyển ra khỏi công trường không quá 3

    ngày kể từ khi có kết quả kiểm tra.

    C. Phương pháp giám sát công tác phá dỡ thu hồi vật tư.

    * Công tác tháo hoặc phá dỡ được thực hiện từ trên xuống dưới, từ mép ngoài công

    trình giật lùi vào trong.

    * Công tác thi công từng công việc cụ thể được phối kết hợp giữa các loại thiết bị

    chuyên ngành và lao động thủ công, tận dụng tối đa tính năng hoạt động của các loại thiết

    bị, hạn chế người lao động phải làm các công việc nặng nhọc hoặc nguy hiểm. Trên mặt

    bằng thi công tại từng vị trí các công việc được thực hiện bằng máy hoặc thủ công phụ

    thuộc vào tính chất, điều kiện và yêu cầu kỹ thuật của từng công việc cụ thể như sau:

    1. Giám sát tháo dỡ thu hồi vật liệu thép trong BT:

    – Khối lượng vật liệu thép trong bê tông chủ yếu là hai loại: thép xây dựng trong các

    kết cấu BTCT của các nhà khung cột chịu lực và các cấu kiện BTCT khác.

    + Với hệ thống thép trong bê tông.

    Sau khi phá dỡ hoàn toàn phần BT trong kết cấu BTCT mới tiến hành cắt thép để

    thu hồi vật tư thép trong BT. Các thanh thép chịu lực luôn luôn được cắt sau cùng. Thu

    hồi thép sàn trước rồi đến thép dầm sau cùng là thép cột. Công tác thu hồi thép trong BT

    phải kết hợp chặt chẽ với công tác phá dỡ kết cấu BT trong BTCT. Nhà thầu phải luôn có

    sẵn các hệ thống chống đỡ các kết cấu khác khi tiến hành thu hồi cắt đứt các lưới thép

    đảm bảo không bị ảnh hưởng đến các kết cấu chưa phá dỡ.

    + Vật tư thép trong BT thu hồi được vận chuyển tập kết vào kho bãi để các bên tiến

    hành lập biên bản xác nhận.

    + Thành lập các kế hoạch thu hồi vật tư và tiến hành thanh lý ngay sau khi đã thu hồi

    được khối lượng vật tư đảm bảo mặt bằng thi công tổng công trình luôn luôn rộng rãi.

    + Đội ngũ công nhân thực hiện công tác thu hồi là những công nhân chuyên nghiệp

    (Thợ sắt). Thiết bị cắt dùng các loại máy cắt tay, kìm cộng lực,kéo công lực. Hoặc máy cắt

    sử dụng điện. Tuyệt đối đảm bảo quy định về an toàn trong công tác hàn cắt các cấu kiện

    thép và thép.

    2.Giám sát công tác phá dỡ kết cấu mái, sàn bê tông của công trình:

    Nhà thầu triển khai thi công phá dỡ kết cấu theo nguyên tắc từ trên xuống dưới, từ mép

    ngoài công trình vào trong. Trước khi thi công phá dỡ đại trà, phải phá dỡ tại các vị trí tiếp giáp

    nhằm tách rời khu vực phá dỡ với các công trình lân cận, hạn chế ít nhất chấn động gây ảnh

    hưởng xấu tới các công trình kiến trúc xung quanh.

    * Chuẩn bị hệ thống dàn giáo, sàn công tác, lan can an toàn đảm bảo cho người thi

    công an toàn khi thi công trên cao.

    * Dùng kìm thủy lực, búa căn, lao động thủ công để phá các kết cấu sàn bê tông cốt thép.

    * Dùng máy hàn cắt các lưới cốt thép đảm bảo đủ điều kiện để vận chuyển xuống

    mặt đất.

    * Vận chuyển phế thải xuống mặt đất đảm bảo vệ sinh môi trường

    3. Giám sát phá dỡ tường gạch:

    * Kiểm tra hệ thống dàn giáo, sàn công tác, lan can an toàn đảm bảo cho người thi

    công an toàn khi thi công trên cao.

    * Sử dụng các máy móc thiết bị phù hợp kết hợp với phương pháp thủ công để phá

    kết cấu tường gạch có chiều dày lớn.

    * Để đảm bảo an toàn chung, kết cấu tường gạch sẽ được phá dỡ bằng thủ công kết

    hợp với búa căn. Công nhân đứng trên giáo đập búa từ ngoài vào trong để toàn bộ vật liệu

    rơi vào trong lòng nhà, tránh hiện tượng khối vật liệu lớn rơi tự do xuống dưới. Khi đứng

    trên giàn giáo đập phá người công nhân phải thực hiện công việc từ từ, không đục đập kết

    cấu thành các mảng lớn mà phải gõ, đập từng lớp gạch xây, đảm bảo cao độ phá dần bằng

    nhau, từ trên cao trở xuống. Trong lúc thi công đập phá song song tiến hành việc vận

    chuyển phế thải xuống dưới mặt đất nhằm chất tải ít nhất lên mặt sàn nhà.

    * Các bức tường mép ngoài công trình phá dỡ nhẹ nhàng, cẩn thận, tuyệt đối không

    để vật liệu rơi hoặc văng ra phía ngoài.

    4. Vận chuyển phế thải từ trên cao xuống mặt đất:

    * Dùng thủ công kết hợp với tời vật liệu được gom lại thành đống nhỏ và đóng vào

    bao tải dứa vận chuyển bằng thủ công xuống mặt đất.

    * Tùy thuộc vào khối lượng thực hiện hàng ngày của từng khu vực thi công, nhà thầu

    phải bố trí số lượng nhân công xúc + xe vận chuyển để thực hiện.

    * Các vật liệu phế thải phải được vận chuyển về bãi tập kết bằng xe chuyên dụng có

    mui bạt đúng theo tiêu chuẩn qui định.

    5. Thời gian thi công:

    * Công tác tháo, phá dỡ công trình chính, phá dỡ bê tông để thu hồi thép phải được

    thực hiện vào ban ngày từ 7h30 đến 17h “8 tiếng”. Trong quá trình thi công việc phá dỡ

    các cấu kiện tại từng hàng mục và thu hồi vật tư trong tiến hành song song, không để ùn

    tắc gây cản trở.

    * Công tác vận chuyển vật tư, phế thải được thực hiện từ 22h đến 5h nếu được sự

    đồng ý của các cơ quan, hộ dân xung quanh. Nếu không được sự chấp thuận sẽ thực hiện

    không quá 24h.

    – Nhà thầu phải tháo, phá dỡ các cấu kiện chính của từng hạng mục và chuyển ngay

    các loại vật tư, kết cấu bê tông về bãi tập kết trong mặt bằng công trình, công tác thu hồi

    vật tư, thép trong bê tông được triển khai cùng lúc với công tác phá dỡ chính. Các loại vật

    tư (theo bảng kê) không nằm trong diện thanh lý, được thu hồi và trả đúng khối lượng, đạt

    chất lượng để có thể sử dụng lại theo yêu cầu của Chủ đầu tư – Nhà thầu phải đền bù

    không điều kiện các vật tư trên nếu trong quá trình thi công do lỗi nhà thầu gây ra hỏng

    hóc hoặc sự cố.

    D. Phương pháp giám sát công tác thi công phòng chống mối.

    Công tác phòng chống mối phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật sau để đạt đợc hiệu quả

    cao nhất:

    – Các bước xử lý phải tạo thành hàng rào khép kín, đảm bảo không bỏ sót một khu

    vực nào.

    – Mặt nền phải đảm bảo ổn định sau khi phun hoá chất.

    – Đảm bảo thực hiện tốt công tác an toàn cho con người, tài sản của công trình xây

    dựng, môi trường xung quanh trong suốt thời gian xử lý. Việc phun hoá chất được thực

    hiện tốt nhất sau giờ nghỉ của công trường.

    – Việc phun hoá chất phải được tiến hành theo tiến độ thi công của công trình.

    H. Phương pháp giám sát công tác thi công cọc BTCT.

    – Kiểm tra chất lượng cọc BTCT theo yêu cầu của hồ sơ thiết kế và các tiêu chuẩn

    áp dụng và các yêu cầu sau.

    + Ván khuôn cọc làm bằng thép, phải đảm bảo cạnh, góc thẳng, vuông, mặt nhẵn

    không biến dạng trong khi đổ bê tông.

    + Cốt đai hàn đính với cốt chịu lực, nếu dùng thép buộc thì phải buộc thật chặt.

    + Bê tông sản xuất cọc phải theo đúng cấp phối được xác định bằng thí nghiệm. Trộn

    bê tông bằng máy, đổ vào ván khuôn liên tục không gián đoạn, đầm bằng máy, mỗi cọc

    phải đúc xong trong một lần. Chỉ được dỡ ván khuôn khi cường độ bê tông đạt 25% cường

    độ thiết kế.

    + Bảo dưỡng cọc BTCT theo đúng quy định

    + Khi nghiệm thu cọc mặt ngoài phải phẳng nhẵn, kích thước, tiết diện, độ phẵng

    đầu cọc, vị trí mũi cọc phải đảm bảo quy chuẩn, quy phạm và yêu cầu của TK. Trên mỗi

    cọc phải ghi rõ ngày, tháng năm, mác bê tông sản xuất.

    + Cọc chỉ được đưa vào sử dụng khi đạt cường độ R28 và được nghiệm thu.

    – Bốc dỡ, vận chuyển và xếp cọc phải đảm bảo cọc không bị nứt, gẫy do trọng lượng

    bản thân cọc và lực bám dính cốp pha, tránh gây vỡ hay sứt mẻ các cạnh bê tông.

    – Cọc để ở kho bãi có thể được xếp chồng lên nhau nhưng chiều cao mỗi chồng

    không được quá 2/3 chiều rộng và nhỏ hơn 2 m. Các đốt cọc được xếp đặt thành từng

    nhóm có cùng chiều dài, tuổi và được kê lót. Khi xếp chú ý để chỗ có ghi mác bê tông ra

    ngoài và giữa các chồng có lối đi để kiểm tra sản phẩm.

    – Kiểm tra thiết bị máy móc thiết bị ( chứng chỉ kiểm định máy ép, đồng hồ và các

    – Kiểm tra nhân lực thi công (các chứng chỉ chuyên môn theo công việc được giao)

     Yêu cầu kỹ thuật cho công tác hạ cọc.

    – Trước, trong và sau khi thi công cọc tuân thủ nghiêm ngặt các công tác kiểm tra

    chất lượng thi công.

    – Kiểm tra vị trí hạ cọc trước khi hạ cọc ( tọa độ và cao độ mũi cọc ).

    + Kiểm tra độ thẳng đứng của cọc theo tối thiểu 2 phương trong quá trình hạ cọc

    bằng máy ép.

    + Kiểm tra liên kết hàn: kích thước đường hàn, chiều cao, chiều rộng của mối hàn

    đồng đều đảm bảo quy cách đường hàn tuân thủ theo bản vẽ thiết kế.

    + Các thông số kĩ thuật trong quá trình hạ cọc ( chiều dài đoạn cọc, số lượng đốt cọc,

    vị trí hạ cọc, áp lực dừng ép, thông số máy thi công ) được ghi chép cụ thể dưới sự giám

    sát của kĩ sư giám sát để lưu trữ hồ sơ.

    + Quá trình ép cọc kết thúc khi đảm bảo chiều dài cọc ép vào đất nền và áp lực dừng

    ép theo yêu cầu thiết kế Pmin≤Pép≤Pmax. Trong trường hợp có bất thường xảy ra Nhà

    thầu sẽ thông báo ngay cho kỹ sư giám sát để có biện pháp xử lý kịp thời.

    + Kiểm tra lại vị trí hạ cọc sau thi công (tọa độ, cao độ mũi cọc, cao độ đầu cọc).

     Quy trình thí nghiệm cọc: Thí nghiệm được thực hiện theo tiêu chuẩn Việt Nam

    TCVN 9393: 2012 và TCVN 205: 1998.

     Quy trình hạ cọc bằng máy ép:

    a. Công tác chuẩn bị:

    – Mặt bằng thi công được chuẩn bị trước để đảm bảo điều kiện thuận lợi cho công tác

    thi công cọc. Những số liệu cần được kiểm tra hoàn thiện trước khi tiến hành thi công cọc:

    – Số liệu địa chất, bình đồ địa hình khu vực thi công.

    – Hồ sơ chất lượng các đốt cọc như đã xác định ở trên.

    – Các yêu cầu kĩ thuật của công tác ép cọc.

    + Độ thẳng đứng của cọc theo 2 phương

    + Chiều dài thiết kế của cọc (Pép)max (Pép)KT + áp lực ép tại thời điểm kết thúc

    ép cọc: (Pép)min.

    + Quy cách tổ hợp các đoạn cọc.

    – Cọc chuyển tới công trường được sắp xếp thuận lợi cho sơ đồ di chuyển máy thi

    công đã thiết kế và đảm bảo tính toàn vẹn của cọc không gẫy nứt.

    c. Hàn nối.

    – Đầu tiên trục của đoạn cọc sẽ được nối thẳng đứng.

    – Bề mặt ở đầu hai đoạn cọc nối tiếp xúc khít với nhau. Nếu bề mặt không khít thì sẽ

    được chèn khít lại.

    – Kiểm tra kích thước của đường hàn so với thiết kế.

    – Kiểm tra tính đồng đều của chiều cao/chiều rộng mối hàn.

    – Tiếp tục hạ cọc sau khi đã kiểm tra mối hàn nối cọc.

     Yêu cầu ghi chép thi công.

    – Việc ghi chép lực ép tiến hành cho từng mét chiều dài cọc cho tới khi đạt tới

    (Pep)min, bắt đầu từ độ sâu này ghi cho từng 20cm cho tới khi kết thúc hoặc theo yêu cầu

    cụ thể của Tư vấn, thiết kế.

    – Số lượng và kích thước cọc;

    – Ngày sản xuất;

    – Ngày thi công;

    – Cao độ mặt đất tự nhiên;

    – Chiều sâu thi công;

    – Áp lực ép trong mỗi 1-1,5m theo chiều sâu thi công và số liệu cuối cùng khi kết

    thúc thi công mỗi cọc;

    – Gián đoạn thi công;

    – Báo cáo ngày, tuần, tháng.

    I. Phương pháp giám sát thi phần móng.

    – Trong mỗi giai đoạn thi công phần móng nhà thầu phải lập biện pháp tiến độ thi

    công có ý kiến chấp nhận của TVGS và được chủ đàu tư phê duyệt. Các bên sẽ phối hợp

    lựa chọn biện pháp thi công cho phù hợp với điều kiện địa chất của công trình và địa chất

    thuỷ văn của địa điểm xây dựng.

    – Khi xây móng trên các đoạn nền đất có tính chất đặc biệt (đất lún ướt,đất đắp, đất

    chưa ổn định về cấu trúc, đất vùng dễ trượt lở, đất có hang động cac-tơ )cũng như móng

    của các công trình đặc biệt quan trọng nhà thầu sẽ lập và trình duyệt biện pháp theo dõi sự

    biến động của đất nền (chuyển vị đứng – lún – ngang, áp lực nước lỗ rỗng vv ) để điều

    chỉnh tốc độ và phương pháp làm móng lúc thi công cũng như để đánh giá độ tin cậy của

    giải pháp thiết kế –thi công lúc khai thác công trình.

    – Tổ chức tư vấn sẽ kết hợp với chủ đầu tư để lập biện pháp nghiệm thu trung gian và

    nghiệm thu cuối cùng theo những tiêu chuẩn đã quy định trước.

    – Chủ đầu tư cùng với sự trợ giúp của kỹ sư tư vấn sẽ công bố văn bản chỉ dẫn kỹ

    thuật cho nhà thầu biết để làm căn cứ trong việc đánh giá chất lượng và nghiệm thu cũng

    như tính toán giá thành.

    – Nội dung bản chỉ dẫn kỹ thuật nói trên phải chỉ ra được những điều quan trọng sau

    đây:

     Cơ sở của thiết kế và thi công;

     Liệt kê nhưng công việc thi công một cách chi tiết và yêu cầu chính trong từng giai

    đoạn thi công, lựa chọn thiết bị thích hợp;

    nghiệm thu trong đánh giá khối lượng và chất lượng công tác thi công;

     Trách nhiệm và quyền hạn của chủ đầu tư, kỹ sư tư vấn giám sát và nhà thầu, cách

    và biện pháp xử lý các tranh chấp (kỹ thuật và kinh tế) nếu có xảy ra.

    1. Giám sát kỹ thuật công tác đào đất:

    – Kiểm tra biện pháp thi công ;

    – Kiểm tra công tác cừ giữ đất;

    – Kiểm tra tim trục, kích thước hố đào;

    – Kiểm tra cao độ, độ sạch hố đào;

    – Kiểm tra thí nghiệm độ chặt đất nền đáy hố đào (nếu thiết kế có quy định);

    – Kiểm tra bản vẽ hoàn công.

    2. Giám sát kỹ thuật công tác chống thấm:

    – Kiểm tra chủng loại, chất lượng vật liệu chống thấm,

    – Giám sát nghiệm thu công tác chống thấm dựa theo quy trình thi công của nhà cung

    – Kiểm tra bản vẽ hoàn công và khối lượng.

    * Ghi chú

    – Nếu thiết kế không chỉnh định, thì dựa theo yêu cầu của thiết kế nhà thầu phải được lựa

    chọn chủng loại và nhà cung cấp vật liệu chống thấm cho công trình để trình chủ đầu

    tư duyệt

    – Tất cả vật liệu chống thấm phải có xuất xứ, chứng chỉ, tính năng kỹ thuật rõ ràng;

    – Nhà thầu cung cấp vật liệu chống thấm phải có tránh nhiệm cung cấp và hướng dẫn

    quy trình thi công và nghiệm thu công tác chống thấm cho người mua;

    – Nếu thiết kế hoặc chủ đầu tư có yêu cầu thì nhà thầu phải làm thử trên một diện tích

    nhất định để có cơ sở lựa chọn vật liệu chống thấm cho phù hợp;

    – Đối với bể nước nhà thầu phải tổ chức thí nghiệm bể theo tiêu chuẩn quy định;

    J. Phương pháp giám sát thi công Kết cấu bê tông cốt thép.

    Trong quá trình giám sát đơn vị tư vấn sẽ bắt buộc các nhà thầu thi công phải tuân

    theo một số quy định trong thành phần trong công tác thi công kết cấu BTCT như sau:

    a. Công tác cốp pha và đà giáo:

    – Cốp pha và đà giáo cần được thiết kế và thi công đảm bảo độ cứng, ổn định, dễ

    tháo lắp, không gây khó khăn cho việc đặt cốt thép, đổ và đầm bêtông.

    – Cốp pha và đà giáo cần được gia công và lắp dựng đảm bảo đúng hình dáng và

    kích thước của kết cấu theo thiết kế.

    – Các loại cốp pha định hình, được gia công gia công tại hiện trường, nhà máy

    hoặc cốp pha đà giáo tiêu chuẩn được sử dụng theo chỉ dẫn của đơn vị chế tạo.

    a1. Vật liệu làm cốp pha.

    – Cốp pha phải được ghép kín, khí để không làm mất nước ximăng khi đổ và đầm

    bê tông, đồng thời bảo vệ bê tông mới đổ dưới tác động của thời tiết.

    – Phải sử dụng cốp pha đà giáo kim loại đối với những kết cấu có kích thước tiết

    diện và khẩu độ lớn, kết cấu công-xôn có độ vươn lớn, những kết cấu vòm.

    a2. Lắp dựng cốp pha, đà giáo

    – Lắp dựng đà giáo cốp pha cần đảm bảo các yêu cầu sau:

     Bề mặt cốp pha cần được chống dính, cốp pha thành bên của các kết cấu tường,

    sàn, dầm và cột phải lắp dựng sao cho phù hợp với việc tháo dỡ sớm mà không ảnh hưởng

    đến các phần cốp pha và đà giáo còn lưu lại, để chống đỡ như cốp pha đáy dầm, sàn và cột

    chống;

     Trụ chống của đà giáo phải đặt trên nền cứng, không bị trượt, và không bị lún khi

    chịu tải trọng và tác động trong quá trình thi công;

     Khi ổn định cốp pha bằng d?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Giải Pháp Công Nghệ Nhằm Ứng Phó Với Covid
  • Chính Phủ Ban Hành Loạt Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế 2022
  • Việt Nam Và Các Nước Nói Tiếng Pháp Ở Châu Phi Mở Rộng Hợp Tác
  • Bài 5 – Tiết 1. Một Số Vấn Đề Châu Phi (Địa Lý 11)
  • Kinh Tế Việt Nam Năm 2022: Từ Giữ Thăng Bằng Đến Phát Triển Bền Vững
  • Phương Pháp Luận Là Gì? Ý Nghĩa Nghiên Cứu Phương Pháp Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Đối Với Vấn Đề Đại Diện (Agency Problem) Trong Doanh Nghiệp
  • Chi Phí Đại Diện Thực Tiễn Và Giải Pháp
  • Những Phương Pháp Giải Quyết Xung Đột Nơi Công Sở Mà Nhà Quản Lý Cần Biết
  • Bản Chất Xung Đột Lao Động Và Cách Khắc Phục
  • Ứng Phó Với Thực Trạng Già Hóa Dân Số: Việt Nam Đang “Già” Rất Nhanh
  •  Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là hệ thống lý thuyết về phương pháp nhận thức khoa học bao gồm đốc các lý thuyết về cớ chê sáng tạo, những quan điểm tiếp cận đôi tượng khoa học, cùng với hệ thống lý thuyết về phương pháp kỹ thuật và logic tiên hành nghiên cứu một công trình khoa học cũng như phương pháp tổ chức , quản lý quá trình ấy. Vậy khái niệm phương pháp luận là gì, ý nghĩa phương pháp luận nghiên cứu khoa học là gì? Bạn cùng chúng tôi tìm hiểu qua bài viết sau đây.

    1. Phương pháp luận là gì?

    Phương pháp là một hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ những tri thức về các quy luật khách quan dùng để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định.

    Vậy phương pháp luận là gì? Phương pháp luận (Methodology) là học thuyết hay lý luận về phương pháp. Đó là hệ thống những quan điểm (nguyên lý) chỉ đạo, xây dựng các nguyên tắc hợp thành phương pháp, xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng có hiệu quả. Trong đó quan trọng nhất là các nguyên ly có quan hệ trực tiếp với thế giới quan, có tác dụng định hướng việc xác định phương hướng nghiên cứu, tìm tòi, lựa chọn và vận dụng phương pháp. Phương pháp và phương pháp luận là khác nhau.

    Phương pháp là phạm trù rất rộng, cho liên phạm vi bao quát của phương pháp luận rất lớn. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học đặt ra cho mình hàng loạt những nhiệm vụ quan trọng sau đây:

    + Nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất của khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết các quy luật phát triển của khoa học hiện đại.

    + Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ chế tư duy sáng tạo trong nhận thức của nhà khoa học và các kỹ năng thực hành sáng tạo của họ.

    + Nghiên cứu những quan điểm tổng quát, những cách tiếp cận đối tượng nhận thức, đồng thời xây dựng hệ thống lý thuyết về phương pháp nghiên cứu khoa học, với tư cách là con đường, cách thức và kỹ thuật nghiên cứu cụ thể, đây là vấn đề trung tâm của phương pháp luận.

    + Phương pháp luận khẳng định phương pháp nghiên cứu khoa học không những nằm trong lôgíc nhận thức mà còn nằm trong cấu trúc nội dung một công trình khoa học. Cho nên Phương pháp luận nghiên cứu khoa học một mặt xác định các bước đi trong tiến trình nghiên cứu một đề tài, mặt khác còn tìm ra cấu trúc lôgic nội dung của các công trình khoa học đó.

    + Phương pháp luận nghiên cứu khoa học cũng chú ý đến phương pháp tổ chức, quản lý nghiên cứu hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ, coi đó là một khâu ứng dụng chính các thành tựu khoa học, nhằm nâng cao tiềm lực khoa học và tổ chức quá trình nghiên cứu khoa học đạt hiệu quả cao.

    Tóm lại phương pháp luận nghiên cứu khoa học là hệ thống lý thuyết về phương pháp nhận thức khoa học bao gồm đốc các lý thuyết về cớ chê sáng tạo, những quan điểm tiếp cận đôi tượng khoa học, cùng với hệ thống lý thuyết về phương pháp kỹ thuật và logic tiên hành nghiên cứu một công trình khoa học cũng như phương pháp tổ chức , quản lý quá trình ấy.

    2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu hoàn thiện và nắm vững phương pháp luận nghiên cứu khoa học

    – Khoa học hiện đại có kết cấu bởi nhiều thành phần, trong đó có ba bộ 4 phận chủ yếu và quan trọng sau đây:

    + Hệ thống những khái niệm phạm trù, những quy luật, các lý thuyết, học thuyết khoa học.

    + Hệ thống trí thức ứng dụng đưa các thành tựu khoa học vào sản xuất và quản lý xã hội, nhằm cải tạo thực tiễn.

    + Hệ thống lý thuyết về phương pháp nghiên cứu, về các con đường tìm tòi, sáng tạo khoa học.

    Vậy vị trí của phương pháp luận là gì? Phương pháp luận chính là một trong ba bộ phận quan trọng của khoa học.

    – Nghiên cứu khoa học luôn là sáng tạo và cách mạng, trong mỗi giai đoạn phát triển của khoa học hiện đại đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới đối với khoa học, phải tìm ra các phương pháp nghiên cứu mới, phải phát hiện ra các con đường mới để ứng dụng khoa học vào thực tiễn. Có thể nói: Hoàn thiện về phương pháp luận là sự đòi hỏi thường xuyên của sự phát triển khoa học hiện đại.

    – Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là kết quả của quá trình khái quát lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu khoa học và nó trở thành công cụ sắc bén để chỉ dẫn tất cả các nhà khoa học và các nhà quản lý trong công tác tổ chức, quản lý và thực hành sáng tạo khoa học.

    – Ngày nay trong thế giới hiện đại, để hoàn thành có chất lượng bất cứ một loại công việc nào, nhà chuyên môn cũng phải là người sáng tạo, có ý thức tìm tòi các con đường, các phương pháp tạo động mới. Thiếu tinh thần sáng tạo không có chỗ đứng trong cuộc sống đầy sôi động. Cải tiến chuyên môn thông qua con đường hoạt động thực tiễn của mình đã góp phần làm phát triển khoa học và công nghệ. Như vậy, nắm vững phương pháp luận nghiên cứu khoa học không chỉ có nghĩa đối với các nhà nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp, mà còn đối với các nhà chuyên môn trong các lĩnh vực hoạt động thực tiễn.

    Tóm lại, phương pháp luận nghiên cứu khoa học là một bộ phận quan trọng của khoa học. Hoàn thiện phương pháp luận nghiên cứu khoa học là sự tự ý thức về sự phát triển của bản thân khoa học. Như vậy, nắm vững phương pháp luận nghiên cứu khoa học không chỉ có nghĩa đối với các nhà nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp, mà còn đối với các nhà chuyên môn trong các lĩnh vực hoạt động thực tiễn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Luận Là Gì? Ý Nghĩa Và Phân Loại Phương Pháp Luận
  • Kiến Nghị Và Đề Xuất Hỗ Trợ Phát Triển Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa
  • Điều Gì Tạo Nên Một Kiến Trúc Sư Phần Mềm Chuyên Nghiệp?
  • Kiến Trúc Sư Giải Pháp Và Cơ Hội Nghề Nghiệp
  • Sự Khác Nhau Giữa Kiến Trúc Sư Giải Pháp Và Kiến Trúc Sư Phần Mềm – Apmp
  • Luận Văn Tiểu Luận Phương Hướng Và Giải Pháp Phát Triển Vận Tải Đa Phương Thức Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Vận Tải Quang Tường
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Vận Tải Ratraco
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Vận Tải Hành Khách Bằng Ô Tô Tuyến Cố Định
  • ‘loay Hoay’ Giải Pháp Xử Lý Xe Quá Tải
  • Tăng Cường Các Giải Pháp Xử Lý Xe Quá Tải
  • – Vận tải đa phương thức quốc tế là sự vận chuyển hàng hóa được thực hiện bởi ít nhất hai hình thức vận tải khác nhau trên cơ sở của một hợp đồng vận tải đa phương thức (Multimodal transport contract), từ một quốc gia này sang một quốc gia khác. – Luật Hàng hải, điều 87 và 88 đưa ra định nghĩa về vận tải liên hiệp. Điều 87 định nghĩa, vận tải liên hiệp là việc vận chuyển hàng hóa có sự tham gia của các phương thức vận tải khác nhau: đường bộ, đường thủy và đường không. Tuy nhiên Bộ luật không nói đến việc hàng hóa phải được vận chuyển từ nước này sang nước khác. Điều 87. 1- Việc vận chuyển hàng hoá được thực hiện với sự tham gia của người vận chuyển đường bộ, đường sông hoặc đường không, gọi là liên hiệp vận chuyển. Vận đơn được ký phát cho cả quá trình vận chuyển hàng hoá trong liên hiệp vận chuyển, gọi là vận đơn suốt. 2- Các quy định về vận đơn nói tại Bộ luật này cũng được áp dụng đối với loại vận đơn suốt do người vận chuyển đường biển ký phát, trừ trường hợp có những văn bản pháp luật khác qui định cụ thể. – Nghị định 125/2003/NĐ-CP, ngày 20 tháng 10 năm 2003 đưa ra một số định nghĩa về vận tải đa phương thức như sau: + “Vận tải đa phương thức quốc tế” (sau đây gọi tắt là vận tải đa phương thức) là việc vận chuyển hàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa phương thức từ nơi người kinh doanh vận tải đa phương thức tiếp nhận hàng hóa ở một nước đến một địa điểm được chỉ định giao trả hàng ở nước khác. + “Người kinh doanh vận tải đa phương thức” là doanh nghiệp ký kết hợp đồng vận tải đa phương thức, tự chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng đó mà không phải là đại lý hoặc đại diện của người gửi hàng hoặc thay mặt người vận chuyển tham gia các hoạt động thực hiện vận tải đa phương thức. + “Hợp đồng vận tải đa phương thức” là văn bản theo đó người kinh doanh vận tải đa phương thức cam kết thực hiện hoặc tổ chức việc thực hiện vận tải đa phương thức và được thanh toán tiền cước vận chuyển.

    TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

    TIN KHUYẾN MÃI

    • Thư viện tài liệu Phong Phú

      Hỗ trợ download nhiều Website

    • Nạp thẻ & Download nhanh

      Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

    • Nhận nhiều khuyến mãi

      Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

    NẠP THẺ NGAY

    DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khóa Luận Vận Tải Đa Phương Thức
  • Giải Pháp Phát Triển Vận Tải Đa Phương Thức Và Dịch Vụ Hậu Cần Ở Việt Nam
  • Làm Nông Trại Trên Container
  • Giải Pháp Nào Cải Thiện Năng Lực Cho Ngành Vận Tải Biển?
  • Cập Nhật Ngành Cảng Biển
  • Các Phương Pháp Luận Triển Khai Giải Pháp Quản Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhân Viên Triển Khai Erp: Họ Là Ai?
  • Một Số Giải Pháp Đột Phá Để Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp
  • Tác Động Của Các Giải Pháp Kích Cầu Đối Với Doanh Nghiệp Việt Nam
  • Tìm Giải Pháp Kích Cầu Du Lịch
  • Giải Pháp Kích Cầu Kinh Tế Của Các Nước Đông Nam Á
  • Một phương pháp tiếp cận và triển khai chiếm giá trị không nhỏ trong sự thành công triển khai giải pháp quản trị doanh nghiệp và đồng thời chính phương pháp triển khai sẽ quyết định lớn vào phần chi phí cũng như thời gian tham gia của các thành viên dự án.

    Bạn có thể lựa chọn 1 trong 3 chiến lược triển khai giải pháp quản trị sau:

    1. Big Bang (phương pháp triển khai tổng lực) – đây là phương pháp triển khai tổng thể cho toàn bộ các bộ phận của doanh nghiệp đồng thời
    2. Phased (phương pháp phân chia thành giai đoạn) – bạn có thể chia dự án của bạn ra làm rất nhều giai đoạn để triển khai, và sẽ mở rộng từ từ giải pháp của bạn cho từng bộ phận một trong doanh nghiệp bạn
    3. Parallel (phương pháp triển khai song song) – đây là phương pháp triển khai mà bạn sẽ sử dụng đồng thời giải pháp phần mềm hiện tại và song song với đó bạn triển khai giải pháp của mới.

    Big Bang

    Như bản phân tích ở trên, đây là chiến lược triển khai mang trong mình rủi ro rất lớn, lớn nhất trong 3 chiến lược nhưng bù lại thì nó sẽ có được hai điểm rất lợi (1) thời gian triển khai nhanh và (2) chi phí thấp. Hãy chon Big Bang một khi yêu cầu của nhà đầu tư là cần làm nhanh giải pháp, đưa giải pháp vào vận hành trong doanh nghiệp, nhưng bạn cần phải có rất nhiểu chuẩn bị cho việc triển khai

    Phương pháp tiếp cận luôn là vấn đề bạn cần phải xem xét, việc lồng ghép và đưa các qui trình mới vào từng phòng ban và cả doanh nghiệp cần phải được suy nghĩ một cách thấu đáo để tránh hoặc giảm thiểu tối đa các phản ứng phụ của người dùng

    Chuẩn bị giải pháp thật kỹ lưỡng cũng là vấn đề bạn cần phải xem xét, vì với Big Bang là Risk rất lớn, vậy để thành công chỉ còn con dường là bạn làm thế nào để nhận diện và giảm thiểu rủi ro đến mức thấp nhất trong đó giải pháp mà bạn cần triển khai đóng vai trò rất quan trọng – các tính năng của giải pháp đã đáp ứng được bao nhiêu phần trăm người dùng yêu cầu, bao nhêu yêu cầu còn lại cần phải được customization, develop, thời gian develop thế nào, ảnh hưởng của các customize và develop vào hệ thống như thế nào.

    Kế hoạch triển khai là cái mà sẽ theo sát bạn trong suốt quá trình triển khai, dĩ nhiên là kế hoạch triển khai sẽ đi theo bạn cho cả 3 chiến lược triển khai, nhưng đối với Big Bang thì càng phải được chi tiết hơn, phải được giám sát chặt chẽ hơn với mục đích duy nhất là giảm rủi ro cho dự án. Mọi sự thay đổi về yêu cầu của người dùng đều ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ và kế hoạch triển khai của bạn.

    Phased Rollout Implementation

    Phased Rollout được sử dụng khi bạn mong muốn chia dự án ra làm nhiều giai đoạn như bạn có thể triển khai phần kế toán tài chính trước, sau đó tới phần logistics, sản xuất, sau đó mới tới phần Suply Chain,… đó là một trong 3 cách chia Phased Rollout như sau:

    1. Chia Phased theo module – đây là cách chia như tôi đã nêu ở trên, rất dễ hình dung, bạn chia các phased theo các module mà bạn có thể triển khai lần lượt
    2. Chia Phased theo các Business Unit của doanh nghiệp bạn
    3. Chia Phased theo vị trí địa lý

    Nhưng hình ở trên, bạn sẽ thấy Phased Rollout là chiến lược triển khai trung dung nhất, rủi ro đặt ở mức độ trung bình, thời gian triển khai cũng nằm ở mức độ trung bình của 3 phương pháp triển khai và cuối cùng là chi phí cũng nằm ở mức độ trung bình của 3 phương pháp triển khai.

    Bạn triển khai được một giai đoạn, bạn sẽ có rất nhiều kinh nghiệm để bạn có thể điều chỉnh lại trong giai đoạn sau, thay đổi cách tiếp cận cho phù hợp hơn, điều chính lại các bước triển khai, cách thức làm việc trong nội bộ của team triển khai cũng như đối với end-user.

    Parallel Implementaion

    Với phương án triển khai này thì bạn vận hành song song giữa phần mềm quản lý hiện tại và phần mềm quản lý mới trong một thời gian dài, và cắt chuyển tư từ từng bước một đối với phần mềm quản lý cũ. Đây là phương pháp triển khai tốn thời gian và tiền bạc bật nhất, nhưng bù lại là rất an toàn vì người dùng sẽ tiếp cận một cách từ từ cho đến khi họ hoàn toàn thuần thục giải pháp quản trị mới và đủ kinh nghiệm để bỏ đi giải pháp cũ.

    Với từng doanh nghiệp, bạn có thể chọn phương pháp này, phương pháp kia, hoặc có thể trộn lẫn nó lại cho từng giai đoạn triển khai nhằm đảm bảo cho sự thành công của dự án, đảm bảo về mặt thời gian đưa giải pháp vào vận hành và chi phí sao cho nhà đầu tư chấp nhận được.

    Sự khôn khéo và truyền thông của bạn trong chiến lược triển khai giải pháp quản trị đóng vai trò rất quan trọng và bạn nên cân nhắc kỹ, nhận các tư vấn từ các chuyên gia về quản trị doanh nghiệp cũng như các chuyên gia về triển khai hệ thống nhằm đảm bảo cho sự đúng đắn của lựa chọn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Biện Pháp Khả Thi Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc
  • Những Thách Thức Về An Ninh Môi Trường
  • Kinh Doanh Online Và Giải Pháp Thiết Kế Website Bán Hàng
  • Một Vài Suy Nghĩ Trong Giải Pháp Thiết Kế Kiến Trúc Thích Ứng Với Môi Trường Thiên Nhiên
  • Hiệu Quả Kinh Tế Của Giải Pháp Thiết Kế Là Gì? Phân Loại Và Một Số Vấn Đề Về Phương Pháp So Sánh
  • Phương Pháp Luận Và Vai Trò Của Phương Pháp Triết Học Trong Nghiên Cứu Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Về Lý Thuyết Cấu Trúc
  • Phương Pháp Và Phương Pháp Luận
  • Nêu Chức Năng Của Bộ Xương
  • Mạng 4G Là Gì? 4G Lte Là Gì? 4G Và 4G Lte Giống Hay Khác?
  • Lte Là Gì? Và Một Số Câu Hỏi Nổi Bật Liên Quan Đến Lte
  • Có thể nói chưa bao giờ vấn đề phương pháp luận lại được bàn đến nhiều như trong thời đại của chúng ta, nhất là từ khi bắt đầu cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và ngày nay là cách mạng khoa học công nghệ hiện đại. Trong lịch sử khoa học, đã có những thời kỳ vấn đề phương pháp và phương pháp luận được đặc biệt chú trọng và có nhu cầu lớn vì khoa học gặp khó khăn, trở ngại không tiến lên được. Ngày nay, người ta quan tâm đến vấn đề phương pháp và phương pháp luận không phải vì khoa học trì trệ mà trái lại khoa học đang phát triển với một tốc độ nhanh chóng.

    Đối với người làm triết học nói riêng và những người làm công tác nghiên cứu khoa học nói chung thì việc nghiên cứu vấn đề phương pháp luận là một trong những nhiệm vụ quan trọng.

    Nghiên cứu về vấn đề phương pháp luận trước hết chúng ta cần hiểu phương pháp luận là gì? Cấu trúc của phương pháp luận như thế nào? Tại sao triết học nói chung và các nguyên lý nói riêng (nguyên lý thế giới quan) lại đóng được vai trò phương pháp luận?

    Như vậy là cùng với sự phát triển của khoa học (nhất là những tình huống có vấn đề), người ta lại càng phải quan tâm đấn triết học nhiều hơn. Đặc biệt khoảng giữa thế kỷ 19 – khi khoa học chưa có những phát minh mang tính thời đại cũng có nghĩa là lúc đó khoa học tự nhiên gặp khủng hoảng và người ta đã giải thích nó theo những cách khác nhau, cuối cùng là dẫn đến cách giải thích duy tâm về những thành tựu mới đó. Đây chính là lúc triết học thể hiện sâu sắc vai trò định hướng của mình.

    Lịch sử cho thấy, một quan niệm về phương pháp luận được thừa nhận là đúng đắn khi quan niệm đó cho rằng: Phương pháp luận là hệ thống lý luận về phương pháp nghiên cứu, phương pháp nhận thức và cải tạo hiện thực. Tất cả những lý luận và nguyên lý nào có tác dụng hướng dẫn, gợi mở, chỉ đạo đều là những lý luận và nguyên lý có ý nghĩa phương pháp luận. Mọi nguyên lý thế giới quan đều có tác dụng ấy, chúng hợp thành nội dung của phương pháp luận.

    Trên thực tế, chúng ta thấy có nhiều loại thế giới quan và triết học là thế giới quan, mọi triết học đều là thế giới quan. Dĩ nhiên, đó có thể là thế giới quan khoa học hoặc không khoa học. Song không phải mọi thế giới quan đều là triết học. Triết học là khoa học về các quy luật chung nhất của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy con người. Bởi vậy, thế giới quan triết học macxit là sự tổng hợp lý luận của những quan điểm chung nhất về tự nhiên, xã hội, về con người và về nhận thức.

    Bất cứ một ngành khoa học nào cũng có phương pháp của họ. Điều đó có nghĩa phương pháp luận phải có cấu trúc chung và chúng ta có thể nhìn nhận cấu trúc chỉnh thể ấy từ 3 bộ phận:

    – Những nguyên lý thế giới quan: Đây là bộ phận hết sức quan trọng. Tuy nhiên, không phải mọi nguyên lý thế giới quan đều được đưa đồng đều vào phương pháp luận của các khoa học mà chỉ sử dụng những nguyên lý thích hợp để có thể thực hiện được nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn, gợi mở tuỳ theo tính chất của từng khoa học hoặc từng nhóm khoa học.

    – Lý luận về một hệ thống các phương pháp: Điều này có nghĩa là nói đến lý luận về một hay nhiều phương pháp có thể dùng chung cho nhiều khoa học. Vấn đề ở đây là phải làm rõ nội dung của phương pháp đó là gì? quan hệ giữa các phương pháp? phạm vi, khả năng và nguyên tắc ứng dụng của các phương pháp?

    – Lý luận về một phương pháp cụ thể nào đó sẽ được sử dụng ở bộ môn này hay bộ môn khác. Nói cách khác thì đó chính là phương pháp nghiên cứu đặc thù của một môn khoa học (những nguyên lý và lý thuyết của bản thân khoa học đó hay của các khoa học khác có vai trò gợi mở, hướng dẫn, chỉ đạo mà khoa học này cần sử dụng hoặc có thể sử dụng).

    Với một cơ cấu như vậy, phương pháp luận của các khoa học cụ thể sẽ bao gồm được cả cái chung và cả cái riêng, bao gồm được các nguyên lý và phương pháp phổ biến cũng như các nguyên lý và phương pháp của từng ngành khoa học hay của một nhóm khoa học; sẽ tránh được xu hướng tuyệt đối hoá một mặt nào đấy; sẽ tránh được quan điểm thực chứng muốn loại trừ triết học ra khỏi phương pháp luận của khoa học cụ thể.

    Có thể nói, trong chỉnh thể phương pháp luận, phần chung nhất chúng ta thấy được là những nguyên lý thế giới quan. Vậy câu hỏi đặt ra là tại sao nguyên lý thế giới quan lại quan trọng như thế? Tại sao thế giới quan lại đóng được vai trò phương pháp luận? Trên thực tế, chúng ta cần khẳng định rằng: Trong những nguyên lý thế giới quan đã tổng kết, đúc kết sự hiểu biết chính xác, khoa học và đầy đủ về một đối tượng, về một sự vật, về một quá trình trong phạm vi cho đến thời điểm đó.

    Sự hiểu biết của con người không phải là sự bất động, bất biến và chúng ta phải thừa nhận rằng các nguyên lý thế giới quan phản ánh những gì bản chất nhất, là những cái không thể thiếu được nhưng tất nhiên nó chưa phải là đầy đủ nhất. Và đây cũng chính là chỗ khác nhau cơ bản giữa quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng với các quan điểm tuyệt đối hoá một tri thức nào đó. Thực tế là nhận thức của chúng ta không bao giờ có giới hạn, không đi tới cái giới hạn cuối cùng mà chỉ là dần tới cái giới hạn, cái tuyệt đối mà thôi.

    Tóm lại, mọi nguyên lý thế giới quan sở dĩ đóng được vai trò phương pháp luận là nhờ trong những nguyên lý đó đã tổng kết, đã đúc kết lại những gì đúng nhất, chính xác nhất, khoa học nhất về các sự vật, đối tượng, quá trình diễn ra trong thế giới xung quanh ta. Chúng ta có thể dẫn ra đây những nguyên lý thể giới quan đã cho thấy được vai trò phương pháp luận của nó:

    – Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ăngghen đã khẳng định: Thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó chứ không phải ở sự tồn tại của nó. Đây là một nguyên lý thế giới quan đóng vai trò định hướng, gợi mở trong khoa học bởi lẽ khi khẳng định thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó, điều đó có nghĩa đã định hướng, gợi mở cho người ta phải đi tìm các dạng vật chất khác nhau, đi tìm sự biểu hiện đa dạng của vật chất (từ vật chất vô cơ, vật chất hữu cơ đến các bậc tổ chức từ thấp đến cao của vật chất…).

    – Nguyên lý: Điện tử cũng vô cùng tận như nguyên tử, tự nhiên là vô tận… (Theo Lê Nin). Trước đó Ăngghen cũng đã từng khẳng định: Không thể coi nguyên tử là phần tử vật chất nhỏ nhất… Nguyên lý này đã gợi mở cho các ngành khoa học phát triển, đặc biệt là vật lý học và sinh học. Đó là một nguyên lý thế giới quan đúng đắn. Nó vĩ đại ở chỗ nhờ đó mà người ta phát hiện ra rằng: thế giới không chỉ vô tận về phía vĩ mô mà còn vô tận về phía vi mô và siêu vi mô.

    – Triết học không phải là khoa học của mọi khoa học như cách hiểu của chúng ta trước đây và chúng ta cũng không nên tuyệt đối hoá vai trò của triết học. Các loại triết học khác nhau đều có thể đóng được vai trò phương pháp luận. Chỉ có điều, phương pháp luận đó đúng hay sai, dẫn người ta đi đến phát minh hay bế tắc. Hay nói một cách khác, mọi nguyên lý triết học dù khoa học hay không khoa học đều có tác dụng định hướng, gợi mở; chỉ có điều nó định hướng đúng hay sai, chỉ cho người ta đi đúng hoặc đi sai đường. Điều đó có nghĩa việc chúng ta xác định đúng vai trò của triết học trong điều kiện thế giới đương đại, trong điều kiện phát triển khoa học kỹ thuật như hiện nay là một việc làm hết sức cần thiết.

    – Khi nói tới phương pháp luận, chúng ta không thể đồng nhất chủ nghĩa duy vật biện chứng với phương pháp luận của khoa học tự nhiên và chủ nghĩa duy vật lịch sử với phương pháp luận của khoa học xã hội. Chúng ta phải nhớ rằng triết học macxit là một khối thép duy nhất đúc thành…, không nên quá đối lập cái duy vật với cái lịch sử. Mac và Ăngghen đã làm nên một cuộc cách mạng trong triết học – đó là biến chủ nghĩa duy vật thành chủ nghĩa duy vật biện chứng, biến phép biện chứng thành phép biện chứng duy vật… và chúng ta phải hiểu nó trong tính chỉnh thể vốn có.

    – Theo quan niệm chung hiện nay về phương pháp luận thì có: Phương pháp luận riêng chỉ áp dụng cho một môn khoa học nhất định; phương pháp luận chung áp dụng cho một số bộ môn khoa học; phương pháp luận chung nhất áp dụng được cho tất cả các bộ môn khoa học. Phương pháp luận chung nhất, phổ biến nhất đó là triết học duy vật biện chứng. Sở dĩ triết học macxit đóng vai trò là phương pháp luận chung nhất là do các nguyên lý thế giới quan chính là sự đúc kết, tổng kết những gì là cơ bản nhất, sâu sắc nhất, khoa học nhất về tự nhiên, xã hội và tư duy.

    Trong trình độ phương pháp luận, có phương pháp luận chung và phương pháp luận riêng nhưng không thể thiếu được nguyên lý chung nhất là nguyên lý thế giới quan. Điều đó cũng có nghĩa chúng ta phải xác định đúng vị thế, vị trí, vai trò của triết học để tránh quay trở lại triết học tự nhiên.

    Nói tóm lại, phương pháp luận là hệ thống lý luận về phương pháp nghiên cứu, phương pháp nhận thức và cải tạo hiện thực; là hệ thống chặt chẽ các quan điểm, nguyên lý chỉ đạo việc tìm kiếm, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp. Tất cả những nguyên lý nào có tác dụng gợi mở, định hướng, chỉ đạo đều là những lý luận và nguyên lý có ý nghĩa phương pháp luận. Mặc dù vậy, triết học macxit với tư cách là phương pháp luận chung nhất và phổ biến không thể thay thế phương pháp luận của các khoa học cụ thể…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mọi Điều Bạn Cần Biết Về Lý Thuyết Chức Năng Luận ·
  • Tìm Hiểu Về Kiểm Thử Chức Năng (Functional Testing) Trong Kiểm Thử Phần Mềm
  • Tìm Hiểu Về Quy Trình Kiểm Thử Website
  • Tìm Hiểu Về Kiểm Thử Chức Năng (Functionality Testing)
  • Thị Trường Tài Chính Khái Niệm Chức Năng Vai Trò Cấu Trúc Và Thực Trạng
  • Văn Mẫu Nghị Luận Về Ô Nhiễm Môi Trường Tại Địa Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Thi Hành Luật Bảo Vệ Môi Trường Và Công Tác Quản Lý Môi Trường Trên Địa Bàn Tỉnh, Những Khó Khăn, Vướng Mắc. Đề Xuất Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Hiện Nay
  • An Toàn Thực Phẩm Và Môi Trường
  • Sở Tài Chính Tp Đà Nẵng
  • Những Ý Tưởng Bảo Vệ Môi Trường Hay Ho Đến Từ Các Nước
  • Cùng Xem Top 15 Sản Phẩm Bảo Vệ Môi Trường Trên Toàn Thế Giới
  • 3.5

    /

    5

    (

    20

    bình chọn

    )

    Hướng dẫn phân tích và lập dàn ý cho bài nghị luận về ô nhiễm môi trường:

    Phân tích đề bài:

    Yêu cầu đề bài: Viết bài văn nghị luận về ô nhiễm môi trường.

    Đối tượng, phạm vi đề bài: vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay trên toàn thế giới, nước Việt Nam hoặc tại địa phương của mình

    Hệ thống luận điểm:

    Luận điểm 1: Cần nêu lên thực trạng vấn đề ô nhiễm môi trường tại địa phương

    Luận điểm 2: Nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường.

    Luận điểm 3: Hậu quả của các vấn đề ô nhiễm môi trường.

    Luận điểm 4: Đề xuất những giải pháp hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường

    Lập dàn ý chi tiết cho bài viết

    1. Mở bài

    – Giới thiệu vấn đề nghị luận: “ô nhiễm môi trường”

    Ví dụ: Ngày nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đang trở thành vấn đề trọng tâm của toàn xã hội và được dư luận hết sức quan tâm. Ô nhiễm môi trường đã và đang để lại những hệ lụy hết sức khôn lường cho toàn nhân loại.

    2. Thân bài

    Giải thích vấn đề:

    • Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị bẩn, đồng thời các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi gây tác hại tới sức khỏe con người và các sinh vật khác.
    • Ô nhiễm môi trường chủ yếu do hoạt động của con người gây ra, ngoài ra còn do một số hoạt động của tự nhiên khác có tác động tới môi trường.

    Nêu thực trạng ô nhiễm môi trường hiện nay:

    Ô nhiễm môi trường không khí:

    • Trái đất ngày càng nóng lên
    • Không khí chứa nhiều thành phần gây hại hơn
    • Nồng độ chì đã và đang tăng lên
    • Ô nhiễm từ các loại xe cộ
    • Các cơn mưa axít làm huỷ diệt các khu rừng và các cánh đồng
    • Hiện tượng hiệu ứng nhà kính

    Ô nhiễm môi trường nước:

    • Tình trạng ô nhiễm nguồn nước đang ngày càng báo động.
    • Một số khu công nghiệp đã xả nước thải không qua xử lý ra môi trường.
    • Hiện tượng xả rác ra ao, hồ sông suối vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nơi (dẫn chứng).
    • Các trang trại nuôi vật nuôi thường thải chất thải xuống ao, hồ, sông, suối
    • Các loại chất độc hại đó lại bị đưa ra biển gây ra hiện tượng “thủy triều đỏ”
    • Hiện tượng “sa mạc hóa biển”

    Ô nhiễm môi trường đất:

    • Hiện tượng đất nhiễm chì, nhiễm chất hóa học do thuốc trừ sâu
    • Những vùng đất thuộc các khu công nghiệp đang ô nhiễm nghiêm trọng (dẫn chứng)
    • Rác thải sinh hoạt hằng ngày: bao ni lông, rác thải khó phân hủy
    • Các loại ô nhiễm khác: Ô nhiễm phóng xạ, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm sóng, ô nhiễm ánh sáng, …

    Nguyên nhân của ô nhiễm môi trường:

    • Ý thức của một số doanh nghiệp còn kém: một số doanh nghiệp bất chấp pháp luật cố ý xả chất thải chưa qua xử lý vào môi trường, gây nên hiện tượng ô nhiễm môi trường nặng nề ở biển, sông…
    • Người dân xả rác thải dẫn đến tình trạng ô nhiễm diện rộng không kiểm soát được.
    • Sự quản lý của nhà nước còn nhiều yếu kém, hệ thống quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn còn nhiều lỗ hổng.

    Hậu quả của vấn đề ô nhiễm môi trường

    Đối với sức khỏe con người:

    • Không khí ô nhiễm có thể giết chết nhiều cơ thể sống trong đó có con người
    • Ô nhiễm ozone có thể gây bệnh đường hô hấp, bệnh tim mạch, viêm họng, đau ngực, tức thở…
    • Ô nhiễm nước gây ra xấp xỉ 14.000 cái chết mỗi ngày, chủ yếu do ăn uống bằng nước bẩn chưa được xử lý ở các nước đang phát triển.

    Đối với hệ sinh thái:

    • Gây mưa axít, làm giảm độ pH của đất
    • Đất ô nhiễm sẽ trở nên cằn cỗi, không thích hợp cho cây trồng, ảnh hưởng đến các cơ thể sống khác trong lưới thức ăn.
    • Khói lẫn sương làm giảm ánh sáng mặt trời mà thực vật nhận được để thực hiện quá trình quang hợp.
    • Các loài động vật có thể xâm lấn, cạnh tranh chiếm môi trường sống và làm nguy hại cho các loài địa phương, từ đó làm giảm đa dạng sinh học.
    • Tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm, cạn kiệt.

    Đề xuất giải pháp hạn chế ô nhiễm môi trường

    • Cần có sự quản lý chặt chẽ của người nhà nước trong việc xử lý những doanh nghiệp, cá nhân vi phạm.
    • Tăng cường tuyên truyền để cho nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường, hiểu rõ tác hại của ô nhiễm môi trường đối với hệ sinh thái, sức khỏe con người…
    • Tái chế rác thải, tái sử dụng giấy
    • Giảm thiểu chất thải và tác động của môi trường
    • Thực hiện các biện pháp phòng chống ô nhiễm
    • Làm phân hữu cơ
    • Sử dụng điện có hiệu quả (đối với một số quốc gia)
    • Hạn chế sử dụng túi nilon.

    Bài học nhận thức và hành động

    • Nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường.
    • Hiểu rằng bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của mình, của tất cả những người quanh mình, của toàn xã hội.

    3. Kết bài

    • Khái quát lại vấn đề vừa bàn luận.
    • Liên hệ bản thân.

    Mẫu nghị luận về ô nhiễm môi trường ở địa phương em hay nhất:

    Mẫu số 1:

    Hàng ngày trên các phóng sự, bản tin đâu đâu cũng thấy nói những cụn từ như băng tan, Trái Đất nóng lên, mưa axit, biến đổi khí hậu toàn cầu hay lại thêm những vùng đất mới trở thành bãi rác công nghiệp. Tất cả đều là những hậu quả mà ô nhiễm môi trường gây nên.

    Đã từ lâu những thông tin về ô nhễm môi trường được mọi người trong xã hội quan tâm và đăc biệt chú ý. Bởi mọi người đã ý thức được những tác hại mà nó gây ra. Và ô nhiễm môi trường đang là vấn đề nóng hiện nay.

    Tại sao tôi lại nói rằng ô hiễm môi trường là một vấn đề nóng. Bởi vấn đề ấy ngày càng trở nên trầm trọng và ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của con người cũng như các loài động thực vật sinh sống trên Trái Đất.

    Nhiều người vẫn còn chưa hiểu rõ về ô nhiễm môi trường. Có người vẫn chỉ hiểu đơn thuần nó như một hiện tượng xấu nào đó ma không biết những tác nhân, hậu quả hay cụ thể hơn là những biểu hiện của nó.

    Chính vì thế hôm nay tôi sẽ giúp họ hiểu hơn về những nội dung này. Trước tiên là khái niệm ô nhễm môi trường. Môi trường là khái niệm chỉ toàn bộ mọi thứ xung quanh con người, được hiểu như tất cả điều kiện tự nhiên và vật chất mà Trái Đất có được.

    Nhưng thông thường về ô nhiễm môi trường, người ta chỉ chia ra thành ba loại chính đó là đất, nước và không khí. Ba thành phần này là những bộ phận cơ bản nhất ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người cũng như các loài động thực vật khác.

    Thật vậy, chẳng ai hay bất kì sinh vậ nào có thể sống thiếu những thành tố trên. Đất là nơi sinh sống, là nơi trú ngụ của mọi sinh vật. Nước là sự sống.

    Con người có thể không ăn nhưng không thể thiếu nước. Bạn cứ tưởng tượng một ngày bị “mất” nước cuộc sống của bạn sẽ rơi vào hoàn cảnh như thế nào?.

    Hay không khí. Mất không khí bạn sẽ không thể thở. Chỉ cần ngừng thở hơn một phút, tim bạn sẽ ngừng hoạt động và bạn biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo rồi đó. Khi ba thành tố này bị ô nhiễm, bạn cũng có thể hiểu như chúng đang dần mất đi.

    Sự tàn phá của ô nhiễm môi trường cũng không khác gì so với hậu quả của chiến tranh thế giới. Ô nhiễm môi trường cứ từng bước gây hại, một cách từ từ và lâu dài. Đầu tiên, ô nhiễm môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống của các sinh vật trên Trái Đất.

    Sức khỏe con người, sự tồn tại và phát triển của các loài động thực vật khác. Tại sao nó ảnh hưởng thì tôi đã nói ở trên rồi. Vậy ảnh hưởng như thế nào?

    Thì trước hết là về vấn đề sức khỏe con người. Ô nhiễm môi trường gây ra hiện tượng thủng tầng ozon mà ai cũng biết tầng ozon là lá chắn bảo vệ Trái Đất của chúng ta khỏi những tác nhân gây hại như tia cực tím, tia uv, các xung cường độ sóng có hại. Lá chắn này bị hủy hoại đã gây ra rất nhiều những vấn đề về môi trường.

    Tia cực tím, tia uv.. là các tác nhân chính gây ra các bệnh khó chữa ở người mà điển hình là ung thư. Mặc dù nhiều căn bệnh hiện nay đã có phương pháp chữa trị tuy nhiên hiệu quả vẫn chưa được cao.

    Sức khỏe con người bị đe dọa là vậy, các loài động thực vật khác cũng không tránh khỏi. Ô nhiễm môi trường với những đợt mưa axit ảnh hưởng trực tiếp đến thực vật, cháy rừng thiêu rụi biết bao đa dạng sinh học, làm mất đi nơi cư trú của biết bao loài động vật hoang dã.

    Biến đổi khí hậu đột ngột dẫn đến sự tuyệt chủng của biết bao loài động vật quý hiếm. Nước biển dâng còn mang nguy cơ nhấn chìm nhiều nên văn minh nhân loại.

    Mẫu văn nghị luận về ô nhiễm môi trường 2:

    Ngày nay, trên thế giới, môi trường là vấn đề được quan tâm hàng đầu . Ở các quốc gia tiên tiến , vấn đề giữ gìn vệ sinh môi trường được quan tâm thường xuyên nên việc xả rác và nước thải bừa bãi hầu như không còn nữa . Người dân được giáo dục rất kỹ về ý thức bảo vệ môi trường sống xanh – sạch – đẹp . Đáng buồn thay nước ta có một hiện tượng phổ biến là vứt rác ra đường hoặc những nơi công cộng , không giữ gìn vệ sinh đường phố . Việc làm đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường mà cụ thể ở đây là gây ô nhiễm môi trường .

    Hiện tượng không giữ gìn vệ sinh đường phố có rất nhiều biểu hiện nhưng phổ biến nhất là vứt rác ra đường hoặc nơi công cộng . Ăn xong một que lem hay một chiếc kẹo , người ta vứt que, vứt giấy xuống đất . Uống xong một lon nước ngọt hay một chai nước suối , vứt lon , vứt chai ngay tại chỗ vừa ngồi mặc dù thùng rác để cách đó rất gần . Tuy vậy , họ vẫn thản nhiên , vô tư không có gì áy náy . Thậm chí khi ăn xong một tép kẹo cao su, họ cũng không mang đến thùng rác mà vo tròn rồi trét lên ghế đá và cứ thế bỏ đi chỗ khác . Không chỉ với những nơi công cộng , ở một số khu phố , con đường có đặt bảng khu phố văn hóa nhưng cỏ mọc um tùm tràn lan , rác rưởi ngập đầy khắp lối đi , mùi hôi khó chịu bốc lên suốt ngày .

    Những việc làm trên tuy nhỏ nhưng lại gây tác hại vô cùng to lớn .Phải chăng dọn dẹp sạch sẽ nhà mình từ phòng khách đến nhà ăn, từ trong nhà ra ngoài vườn là tốt? Còn việc vứt rác bừa bãi, bạ đâu quăng đó cả những nơi công cộng là không cần thiết, không quan tâm không ảnh hưởng gì đến mình, đến gia đình mình.Điều này, mỗi chúng ta cần suy nghĩ lại.Bạn nghĩ sao khi một thành phố văn minh,giàu đẹp lại ngập tràn trong biển rác? Nó thể hiện hành vi của người vô văn hóa, vô ý thức, gây mất vệ sinh và ảnh hưởng đến sức khỏe con ngươì.

    Người ta vô tư vứt rác xuống sông nhưng họ có nghĩ rằng bao nhiêu người sử dụng nguồn nước này để ăn uống, tắm giặt?Nước không sạch,con người sử dụng, ăn uống, sức khỏe sẽ ra sao? Không có sức khỏe tốt thì lực lượng con người sẽ cống hiến như thế nào cho đất nước khi bước vào thiên niên kỉ mới với nền kinh tế công nghiệp , hiện đại . Không ở đâu xa , ngay trong thành phố của chúng ta – nơi con sông Đồng Nai chảy qua phải chịu bao rác rưởi dơ bẩn . Công viên ven bờ sông là nơi sinh hoạt thể dục thể thao của các cụ ông , cụ bà và cả các thanh thiếu niên trong khu vực . Mọi người đến để thư giãn , hóng mát nhưng nhìn xuống dòng nước ven bờ , nước bẩn theo cống vẫn từng ngày từng giờ ung dung đổ xuống , bao ni lông bị ném xuống trôi bồng bềnh gây phản cảm , mất mĩ quan cả dòng sông . Còn đối với những ghế đá vô tội vạ bị những người vô ý thức trét bã kẹo cao su , khi có một người nào đó vô tình ngổi lên thì việc gì sẽ xảy ra ? Bã kẹo sẽ dính chặt vào quần áo của người đó không những làm bẩn quần áo mà còn gây sự khó chịu . Và sẽ ra sao khi người ngồi trên ghế đá kia có một cuộc hẹn quan trọng ? Bạn thấy đó , chỉ cần có một hành động vô ý thức đó mà gây ảnh hưởng đến công việc của người khác .

    Ngày nay , đi đến đâu cũng có nhiều người tự hào khoe khu phố mình đang sống là một khu phố văn hóa . Thế nhưng , được đặt bảng khu phố văn hóa mà rác rưởi vương vãi khắp nơi gây phản cảm cho người đi đường . Như vậy họ chẳng khác gì tự mình mỉa mai mình , tự đánh mất thể diện mình và cả khu phố . Cỏ mọc um tùm là điều kiện thuận lợi cho sinh sôi nảy nở của loài muỗi . Từ đó phát sinh dịch bệnh sốt xuất huyết – căn bệnh nguy hiểm đến tính mạng của con người .

    Và việc một số tài xế đổ gạch đá phế thải ra ngoài đường thì sao ? Một con đường đang sạch đẹp bỗng dưng phải hứng chịu vô số đất đá . Chúng vương vãi khắp nơi gây ùn tắc giao thông . Và cũng trên những con đường ấy đã xảy ra bao vụ tai nạn giao thông gây đau thương cho nhiều gia đình . Không chỉ có gạch đá bị thải ra đường mà còn có cả xác súc vật nữa . Như đã kể ở trên , xác súc vật bị quăng bừa bãi khắp nơi . Thịt của chúng dần phân hủy kèm theo là một mùi hôi vô cùng khó chịu đối với những người vô tình đi ngang qua . Tệ hại hơn , đứng trước nguy cơ bùng nổ dịch cúm gia cầm H5N1, một số người dân khi thấy gà vịt chết hàng loạt đã không báo cho cơ quan thú y xử lý mà họ đã tự ý ném xác chúng xuống hồ , ao . Đó là một việc làm vô cùng nguy hiểm vì nếu lỡ con gà hay vịt ấy mang trong mình mầm bệnh thì dịch bệnh sẽ phát tán trên cả khu vực rộng lớn do nước từ các ao , hồ này sẽ chảy ra sông – nguồn nước sinh hoạt của rất nhiều gai đình . Các quán ăn trên vỉa hè cũng có những hành vi xả rác nghiêm trọng . Những đồ ăn dư thừa hằng ngày vẫn đổ vào các cống thoát nước . Chúng khiến cho cống không thoát được nước . Vào những ngày mưa lớn , do hệ thống cống thoát nước không hoạt động hiệu quả , nước tràn khắp đường phố , cản trở giao thông . Nhiều lúc nước bẩn tràn ngược vào nhà . Nhìn cảnh tượng ấy , em thật bức xúc, xót xa cho một vẻ mĩ quan bị đánh mất .

    Thật đáng nguy hiểm khi trẻ em ngày nay lại sa vào hiện tượng vứt rác bừa bãi rất nhiều . Cứ sau giờ chơi là mỗi lớp học lại đầy những vỏ kẹo , vỏ bánh . Điều đó làm phiền lòng rất nhiều thầy cô . Làm sao các thầy , các cô có thể toàn tâm dạy học trong một phòng học toàn rác bẩn như vậy . Và thế là việc học tạm gián đoạn để thu gom rác , dọn vệ sinh lớp . Nếu việc này vẫn xảy ra thường xuyên thì cả lớp sẽ mất bao nhiêu thời gian học tập và thậm chí có thể bị trừ điểm thi đua của lớp . Thật tai hại làm sao !

    Chưa bao giờ , ô nhiễm môi trường đang thực sự là vấn đề lớn của cả nhân loại như ngày nay. Những biến đổi khí hậu và hậu quả khủng khiếp của nó không còn là dự báo nữa mà thành hiện thực ở khắp nơi . Hiện tượng toàn cầu hóa El Nino và trái đất nóng dần lên do hiệu ứng nhà kính vẫn diễn ra từng ngày , từng giờ . Điều đáng suy nghĩ là ở chỗ phần lớn , nếu không muốn nói là tất cả những hiện tượng trên đều có nguyên nhân từ con người , từ những hành động bừa bãi mà trong đó có cả việc xả rác và khí thải bừa bãi . Nói cách khác , những tác hại của việc xả rác mà em đã nêu ra như mất vệ sinh , thể hiện hành vi vô văn hóa , gây mất mĩ quan lan truyền dịch bệnh , tốn kém tiền của trong việc thu gom và xử lý , khiến cho người nước ngoài có ấn tượng không tốt … đều có nguyên nhân bắt nguồn từ con người . Đầu tiên là do những thói quen xấu lười biếng và lối sống lạc hậu ích kỷ chĩ nghĩ đến quyền lợi cá nhân của một số người . Họ sống theo kiểu

    “Của mình thì giữ bo bo

    Của người thì thả cho bò nó ăn ”

    Họ nghĩ đơn giản rằng chỉ cần nhà mình sạch thì được còn bẩn thì ai bẩn mặc ai . Những nơi công cộng không phải là của mình , vậy thì việc gì mà phải mất công gìn giữ. Cứ ném rác vội ra là xong, đã có đội vệ sinh lo dọn dẹp. Cách nghĩ như thế thật là thiểu cận và nguy hại làm sao. Nguyên nhân tiếp theo là do thói quen đã có từ lâu, khó sửa đổi, phải có sự nhắc nhở thì người ta mới không xả rác bừa bãi. Ở các lớp học, hằng ngày, các thầy cô và ban cán sự lớp phải thường xuyên nhắc nhở thì mới giữ cho lớp học sạch đẹp. Nhưng xã hội là một phạm vị rộng lớn hơn lớp học rất nhiều. Mọi người đều bận rộn với công việc của mình và không một ai có đủ thời gianđể đi nhắc nhở từng người một . Không được nhắc nhở , con người ta lại quay về với thói quen trước kia . Nguyên nhân cuối cùng là do ý thức về vệ sinh của một số người chưa được tốt . Họ không nhận thức được rằng hành vi của mình là vô ý thức , phản văn hóa, văn minh , phá hoại môi trường sống . Bên cạnh đó cũng cần phải nói đến việc giáo dục ý thức giữ gìn , bảo vệ môi trường sống chưa được quan tâm đúng mức , chưa được tổ chức thường xuyên . Mặc dù trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn có những chương trình kêu gọi ý thức bảo vệ môi trường của con người nhưng chúng quá ít ỏi , không đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu và học hòi của người dân . Do đó mà trình độ hiểu biết của người dân còn thấp dẫn đến thái độ tuân thủ nội quy nơi công cộng chưa đi vào nề nếp . Mặt khác , nếu so với các nước trên thế giới thì việc xử phạt những người vô ý thức cũng chưa thật nghiêm túc. Ví dụ như ở nước Singapo, chỉ cần ném một mẩu giấy ra đường là đã bị phạt tiền rất nặng . Tùy vào mức độ sai phạm mà người vi phạm có thể bị đánh giữa đường . Còn ở Việt Nam thì sao ? Những người vô ý thức vẫn ung dung như không có gì xảy ra vì hình thức xử phạt ở nước ta quá dễ dãi , nhẹ nhàng chưa đủ sức răn đe .

    Đất nước ngày càng phát triển trên nhiều lĩnh vực , đời sống người dân ngày càng được nâng cao cách nghĩ . Lối sống của mỗi người ngày càng văn minh , tiến độ ứng xử có văn hóa . Đặc biệt là trong yêu cầu của cuộc sống ngày nay , đường phố xanh – sạch – đẹp là một tiêu chuẩn không thể thiếu đối với một thành phố văn minh, sạch đẹp . Điều đó khiến mỗi người cần có ý thức giữ gìn vệ sinh để bảo vệ sức khỏe cho bản thân mình và người khác . Nhận thức cùa người dân đa phần đã tích cực hơn . Mỗi nhà đều phải gom rác sinh hoạt để đúng chỗ để các cô chú công nhân vệ sinh đem vận chuyển đến nơi quy định để xử lý . Những việc làm đó thật đáng biểu dương vì không những giữ vệ sinh giữ sức khỏe cho cá nhân một người một gia đình mà còn cho cả cộng đồng . Các bạn thấy đó tuy có nhiều người vô ý thức xả rác bừa bãi nhưng tồn tại song song với những con người này là số lớn những con người có ý thức vệ sinh rất tốt . Một nhóm bạn trẻ ở thành phố biển nhân ngày nghỉ hè rảnh rỗi đã cùng nhau nhặt rác ở khắp bãi biển , một bà lão lớn tuổi vẫn ngày ngày nhặt những mảnh chai trên cát , làm giảm đi sự nguy hiểm cho những người vui chơi trên biển. Đó là những việc làm tốt đẹp đáng cho ta noi theo . Còn những người vô ý thức kia đã đến lúc suy nghĩ lại . Hãy làm việc gì đó trước khi quá muộn . Nạn vứt rác bừa bãi có thể được khắc phục dựa trên sự cố gắng của mỗi người và toàn xã hội . Ngay từ bây giờ , ta cần kêu gọi ý thức giữ gìn vệ sinh của mỗi người . Bằng nhiểu hình thức như áp phích, panô ,các chương trình tuyên truyền trên đài phát thanh truyền hình , những thông điệp cơ bản về ý thức bảo vệ môi trường sẽ được truyền đến tận tai , tận mắt của mỗi người góp phần nâng cao ý thức của người dân . Hơn nữa , đối với những người ương bướng , cố tình vi phạm cần phải bị xử phạt thích đáng . Không thể nhẹ tay với những con người vô ý thức , tàn phá môi trường nghiêm trọng vì nếu quá dễ dãi với họ thì sẽ mãi không bao giờ chấm dứt được tình trạng trên . Nếu như thực hiện được những việc làm trên thì cuộc sống sẽ tươi đẹp biết bao . Và có lẽ ở nước ta cũng không xảy ra chuyện vớt trên sáu tấn rác mỗi ngày ở một con kênh hay những cái lắc đầu chê trách của du khách nước ngoài .

    Mỗi người trong cộng đồng ai cũng muốn có sức khỏe dồi dào , người thân không ốm đau , láng giềng yên ổn nhưng do nếp sống nếp nghĩ quen thuộc của một số ít người mà còn hiện tượng vứt rác bừa bãi ra nơi công cộng . Thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước không cho phép người dna6 cứ tiếp tục lối sống , nếp nghĩ như thế . Hãy khắc phục nó bằng mọi cách có thể . Mỗi người chúng ta hãy sống thật tốt đẹp , giữ gìn vệ sinh ở bất kì nơi đâu , trong nhà hay ngoài ngõ , trên cạn hay dưới sông để tạo môi trường sống trong lành cho cả mình và mọi người , để có điều kiện cống hiến nhiều nhất cho đất nước . Đứng trước xu thế hội nhập ngày nay , làm thế nào để vươn ra biển lớn , để hòa nhập cùng với bạn nè ở bốn phương . Thiết nghĩ , cần nhất là một gương mặt một diện mạo mới của đất nước . Một con đường sạch đẹp ở thành phố luôn tạo cho mọi người, nhất là các khách du lịch quốc tế một cảm giác thoải mái . Hãy làm cho mình đẹp hơn dưới con mắt của mọi người , đứng vì những thói quen xấu của cá nhân như vứt rác bừa bãi gây ảnh hưởng đến mọi người . Hãy chấm dứt những hành vi kém văn hóa ấy để làm cho cuộc sống của chúng ta ngày càng tốt đẹp hơn . Và hãy sống theo tinh thần cao đẹp : “Mình vì mọi người , mọi người vì mình ”

    Đối với em thì những hành vi như xả rác bừa bãi nơi công cộng , đổ nước thải sinh hoạt xuống cống , rãnh là những hành động xấu , đáng chê trách . Chúng gây những hậu quả nghiêm trọng cho mọi người . Vì vậy mỗi người dân chúng ta và toàn xã hội cần phải nhanh chóng khắc phục hiện tượng đó . Riêng với chúng em – những học sinh – người chủ tương lai của đất nước thì giờ đây cần phải xem lại bản thân mình , điều chỉnh những hành vi của mình thật đúng đắn . Đứng trước hiện tượng vứt rác bừa bãi trên , chúng em sẽ tích cực nâng cao ý thức bảo vệ môi trường , tuyên truyền cho bạn bè cùng làm theo . Hi vọng rằng với việc làm nhỏ đó chúng em đã góp phần làm cho môi trường sống xung quanh trở nên xanh – sạch – đẹp và trái đất sẽ luôn là ngôi nhà chung đáng yêu của tất cả nhân

    Bài văn mẫu nghị luận về ô nhiễm môi trường mẫu 3:

    Môi trường bao gồm những yếu tố tự nhiên như đất, nước, không khí, sinh vật,….mang lại nhiều lợi ích to lớn, đóng vai trò quan trọng trong sự sống của loài người. Tuy nhiên hiện nay, môi trường đang bị ô nhiễm một cách trầm trọng, nhận được sự quan tâm và lo lắng của nhiều quốc gia trên thế giới.

    Vậy ô nhiễm môi trường là gì? Ô nhiễm môi trường là một tình trạng mà tất cả những yếu tố tự nhiên đã và đang bị nhiễm các chất cặn bẩn, chất độc hại, có hại với sức khỏe con người. Với môi trường đất đai, con người sử dụng những chất thuốc hóa học như thuốc trừ sâu, bảo vệ thực vật,….

    Tuy diệt được các loài có hại nhưng những sinh vật có ích cũng bị nhiễm độc thuốc ảnh hưởng theo, làm đất bị thoái hóa trầm trọng, đặc biệt là Việt Nam tình trạng này còn trầm trọng hơn khi ngoài việc phun thuốc hóa học để chống sâu bệnh hại quá liều mà do tỉ lệ dân số nước ta khá cao so với diện tích đất khiến cho diện tích đất trồng đang bị thu hẹp lại.

    Với môi trường nước, các nhà máy hoạt động thải chất bẩn ra các con sông mà không xử lý, gây nhiễm độc nước làm nhiều loài sinh vật biển chết hàng loạt. Trong đó phải kể đến sự việc cá chết hàng loạt vào năm 2022 nhà máy Formosa thả chất thải trực tiếp xuống sông khiến các vùng biển Vũng Áng, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế bị nhiễm độc nặng, ảnh hưởng đến công việc ngư dân và đời sống sinh hoạt cũng như sức khỏe của người dân.

    Ngoài ra, việc phun thuốc hóa học không chỉ làm đất bị suy thoái, mà còn gây ô nhiễm nguồn nước khi phun thuốc trước hoặc sau các ngày mưa làm thuốc hóa học theo đất đổ ra các con sông, đồng thời khí độc trong thuốc bay hơi sẽ ảnh hưởng đến môi trường không khí. Môi trường không khí hiện nay cũng đang bị ô nhiễm rất lớn bởi khí thải của các phương tiện giao thông, các nhà máy chưa qua xử lý.

    Đặc biệt tình trạng ô nhiễm không khí nặng nề phải kể đến thủ đô Bắc Kinh Trung Quốc khi người dân Trung Quốc gần như không thấy mặt trời, ra đường luôn phải đội mũ bảo hộ. Đây quả thực là một tình trạng hết sức nguy cấp và có dấu hiệu gia tăng khi khí hậu đang dần biến đổi, vùng Bắc cực có dấu hiệu băng tan.

    Tình trạng ô nhiễm gây ra rất nhiều tác hại mà không chỉ sinh vật, con người sẽ là nạn nhân chịu ảnh hưởng trực tiếp. Với sức khỏe con người, ô nhiễm môi trường gián tiếp gây ra những căn bệnh nguy hiểm khi họ ăn phải hoặc uống, sử dụng phải nguồn nước nhiễm độc, sinh vật chết do nhiễm chì nặng gây ngộ độc thực phẩm, đặc biệt Việt Nam ta hiện nay đang là nước đứng thứ hai thế giới vì tỉ lệ người bị mắc bệnh ung thư.

    Với tâm lý xã hội, hiện tượng này sẽ gây ra sự hoang mang, lo lắng cho người dân, làm tổn hại nền kinh tế khi họ phát bệnh nặng khi sử dụng những nguồn nước và thức phẩm không đảm bảo, khiến chi phí chữa bệnh vô cùng lớn, làm ảnh hưởng đến lương tháng, công việc của họ.

    Vậy tại sao môi trường lại ô nhiễm đến như vậy? Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này trước hết về khách quan, nước ta chưa có sự đầu tư cao cho các công tác bảo vệ môi trường, chất thải sinh ra từ các khu sinh hoạt , khu công nghiệp nhà máy quá nhiều đến mức không xử lý được hết, những phần dư sẽ tích tụ và gây nên ô nhiễm, hay tại các phố đông người phân bố thùng rác không hợp lý, hiệu ứng nhà kính làm Trái Đất nóng lên làm quá trình ô nhiễm bị đẩy lên cao hơn.

    Tuy nhiên, yếu tố khách quan là một phần nhưng yếu tố chủ quan lại là nguyên nhân chính dẫn đến sự ô nhiễm quá mức trầm trọng bởi nếu có ý thức bảo vệ môi trường, con người hoàn toàn có thể khắc phục được những nguyên nhân khách quan, nhưng hầu hết người dân chưa thực sự ý thức được về tác hại mà những tác động dù nhỏ nhất của họ vẫn có thể dẫn đến sự ô nhiễm, nhiều người vứt rác thải bừa bãi, không đúng nơi quy định, sử dụng nhiều túi nylon, rác thải nhựa như ống hút, cốc nhựa,…

    Bởi các chất thải nhựa mất đến hơn một thế kỷ mới có thể phân hủy, việc sử dụng đồ nhựa cũng khiến người dân bị nhiễm độc nhựa hay lạm dụng các chất hóa học bởi chúng “tiện”, những nhà máy cũng vì cái “tiện” mà không qua xử lý thải chất độc hại ra môi trường

    Có biện pháp nào hạn chế được tác hại mà ô nhiễm môi trường gây ra hay không? Câu trả lời là có, nước ta nên có thêm những chính sách đầu tư cho các chiến dịch, công tác bảo vệ môi trường, địa phương tại các nơi thường tụ tập hoặc có đông người đi lại nên phân bổ thùng rác hiệu quả và thường xuyên vệ sinh chúng hay tạo ra ngày môi trường, vận động người dân đi xe đạp, xe điện.

    Ngoài ra, bạn có thể tuyên truyền cho người dân biết về tác hại môi trường ảnh hượng thế nào đến lợi ích của họ và gia đình, nâng cao ý thức hạn chế sử dụng đồ nhựa, sử dụng các chất hóa học, các nhà máy nên đầu tư mua các trang thiết bị lọc chất thải tối tân, hiện đại để bảo vệ môi trường.

    Tuy vậy, để thực hiện được những giải pháp trên cần một quá trình lâu dài và cần sự nhận thức của tất cả mọi người rằng nên vì lợi ích chung sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân, không nên vì cái lợi trước mắt mà ảnh hưởng đến cuộc sông của những người khác những sinh vật đã và đang bị đe dọa bởi ô nhiễm môi trường.

    Như vậy, ô nhiễm môi trường quả là một tình trạng đáng lo ngại, là hiểm họa đối với cuộc sống sức khỏe con người nói chung và hành tinh Trái Đất nói riêng.

    Là học sinh, mỗi chúng ta nên là những người biết sống xanh, biết bỏ rác đúng nơi quy định, chúng ta phải thật sự thay đổi thì người khác mới có thể thay đổi, tự trau dồi những kiến thức về môi trường để tuyên truyền và vận động những người xung quanh chúng ta.

    Mẫu nghị luận ô nhiễm môi trường mẫu số 4:

    Trong mỗi giờ lên lớp, cô giáo vẫn nhắc nhở với chúng em rằng môi trường đang bị ô nhiễm và cần sự chung ta giúp đỡ của mọi người. Chúng em đang làm học sinh, chúng em sẽ làm những việc vừa sức mình để đóng góp sức nhỏ bảo vệ môi trường.

    Mỗi ngày, chúng ta đi ra ngoài, nhìn thấy phố xá đông đúc, bụi mù mịt phủ lên những tán lá cây. Con người đang phải chịu đựng tiếng ồn, khói bẩn và ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe.

    Tình trạng mọi người xả rác bừa bãi ra ngoài đường đã làm mất cảnh quan đô thị cũng như khiến cho cuộc sống của người dân phức tạp hơn.

    Môi trường xung quanh chúng ta đang ôi nhiễm quá trầm trọng, những con sông đang ngập ngụa nước, tình cảnh thiếu nước sạch, rác thải tràn lan khiến cho con người không thể phát triển được.

    Mỗi bạn học sinh khi đang ngồi trên ghế nhà trường, hãy chung tay của mình bảo vệ môi trường bằng những hành động nhỏ nhặt đến hành động lớn lao hơn. Chỉ là một hành động vứt rác vào thùng rác theo quy định. Không phải bạn học sinh nào cũng có ý thực bảo vệ môi trường như thế này. Nhiều bạn vẫn vứt rác bừa bãi ra đường, khiến cho mặt đường bẩn, mất cảnh quan. Ý thức cũng không được nâng cao.

    Mỗi khi về nhà, rác rất nhiều, cần nên gom rác lại giúp mẹ, cho vào một túi lớn và chờ xe rác đến để xử lý.

    Năm nay em đã sang lớp 4 rồi, ý thức bảo vệ môi trường cũng cần được quan tâm. Em giữ gìn vệ sinh trong lớp học, làm trực nhật thường xuyên, để rác đúng nơi quy định. Lúc về nhà em có thể tự đi xe đạp để bảo vệ môi trường, tránh bụi bẩn.

    Mỗi năm có dịp Tết trồng cây thì em sẽ tham gia với mọi người gieo mầm những cây xanh để lan tỏa bóng mát. Đây là việc làm giúp cho môi trường thêm xanh sạch đẹp hơn mà nhiều người cần phải ý thức có được.

    Môi trường của chúng ta được bảo vệ, luôn xanh sạch đẹp thì sức sống của mỗi người cũng được nâng cao lên rất nhiều. Bởi vậy bảo vệ môi trường chính là trách nhiệm của mỗi người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Nhằm Góp Phần Giải Cứu Trái Đất
  • Giải Pháp Phòng, Chống Hành Vi Xâm Hại Trẻ Em Trên Môi Trường Mạng
  • Ngành Giáo Dục Với Công Tác Bảo Vệ Môi Trường
  • Ðẩy Mạnh Công Tác Tuyên Truyền, Giáo Dục Về Bảo Vệ Môi Trường
  • Thực Hiện Các Giải Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Môi Trường Trong Sản Xuất Nông Nghiệp
  • Mẫu Báo Cáo Kết Quả Thẩm Định Phương Án, Giải Pháp Kỹ Thuật, Công Nghệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Kỹ Thuật Trong Sáng Chế
  • Một Giải Pháp Kỹ Thuật Nên Bảo Hộ Dưới Dạng Sáng Chế Hay Bí Mật Kinh Doanh ?
  • Đăng Ký Bảo Hộ Sáng Chế Và Bảo Hộ Giải Pháp Hữu Ích
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Kỹ Thuật Lê Dương
  • Thông Báo Tuyển Dụng Của Công Ty Tnhh Giải Pháp Kỹ Thuật Lê Dương
  • Mẫu báo cáo kết quả thẩm định phương án, giải pháp kỹ thuật, công nghệ là mẫu bản báo cáo được lập ra để báo cáo về kết quả thẩm định phương án, giải pháp kỹ thuật công nghệ. Mẫu nêu rõ nội dung báo cáo kết quả thẩm định… Mẫu được ban hành theo Thông tư 03/2020/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và truyền thông.

    1. Các căn cứ thẩm định

    Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước năm 2022 và các văn bản hướng dẫn;

    Căn cứ Luật Công nghệ thông tin năm 2006;

    Căn cứ Nghị định số …/…NĐ-CP ngày …… của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước;

    Căn cứ Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước;

    Căn cứ Nghị định số 73/2019/NĐ-CP ngày 05/9/2019 của Chính phủ quy định quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước;

    Căn cứ Thông tư số ….. ngày …… của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về lập đề cương và dự toán chi tiết đối với hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi thường xuyên thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước;

    2. Phương án, giải pháp kỹ thuật, công nghệ được đề xuất

    a) Tên hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin:

    b) Đơn vị sử dụng ngân sách:

    c) Địa điểm thực hiện:

    d) Thời gian thực hiện:

    đ) Phương án, giải pháp kỹ thuật, công nghệ được đề xuất, trong đó:

    – Giải pháp kỹ thuật, công nghệ cần tuân thủ:

    – Giải pháp kỹ thuật, công nghệ cho phép đơn vị sử dụng ngân sách được thay đổi trong quá trình triển khai:

    e) Các thông tin khác (nếu có):

    3. Tài liệu thẩm định và quá trình thẩm định

    a) Thành phần hồ sơ tài liệu phục vụ thẩm định gồm:

    – ………;

    – ………;

    b) Quá trình thẩm định:

    – ………;

    – ………;

    4. Ý kiến của đơn vị thẩm định

    a) Sự phù hợp của việc lựa chọn phương án, giải pháp kỹ thuật, công nghệ.

    b) Sự phù hợp của phương án, giải pháp kỹ thuật, công nghệ với các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng và các yêu cầu cơ bản về chức năng, tính năng kỹ thuật.

    5. Kết luận

    Mẫu báo cáo kết quả thẩm định phương án, giải pháp kỹ thuật, công nghệ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vải Địa Kỹ Thuật Xử Lý Nền Đất Yếu
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Kỹ Thuật Công Nghiệp Bhk
  • Đường Sắt Đô Thị: Giải Pháp Bền Vững Cho Giao Thông
  • Thoát Nước Đô Thị Bền Vững
  • Các Giải Pháp Kỹ Thuật Số Giúp Nông Nghiệp Việt Nam Tăng Tính Cạnh Tranh Và Bền Vững
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100