Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Dịch Vụ Pháp Lý Ở Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Một Số Bất Cập Và Giải Pháp Nhằm Hoàn Thiện Pháp Luật Lao Động Về Kỷ L
  • Công Ty & Tin Tuyển Dụng Từ Công Ty Tnhh Giải Pháp Năng Lượng Sạch Vn Ces
  • Tuyển Dụng Kế Toán Tổng Hợp Tại Công Ty Tnhh Giải Pháp Năng Lượng Việt
  • Tuyển Nhân Viên Kỹ Thuật Điện Năng Lượng Mặt Trời Làm Việc Tại Công Ty Tnhh Giải Pháp Năng Lượng Sạch Vn Ces
  • Đánh Giá Công Ty Tnhh Giải Pháp Năng Lượng Sạch Vn Ces, Có Nên Làm Việc Tại Công Ty Tnhh Giải Pháp Năng Lượng Sạch Vn Ces?
  • Giải pháp về lập pháp, chính sách, cơ chế

    Việc nhanh chóng đưa ra các quy định để “nội luật hóa” các cam kết quốc tế về mở cửa thị thị trường DVPL là việc cần làm trước hết. Mặt khác, tiến hành nghiên cứu, rà soát hệ thống quy phạm hiện có để tìm ra những quy định không phù hợp, sau khi phát hiện những “lỗ hỏng” trong hệ thống các quy định định đó cần có chương trình xây dựng pháp luật phù hợp. Chúng ta cũng cần chú trọng vấn đề tạo ra cơ chế chính sách phù hợp bên cạnh công tác lập pháp, để có thể thực hiện được các quy định đó trong thực tế, đem lại hiệu quả điều chỉnh các quan hệ dịch vụ pháp lý.

    Giải pháp tăng năng lực hoạt động nghiệp vụ cho ngành dịch vụ pháp lý

    Về phía người cung cấp dịch vụ pháp lý:

    Bằng cách không ngừng trau dồi kiến thức chuyên môn, nâng cao khă năng ngoại ngữ, tăng cường giao lưu học hỏi những kiến thức và kinh nghiệm hành nghề dịch vụ pháp lý quốc tế để nâng cao chất lượng dịch vụ của mình. Ngoài ra, hãy tạo cho mình một phong cách hành nghề chuyên nghiệp, tôn trọng đạo đức nghề nghiệp, tôn trọng khách hàng và tuân thủ quy định của pháp luật.

    Về phía Nhà nước:

    Tạo ra hành lang pháp lý an toàn và thuận lợi cho nghề DVPL phát triển là một trong những giải pháp đồng bộ mà Nhà nước cần thực hiện trong việc nâng cao năng lực hoạt động của ngành dịch vụ pháp lý

    Về cơ bản, việc tăng cường năng lực của đội ngũ tham gia hoạt động trong nghề dịch vụ pháp lý cần thực hiện theo các hướng sau:

    – Tăng cường đội ngũ luật sư, cán bộ tư vấn pháp lý có đủ năng lực để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Vấn đề cải tiến chất lượng đào tạo là một trong những yêu cầu của việc tăng cường này.

    Bên cạnh đó, bản thân mỗi luật sư, chuyên gia hành nghề dịch vụ pháp lý cần tự trau dồi kiến thức chuyên môn và kiến thức ngoại ngữ, học hỏi các phương pháp làm việc khoa học, chuyên nghiệp để nâng cao trình độ và chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng.

    – Đào tạo, phổ biến, tuyên truyền pháp luật

    Để tăng cường hiệu quả hoạt động của đội ngũ hành nghề dịch vụ pháp lý, viêc đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật để người dân nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng dịch vụ pháp lý, để người dân hiểu được ý nghĩa trợ giúp pháp lý của những hoạt động của Luật sư, chuyên gia tư vấn pháp luật đối với họ. Đây chỉ là một trong những giải pháp để tăng cường hiệu quả hoạt động của đội ngũ hành nghề dịch vụ pháp lý nhưng qua đó sẽ tạo lập cho người dân và các doanh nghiệp thói quen sử dụng dịch vụ pháp lý như là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống.

    – Tăng cường năng lực điều hành hoạt động của các Hiệp hội luật sư

    Các tổ chức hội nghề nghiệp DVPL ở Việt Nam đã bước đầu được thành lập nhưng vẫn còn nhiều hạn chế dẫn đến hoạt động cầm chừng và thiếu hiệu quả. Chính vì vậy, dù được thành lập nhưng các tổ chức hội này không phát huy được vai trò thực sự của mình khi không thể trở thành cơ quan ngôn luận, đại diện cho tiếng nói của giới Luật sư Việt Nam khi tham gia vào diễn đàn luật sư thế giới cũng như không có sức ảnh hưởng đối với việc hoạch định và xây dựng chính sách, xã hội. Vậy làm sao để các tổ chức hội này phát huy được đúng vai trò của mình ? Đó chính là tăng cường năng lực hoạt động và điều hành của các Hiệp hội luật sư, Đoàn luật sư trên cả nước. Đây cũng là một trong những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của nghề Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

      Phương trâm đào tạo của trường: NÓI KHÔNG VỚI THẤT NGHIỆP; 100% sinh viên có việc làm ngay khi tốt nghiệp với thu nhập từ 80 triệu/năm nhóm các ngành du lịch, khách sạn, chế biến món ăn…;
    • Sinh viên ĐƯỢC THAM GIA các chương trình giao lưu với sinh viên quốc tế, thực tập tại doanh nghiệp nước ngoài( Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc…);
    • Sinh viên ĐƯỢC NHẬN ƯU ĐÃI khi tham gia làm việc tại nước ngoài với các doanh nghiệp, tập đoàn do Công ty XKLĐ của Trường ( GLOTECH) giới thiệu;
    • Sinh viên ĐƯỢC THAM GIA chương trình đào tạo tiếng Đức tại trường phục vụ du học chuyên sâu ngành Điều Dưỡng;
    • Nhà trường có ký túc xá, căng tin, sân bóng đá – bóng chuyền đáp ứng các hoạt động của sinh viên;
    • Sinh viên ĐƯỢC HỌC LIÊN THÔNG Đại học sau khi tốt nghiệp;
    • Con em gia đình chính sách được miễn giảm học phí, được hỗ trợ thủ tục vay vốn ngân hàng CSXH khi nhập học theo quy định hiện hành.

    Tuyển sinh hệ cao đẳng chính quy

    Tuyển sinh hệ Liên thông Trung cấp – Cao đẳng chính quy

    Tuyển sinh hệ Trung cấp chuyên nghiệp

    Trường Tuyển sinh Các khối ngành đào tạo:

    • Tuyển sinh ngành Dược
    • Tuyển sinh ngành Điều Dưỡng
    • Tuyển sinh ngành Y sĩ Đa khoa
    • Tuyển sinh ngành Xây dựng Công trình
    • Tuyển sinh ngành Quản lý xây dựng
    • Tuyển sinh ngành Xây dựng dân dụng
    • Tuyển sinh ngành Điện tử – Tự động hóa
    • Tuyển sinh ngành Điện tử Viễn Thông
    • Tuyển sinh ngành Công nghệ thông tin
    • Tuyển sinh ngành Công tác xã hội
    • Tuyển sinh ngành Hướng dẫn viên du lịch
    • Tuyển sinh ngành Chế biến món ăn
    • Tuyển sinh ngành Quản trị khách sạn
    • Tuyển sinh ngành Kế toán
    • Tuyển sinh ngành Tài chính – Ngân hàng
    • Tuyển sinh ngành Quản trị kinh doanh
    • Tuyển sinh ngành Dịch vụ Pháp lý

    Trường Cao đẳng Công nghệ và Thương mại Hà Nội ♦Trụ sở chính

    Mọi thông tin vui lòng liên hệ :

    Tân Lập – Đan Phượng – Hà Nội

    Địa chỉ: Phòng 102 nhà B số 200 Hồ Tùng Mậu, Mai Dịch, Cầu Giấy, Hà Nội (Đối diện ĐH Thương Mại)

    Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Chính Sách, Pháp Luật Về Quy Hoạch, Quản Lý Và Sử Dụng Đất Đai Tại Đô Thị
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hợp Đồng Lao Động
  • Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Và Đảm Bảo Thực Thi Kết Luận Giám Sát Của Quốc Hội Việt Nam
  • Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Kinh Tế
  • Giải Pháp Nào Nâng Cao Tính Thống Nhất Của Hệ Thống Pháp Luật
  • Bất Cập Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Hợp Đồng Ở Việt Nam, Văn Phòng Luật Sư Thái Thanh Hải

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Định Hướng Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Tổ Chức Thi Hành Pháp Luật Ở Vn Hiện Nay
  • Luận Văn Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Việt Nam Về Đưa Người Lao Động Việt Nam Đi Làm Việc Ở Nước Ngoài Theo Hợp Đồng
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Tiếng Việt Lớp 3
  • Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc
  • Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Hợp đồng là hành vi thỏa thuận nhằm phục vụ lợi ích của các bên. Ngoài việc thỏa thuận vì lợi ích này, hợp đồng còn là sự thỏa thuận nhằm chia sẻ rủi ro. Lợi ích và rủi ro chính là tiền đề làm các quan hệ xã hội ngày càng phát sinh nhiều biến thể. Chính vì thế mà hợp đồng trở nên phổ biến và bao quát trong đời sống xã hội[1] và ký kết hợp đồng – hay còn gọi là cách thức để sự thỏa thuận có giá trị pháp lý nhất định – được pháp luật bảo vệ. Trên thực tế, tranh chấp hợp đồng có thể phát sinh bất cứ lúc nào, từ hành vi thực hiện hợp đồng hay từ những điều khoản ký kết trong hợp đồng. Cũng vì thế mà pháp luật hợp đồng phải ngày càng được hoàn thiện và minh bạch. 1. Bất cập của pháp luật hợp đồng hiện nay

    Pháp luật hợp đồng Việt Nam chủ yếu do hai nguồn luật điều chỉnh là Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) và Luật Thương mại năm 2005 (LTM 2005), bên cạnh đó, chế định hợp đồng còn tồn tại trong các quan hệ pháp lý khác được điều chỉnh theo những luật chuyên biệt như: Luật Sở hữu trí tuệ (LSHTT), Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Kinh doanh bảo hiểm… Cá biệt, có những quan hệ đặc thù tưởng chừng như không có bóng dáng của hợp đồng nhưng thực tế vẫn tồn tại khá nhiều, như trong quan hệ hôn nhân gia đình.

    Ở Việt Nam, BLDS 2005 – với tư cách là luật chung – đã có những quy định về chế định hợp đồng, nên những luật còn lại – với tư cách là luật chuyên ngành – phải tuân theo và dựa trên các quy định của BLDS 2005. Tuy nhiên, cách thức áp dụng thì lại ưu tiên cho luật chuyên ngành nếu luật chung có quy định khác với luật chuyên ngành. Câu chuyện này thực tế đã gây ra sự bất cập lớn trong pháp luật hợp đồng ở Việt Nam, vì quy định của BLDS 2005 với các luật chuyên ngành khác hầu như không tiệm cận với nhau, và ngay cả trong những luật chuyên ngành vẫn còn nhiều khác biệt vì một quan hệ hợp đồng có thể sử dụng đến nhiều quan hệ pháp lý. Do đó, những hạn chế cơ bản trong pháp luật hợp đồng Việt Nam hiện nay là tản mát, thiếu tính thống nhất và có khả năng dẫn đến tình trạng xung đột pháp luật.

    Có thể nhận thấy sự thiếu tính thống nhất của pháp luật hợp đồng khi xem xét về tính thương mại của hợp đồng. Điều 388 BLDS 2005 quy định: Hợp đồng dân sự (HĐDS) là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Theo khái niệm này và dựa trên phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005, có thể hiểu HĐDS còn có nghĩa rộng là bao quát luôn cả quan hệ thương mại. Nhưng thực tiễn giải quyết tranh chấp ở Tòa án và Trọng tài lại có sự phân biệt tính thương mại hay tính dân sự của hợp đồng và thực tiễn giải quyết các vụ việc cũng đã chứng minh rằng, sự phân biệt tính thương mại hay tính dân sự chỉ gây ra nhiều bất cập mà thôi.

    Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010 (LTTTM 2010) quy định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài là: Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài. Quy định này có nghĩa rằng, Trọng tài Việt Nam khi thụ lý đơn khởi kiện phải xem xét tính thương mại của tranh chấp, tuy rằng, sự tiến bộ của LTTTM 2010 đối với Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 là ở chỗ, không cần phải xác định tính thương mại là trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng. Giả sử ngay cả trong hợp đồng, nếu tranh chấp không phát sinh từ hoạt động thương mại thì Trọng tài không được thụ lý đơn khởi kiện ngay cả khi có một thỏa thuận Trọng tài hợp pháp.

    Khoản 1 Điều 3 LTM 2005 quy định Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác.

    Nếu xét về thẩm quyền giải quyết tranh chấp các hợp đồng thương mại (HĐTM) của Trọng tài hiện nay thì tính thương mại được xét dựa trên yếu tố sinh lời của các hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác. Như vậy, một trường hợp tranh chấp phát sinh trong hợp đồng, đã có thỏa thuận trọng tài nhưng tính thương mại không thể xác định được, liệu rằng Trọng tài có thẩm quyền để giải quyết hay không? Chắc chắn Trọng tài sẽ rất lúng túng trong vấn đề này. Mặt khác, theo LTTTM 2010 thì thẩm quyền của Trọng tài có thể mở rộng ở những tranh chấp thương mại không phát sinh trong hợp đồng, và tương tự như trường hợp trên, Trọng tài cũng thật khó trong việc xác định thẩm quyền của mình. Bên cạnh đó, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2011 về kinh doanh thương mại cũng đang mang tính liệt kê (khác với liệt kê mang tính loại trừ) và dựa vào mục đích lợi nhuận làm căn cứ tiên quyết.

    Đối với Trọng tài Việt Nam khi giải quyết các tranh chấp HĐTM đều vận dụng các quy phạm về HĐTM được điều chỉnh trong BLDS 2005, LTM 2005 và các chế định hợp đồng đặc thù trong Luật Đầu tư (LĐT), Luật Xây dựng (LXD), LSHTT… Những quy định này về hợp đồng vẫn nằm rải rác trong các văn bản pháp luật, đã gây nên sự chồng chéo, làm hạn chế hoạt động áp dụng pháp luật của Trọng tài.

    Ngoài ra, sự thiếu thống nhất, xung đột pháp luật hợp đồng còn thể hiện ở các quy định về tài sản mua bán phải đăng ký quyền sở hữu. Khoản 2 Điều 439 BLDS 2005 quy định: Đối với tài sản mua bán mà pháp luật có quy định đăng ký quyền sở hữu, quyền sở hữu được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó. Tương tự khi quy định về đăng bộ nhà đất, Luật Đất đai 2003 (LĐĐ 2003) quy định thời điểm chuyển quyền sử dụng đất là từ khi người nhận chuyển nhượng hoàn tất thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất. Khoản 2 Điều 127 LĐĐ 2003 quy định: Trong thời hạn không quá mười lăm ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, gửi hồ sơ cho cơ quan quản lý đất đai thuộc Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… Trong thời hạn không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày thực hiện xong nghĩa vụ tài chính, các bên tham gia chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại nơi đã nộp hồ sơ.

    Tuy nhiên, Luật Nhà ở (LNO) và Nghị định hướng dẫn lại quy định thời điểm chuyển quyền sở hữu sớm hơn nhiều so với quy định của BLDS 2005. Khoản 3 Điều 93 Luật LNO quy định Hợp đồng về nhà ở phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của UBND cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của UBND xã đối với nhà ở tại nông thôn…Khoản 1 Điều 63 NĐ90/NĐCP/2006 ngày 6/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn LNO quy định: Thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở đối với trường hợp mua bán nhà ở tính từ ngày hợp đồng mua bán nhà ở được công chứng hoặc chứng thực.

    Thực tế khi đi đăng bộ, bên mua và bên bán còn phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và lệ phí trước bạ, thời gian từ lúc công chứng xong cho đến lúc hoàn tất thủ tục sang tên nhanh nhất cũng trên 10 ngày. Do đó, trong Luật LNO, thời gian từ lúc ký hợp đồng công chứng đến thời điểm đăng bộ đã có một “khoảng trống pháp luật”, như thế, các quy định pháp luật đã xung đột nhau. Khi đã xung đột pháp luật, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) 2008 đã giải quyết vấn đề này bằng cách sẽ áp dụng văn bản có giá trị cao hơn, hoặc là theo luật chuyên ngành, trường hợp có giá trị ngang nhau về thứ bậc của văn bản và tính chuyên ngành thì áp dụng văn bản được ban hành sau. Vì vậy đối với trường hợp này, LNO được ban hành sau BLDS (2005) nên có giá trị áp dụng. Giả sử trong trường hợp sau này, khi BLDS 2005 sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn giữ nguyên quy định như cũ thì BLDS mới lại có giá trị áp dụng vì lúc này BLDS được ban hành sau LNO.

    Như vậy, khi xung đột xảy ra thì chủ thể của hợp đồng phải hứng chịu hậu quả. Họ là bên chịu tất cả mọi phí tổn do sự xung đột pháp luật dẫn đến. Các nhà làm luật không tính đến tính thống nhất của pháp luật, không cân nhắc kỹ lưỡng đến phạm vi điều chỉnh của VBQPPL, khiến cho phạm vi của VBQPPL này chồng lên phạm vi của VBQPPL khác. Vì vậy, để tránh sự tản mát của pháp luật hợp đồng, tránh những xung đột pháp luật gây khó khăn cho các chủ thể hợp đồng thì pháp điển hóa pháp luật hợp đồng Việt Nam thành Luật Hợp đồng thống nhất là một trong những giải pháp khả thi vì tự thân quan hệ hợp đồng đã hình thành một quan hệ pháp luật có phạm vi điều chỉnh độc lập.

    2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật hợp đồng 2.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật hợp đồng

    Một trong những mục tiêu quan trọng của công cuộc cải cách pháp luật ở Việt Nam được xác định tại Nghị quyết số 48 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2022 là “xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch”. Nhằm thực hiện việc công khai, minh bạch hoá hệ thống pháp luật, đảm bảo để mọi cơ quan, tổ chức, công dân đều có thể tiếp cận hệ thống pháp luật một cách dễ dàng, giảm bớt thời gian, chi phí cho việc tìm kiếm VBQPPL cũng như xác định hiệu lực của văn bản, thì một trong những giải pháp đặt ra là pháp điển hóa hệ thống quy phạm pháp luật.

    các quy định nội dung về hợp đồng trong BLDS như: khái niệm hợp đồng, giao kết hợp đồng, phạt hợp đồng, các loại hợp đồng…; thống nhất sự tản mát bằng những quy định cụ thể trong BLDS trở thành luật chung cho các luật chuyên ngành. Các quy định có tính chất chung chỉ nên quy định trong BLDS 2005. Trong Bộ luật này cần có những quy định chung có tính khái quát cao, thể hiện rõ quyền tự do h p đồng để bảo đảm tính ổn định cao của BLDS sau lần sửa đổi, bổ sung này. Không nên đưa vào BLDS các quy định về các loại hợp đồng chuyên biệt mà để cho các văn bản pháp luật chuyên ngành quy định. Nếu có đưa một loại hợp đồng nào đó vào trong BLDS 2005 thì không nên quy định ở văn bản pháp luật khác nữa để tránh trùng lặp, chồng chéo . Một số học giả khác cũng chung quan điểm về thống nhất hợp đồng trong BLDS 2005, ví dụ sớm thống nhất pháp luật về xử lý vi phạm hợp đồng bằng cách bỏ các quy định từ Điều 292 đến Điều 316 của LTM và hoàn thiện các quy định trong BLDS 2005 (trong đó có kế thừa ưu điểm của LTM) về xử lý vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.

    vẫn hoàn thiện quy định hợp đồng trong BLDS nhưng chỉ hoàn thiện những nền móng cơ bản, còn lại các quy định khác trong BLDS và những quy định tản mát thì xây dựng một đạo luật riêng biệt điều chỉnh.

    , kết hợp pháp điển hóa nội dung pháp luật hợp đồng với việc bóc tách quan hệ hợp đồng trong BLDS và thống nhất sự tản mát bằng cách tập hợp các quy định trong các luật chuyên ngành, văn bản dưới luật, sau đó hệ thống và xây dựng thành một đạo luật riêng biệt điều chỉnh quan hệ hợp đồng tiến bộ và phù hợp với thông lệ thế giới cũng như các quy định của UNIDROIT (Viện Thống nhất Tư pháp Quốc tế – nghiên cứu, tìm kiếm các quy định chung để điều chỉnh hợp đồng sao cho có thể thích hợp trong nhiều hệ thống pháp luật của những nước khác nhau), gọi là “Luật Hợp đồng thống nhất”.

    2.2. Xây dựng Luật Hợp đồng thống nhất

    Ở Việt Nam, đa số các nhà khoa học pháp lý đều cho rằng, giữa ngành luật công và luật tư có sự phân biệt rõ ràng về phạm vi và đối tượng điều chỉnh, trong đó ở ngành luật tư thì BLDS đóng vai trò là luật gốc. Từ những quy định chung trong BLDS, họ tiếp tục phát triển các chế định chuyên ngành như: Luật Hôn nhân gia đình, LTM, LĐĐ, LSHTT, Luật Doanh nghiệp, Luật Lao động… Chúng tôi không thừa nhận quan niệm này, bởi lẽ nếu đã là “gốc” thì vai trò của Hiến pháp nằm ở đâu trong một xã hội pháp trị? Và bởi lẽ, một cây không thể sống bằng hai gốc, cũng không thể có “gốc chính” hay “gốc phụ”. Vì vậy, cần coi quan hệ hợp đồng là một quan hệ đặc thù và rộng lớn, nên nó phải được điều chỉnh trong một đạo luật riêng biệt, bởi một người dân bình thường không thể làm thay công việc của luật sư hay thẩm phán khi chỉ ra rằng hợp đồng này thuộc về dân sự, về thương mại hay đầu tư…

    Công việc cố gắng hoàn thiện các chế định hợp đồng trong BLDS 2005 và các đạo luật khác hiện nay có thể được ví von như một ngôi nhà “ọp ẹp” và không đủ không gian sống, nhưng thay vì xây một ngôi nhà mới cho nó thì người ta cố gắng dùng những chất liệu kết dính để tu sửa nó. Vấn đề ở chỗ là càng cố gắng tu sửa bao nhiêu người ta càng phải cố gắng tính đến khả năng chịu được sự tồn tại của những đổi thay sắp đến mà đây là công việc gian truân đối với cả những kỹ sư lành nghề. Vì vậy, để thuận tiện cho xã hội khi mà quan hệ hợp đồng vốn dĩ đã chi phối hầu hết các quan hệ trong đời sống xã hội, phát sinh mỗi ngày một đa dạng, phức tạp thì việc thống nhất điều chỉnh bằng “Luật Hợp đồng thống nhất” là điều hết sức cần thiết. Theo đó, BLDS sẽ được giản lược, nhẹ đi, chỉ làm nhiệm vụ điều chỉnh những vấn đề chung về tài sản và nhân thân mà không điều chỉnh quan hệ hợp đồng nữa.

    “Luật Hợp đồng” là luật chỉ điều chỉnh về tất cả các quan hệ hợp đồng. Xét về khía cạnh hợp đồng, dù các quốc gia khác cố gắng định nghĩa hợp đồng như thế nào đi chăng nữa thì đều dựa vào một bản chất duy nhất nói lên sự tồn tại của hợp đồng, đó là sự thỏa thuận. Từ sự thỏa thuận, các quốc gia cố gắng điều chỉnh nó bằng những kỹ thuật lập pháp của riêng mình. Ví dụ ở Trung Quốc, cũng là một quốc gia đang trên đà xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cũng theo trường phái pháp luật thành văn đã xây dựng thành công Luật Hợp đồng riêng biệt vào năm 1999. Trước đây, các chế định về hợp đồng của Trung Quốc được quy định tại Luật Hợp đồng kinh tế, Luật Hợp đồng kinh tế có yếu tố nước ngoài, Luật Công nghệ… Tuy nhiên khi gia nhập WTO, để tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế, tránh những bất tiện cho các chủ thể gặp khó khăn khi tìm hiểu chế định hợp đồng để tiến hành ký kết HĐTM, Trung Quốc đã tiến hành xây dựng Luật Hợp đồng dựa trên nội dung của UNIDROIT; nó là sự kết nối tất cả quy định hợp đồng nằm rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau trước đây. Điều này tạo hành lang pháp lý thuận tiện và an toàn cho các nhà đầu tư cũng như các thương nhân Trung Quốc. Hay như UCC (Luật Thương mại thống nhất ) của Hoa Kỳ đã quy định luôn cả vấn đề hợp đồng ở trong đó, hoặc ở các quốc gia khác như: Đức (châu Âu) và Indonesia (Đông Nam Á)… đã ban hành hẳn một đạo Luật Hợp đồng riêng biệt.

    Bảng: Nguồn pháp luật hợp đồng ở một số quốc gia trên thế giới

    Công việc pháp điển hóa pháp luật hợp đồng ở Việt Nam cần quán triệt những quan điểm sau đây:

    phạm vi của pháp luật hợp đồng tương đối rộng, là đạo luật điều chỉnh hành vi thỏa thuận giữa các bên, là công cụ đại diện cho mưu cầu lợi ích kinh tế của cá nhân và tổ chức. Vì vậy, xét về phạm vi và đối tượng điều chỉnh thì chúng ta nên ưu tiên xây dựng một Luật Hợp đồng riêng biệt. Với xu hướng giản lược BLDS 2005, các nguyên tắc và các vấn đề chung của hợp đồng sẽ được quy định chung cho tất cả các hợp đồng không phân biệt dân sự, thương mại hay hợp đồng có yếu tố nước ngoài.

    , trên thực tế, ngày càng xuất hiện các loại hợp đồng với nhiều chủng loại khác nhau. Tuy nhiên, việc phân chia các loại hợp đồng trong BLDS 2005 và các đạo luật chuyên ngành khác lại dựa trên đối tượng của hợp đồng. Cách phân loại như thế không có cơ sở khoa học và dẫn đến nhiều hệ lụy. Do đó, nội dung tiếp theo của hoạt động pháp điển hóa pháp luật hợp đồng là rà soát trên thực tế các loại hợp đồng, quy định các loại hợp đồng theo phân nhóm chủng loại hợp đồng để tránh trường hợp Luật lạc hậu so với thực tiễn. Việc sắp xếp chủng loại hợp đồng phải dựa trên hành vi và mục đích giao kết chứ không dựa trên đối tượng hợp đồng.

    , về kỹ thuật lập pháp, những vấn đề chung và chủng loại của hợp đồng cần được sắp xếp trong một đạo luật hoàn chỉnh và thống nhất. Việc những chủng loại của hợp đồng là vấn đề có thể phát sinh nhất, tuy nhiên, nếu dựa trên mục đích của hành vi thỏa thuận thì các nhà làm luật có thể phân biệt và dự liệu được. Do đó, tuổi thọ của Luật Hợp đồng sẽ được kéo dài.

    Nhà nước pháp quyền đòi hỏi một hành lang pháp lý để các chủ thể có thể ứng xử đúng theo pháp luật nên việc pháp điển hóa hệ thống pháp luật là hòn đá tảng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Pháp luật hợp đồng cần được thống nhất cũng không thể nằm ngoài yêu cầu chung đó. Pháp luật hợp đồng ngày càng được thống nhất sẽ tạo mọi điều kiện cho các chủ thể xử sự với nhau ngày càng phù hợp hơn, các thỏa thuận được các bên tôn trọng và thực hiện ngày càng tốt hơn, tranh chấp sẽ bớt đi trên cơ sở các quy định của pháp luật hợp đồng./.

    Phan Thông Anh – Giám đốc Công ty Luật hợp danh Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Yêu Cầu Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Công Ty Luật Hợp Danh
  • Chuyên Gia Trần Đức Cảnh Đưa Ra Giải Pháp Cho Nguồn Nhân Lực Việt Nam
  • Thực Trạng Nguồn Nhân Lực Của Việt Nam Hiện Nay
  • Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Ở Việt Nam Thời Kỳ Hội Nhập
  • Luật Sư Tư Vấn Điều Kiện Kinh Doanh Karaoke
  • Giải Pháp Đưa Mạng Xã Hội Hoạt Động Đúng Luật Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài: Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Internet Của Sinh Viên
  • Thay Vì Cấm, Ba Mẹ Hãy Giúp Trẻ Sử Dụng Internet Hiệu Quả
  • Giải Pháp Sử Dụng Internet Hiệu Quả, Tiết Kiệm Chi Phí Thời Bão Giá
  • Hội Thi Sáng Tạo Khoa Học Kỹ Thuật Đem Lại Nhiều Giải Pháp Hữu Ích Cho Cộng Đồng
  • Nhiều Giải Pháp Đồng Bộ Trong Đảm Bảo Trật Tự An Toàn Giao Thông Dịp Tết
  • Thực tế, hành vi sử dụng mạng xã hội đang là xu hướng tất yếu và sẽ không ngừng gia tăng trong các năm tới. Điều này có nhiều mặt tích cực, nhưng cũng tiềm ẩn yếu tố tiêu cực. Các cơ quan quản lý và chính doanh nghiệp đang cùng nỗ lực đưa mạng xã hội đi vào khuôn khổ pháp luật Việt Nam.

    Thực trạng của mạng xã hội

    Theo Facebook, hiện nước ta đã có đến 30 triệu người dùng và trung bình lướt Facebook 150 phút/ngày, gấp đôi thời gian xem tivi và hầu hết đều được thực hiện qua di động.

    Bên cạnh Facebook đang giữ vị trí quán quân trên bảng xếp hạng, hiện một số mạng xã hội chuyên biệt như: Youtube, Zalo, Bigo Live… cũng đã thu hút được lượng người dùng khá lớn.

    Xét về mặt tích cực, mạng xã hội giúp kết bạn với nhiều người dù ở bất cứ nơi đâu, thời gian nào, dễ dàng cập nhật thông tin và duy trì mối liên hệ với bạn bè,…Đối với doanh nghiệp, sự hiện diện của mạng xã hội không chỉ mang lại nguồn lợi doanh thu, mà quan trọng hơn còn tạo dựng được uy tín cũng như thương hiệu sản phẩm thông qua sức lan truyền rộng lớn và nhanh chóng.

    Tuy nhiên, mạng xã hội vẫn tồn tại những yếu tố tiêu cực khiến các nhà quản lí đau đầu tìm giải pháp. Sẽ chẳng lạ lùng hay khó hiểu nếu một ngày nào đó, bạn thấy được một tấm hình hay đoạn video sex có trên Facebook hay Youtube. Ngoài ra, vấn đề bảo mật cũng hết sức đáng lo…

    Đưa vào khuôn khổ pháp luật

    Nắm bắt được nhu cầu tất yếu của người dân trong việc sử dụng mạng xã hội, các cơ quan quản lý nhà nước đã chủ động trong công tác quản lý từ rất sớm. Ngoài việc ban hành các văn bản pháp luật, công tác thanh tra giám sát được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc nhằm phát hiện và kịp thời chấn chỉnh sai phạm, đưa hoạt động của mạng xã hội đi vào khuôn khổ pháp luật Việt Nam.

    Bộ trưởng Trương Minh Tuấn cũng khẳng định, Việt Nam chỉ điều chỉnh những hạn chế và mặt trái của mạng xã hội như nhiều quốc gia khác. Quản lý không phải là ngăn cấm. Đối với những mạng xã hội nước ngoài, Bộ sẽ tham mưu Chính phủ đàm phán và yêu cầu hoạt động theo đúng khuôn khổ của luật pháp Việt Nam.

    Hướng tới một nền tảng mạng xã hội lành mạnh

    Nắm bắt sự chỉ đạo của Bộ Thông tin & Truyền thông, hiện một số mạng xã hội nước ngoài cũng đã cử người đại diện hay lập văn phòng tại Việt Nam để kịp thời điều chỉnh hoạt động theo đúng quy định pháp luật của nước sở tại.

    Cụ thể, mạng xã hội BIGO đã tiên phong lên kế hoạch xây dựng hướng tới một mạng xã hội lành mạnh và đa dạng hóa. Phát biểu về vấn đề này, đại diện BIGO tại Singapore: “Bigo Live là một sản phẩm toàn cầu, chúng tôi cam kết hoạt động theo pháp luật, có đạo đức, và có tính xây dựng cuộc sống cao,.. ở bất kỳ đất nước nào nơi chúng tôi tiến hành hoạt động kinh doanh. Và ở Việt Nam không là một ngoại lệ. Hiện tại đối với Việt Nam, Bigo Live vẫn là một sản phẩm được cung cấp theo hình thức xuyên biên giới, nghĩa là, đến thời điểm này chúng tôi chưa có bất kỳ pháp nhân nào tại Việt Nam. Tuy nhiên, như chúng tôi đã nói, với mục đích kinh doanh bền vững và đặt Việt Nam là một trong những thị trường kinh doanh trọng điểm, chúng tôi đang làm việc với một số hãng luật quốc tế để tìm hiểu các qui định quốc tế cũng như qui định của nước sở tại về lĩnh vực cũng như sản phẩm mà chúng tôi đang kinh doanh. Chúng tôi sẽ sớm chọn ra một hình thức hiện diện pháp nhân phù hợp nhất với nhu cầu của mình tại Việt Nam, và sẽ thực hiện trách nhiệm pháp lý của mình một cách đúng đắn, công khai, minh bạch.

    Bigo Live không phải là ứng dụng Live stream đầu tiên, và chắc chắn không phải là ứng dụng cuối cùng. Hiện nay, có khoảng 3 – 4 sản phẩm live stream tại Việt Nam, và dự tính có thêm khoảng 2 – 3 sản phẩm nữa đang được thử nghiệm và sẽ ra mắt trong thời gian tới. Chúng tôi mong muốn các cơ quan quản lý chuyên ngành, giới truyền thông, đối tác, khách hàng,… có những hướng dẫn, hỗ trợ tích cực nhằm giúp các công ty nước ngoài như chúng tôi thực hiện các quyền lợi và nghĩa vụ kinh doanh của mình, cũng như để cùng đóng góp vào sự phát triển của ngành dịch vụ này”.

    Với việc sở hữu những thế mạnh về công nghệ, BIGO sẽ đẩy mạnh việc tuyên truyền hướng dẫn người dùng, đưa lên nhiều nội dung lành mạnh, đồng thời hợp tác với các kênh giáo dục, y tế để đưa đến một nền tảng mạng xã hội văn minh và lành mạnh cho giới trẻ.

    PV

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Giải Pháp Bảo Vệ Tài Khoản Mạng Xã Hội Hữu Hiệu
  • Những Giải Pháp “chống Độc” Trong Ứng Xử Trên Mạng Xã Hội
  • Người Dùng Quan Tâm Gì Về Mạng Xã Hội Lotus Sắp Ra Mắt?
  • Giải Pháp Xác Thực Và Bảo Mật Cho Mạng Xã Hội Ứng Dụng Mô Hình Kerberos
  • Giải Pháp Marketing Online Hiệu Quả Cho Mạng Xã Hội
  • Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Đoàn Luật Sư Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Đoàn Luật Sư Khánh Hòa Từ Chối Xin Lỗi Báo Văn Nghệ
  • Bộ Công An Làm Việc Với Thường Trực Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam Nhằm Tháo Gỡ Khó Khăn Trong Hành Nghề Luật Sư
  • Điều Lệ Đảng (Do Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Xi Của Đảng Thông Qua)
  • Điều Lệ Đảng (Do Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Viii Của Đảng Thông Qua)
  • Giới thiệu chung

    LIÊN ĐOÀN LUẬT SƯ VIỆT NAM -VIET NAM BAR FEDERATION

    Ngày 10 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 46/SL về tổ chức đoàn thể luật sư. Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1946, 1959, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, 1992 đều khẳng định vai trò, vị trí của luật sư và tổ chức luật sư trong việc giúp đỡ về mặt pháp lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng với những thắng lợi vẻ vang của cách mạng, của dân tộc và những bước phát triển của đất nước, đội ngũ luật sư Việt Nam đã vượt qua khó khăn thử thách để ngày càng tự khẳng định vai trò, vị trí của nghề luật sư trong xã hội.

    Cùng với tiến trình phát triển của nền dân chủ, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vai trò, vị trí quan trọng của luật sư ngày càng được khẳng định và nâng cao. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã khẳng định quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa là quyền cơ bản của con người, từ đó đề cao vai trò của luật sư trong việc góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế, bảo vệ các quyền cơ bản của con người, quyền công dân trong giai đoạn mới xây dựng, phát triển dân chủ và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

    Liên đoàn Luật sư Việt Nam là tổ chức xã hội – nghề nghiệp thống nhất trong toàn quốc của các Đoàn Luật sư và các luật sư Việt Nam; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; có chức năng đại diện, tập hợp, đoàn kết, hỗ trợ và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các luật sư, Đoàn Luật sư thành viên; đồng thời có trách nhiệm quan trọng xây dựng và duy trì các chuẩn mực đạo đức, quy tắc nghề nghiệp luật sư, bảo đảm tính độc lập và chất lượng dịch vụ pháp lý của nghề luật sư, thực hiện chế độ tự quản của luật sư theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và Điều lệ của Liên đoàn Luật sư Việt Nam.

    Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đại Hội Đảng Bộ Cơ Quan Thành Đoàn Hà Nội Nhiệm Kỳ 2022
  • Phó Chủ Tịch Phùng Thị Hồng Hà Dự Buổi Làm Việc Của Bí Thư Thành Ủy Với Thành Đoàn Hà Nội
  • Đoàn Tncs Hồ Chí Minh Thành Phố Hà Nội Có Thêm 2 Tân Phó Bí Thư
  • Đảng Đoàn Hội Đồng Nhân Dân Tỉnh Họp Đánh Giá Công Tác Lãnh Đạo Năm 2022 Đối Với Hoạt Động Của Hđnd Tỉnh, Nhiệm Vụ Trọng Tâm Công Tác Lãnh Đạo Năm 2022
  • Ninh Bình Phát Huy Vai Trò Của Đảng Đoàn Trong Định Hướng Hoạt Động Của Hội Đồng Nhân Dân Tỉnh: Thực Tiễn Và Kinh Nghiệm
  • Ý Thức Pháp Luật Của Người Dân Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Thức Pháp Luật Và Pháp Chế
  • Phương Pháp So Sánh Trong Luật So Sánh
  • Khoa Học Luật So Sánh
  • Lớp Trung Cấp Chính Trị Tc71
  • Giới Thiệu Phòng Vật Tư Thiết Bị Y Tế
  • Ý thức pháp luật của người dân Việt Nam- Thực trạng và giải pháp. Đánh gái, nhận xét ý thức pháp luật hiện nay tại nước ta thông qua tình huống cụ thể.

    Như chúng ta đã biết, pháp luật đóng vai trò rất quan trọng nhằm đảm bảo thiết lập trật tự một xã hội an toàn văn minh và tốt đẹp, đảm bảo cho mọi hoạt động đời sống người dân. Để phát huy được hiệu quả của pháp luật thì ý thức pháp luật của người dân chính là nhân tố quan tọng hàng đầu. Hiện nay, việc người dân thể hiện ý thức pháp luật của mình co nhiều bước chuyển biến tích cực, đáp ứng nhu cầu của đời sống hiện nay, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những bất cập hạn chế qua những hành vi của người dân mà nhu cầu phải có những giải pháp cụ thể để có thể giải quyết được vấn đề này. Và sau đây, em xin được trình bày bài làm của mình về vấn đề ” ý thức pháp luật của người dân Việt Nam – thực trạng và giải pháp”

    I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ Ý THỨC PHÁP LUẬT

    Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, quan điểm, quan niệm hình thành trong xã hội thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật và sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp đối với các hành vi pháp lí thực tiễn.

    Thứ nhất, ý thức pháp luật do tồn tại xã hội quy định nhưng luôn có tính độc lập tương đối và có sự tác động trở lại tồn tai xã hội.

    Tính độc lập tương đối của ý thức pháp luật được thể hiện ở một số khía cạnh như:

    – Ý thức pháp luật thường lac hậu hơn so với tồn tại xã hội

    – Trong những điều kiện nhất định ý thức pháp luật đặc biệt là hệ tu tưởng pháp luật nhiều khi có sự phát triển hơn trước so với tồn tại xã hội.

    – Ý thức pháp luật phản ánh tồn tại xã hội có tính kế thừa ý thức pháp luật của thời đại trước đó. Tất nhiên những yếu tố được kế thừa có thể là sự tiến bộ hoặc không tiến bộ.

    Ý thức pháp luật tác động trở lại với tồn tại xã hội. Nó có thể là động lực thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của các sự vật hiện tượng.

    Thứ hai, ý thức pháp luật mang tính giai cấp: mỗi quốc gia chỉ có một hệ thống pháp luật nhưng tồn tại một số hình thái ý thức pháp luật. Có ý thức pháp luật của giai cấp thống trị, có ý thức của giai cấp bị trị, ý thức páp luật của các tầng lớp trung gian. Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thể hiện ý chí của mình một cách tập trung thống nhất và hợp pháp hóa thành ý chí nhà nước.

    Ý thức pháp luật gồm hai bộ phận là tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật:

    Tâm lý pháp luật là tổng thể các trạng thái tâm lý của con người như tình cảm, tâm trạng thói quen, xúc cảm đối với pháp luật của từng người, từng nhóm người hoặc cả giai cấp dưới ảnh hưởng của pháp luật và sự tác động điều chỉnh của pháp luật.

    Hệ tư tưởng pháp luật là hệ thống những tư tưởng, những quan điểm, những học thuyết pháp lí của một giai cấp đã được các nhà tư tưởng đại diện cho giai cấp đó hệ thống hóa, khái quát nâng lên thành lí luận.

    II. THỰC TRẠNG Ý THỨC PHÁP LUẬT CỦA NGƯỜI DÂN HIỆN NAY

    Ưu điểm: Những năm gần đây, công tác phổ biến giáo dục pháp luật ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước quan tâm chú trọng nhiều hơn. Những hoạt động của các cấp các ngành trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật đã góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân, hầu hết người dân đã nắm rõ được tầm quan trong của pháp luật trong đời sống từ đó mà nhìn nhận đúng và tự giác hơn trong việc chấp hành pháp luật mà nhà nước đề ra.

    Hiện nay trong các hoạt động của pháp luật, ý thức của người dân Việt Nam đã nâng lên. Sự hiểu biết về pháp luật của nhân dân đã biểu hiện rõ nét, nhân dân ý thức được trách nhiệm, quyền hạn của mình đối với nhà nước thông qua pháp luật do đó họ tích cực tham gia vào các hoạt động quản lí nhà nước, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước để thực hiện quyền lợi hợp pháp của mình.

    Trong những năm qua, người dân đã tích cực tham gia đóng góp các ý kiến cho các văn bản pháp luật, những ý kiến đó được đánh giá cao và có tính thực tiễn. Có những ý kiến cũng đã được các cơ quan có thẩm quyền ghi nhận để xem xét, nghiên cứu và bổ sung thêm. Như vậy, do nhận thức đúng trách nhiệm của mình trong các vấn đề quan trọng của đất nước cho nên người dân ngày càng quan tâm đến pháp luật; tự giác học hỏi và nghiên cứu nhằm hoàn hiện nhận thức đúng đắn nhất đưa ra những quan điêm sáng suốt và có giá trị.

    Trong hoạt động thực hiện và tổ chức thực hiện pháp luật hiện nay cũng có nhiều bước chuyển biến tích cực, người dân Việt Nam đã chủ động tích cực, đã tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật. Trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức, số cán bộ vi phạm pháp luật trong khi thi hành công vụ đã giảm, thực trạng tham nhũng, sách nhiễu trong công việc đang được đẩy lùi, các cán bộ công chức đã ngày càng chứng tỏ sự minh bạch công khai trong công việc của mình.

    Ý thức trong thực hiện pháp luật của các tầng lớp nhân dân cũng được cải thiện rõ rệt. Người dân đã ngày càng nêu cao tinh thần ” sống và làm việc theo pháp Hiến pháp và pháp luật”. Người dân trở nên có nhận thức tốt về các vấn đề của đời sống xã hội coi trọng tính mạng, nhân phẩm và tài sản của nhau. Nhân dân đã nghiêm chỉnh, tự giác trong việc chấp hành pháp luật. Các tranh chấp trong xã hội nay đã giảm bớt đi sự căng thẳng vì mọi người có ý thức điều hòa những mâu thuẫn không đáng có.

    Bên cạnh đó, ý thức bảo vệ pháp luật hiện nay cũng đã được quan tâm. Xuất hiện trong cuộc sống của chúng ta nhiều tấm gương về người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật, họ đã nâng cao tinh thần trách nhiệm của mình trong việc bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, trợ thành những tấm gương sáng trong việc giúp cho các cơ quan chức năng thi hành công vụ, trong việc bắt giữ tội phạm, tố giác những hành vi của những người người thực hiện hành vi trái pháp luật. Như vậy có thể nói rằng đã có nhiều bước chuyển biến đáng mừng trong tư tưởng tình cảm của người dân đối với việc chấp hành pháp luật.

    Hạn chế: Bên cạnh những mặt tích cực về ý thức pháp luật của người dân hiện nay thì vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế nhất định ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của toàn xã hội. Có thể nhận thấy những sự hạn chế như sau:

    Hiện nay, ý thức pháp luật của một bộ phận người dân vẫn còn thấp. Họ chưa tôn trọng pháp luật, thái độ thờ ơ và lẩn tránh các quy định của pháp luật vẫn còn xảy ra nhiều, sự tùy tiện trong việc chấp hành kỉ luật lao động, sinh hoạt và làm việc. Nguyên nhân của vấn đề trên chính là do nhân dân Việt Nam vẫn còn chiếm tỉ lệ lớn trong các ngành nông nghiệp, quanh năm chú trọng đến sản xuất, chăn nuôi, người dân sống và thực hiện trách nhiệm của mình bằng các phong tục, tập quán từ lâu đời do đó ý thức vẫn còn thấp trong hiểu biết và chấp hành pháp luật

    Những cuộc chiến tranh liên miên, khốc liệt trong lịch sử Việt Nam đã làm ý thức ý bị gắn kết, người dân dẫu rằng thể hiện ý thức, trách nhiệm của mình tuy nhên vẫn dẫn đến thói quen là cấp trên thì ra lệnh, thiếu dân chủ, cấp dưới thì đợi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên nên người dân thiếu sự chủ động và sáng tạo. Có đôi khi, ý thức của cá nhân còn bị hòa nhập vào ý thức tập thể, cộng đồng nên người dân không bộc lộ được rõ ràng nhân cách, lối sống của mình.

    Ý thức pháp luật trong mỗi người dân vẫn còn chậm được nâng cao do những thói quen truyền thống. Những thói quen như ” bất tuân pháp luật”, nhiêu người cố tìm mọi cách để lách luật, tìm ra những kẽ hở và hạn chế của pháp luật để thực hiện hành vi vi phạm nhằm đạt được mục đích.

    “Lách luật” xảy ra rất nhiều trong hoạt động giao thông hiện nay, có thể thấy rõ tình trạng một số người dân tham gia giao thông trên đường bằng xe máy chỉ chấp hành việc đội mũ bảo hiểm khi nhìn thấy cảnh sát giao thông hoặc khi nhìn thấy cảnh sát giao thông từ xa sẽ đi vào đường tránh khác để không bị bắt khi biết mình đã vi phạm.

    Tình trạng phổ biến của người dân hiện nay là chưa có thói quen giải quyết các tranh chấp mâu thuẫn bằng con đương tư pháp, tâm lí e ngại ra tòa, thái độ thiếu thiện cảm, bất cần với người đại diện chính quyền vẫn thường xuyên xảy ra. Dẫn đến các mâu thuẫn trong đời sống của người dân không những không được gải quyết mà ngày càng nghiêm trọng hơn.

    Một tực tế đáng buồn hiện nay là tình trạng người dân thờ ơ, vô trách nhiệm với những hành vi trái pháp luật. Cụ thể trong đời sống hiện nay những vụ đua xe hay những vụ đánh đập tấn công của những đối tượng trong cuộc , người dân nhìn thấy thay vì ngăn cản, tố giác thì họ lại đứng cổ vũ, hô hào hay đứng xem với một thái độ bình thản. Điều này cũng đã chứng tỏ phần nào thực trạng ý thức pháp luật của người dân hiện nay.

    Đến nay, trình độ dân trí của người dân vẫn còn thấp, sự chênh lệch giữa các vùng miền, ở một số nơi thì người dân đã có kiến thức về pháp luật nhưng một số nơi thì pháp luật còn là một điều gì đó xa vời, không gắn với thực tiễn cuộc sống, họ thờ ờ trước pháp luật và vì lợi ích trước mắt của cá nhân mà có nhiều hành động trái với pháp luật ảnh hưởng tới hoạt động của con người.

    Thái độ coi thường pháp luật trong nhân dân ngày càng phản ánh rõ nét dẫn đến những hành vi trái với quy định của pháp luật. Hiện nay diễn biến về tội phạm hình sự ngày càng gia tăng, nhiều vụ án giết người cướp tài sản do người dân gây ra với mức độ nghiêm trọng thường xuyên xảy ra.

    Tệ nạn ma túy, mại dâm, bài bạc diễn ra khắp mọi nơi. Theo chánh án TANDTC Nguyễn Hòa Bình cho biết trong năm 2013 đã giải quyết 271.100 vụ trong tổng số 365.650 vụ án đã thụ lí, tăng trên 30.000 vụ so với năm 2013 (báo dân trí). Hiện nay, nhiều hinh thức vi phạm pháp luật mới xuất hiện như thời gian gần đây, trên địa bàn thành phố Hà Nội đã xảy ra tình trạng đánh bài qua internet, từ địa điểm Hà Nội đã bao trùm ra toàn quốc và xuyên quốc gia gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng.

    Đặc biệt đáng lưu ý là ý thức pháp luật của tầng lớp thanh thiếu niên luôn chiếm tỉ lệ lớn. Theo số liệu thống kê trong báo tiền phong onlie, số đối tượng vi phạm pháp luật trong lứa tuổi thanh thiếu niên luôn chiếm trên 70% tổng số mà không ít là học sinh, sinh viên.tình trạng thanh niên giết người cướp tài sản, sử dụng các chất kinh thích như ma túy đang trở thành vấn nạn trong đời sống hiện nay.

    Trong những năm gần đây, một vấn đề bất cập đáng lưu ý là ý thức pháp luật của một bộ phận cán bộ, công nhân viên chức ngày càng giảm sút, thực trạng biến chất thoái hóa trong khi thực hiện công vụ ở đội ngũ cán bộ công chức vẫn còn tại, để lại cho người dân nhiều bức xúc về thái độ ứng xử của các cán bộ công chức coi người dân là kẻ dưới, người dân chịu sự ban ơn nên họ đã hạch sách, nhũng nhiễu và vòi vĩnh để vụ lợi, đặc biệt tệ nạn tham ô, tham nhũng trong một bộ phận cán bộ công chức vẫn tiếp tục diễn ra với mức độ nghiêm trọng.

    Theo báo pháp luật ra ngày 16 -11- 2013 được biết: ngày 18/11, TAND thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên án vụ tham ô và cố ý làm trái tại công ty cho thuê Tài chính II. Hai bị cáo tham ô là Vũ Quốc Hảo – nguyên tổng giám đốc công ty cho thuê Tài Chính II và bị cáo Đặng Văn Hai – nguyên chủ tích HĐTV công ty TNHH xây dựng Quang Vinh đã chiếm đoạt được hơn hàng trăm tỉ đồng bằng việc hưởng lợi từ những hợp đồng kinh tế đã kí.

    Ý thức của người dân ở vùng sâu vùng xa vùng dân tộc thiểu số còn thực sự thấp. Tình hình tội phạm ở khu vực này ngày càng diễn bến phức tạp, xuất hiện nhiều dưới dạng xuyên quốc gia mà người dân cũng bị lôi vào vòng xoáy ở đó. Những vụ án xảy ra vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc miền núi là hiện tượng buôn bán ma túy, gỗ lậu. Một vụ án xuyên biên giới được biết đến gần đây là đầu tháng 3/ 2013, Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh Điện Biên và lực lượng an ninh nước bạn Lào đã chặt đứt một trong những mắt xích quan trọng trong đường dây vận chuyển ma túy xuyên quốc gia do một số đối tượng người Việt Nam và Lào cầm đầu, thu giữ được lượng lớn bánh hêroin tang vật.

    Như vậy có thể thấy rằng, trong đời sống hiện nay, ý thức pháp luật đã được người dân quan tâm và nghiêm chỉnh chấp hành tuy nhiên sự tồn tại của những mặt tiêu cực nêu trên đã gây không ít những khó khăn cho việc đưa pháp luật thực sự đi vào đời sống. Để nâng cao hơn nữa ý thức pháp luật của người dân thì các cơ quan có chức năng thẩm quyền cần co những giải pháp cụ thể để giải quyết những mặt tiêu cực nêu trên

    Bảo đảm tính hoàn thiện và đồng bộ của hệ thống pháp luật để đáp ứng tối đa nhu cầu điều chỉnh pháp luật ở mỗi giai đoạn phát triển của đất nước.

    Ban hành đầy đủ các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành trong những trường hợp cần thiết để kịp thời thực hiện các văn bản pháp luật khi nhưng văn bản này có hiệu lực.

    Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật quốc gia trong cả hệ thống cũng như trong từng bộ phận hợp thành của hệ thống ở các cấp độ khác nhau. Hạn chế sự trùng lặp chồng chéo của các quy phạm pháp luật trong mỗi bộ phận và trong các bộ phận khác nhau của hệ thống pháp luật.

    Cần chú ý đến khả năng nhận thức, lĩnh hội những kiến thức, hiểu biết về pháp luật của các tầng lớp dân cư, các loại đối tượng từ đó lựa chọn những phương pháp tuyên truyền giáo dục phù hợp.

    Kích thích và phát triển tính tích cực pháp lí của công dân, hình thành thái độ không khoan nhượng đối với những hành vi sai lệch vi phạm pháp luật.

    Mở rộng công khai dân chủ các hoạt động của bộ máy nhà nước, thu hút nhân dân tham gia đông đảo vào các dự án xây dựng luật.

    Đưa giảng dạy pháp luật vào các trường THPT trên cả nước với nội dung phù hợp

    Thường xuyên rà soát, tổng kết và đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội

    Đẩy mạnh kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật đặc biệt là hoạt động áp dụng pháp luật để kịp thời phát hiện và khắc phục những khiếm khuyết, yếu kém của hoạt động này, xử lí những chủ thể cố ý áp dụng pháp luật không đúng, không phù hợp với mục đích đặt ra.

    Tăng cường tính gương mẫu của Đảng viên và tổ chức của Đảng trong việc thi hành pháp luật để mọi tầng lớp quần chúng noi theo.

    Ngoài ra, cần phải nâng cao chất lượng và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công chức nhà nước. Tiến hành công tác kiểm tra, giám sát và xử lí nghiêm minh hành vi vi phạm pháp luật đồng thời phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng đối với công tác phổ biến tuyên truyền và giáo dục pháp luật cho tầng lớp nhân dân.

    Như vậy, có thể thấy thực trạng về ý thức pháp luật của người dân hiện nay đang là vấn đề quan trọng và cơ bản nhất, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật trong đời sống. Hiện nay, vấn đề ý thức pháp luật của người dân vẫn còn nhiều điểm hạn chế vì vậy cần phải sớm thực hiện những biện pháp cụ thể để nâng cao ý thức của người dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Đặc Điểm Trong Ý Thức Pháp Luật Của Đội Ngũ Cán Bộ Cấp Cơ Sở Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Chức Năng Của Pháp Luật Và Các Kiểu Pháp Luật Trong Lịch Sử
  • Câu Hỏi Ôn Tập Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật (Có Đáp Án)
  • Sự Điều Chỉnh Hành Vi Con Người Của Pháp Luật Mang Tính
  • Bàn Về Chức Năng Của Luật Hình Sự
  • Pháp Luật Về Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam Luận Văn Ths. Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn: Pháp Luật Về Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam, Hay
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Tài Nguyên Du Lịch
  • Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Du Lịch Sinh Thái Cộng Đồng Vườn Quốc Gia Phước Bình
  • Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Sinh Thái Trên Địa Bàn Tỉnh
  • Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Du Lịch Sinh Thái Tại Vĩnh Phúc
  • ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

    KHOA LUẬT

    NGUYỄN THỊ NHƯ HUYỀN

    PH¸P LUËT VÒ B¶O VÖ TµI NGUY£N DU LÞCH

    ë VIÖT NAM

    LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

    HÀ NỘI – 2014

    ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

    KHOA LUẬT

    NGUYỄN THỊ NHƯ HUYỀN

    PH¸P LUËT VÒ B¶O VÖ TµI NGUY£N DU LÞCH

    ë VIÖT NAM

    Chuyên ngành: Luật Kinh tế

    Mã số: 60 38 01 07

    LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

    Cán bộ hướng dẫn khoa học: chúng tôi VŨ THU HẠNH

    HÀ NỘI – 2014

    LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của

    riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong

    bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong

    Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã

    hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ

    tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

    Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để

    tôi có thể bảo vệ Luận văn.

    Tôi xin chân thành cảm ơn!

    NGƯỜI CAM ĐOAN

    Nguyễn Thị Như Huyền

    Những vấn đề chung về bảo vệ tài nguyên du lịch …………………….. 7

    1.1.1. Tài nguyên du lịch …………………………………………………………………….. 7

    1.1.2. Sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên du lịch …………………………………. 13

    1.2.

    Những vấn đề chung về pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch ……. 18

    1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch ……. 18

    1.2.2. Những nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch ……. 20

    1.2.3. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật bảo vệ tài nguyên du

    lịch ở Việt Nam ………………………………………………………………………. 35

    Kết luận chương 1 …………………………………………………………………………….. 43

    Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI

    HÀNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN DU

    LỊCH Ở VIỆT NAM ……………………………………………………………… 44

    2.1.

    Thực trạng pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch ………………….. 44

    2.1.1. Những ưu điểm của pháp luật trong bảo vệ tài nguyên du lịch ……… 44

    2.1.2. Những hạn chế của pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch …………… 57

    2.2.

    Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch ………. 66

    2.2.1

    Những kết quả đạt được trong việc thi hành pháp luật về bảo vệ

    tài nguyên du lịch ……………………………………………………………………. 66

    2.2.2

    Những hạn chế trong việc thi hành pháp luật về bảo vệ tài nguyên

    du lịch…………………………………………………………………………………….. 77

    2.2.3. Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong việc bảo vệ tài

    nguyên du lịch ………………………………………………………………………… 81

    Kết luận chương 2 …………………………………………………………………………….. 84

    Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN

    THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN DU LỊCH

    VIỆT NAM ……………………………………………………………………………. 85

    3.1.

    Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về bảo vệ tài nguyên

    du lịch……………………………………………………………………………………. 85

    3.2.

    Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ tài

    nguyên du lịch ở Việt Nam …………………………………………………….. 90

    3.2.1. Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm của cơ quan Nhà nước

    có thẩm quyền trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch …………………….. 90

    3.2.2. Hoàn thiện các quy định về quyền và trách nhiệm của các tổ

    chức, cá nhân trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch ……………………… 91

    3.2.3. Hoàn thiện các quy chuẩn về tài nguyên du lịch ………………………….. 92

    3.2.4. Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm pháp lý đối với các vi

    phạm pháp luật về tài nguyên du lịch …………………………………………. 93

    3.3.

    Một số giải pháp khác nhằm tăng hiệu quả bảo vệ tài nguyên

    du lịch ở Việt Nam …………………………………………………………………. 95

    3.3.1. Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan quản lý nhà

    nước về du lịch ……………………………………………………………………….. 95

    3.3.2.

    Nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch ……. 98

    Kết luận chương 3 …………………………………………………………………………… 102

    KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………….. 103

    TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………………….. 104

    1

    tài nguyên – môi trường du lịch của Việt Nam và nhiều nước trên thế giới

    đang bị tác động tiêu cực bởi việc khai thác cho du lịch, phát triển kinh tế – xã

    hội làm cho các tài nguyên dần cạn kiệt và suy thoái dần, làm ảnh hưởng đến

    sự phát triển bền vững của ngành Du lịch cũng như các ngành kinh tế khác.

    Do vai trò , ý nghĩa và sự cần thiết của tài nguyên du lịch đối với hoạt

    động phát triển du lịch như vậy nên việc bảo vệ tài nguyên du lịch là vấn đề

    đáng được quan tâm hiện nay, đặc biệt khi những yêu cầu về phát triển du lịch

    bền vững được đặt lên hàng đầu trong các chính sách, chiến lược, chương trình

    hành động quốc gia về du lịch. Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật về bảo

    vệ tài nguyên du lịch chưa được quan tâm tương xứng với yêu cầu đặt ra hiện

    nay như: nhiều hoạt động thực tiễn chưa được Luật Du lịch điều chỉnh, nhiều

    vấn đề Luật đề cập không cụ thể, hoặc chưa phù hợp với thực tế. Chính điều

    này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo vệ tài nguyên du lịch nước ta.

    Mặt khác, có thể thấy du lịch muốn phát triển bền vững thì song song

    với nó luôn cần có sự tồn tại của các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên

    nhân văn và môi trường. Do đó mà sự phát triển của du lịch luôn có mối

    liên hệ mật thiết với tài nguyên và môi trường du lịch. Việc khai thác các

    tài nguyên du lịch và phát triển các hoạt động du lịch luôn gắn liền và có sự

    tác động qua lại với môi trường du lịch. Hiện nay, tài nguyên du lịch ở các

    nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam đang bị những tác động tiêu cực

    của hoạt động phát triển kinh tế – xã hội, có nguy cơ giảm sút và suy thoái,

    ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của du lịch. Do vậy, để tăng cường

    vai trò của tài nguyên du lịch đòi hỏi Việt Nam cần từng bước nâng cao

    hiệu quả của các quy định pháp luật về bảo vệ tài nguyên và môi trường

    trong lĩnh vực du lịch. Pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch cần được xây

    dựng hoàn thiện, là khung pháp lý vững chắc để tăng cường công tác bảo

    vệ tài nguyên du lịch hơn nữa.

    2

    3

    4

    các quy định pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch và đánh giá thực trạng

    thực hiện chúng trên thực tế. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện

    pháp luật, góp phần bảo vệ tài nguyên du lịch ở Việt Nam. Như vậy, việc bảo

    vệ tài nguyên du lịch bằng pháp luật cần được triển khai ở cả khía cạnh xây

    dựng pháp luật và thực tế thực hiện pháp luật với những cách thức, biện pháp

    đa dạng, phong phú, phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế. Cụ thể đề tài dự

    kiến có những đóng góp sau:

    – Trong Chương 1, đề tài tập trung làm rõ vai trò của việc bảo vệ tài nguyên

    du lịch trong mối quan hệ với nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và yêu cầu bảo vệ

    chất lượng môi trường; sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên du lịch bằng pháp luật

    và khái quát được hệ thống pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch.

    – Trong Chương 2, đề tài tập trung đánh giá thực trạng pháp luật và

    thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch Việt Nam, gồm đánh

    giá ưu điểm, hạn chế về nội dung và hình thức của pháp luật bảo vệ tài

    nguyên du lịch; đánh giá kết quả, hạn chế khi thi hành pháp luật về bảo vệ tài

    nguyên du lịch và nêu được nguyên nhân của bất cập, hạn chế đó.

    – Trong Chương 3, từ những kết quả nghiên cứu của Chương 1 và

    Chương 2, đề tài đưa ra các giải pháp, kiến nghị mới nhằm hoàn thiện pháp

    luật về bảo vệ tài nguyên du lịch, đặc biệt ở khía cạnh quy định trách nhiệm

    của cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch; rà soát cơ chế

    thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ tài nguyên

    du lịch và tuyên truyền pháp luật để bảo vệ tài nguyên du lịch Việt Nam.

    6. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    6.1. Đối tượng nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định cụ thể của pháp luật

    về bảo vệ tài nguyên du lịch và các hoạt động thực tiễn thi hành pháp luật về

    bảo vệ tài nguyên du lịch

    5

    6

    7

    càng cụ thể, chi tiết hơn. Sự phân biệt rõ chức năng của mỗi nguồn tài nguyên

    phù hợp với từng lĩnh vực là nhằm giúp cho công tác quản lý các nguồn tài

    nguyên được thuận lợi, hiệu quả hơn và tài nguyên du lịch cũng được tiếp cận

    theo hướng đó.

    Nguyễn Minh Tuệ cho rằng:

    Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng

    các thành phần của chúng góp phần khôi phục, phát triển thể lực, trí

    tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ. Những

    tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho

    việc sản xuất dịch vụ du lịch .

    Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du

    lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác. Tài nguyên du lịch

    tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh

    thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài

    nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn

    nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình

    lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể

    khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch có thể

    thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu của tổ chức, cá nhân. Cụ thể:

    1.1.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên

    Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi

    trường tự nhiên bao quanh chúng ta được khai thác sử dụng để phục vụ cho

    8

    hoạt động du lịch. Các tài nguyên du lịch tự nhiên luôn gắn liền với các điều

    kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội, được khai thác đồng

    thời với tài nguyên du lịch nhân văn.Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm:

    – Tài nguyên địa hình

    Địa hình là thành phần quan trọng của tự nhiên, nơi diễn ra các hoạt

    động của con người. Đối với hoạt động du lịch, các dạng địa hình tạo nên

    phong cảnh, một yếu tố quan trọng để hình thành nên các tài nguyên khác.

    Các địa hình đặc biệt có sức hấp dẫn khách du lịch là: địa hình Karst, địa hình

    bờ biển, địa hình hải đảo,…

    Địa hình Karst: chiếm khoảng 60.000 km2 tập trung chủ yếu ở Việt

    Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, với các dạng Karst hang động,

    Karst ngập nước và Karst đồng bằng. Địa hình Karst tạo nên những điểm du

    lịch hấp dẫn với hệ thống các hang động, núi đá vôi,…

    Địa hình bờ biển: Bờ biển nước ta dài khoảng 3.260 km với nhiều cảnh

    quan phong phú, đa dạng, có nhiều bãi tắm đẹp là một tiềm năng rất có giá trị

    cho du lịch biển, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí. Các bãi biển nổi tiếng như:

    Bãi Cháy (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Văn

    Phong (Nha Trang), Mỹ Khê (Đà Nẵng)…

    Địa hình hải đảo: Nước ta có hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó

    nhiều đảo có cảnh quan đẹp đã được đưa vào khai thác phục vụ du lịch như:

    Cô Tô (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu), Lý

    Sơn (Quảng Ngãi)….

    – Tài nguyên khí hậu

    Tài nguyên khí hậu là sự tổng hợp các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, áp suất

    không khí, tốc độ gió, hướng gió, bức xạ nhiệt. Các yếu tố của khí hậu thay

    đổi theo không gian từ xích đạo đến hai cực, theo độ cao, theo thời gian (tính

    theo mùa), có mối quan hệ chặt chẽ với địa hình, vị trí địa lý, thủy văn và sinh

    vật, hoạt động sản xuất và đời sống của con người .

    Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tập thể của nhân dân diễn ra vào

    thời điểm cố định trong năm nhằm để kỉ niệm một sự kiện lịch sử, chính trị,

    văn hóa hay tôn giáo của cộng đồng. Lễ hội có hai phần: phần lễ và phần hội.

    Ở phần nghi lễ với những nghi thức trang trọng nhằm bày tỏ sự tôn kính với

    các bậc thánh hiền và thần linh, cầu mong bình an, mưa thuận gió hòa,… Còn

    phần hội thường diễn ra những hoạt động biểu tượng điển hình của tâm lý

    cộng đồng văn hóa dân tộc.

    Nghề thủ công truyền thống với những sản phẩm độc đáo mang giá trị

    nghệ thuật, thể hiện sự khéo léo của người lao động, tâm tư tình cảm của họ.

    12

    Nghề thủ công truyền thống luôn được bảo tồn, phát huy từ đời này sang đời

    khác của các gia đình, các làng, các địa phương. Hiện nay du lịch phát triển ở

    các làng nghề đang ngày một tân tiến, đa dạng.

    Các tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể khác như phong tục tập

    quán, nghệ thuật hát múa, diễn xướng dân gian, trang phục truyền thống dân

    tộc,… tạo sức hút đối với khách du lịch đều được coi là nguồn tài nguyên

    phục vụ cho phát triển du lịch. Phát triển các nguồn tài nguyên du lịch quý giá

    trên tạo điều kiện cho ngành du lịch nói riêng và kinh tế – xã hội Việt Nam nói

    chung ngày một đi lên hơn nữa.

    1.1.2. Sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên du lịch

    Từ những phân tích trên cho thấy tài nguyên du lịch có giá trị quan

    trọng và rất cần thiết cho sự phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống của

    các quốc gia trong đó có Việt Nam. Để phát huy ở mức cao nhất các tác dụng

    của tài nguyên du lịch thì việc bảo vệ nguồn tài nguyên này vừa là đòi hỏi

    mang tính khách quan vừa là yêu cầu của công tác quản lý nhà nước trong

    lĩnh vực du lịch.

    Theo cách hiểu phổ thông thì bảo vệ tài nguyên du lịch là việc chống lại

    mọi sự hủy hoại, xâm phạm đến các loại tài nguyên du lịch để giữ cho tài

    nguyên du lịch được nguyên vẹn đúng như giá trị của nó. Còn từ phương diện

    quản lý thì bảo vệ tài nguyên du lịch là việc xác định một cách có căn cứ các

    nguồn tài nguyên du lịch cần bảo vệ; xác định trách nhiệm của Nhà nước;

    quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong việc bảo tồn, tôn tạo và khai thác

    hợp lý để phát huy hiệu quả sử dụng và bảo đảm phát triển du lịch bền vững.

    Nói cách khác, bảo vệ tài nguyên du lịch là việc áp dụng đồng bộ các giải pháp

    về tổ chức, kinh tế, kỹ thuật, pháp lý nhằm bảo tồn, giữ gìn và phát huy có hiệu

    quả cao nhất giá trị của các tài nguyên du lịch. Bảo vệ tài nguyên du lịch là

    trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, của các tổ chức và cá nhân.

    13

    Sở dĩ tài nguyên du lịch cần phải được bảo vệ là vì những lý do sau:

    Thứ nhất, bảo vệ tài nguyên du lịch có ý nghĩa quyết định đối với phát

    triển du lịch.

    Tài nguyên du lịch là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự phát

    triển của du lịch. Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các sản

    phẩm du lịch. Sự phong phú và đa dạng của tài nguyên du lịch đã tạo nên sự

    phong phú và đa dạng của sản phẩm du lịch. Tài nguyên du lịch càng độc đáo,

    đặc sắc thì giá trị của sản phẩm du lịch và độ hấp dẫn khách du lịch càng tăng.

    Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để duy trì và phát triển các loại

    hình du lịch. Trong quá trình phát triển du lịch, để không ngừng đáp ứng các

    yêu cầu và thỏa mãn các mục đích của du khách, các loại hình du lịch mới cũng

    không ngừng xuất hiện và phát triển. Các loại hình du lịch ra đời đều phải dựa

    trên cơ sở của tài nguyên du lịch. Sự xuất hiện của các loại hình du lịch đã làm

    cho các yếu tố điều kiện tự nhiên, xã hội trở thành tài nguyên du lịch.

    Tài nguyên du lịch là một bộ phận cấu thành quan trọng tổ chức lãnh

    thổ du lịch. Hệ thống lãnh thổ du lịch thể hiện mối quan hệ về mặt không gian

    của các yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau cấu tạo nên nó. Các yếu tố đó là

    khách du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du

    lịch, đội ngũ cán bộ công nhân viên, tổ chức điều hành và quản lý du lịch.

    Tài nguyên du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức lãnh thổ

    du lịch, cũng là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch

    nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch, tạo điều kiện để có thể khai thác một cách

    hiệu quả nhất các tiềm năng của nó. Tổ chức lãnh thổ du lịch hợp lý sẽ góp

    phần tạo nên hiệu quả cao trong việc khai thác các tài nguyên du lịch nói

    riêng cũng như trong mọi hoạt động du lịch nói chung.

    Thứ hai, bảo vệ tài nguyên du lịch đóng vai trò quan trọng trong quá

    trình lưu giữ các di tích lịch sử và giá trị bản sắc văn hóa riêng của dân tộc.

    Di tích lịch sử văn hoá là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá

    14

    lâu đời của dân tộc, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc

    trưng văn hoá, về cội nguồn và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước

    hào hùng, vĩ đại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời là một bộ

    phận cấu thành kho tàng di sản văn hoá nhân loại.Với những giá trị như trên,

    các di tích lịch sử văn hoá là bộ phận đặc biệt trong cơ cấu “tài nguyên du

    lịch”. Các di tích đó, cả về mặt nội dung lẫn hình thức, đều có khả năng tạo

    nên sức hấp dẫn mạnh mẽ. Việc bảo tồn, lưu giữ tài nguyên du lịch góp phần

    giữ gìn bản sắc văn hóa riêng của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền khác nhau.

    Thứ ba, giữa tài nguyên du lịch với sự phát triển kinh tế – xã hội quốc

    gia có mối quan hệ tương hỗ.

    Phát triển du lịch mang lại nhiều lợi ích cho mỗi quốc gia. Nếu có một

    nguồn tài nguyên du lịch phong phú có thể giúp quốc gia đó phát triển các loại

    hình du lịch đa dạng, mạng lại nguồn thu nhập cao, qua đó tạo điều kiện cho

    kinh tế – xã hội phát triển. Hơn thế nữa, du lịch không những tạo ra của cải và

    việc làm cho nội bộ ngành Du lịch mà còn cho cả những ngành khác nữa. Vào

    thời điểm nhiều ngành kinh tế phải đối mặt với những khó khăn về tiêu dùng

    trong nước thì du lịch không những trực tiếp mang lại doanh thu từ xuất khẩu,

    mà còn gián tiếp tác động đáng kể thông qua chuỗi giá trị to lớn của ngành.

    Mặt khác, du lịch còn giúp giảm nghèo và hỗ trợ phát triển. Du lịch

    chiếm 45% kim ngạch xuất khẩu của các quốc gia đang phát triển và chính

    các quốc gia này với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú sẽ được hưởng

    lợi từ phát triển du lịch. Du lịch ngày càng trở thành một công cụ hiệu quả hỗ

    trợ phát triển. Có thể nói, du lịch đóng góp quan trọng và phát triển kinh tế

    bền vững gắn với bảo vệ môi trường. Một báo cáo của ông Taleb Rifai, Tổng

    thư ký Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) trong bài phát biểu tại Diễn đàn

    Kinh tế mới diễn ra vào ngày 23 tháng 01 năm 2013 tại thủ đô Madrid, Tây

    Ban Nha đã xác định du lịch là 1 trong 10 ngành góp phần quan trọng vào

    15

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khai Thác Và Bảo Vệ Tài Nguyên Du Lịch Ở Việt Nam
  • Tp. Điện Biên Phủ: Giải Pháp Nào Cho ‘bài Toán’ Bảo Vệ Môi Trường Đô Thị
  • Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Đô Thị Điện Biên
  • Bài Luận Tiếng Anh Về Chủ Đề Môi Trường
  • 5 Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Không Thể Không Làm
  • Cách Lập Bản Mô Tả Sáng Chế Hoặc Giải Pháp Hữu Ích Theo Pháp Luật Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Tham Khảo Nghiên Cứu, Học Tập Môn Giáo Dục Quốc Phòng An Ninh (Quốc Phòng 1)
  • Khái Niệm Về Sáng Chế/giải Pháp Hữu Ích
  • Top 10 Sáng Kiến Kinh Nghiệm Môn Âm Nhạc Tiểu Học Hay Nhất
  • Thủ Tục Sửa Đổi Đơn Đăng Ký Sáng Chế/giải Pháp Hữu Ích
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Môn Mỹ Thuật Đan Mạch
  • Cách lập bản mô tả sáng chế hoặc

    giải pháp hữu ích theo pháp luật Việt Nam

     

    Email: 

    [email protected]

     

    Giới thiệu chung

     

     

    Hướng dẫn cách lập bản mô tả sáng chế

     

    Vì bản mô tả là trung tâm của hồ sơ đăng ký sáng chế, với kinh nghiệm trên 10 năm cung cấp dịch vụ tư vấn và bảo hộ sáng chế ở Việt Nam, Bross & Partners giúp bạn hình dung các yêu cầu và cấu trúc của một bản mô tả đáp ứng yêu cầu bộc lộ toàn bộ và đầy đủ giúp đơn đăng ký của bạn tránh bị từ chối hoặc bị yêu cầu sửa chữa nhiều lần bởi Cục Sở hữu trí tuệ.

     

    1. Tên sáng chế/giải pháp hữu ích; 

    2. Lĩnh vực kỹ thuật được đề cập;

    3. Tình trạng kỹ thuật của sáng chế/giải pháp hữu ích;

    4. Mô tả bản chất kỹ thuật của sáng chế/giải pháp hữu ích;

    5. Mô tả vắn tắt các hình vẽ kèm theo, nếu có;

    6. Ví dụ thực hiện sáng chế/giải pháp hữu ích, nếu có;

    7. Yêu cầu bảo hộ.

     

    1. Tên sáng chế hoặc giải pháp hữu ích

     

    Tên sáng chế/giải pháp hữu ích phải ngắn gọn, rõ ràng, thể hiện vắn tắt dạng đối tượng, chức năng hoặc lĩnh vực kỹ thuật và bản chất của đối tượng đó và phải phù hợp với bản chất của sáng chế/giải pháp hữu ích như được thể hiện chi tiết ở phần “Mô tả bản chất kỹ thuật của sáng chế/giải pháp hữu ích” của Bản mô tả.

     

    2. Lĩnh vực kỹ thuật được đề cập

     

     

    3. Tình trạng kỹ thuật của sáng chế hoặc giải pháp hữu ích

     

    Phải nêu các thông tin về các giải pháp kỹ thuật đã biết tính đến ngày ưu tiên của Đơn tương tự (có cùng mục đích hoặc cùng giải quyết một vấn đề kỹ thuật) với sáng chế/giải pháp hữu ích nêu trong Đơn. Trên cơ sở các giải pháp đã biết đó,cần chỉ ra giải pháp có bản chất kỹ thuật gần giống nhất với sáng chế/giải pháp hữu ích nêu trong Đơn, mô tả tóm tắt bản chất giải pháp này và nêu các hạn chế,thiếu sót của giải pháp đó trong việc giải quyết vấn đề kỹ thuật hoặc đạt được mục đích mà sáng chế/giải pháp hữu ích nêu trong đơn đề cập tới. Nguồn của các thông tin nói trên phải được chỉ dẫn rõ ràng. Nếu không có thông tin về tình trạng kỹ thuật thì phải ghi rõ điều đó.

     

    4. Mô tả bản chất kỹ thuật của sáng chế hoặc giải pháp hữu ích

     

    Phần mô tả được mở đầu bằng đoạn trình bày mục đích mà sáng chế/giải pháp hữu ích cần đạt được hoặc vấn đề kỹ thuật mà sáng chế/giải pháp hữu ích cần phải giải quyết nhằm khắc phục các hạn chế, thiếu sót của giải pháp gần giống nhất đã biết nêu ở phần “Tình trạng kỹ thuật của sáng chế/giải pháp hữu ích”.

     

    Tiếp theo là mô tả các dấu hiệu cấu thành sáng chế/giải pháp hữu ích. Đặc biệt phải trình bày các dấu hiệu mới của sáng chế/giải pháp hữu ích so với giải pháp kỹ thuật gần giống nhất nêu ở phần “Tình trạng kỹ thuật của sáng chế/giải pháp hữu ích”.

     

    Các loại dấu hiệu có thể được sử dụng để mô tả phụ thuộc vào dạng sáng chế/giải pháp hữu ích:

    • Các dấu hiệu để mô tả sáng chế/giải pháp hữu ích dạng cơ cấu có thể là:

      • (i) chi tiết, cụm chi tiết và chức năng của chúng;

      • (ii) hình dạng của chi tiết,cụm chi tiết;

      • (iii) vật liệu làm chi tiết,cụm chi tiết;

      • (iv) kích thước của chi tiết,cụm chi tiết;

      • (v) tương quan vị trí giữa các chi tiết,cụm chi tiết;

      • (vi) cách liên kết các chi tiết,cụm chi tiết.

    • Các dấu hiệu để mô tả sáng chế/giải pháp hữu ích dạng chất rất khác nhau phụ thuộc vào cách thu được chất đó. Nhưng nói chung,các dấu hiệu của chất có thể là:

    • (i) các hợp phần tạo nên chất;

    • (ii) tỷ lệ các hợp phần;

    • (iii) công thức cấu trúc phân tử;

    • (iv) đặc tính hoá lý,v.v..

    • (i) các công đoạn;

    • (ii) trình tự thực hiện các công đoạn;

    • (iii) các điều kiện kỹ thuật (nhiệt độ,áp suất,thời gian,chất xúc tác,v.v.) để thực hiện các công đoạn

    • (iv) phương tiện/thiết bị để thực hiện các công đoạn…

    • Các dấu hiệu để mô tả sáng chế/giải pháp hữu ích dạng phương pháp có thể là:

     

    5. Mô tả vắn tắt các hình vẽ

     

     

    Mô tả chi tiết sáng chế hoặc giải pháp hữu ích 

     

    Tuỳ thuộc vào dạng sáng chế/giải pháp hữu ích:

    • Đối với cơ cấu: trước hết phải mô tả theo kết cấu (cơ cấu ở trạng thái tĩnh) có dựa vào các số chỉ dẫn có trên các hình vẽ, tức là phải trình bày tỷ mỷ các đặc điểm kết cấu. Sau đó, phải mô tả sự hoạt động của cơ cấu đó, tức là trình tự làm việc của nó, hoặc sự tương tác của các chi tiết, cụm chi tiết cấu thành nó.

    • Đối với phương pháp: Trước hết phải mô tả trình tự thực hiện các công đoạn (nguyên công/bước), điều kiện cụ thể để thực hiện công đoạn (nếu có).

    • Đối với chất: Tuỳ thuộc vào loại chất, phải mô tả các dấu hiệu đặc trưng của nó như công thức hoá học, các thành phần,v.v…Và mô tả tỷ mỷ từng đặc điểm của chúng sao cho có thể hiểu rõ và nhận biết được chúng.

    • Đối với dạng sử dụng: Mô tả chi tiết cách sử dụng đối tượng đó sao cho bất kỳ người nào quan tâm đều có thể sử dụng được với kết quả như người nộp đơn dự định.

     

    6. Ví dụ thực hiện sáng chế hoặc giải pháp hữu ích

    6.1 Ví dụ

     

    Trong phần này cần chỉ ra một hoặc một vài ví dụ thực hiện sáng chế/giải pháp hữu ích để chứng minh khả năng áp dụng của sáng chế/giải pháp hữu ích.

     

    6.2 Hiệu quả đạt được

     

    Trong phần này nên đưa ra các hiệu quả kỹ thuật-kinh tế của sáng chế/giải pháp hữu ích để chứng minh ưu điểm của nó so với giải pháp kỹ thuật đã biết. Hình vẽ phải được thể hiện theo các quy định về vẽ kỹ thuật.

     

    7. Yêu cầu bảo hộ

     

    • Chức năng của Yêu cầu bảo hộ là dùng để xác định phạm vi (khối lượng) bảo hộ của sáng chế hoặc giải pháp hữu ích.

    • Yêu cầu bảo hộ phải:

      • (i) phù hợp với Bản mô tả và Hình vẽ;

      • (ii) chứa các dấu hiệu cơ bản của sáng chế hoặc giải pháp hữu ích đủ để đạt được mục đích hoặc giải quyết nhiệm vụ đặt ra;

      • (iv) không được chứa hình vẽ;

      • (v) mỗi điểm độc lập của Yêu cầu bảo hộ chỉ được đề cập tới một đối tượng yêu cầu bảo hộ.

    • Cấu trúc của Yêu cầu bảo hộ

      Yêu cầu bảo hộ có thể có một hay nhiều điểm độc lập (tương ứng với số lượng sáng chế/giải pháp hữu ích trong Đơn), mỗi điểm độc lập có thể có các điểm phụ thuộc.

      Mỗi điểm độc lập của Yêu cầu bảo hộ chứa đầy đủ các dấu hiệu cơ bản cần và đủ để xác định phạm vi bảo hộ của một sáng chế/giải pháp hữu ích.

      Điểm phụ thuộc viện dẫn đến điểm độc lập mà nó phụ thuộc vào, tức là chứa tất cả các dấu hiệu của điểm đó và còn chứa thêm các dấu hiệu bổ sung nhằm cụ thể hoá hoặc phát triển các dấu hiệu nêu trong điểm độc lập.

    • Cách lập Yêu cầu bảo hộ:

      Mỗi điểm độc lập trong yêu cầu bảo hộ cần phải được viết thành một câu và nên (nhưng không bắt buộc) gồm hai phần:

      phần thứ nhất, gọi là phần giới hạn,gồm tên đối tượng và các dấu hiệu cần để xác định sáng chế/giải pháp hữu ích và trùng với các dấu hiệu của đối tượng đã biết nêu ở phần tình trạng kỹ thuật;

      phần thứ hai, gọi là phần khác biệt, bắt đầu bằng các từ “khác biệt ở chỗ” hoặc “đặc trưng ở chỗ” hoặc các từ tương đương khác và chỉ ra các dấu hiệu khác biệt của sáng chế hoặc giải pháp hữu ích mà các dấu hiệu này khi kết hợp với các dấu hiệu đã biết ở phần giới hạn tạo nên sáng chế hoặc giải pháp hữu ích.

     

    8. Bản tóm tắt

     

    Phần tóm tắt, được dùng để công bố, là phần trình bày ngắn gọn (không quá 150 từ) về bản chất của sáng chế hoặc giải pháp hữu ích đã được bộc lộ trong Bản mô tả, Yêu cầu bảo hộ và Hình vẽ nhằm cung cấp các thông tin tóm tắt về sáng chế/giải pháp hữu ích. Bản tóm tắt có thể được minh hoạ bằng hình vẽ đặc trưng.

     

     

     

     

    Nhóm chuyên gia kỹ thuật của Bross & Partners có năng lực và kinh nghiệm hỗ trợ khách hàng chuẩn bị bản mô tả sáng chế, tra cứu xác định tính mới và trình độ sáng tạo, dự đoán khả năng sử dụng tự do giải pháp kỹ thuật không xâm phạm quyền độc quyền sáng chế của bên thứ 3 (FTO), chuẩn bị và vào pha quốc gia của đơn sáng chế quốc tế (đơn PCT). Nếu Quý khách hàng có nhu cầu cụ thể cần được tư vấn, vui lòng liên hệ [email protected] hoặc điện thoại 0903 287 05784-4-3555 3466

     

    [2] Nếu trình độ sáng tạo được xem là không đáp ứng, đơn đăng ký của bạn có thể được bảo hộ dưới dạng bằng độc quyền giải pháp hữu ích có thời hạn bảo hộ 10 năm miễn là 2 điều kiện còn lại phải đáp ứn

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Số Hóa Văn Phòng Là Gì?
  • Tổng Hợp Đề Tài Sáng Kiến Kinh Nghiệm Về Công Tác Chủ Nhiệm
  • Thủ Tục Duy Trì Hiệu Lực Văn Bằng Bảo Hộ Sáng Chế/giải Pháp Hữu Ích
  • Thời Gian Và Hiệu Lực Đăng Ký Giải Pháp Hữu Ích
  • Điều Kiện Để Sáng Chế Được Bảo Hộ Tại Việt Nam
  • Cơ Cấu Tổ Chức, Biên Chế Của Báo Pháp Luật Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Rõ Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Lực Lượng Cảnh Sát Biển Việt Nam
  • Bản Chất Và Vai Trò Của Pháp Luật
  • Văn Bản Pháp Luật Là Gì? Đặc Điểm Của Văn Bản Pháp Luật?
  • Các Điều Kiện Để Đảm Bảo Tính Khả Thi Của Văn Bản Pháp Luật
  • Văn Bản Áp Dụng Pháp Luật Và Đặc Điểm Của Văn Bản Áp Dụng Pháp Luật
  • Thụy Xuyến (xuyen_***@gmail.com)

      Cơ cấu tổ chức, biên chế của Báo Pháp luật Việt Nam được quy định tại Điều 3 Quyết định 1158/QĐ-BTP năm 2022 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Báo Pháp luật Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành như sau:

      1. Cơ cấu tổ chức của Báo, gồm:

      a) Lãnh đạo Báo:

      Lãnh đạo Báo gồm Tổng Biên tập và không quá 03 (ba) Phó Tổng biên tập.

      Tổng Biên tập chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng và trước pháp luật về việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Báo.

      Các Phó Tổng biên tập giúp Tổng Biên tập quản lý, điều hành hoạt động của Báo; được Tổng Biên tập phân công trực tiếp quản lý, điều hành một số lĩnh vực hoạt động của Báo; chịu trách nhiệm trước Tổng Biên tập và trước pháp luật về việc quản lý, điều hành những lĩnh vực công tác được phân công.

      b) Các đơn vị trực thuộc Báo

      – Ban Thư ký toà soạn;

      – Ban Thời sự chính trị;

      – Ban Kinh tế;

      – Ban Nội chính;

      – Ban Văn hóa – Xã hội;

      – Ban Bạn đọc;

      – Ban Doanh nhân và Pháp luật;

      – Ban Báo Pháp luật điện tử;

      – Ban Chuyên đề báo in;

      – Ban Chuyên đề báo điện tử;

      – Ban Trị sự;

      – Phòng Kế hoạch – Tài chính.

      Việc thành lập, tổ chức lại, giải thể các đơn vị trực thuộc Báo tại điểm này do Bộ trưởng quyết định trên cơ sở đề nghị của Tổng Biên tập Báo và Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ.

      c) Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ và phát triển, Tổng biên tập quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp trực thuộc để hoạt động dịch vụ theo quy định của pháp luật; quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể văn phòng đại diện tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sau khi được Bộ trưởng phê duyệt chủ trương theo quy định của Luật báo chí.

      d) Tổng Biên tập quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và mối quan hệ công tác của các đơn vị thuộc Báo.

      2. Số lượng người làm việc (biên chế sự nghiệp) của Báo thuộc biên chế sự nghiệp của Bộ Tư pháp, do Tổng Biên tập quyết định theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ.

      Trân trọng!

    --- Bài cũ hơn ---

  • 【Havip】Bản Chất Của Pháp Luật Là Gì?
  • Chức Năng Của Pháp Luật Là Gì ? Khái Niệm Về Chức Năng Của Pháp Luật
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Bộ Công Thương Theo Quy Định Pháp Luật
  • Đề Tài Phân Tích Vai Trò Của Pháp Luật Đối Với Kinh Tế Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tiểu Luận Phân Tích Vai Trò Của Pháp Luật Đối Với Kinh Tế Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Luật Chơi Ma Sói Ultimate Deluxe Việt Hoá

    --- Bài mới hơn ---

  • Ma Sói Mở Rộng: Lời Nguyền Trăng Máu
  • Giai Phau Sinh Ly He Ho Hap
  • Đặc Điểm, Phát Triễn, Giải Phẫu, Sinh Lý Hệ Hô Hấp Trẻ Em
  • Chức Năng Tuyến Giáp Là Gì? Ý Nghĩa Xét Nghiệm Chức Năng Tuyến Giáp
  • Tuyến Giáp Và Chức Năng Nội Tiết Quan Trọng Của Cơ Thể?
  • Published on

    Link chi tiết: http://boardgame.vn/ma-soi/ma-soi-ultimate-deluxe-663

    Trò Chơi Board Game Ma Sói Ultimate Deluxe (Việt Hoá) là trò chơi ma sói phiên bản đặc biệt, bạn có thể chơi ở bất cứ đâu, từ 5 đến 75 người chơi. Mỗi người chơi sẽ có 1 vai trò khác nhau: nếu là dân làng, hãy tìm ra các con sói; nếu là sói, hãy thuyết phục những người khác rằng bạn vô tội, cùng lúc đó bí mật ăn thịt dân làng vào các đêm. Ngoài ra còn rất nhiều chức năng đặc biệt khác trong trò chơi, sẽ giúp dân làng có thêm thông tin, và giúp các con sói ẩn mình, đạt được mục đích.

    Trò chơi bao gồm hơn 40 chức năng đặc biệt, 18 kịch bản khác nhau để setup, một bộ gồm 78 lá bài, một tờ giấy ghi chú giúp cho quản trò dễ dàng theo dõi trò chơi, một bộ luật chi tiết về nhân vật, chiến thuật nâng cao. Trò chơi bao gồm tất cả những gì bạn cần để có thể chơi với một nhóm nhỏ, hoặc tụ tập một nhóm người chơi rất lớn giữa quảng trường, hay là một hoạt động tập thể trong giờ sinh hoạt.

    1. 4. Hai người đầu tiên bị nghi ngờ và sau đó sẽ có biểu quyết. Quản trò quyết định người đầu tiên là  ,và người thứ 2 là . Người chơi sẽ biểu quyết, và người nào có số phiếu nhiều nhất sẽ bị treo cổ. Nếu hòa, cả 2 đều bị treo cổ. Biến thể này đảm bảo ít nhất 1 lần treo cổ trong mỗi ngày và khiến game nhanh hơn. Một người chơi sẽ chỉ ra 1 người mà mình tin tưởng, và khẳng định cho mọi người rằng không là sói. Vào lúc này, mọi người chơi (kể cả người đã lên tiếng tin tưởng) giơ tay lên, ngoại trừ người được tin tưởng. Sau đó người được tin tưởng chỉ ra 1 người khác mà mình tin tưởng, người đó sẽ bỏ tay xuống, và tiếp tục cho tới khi chỉ còn 1 người vẫn giơ tay. Người vẫn đang giơ tay đó không được ai tin tưởng và anh ta sẽ phải lên giàn treo. Các cuộc tranh luận đều được khuyến khích xảy ra cho đến khi chọn được người cuối cùng. Mỗi người chơi ghi ra tên của người chơi khác. Quản trò sẽ đọc to các phiếu kín này, người nào nhận được nhiều phiếu nhất sẽ bị treo cổ. Nếu 2 hoặc nhiều hơn người chơi có cùng số phiếu áp đảo nhưng hòa, sẽ có 1 cuộc bỏ phiếu lại, nhưng những người chơi sẽ chỉ bỏ phiếu những người có phiếu hòa trước đó thôi. Nếu tiếp tục hòa thì những người đó sẽ cùng lên giàn. Để giữ cho game luôn thú vị, bạn có thể dùng các biến thể này để thay đối mỗi ngày. Khi game diễn ra chậm, hoặc đơn giản là bạn muốn giữ cho game luôn thú vị, chọn 1 trong các biến thể ban ngày sau cho mỗi ngày tiếp theo. tri, và người tiên tri thiệt thì không thể chứng minh được điều này…thậm chí bạn có thể có 2 hoặc nhiều hơn người chơi nhận mình là tiên tri trong cùng 1 thời điểm, và mọi người sẽ không chắc chắn ai trong số họ là tiên tri thực sự, thậm chí sau khi họ chết đi) Với việc không lật bài này, bạn có thể nhận bừa nhiều hơn các chức năng đặc biệt trong ULTIMATE WEREWOLF, nhưng người chơi sẽ không thể dễ dàng nhận chức năng bởi vì không ai biết chắc được là các chức năng mình sắp sửa nhận bừa có chết hay chưa ? Có một vài chức năng, như là Sói Cô Đơn và Tên Đần Độn, sẽ khá hay nếu chức năng này “có thể” có trong game. Nếu chơi các chức năng này, người chơi cần phải có kinh nghiệm và đã quen với các chức năng thông dụng. Đồng nghĩa với việc sẽ có nhiều chức năng hơn bình thường. Nhưng thay vào đó, có thể sẽ thú vị hơn vì số lượng Sói tăng lên giúp sói mạnh hơn Dân. Nếu thiết lập một game số lượng sói và các chức năng bất định, ta trộn các chức năng + Sói mà bạn muốn chơi với số lượng Dân Thường bất kì (càng nhiều Dân Thường, phe Sói càng lợi), và ngẫu nhiên lấy số lượng bài bằng với số lượng người chơi. Là một Quản Trò, bạn có thể xem qua những lá bài trước khi trộn lên, nhớ rằng không bao giờ trộn lá Tiên Tri và tất cả lá Sói chung với các chức năng khác. Bạn luôn luôn muốn ít nhất có 1 Tiên Tri và 1 Sói trong game ! Thay đổi số lượng bao nhiêu phiếu biểu quyết được tính và bao nhiêu người bị treo cổ có thể giúp game thú vị hơn, và cũng giúp cho đẩy nhanh hoặc kéo chậm game. Các biến thể sau giúp bạn thay đổi cách biểu quyết thông thường. CH C NĂNG/ SÓI B T Đ NH BI U QUY T & TREO C TREO C 2 NGƯ I LO I B THEO TRÌNH T B PHI U BÍ M T THAY Đ I M I NGÀY
    2. 7. CÂN B NG GAME Đ NG VAI B N GHI CHÚHƯ NG D N QU N TRÒ Bản ghi chú giúp quản trò theo dõi các chức năng và các trường hợp đặc biệt tùy thuộc vào các chức năng và biến thể mà bạn đang chơi. Khi bạn thiết lập game, lên danh sách các chức năng ở cột bên trái. Khoanh tròn các chức năng nào sẽ được gọi dậy mỗi đêm. Điền các chức năng theo thứ tự họ được gọi dậy (VD : Sói dậy trước Phù Thủy) Vào đêm đầu tiên, khi tên của người chơi với chức năng tương ứng vào cột phải. Nếu người đó không dùng thẻ tên hoặc bảng tên và bạn thì không biết tên của họ, ghi các dấu hiệu đặc trưng như “Áo Bông” để giúp bạn nhớ người đó là chức năng nào. Dùng các cột trống để theo dõi nạn nhân (Điều này thực sự hữu ích trong game vì nhiều chức năng được gọi dậy trong đêm nên bạn có thể không nhớ ai bị giết), người bị mê hoặc, và những sự kiện quan trọng khác. Vài chức năng cần phải đụng vào vai họ để báo cho họ biết rằng họ đã có chức năng mới, năng lực mới hoặc những cái khác. Xem như là 1 luật lệ, nói với người chơi rằng nếu họ bị đụng vào vai thì họ nên mở mắt ra. Đụng vào vai khi đang “gọi” 1 thứ gì đó ví dụ như truyền Mề Đay, báo cho Tiên Tri Tập Sự biết Tiên Tri đã chết và cô ấy thành Tiên Tri, nói cho ai đó biết họ đã bị thôi miên…. Mỗi chức năng khác nhau đều , có sự ảnh hưởng đến các phe 1 khác nhau, dựa vào con số ở 1 phía góc dưới tay trái mỗi lá bài. Số dương càng cao, thì càng có lợi cho Dân Làng; số càng âm, thì càng có lợi cho phe Sói. Các con số đó sẽ giúp game cân bằng hơn nếu giữ tổng các lá bài có Là 1 quản trò, bạn có trách nhiệm phải thu xếp mọi thứ, chọn chức năng phù hợp cho nhóm của bạn, giải thích trò chơi và trả lời những câu hỏi, và dẫn họ vào trò chơi. Khuyên bạn nên thử tham gia là 1 người chơi trong game ULTIMATE WEREWOLF trước khi bạn là quản trò, nhưng điều này không cần thiết. Mỗi Quản Trò đều có phong cách riêng; vài người dẫn dắt game như 1 câu truyện rùng rợn; vài người thì cố gắng tham gia vào game càng ít càng tốt để nó có thể tự tạo 1 câu truyện riêng. Không có đúng hay sai trong việc quản game, và người chơi sẽ không thể hướng bạn vào 1 lối quản game nào được. Cố gắng giữ cho nơi chơi game ULTIMATE WEREWOLF yên tĩnh nhất có thế, hạn chế số lượng nhiều làng chơi trong 1 phòng (trừ khi phòng đủ lớn cho phép 2 làng cùng chơi mà không ảnh hưởng nhau) Sắp xếp ghế theo hình tròn, cho người chơi khoảng trống mỗi bên. Vài Quản Trò thì thích có 1 cái bàn (hoặc nhiều bàn) ở giữa mấy cái ghế, để mọi người dễ dàng để bảng tên của mình và để bài. Vài Quản Trò thì thích tạo nhiều không gian giữa các người chơi để có thể cho phép quản trò đi lại dễ dàng. Nếu có thể, hãy tạo khoảng trống sau lưng người chơi để quản trò có thể đi sau lưng người chơi và nếu người chơi bị giết có thể di chuyển ra khỏi nhưng vẫn có chỗ để quan sát game. Nếu bạn đang chơi với những người mới không biết nhau, cung cấp cho họ 1 bảng tên (1 bảng giấy để bàn). Bảng tên hay thẻ tên trên mỗi người sẽ giúp ích rất nhiều. THI T L P PHÒNG CHƠI
    3. 9. chúng là Sói Cô Đơn. 6 Dân, 1 Tiên Tri, 1 Phù Thủy, 1 Sói, 1 Sói Cô Đơn, 1 Pháp Sư Những bí mật đã phủ lấp ngôi làng, với những siêu dân, kẻ bị nguyền rủa, cặp đôi yêu nhau, Người Phù Phép khiến mọi thứ im lặng, và Trưởng Giáo Phái làm việc mỗi đêm. 4 Dân Thường, 1 Tiên Tri, 1 Tiên Tri hào quang, 2 Sinh Đôi, 1 Cupid, 1 Người Phù phép, 1 Người Hóa Sói, 2 sói, 1 kẻ Bị Nguyền Rủa, 1 Trưởng Giáo Phái Đây chính xác là 1 game bạn muốn sau khi bạn đã hoàn thành được 1 game cơ bản đầu tiên; nó cần đến 1 vài chức năng mà chúng kết hợp với nhau khá tốt. Bản set game này có thể cùng sử dụng biến thế “Làng nhỏ – Bí mật lớn” 8 Dân Thường, 1 Tiên Tri, 1 Phù Thủy, 1 Thợ Săn, 1 Thị Trưởng, 3 Sói, 1 Pháp Sư Sói Tất cả các thể loại điên khùng nhất sẽ có trong làng, rất nhiều phe được tạo ra để dành chiến thăng cho riêng mình. 6 dân thường, 1 tiên tri, 1 kẻ 1 phá rối, 1 thị trưởng, 1 Tiên Tri Hào Quang, 1 bảo vệ, 1 Phù Thủy Già, 4 sói, 1 phản bội, 1 tiên tri sói, 1 Trưởng Giáo Phái, 1 chán đời, 1 du côn. Tiên Tri Tập Sự trở thành Tiên Tri vào đêm 2 7 dân thường, 1 tiên tri tập sự, 1 phù thủy, 1 Người Phù Phép, 1 người yêu hòa bình, 1 P.I, 1 Ma, 1 ông già, 1 Người Bệnh, 1 hoàng tử, 4 sói, 1 kẻ bị nguyền rủa, 1 say rượu. Dùng kịch bản bên dưới để có thể dễ dàng thiết lập chức năng hợp lý cho game. Nếu bạn hoặc các nhóm đều là người mới chơi, thì tốt hơn hết là bạn nên chơi với ít chức năng đặc biệt thôi. Nếu bạn có nhiều thời gian thì bạn nên chơi 1 game cơ bản trước (có chi tiết ở phần Game Cơ Bản bên dưới) chỉ với Dân Thường, Sói và Tiên Tri, và sau đó thêm các chức năng khác trong các game sau. Các kịch bản có thể đưa ra số lượng người chơi, nhưng bạn có thể dễ dàng chơi theo kịch bản đó với số lượng khác bằng cách thêm vào hoặc bỏ ra bớt chức năng tùy ý. Nhớ dùng giá trị của chức năng (góc dưới bên trái) để cân bằng game. Tất cả người chơi được đếm không bao gồm quản trò. Ngôi làng nhỏ này chỉ có 1 sói hoặc cũng có thể là 1 pháp sư. Trong game này, Tiên tri không thức dậy đêm đầu nhưng sói/Pháp Sư Sói thì có thể. 3 dân thường, 1 tiên tri, 1 Sói/Pháp Sư Sói Dân làng chỉ có vài ngày để tìm và giết cả 2 sói, nhưng Phù Thủy Già sẽ phải đuổi 1 người ra khỏi làng vào mỗi sáng. 5 Dân Thường, 1 Tiên Tri, 1 Phù Thủy Già, 2 Sói Một con sói được trà trộn vào làng bởi Pháp Sư Sói và cùng với 1 Người Hóa Sói (giúp cho tiên tri rối). Liệu dân làng sẽ chiến đấu như thế nào ? 5 Dân Thường, 1 Tiên Tri, 1 Người Hóa Sói, 1 Thợ Săn, 1 Sói, 1 Pháp Sư Sói Ngôi làng nhỏ này có 2 sói, nhưng 1 trong số K CH B N LÀNG C A TIÊN TRI (5) LÀNG NH – BÍ M T L N (15) LÀNG ĂN CHƠI (21) LÀNG SÓI ĐI N HÌNH (16) LÀNG C A S YÊN BÌNH (22) LÀNG C A CÁI CH T (9) LÀNG C A S LƯ NG L (10) LÀNG C A S Đ N T I (11)
    4. 10. Đây là cách setup làng cơ bản cho 1 nhóm lớn dựa trên luật nền tảng nhất. 10 dân thường, 1 tiên tri, 1 thị trưởng, 1 hoàng tử, 1 ma, 1 tiên tri tập sự, 1 phù thủy, 1 người bệnh, 1 thiếu nữ, 1 người cứng cỏi, 1 thợ săn, 1 thần tình yêu, 1 phù thủy già, 1 ông già, 1 trưởng giáo phái, 1 chán đời, 6 sói, 1 kẻ bị nguyền rủa, 1 pháp sư sói. Với cách setup này, bạn không nên chơi kiểu lật bài người chơi khi họ chết. Mọi người sẽ không cần biết thân phận nhau, nhóm nhỏ Ma cà rồng sẽ giải quyết vấn đề đó cho họ. 10 dân thường, 1 tiên tri, 1 Người Hóa Sói, 1 phù thủy, 3 sinh đôi, 1 Tiên Tri Hào Quang, 1 P.l, 1 Người Phù Phép, 1 thầy tu, 1 Bảo vệ, 1 thằng ngốc, 1 người yêu hòa bình, 1 kẻ phá rối, 6 sói, 1 phản bội, 1 Sói Cô Đơn, 3 ma cà rồng. Cách set này có 3 phe (ma cà rồng, sói và dân), và chơi sẽ nhanh hơn vì các chức năng gọi trong đêm sẽ giới hạn lại. 15 dân thường, 1 tiên tri, 1 thợ săn, 1 Người Cứng Cỏi, 3 siêu dân, 1 thằng ngốc, 1 thiếu nữ, 1 hoàng tử; 1 Người Hóa Sói, 1 tiên tri tập sự, 1 thị trưởng, 4 ma cà rồng, 4 sói, 1 kẻ bị nguyền rủa (ma cà rồng hoặc sói) Đây là 1 làng rất lớn với 2 phe. Đó là sức mạnh dân làng bấy lâu nay đấu với phe bóng tối hùng mạnh hơn. Ở làng 20 người, thêm Ma và Kẻ Phá Rối để thêm hiệu ứng phụ cho game và tăng tốc độ game 6 dân thường, 1 tiên tri, 1 phù thủy, 1 thợ săn, 1 thị trưởng, 2 sinh đôi, 1 ma, 1 kẻ phá rối, 2 sói, 1 sói con, 1 tiên tri sói, 1 Sói Cô Đơn, 1 say rượu Nhà tiên tri đã biến mất, vì thế trọng trách tìm sói của dân làng trở nên nặng nề hơn. Tuy nhiên, sẽ có các nhân vật khác trỗi dậy để trợ giúp dân làng 5 dân thường, 1 tiên tri hào quang, 1 phù thủy, 1 thợ săn, 1 P.I, 1 Bảo vệ, 1 thần tình yêu, 1 ma, 1 pháp sư câm, 1 thị trưởng, 1 thiếu nữ, 1 bà già, 1 người yêu hòa bình, 1 thằng ngốc, 4 sói, 1 kẻ bị nguyền rủa. Ngôi làng có khá nhiều tình tiết diễn ra, với 5 sói và 1 Người Hóa Sói 7 dân thường, 1 tiên tri, 1 phù thủy, 1 thợ săn, 1 thần tình yêu, 2 sinh đôi, 1 thầy tu, 1 thiếu nữ, 1 lực sĩ, 1 chết oan, 4 sói, 1 sói con. Ma Cà Rồng đã giữ quyền kiểm soát ngôi làng, và 1 con sói giết mỗi người trong làng mỗi đêm. Kẻ phản bội đã về bên phe ma cà rồng, và tiên tri sói vẫn trung thành với phe của mình. Thợ săn trở thành thợ săn ma cà rồng; nếu anh ta giết được 1 con ma cà rồng, thì con ma cà rồng ở gần anh ta cũng sẽ chết theo. 7 dân thường, 1 tiên tri, 1 phù thủy, 1 bảo vệ, 1 thợ săn ma cà rồng, 2 siêu dân, 1 ma, 1 Người Cứng Cỏi, 1 thị trưởng, 1 hoàng tử, 1 thằng ngốc, 1 P.I, 4 ma cà rồng, 1 phản bội, 1 say rượu, 1 sói, 1 tiên tri sói LÀNG C A S TRANH LU N (20) LÀNG V NG BÓNG TIÊN TRI (22) LÀNG C A S ĐAU Đ N (22) LÀNG C A MA CÀ R NG (27) LÀNG C A S ĐOÀN K T(33) LÀNG L N – BÍ M T NH (35) LÀNG C A S CÁM D (38) LÀNG V I NH NG DI N BI N B T NG (50)
    5. 12. set game, bạn nên set sao cho tổng con số đó trên tất cả các lá bài trong game tiến gần đến 0 nhất có thể. Nếu số âm thì game sẽ khó khăn hơn cho dân làng, ngược lại nếu dương sẽ giúp cho dân làng nhiều hơn. Ở phần chính giữa lá bài là tên của chức năng đó, với màu sắc của phe đó. Phe dân làng màu xanh dương và phe sói là màu đỏ. Vài chức năng khác ở phe khác, và vài chức năng sẽ có khả năng thay đổi phe; những chức năng đó sẽ được chi tiết sau. Nếu có chức năng nào có hơn 1 lá trong bộ bài; thì sẽ được ghi chú số lượng ở phía sau mỗi tên của chức năng đó. Phía bên phải là mức độ hoạt động của chức năng đó về đêm. Trăng tròn là sẽ được gọi dậy mỗi đêm, trăng khuyết sẽ chỉ được gọi dậy đêm đầu. Nếu không có trăng, chức năng đó sẽ không thức dậy vào ban đêm. Những chức năng này đều làm việc hỗ trợ phe dân làng dành chiến thắng. Trong tất cả các game, phe dân làng luôn có số lượng lớn nhất, nhưng phe dân làng khó nhận biết lẫn nhau hơn là phe sói. Chẳng ai biết được ai thuộc phe sói và họ cũng chẳng biết được ai theo phe mình. Tiên tri tập sự trở thành tiên tri nếu tiên tri chết Tiên tri tập sự được đánh thức khi mà tiên tri được gọi dậy, sau đó quản trò thông báo tiên tri tập sự là tiên tri vì tiên tri đã chết rồi. (sẽ bị đụng vào vai gọi dậy trong lượt gọi tiên tri vào ban đêm, nếu tiên tri đã chết) Biến Thể: thêm vào đó, tiên tri tập sự chỉ định 1 người mỗi đêm, nhưng chỉ cho họ biết người được chỉ định là sói hay không nếu người đó được chỉ định lần thứ 2. Nếu chơi theo cách này quản trò cần phải ghi chú lại rõ ràng. Điều này sẽ khiến tiên tri tập sự hỗ trợ 1 phần cho tiên tri khi tiên tri chưa chết. Tiên Tri Hào Quang tìm kiếm người chơi có chức năng, không phải dân thường hay sói. Quản trò nên xác định rõ số lượng chức năng có trong game. Càng nhiều chức năng trong game, thì chức năng này càng mạnh. Hãy chắc rằng có ít nhất 1 chức năng “xấu”, để Tiên Tri Hào Quang không bỏ qua những người có chức năng. Biến thể: (Tiên Tri Hào Quang có thể được chơi như sau) biết được người vừa được chỉ đình có thuộc phe dân hay không. Cách chơi này chỉ được sử dụng khi mà có 1 lượng lớn chức năng không thuộc phe dân (ít nhất thêm vào 3 phe cùng với sói). Kẻ bị nguyền rủa, Nhân bản và Say rượu được xem như là phe riêng. Bảo vệ chọn 1 người khác nhau mỗi tối (nhưng không được chọn người giống nhau 2 lần liên tiếp), người đó sẽ bất tử vào ban đêm Biến thể: bảo vệ chỉ có thể bảo vệ 1 người 1 lần Biến thể 2: người được bảo vệ không bị chết vào ngày hôm sau (bị treo cổ hay các lý do khác) Thần Tình Yêu thức dậy đêm đầu và chọn 2 người (có thế chọn chính mình). 2 người được chọn sẽ trở thành người yêu của nhau và biết người kia chức năng là gì (xem “cặp đôi”, trong phần “Hoán Đổi Phe” bên dưới), nếu 1 người chết đi, người kia sẽ chết ngay lập tức vì vỡ nát con tim. Biến thế: Xem Thìn Tình Yêu như 1 lá dư khi PHE DÂN LÀNG BODYGUARD (B O V ) CUPID (TH N TÌNH YÊU) APPRENTICE (TIÊN TRI T P S ) AURA SEER (TIÊN TRI HÀO QUANG) -3 +3 +3 +4
    6. 16. Sói Con là Sói, và dậy chung với Sói mỗi đêm. Nếu Sói con bị giết, Sói còn lại sẽ giết 2 người vào đêm sau. Sói có thể chọn giết Sói Con vào ban đêm (Tất cả các Sói và Sói Con phải thống nhất Sói Con là mục tiêu). Và trả giá cho sự hy sinh này, Sói có thể chọn 2 nạn nhân khác để giết ngay lập tức sau khi chọn giết sói Con vào đêm đó. Hằng đêm, thức dậy cùng những con Sói khác. Đêm đầu tiên, hãy chọn ra một người chơi khác làm người đồng hành. Nếu bạn đồng hành chết, bạn cũng sẽ chết theo. Hằng đêm, thức dậy cùng những con Sói khác. Bạn chỉ thắng nếu như bạn là người cuối cùng trong trò chơi. Hằng đêm, thức dậy cùng những còn Sói khác. Nếu bạn là con Sói cuối cùng còn sống, bạn không chọn ra người chơi nào để ăn thịt. Đêm đầu tiên, hãy thức dậy cùng những con Sói khác. Nếu vẫn còn những con Sói khác trong trò chơi, bạn sẽ không thức dậy vào những đêm tiếp theo, cho đến khi chỉ còn mình bạn. Phe sói hầu hết nhận biết được nhau (trừ những chức năng đặc biệt). Cải trang và giả danh để trà trộn vào người trong dân làng, ban đêm tỉnh dậy và đi săn,… thật thú vị. Pháp Sư Sói tìm Tiên Tri mỗi đêm (Quản Trò ra hiệu Pháp Sư Sói chỉ đúng Tiên Tri). Sói không được biết Pháp Sư Sói là ai, và Pháp Sư Sói không biết Sói là ai. Tiên Tri sẽ soi Pháp Sư Sói ra người. Chức năng này không cần đến 1 lá bài để chơi. Đêm đầu tiên, Sói chọn 1 người chơi, và người đó trở thành Phản Bội và theo phe Sói. Người chơi đó sẽ biết Sói là ai, nhưng không dậy cùng Sói vào ban đêm. Tiên Tri soi Phản Bội ra người. Nếu Phản Bội có chức năng đặc biệt, thì chức năng đó vẫn giữ nguyên (Vì thế có khả năng có Tiên Tri Phản Bội, trường hợp này, sẽ rất bất lợi cho dân làng). Nếu bạn chơi với cả 2 phe Ma Cà Rồng và sói, mỗi phe có thể có 1 Phản Bội. Biến thể: Phát lá bài Phản Bội như bình thường, và cho Phản Bội biết Sói là ai, và cho Sói biết Phản Bội là ai. Sói sẽ được biết những con khác vào đêm đầu tiên. Mỗi đêm sau đêm đầu, Sói phải thống nhất 1 nạn nhân để giết. Nếu Sói quyết định lâu hơn 1 phút hoặc không chọn giết ai, thì đêm đó sẽ không có ai chết. Sói không thể chọn giết 1 sói khác. PHE SÓI PHE SÓI SORCERESS (PHÁP SƯ SÓI) MINION (K PH N B I) WEREWOLF (SÓI) WOLF CUB (SÓI CON) DIRE WOLF (SÓI TUY T) LONE WOLF (SÓI CÔ ĐƠN) FRUIT BRUTE (SÓI ĂN CHAY) FANG FACE (NANH SÓI) -8 -4 -5 -3 -5 -6 -6 -6
    7. 17. Hằng đêm, thức dậy cùng với Sói. Nếu bạn là con Sói ngồi gần nạn nhân nhất, những người chơi khác sẽ nghe thấy tiếc kim loại chạm vào nhau. Những chức năng này có thể là 2 chức năng 1 lúc, hoặc họ có 1 thê đổi từ phe này sang phe khác. Kẻ Bị Nguyền Rủa ban đìu theo phe Dân (và lúc đó Tiên Tri soi ra người). Nếu Kẻ Bị Nguyền Rủa bị Sói cắn, thì người đó không chết, nhưng thay vào đó sẽ hóa Sói vào đêm tiếp theo (và từ lúc đó trở đi Tiên Tri sẽ soi ra sói). Quản trò gọi Kẻ Bị Nguyền Rủa mỗi đêm dậy riêng biệt (kể cả sau khi đã hóa Sói) và cho người đó biết đã hóa Sói hay chưa. Nếu có phe Ma Cà Rồng, Kẻ Bị Nguyền Rủa trở thành Ma Cà Rồng nếu bị Ma Cà Rồng cắn vào ban đêm. Nhân Bản chọn 1 người chơi vào đêm đầu tiên. Nếu người đó bị giết trong đêm, Nhân Bản bí mật lấy chức năng đó. Cho đến khi người mà Nhân Bản chọn chết vào ban đêm (hoặc nếu người đó bị giết vào ban ngày), Nhân Bản theo phe Dân làng. Quản Trò sẽ bí mật thông báo cho Nhân Bản biết chức năng mới khi người kia chết đi. Tiên Tri sẽ soi Nhân Bản ra người. Biến thể: Nhân Bản chọn 1 người chơi đêm đầu tiên và cô ta lập tức trở thành chức năng đó (cả 2 người có cùng chức năng). Nhân Bản phải được gọi dậy mỗi đêm khi dùng biến thể này để cho phép cô ta thực hiện chức năng (nếu cô ta không có chức năng để thực hiện, cô ta vẫn được gọi dậy để người chơi khác không đoán được chức năng cô ta là gì) Say Rượu nghĩ anh ra là 1 Dân Thường trong 2 ngày đầu, và sẽ không biết anh ta thực sự là gì cho đến đêm thứ 3, khi Quản Trò gọi anh ta dậy và cho anh ra biết chức năng của mình. Say Rượu được Pháp Sư Sói tiên tri là người. Trong chồng bài chuẩn bị, cho 1 Sói, 1 dân, và hầu hết các chức năng đặc biết khác vào, xào lên và lấy 1 lá ra. Lá đó Sẽ là chức năng của Say Rượu. Biến thể: Say Rượu được cho biết chức năng vào đêm đầu. Khi anh ta biết anh ta là gì, anh ra sẽ sẽ không được phép thực hiện chức năng của mình, vì thế, anh ta sẽ không được gọi dậy thực hiện chức năng trong 2 đêm đầu. ví dụ, nếu Say Rượu là Sói, anh ta được biết anh ta là Sói nhưng không được mở mắt vào 2 đêm đầu khi Sói được gọi dậy. Nếu anh ta là Tiên Tri, anh ta không thể mở mắt vào 2 đêm đầu khi Tiên Tri được gọi dậy. Không có bài cho 2 người yêu nhau, mà họ được chọn bởi Thần Tình Yêu vào đêm đầu tiên. Quản Trò sẽ đánh thức cả 2 dậy vào đêm đầu tiên để họ biết chức năng của nhau. Nếu họ đều theo phe Dân, họ cùng thắng với Dân nếu Dân thắng. Nếu họ đều theo phe Sói, họ cùng thắng với Sói nếu Sói thắng nếu họ là 2 phe khác nhau, họ trở thành 1 phe riêng và chỉ thắng nếu họ là 2 người sống sót cuối cùng. 2 Người Yêu Nhau có thể là bất kì chức năng nào. Đ I PHE WOLVERINE (NANH SÓI) CURSED (K B NGUY N) DOPPELGANGER (NHÂN B N) DUNK (SAY RƯ U) 2 NGƯ I YÊU NHAU (CUPID K T N I) +4 -3 -4 -2
    8. 18. Những phe này thuộc phe riêng biệt, không thuộc Phe Dân và Phe Sói. Trưởng Giáo Phái chọn 1 người chơi mỗi đêm và thêm người đó vào giáo phái của mình. Trưởng Giáo Phái chỉ thắng khi tất cả những người còn sống đều gia nhập môn phái của bạn. Điều kiện thắng khác vẫn được tính. Quản Trò 1 sẽ cần phải ghi danh sách những người thuộc giáo phái. Biến thể: Nếu Trưởng Giáo Phái chết, Người gia nhập giáo phái đầu tiên sẽ trở thành Trưởng Giáo Phái mới (Quản trò sẽ đụng vai người đó khi gọi Trưởng Giáo Phái dậy). Trưởng Giáo Phái mới tiếp tục mê hoặc người khác vào ban đêm, bất kể họ có chức năng nào đi nữa. Trưởng Giáo Phái mới vẫn tham gia vào nhóm những người bị mê hoặc, và sẽ chỉ thắng khi những người còn sống khi hết game thuộc giáo phái. Đêm đầu tiên, Du Côn chọn 1 người. Du Côn chỉ thắng nếu cả 2 người được chọn đều chết vào khi chết thúc game và Du Côn vẫn còn sống. Điều kiện thắng khác vẫn được tính, vì thế Du Côn cần phe Dân Thắng để anh ta cũng có cơ hội thắng. Biến thể: Du Côn chọn 4 người, và nếu Du côn vẫn còn sống khi những người được chọn đều chết, game sẽ kết thúc và Du Côn ngay lập tức thắng, và tất cả các phe khác thua. Chán Đời chỉ thắng khi anh ta bị giết. Điều kiện thắng khác vẫn được tính. Biến thể: Nếu Chán Đời bị treo cổ chết, anh ta sẽ lập tức chiến thắng và game kết thúc. Không ai được nhận mình là Chán Đời kể cả bản thân Chán Đời. Nếu bị giết bởi các lý do khác, Chán Đời không thắng. Ma Cà Rồng là thế lực thứ 3 ngoài phe Sói và phe Dân. Ma Cà Rồng chọn 1 nạn nhân mỗi đêm, nhưng nạn nhân đó không được thông báo cho đến khi phiên treo cổ diễn ra; nạn nhân của Ma Cà Rồng chết vào chạng vạng. Ma Cà Rồng không thể bị giết bởi Sói, khiến chúng trở nên mạnh mẽ hơn. Là 1 phe mạnh mẽ, Ma Cà Rồng hoặc Sói cần phải tiêu diệt hết 2 phe còn lại mới được công bố chiến thắng. Ma Cà Rồng có thể được chơi với nhóm nhiều người và có nhiều kinh nghiệm, tổng số lượng Ma Cà Rồng và Sói nên bằng số lượng Sói trong 1 game bìnnh thường. Tất cả các chức năng đặc biệt tập trung vào Sói (Tiên Tri, P.I., …) cũng có thể tập trung vào Ma Cà Rồng (tiên tri có thể soi ra Ma Cà Rồng…) nhưng sẽ không phân biệt rõ 2 phe. PHE KHÁC CULT LEADER (TRƯ NG GIÁO PHÁI) HOODLUM (DU CÔN) TANNER (CHÁN Đ I) VAMPIRE (MA CÀ R NG) -7 +1 +1 0

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Board Game Sói Ultimate Chi Tiết Nhất
  • Ma Sói : Bán Sói
  • Chức Năng Và Luật Chơi Bộ Boardgame Ma Sói Việt Hóa
  • Hướng Dẫn Board Game Sói
  • Đọc Ngoại Truyện : Chức Năng.
  • Yêu Cầu Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Công Ty Luật Hợp Danh

    --- Bài mới hơn ---

  • Bất Cập Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Hợp Đồng Ở Việt Nam, Văn Phòng Luật Sư Thái Thanh Hải
  • Một Số Định Hướng Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Tổ Chức Thi Hành Pháp Luật Ở Vn Hiện Nay
  • Luận Văn Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Việt Nam Về Đưa Người Lao Động Việt Nam Đi Làm Việc Ở Nước Ngoài Theo Hợp Đồng
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Tiếng Việt Lớp 3
  • Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc
  • Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, vấn đề hoàn thiện pháp luật về công ty luật hợp danh (CTLHD) là một yêu cầu thiết yếu. Tuy nhiên, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật đó cần đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đặt ra. Với mục đích nhằm phát triển đội ngũ luật sư (LS) chuyên nghiệp có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn cao, phát huy vai trò của LS trong hoạt động của công ty, bài viết đề ra những yêu cầu và những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về CTLHD trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay, đặc biệt là việc thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ cải cách tư pháp (CCTP).

    Từ khóa: Pháp luật về công ty luật hợp danh, cải cách tư pháp, nhà nước pháp quyền, luật sư.

    1. Dẫn nhập

    Đứng trước yêu cầu CCTP, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của các cơ quan tư pháp nhằm bảo vệ các quyền dân chủ của công dân, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối trong việc cải cách hệ thống tư pháp từ tổ chức đến cơ chế hoạt động, trong đó có pháp luật về CTLHD. Quan điểm mang tính định hướng là CCTP phải nằm trong chủ trương đổi mới bộ máy nhà nước, đổi mới hệ thống chính trị, gắn liền với nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Từ đó có thể nhận thấy việc đổi mới tổ chức và hoạt động LS nằm trong nội dung của CCTP. Điều đó còn thể hiện mối quan hệ chặt chẽ và vai trò quan trọng của tổ chức và hoạt động LS đối với hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động tố tụng nói riêng.

    Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện một số bước quan trọng về CCTP. Tổ chức, bộ máy của các cơ quan điều tra, kiểm sát, tòa án, thi hành án và bổ trợ tư pháp trong đó có hoạt động LS đã có nhiều điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của đất nước. Chức năng, nhiệm vụ của LS, tổ chức xã hội -nghề nghiệp của LS đã được xác định rõ ràng hơn. Hoạt động LS ngày càng phát triển, khẳng định vị thế của mình, góp phần hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tư pháp và nâng cao nhận thức pháp luật của nhân dân, hỗ trợ hiệu quả cho công dân trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích của họ. Tuy nhiên, hoạt động LS vẫn còn có những bất cập nhất định cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện.

    2. Những yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về CTLHD

    2.1. Việc hoàn thiện pháp luật về CTLHD phải đáp ứng yêu cầu, điều kiện CCTP, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

    Đổi mới quản trị công ty luật là nhu cầu thiết yếu, khách quan, quá trình đó đòi hỏi những vấn đề sau:

    – Cần khẳng định LS là một nghề, vì vậy tổ chức, hoạt động LS cần được xây dựng trên những nguyên tắc là một nghề chuyên nghiệp, nghề tự do;

    – Cần tạo cơ sở pháp lý thuận lợi để phát triển đội ngũ LS chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu về luật sư tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật cho cá nhân, tổ chức, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ cũng như hỗ trợ đắc lực cho hoạt động xét xử;

    – Từng bước chuẩn hóa các tiêu chuẩn luật sư phù hợp với các yêu cầu, điều kiện cụ thể của sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nhưng phải bảo đảm đáp ứng các chuẩn mực về mặt chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp, phù hợp với điều kiện hành nghề của luật sư trong khu vực và trên thế giới;

    – Đề cao trách nhiệm cá nhân của LS, LS là thành viên công ty nâng cao vai trò tự quản của tổ chức nghề nghiệp của luật sư, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề LS;

    – Từng bước hoàn chỉnh hệ thống văn bản điều chỉnh nghề LS, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho nghề LS Việt Nam phát triển, hội nhập khu vực và quốc tế.

    2.2. Hoàn thiện pháp luật trên cơ sở phải nâng cao nhận thức đầy đủ và đúng đắn hơn nữa vị trí, vai trò của LS trong hoạt động tư pháp

    Hiện nay, thực tế vẫn còn tư tưởng hạ thấp vai trò của LS và cho rằng LS sẽ gây khó khăn cho việc chống tội phạm, giúp cho kẻ phạm tội trốn tránh trách nhiệm. Quan điểm của nhiều người làm công tác điều tra cho rằng nếu LS tham gia từ giai đoạn điều tra thì tạo ra những khó khăn trong việc phát hiện tội phạm, bảo đảm bí mật điều tra, bảo quản chứng cứ,… Theo báo cáo kết quả điều tra cơ bản về hoạt động của các cơ quan tư pháp trong việc bảo đảm quyền dân chủ của công dân và trật tự an toàn xã hội do Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp thực hiện ở Hà Nội thì trong số điều tra viên được phỏng vấn có 42.86% điều tra viên cho là sự tham gia của LS vào giai đoạn điều tra là cần thiết, còn 57,47% số điều tra viên cho là không cần thiết (Hùng Khoa, 2022).

    Ngược lại, có ý kiến cho rằng, tội phạm đã rõ ràng thì LS không thể bào chữa cho kẻ phạm tội hoặc LS là “người giúp việc” cho cơ quan tiến hành tố tụng. Quan niệm như vậy đối với LS là trái quy định của pháp luật và chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Sự tham gia của luật sư ở giai đoạn điều tra không chỉ mở rộng những nguyên tắc dân chủ của tố tụng hình sự (TTHS), mà còn nâng cao chất lượng điều tra, tăng cường pháp chế trong giai đoạn điều tra.

    Việc bào chữa kiên định, dũng cảm trong các vụ án hình sự không những không cản trở mà còn thúc đẩy cuộc đấu tranh chống tội phạm, giúp khắc phục những sai lầm trong việc xử lý vụ án. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương sự khác bằng những phương tiện hợp pháp, luật sư thể hiện vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền công dân. Vì vậy, cần có nhận thức đúng về vị trí, vai trò của LS trong tố tụng nói riêng và trong xã hội nói chung. Nhận thức đó phải được quán triệt trong các cơ quan nhà nước, trước hết là các cơ quan tiến hành tố tụng và mọi người dân.

    Có thể nói, nâng cao nhận thức của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng về vị trí, vai trò của LS trong quá trình giải quyết vụ án, tôn trọng LS và ý kiến của LS, tạo điều kiện thuận lợi cho LS thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong các giai đoạn tố tụng là một trong những nhiệm vụ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức xã hội-nghề nghiệp của LS.

    Nâng cao nhận thức của cơ quan, tổ chức khác và nhân dân về vị trí, vai trò của LS trong xã hội, góp phần tăng tính hấp dẫn nghề nghiệp LS, thu hút ngày càng đông đội ngũ cử nhân luật mới ra trường tham gia hành nghề LS. Đồng thời, phát triển thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, kích thích nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của LS từ phía các cơ quan, tổ chức và cá nhân là một trong những mục tiêu của đổi mới quản trị công ty luật.

    2.3. Nâng cao phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn, tính chuyên nghiệp của LS và phát triển đội ngũ LS là một trong những yêu cầu trong việc hoàn thiện pháp luật về CTLHD

    Để nâng cao hiệu quả hoạt động của LS và của CTLHD, ngoài việc không ngừng hoàn thiện chế định LS, nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của LS và trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với tổ chức và hoạt động của LS, cần phải xây dựng đội ngũ LS có trình độ nghiệp vụ chuyên môn, tính chuyên nghiệp cao, có phẩm chất đạo đức tốt.

    Do đặc điểm, yêu cầu của nghề nghiệp nên tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức đối với LS đặc biệt được coi trọng. Dù LS hoạt động nghề nghiệp với tư cách cá nhân hay là thành viên trong các công ty luật, LS phải tuân thủ các nguyên tắc như không được bảo vệ cho nhiều khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong một vụ việc, bảo đảm bí mật nghề nghiệp, tôn trọng sự lựa chọn của khách hàng, không kiêm nhiệm…

    Hành nghề LS là hoạt động đòi hỏi trách nhiệm rất cao. LS phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất gây ra cho khách hàng do lỗi của mình trong việc tư vấn pháp luật và có nghĩa vụ mua bảo hiểm nghề nghiệp để đảm bào thực hiện trách nhiệm đó. Cơ chế bồi thường thiệt hại qua chế độ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp sẽ chắc chắn hơn, bảo đảm hơn trong việc bồi thường thiệt hại cho khách hàng.

    Thực tế ở Việt Nam trong thời gian qua, LS khi hành nghề không phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Pháp luật cũng chưa quy định rõ ai là người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách hàng do lỗi của LS. Vì vậy, xảy ra những trường hợp khách hàng bị thiệt hại không biết kiện ai. Một trong những nguyên nhân không làm rõ được trách nhiệm nghề nghiệp của LS là pháp luật chưa quy định rõ về trách nhiệm nghề nghiệp của LS. Nghề LS có nhiều đặc thù và được điều chỉnh không chỉ bằng những quy định của pháp luật và còn bằng quy tắc đạo đức và ứng cử nghề nghiệp LS. Đoàn luật sư có trách nhiệm quản trị công ty luật về mặt đạo đức nghề nghiệp và Đoàn luật sư được xem như là “thanh kiếm” để xử lý những trường hợp LS vi phạm đạo đức nghề nghiệp, vừa là công cụ, phương tiện bảo vệ cho LS tránh khỏi sự can thiệp, áp lực từ phía người thứ ba khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp.

    Tăng cường sự quản lý của nhà nước và xác định rõ vai trò tự quản của tổ chức xã hội-nghề nghiệp của LS mới tạo điều kiện phát triển đội ngũ LS Việt Nam nhiều về số lượng, mạnh về chất lượng và phát huy vai trò của họ trong nền kinh tế theo cơ chế thị trường. Để phát triển đội ngũ LS ở Việt Nam hiện nay đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền thì Nhà nước cần hoàn thiện các văn bản pháp luật về LS và có biện pháp nhằm hỗ trợ phát triển nghề LS. Là cơ quan quản lý công ty luật, Bộ Tư pháp có vai trò trong việc hoàn thiện cơ sở pháp lý, cải tiến nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo nghề LS theo hướng tập trung vào kỹ năng hành nghề, kinh nghiệm thực tiễn, kết hợp việc giảng dạy với thực tập tại các tổ chức hành nghề LS, tòa án, VKS và cơ quan điều tra, có chế độ trả công xứng đáng để thu hút được đội ngũ LS, thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên giỏi tham gia đào tạo nghề LS, thường xuyên nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm với nước ngoài. Hỗ trợ các Đoàn LS trong việc thường xuyên cập nhật kiến thức pháp luật và bồi dưỡng về kỹ năng hành nghề nói chung, kỹ năng tranh tụng nói riêng, văn hóa ứng xử và đạo đức nghề nghiệp cho LS.

    2.4. Hoàn thiện pháp luật về CTLHD phải phù hợp với tính chất nghể nghiệp LS và thông lệ quốc tế

    Xuất phát từ chức năng xã hội, nhiệm vụ của LS ở Việt Nam và theo thông lệ quốc tế thì nghề LS là một nghề đặc thù. LS không những chỉ bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng mà còn phải bảo vệ lợi ích công cộng, bảo đảm thực thi pháp luật. Các LS hành nghề theo quy định của pháp luật nhưng đồng thời phải tuân thủ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp và chịu sự quản lý chặt chẽ của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của LS. Dân chủ thực sự trong tổ chức và hoạt động của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của LS mới tạo ra được cơ chế tổ chức, quản lý CTLHD có hiệu quả.

    Vì vậy, yêu cầu đặt ra cho Nhà nước là cần phải xây dựng cơ chế dân chủ trong tổ chức và hoạt động của tổ chức xã hội-nghề nghiệp LS. Đồng thời, chính tổ chức xã hội – nghề nghiệp của LS cũng phải tạo ra cơ chế dân chủ để các thành viên của mình tham gia một cách đầy đủ vào quá trình tổ chức và hoạt động. Việc xây dựng và hoàn thiện CTLHD phải phù hợp với tính chất nghề nghiệp LS. Điều đó đặt ra cho Nhà nước là phải xây dựng và thể hiện một cách đầy đủ nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước với phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của LS, đồng thời từng bước xã hội hóa quản trị công ty luật phù hợp với điều kiện phát triển của xã hội.

    Trong xu thế hội nhập quốc tế, đặc biệt là việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, ký kết hơn 10 hiệp định tự do thế hệ mới (FTA) tổ chức hành nghề LS, các LS ở nước ta không thể đứng ngoài tiến trình đó. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật CTLHD nhằm phát triển đội ngũ LS, tạo cơ hội cho tổ chức và hoạt động LS ở nước ta hòa nhập và phát triển là một yêu cầu khách quan, tất yếu.

    3. Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về CTLHD

    3.1. Những giải pháp chung

    Thứ nhất, cần tiến hành rà soát, xem xét để có thể xây dựng và ban hành Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012). Luật mới về LS (thay thế cho Luật Luật sư năm 2006, 2012) cần quy định tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:

    + Nguyên tắc hành nghề LS;

    + Quy định chi tiết về cơ sở đào tạo nghề luật sư, nội dung, chương trình đào tạo nghể luật sư tránh tình trạng đào tạo LS do một cơ sở đào tạo còn việc cấp giấy chứng nhận lại do một cơ sở khác.

    + Quy định về hình thức hành nghề, hình thức tổ chức hành nghề LS. Những quy định hiện nay về tổ chức hành nghề LS vẫn mang tính chất chung, thiếu minh bạch và chịu ảnh hưởng nhiều của các chế định pháp luật được quy định tại Luật Doanh nghiệp.

    + Quy định cơ cấu, tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức LS toàn quốc và các đoàn LS trong vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức hành nghề LS.

    + Quy định, hướng dẫn về nội dung và thẩm quyền quản lý về LS.

    Thứ hai, xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển đội ngũ LS, đào tạo LS đến năm 2022. Trên cơ sở đánh giá thực tiễn công tác phát triển, hiệu quả hoạt động của công ty luật bao gồm cả việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ LS để phát hiện những điểm mạnh, điểm yếu, bất cập cần hoàn thiện. Hành trình quy hoạch tổng thể phát triển đội ngũ LS của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các vùng các miền trong thời gian đến năm 2022.

    Tập trung đào tạo đội ngũ LS là một trong những nội dung rất quan trọng trong sự gia nhập, hoạt động và rút lui khỏi thị trường của CTLHD. Để phát triển đội ngũ LS đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, tạo ra được đội ngũ LS thành thạo về ngoại ngữ thông dụng, giỏi nghiệp vụ trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế trong giai đoạn hiện nay thì không thể thiếu vai trò của Nhà nước. Vì vậy, Nhà nước phải có chính sách đầu tư thỏa đáng cho việc đào tạo LS. Đồng thời, Nhà nước cũng cần xây dựng lộ trình để xã hội hóa việc đào tạo LS.

    Nghị quyết số 08NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị (khóa IX) có đoạn: “Pháp luật trong lĩnh vực tư pháp chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ và còn nhiều sơ hở. Công tác xây dựng, giải thích, hướng dẫn và tuyên truyền giáo dục pháp luật, trong đó có pháp luật về lĩnh vực tư pháp còn nhiều bất cập và hạn chế”. Nguyên tắc pháp quyền đòi hỏi cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp và bổ trợ tư pháp đều được tổ chức và hoạt động trên cơ sở một đạo luật do Quốc hội ban hành để đảm bảo tính đồng bộ, ổn định và tính hiệu lực cao.

    Hoàn thiện pháp luật tố tụng theo hướng bảo đảm các thủ tục tố tụng dân chủ hơn, tăng cường vai trò của LS nhằm thực thi nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng quyền con người trong TTHS, bảo đảm nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự; thủ tục nhanh gọn, đơn giản trong tố tụng dân sự (TTDS), thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử; tăng khả năng tranh tụng trong phiên tòa. Pháp điển hóa các văn bản quy phạm pháp luật tố tụng hành chính theo hướng mở rộng thẩm quyền của Tòa hành chính được xét xử tất cả các vụ khiếu kiện hành chính và cải cách căn bản thủ tục giải quyết các vụ án hành chính phù hợp với điều kiện hiện nay.

    Chế định LS đã được quy định trong Bộ luật TTHS. Tuy nhiên, do nhận thức chưa thật đầy đủ và do chưa có sự hướng dẫn cụ thể, thống nhất nên dẫn đến việc LS tham gia vào hoạt động tố tụng chưa hiệu quả. Một số quy định của Bộ luật TTHS còn nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất. Đã đến lúc phải xem việc tham gia của LS vào quá trình TTHS là sự giám sát, phản biện tốt nhất đối với các hoạt động của cơ quan tiến hành TTHS. Bên cạnh việc làm rõ chức năng buộc tội, chức năng xét xử cần phải chú ý đến chức năng bào chữa, trong đó có vai trò của LS.

    3.2. Những giải pháp cụ thể

    Một là, đội ngũ LS cũng như số lượng các tổ chức hành nghề LS tại Việt Nam ra đời và hoạt động ngày càng có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, một thực tế cho thấy, chất lượng và năng lực còn ở mức độ khá khiêm tốn. Đặc biệt là trong sự cạnh tranh với các tổ chức hành nghề của LS nước ngoài khi tham gia giải quyết các vụ tranh chấp lớn, có yếu tố nước ngoài. Điều đó đòi hỏi cần phải nâng cao chất lượng LS không chỉ trên bình diện rộng mà cần phải ở mức độ chuyên sâu, chuyên nghiệp. Việc nâng cao năng lực của LS cũng như các tổ chức hành nghề LS có thể được thực hiện ở nhiều góc độ khác nhau, như: đào tạo nâng cao, giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm…

    Hai là, hiện nay, theo quy định về chương trình đào tạo nghiệp vụ và cấp chứng chỉ hành nghề và cấp thẻ cho LS có tham gia tổ chức, quản lý của nhiều cơ quan khác nhau, đó là Học viện Tư pháp, Bộ Tư pháp, Liên đoàn LS Việt Nam… Vấn đề này có thể dẫn đến sự chồng chéo, mất nhiều thời gian và đôi khi tạo ra các rào cản. Do đó, một trong những nội dung cần sửa đổi hoặc quy định mới (trong Luật LS mới) là đảm bảo sự thống nhất, minh bạch giữa đào tạo, cấp chứng chỉ hành nghề và cấp thẻ cho LS. Tác giả cho rằng, việc đào tạo và cấp thẻ LS cho LS nên thuộc thẩm quyền của Liên đoàn LS Việt Nam có lẽ hợp lý hơn.

    Bốn là, trong xu thế hội nhập quốc tế, vai trò và vị trí của LS, các công ty luật ngày càng được nâng cao. Sự tham gia của các LS hay công ty luật của Việt Nam hiện nay hầu như mới chủ yếu dừng lại ở phạm vi nội địa. Thực tế, LS của Việt Nam tham gia các vụ việc tầm khu vực, quốc tế không nhiều kể cả ở góc độ chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm. Điều này đặt ra một trong những yêu cầu hiện nay là cần phải tăng cường sự hợp tác giữa LS trong nước và LS nước ngoài. Trong đó hướng tới sự tham gia hoạt động của LS Việt Nam ở nước ngoài đảm bảo về số lượng và chất lượng. Về vấn đề này, các quy định của Luật LS đã đề cập nhưng chưa đủ, do đó cần cụ thể hơn nữa để đảm bảo sự tham gia của LS Việt Nam khi hành nghề ở nước ngoài. Trong đó, chú trọng tới các yêu cầu, điều kiện, cách thức và quản lý nhà nước đối với các LS.

    Năm là, để đảm bảo hạn chế tối đa sự vi phạm pháp luật, nâng cao hiệu quả của LS, công ty luật, ngoài việc tạo sự chủ động, dân chủ trong hoạt động của công ty thì việc các cơ quan nhà nước thường xuyên kiểm tra và xử lý vi phạm một cách triệt để, rõ ràng là điều cần thiết. Nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về LS là kiểm tra, thanh tra việc tuân thủ pháp luật của tổ chức LS và hành nghề LS. Thông qua việc kiểm tra, thanh tra, một mặt nhà nước phát hiện những bất cập, hạn chế về chính sách, quy định của pháp luật về LS và hành nghề LS để kịp thời sửa đổi, bổ sung. Đồng thời, cũng thông qua kiểm tra, thanh tra, Nhà nước phát hiện và xử lý những vi phạm pháp luật của tổ chức LS và hành nghề LS. Mặt khác, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức LS và hành nghề LS là tăng cường sự quản lý nhà nước về LS nhằm mục đích giúp tổ chức LS và hành nghề LS phát triển đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

    1. Cục Bổ trợ tư pháp. 2014. Báo cáo của Cục Bổ trợ tư pháp tại Hội nghị triển khai Luật Luật sư và Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2022. Tháng 10/2014.
    2. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2005. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2022. Hà Nội.
    3. Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. 2022. Báo cáo số 179/CV-ĐLS của Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 06/10/2015 về tình hình tổ chức, hoạt động năm 2014 và 9 tháng đầu năm 2022.
    4. Lê Hồng Hạnh (Chủ biên). 2002. Đạo đức và kỹ năng của luật sư trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nxb. Đại học Sư phạm.
    5. Phạm Trung Hoài. 2003. Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hành nghề luật sư trong điều kiện mới ở Việt Nam.
    6. Quốc hội. 2022. Bộ luật Dân sự (2015). Hà Nội.
    7. Quốc hội. 2022. Bộ luật Hình sự (2015). Hà Nội.
    8. Quốc hội. 2014. Luật Doanh nghiệp (2014). Hà Nội.
    9. Quốc hội. 2012. Luật Luật sư (2012). Hà Nội.
    10. Hùng Khoa. 2022. Thành phố Hồ Chí Minh với nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Nguồn: https://www.qdnd.vn/thuc-hien-hieu-qua-nghi-quyet-trung-uong-iv-khoa-xii-cua-dang/thanh-pho-ho-chi-minh-voi-nhieu-chinh-sach-ho-tro-phat-trien-doanh-nghiep-524457, truy cập ngày 05/02/2020.

    RequirementsPh.D’s student, Master. Nguyen Minh Duc and solutions to improve the effectiveness of regulations on law partnership companies in Vietnam

    Hanoi University of Law

    Ho Chi Minh City Bar Association

    Director, Duc Nguyen Law One Member Limited Liability Company

    In the context of Vietnam’s current international integration process, it is necessary for Vietnam to improve the effectiveness of regulations on law partnership companies. However, the completion of the legal system governning law partnership companies should fully meet the set requirements. To develop a team of professional lawyers with good ethical qualities, high professional qualifications and to promotte the role of lawyers in operations of companies, this article psents the requirements and the solutions to improve the effectiveness of regulations on law partnership companies in the context of building a socialist state which is governed by the law, especially the implementation of judicial reform in Vietnam.

    Keywords: Regulations on law partnership companies, judicial reform, the law governed by the rule of law, lawyer.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Gia Trần Đức Cảnh Đưa Ra Giải Pháp Cho Nguồn Nhân Lực Việt Nam
  • Thực Trạng Nguồn Nhân Lực Của Việt Nam Hiện Nay
  • Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Ở Việt Nam Thời Kỳ Hội Nhập
  • Luật Sư Tư Vấn Điều Kiện Kinh Doanh Karaoke
  • Luật Sư Tư Vấn Báo Cáo Thuế
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100