Top 7 # Xem Nhiều Nhất Giải Pháp Về Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Cần Giải Pháp Khẩn Cấp Toàn Cầu Về Biến Đổi Khí Hậu

Ngày 16/1, Hội nghị cấp cao các nhà đầu tư toàn cầu về biến đổi khí hậu và các giải pháp năng lượng, diễn ra tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York.

Hội nghị khẳng định thách thức về biến đổi khí hậu cần có những giải pháp khẩn cấp mang tính toàn cầu bởi hiện tượng này đã trở thành nhân tố lớn nhất trong các tính toán đầu tư trong tương lai gần.

Thế giới cần một cuộc chạy đua nước rút chứ không chỉ chạy đua marathon về chống biến đổi khí hậu.

Hơn 450 nhà đầu tư toàn cầu hiện đang kiểm soát nguồn vốn hàng chục nghìn tỷ USD nhấn mạnh chưa bao giờ thế giới cần những hành động khẩn cấp để đối phó với biến đổi khí hậu cũng như những hiểm họa của nó như hiện nay.

Mặc dù tổng đầu tư vào năng lượng sạch đã tăng gấp hơn 5 lần kể từ năm 2005 và lên tới 260 tỷ USD năm 2011, nhưng khuôn khổ chính sách trên toàn cầu cần phải thực sự thay đổi về phương thức điều hành nền kinh tế để nâng cao sự chú ý của các nhà hoạch định chính sách và các nhà đầu tư về tính khẩn cấp của giải pháp chống biến đổi khí hậu.

Các nhà đầu tư cần thay đổi phương thức đầu tư và kinh doanh nhằm thúc đẩy các giải pháp năng lượng mới. Công nghệ năng lượng Mặt Trời hiện đang dẫn đầu về tăng vốn đầu tư và đã đạt gần 138 tỷ USD, tăng 36% trong năm 2011.

Bên cạnh đó, Liên hợp quốc cũng cảnh báo nguy cơ “lựa chọn giả” giữa đầu tư kinh tế mạnh và đầu tư môi trường mạnh.

Đầu tư tăng cường sự bền vững không còn là nhân tố ngoại vi của bức tranh hoạt động của các công ty. Công ty nào phớt lờ nguy cơ cao về biến đổi khí hậu đồng nghĩa với bỏ lỡ các tín hiệu thị trường rất hấp dẫn, đồng thời sẽ không tuyển được những tài năng kinh doanh trẻ.

Liên hợp quốc kêu gọi các nhà đầu tư toàn cầu thúc đẩy kế hoạch hành động mới phát triển các công nghệ ít thải khí gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời giám sát chặt chẽ hơn nữa các nguy cơ gây biến đổi khí hậu.

Các chuyên gia Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu nhấn mạnh nhu cầu phải có những chuyển đổi quan trọng thông qua các nỗ lực cụ thể để chống tình trạng biến đổi khí hậu vào thời điểm mang tính bước ngoặt là năm 2017.

Sự Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu

1. Biến đổi khí hậu được hiểu như thế nào?

Trong lịch sử của chúng ta, sự biến đổi khí hậu đã từng nhiều lần xảy ra với những thời khì lạnh và nóng kéo dài hàng vạn năm mà chúng ta gọi là thời kỳ băng hà hay thời kỳ gian băng, thời kỳ băng hà cuối cùng đã xảy ra cách đây 10.000 năm và tính đến hiện nay là giai đoạn ấm lên của thời kỳ gian băng.

Chung quy lại, biến đổi khí hậu Trái Đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ hay hàng triệu hoặc hiểu theo một cách khác là biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và dao động của khí hậu duy trì trong một thời gian dài thường là vài thập kỷ hoặc có thể dài hơn.

Việc biến đổi khí hậu này là do hoạt động của con người làm thay đổi một số hệ thống của nó, biến đổi khí hậu gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến các thành phần khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên, ảnh hưởng tới các hoạt động của các hệ thống kinh tế-xã hội và ảnh hưởng tới sức khỏe, phúc lợi của con người.

2. Những hiểu hiện của biến đổi khí hậu

– Thứ nhất là sự nóng lên của khí quyển và trái đất là nhiều khu vực bị hạn hán quanh năm, các sinh thực vật chết hết ví dụ như dòng sông Danube, dòng sông dài thứ hai châu Âu được bắt đầu từ Đức chảy theo hướng Đông đến Biển Đen ở Romania, đây là một trong những cửa ngõ quan trọng trong việc giao thương, công nghiệp tàu biển. Nhưng do sự biến đổi khí hậu, hạn hán kéo dài xảy ra vào năm 2011 – 2012 đã khiến mực nước sông Danube xuống thấp kỷ lục đã làm cho tàu thuyền ở đây bị mắc cạn và khu vực đường thủy vốn đông đúc trở nên tê liệt.

– Thứ hai là sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất ví dụ như những rạn san hô tại Dibba vào năm 2004, dải san hô nằm trên bờ biển phía Đông của các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) vẫn đang rực rỡ sắc màu nhưng đến nay thì các rạn san hô đầy màu sắc đã bị phá hủy bởi các loại tảo có hại có tên là thủy triều đỏ, loại tảo này có khả năng liên kết với nhau làm tăng khí nhà kính, tăng nhiệt độ đại dương và giết nhiều sinh vật biển bằng cách giảm lượng oxy hòa tan trong nước.

– Thứ ba là băng tan làm cho mực nước biển dâng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển như các đảo San Blas ở Panama là quê hương của ngươi Guna, họ sống và cư trú trên các nhà bè trôi nổi trên các mặt biển, tuy nhiên do biến đổi khí hậu mà cứ đến mùa mưa bão thì người dân phải sống chung với cảnh ngập lụt kéo dài.

– Thứ tư là sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người, điển hình là hình ảnh Vườn quốc gia Rocky Mountain trước đây là những cây thông khỏe mạnh, vươn cao, trải dài hàng chục triệu m2 ở vùng Tây Bắc Hoa Kỳ và phía tây Canada nhưng cũng do sự biến đổi khí hậu mà ngày nay khi người ta nhìn vào Vườn quốc gia này thì chỉ thấy được sự xác sơ hơn của các cây thông do bị sâu bọ xâm hại, được biết rằng là do nhiệt độ ấm lên nên khiến các côn trùng phát triển mạnh mẽ và tấn công tàn phá rừng một cách nặng nề.

3. Những nguyên nhân gây ra việc biến đổi khí hậu?

Nhiều phản ứng khác nhau của môi trường về biến đổi khí hậu có thể tăng cường hoặc giảm bớt các biến đổi ban đầu, một số thành phần của hệ thống khí hậu như các đại dương và các chỏm băng cao chót vót, phản ứng chậm với biến đổi bức xạ mặt trời vì khối lượng lớn do đó, hệ thống khí hậu có thể mất hàng thế kỷ hoặc lâu hơn để phản ứng hoàn toàn với những biến đổi từ bên ngoài.

Tuy nhiên, nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính của con người.

– Biến đổi khí hậu trong thời đại địa chất

Khí hậu trái đất đã trải qua nhiều lần biến đổi, khoảng 50 triệu năm về trước một thiên thạch khổng lồ va vào Trái Đất làm bề mặt Trái Đất bị bao phủ một lượng khói bụi dày đặc và Trái Đất bị chìm trong bóng tối một thời gian dài do không có ánh sáng mặt trời khiến cho Trái Đất bị lạnh đi và loài khủng long bị tiêu diệt.

Cũng trong tình trạng do biến đổi khí hậu, vào khoảng 2 triệu năm trước công nguyên, Trái Đất cũng trải qua nhiều lần thời kỳ băng hà lạnh lẽo và thời kỳ gian băng ấm áp với chu kỳ mỗi lần khoảng 100 nghìn năm. Thời kỳ băng hà cuối cùng kết thúc cách đây khoảng 10-15 nghìn năm, sau cuộc biến đổi khí hậu này Trái Đất ấm dần lên và các sinh vật mới dần dần phát triển.

Đầu thế kỷ XIV, châu Âu lại phải trải qua một kỷ băng hà nhỏ kéo dài khoảng vài trăm năm, những khối băng khổng lồ hình thành và những mùa đông khắc nghiệt làm cho mùa màng thất bát, dẫn đến nạn đói, nhiều gia đình phải di cư đi nơi khác.

Những biến đổi khí hậu xảy ra này trong thời kỳ địa chất đều do các nguyên nhân tự nhiên, đặc biệt là sự chuyển động của trái đất, các vụ phun trào của núi lửa và hoạt động của mặt trời.

– Nguyên nhân của biến đổi khí hậu trong thời kỳ hiện đại

Nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu hiện nay, biểu hiện rõ nhất của nó là sự nóng lên toàn cầu đã được khẳng định là do hoạt động của con người, từ những năm thời kỳ tiền công nghiệp con người đã sử dụng nhiều năng lượng chủ yếu là từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch, sau đó thì thải vào khí quyển ngày càng tăng làm cho các chất khí này gây hiệu ứng nhà kính, làm tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất.

Đánh giá khoa học của IPCC cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng,… đã đóng góp khoảng 46% vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 8%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9% và các ngành sản xuất hóa chất khoảng 24%, còn lại 3% là các hoạt động khác như chôn rác thải,….

Tính đến nay, tổng lượng phát thải khí CO2 của các nước phát triển chiếm tới 70% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu, trong đó ở Hoa Kỳ và Anh trung bình mỗi người dân phát thải 1100 tấn gấp khoảng 17 lần ở Trung Quốc và 48 lần ở Ấn Độ.

Tuy nhiên trong khi các nước giàu chỉ chiếm 15% dân số thế giới nhưng tổng lượng phát thải của họ chiếm tới 45% tổng lượng phát thải toàn cầu, các nước châu Phi và cận Sahara với 11% dân số thế giới chỉ phát thải 2% và các nước kém phát triển với 1/3 dân số thế giới chỉ phát thải 7% tổng lượng phát thải toàn cầu, đây là điều mà các nước đang phát triển nêu ra về quyền bình đẳng và nhân quyền tại các cuộc thương lượng về Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto.

Nguyên tắc đầu tiên được ghi trong Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu là “Các Bên phải bảo vệ hệ thống khí hậu vì lợi ích của các thế hệ hiện nay và mai sau của nhân loại, trên cơ sở công bằng, phù hợp với những trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và bên các nước phát triển phải đi đầu trong việc đấu tranh chống Biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng có hại của chúng”

Điều 10 trong Nghị định thư Kyoto còn ghi “Tất cả các bên, có xem xét những trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và các tình huống, mục tiêu và những ưu tiên phát triển đặc biệt của quốc gia và khu vực, không đưa thêm bất kỳ cam kết mới nào cho các bên không thuộc”.

4. Hậu quả của việc biến đổi khí hậu gây ra những năm gần đây

Hậu quả của biến đổi khí hậu trên toàn cầu là vấn đề nhức nhối trong vài thập kỷ gần đây, bởi hậu quả nặng nề, sự tàn phá khủng khiếp của nó. Các hậu quả của quá khứ, hiện tại và cả lẫn trong tương lai là vấn đề nan giải khi hậu quả của biến đổi khí hậu hiện ra một cách rõ rệt hằng ngày và gây ảnh hưởng đến môi trường sống của mọi sinh vật và ảnh hưởng đến con người.

Hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu đối với sự sống từ động thực vật và con người rất là nặng nề, cùng chúng tôi điểm qua các hậu quả của biến đổi khí hậu để lại.

4.1. Thay đổi hệ sinh thái

Hậu quả của biến đổi khí hậu sẽ tác động đầu tiên đến hệ sinh thái của tự nhiên làm thay đổi tất cả các hệ sinh thái mà nó tác động đến, đầu tiên là biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến nguồn nước, việc biến đổi khí hậu này làm tình trạng xâm nhập mặn ngày càng cao dẫn tới nguồn nước bị ô nhiễm nặng và các hoạt động của con người cần tới lượng nước ngọt và nước sạch ngày càng ít dần đi.

Thứ hai là việc biến đổi khí hậu làm cho quá trình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và ngành công nghiệp nặng cũng gặp không ít khó khăn, với ngành công nghiệp nặng lượng CO2 trong khí quyển ngày càng tăng gây ô nhiễm không khí vô cùng nặng nề, cùng với đó là những thử thách do nguồn năng lượng và nguyên nhiên liệu trở nên ngày càng khan hiếm do hoạt động khai thác tận diệt của con người trong vài chục năm gần đây, còn với ngành nông, lâm, ngư nghiệp thì việc biến đổi khí hậu đã là chết rất nhiều động thực vật nên nguồn khai thác của các ngành này càng hạn chế và ít đi làm cho việc hoạt động dễ bị đình trệ.

Một ví dụ điển hình cho sự biến đổi hệ sinh thái do hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu đó là tình trạng san hô bị tẩy trắng: Rạn san hô Great Barrier tuyệt đẹp được trải dài 2.600km ngoài khơi bờ biển của Australia trước đây được coi là một trong những vùng sinh quyển đa dạng nhất thế giới, nó được tạo thành từ khoảng 3.000 rạn san hô và hàng tỷ sinh vật sống nhỏ và có tới 900 hòn đảo.

Tuy nhiên, hình ảnh thiên nhiên được coi là di sản thế giới này đang bị suy thoái nghiêm trọng bởi sự nóng lên của Trái đất, môi trường axit hóa đại dương và nhiệt độ tăng cao do biến đổi khí hậu là mối đe dọa lớn nhất với các rạn san hô nơi đây.

Tính tới nay thì một nửa số san hô ở Great Barrier đã biến mất trong 3 thập kỷ qua, sự axit hóa đại dương cũng khiến cho san hô bị tẩy trắng hàng loạt, đặc biệt khi san hô chuyển màu trắng chúng trở nên nhạy cảm và dễ chết hơn, điều này khiến cho môi trường sinh thái dưới đại dương bị ảnh hưởng trầm trọng.

4.2. Mất đa dạng sinh học

Khi biến đổi khí hậu tác động nên hệ sinh thái tất nhiên cũng kéo theo sự mất đa dạng sinh học khi môi trường sống của rất nhiều loài bị thay đổi, nhiệt độ tăng cao nên làm cho một số loài động thực vật biến mất thậm chí rất nhiều loài đã và đang có nguy cơ rơi vào thảm họa tuyệt chủng do thiếu môi trường sống.

Theo tính toán vài năm trước, nếu như nhiệt độ Trái đất tăng thêm từ 1,1 độ đến 6,4 độ nữa thì sẽ có khoảng 50% loài sinh vật đứng trước thách thức bị tuyệt chủng giống nòi, ngay trong thời điểm hiện nay thì đã có một số loài động vật phải di cư do hậu quả của việc biến đổi khí hậu toàn cầu điển hình như loài cáo đỏ, trước đây chúng vẫn thường sống ở Bắc Mỹ thuận lợi nhưng giờ đây đã chuyển dần lên vùng Bắc Cực do nhiệt độ và môi trường ở đó phù hợp, mát mẻ hơn.

Thậm chí tới cuộc sống con người cũng bị ảnh hưởng,nhất là những người dân ven biển do tình trạng nước biển dâng cũng bị đe dọa về nơi cư trú cũng như diện tích canh tác, mất đi nguồn lương thực và thu nhập cho gia đình

4.3. Núi băng, sông băng tan chảy và nước biển dâng

Hậu quả của biến đổi khí hậu làm nhiệt độ tăng cao dẫn tới tình trạng các tảng băng sẽ tan và sự giãn nở nhiệt khiến óc mực nước biển dâng cao, de dạo các vùng đất thấp và đông dân cư ven biển trong đó có Việt Nam. Hiện tượng băng tan này có thể kể tới khu vực Nam Cực, năm 2017 một tảng băng với diện tích khoảng 260 Km2 đã tạc rời khỏi nên bán đảo và trôi nổi trên biển và tan dần sau đó điều này là tăng mực nước biển lên. Nếu việc này mà không được giải quyết triệt để thì thiệt hại sẽ không giới hạn ở một lục địa mà còn xuất hiện các khu vực ven biển trên thế giới.

Khi phần lớn lượng băng bị tan chảy sẽ khiến nước biển dâng cao kỷ lục sẽ nhấn chìm đất liền, xâm nhập mặn, sạt lở ven bờ mà Việt Nam là khu vực có diện tích lớn nằm ven biển nên cũng bị ảnh hưởng lớn, điều này khiến diện tích đất liền ngày càng thu hẹp dẫn đến xóa sổ nhiều thành phố, mất đất canh tác, đất sống cho con người và các loài sinh vật ở Việt Nam

4.4. Chiến tranh và xung đột

Hậu quả của biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến nguồn nước cũng như gây nên sự khan hiếm về lương thực, đất đai canh tác, nơi trú ngụ, đây chính là những nguyên nhân gây nên tình trạng xung đột và chiến tranh giữa các vùng lãnh thổ, điển hình là cuộc xung đột do tác hại của biến đổi khí hậu ở Darfur, cuộc xung đột này đã kéo dài tới 20 năm do nhiệt độ tăng cao mà lượng nước mưa lại quá thấp.

4.5. Tác hại đối với nền kinh tế

Nền kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề cũng là một trong những hậu quả biến đổi khí hậu, do sự xuất hiện của những cơn bão lớn, thời tiết thì thất thường nên mùa màng thất bát, đó là còn chưa kể đến việc phải phát sinh chi phí để khắc phục những hậu quả của bão lũ, sạt lở đất, cung cấp nguồn lương thực, nguồn nước sạch cho cư dân chịu những hậu quả của biến đổi khí hậu.

4.6. Dịch bệnh

Sau một mùa bão lũ sẽ kéo thêm nhiều loại dịch bệnh nơi khác kéo tới làm cho cả người và động thực vật dễ mắc phải, những dịch bệnh này một khi lan rộng khắp nơi thì các nước phải bỏ ra một chi phí lớn để phòng chống bệnh này ngay lập tức.

Bùng phát dịch bệnh cũng là một trong những hậu quả biến đổi khí hậu toàn cầu mà con người phải đối mặt, hiện nay,tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra cảnh báo rằng hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu mà những loại bệnh trước đây chỉ xuất hiện ở vùng nhiệt đới thì giờ đây đã xuất hiện cả ở những khu vực ôn đới, con số thống kê cho thấy hàng năm có tới 150.000 người chết do mắc các bệnh về tim, đường hô hấp.

4.7. Hạn hán và những đợt nắng nóng

Một tác hại của biến đổi khí hậu nữa mà hiện nay những vùng như Ấn Độ, Pakistan và Châu Phi đang phải đối mặt hàng ngày đó là tình trạng hạn hán, thiếu nước sinh hoạt cũng như lương thực, theo như nghiên cứu thì lượng mưa ở những khu vực này ngày càng thấp và sẽ còn kéo dài trong nhiều thập kỷ tiếp theo.

Những đợt nắng nóng kéo dài dẫn tới những nguy cơ hỏa hoạn, cháy rừng cũng là hậu quả biến đổi khí hậu toàn cầu mà chúng ta đang ngày càng thấy rõ, theo ước tính những đợt nắng nóng trên thế giới đang diễn ra với tần suất gấp 4 lần so với trước đây thậm chí, nếu biến đổi khí hậu tiếp tục diễn ra như hiện nay thì trong 40 năm mới, tần suất này có thể sẽ tăng lên gấp 100 lần so với hiện nay.

4.8. Bão lụt

Trong khi những khu vực trên chịu cảnh hạn hán thì nhiều khu vực khác trên thế giới lại liên tục hứng chịu tác động của những đợt bão lũ, nhiệt độ nước biển tăng càng làm cho sự xuất hiện của những cơn bão ngày càng dày đặc, không chỉ vậy mức độ nguy hiểm của chúng cũng ngày càng tăng cao.

***Hậu quả của biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Hậu quả của sự biến đổi khí hậu làm ảnh hưởng trực tiếp tới các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nước ta đã và đang bị tác động trực tiếp bởi sự biến đổi của khí hậu, theo báo cáo gần đây Việt Nam đang là nước chịu ảnh hưởng bởi khí hậu đang trở nên khắc nghiệt với nhiều thiên tai xảy ra.

– Tác động tới tài nguyên nước

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến Việt Nam làm lượng mưa thay đổi nên dòng chảy của những con sông cũng không còn tự nhiên như trước, thất thường trong lượng nước, dòng chảy ngay cả lượng nước ngầm cũng thay đổi như ít dần, ô nhiễm.

– Tác động tới tài nguyên rừng

Hệ sinh thái cũng như diện tích rừng của nước ta đang ngày càng bị suy giảm do biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến Việt Nam, đặc biệt là diện tích rừng ngập mặn ven biển giảm tới 80%, bên cạnh đó, các khu rừng của nước ta đã và đang bị đe dọa lớn bị cháy rừng do nhiệt độ tăng cao, những đợt nắng nóng kéo dài. Điển hình là tại Nghệ An, Hà Tĩnh trong đợt tháng 6/2019 vừa đây có tới tận 4 vụ cháy rừng do đợt nắng nóng tăng tới 41-43 độ, việc này đã được các nhà chức trách can thiệp rất mạnh trong việc bảo vệ và phát triển rừng cho thấy lá phổi xanh của Trái Đất đang bị tổn thất nghiêm trọng.

– Tác động tới sâu tới nền nông nghiệp

Biến đổi khí hậu ở Việt Nam cũng không tránh khỏi những tác động xấu tới lĩnh vực nông nghiệp, biến đổi khí hậu toàn cầu đã thay đổi hoàn toàn thời tiết, mưa bão, hạn hán thất thường làm cho mùa màng thất bát, gia tăng dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi.

– Tác động tới tài nguyên đất

Trong những hậu quả của biến đổi khí hậu ở Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc tới vấn đề tài nguyên đất, sự biến đổi khí hậu làm cho diện tích đất nông nghiệp bị hạn hẹp, tốc độ đô thị hóa kết hợp với tình trạng xói mòn, rửa trôi, xâm nhập mặn đã làm cho tình trạng này ngày càng trở nên cấp thiết hơn.

– Tác động tới sức khỏe

Việt Nam hiện nay cũng giống nhiều quốc gia khác thậm chí còn tồi tệ hơn khi phải đối đầu với những dịch bệnh trên người và động thực vật do thời tiết khí hậu và các nguyên nhân xung quanh làm phát sinh nhiều loại vi khuẩn và làm cho hệ miễn dịch của cơ thể từ người tới động vật cũng bị suy giảm đáng kể, có thể kể tới một số loại dịch bệnh đã làm cho ngành y tế nước ta phải hoang mang như dịch tả, cúm gia cầm, bệnh tai xanh, bệnh sốt xuất huyết.

Thời tiết trong một ngày có 3 mùa làm cho sức khỏe của người già và trẻ nhỏ dễ bị mắc bệnh nhất.

– Ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng

Do tác động của biến đổi khí hậu dẫn theo nhiều điều kiện thời tiết bất lợi như nắng nóng, bão lũ lớn, sạt lở đã hủy hoại rất nhiều cơ sở hạ tầng cũng như các cơ sở vật chất, trang thiết bị và làm đình trệ các hoạt động xây dựng các công trình

– Tác động tới môi trường

Sự kiện nổi nên nhiều trong những mùa nắng nóng là cháy rừng, nhiều đợt nắng khô kỉ lục đã làm cho các khu rừng dễ cháy hơn bao giờ hết nhất là ý thức kém trong việc sử dụng lửa tại các khu rừng của người dân, gây những thiệt hại rất lớn.

Do tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam mà hiện nay chúng ta phải đối mặt với những vấn đề như việc mâu thuẫn giữa nhu cầu sử dụng nguồn nước sạch với việc đáp ứng nhu cầu nước sạch, khi sử dụng chung nguồn nước cho nhiều mục đích khác nhau có thể dẫn tới sự xung đột, mâu thuẫn giữa các địa phương, đơn vị doanh nghiệp.

Một số khu vực bị ảnh hưởng do xâm nhập mặn, do xói mòn đất do vậy mà cư dân không có nơi cư trú, nếu không giải quyết được vấn đề này thì an sinh xã hội có nguy cơ bất ổn.

5. Các biện pháp khắc phục tình trạng biến đổi khí hậu?

– Để giảm thiểu được những sự biến đổi khí hậu thì con người cần hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch

– Cần phải sử dụng các thiết bị công nghệ hiện đại, sử dụng các ứng dụng các công nghệ mới trong việc bảo vệ Trái đất một cách tự nhiên không nên tạo ra nhiều khí quyển làm nóng trái đất

– Hạn chế khai thác rừng để làm nương rẫy và hạn chế sử dụng sách vở làm từ gỗ

– Tiết kiệm điện, sử dụng biết cách

– Hạn chế khai phá những nguồn năng lượng mới

Theo chúng tôi

Cam Kết Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu

Nguyên nhân và giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu

Cho đến nay, nhiều nghiên cứu đều cho rằng có nhiều nguyên nhân gây biến đổi khí hậu toàn cầu, trong đó có nguyên nhân do tự nhiên (đúng vào chu kỳ nhiệt độ tăng của Trái đất) và nguyên nhân do con người, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do con người đã sử dụng quá mức các loại nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, khí đốt phát thải khí ra CO­2 hoặc phá hủy các bể hấp thụ khí CO­2 từ khí quyển (mất rừng, thảm thực vật) làm gia tăng hiệu ứng nhà kính khí quyển, là nguyên nhân gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu và gây ra biến đổi khí hậu. Quá trình tác động của con người đã làm cho tốc độ nóng lên toàn cầu diễn ra nhanh hơn nhiều so với sự biến đổi một cách tự nhiên. Do đó, để ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, trước tiên phải giải quyết nguyên nhân của vấn đề chính là làm thế nào để giảm phát thải CO2 vào khí quyển và các phương thức thay đổi để sống chung với điều kiện khí hậu bị thay đổi, và câu chuyện đàm phán quốc tế về ứng phó biến đổi khí hậu toàn cầu cũng chỉ tập trung xoay quanh các nội dung này.

Việc cắt giảm phát thải CO­2 về bản chất là giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch bằng các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, thay đổi công nghệ mới hiệu suất cao, thu giữ và lưu trữ các-bon hoặc tăng cường việc hấp thụ CO­2 thông qua việc trồng rừng. Với hầu hết các nước sẽ luôn lựa chọn các giải pháp có chi phí thấp phù hợp với điều kiện quốc gia như trồng rừng, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả hoặc phát triển năng lượng tái tạo khi có lợi thế. Còn các giải pháp như chuyển đổi công nghệ hiệu suất cao, phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo ở những nơi có tiềm năng thấp, thu giữ và lưu trữ các-bon đều có chi phí cao hơn. Do đó, đây không còn là vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu đơn thuần mà đã trở thành vấn đề kinh tế, chính trị ở quy mô toàn cầu.

Đàm phán quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu

Năm 1992, tại Rio Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển đã đưa ra Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) đến nay đã có 197 Bên tham gia với mục tiêu cao cả là giữ cho nhiệt độ khí quyển của Trái Đất tăng không quá 20C vào cuối Thế kỷ 21. Và để cụ thể hóa mục tiêu này, quá trình thực hiện ở quy mô toàn cầu cũng như tại mỗi quốc gia cũng diễn ra khá tích cực nhằm giảm phát thải khí CO­2 từ các hoạt động phát triển vào bầu khí quyển. Việc thực hiện các cam kết giảm phát thải CO2 được thực hiện trong khuôn khổ UNFCCC dựa trên nguyên tắc “Trách nhiệm chung nhưng có sự khác biệt”. Nguyên tắc này nghe thì rất đơn giản nhưng khi đặt trong bối cảnh thực hiện ở quy mô toàn cầu thì đây là lại vấn đề đàm phán dai dẳng và kéo dài.

“Trách nhiệm chung” được hiểu rằng việc cắt giảm phát thải CO2 cần phải được thực hiện bởi tất cả các nền kinh tế phát triển và đang phát triển và “sự khác biệt” ở đây là sự khác nhau về trách nhiệm thực hiện giảm phát thải của mỗi quốc gia không chỉ dựa trên mức phát thải hiện tại mà còn tính đến cả trách nhiệm phát thải trong lịch sử. Đối với các quốc gia phát triển – là các quốc gia thuộc Phụ lục I của Công ước – đòi hỏi phải có cam kết mạnh mẽ hơn và trách nhiệm lịch sử rõ ràng hơn (vì trong quá khứ họ đã sử dụng rất nhiều nhiên liệu hóa thạch, phát thải nhiều khí nhà kính để có được thành tựu phát triển như hiện nay), còn đối với các quốc gia đang phát triển – Các nước không thuộc Phụ lục I – trên quan điểm Quyền được phát triển phải được đáp ứng giống như các nước phát triển đã trải qua thì trách nhiệm sẽ không có tính chất ràng buộc pháp lý mà chỉ thực hiện các hành động giảm nhẹ phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA) hoặc thông qua các cơ chế của của Nghị định thư Kyoto (Cơ chế CDM, JI, ETS) trong khuôn khổ Công ước. Các cam kết này vẫn đang được các Bên thực hiện từ năm 2008 đến năm 2020.

Với hiện trạng về phát thải khí nhà kính toàn cầu, các quốc gia đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi,… lại là các quốc gia đang có mức phát thải CO­2 hàng đầu thế giới lại không chịu nhiều áp lực là phải cắt giảm phát thải đã giúp cho quy mô nền kinh tế của các quốc gia này tăng trưởng nhanh chóng (Trung Quốc đã vươn lên thành nền kinh tế thứ 2 của Thế giới), do đó việc thực hiện nguyên tắc “Trách nhiệm chung” lại tiếp tục được đặt lên bàn đàm phán tại các Hội nghị các Bên tham gia Công ước (COP) theo hướng trách nhiệm của các nước đang phát triển phải được ràng buộc hơn và yếu tố “Quyền phát thải dựa theo lịch sử phát triển” đã bị làm mờ đi trước những áp lực về môi trường và sự cam kết hỗ trợ từ các nước phát triển để có thể bỏ qua quá trình tăng trưởng dựa trên nền tảng bắt buộc sử dụng nhiều tài nguyên và phát thải lớn. Năm 2015, COP21 tại Paris đã đạt được một bước tiến mới trong đàm phán về biến đổi khí hậu toàn cầu đó là tất cả các Bên đã thông qua Thỏa thuận Paris với mục tiêu và cam kết cụ thể giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cho giai đoạn từ 2021 – 2030.

Thỏa thuận Paris sẽ được thực hiện thông qua nhiều cơ chế như tài chính các-bon, cơ chế thị trường, chuyển giao công nghệ, hệ thống minh bạch… Hiện nay các cơ chế này đang tiếp tục được các nhà đàm phán kỹ thuật và các chuyên gia nghiên cứu, hướng dẫn để áp dụng cho tất cả các quốc gia.

Nguồn ảnh: https://reseauactionclimat.org

Thách thức và cơ hội với ngành Công Thương

Như tổng hợp ở trên, ngành Công Thương có thể gặp một số thách thức và cơ hội như sau:

– Cho đến nay, kinh nghiệm tăng trưởng các nền kinh tế lớn trên Thế giới (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc, Châu Âu, Trung Quốc) đều dựa trên nền tảng phát triển của ngành năng lượng sử dụng các dạng nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, khí đốt… với công nghệ khai thác, chế biến, vận chuyển và sử dụng có chi phí rẻ và hợp lý, phù hợp với hầu hết các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Việc phát triển của ngành năng lượng trên nền tảng công nghệ hiệu suất cao (phát thải thấp), phát triển năng lượng tái tạo (phát thải bằng không) với các thiết bị và công nghệ hiện đại là xu hướng chung của thế giới, tuy nhiên chi phí cho các giải pháp này vẫn còn khá đắt. Ngay tại các quốc gia phát triển có quy mô của nền kinh tế lớn thì việc phổ biến các giải pháp này vẫn vẫn còn gặp nhiều khó khăn, còn đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì đây thực sự là một thách thức.

– Về bản chất, việc cắt giảm phát thải CO2 đồng nghĩa với việc giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch tại các nền kinh tế, điều này đòi hỏi các quốc gia phải cân nhắc, lựa chọn kịch bản tăng trưởng nâu (duy trì mức tăng trưởng cao, sử dụng nhiều năng lượng, sử dụng nhiều nhiên liệu hóa thạch, phát thải lớn) hay tăng trưởng xanh bền vững (sử dụng công nghệ, thiết bị hiệu suất cao, sử dụng năng lượng tái tạo, giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch…). Trong bối cảnh thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, Việt Nam đã cam kết tự thực hiện giảm 8% mức phát thải khí vào năm 2030 và nếu có thêm nguồn lực quốc tế thì có thể đạt 25%, như vậy có thể thấy việc thực hiện tăng trưởng xanh (ở mức giảm phát thải 25%) vẫn còn là một thách thức và phụ thuộc.

– Với nhu cầu tăng trưởng xanh, thực hiện mục tiêu giảm phát thải CO2 như đã cam kết của các quốc gia, tất cả các nền kinh tế sẽ có nhu cầu rất lớn về thiết bị và công nghệ xanh, phát thải thấp. Đây là một thị trường rất tiềm năng với Bên cung là các nước phát triển chiếm lợi thế và Bên cầu là các nước đang phát triển không có lợi thế sẽ phải đánh đổi những thứ mà mình sẵn có như tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, tài chính (với số lượng lớn và giá rẻ) để thực hiện cam kết. Như vậy, vấn đề thực hiện cam kết về biến đổi khí hậu không còn là vấn đề môi trường hay biến đổi khí hậu đơn thuần mà bản chất chính là lợi ích về thương mại trong chuyển giao khoa học, công nghệ ở quy mô toàn cầu. Với mục tiêu tăng thêm 17% giảm phát thải khi có thêm nguồn lực hỗ trợ từ quốc tế mà Việt Nam đã cam kết theo Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu thì đây thực sự là một thị trường đầy tiềm năng cho các thiết bị, công nghệ sử dụng hiệu quả năng lượng (bao gồm cả sản xuất năng lượng) và phát triển các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo tại Việt Nam.

– Trong bối cảnh thực hiện các cam kết về giảm nhẹ biến đổi khí hậu toàn cầu, Thế giới đã xuất hiện các Liên minh không sử dụng than đá (do Anh và Canada khởi xướng), Liên minh năng lượng mặt trời (do Ấn Độ và Pháp khởi xướng),.. nhằm hối thúc Chính phủ các quốc gia tích cực hành động vì mục tiêu khí hậu. Trong bối cảnh đó, ngành năng lượng Việt Nam sẽ gặp nhiều thách thức cũng như sức ép trong quá trình phát triển, đặc biệt là khả năng tiếp cận các nguồn tài chính, vốn đầu tư cho các dự án phát triển năng năng lượng sử dụng nhiên liệu hóa thạch hiệu suất thấp, phát thải lớn sẽ bị hạn chế và rất khó khăn. Hiện nay OECD đang vận động các quốc gia thành viên thông qua chính sách đầu tư không cho vay đối với các dự án sử dụng nhiên liệu hóa thạch, đặc biệt là nhiệt điện than, điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến ngành năng lượng của Việt Nam. Nhưng với xu thế này, đây có thể coi là một cơ hội tốt để ngành năng lượng có bước đi đột phá hướng tới tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

– “Rò rỉ các-bon xuyên biên giới” là một nguy cơ hiện hữu trong bối cảnh các quốc gia thực hiện các cam kết về giảm phát thải CO­2, các ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng, các công nghệ lạc hậu hiệu suất thấp, tiêu tốn nhiều năng lượng sẽ có xu hướng dịch chuyển các dự án đầu tư sang các nước đang phát triển và các nước cam kết giảm phát thải khí nhà kính ít. Bên cạnh các vấn đề về môi trường của các hoạt động đầu tư này, ngành năng lượng chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng do nhu cầu tăng cao gây mất cân bằng cung cầu, trong khi năng lực đáp ứng và hạ tầng chưa thể theo kịp. Điều này không chỉ dẫn đến nguy cơ về mất an ninh năng lượng mà còn gây mất ổn định xã hội, đồng thời còn làm tăng mức phát thải khí nhà kính của quốc gia đó và gia tăng trách nhiệm giảm phát thải trong tương lai.

– Trong bối cảnh thương mại toàn cầu, cam kết về giảm nhẹ với biến đổi khí hậu toàn cầu còn được các quốc gia phát triển “ép” các quốc gia đang phát triển phải thực hiện theo bằng các Tiêu chuẩn về định mức và phát thải. Các thiết bị, sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa tham gia thị trường sẽ phải dãn nhãn tiết kiệm năng lượng hoặc nhãn các-bon (carbon footprint – là loại nhãn được tính toán về mức phát thải CO2 trong quá toàn bộ vòng đời sản phẩm gồm khai thác, chế biến nguyên liệu, sản xuất hàng hóa, vận chuyển và phân phối, tiêu dùng và thải bỏ). Đây thực sự là thách thức đối với nền sản xuất trong nước khi mà trình độ công nghệ còn lạc hậu, tiêu tốn nhiều năng lượng và phát thải lớn thì các sản phẩm hàng hóa của Việt Nam sẽ không có cơ hội tiếp cận các thị trường khắt khe bởi các rào cảnh kỹ thuật về biến đổi khí hậu trong tương lai. Tuy nhiên đây không chỉ là thách thức mà còn là cơ hội để nền sản xuất của Việt Nam có thể chủ động thay đổi đáp ứng yêu cầu của thị trường sẽ góp phần giải quyết các mục tiêu về phát triển năng lượng bền vững và giảm phát thải khí nhà kính của quốc gia.

Như vậy, có thể thấy câu chuyện về ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu và các cam kết quốc tế không chỉ đơn thuần là vấn đề môi trường và khí hậu, đằng sau nó là các vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội và là tương lai bền vững của mỗi quốc gia. Thực hiện các cam kết về giảm nhẹ biến đổi khí hậu toàn cầu là xu hướng chung của thế giới, Việt Nam và nhiều quốc gia khác nói chung, ngành Công Thương nói riêng chắc chắn sẽ gặp phải nhiều khó khăn, thách thức đòi hỏi chúng ta nhận thức rõ về vai trò, trách nhiệm và nắm bắt tốt cơ hội để thúc đẩy quá trình tăng trưởng xanh và phát triển bền vững ngành, quốc gia.

Th.S Nguyễn Quang Huy Vụ Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững

Giải Pháp Chống Biến Đổi Khí Hậu

Biến đổi khí hậu gây hậu quả tại nhiều quốc gia. Ảnh: GETTY IMAGES

Số liệu mới nhất trong Báo cáo khí thải nhà kính hằng năm của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), được đăng trên trang chúng tôi của tổ chức này chỉ ra rằng, khí CO2 trong bầu khí quyển đã tăng lên ngưỡng cao kỷ lục trong năm 2017 và không có dấu hiệu giảm trong thời gian tới. Không chỉ lượng CO2 gia tăng mà cả lượng khí metan, nitrous oxide (NO) và khí CFC-11 phá hủy tầng ozon cũng đang tăng lên. Tổng Thư ký WMO Petteri Taalas cảnh báo, nếu lượng CO2 và các khí thải nhà kính khác không được nhanh chóng cắt giảm, sự sống trên Trái đất sẽ đối mặt các hậu quả nặng nề.

Các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu sinh vật biển, thuộc Đại học Hawaii (Mỹ) nhấn mạnh, đến cuối thế kỷ 21, nhiều nơi trên thế giới có nguy cơ cao phải hứng chịu cùng lúc một loạt thiên tai, từ những đợt nắng nóng, cháy rừng tới những cơn mưa và bão lớn. Nguyên nhân chính là do các loại khí thải gây hiệu ứng nhà kính tràn ngập trong không khí, kích thích sản sinh ra các tác nhân đe dọa sự sống. Vụ cháy rừng mới đây ở bang California (Mỹ) được xem là vụ hỏa hoạn tồi tệ nhất trong lịch sử bang này, khiến hàng trăm người chết và mất tích, là một thí dụ điển hình.

Theo Hiệp định Paris ký năm 2015 về chống BĐKH, gần 200 quốc gia đã cam kết giữ nhiệt độ toàn cầu tăng dưới mức 2 độ C so thời kỳ tiền công nghiệp và theo đuổi các nỗ lực để hạn chế ở mức 1,5 độ C. Ông Andrew King, giảng viên về khoa học khí hậu thuộc Đại học Melbourne (Australia) nhận định: “Cánh cửa” để duy trì mức tăng nhiệt độ toàn cầu dưới 1,5 độ C đang khép lại nhanh chóng và các kết quả đạt được từ việc thực hiện các cam kết phát thải hiện nay của các bên ký Hiệp định Paris không bảo đảm cho chúng ta đạt được mục tiêu đó”.

Báo cáo của IPCC khẳng định, BĐKH là không thể phủ nhận và những gì xảy ra tiếp theo còn tồi tệ hơn. Các rạn san hô sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, với khoảng 70% – 90% diện tích dự báo sẽ chết. Còn theo kết quả một nghiên cứu mới đây do các chuyên gia thuộc Đại học Kỹ thuật Delf (Hà Lan) thực hiện, một diện tích băng lớn, khoảng 300 km2, đang bị nứt và có nguy cơ tách rời khỏi lớp nền của đảo băng Pine tại Nam Cực. Tần suất các vụ nứt ngày càng tăng, cho thấy băng ở Nam Cực đang tan nhanh hơn so dự kiến. Trong một báo cáo mới đây về nguồn nước quốc gia, Bộ Môi trường & Phát triển bền vững Colombia cũng cảnh báo, sông băng Santa Isabel, một trong những dòng sông băng lớn nhất tại miền trung nước này, có nguy cơ biến mất trong vòng 10 năm tới.

Theo New York Daily News, Chương trình Nghiên cứu biển đổi toàn cầu của Mỹ mới đây công bố, vào cuối thế kỷ 21, BĐKH có thể sẽ khiến Mỹ thiệt hại hàng trăm tỷ USD mỗi năm, cao hơn GDP của nhiều bang ở Mỹ. Trái đất ấm lên, mực nước biển dâng cao, thời tiết khắc nghiệt khiến loài người có nguy cơ đối mặt tình trạng mất an ninh nghiêm trọng. Các chuyên gia cho rằng, người dân tại các khu vực kém phát triển, như châu Phi, dễ bị tổn thương nhất, khi phải vật lộn với hạn hán, lũ lụt, đói nghèo và thiếu nước sạch.

Chưa quá muộn để hành động

Báo cáo của IPCC nhận định, để giữ cho nhiệt độ Trái đất chỉ tăng ở mức 1,5 độ C so thời kỳ tiền công nghiệp, lượng khí thải CO2 toàn cầu vào năm 2030 cần giảm là 45% so mức của năm 2010, và xuống mức “không phát thải” vào khoảng năm 2050. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi những thay đổi rộng rãi trong lĩnh vực năng lượng, công nghiệp, xây dựng, giao thông và đô thị. Một số phương pháp để hạn chế thải khí CO2 ra bầu khí quyển đã được đưa ra, trong đó có việc thúc đẩy các quy trình tự nhiên và phát triển công nghệ lưu trữ, sử dụng năng lượng từ nước, gió, thay thế năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch.

Báo The Jakarta Post dẫn kết quả báo cáo do một liên minh gồm 38 tổ chức phi chính phủ thực hiện được công bố mới đây cho hay, việc khôi phục hệ sinh thái rừng tự nhiên, bảo đảm quyền sử dụng đất của các cộng đồng dân cư bản địa và điều chỉnh hệ thống cung cấp thực phẩm toàn cầu, có thể góp phần giảm tới 40% lượng khí thải nhà kính vào năm 2050. Theo tính toán của giới chuyên gia, tới năm 2050, nếu các nước giàu giảm được 90% lượng thịt tiêu thụ, môi trường sinh sống bền vững cho khoảng 10 tỷ cư dân trên Trái đất có thể được bảo đảm. Việc giảm 30% lượng thực phẩm dư thừa hiện nay cũng sẽ giúp giảm 500 triệu tấn khí CO2, khoảng 1% tổng lượng khí phát thải.

Tại Hội nghị BĐKH trực tuyến diễn ra ngày 21-11 vừa qua, Tổng Thư ký LHQ Antonio Guterres cho rằng, thế giới vẫn chưa hành động đủ nhanh và mạnh mẽ để ứng phó sự ấm lên của Trái đất, vì thế cần ngay lập tức giải quyết thực trạng này. Chủ tịch Đại Hội đồng LHQ Maria Fernanda Espinosa cho rằng, lượng khí CO2 hiện nay đang ở mức cao nhất trong vòng 800 nghìn năm qua. Riêng trong năm 2017, thiên tai gây ra thiệt hại hơn 500 tỷ USD cho toàn thế giới. Tuy nhiên, bà Espinosa khẳng định vẫn chưa quá muộn để hành động.

Châu Phi là một trong những khu vực được quan tâm nhất trong việc đối phó BĐKH. Theo báo cáo Chỉ số tổn thương do BĐKH của LHQ năm 2018, có tới 79 thành phố châu Phi nằm trong danh sách 100 thành phố có tốc độ tăng dân số nhanh nhất thế giới đứng trước tác động nghiêm trọng của BĐKH. Các chuyên gia cảnh báo, gần 50% GDP của châu Phi (khoảng 1.400 tỷ USD) có nguy cơ “bốc hơi” vào năm 2023 do tác động của tình trạng nóng lên toàn cầu. Giới khoa học cho rằng, chính quyền các cấp tại châu Phi cần ưu tiên bảo đảm thích nghi với những tác động không thể tránh khỏi của BĐKH. Chính phủ các nước cũng cần tích hợp khả năng thích ứng với BĐKH trong tất cả các chiến lược phát triển; cân bằng tăng trưởng kinh tế với quản lý môi trường thông minh; phổ biến và nâng cao sự hiểu biết của các cộng đồng dân cư về khí hậu…

BĐKH đang diễn ra nhanh hơn phản ứng của các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ 24 các bên tham gia Công ước khung của LHQ về BĐKH (COP 24), dự kiến khai mạc tại Ba Lan ngày 2-12 tới được kỳ vọng sẽ “hồi sinh” Hiệp định Paris về chống BĐKH, vốn bị giảm hiệu lực sau khi Tổng thống Donald Trump tuyên bố rút Mỹ khỏi văn kiện này vào tháng 6-2017, với lý do thiếu công bằng với Mỹ.