Top 12 # Xem Nhiều Nhất Giải Pháp Tài Trợ Thâm Hụt Ngân Sách Nhà Nước / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Thâm Hụt Ngân Sách Và Biện Pháp Tài Trợ / 2023

http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN

LỜI NÓI ĐẦU Ngân sách là một công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước. Thông qua ngân sách tích luỹ và tiêu dùng, xuất và nhập khẩu…

.CO

Nhà nước sẽ tham gia vào việc điều chỉnh những vấn đề lớn của nền kinh tế như: Thâm hụt ngân sách sẽ gây sức ép làm tăng lãi suất thị trường, do đó cản trở nhu cầu đầu tư của các nhà kinh doanh làm giảm sự tăng trưởng kinh tế, lãi suất tăng làm giá trị đồng nội tệ tăng, dẫn đến tình trạng siêu nhập. Ngoài ra thâm hụt

KS

ngân sách còn ảnh hưởng tới tình trạng lạm phát, sự ổn định xã hội… Vì vậy ngân sách và vấn đề thâm hụt ngân sách là mối quan tâm sâu sắc của mỗi quốc gia. Để hiểu rõ và nắm vững vấn đề quả là không phải dễ, do đó trong đề

OO

án này chỉ đề cập được những vấn đề mang tính chung nhất về “thâm hụt ngân Chắc chắn trong đề án còn nhiều sai sót, em mong nhận được lời góp ý của

KIL

OB

thầy cô. Em xin trân trọng cảm ơn!

1

http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN I. NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Ngân sách nhà nước là gì ? Ngân sách nhà nước là một bảng dự toán và thực hiện các khoản thu ,chi tài đầu từ ngày 1/1 đến ngày 31/12 của năm đó).

.CO

chính của nhà nước trong khoảng thời gian thường là một năm(năm tài chính bắt Ngân sách nhà nước do Quốc hội xem xét và quyết định thông qua tình hình thực hiện ngân sách năm trước,nhiệm vụ thu chi của ngân sách nhà nước năm nay,tình hình bội chi ngân sách nhà nước,các giải pháp bù đắp bội chi ngân

KS

sách,các khoản nợ nhà nước đến hạn…

Về mặt hình thức thì ngân sách nhà nước là một bảng cân đối tổng hợp các khoản thu và chi .Còn về mặt nội dung kinh tế thì ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân và các

OO

nguồn tiền tệ khác nhằm hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập chung lớn nhất của nhà nước,thực hiện chức năng nhà nước .

Hàm ngân sách đơn giản có dạng sau: B = -G + tY

OB

Trong đó: B là cán cân ngân sách G là chi tiêu ngân sách tY là thu ngân sách

KIL

2. Vai trò của ngân sách Nhà nước Ngân sách nhà nước là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước.Mà nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định,bền vững.Và như vậy ngân sách nhà nước chính là cơ sở tài chính,là nguồn lực để nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình. Thông qua ngân sách, nhà nước sẽ điều tiết các quan hệ kinh tế tạo nên sự cân đối giữa tích luỹ và tiêu dùng,giữa xuất khẩu và nhập khẩu,giữa cơ cấu đầu tư

2

http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN và cơ cấu tiêu dùng…nhà nước điều tiết thu nhập giữa các thành phần dân cư tạo nên sự công bằng xã hội. Nếu như trước đây ngân sách nhà nước chuyên đảm nhiệm việc bù lỗ,bù giá,bù lương…thì bây giờ nó dành vốn đầu tư cho kết cấu hạ tầng và chi phí cho các

.CO

nhu cầu khác của xã hội.

Vậy ta đã biết thế nào là ngân sách nhà nước và vai trò to lớn của nó trong nền kinh tế ,nhưng nếu quản lý thiếu hiệu quả nó sẽ không phát huy được hết tác dụng,do đó ta sẽ đi tìm hiểu:

KS

3. Quản lý ngân sách Nhà nước

Quản lý ngân sách nhà nước là một chu trình gồm ba khâu chính sau: -Lập dự toán ngân sách nhà nước -Chấp hành ngân sách nhà nước

OO

-Quyết toán ngân sách nhà nước

Để quản lý tốt ngân sách cần hoàn thành tốt cả ba khâu trên,ta sẽ đi vào cụ thể từng khâu để thấy rõ nhiệm vụ và yêu cầu cần thực hiện. 3.1. Lập dự toán ngân sách Nhà nước

OB

Việc lập dự toán ngân sách do các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương thực hiện trong phạm vi quản lý,gửi tới các cơ quan cùng cấp .Sau đó Bộ tài chính sẽ thay mặt Chính phủ trong việc xem xét dự toán thu chi ngân sách của các cơ quan nói trên và dựa trên cơ sở đó sẽ trình Chính phủ bản dự toán ngân sách

KIL

nhà nước.Cuối cùng Chính phủ sẽ trình Quốc hội xem xét và quyết định. Khi lập dự toán ngân sách nhà nước phải đảm bảo hai yêu cầu sau: -Thứ nhất đảm bảo đúng trình tự và thời gian quy định -Thứ hai đảm bảo việc xây dựng các chỉ tiêu thu,chi ngân sách nhà nước nhà nước phải dựa trên hệ thống,chế độ,các tiêu chuẩn hiện hành có tính chất pháp luật của nhà nước.

Ngoài ra,việc lập dự toán ngân sách nhà nước phải dựa vào :

3

http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN -Các chủ trương chính sách của nhà nước trong việc phát triển kinh tế-xã hội của đất nước . -Hệ thống chế độ các định mức thu ,chi trong luật ngân sách nhà nước

3.2.Chấp hành ngân sách Nhà nước

.CO

-Tình hình số liệu có tính chất lịch sử. Dự toán ngân sách nhà nước sau khi được quốc hội thông qua thì các khoản thu chi sẽ trở thành chỉ tiêu pháp lệnh buộc các cấp,các ngành phải thực hiện. *Đối với dự toán thu ngân sách phải đảm bảo thu đủ và kịp thời.

KS

*Đối với dự toán chi ngân sách phải đảm bảo chi đúng đối tượng,có hiệu quả kinh tế cao.

Ngân sách nhà nước ta hiện nay có năm phương thức cấp phát chính: -Gán thu bù chi -Cấp phát lệnh chi tiền

OO

-Ghi thu ,ghi chi

-Cấp phát hạn mức kinh phí

-Cấp phát kinh phí uỷ quyền

OB

Mỗi phương thức đều có ưu nhược điểm riêng ,do đó cần phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp để thực hiện tốt kế hoạch thu và chi ngân sách. 3.3.Quyết toán ngân sách Nhà nước Đảm bảo đúng trình tự,đi từ cấp dưới lên cấp trên,Bộ tài chính sẽ xem xét và

KIL

duyệt quyết toán thu chi,sau đó sẽ tổng hợp để trình lên Chính phủ.Chính phủ sẽ trình lên Quốc hội trong kỳ họp cuối năm để duyệt và thông qua. Các báo cáo thu chi ngân sách Nhà nước ở các cấp đều phải được cơ quan kiểm toán nhà nước kiểm tra và xác nhận. Trong quá trình quyết toán ngân sách phải đảm bảo một số yêu cầu sau: -Phải tuân theo chế độ kế toán,pháp lệnh thống kê-kế toán nhà nước đã ban hành.

4

http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN -Phải đảm bảo tính tăng cường trách nhiệm cho các đơn vị,các cơ quan tài chính từ trung ương đến địa phương trong việc xem xét và quyết toán ngân sách nhà nước. -Số liệu phục vụ quyết toán phải được kiểm tra đối chiếu,trùng khớp với số 4. Phân cấp ngân sách Nhà nước

.CO

liệu của kho bạc nhà nước và được kho bạc nhà nước xác nhận.

Phân cấp ngân sách nhà nước là việc giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền trong vấn đề quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước

KS

Một là,giải quyết mối quan hệ về quyền lực trong việc ban hành chính sách,ban hành các chế độ thu chi của ngân sách nhà nước Hai là,giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân chia nhiệm vụ về kinh tế – chính trị – xã hội và căn cứ vào các nguồn thu trên từng địa bàn để có

OO

phương án điều hoà ngân sách một cách thích hợp.

Ba là,giải quyết mối quan hệ trong quá trình thực hiện chu trình quản lý ngân sách nhà nước.

Nhưng để thực hiện tốt phân cấp ngân sách nhà nước thì trong phân cấp phải

OB

đảm bảo các nguyên tắc sau:

-Phân cấp ngân sách nhà nước phải được tiến hành đồng thời với việc phân cấp về kinh tế và bộ máy hành chính nhà nước -Trong phân cấp ngân sách nhà nước phải đảm bảo được vai trò của ngân

KIL

sách trung ương và tính độc lập của ngân sách địa phương -Việc phân cấp ngân sách phải đảm bảo sự công bằng giữa các cấp ngân sách.

Trong nghị quyết186/HĐBT nguyên tắc phân cấp ngân sách có thêm một số điểm sau:

5

http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý ngân sách nhà nước là phải đảm bảo sự cân đối giữa thu và chúng tôi nhiên do nhiều tác động khác nhau mà nguồn thu bị hạn chế,trong khi nhu cầu chi lại tăng rất nhanh nên ngân sách nhà nước rơi vào tình trạng thâm hụt.

.CO

Bản chất vấn đề ở đây là gì ? Nguyên nhân ?Hậu quả của nó ra sao ?ta sẽ đi vào tìm hiểu

II. THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ NGUYÊN NHÂN 1. Khái niệm về thâm hụt ngân sách Nhà nước

KS

OO

thâm hụt ngân sách) B=T-G

B < 0 :Thâm hụt ngân sách (B là hiệu số giữa thu và chi) Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý ngân sách nhà nước

OB

là đảm bảo sự cân đối giũa thu và chúng tôi nhiên do khả năng nguồn thu bị hạn chế và tăng chậm ,thời kỳ vừâ qua(1976 đến nay) các nhu cầu chi lại tăng nhanh nên ngân sách nhà nước mới bội chi kinh niên.Thâm hụt ngân sách cũng là hiện tượng phổ biến ở các quốc gia trên toàn thế giới

KIL

Người ta phân biệt ba loại thâm hụt là:Thâm hụt cơ cấu,thâm hụt thực tế và thâm hụt chu kỳ.

-Thâm hụt ngân sách thực tế:Là thâm hụt khi số chi thực tế vượt số thu thực tế trong một thời kỳ nhất định.

-Thâm hụt ngân sách cơ cấu:Là thâm hụt tính toán trong truờng hợp nếu nền kinh tế hoạt động ở mức sản lượng tiềm năng. -Thâm hụt ngân sách chu kỳ:Là thâm hụt ngân sách bị động do sự vận động theo chu kỳ của nền kinh tế thị trường.Thâm hụt chu kỳ xảy ra tự động như nó là 6

http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN kết quả của chu kỳ kinh doanh và được tính bằng hiệu số giữa thâm hụt thực tế và thâm hụt cơ cấu. Trong ba loại thâm hụt trên thì thâm hụt cơ cấu phản ánh kết quả hoạt động chủ quan của chính sách tài khoá như : định ra thuế suất,phúc lợi,bảo hiểm…Vì vậy

.CO

để đánh giá kết quả phải sử dụng thâm hụt cơ cấu.

2. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thâm hụt ngân sách Thâm hụt ngân sách không phải là ý muốn của bất kỳ chính phủ nào,mà ngược lại tất cả các chính phủ đều hứa hẹn và mong muốn đạt tới sự cân bằng ngân

KS

sách.Tuy nhiên đây thực sự là một bài toán hóc búa,mà nguyên nhân chủ yếu là do vi phạm một số nguyên tắc thu và chi ngân sách.

Ngoài ra,các cuộc khủng hoảng kinh tế cũng dẫn tới tình trạng thâm hụt.Khi đất nước lâm vào khủng hoảng ,GNP thực tế giảm,các khoản thu nhập của chính

OO

phủ giảm (thuế doanh thu và thu nhập giảm), mà các khoản chi chuyển nhượng lại tăng.

Cụ thể,ở các nước tư bản,một mặt để khuyến khích phát triển khu vực kinh tế tư nhân,chính phủ đã tiến hành cải cách hệ thống thuế, theo hướng thu hẹp tỷ lệ

OB

thuế trực thu,làm cho tổng số thu của ngân sách nhà nước giảm mạnh.Mặt khác,cùng với việc tăng chi cho các nhu cầu xã hội,xây dựng các công trình công cộng,trợ cấp cho các doanh nghiệp tư nhân,nghiên cứu khoa học,thì chi phí quân sự trạng thâm hụt.

KIL

cũng tăng lên không ngừng,quá sức chịu đựng của ngân sách nhà nước,dẫn đến tình Còn ở Việt Nam,đặc điểm nổi bật của ngân sách nhà nước thời gian qua là chịu ảnh hưởng nặng nề của hoàn cảnh chiến tranh lâu dài và cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung cao độ.Vì vậy ngân sách nhà nước luôn gặp phải những khó khăn to lớn , trở nên hết sức bị động cả về thu,chi và cân đối. Thu ngân sách nhà nước tăng chậm và không ổn định,nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế không đủ chi cho hầu hết các lĩnh vực kinh tế,xã hội và cho sản xuất kinh chúng tôi ngân sách còn lãng phí ,kém hiệu quả, mà nhu cầu chi tiêu của nhà 7

http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN nước thì ngày càng tăng .Hơn nữa,việc quản lý và điều hành ngân sách còn nhiều hạn chế,thể hiện trên tất cả các lĩnh vực:Lập và quyết định dự toán ngân sách,phân bổ ngân sách,kế toán và quyết toán ngân sách..Đó là những nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến tình trạng thâm hụt ngân sách.

.CO

Ngoài ra,còn có một trường hợp đặc biệt.Lý thuyết cổ điển chỉ ra rằng muốn thăng bằng ngân sách trong thời kỳ suy thoái thì hoặc phải tăng thu hoặc phải giảm chi,song cả hai phương pháp này chỉ ảnh hưởng tới nền kinh tế hai cái “máy hãm” khiến cho nền kinh tế đã trì trệ lại càng trì trệ nặng nề hơn.

KS

Để tránh ảnh hưởng kìm hãm đó người ta cố tránh bằng cách cố ý thâm hụt ngân sách,sự thiếu hụt ngân sách là động lực và khơi mào cho sự phục hồi kinh tế bằng cách chi tiêu ra nhiều hơn.Nhưng cách này có tác động nguy hiểm đến nền kinh tế của quốc gia,do đó chúng ta phải rất thận trọng trong gây ra thiếu hụt và sự

OO

thâm hụt ngân sách tạm thời này phải được kiểm soát chặt chẽ trong một giới hạn nhất định

Ví dụ như ở Pháp trong quá trình thực hiện các chương trình cải cách đã tiến hành giảm thuế.Việc bãi bỏ thuế đối với các doanh nghiệp lớn và thuế lợi nhuận

OB

đối với các doanh nghiệp lớn và trung bình đã làm mất nguồn thu của ngân sách nhà nước 14 tỷ Phơrăng .Thu giảm mà chi cho các nhu cầu xã hội lại tăng (năm 1982 tăng 4,6% ) dẫn đến thâm hụt ngân sách

KIL

Bảng thâm hụt ngân sách nhà nước Pháp (tỷ Phơrăng) 1981

hụt 85,6

ngân sách

1982

1983

1984

1988

114,4

142,3

139,9

145

3. Tác động của thâm hụt ngân sách Nhà nước đối với nền kinh tế 3.1.Thâm hụt ngân sách và vấn đề thoái lui đầu tư

8

http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN Theo “thuyết tương đương” của Ricardo khi có tình trạng thâm hụt ngân sách thì tiết kiệm của dân chúng tăng lên bằng mức thâm hụt.Vì thế sẽ không ảnh hưởng đến lãi suất,không gây cản trở đầu tư. Tuy nhiên qua thực tế ở nhiều nước khi ngân sách nhà nước thâm hụt ,chi

.CO

tăng ,thu giảm,GNP sẽ tăng lên theo hệ số nhân,nhu cầu về tiền tăng theo.Với mức cung về tiền cho trước,lãi suất sẽ tăng lên,bóp nghẹt một số đầu tư.Kết quả là một phần GNP tăng lên có thể bị mất đi do thâm hụt cao,kéo theo tháo lui đầu tư với quy mô nhỏ nếu trong ngắn hạn và quy mô lớn nếu trong dài hạn.Từ đó làm giảm

KS

sự tăng trưởng kinh tế .

3.2.Thâm hụt ngân sách – một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát Để thấy rõ điều này trước hết ta cần hiểu lạm phát là gì? “Lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian.”

OO

Khi ngân sách thâm hụt lớn,chính phủ có thể in thêm tiền để trang trải,lượng tiền danh nghĩa tăng lên là một nguyên nhân gây ra lạm phát.Khi giá cả đã tăng lên thì sự thâm hụt mới lại nảy sinh đòi hỏi phải in thêm một lượng tiền mới và lạm phát tiếp tục tăng vọt.Mà tác hại của lạm phát là rất lớn như phân phối lại thu nhập

OB

và của cải một cách ngẫu nhiên,gây biến dạng về cơ cấu sản xuất và việc làm trong nền kinh tế…Như vậy, nghĩa là thâm hụt ngân sách nhà nước gián tiếp gây ra các tác động trên làm tổn hại đến nền kinh tế . Tuy nhiên,lạm phát cũng có tác động ngược đến thâm hụt ngân sách nhà

KIL

nước.Với tác động phân phối lại của cải một cách ngẫu nhiên thì lạm phát cũng làm dễ dàng hơn cho chính phủ trong một chừng mực nhất định: Thứ nhất,Chính phủ có thêm một nguồn thu nhập đó là thuế lạm phát. Thứ hai,Chính phủ có thể được lợi nếu lạm phát làm cho lãi suất danh nghĩa tăng ít hơn bản thân mức tăng của lạm phát. Và như vậy mức thâm hụt ngân sách có thể giảm . 3.3.Tác động của thâm hụt ngân sách tới cán cân thương mại

9

http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN Hiệu số giữa xuất khẩu và nhập khẩu trong khoản giao dịch còn gọi là cán cân thương mại.Các hoạt động xuất và nhập khẩu hàng hoá không chỉ được đánh giá thông qua số lượng mà còn được đánh giá thông qua tỷ lệ trao đổi.Tỷ lệ trao đổi ở đây là tỷ số giữa giá hàng xuất khẩu của một nước và giá hàng nhập khẩu ccủa

.CO

bản thân nước đó .Như vậy ,nếu như giá xuất khẩu tăng lên một cách tương đối so với hàng nhập khẩu thì cán cân thương mại sẽ được tăng cường theo hướng tích cực và ngược lại ( nếu như khối lượng hàng không thay đổi .)

Như ta đã phân tích ở trên , tình trạng thâm hụt ngân sách sẽ làm cho lãi suất

KS

thị trường tăng.Lãi suất tăng làm cho giá trị đồng nội tệ tăng,giá hàng hoá trong nước theo đó cũng tăng làm giảm lượng hàng xuất khẩu.Trong khi tương ứng,hàng hoá của đất nước khác sẽ rẻ tương đối so với nước đó,dẫn tới việc tăng lượng hàng nhập khẩu .Vì vậy ,thâm hụt ngân sách sẽ gây ra tình trạng nhập siêu:Nhập vào lớn

OO

hơn xuất ra,việc sử dụng hàng hoá sản xuất trong nước bị hạn chế ,sản xuất gặp nhiều khó khăn,tác động không ít tới sự tăng trưởng kinh tế. Nước Mỹ từ những năm 80 khi chúng tôi GÂN lên làm tổng thống tình trạng thâm hụt ngân sách trở nên trầm trọng,lần đầu tiên trong lịch sử vượt qua con số

OB

trên 100 tỷ USD,ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế và tình hình xuất nhập khẩu,ta có thể thấy rõ điều đó qua bảng số liệu sau (tỷ USD ) Xuất khẩu

KIL

530

Nhập khẩu

thâm

hụt

155

10

http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN III. TRANG HOẠT ĐỘNG VÀ TÌNH HÌNH THÂM HỤT NGÂN SÁCH THỜI GIAN QUA Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 1. Ngân sách nhà nước Việt Nam – nạn nhân của cơ chế bao cấp

.CO

Nền kinh tế Việt Nam trước đây kém phát triển ,thứ nhất do hậu quả của chiến tranh,thứ hai do duy trì cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập chung và hệ thống kiếm soát lỏng lẻo.

Cả hai yếu tố đó cũng làm cho hoạt động của ngân sách nhà nước mang tính

KS

chất bao biện và bao cấp trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế xã hội .Và trên thực tế ,ngân sách nhà nước là kênh chủ yếu để động viên các nguồn tài chính cấp phát trở lại cho nền kinh tế (từ huy động các nguồn thu đến trang trải các khoản chi,thanh toán nợ nần,đảm bảo kinh phí cho các tổ chức đoàn thể và các nhu cầu xã

OO

hội ).

Trong quá trình thực hiện vai trò của mình,ngân sách nhà nước luôn gặp phải những khó khăn to lớn và trở nên hết sức bị động cả về thu,chi lẫn cân đối. Thu ngân sách nhà nước tăng chậm và không ổn định,nguồn thu từ nội bộ

OB

nền kinh tế quốc dân không đủ để bao chi cho hầu hết các lĩnh vực kinh tế ,xã hội và cho sản xuất,kinh doanh .Do đó ,phần lớn các khoản cấp phát từ ngân sách nhà nước cho tích lũy và tiêu dùng dựa vào nguồn viện trợ và vay nợ nước ngoài.Để chứng minh ta có bảng số liệu sau

KIL

Giai đoạn

Nguồn viện trợ và vay nợ

so với thuNSNN(%)

1960-1975

56,8

1976-1980

38,2

1981-1985

22,4

1986-1990

21,5

11

http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN Khu vực kinh tế quốc doanh tuy đóng góp nguồn thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước nhưng do cơ chế bao cấp nên nguồn thu này không phản ánh đúng thực chất hoạt động sản xuất kinh doanh và tiềm lực tài chính của các xí nghiệp,nghĩa là nếu loại trừ các khoản nhà nước bao cấp thì hầu như các xí nghiệp quốc doanh

.CO

không đóng góp gì cho ngân sách nhà nước,mà ngược lại chúng còn ngốn thêm một khoản tiền lớn nhà nước huy động từ các nguồn khác.

Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tuy chỉ đóng góp tỷ trọng nhỏ vào ngân sách nhà nước nhưng số thu được cũng chưa tương xứng với kết quả hoạt động của

KS

khu vực này.

Chi ngân sách nhà nước vẫn còn rơi vào tình trạng bị động,lãng phí ,kém hiệu quả.Xuất phát từ sự eo hẹp của nguồn thu,các khoản chi ngân sách nhà nước không đáp ứng được một cách đầy đủ,kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu ngày càng

OO

tăng của nhà nước.Không những thế,cơ chế bao cấp nặng nề qua cấp phát vốn,bù giá,bù lỗ,cấp phát kinh phí tràn lan cho các hoạt động xã hội đã làm cho ngân sách nhà nước luôn luôn trong tình trạng tù túng.

Do những sai phạm trong nguyên tắc thu và chi,dẫn đến thu chi mất cân

OB

Từ XNQD: 7,8

Chi thường xuyên:10,6

Thuế:

Chi đầu tư:

5,8

Tổng chi:

16,4

Bội chi :

-5,6

KIL

Thu NSNN (%GDP) 3

Tổng thu: 10,8

12

http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN Từ 1989,những nỗ lực cải cách đã được thực hiện và phát huy tác dụng.Việc tự do hoá giá cả lãi suất kết hợp với những thay đổi lớn trong thu chi ngân sách nhà nước đã làm cho hoạt động của ngân sách nhà nước trở nên chủ động hơn và phản ánh đúng thực chất hơn.

.CO

Về thu,đã xoá bỏ hình thức thu ngoài thuế từ khu vực kinh tế quốc doanh,thay vào đó,một hệ thống thuế mới áp dụng cho tất cả các thành phần kinh tế đã ra đời (ngày 8/ 8/1990 ). Hội đồng nhà nước đã công bố đồng thời ba đạo luật về thuế :-Luật thuế doanh thu

KS

-Luật thuế lợi tức -Luật thuế tiêu thụ

Cho tới nay ,thu từ thuế chiếm trên 80% tổng số thu ngân sách. Về chi đã xoá bỏ các hình thức bao cấp qua bù lỗ,bù giá…áp dụng chế độ tỷ

OO

giá cho các loại giá vật tư và máy móc thiết bị,tạo ra cơ sở ổn định cho hệ thống giá cả của nền kinh tế.

Vì vậy mức thâm hụt ngân sách đã giảm đáng kể.

OB

Bảng số liệu thâm hụt NSNN so với thu nhập quốc dân sản xuất(%) Giai đoạn

1976-1980

28,2

1981-1985

14,1

1986-1990

13,2

KIL

Năm

Thâm hụt NSNN

1990

1991

1992

1993

1994

Tổng thu

14,7

13,5

19,0

22.3

25,4

Tổng chi

22,8

17,2

22,7

28,5

28,1

Thâm hụt

-8,1

-3,7

-3,7

-6,2

-2,7

13

http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN Cơ chế quản lý ngân sách nhà nước thực chất là phân quyền ngân sách,làm cho nguồn thu ngân sách nhà nước bị xé lẻ ,các khoản thu bị phân tán,nhiều mục tiêu kinh tế – xã hội do tất cả các cấp ngân sách chi gây ra tình trạng chồng chéo ,nên hoạt động của ngân sách kém hiệu quả và gây khó khăn cho việc kiểm soát

.CO

của nhà nước.Ngoài ra,vai trò thống nhất quản lý và điều hành ngân sách nhà nước không được đảm bảo,trong khi ngân sách trung ương bội chi thì ngân sách một số địa phương lại bội thu,nhưng nhà nước không điều hoà được và ngân sách nhà nước vẫn thâm hụt lớn.

KS

2. Ngân sách và tình hình thâm hụt ngân sách ở một số nước tư bản Ngân sách các nước tư bản cũng rơi vao tình trạng thâm hụt nặng nề với những đặc điểm chủ yếu sau đây:

-Một là,số lần bội chi trong mỗi giai đoạn ngày càng tăng .Nếu giai đoạn

OO

1920 – 1940 ngân sách nhà nước Mỹ có 10 lần bội chi ,thì đến giai đoạn 1950 1970 đã lên tới 16 lần và từ 1970 tới nay rơi vào tình trạng bội chi liên tục.Nước ý trong suốt 15 năm ( từ 1965 đến 1980 ) không năm nào là không thâm hụt ngân sách nhà nước,ở Đức, Anh và một số nước khác tình trạng này cũng phổ biến.

OB

-Hai là, khối lượng bội chi ngày càng lớn, ở Mỹ giai đoạn 1930 – 1979,tổng số thâm hụt ngân sách tăng từ 17,6 tỷ USD nhảy vọt lên 300 tỷ chúng tôi nhiên , tình trạng thâm hụt ngân sách trở nên trầm trọng nhất và thực sự được coi là căn bệnh hiểm nghèo của nền kinh tế Mỹ bắt đầu từ những năm 80 và ngày càng tăng

KIL

Cụ thể mức thâm hụt như sau: Giai đoạn

Mức thâm hụt NSNN (tỷ USD)

1930-1940

17,6

1950-1960

31,2

1970-1979

300

14

http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN Mức thâm hụt những năm 80 Năm

Mức thâm hụt 100

1986

210

1988

155

1991

159

KS

1982

.CO

NSNN(tỷ USD)

Tình hình thâm hụt ngân sách cũng rất trầm trọng ở Pháp, ý , Đức và nhiều nước khác.Pháp trong 11 năm ( từ 1977 – 1988 ) mức thâm hụt tăng 8 lần ,ở Đức

OO

mức bội chi năm 1985 là 39,2 tỷ Mác,năm 1988 là 65,5 tỷ. Tuy nhiên ở Anh và Nhật,tình trạng bội chi ngân sách nhà nước mấy năm gần đây có được cải thiện hơn ,những năm 80 chính phủ đã giảm được số bội chi,đặc biệt năm 1989 còn bội thu 7 tỷ bảng.

OB

1964-69

1970-73

1974-76

1980

1982

1987

Mỹ

-0,0

-0,2

-1,6

-1,2

-5,1

-3,0

Anh

-0,9

KIL

Tỷ lệ thâm hụt ngân sách nhà nước so với GDP (%)

-0,7

-4,6

-3,7

-2,5

-2,2

ý

-2,8

-5,4

-9,5

-12,4

-13

Nước

Bình quân các năm

-11,4

15

http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN Pháp

+0,4

+0,8

-0,8

+0,3

-2,6

-3,0

Đức

-0,2

+0,3

-5,0

-3,5

-3,9

-2,5

Nhật

-2,7

-0,2

-6,2

-4,0

-7,1

-0,5

.CO

Ta thấy,tuỳ từng nước tỷ lệ thâm hụt ngân sách so với GDP có khác nhau ,trong đó có một số nước có xu hướng giảm được bội chi như Anh,Nhật song nhìn chung tỷ lệ thâm hụt tăng lên rõ nét từ những năm 70 sang đến những năm 80.Nhiều nước như Mỹ,Đức,Pháp rất khó có khả năng thu hẹp được tỷ trọng này.

KS

-Bốn là,thâm hụt ngân sách thể hiện ở tất cả các cấp ngân sách (bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.

OO

nước tư bản ở mọi thời kỳ đối với thực trạng của ngân sách nhà nước. Thật vậy,từ các thế kỷ trước sang đến tận thế kỷ thứ XX,sự thâm hụt ngân sách không những không được loại trừ ,mà còn có xu hướng trầm trọng thêm. Tuỳ tình hình mỗi nước mà chính phủ các nước đó sẽ đưa ra các biện pháp nghiệp vụ vay nợ …

OB

để bù đắp thâm hụt ngân sách. Có thể là phát hành thêm tiền hoặc tiến hành các Do thâm hụt ngân sách lớn,số vay nợ hàng năm cộng với số nợ các năm trước ngày càng chồng chất.Trên thực tế ,các chính phủ rất khó có khẳ năng thanh

KIL

toán,nếu không thực hiện biện pháp vay nợ mới để trả nợ cũ. Năm 1987,tổng số nợ của Ý chiếm 93% GDP ,ở Mỹ,mặc dù tỷ lệ khối lượng chỉ chiếm 31% so với GDP nhưng tổng số nợ đã lên tới trên 2000 tỷ USD,gấp khoảng 4 lần tổng số thu hàng năm từ ngân sách nhà nước.Số tiền trả hàng năm từ ngân sách nhà nước cho các khoản lãi của nợ nhà nước Mỹ cũng rất lớn , giai đoạn 1939-1979 bình quân mỗi năm khoảng 16 tỷ USD ,đến 1984 ,số tiền lãi phải trả đã tăng lên 144,5 tỷ USD .

16

.CO

TÀI TRỢ THÂM HỤT NGÂN SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ Xuất phát từ phương trình kinh tế tính tổng sản phẩm quốc nội theo phương pháp luồng sản phẩm: GDP = C + I +G +XN (1)

KS

Trong đó: GDP là tổng sản phẩm quốc nội

C là tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình I là đầu tư cuối cùng của các hãng kinh doanh G là chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ của chính phủ

OO

XN là xuất khẩu ròng,XN = xuất khẩu – nhập khẩu Cộng T vào hai vế phương trình (1) ta có: GDP +T = C + I +G + XN + T

(GDP – C – T )+ (T – G) = I + XN T-G:

OB

GDP – C -T :Là tiết kiệm tư nhân,ký hiệu là S Là tiết kiệm của chính phủ

KHi đó phương trình trên trở thành: T – G = I + XN – S

(2)

KIL

S + (T – G) = I + XN (3)

17

.CO

các dự án đầu tư ?

Nếu chính phủ trả nợ để thực hiện một dự án có thể sinh lời trong một thời gian dài,thì lợi tức thu được từ dự án ấy có thể dùng để thanh toán lãi vay trong và ngoài nước.

KS

OO

OB

Giả định rằng chi tiêu chính phủ chia làm hai phần:chi tiêu cho hàng hoá và dịch vụ,chi trả lãi (iB) trong đó :

i là lãi xuất danh nghĩa về trái phiếu của chính phủ B là giá trị danh nghĩa của các trái phiếu mà chính

KIL

phủ chưa phải thanh toán.

Những nguồn thu nhập của chính phủ là: Thu nhập về thuế (T ) chưa khấu trừ các khoản thanh toán chuyển nhượng Phát hành thêm trái phiếu ( chính phủ (

B ) và phát hành thêm công nợ bằng tiền của

H )- Bộ phận này gồm:Tiền mặt do chính phủ nắm giữ, tiền dự trữ

trong các ngân hàng được gọi là lượng tiền cơ sở,ký hiệu là H. Như vậy cả B và H đều là công nợ của chính phủ nhưng có điểm khác là các trái phiếu ( B ) được trả lãi,còn lượng tiền cơ sở ( H ) thì không được trả. 18

http://kilobooks.com THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN Ta có thể thiết lập công thức sau: G – T + iB =

B +

P

P

.CO

G – T được gọi là số thâm hụt cơ bản, tức là số thâm hụt mà chính phủ phải trang trải,không kể những khoản lãi phải trả cho những trái phiếu chưa đến hạn thanh toán.

Do G và T được biểu thị bằng số tiền thực tế,vì vậy để đảm bảo tính thống

KS

nhất của các tài liệu nghiên cứu trong phương trình ( 4 ) thì các số hạng còn lại ta phải chia chúng cho mức giá cả.

Vế bên trái của phương trình cho thấy hai phương pháp có thể dùng để tài trợ tổng số thâm hụt ngân sách của chính phủ:

OO

OB

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy ảnh hưởng kinh tế vĩ mô của tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước tuỳ thuộc vào cách thức bù đắp những khoản thâm hụt này. đến lạm phát.

KIL

19

.CO

tình hình kinh tế từng nước mà người ta có thể sử dụng một,hai hay nhiều biện

KS

Tăng thuế hoặc tăng các nguồn thu khác của Chính phủ

Cắt giảm chi tiêu (kể cả chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển ) Trong đó ,ba giải pháp đầu được xem như những giải pháp “cấp tiến” vì nó không trực tiếp cắt giảm quyền lợi của bất kỳ bộ phận nào trong xã hội.Mặt khác

OO

nó lại hướng vào việc tăng nguồn tài chính cho nên khá dễ triển khai. Trong khi đó,giải pháp thứ tư được mệnh danh là “bảo thủ” vì nó nhằm vào cắt giảm chi tiêu.Do đó,giải pháp này sẽ bị các ban ngành ,địa phương hoặc đơn vị có ngân sách dự kiến bị cắt giảm lên tiếng phản đối,cản trở hoặc tìm cách gian

OB

KIL

Nhóm 7(Chính), Chủ Đề Thâm Hụt Ngân Sách Nhà Nước / 2023

Published on

1. CHỦ ĐỀ 4: Thâm hụt ngân sách nhà nước tại Việt Nam giai đoạn hiện nay. Thực trạng và giải pháp. Nhóm 7

2. CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM:

3. I. Thâm hụt ngân sách – Nguyên nhân

4. 1. Thâm hụt ngân sách a. Một số khái niệm. Ngân sách nhà nước(NSNN) là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước. + Về hình thức, NSNN là bảng tổng hợp các khoản thu, chi của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định và được cơ quan có thẩm quyền quyết định nhằm đáp ứng các nhu cầu thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. + Về thực chất, ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chue thể khác trong xã hội, phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.

5. 1.Thâm hụt ngân sách Thu NSNN được hình thành từ thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước, thu từ bán, cho thuê tài sản, tài nguyên của quốc gia; các khoản viện trợ trong nước và nước ngoài; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Chi NSNN theo lĩnh vực gồm chi cho kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội, quản lý nhà nước, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Thâm hụt NSNN là tình trạng là các khoản chi của ngân sách Nhà nước lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách. Trường hợp ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi là thặng dư ngân sách.

6. 1.Thâm hụt ngân sách b. Phân loại thâm hụt NSNN Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: – Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,… – Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên.

7. 2. Nguyên nhân thâm hụt NSNN * Nhóm nguyên nhân khách quan – Tác động của chu kì kinh tế( còn gọi là thâm hụt chu kì). – Hậu quả do các tác nhân gây ra.

8. 2. Nguyên nhân thâm hụt NSNN * Nhóm nguyên nhân chủ quan – Do cơ cấu thu, chi ngân sách thay đổi: Khi nhà nước thực hiện chính sách – Do điều hành ngân sách nhà nước không hợp lý: + Thất thu thuế nhà nước + Đầu tư công kém hiệu quả + Nhà nước huy động vốn để kích cầu + Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên + Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn.

9. II. Thực trạng thâm hụt ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay THỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH Ở NƯỚC TA TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY Bảng thông kê tình hình thâm hụt ngân sách qua các năm (2000 – 2010) Đơn vị: Tỷ đồng Chi tiêu Năm Tổng thu cân đối NSNN Tổng chi cân đối NSNN Thâm hụt NSNN Tỉ lệ bội chi NSNN so với GDP 2000 90,749 108,961 22,000 4,7% 2002 123,860 148,208 25,597 4,5% 2003 177,409 197,573 29,936 4,9% 2004 224,776 248,615 34,703 4,85% 2005 283,847 313,479 40,746 4,86% 2006 272,877 321,377 48,500 5% 2007 311,840 368,340 56,500 5% 2008 408,080 474,280 66,200 4,95% 2009 442,340 584,695 115,900 6,9% 2010 528,100 588,210 113,110 5,8% ( Nguồn : Tổng hợp từ cổng TTĐT Bộ Tài chính )

10. Sáu tháng đầu năm 2014 CÂN ĐỐI THU – CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ( Đơn vị: tỉ đồng) Stt Chỉ tiêu (nguồn http://www.mof.gov.vn Bộ tài chính) 6 tháng năm2014 GDP 1,668,178 A Thu NSNN và viện trợ 413,560 1 Thu từ thuế và phí 395,233 2 Thu về vốn 16,817 3 Thu viện trợ không hoàn lại 1,510 B Tổng chi ngân sách nhà nước (không bao gồm chi trả nợ gốc) 462,915 1 Chi đầu tư phát triển 77,800 2 Chi thường xuyên 385,115 C Chi trả nợ gốc 29,455 D Bội chi ngân sách (không gồm nợ gốc) -49,355 Bội chi so với GDP (%) 3.0% E Bội chi ngân sách theo phân loại của Việt Nam -78,810 Bội chi so với GDP (%) 4.7%

11. THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Đơn vị: Tỷ đồng STT Chỉ tiêu 6 tháng năm 2014 Thu ngân sách nhà nước và viện trợ (I+II+III) 413,560 I Thu thường xuyên 395,233 I.1 Thu thuế 363,759 1 Thuế thu nhập doanh nghiệp 116,158 2 Thuế thu nhập cá nhân 26,278 3 Thuế sử dụng phi nông nghiệp 708 4 Thuế môn bài 1,596 5 Lệ phí trước bạ 6,867 6 Thuế giá trị gia tăng 114,654 7 Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước 27,324 8 Thuế tài nguyên 19,905 9 Thuế sử dụng đất nông nghiệp 25 10 Thuế xuất khẩu, nhập khẩu, TTĐB và BVMT hàng NK 44,353 11 Thuế bảo vệ môi trường 5,891 I.2 Thu phí, lệ phí và thu ngoài thuế 31,474 12 Thu phí, lệ phí 5,205 13 Thu tiền cho thuê đất 4,669 14 Thu khác ngân sách 21,600 II Thu về vốn (thu bán nhà ở, thu tiền sử dụng đất) 16,817 III Viện trợ không hoàn lại 1,510

12. CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC PHÂN THEO CHỨC NĂNG (Đơn vị: Tỷ đồng) STT Chỉ tiêu 6 tháng đầu năm 2014 Tổng chi NSNN 462,915 I Chi thường xuyên 385,115 1 Chi quản lý hành chính 48,713 2 Chi sự nghiệp kinh tế 34,300 3 Chi sự nghiệp xã hội 180,753 3.1 Chi giáo dục – đào tạo, dạy nghề 86,227 3.2 Chi Y tế 30,600 3.3 Chi dân số và kế hoạch hoá gia đình 269 3.4 Chi khoa học công nghệ 3,778 3.5 Chi văn hoá thông tin 2,835 3.6 Chi phát thanh truyền hình 1,541 3.7 Chi thể dục thể thao 1,103 3.8 Chi lương hưu và đảm bảo xã hội 54,400 4 Chi trả nợ lãi 30,845 II Chi đầu tư phát triển 77,800 1 Chi xây dựng cơ bản 75,200 2 Chi về vốn khác 2,600

13. III. Tác động & Giải pháp cải thiện tình trạng thâm hụt ngân sách. 3.1 Tác động của thâm hụt ngân sách ở Việt Nam Bội chi ngân sách nhà nước (hay còn gọi là thâm hụt ngân sách nhà nước) có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh tế một nước tùy theo tỉ lệ thâm hụt và thời gian thâm hụt. 3.1.1 Tích cực Tác động Sự thâm hụt ngân sách trong những năm qua được sử dụng như là một công cụ của chính sách tài khóa để tăng trưởng kinh tế.

16. 3.2 Giải pháp cải thiện tình trạng thâm hụt ngân sách Để khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách, tùy theo bối cảnh, tình hình kinh tế từng nước mà người ta có thể sử dụng một, hai hay nhiều biện pháp cùng kết hợp với nhau Giải pháp

19. Vay nợ trong nước Thông qua việc phát hành: – Tín phiếu – Trái phiếu kho bạc nhà nước – Trái phiếu đầu tư Ưu điểm Nhược điểm – Tận dụng được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, hạn chế được sự phụ thuộc vào nước ngoài. – Nếu vay nợ quá lớn sẽ ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư tư nhân và có nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến lạm phát tiền tệ.

21. 3.2.3. Sử dụng dự trữ ngoại tệ: -Ưu điểm: dự trữ hợp lí có thể giúp quốc gia tránh được khủng hoảng. -Nhược điểm: tiềm ẩn nhiều rủi ro và phải hết sức hạn chế sử dụng. Nó có thể dẫn đến một dòng vốn ồ ạt chảy ra thế giới bên ngoài, làm cho đồng nội tệ giảm mạnh giá và làm tăng sức ép lạm phát. Kết hợp với việc vay nợ nước ngoài ở trên, việc giảm quỹ dự trữ ngoại tệ cũng sẽ khiến cho tỷ giá hối đoái tăng, làm suy yếu sức cạnh tranh quốc tế của hàng hoá trong nước.

22. 3.2.4 Phát hành tiền: -Ưu điểm: nhu cầu bù tiền để bù đắp ngân sách nhà nước được đáp ứng một cách nhanh chóng, kịp thời mà không phải trả lãi, không phải gánh thêm các gánh nặng nợ nần. -Nhược điểm của biện pháp này lại lớn hơn rất nhiều lần. Việc in thêm và phát hành thêm tiền sẽ khiến cho cung tiền vượt cầu tiền. Nó đẩy cho việc lạm phát trở nên không thể kiểm soát nổi. Đồng thời còn làm giảm uy tín của nhà nước với công chúng. Đây chỉ là biện pháp ngoại lệ và mang tính tình thế

23. XIN CẢM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ LẮNG NGHE!

Thâm Hụt Ngân Sách Tăng Cao: Bù Đắp Bằng Cách Nào? / 2023

Bù đắp thâm hụt ngân sách bằng tăng thuế hay tăng vay nợ… giải pháp nào cũng tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, nợ công và lạm phát. Vì thế, câu chuyện siết chặt, minh bạch kỷ cương tài chính, ngân sách đang đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết. Chi thường xuyên chiếm hơn 70% Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, 5 tháng đầu năm 2016, tổng thu ngân sách hơn 346.000 tỷ đồng, bằng 34% dự toán năm. Tuy nhiên, tổng chi ngân sách lên tới 412.600 tỷ đồng, bằng hơn 32% dự toán năm. Như vậy, Việt Nam đã bị bội chi ngân sách 66.400 tỷ đồng trong 5 tháng đầu năm.

Hoạt động chi ngân sách tại Kho bạc Nhà nước TP Hồ Chí Minh. Ảnh: Phạm Hậu

Điều đáng nói, trong hơn 412.000 tỷ đồng chi ngân sách, các khoản chi thường xuyên, chi cho phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, quản lý hành chính đạt gần đến con số 300.000 tỷ đồng, tương đương hơn 70% tổng chi ngân sách. Còn chi đầu tư phát triển 64.300 tỷ đồng, chi trả nợ và viện trợ 55.000 tỷ đồng. Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu, đáng lo nhất là con số bội chi thời gian qua liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước, quý sau tăng hơn quý trước. Điều này cho thấy, kỷ luật tài chính đang quá lỏng lẻo, việc chi tiêu công bừa bãi. Số liệu Chính phủ trình Quốc hội cho thấy, ngân sách năm 2015 ước tính thâm hụt 6,34% GDP. Tuy nhiên, con số thâm hụt mà Viện Nghiên cứu và chính sách (VEPR) đưa ra lại ở mức 7%. Dù là con số nào thì mức thâm hụt vẫn rất lớn so với mức mục tiêu 5% GDP mà Quốc hội đưa ra. Ông Sandeep – Chuyên gia của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam cho rằng, việc dành quá nhiều tiền ngân sách để trả nợ sẽ tạo ra một rủi ro lớn cho việc đầu tư, hạn chế nguồn tiền đầu tư phát triển kinh tế. Nếu nghĩa vụ trả nợ nhiều sẽ gây rủi ro cho những khoản chi tạo ra năng suất lao động, giảm chi vào giáo dục, y tế và các lĩnh vực khác. Vì vậy, Chính phủ Việt Nam cần ổn định chi tiêu thường xuyên, có phương án thu chi ngân sách hợp lý. Để giảm bội chi, phải cân đối thu – chi, đầu ra – đầu vào. Từ nay đến cuối năm, “điểm sáng” của thu ngân sách là việc giá dầu bắt đầu phục hồi lên mức 50 USD/thùng. Bên cạnh đó, Chính phủ đang có nhiều giải pháp hỗ trợ DN, nuôi dưỡng nguồn thu. Công tác thanh tra, kiểm tra, thu hồi nợ thuế… cũng được các cơ quan thực hiện quyết liệt. Những động thái này sẽ hỗ trợ tích cực cho việc tăng thu ngân sách. Ngược lại, ngân sách năm 2016 cũng sẽ khó khăn hơn do nhiều loại thuế bị cắt giảm theo các cam kết hội nhập. Trong khi nguồn thu bị co hẹp thì các chi phí dành cho chi thường xuyên, chi đầu tư, chi trả nợ… tăng cao. Thu ngân sách khó khăn trong khi tốc độ chi tăng nhanh làm cho việc cân đối ngân sách hết sức căng thẳng và bị động, đang đe dọa đến khả năng trả nợ hàng năm của Chính phủ. Tăng thuế, tăng vay nợ… Để giải quyết tình trạng thâm hụt ngân sách, hai giải pháp thường được sử dụng là tăng thuế để tăng thu và tiếp tục vay nợ trong và ngoài nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu. Với việc tăng thuế nội địa, theo các chuyên gia, cần cân nhắc để đảm bảo nguồn thu nhưng vẫn đảm bảo tính động viên, mức thuế “vừa sức” DN và đảm bảo an sinh xã hội. Còn nếu vay nợ để bù đắp bội chi ngân sách sẽ gây áp lực lên nợ công. chúng tôi Nguyễn Công Nghiệp – Chủ nhiệm khoa Tài chính – Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội cho rằng, việc vay nợ nước ngoài để chi tiêu công, phục vụ yêu cầu phát triển là cần thiết. Tuy nhiên, ông Nghiệp cũng thừa nhận, vay nợ cũng dẫn đến nợ công tăng, gây nhiều tác động tiêu cực. Nhất là khi phân bổ sử dụng vốn vay không hiệu quả, kỷ luật tài chính lỏng lẻo, thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ, dẫn đến tình trạng lãng phí, tham nhũng thì hậu quả đối với nền kinh tế xã hội sẽ rất lớn. Thời gian qua, nhiều quốc gia khánh kiệt vì vay nhiều, chi tiêu bất hợp lý, không trả được nợ, vỡ nợ như Argentina, một số nước Mỹ Latinh, Hy Lạp… Vay nợ nước ngoài nhiều, nợ công thêm nặng gánh. Dự báo của WB, đến hết năm 2016, nợ công của Việt Nam sẽ tăng lên mức 63,8% GDP, năm 2017 là 64,4%, năm 2018 lên 64,7%. Như vậy, nợ công của Việt Nam sẽ chạm trần mức 65% mà Quốc hội đề ra. Nợ công chạm trần, Chính phủ sẽ phải tính đến vay nợ trong nước. Để vay nợ, để bù đắp bội chi, các công cụ điều hành vĩ mô như công cụ lãi suất, tỷ giá… sẽ được sử dụng. Điều này sẽ gây áp lực lên lạm phát. “Siết” kỷ luật tài chính ngân sách Báo cáo Nghiên cứu vĩ mô tháng 5/2016 do Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế T.Ư (CIEM) phát hành mới đây cho biết, để giảm thâm hụt ngân sách, giảm nợ công, Bộ Tài chính cần phối hợp với các bộ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính, ngân sách. Các giải pháp cụ thể là đẩy mạnh điều chỉnh cơ cấu thu chi lành mạnh hơn, tập trung tăng tỷ trọng thu nội địa, tiết kiệm và giảm tỷ trọng chi thường xuyên, tăng tỷ trọng chi đầu tư và bố trí đủ nguồn trả nợ. Tăng cường hiệu quả quản lý nợ công theo hướng tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, sửa đổi bổ sung Luật Ngân sách, Luật Quản lý nợ công, chiến lược quản lý nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia… Một giải pháp quan trọng là cần tăng trách nhiệm đối với chi tiêu công, đầu tư công… bằng các tiêu chí đánh giá rõ ràng, minh bạch và hiệu quả. Theo TS Lê Đăng Doanh, cần xây dựng một lộ trình tái cơ cấu ngân sách với những bước đi đồng bộ, thích hợp như thực hiện công khai minh bạch; thực hiện trách nhiệm giải trình, trách nhiệm cá nhân đối với chi tiêu công, đầu tư công…

Cân nhắc về tinh giản bộ máy Đó là giải pháp đã được chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu đưa ra để giảm chi thường xuyên, theo đó, giảm bội chi ngân sách. Năm tháng đầu năm, ngân sách bội chi 66.400 tỷ đồng. Ông nói gì về con số này? – Cá nhân tôi cho rằng, mức thâm hụt này là khá cao. Tuy nhiên, đáng lo nhất là việc bội chi liên tục tăng qua các năm, trong khi nguồn thu bị co hẹp làm cho việc cân đối ngân sách ngày càng khó khăn. Ngân sách thâm hụt trong bối cảnh nhiều loại thuế xuất nhập khẩu sẽ được cắt giảm theo các cam kết hội nhập. Liệu, giải pháp tăng thuế nội địa có khiến DN, người nộp thuế hụt hơi trong cuộc chiến tăng thu ngân sách, thưa ông? – Đúng là nếu tăng thuế, DN sẽ phải chịu gánh nặng chi phí nhiều hơn, làm giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Nếu tăng thuế thu nhập cá nhân, mức tiêu dùng sẽ giảm, làm giảm một phần tổng cầu, lập tức sẽ tác động tiêu cực đến động lực phát triển của nền kinh tế, tăng trưởng sẽ càng khó khăn hơn. Tăng thuế nội địa là một giải pháp. Nhưng cần nghiên cứu để có chính sách thuế vừa sức với DN, người dân. Ví dụ, có thể tính đến việc tăng thuế các mặt hàng xa xỉ, không thiết yếu… Thâm hụt ngân sách khiến nợ công thêm nặng gánh. Theo ông, giải pháp nào là cần thiết nhất để giảm bội chi trong bối cảnh hiện nay? – Thu không đủ chi thì phải đi vay để chi tiêu thôi. Vay nhiều, nợ công sẽ tăng. Theo tôi, ngoài các giải pháp dài hạn là tăng thu ngân sách, siết chặt kỷ luật tài chính, quan trọng nhất cần tinh giản biên chế, giảm bớt bộ máy hành chính cồng kềnh, không cần thiết và nâng cao hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức… Xin cảm ơn ông!

Ngân Sách Nhà Nước Và Biện Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước / 2023

Lời mở đầu Ngân sách nhà nước đóng một vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với sự phát triển kinh tế nước ta mà còn đối với bất cứ quốc gia nào trên thế giới.Vào dịp đầu năm chính phủ mỗi nước đều tổ chức một cuộc họp thường niên nhằm tổng kết tài chính đã phân bổ chi tiêu trong năm vừa qua,đồng thời báo cáo về tình hình ngân sách và phân bổ ngân sách cho các bộ ngành trong năm tới.Tại cuộc họp thường niên này việc tăng nguồn thu cho NSNN (chủ yếu dựa vào các chính sách thuế và xuất khẩu) cũng được đề cập đến.Dựa vào việc đầu tư-phân bổ-tài chính báo cáo mà chúng ta có thể biết được chiến lược phát triển kinh tế trong những năm tới. Thực tế, các cường quốc kinh tế trên thế giới đều có một chính sách thu ổn định, đồng thời chi tiêu ngân sách hợp lý. Ngân sách là công cụ quản lý vĩ mô nên kinh tế. Thông qua công cụ này, Nhà nước sẽ tham gia vào việc điều chỉnh một số quan hệ kinh tế cân đối của nền kinh tế như: tích luỹ và tiêu dùng, xuất và nhập khẩu, cơ cấu tiêu dùng và điều tiết thu nhập để đảm bảo cân bằng. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay việc từ bỏ nguyên tắc quản lý trực tiếp theo kiểu “cấp phát và giao nộp” đối với khu vực kinh tế quốc doanh và các cơ quan Nhà nước, đã tạo điều kiện cho NSNN đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế – xã hội. Thu NSNN nói một cách đơn giản chính là công tác lập quỹ NSNN, từ đó NSNN có thể chi cho các hoạt động của mình, thực hiện được vai trò của mình. Do đó có thể nói thu NSNN là một công tác rất quan trọng, nó quyết định việc thực hiện các vai trò của NSNN nói chung cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến các khoản chi NSNN nói riêng

Phần nội dung I. Cơ sở lý luận: 1. Khái niệm của ngân sách nhà nước. 1.1 Ngân sách nhà nước là gì? Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử, là một thành phần trong hệ thống tài chính, nó phản ánh những mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội và được sử dụng như một công cụ thực hiện các chức năng của Nhà nước. Sự ra đời và tồn tại của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước và sự xuất hiện của sản xuất hàng hoá. Khi nhà nước ra đời, để đảm bảo cho sự tồn tại của mình, Nhà nước đã đặt ra chế độ thuế khoá bắt toàn dân phải cống nạp, các khoản thu này hình thành nên quỹ tiền tệ của Nhà nước và nó được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Thuật ngữ “Ngân sách nhà nước” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội, ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu. – Các nhà kinh tế học hiện đại đã dưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về ngân sách nhà nước: + Các nhà kinh tế Nga quan niệm: NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia. + Một cách hiểu tương tự,người Pháp cho rằng: NSNN là toàn bộ tài liệu kế toán mô tả và trình bày các khoản thu và kinh phí của nhà nước trong một năm Theo quan điểm của những nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển:NSNN là một văn kiện tài chính, mô tả các khoản thu và chi của chính phủ được thiết lập hàng năm – Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa – tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng và nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa – tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

và các cơ quan khác ở trung ương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân. 1.2 Đặc điểm của NSNN: Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở hai lãnh vực thu và chi của nhà nước Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế chính trị của nhà nước, và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định,thường được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích nhất định. Trong các quan hệ lợi ích đó, lợi ích quốc gia, lợi ích tổng thể bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu và chi phối các mặt lợi ích khác trong hoạt động của ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác. Nét khác biệt của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho những mục đích đã định Khái niệm ngân sách nhà nước không chỉ biểu hiện các quan hệ sản xuất nhất định, mà còn có sự thể hiện vật chất hoá. Sự vật chất hoá các quan hệ ngân sách được biểu hiện ở quỹ tiền tệ của Nhà nước. Đằng sau các con số phản ánh khối lượng của ngân sách là quá trình phân phối hiện thực. Đó chính là tính hai mặt của phạm trù kinh tế mặt chất lượng và mặt số lượng. Quỹ tiền tệ của Nhà nước – ngân sách nhà nước cũng có những đặc trưng chung như các quỹ tiền tệ khác được tạo lập trên cơ sở các quan hệ tài chính, được chia thành nhiều quỹ có tác dụng riêng và chỉ sau đó ngân sách mới được chi dùng cho những mục đích đã định trước 1.3 Vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trường: Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá – tiền tệ phát triển ở giai đoạn cao. Sự vận hành của nền kinh tế chịu sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ… đã bộc lộ những ưu thế cũng như những khuyết tật của kinh tế thị trường. Để hạn chế và khắc phục những khuyết tật đó, Nhà nước can thiệp vào quá trình vận hành của nền kinh tế là một đòi hỏi khách quan để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định. Sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường là sự can thiệp gián tiếp thông qua các công cụ chủ yếu như: pháp luật, kế hoạch, tổ chức, tài chính, tiền tệ… trong đó ngân sách nhà nước được coi là công cụ quan trọng nhất của Nhà nước Vai trò quan trọng đó của ngân sách nhà nước được thể hiện trên các mặt như sau: Ngân sách nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.

Đây là vai trò truyền thống của ngân sách nhà nước trong mọi mô hình kinh tế, nó gắn chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình tồn tại và thực hiện nhiệm vụ của mình. Mối quan hệ hữu cơ giữa Nhà nước với ngân sách được C.Mác tổng kết như sau: “Sức mạnh chuyên chính của Nhà nước được quyết định bởi ngân sách và ngược lại”. Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Vai trò này xuất phát từ yêu cầu khắc phục những khuyết tật vốn có của nền kinh tế thị trường. Vai trò này được thể hiện trên các mặt như sau: Thứ nhất, ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền. Để khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, Nhà nước phải hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà Nhà nước đã hoạch định, để hình thành nên cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. Thông qua công cụ là ngân sách nhà nước đảm bảo cung cấp kinh phí để Nhà nước đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt, trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Mặt khác, trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mối hợp lý hơn. Ngoài ra, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh. Thứ hai, ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, chống lạm phát. Trong nền kinh tế thị trường, sự biến động giá cả có nguyên nhân từ sự mất cân đối cung cầu. Bằng công cụ thuế, phí, lệ phí, vay và chính sách chi tiêu của ngân sách nhà nước, Nhà nước có thể tác động vào khía cạnh cung hoặc cầu để bình ổn giá cả. Đặc biệt sự hình thành quỹ dự phòng trong ngân sách nhà nước để đối phó với sự biến động của thị trường đóng vai trò quan trọng để bình ổn giá cả. Mặt khác, hoạt động thu – chi của ngân sách nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề lạm phát. Lạm phát là căn bệnh nguy hiểm đối với nền kinh tế và chống lạm phát là một nội dung quan trọng trong quá trình điều chỉnh thị trường. Nguyên nhân gây ra và thúc đẩy lạm phát có nhiều và xuất phát từ nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực thu chi tài chính của Nhà nước. Do đó, bằng các biện pháp đúng đắn trong quá trình thu-chi của ngân sách nhà nước như: thắt chặt và nâng cao hiệu quả các khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước, tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế đối với đầu tư… Nhà nước có thể hạn chế và kiểm soát lạm phát. Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế và các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo công bằng xã hội. Từ năm 1986 nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước với mục tiêu xây dựng một xã hội thịnh vượng, công bằng và văn minh. Nhưng nền kinh tế thị trường với khuyết

tật vốn có của nó là phân hoá giai cấp, phân hoá giàu nghèo. Do vậy, để đạt được mục tiêu mà Đảng đã đề ra, Nhà nước phải sử dụng công cụ ngân sách để điều tiết thu nhập, giảm bớt khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp trong xã hội. Việc điều tiết này được thực hiện thông qua hoạt động thu chi ngân sách. Thông qua hoạt động thu ngân sách, dưới hình thức kết hợp thuế gián thu và thuế trực thu Nhà nước điều tiết bớt một phần thu nhập của tầng lớp có thu nhập cao trong xã hội, hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm, đảm bảo thu nhập chính đáng của người lao động. Mặt khác, thông qua hoạt động chi ngân sách dưới hình thức các khoản cấp phát, trợ cấp trong các chính sách về dân số kế hoạch hoá gia đình, về bảo trợ xã hội, về việc làm… Nhà nước hỗ trợ để nâng cao đời sống của tầng lớp người nghèo trong xã hội. Tuy nhiên trong điều kiện ngân sách nhà nước còn eo hẹp, việc giải quyết các vấn đề xã hội chưa thể thực hiện một cách triệt để, vấn đề này phải thực hiện theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm.

2. Thu NSNN: 2.1 Khái niệm: Là việc nhà nước dùng quền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước. – Nguồn tài chính tập trung vào NSNN là những khoản thu nhập của nhà nước được hình thành trong quá trình nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị 2.2 Đặc điểm: Thu ngân sách nhà nước thực chất là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội dựa trên quyền lực của Nhà nước nhằm giải quyết hài hoà các mối quan hệ về lợi ích kinh tế . Sự phân chia đó là 1 tất yếu quan xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng của Nhà nước Thu ngân sách nhà nước gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của các phạm trù như giá cả, thu nhập, lãi suất… Chỉ tiêu quan trọng biểu hiện thực trạng của nền kinh tế là tổng sản phẩm quốc nội (GDP). GDP là yếu tố khách quan quyết định mức động viên của thu ngân sách nhà nước Thu NSNN được thực hiên theo nguyên tắc hoản trả không trực tiếp là chủ yếu 2.3 Cơ cấu thu ngân sách nhà nước bao gồm: Thu trong cân đối ngân sách là các khoản thu nằm trong hoạch định của Nhà nước nhằm cân đối ngân sách. Các khoản này gồm: thuế, lệ phí, lợi tức của Nhà nước, thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, và các khoản thu khác. Thu ngoài cân đối ngân sách hay còn gọi là thu bù đắp thiếu hụt ngân sách. Thu bù đắp thiếu hụt ngân sách thực chất là vay để bù đắp, bao gồm vay trong nước và vay nước ngoài. Vay trong nước được thực hiện thông qua việc phát hành công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ… để huy động tiền nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư. Vay nước ngoài được thực hiện thông qua vay nợ hoặc viện trợ Chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế. 2.4 Nội dung kinh tế của thu NSNN: 2.4.1 Thu thuế

Thuế là sự đóng góp theo nghĩa vụ đối với nhà nước được quy định bởi pháp luật do các pháp nhân và thể nhân thực hiện. Thuế mang tính bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp. Thuế được nhà nước áp đặt bằng quyền lực chính trị, được thể chế hoá bằng luật pháp, cho nên mọi tổ chức phải chấp hành nghiêm chỉnh, nếu không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước tức là phạm luật và sẽ bị xử lý theo pháp luật. Tính bắt buộc của thuế được giải thích bởi mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân, mọi tổ chức đối với nhà nước. Thuế không hoàn trả trực tiếp ngang cho cho người nộp thuế, một phần số thuế đã được nộp cho NSNN được hoàn trả một cách gián tiếp cho người nộp thuế dưới những hưởng thụ về giáo dục, y tế, phúc lợi công cộng và an ninh quốc phòng… Tất cả mọi công dân đều được hưởng các dịch vụ công cộng đó như nhau cho dù nghĩa vụ đóng góp có thể khác nhau. Thuế được thiết lập dựa trên nguyên tắc luật định nên mọi sự thay đổi hay bổ sung phải được đưa ra để bàn bạc tại cơ quan lập pháp và phải được chính cơ quan này phê chuẩn thì mới được áp dụng Thuế làm chuyển đổi quyền sở hữu từ sở hữu tập thể và cá thể thánh sở hữu toàn dân. Việc chuyển quyền sở hữu này được quyết định bởi chức năng quản lí toàn bộ nền kinh tế quốc dân của nhà nước và biểu hiện sự thống nhất về lợi ích giữa nhà nước với các thành phần kinh tế, các cá nhân trong xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, thuế được coi là công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là nguồn thu quan trọng và chủ yếu của ngân sách nhà nước, góp phần điều chỉnh nền kinh tế, kích thích tích luỹ tư bản, định hướng sản xuất và tiêu dùng. Thuế là công cụ phân phối lại lợi tức, làm gia tăng trong tiết kiệm tư nhân và đảm bảo công bằng trong xã hội 2.4.2 Lệ phí:

Lệ phí là một khoản thu mang tính chất bắt buộc, nhưng có tính chẩt đối giá, nghĩa là lệ phí là một khoản tiền mà dân chúng trả cho Nhà nước khi họ hưởng thụ những dịch vụ do Nhà nước cung cấp. So với thuế, tính pháp lý của lệ phí thấp hơn. Lệ phí do cơ quan hành pháp ban hành, mang tính quyền lực của nhà nước, mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Lệ phí là một khoản thu mang tính chất bù đắp, mức thu lệ phí được đặt ra trên cơ sở đáp ứng yêu cầu bù đắp chi phí của các dịch vụ công cộng của Nhà nước. Quản lý tốt các khoản thu lệ phí có tác dụng tăng thu cho ngân sách nhà nước và giảm bớt gánh nặng chi ngân sách trong việc tạo ra các dịch vụ công cộng. 2.4.3 Thu từ lợi tức cổ phần nhà nước:

Trong nền kinh tế thị trường, hình thức cấp vốn trực tiếp từ ngân sách cho các doanh nghiệp, cho dù đó là doanh nghiệp nhà nước, đã bị thu hẹp. Nhà nước thực hiện đầu tư vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh bằng hình thức mua hoặc góp cổ phần được hình thành nên các doanh nghiệp cổ phần mà ở đó nhà nước với tư cách là một cổ đông. Khi các doanh nghiệp cổ phần hoạt động kinh doanh có lợi nhuận, số lợi nhuận đó sẽ được chia cho các cổ đông theo lượng vốn góp và Nhà nước sẽ có một khoản thu. Trong các doanh nghiệp nhà nước khi hoạt động có lợi nhuận thì một phần lợi nhuận đó được huy động vào ngân sách nhà nước thông qua khoản thu về tiền thu sử dụng

vốn ngân sách nhà nước, và mặt bản chất đây chính là khoản lợi tức thu được từ khoản vốn mà nhà nước đã đầu tư. -Thu lợi tức từ cổ phần nhà nước là một nguồn thu chiếm tỷ trọng tương đối trong tổng cơ cấu thu ngân sách các khoản vốn đã đầu tư vào nền kinh tế 2.4.4 Thu từ bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước:

Khoản thu này mang tính chất thu hồi vốn và một phần mang tính chất phân phối lại. Khoản thu này vừa có tác dụng tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên quốc gia. Khoản thu này bao gồm: Thu về bán hoặc cho thuê tài nguyên thiên nhiên Thu về bán tài sản thuộc quyền sở hữu của nhà nước nhưng không thuộc nguồn tài nguyên như bán hoặc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân, cho nước ngoài. 2.4.5 Thu về từ hợp tác lao động với nước ngoài va thu khác:

Trong xu hướng mở cửa hội nhập, hợp tác lao động giữa các nước ngày càng diễn ra sôi động, việc xuất khẩu lao động của các nước đông dân tạo nên một khoản thu cho ngân sách nhà nước. Thực chất khoản tiền này là khoản tiền thu hồi của quốc gia đã bỏ ra những chi phí ban đầu để bảo vệ, nuôi dưỡng, rèn luyện, đào tạo người lao động, đồng thời là khoản tiền mà người lao động trích ra từ tiền công của mình đóng góp cho tổ quốc. Ngoài các khoản thu trên, còn có các khoản thu khác như : thu từ bán tài sản không có người nhận, các khoản tiền phạt, tịch thu, các khoản viện trợ không hoàn lại của chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài. 2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN: Thu ngân sách chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội. Trong thực tế, mức thu ngân sách ở mỗi nước khác nhau cho dù có những tương đồng về mặt kinh tế, xã hội. Sự khác nhau đó bắt nguồn từ các nhân tố ảnh hưởng sau đây: GDP bình quân đầu người: là một chỉ tiêu phản ánh khả năng tăng trưởng và phát triển của một quốc gia, khả năng tiết kiệm, tiêu dung và đầu tư của một nước. GDP bình quân đầu người là nhân tố khách quan quyết định mức thu ngân sách nhà nước, vì vậy khi ấn định mức thu ngân sách, Nhà nước cần căn cứ vào chỉ tiêu này. -Khi GDP/người cao – dẫn đến thu ngân sách cao -Khi GDP/Người thấp – dẫn đến thu ngân sách nhà nước thấp Khả năng xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên: Đối với các nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào phong phú thì xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước. Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến số thu của ngân sách Tỷ suất doanh lợi của nền kinh tế: là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển kinh tế. Tỉ suất doanh lợi là tỉ số giữa kết quả thu đươc trên tổng chi phi bỏ ra. Tỉ suất doanh lợi trong nền kinh tế càng lớn thì thu NSNN càng lớn. Do vậy, khi xác định tỷ suất thu ngân sách cần căn cứ vào tỉ suất doanh lợi của nền kin tế để đảm bảo việc huy động của ngân sách nhà nước không gây khó khăn về mặt tài chính cho các chủ thể trong xã hội. Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước: phụ thuộc vào các yếu tố: quy mô tổ chức bộ máy nhà nước và hiệu quả hoạt động của bộ máy đó, những nhiệm vụ kinh

Trong điều kiện hoạt động kinh tế bình thường thì phải ổn định mức thu, ổn định các sắc thuế, không được gây xáo trộn lớn trong hệ thống thuế; đồng thời tỷ lệ động viên của ngân sách nhà nước phải thích hợp, đảm bảo kích thích nền kinh tế tăng trưởng, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu. Đối tượng tính thuế: đối tượng ít có sự biến động. Ý nghĩa thực hiện nguyên tắc:tạo thuận lợi cho việc kế hoạch hóa ngân sách nhà nước, tạo điều kiện kích thích người nộp thuế cải tiến đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh. 2.6.2 Nguyên tắc đảm bảo sự công bằng:

Thiết lập hệ thống thuế phải có quan điểm công bằng đối với người chịu thuế, không phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế. Việc thiết kế hệ thống thuế chủ yếu dựa trên khả năng thu nhập của người chịu thuế. Để đảm bảo đươc nguyên tắc công bằng trong thiết kế hệ thống thuế phải kết hợp sắc thuế trực thu với sắc thuế gián thu. 2.6.3 Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn:

Nguyên tắc này đòi hỏi trong thiết kế hệ thống thuế các điều luật của các sắc thuế phải rõ ràng cụ thể ở từng mức thuế, cơ sở đánh thuế, phương pháp tính thuế… Các từ ngữ được sử dụng của văn bản thông thường, dễ hiểu, không chứa đựng nhiều hàm ý để tất cả mọi người đều hiểu được và chấp hành giống nhau. Giúp cho việc tổ chức chấp hành luật thống nhất, tránh được tinh trang lách luật, trốn lậu thuế. 2.6.4 Nguyên tắc đơn giản:

Nguyên tắc này đòi hỏi trong các sắc thuế cần hạn chế số lượng thuế suất, xác định rõ mục tiêu chính, không đề ra quá nhiều mục tiêu trong một sắc thuế. Tạo điều kiện thuận lợi cho viêc triển khai luật thuế vào thực tiễn, tránh được những hiện tượng tiêu cực trong thu thuế.

II. Thực trạng thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay: Việc thực hiện hàng loạt biện pháp tài khóa và tiền tệ chặt chẽ theo Nghị quyết số 11/NQ-CP, ngày 24/2/2011 của Chính phủ đã mang lại nhiều tác động tích cực đến bình ổn nền kinh tế trong năm

2012 song cũng có những tác động phụ, ảnh hưởng tới thu ngân sách nhà nước.Khái quát về tình hình thu ngân sách nhà nước năm 2012,đề xuất giải pháp 2013

Thu ngân sách năm 2012

Năm 2012 được đánh giá là một trong những năm mà nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước (NSNN) gặp nhiều khó khăn nhất. Ngành Tài chính đã thực hiện chủ trương: “Giảm thuế, nuôi dưỡng nguồn thu để tăng thu” thông qua việc đề xuất Chính phủ ban hành Nghị quyết 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Với việc triển khai Nghị quyết 13/NQ-CP, NSNN giảm thu 1,2% dự toán tổng thu cả năm 2012 và tổng giá trị thực tế doanh nghiệp (DN) được hưởng tương đương 1% GDP dự tính so với quy mô xấp xỉ 10% GDP của gói kích thích kinh tế năm 2009. Số liệu thống kê của Bộ Tài chính cho thấy, đến hết tháng 11/2012, ngành Thuế đã xử lý miễn, giảm, gia hạn tiền thuế theo các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ cho khoảng 457.500 lượt DN và hộ sản xuất, hộ gia đình và cá nhân, với số tiền khoảng 19.025 tỷ đồng; trong đó: Thực hiện miễn và gia hạn tiền thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với khoảng 216.450 lượt DN và hộ sản xuất, hộ gia đình và cá nhân, với số tiền khoảng 11.160 tỷ đồng; Thực hiện miễn, giảm và gia hạn tiền thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với khoảng 203.550 lượt DN, với số tiền khoảng 4.940 tỷ đồng; Gia hạn tiền sử dụng đất cho trên 340 DN, với số tiền gần 2.470 tỷ đồng; giảm 50% tiền thuê đất năm 2012 cho khoảng 3.610 DN, với số tiền 445 tỷ đồng; Miễn thuế môn bài năm 2012 cho 33.510 hộ đánh bắt hải sản và hộ làm muối, với số tiền khoảng 10 tỷ đồng… Cùng với các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN thì hàng loạt các biện pháp cải thiện và chống thất thu NSNN cũng được triển khai như: cải cách thủ tục hành chính; thường xuyên đôn đốc kịp thời người nộp thuế; tích cực thanh tra, kiểm tra thuế; chống gian lận thuế, nhất là chống chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI… Hàng loạt giải pháp nói trên đã mang lại kết quả tích cực cho thu NSNN năm 2012. Tính đến 31/12/2012, tổng thu NSNN cả nước đạt 741.500 tỷ đồng, tức vượt 1.000 tỷ đồng so với dự toán kế hoạch là 740.500 tỷ đồng. Thu từ dầu thô ước đạt ước đạt 128,7% so với dự toán – tăng 1,6% so với thực hiện năm 2011, đạt khoảng 112.000 tỷ đồng. Thu NSNN từ các hoạt động sản xuất kinh doanh nội địa ước đạt 467.200 tỷ đồng, đạt 96,4 % dự toán và tăng 10,7 % so với số thực hiện năm 2011. Tuy nhiên, thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu theo ước tính chỉ đạt khoảng 82 % dự toán và thu từ đất đai ước tính chỉ đạt hơn 65 % dự toán thu. Số thu này cũng phản ánh đúng tình trạng kinh tế năm 2012. Tình trạng “đóng băng” của thị trường bất động sản đã tác động mạnh đến thu NSNN từ đất đai, đặc biệt là thu ở các địa phương có số thu từ đất đai lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Hầu hết các địa phương đều không đạt dự toán thu NSNN từ đất như Đà Nẵng năm 2012 chỉ đạt 37,1% dự toán thu từ đất. Đánh giá về tình hình thu NSNN năm 2012, có thể rút ra một vài bài học: Một là, sự chỉ đạo điều hành kịp thời với những thay đổi của tình hình kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi dự toán NSNN. Chủ trương giảm

thuế để tăng thu NSNN của Chính phủ với Nghị quyết 13/NQ-CP là lý do quan trọng giải thích cho sự thành công của năm tài khóa 2012. Hai là, ngay trong bối cảnh khó khăn kinh tế thì việc tăng cường kiểm tra, giám sát trong quản lý thu thuế, chống thất thu thuế; tập trung xử lý các khoản nợ đọng thuế; triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số nợ thuế mới cần đặc biệt được quan tâm Theo dự toán NSNN năm 2013 đã được Quốc hội phê chuẩn, số thu cân đối ngân sách dự kiến 816.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa là 545.500 tỷ đồng (thu từ nhà đất dự kiến là 45.707 tỷ đồng), thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 166.500 tỷ đồng và từ dầu thô là 99.000 tỷ đồng, bội chi dự kiến là 162.000 tỷ đồng, tương đương 4,8 % GDP. Ba là, kiểm soát chặt chẽ nguồn thu ngân sách, thường xuyên kiểm tra, rà soát để nắm bắt kịp thời số lượng, tình trạng hoạt động của DN, hộ kinh doanh trên địa bàn để đưa vào diện quản lý. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu ngân sách, chú trọng việc thanh tra đối với các chuyên đề như: chuyển giá, thương mại điện tử, kinh doanh qua mạng, hoàn thuế, hộ kinh doanh cá thể; thanh tra đối với các DN lớn, DN có vốn đầu tư nước ngoài. Bốn là, đẩy mạnh áp dụng các biện pháp thu nợ và cưỡng chế nợ thuế nhằm hạn chế nợ mới phát sinh, động viên kịp thời nguồn lực cho NSNN. Năm là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế nhằm cắt giảm chi phí tuân thủ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để DN phát triển sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh triển khai thực hiện các đề án thuộc Chiến lược phát triển hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020, đảm bảo lộ trình và yêu cầu đã đề ra.

Một số giải pháp thực hiện thu ngân sách nhà nước năm 2013 Theo dự toán NSNN năm 2013 đã được Quốc hội phê chuẩn thì số thu cân đối ngân sách dự kiến là 816.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa là 545.500 tỷ đồng (thu từ nhà đất dự kiến là 45.707 tỷ đồng), thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 166.500 tỷ đồng và từ dầu thô là 99.000 tỷ đồng, bội chi dự kiến là 162.000 tỷ đồng, tương đương 4,8 % GDP. Phân tích tình hình kinh tế và dự toán NSNN năm 2013, có thể thấy việc thực hiện thu NSNN có một số thuận lợi như sau: Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ có thể thoát ra khỏi giai đoạn suy giảm vào giữa năm 2013, góp phần làm tăng thu ngân sách. Năm 2013, hệ số ICOR theo mục tiêu giảm (từ gần 6,7 lần xuống 5,5 lần), do tỷ lệ vốn đầu tư/GDP giảm xuống (30% so với 33,5%), do tốc độ tăng trưởng GDP cao lên (5,5% so với 5,03%); tốc độ tăng năng suất lao động cũng cao lên (năm 2012 tăng gần 2,3%, mục tiêu năm 2013 tăng

lên 2,7%). Theo ước tính, nếu GDP năm 2013 tăng trưởng đạt 5,5 – 6% thì tăng thu NSNN có thể tăng từ 9-10% so với thực hiện năm 2012, tức là đạt mức theo dự toán. Thứ hai, các DN và cả nền kinh tế được kỳ vọng sẽ từng bước hồi phục khi lạm phát được kiểm soát và lãi suất cho vay giảm đi. Các biện pháp hỗ trợ DN qua miễn, giảm thuế sẽ từng bước có tác dụng khôi phục lại hoạt động của DN. Điều này góp phần vào việc tăng nguồn thu cho NSNN. Hơn nữa, do lạm phát năm 2012 thấp nên việc lập dự toán thu theo số danh nghĩa cho năm 2013 cũng không bị thổi phồng như đã xảy ra với dự toán năm 2012. Nói cách khác là dự toán thu NSNN năm 2013 sẽ sát với thực tiễn hơn. Tuy nhiên, thực hiện dự toán thu NSNN năm 2013 cũng sẽ đối mặt với những thách thức không nhỏ: Thứ nhất, rủi ro của các yếu tố bên ngoài có thể tác động xấu đến tăng trưởng làm giảm nguồn thu NSNN. Kinh tế Việt Nam hiện nay đang phụ thuộc khá lớn vào tình hình biến động của kinh tế thế giới (độ mở của nền kinh tế, tính theo quy mô ngoại thương/ GDP trong giai đoạn gần đây lên đến 150%). Tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu khi kinh tế khu vực EU và Mỹ khó khăn thì kinh tế Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng. Theo dự báo của IMF vào tháng 12/2012 thì kinh tế thế giới sẽ chỉ tăng trưởng 3,6% trong năm 2013 và nhóm các nước phát triển chỉ tăng trưởng ở mức 1,6 %. Thứ hai, nguồn thu giảm do chính sách miễn giảm thuế của Chính phủ: Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 07/01/2013, tháo gỡ khó khăn cho DN trong đó có gia hạn thời hạn nộp thuế, miễn, giảm thuế TNDN. Việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân mới với sự thay đổi về ngưỡng chiết trừ gia cảnh và thang thu nhập chịu thuế dự kiến sẽ làm giảm thu NSNN. Thu thuế xuất nhập khẩu cũng có thể giảm đi khi Việt Nam tiếp tục cắt giảm thuế suất theo cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và hoạt động xuất nhập khẩu bị tác động của suy giảm tăng trưởng kinh tế. Thứ ba, rủi ro kinh tế khiến một số nguồn thu khó đạt dự toán Việc giải quyết nợ xấu trong hệ thống các ngân hàng thương mại và của hệ thống DN sẽ đòi hỏi chi phí không nhỏ. Về ngắn hạn, các chính sách này có thể làm giảm nguồn thu từ thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân. Một trong những nguồn thu quan trọng là thu NSNN từ dầu thô cũng sẽ khó tăng khi dự báo giá dầu năm 2013 sẽ ít có biến động mạnh, thậm chí có thể giảm đi nếu tình hình khu vực Trung Đông ổn định. Thị trường bất động sản chưa khởi sắc sẽ làm nguồn thu từ đất đai tiếp tục khó đạt mục tiêu đặt ra. Theo dự toán, thu NSNN từ đất đai năm 2013 tăng 7,7 % so với dự toán 2012, song trong bối cảnh hiện nay và thực tế tình hình năm 2013 thì cũng sẽ không dễ thực hiện được số thu này.

III.Giải pháp để tránh thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay: 1.Nguyên nhân gây thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam: Thất thu ngân sách do rất nhiều nguyên nhân, và có sự ảnh hưởng khác nhau đến sự cân đối vĩ mô của nền kinh tế. Về cơ bản, tình trạng thất thu ngân sách nhà nước gồm các nguyên nhân chính sau: 1.1 Thất thu thuế nhà nước:

Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh các nguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ…tuy nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đã tạo kẻ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể cho ngân sách nhà nước. lấy ví dụ:lượng thuốc lá nhập lậu còn làm chảy máu ngoại tệ của đất nước khoảng 200 triệu USD/năm, làm gia tăng thất nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, việc miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách khác gây thâm hụt ngân sách nhà nước. 1.2 Đầu tư công kém hiệu quả:

Trong năm 2007 và 2008, nước ta đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ bên ngoài nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc gia phục vụ lợi ích phát triển của đất nước. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự phát triển của các vùng miền, là nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước. 1.3 Cần đấu thầu dự án sử dụng đất:

Bên cạnh đó, nền hành chính công – dịch vụ của chúng ta quá kém hiệu quả. Chính sự kém hiệu quả này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên trầm trọng. 1.4 Nhà nước huy động vốn để kích cầu:

Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách áp lực bội chi ngân sách (nhất là ngân sách các địa phương). Chúng ta có thể thấy, thông qua cơ chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và được xác định cụ thể trong dự toán ngân sách hằng năm. -Vì vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư. Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách.Để có nguồn kinh phí hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả hai trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN. 1.6 Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn:

Tăng chi tiêu của chính phủ một mặt giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn hạn, nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát và rủi ro tài chính do sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu cơ chế giám sát đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính. Lý thuyết kinh tế không chỉ ra một cách rõ ràng về hướng tác động chi tiêu của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên đa số các nhà kinh tế thường thống nhất rằng chi tiêu của chính phủ một khi vượt quá một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây ra phân bổ nguồn lực một cách không hiệu quả dẫn tới thâm hụt ngân sách nhà nước và cuối cùng là gây ra lạm phát. 1.7 Bên cạnh đó, sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua còn đươck sử dụng như một công cụ trong chính sách tài khoá để kích thích sự tang trưởng kinh tế:

Về nguyên tắc, sau khi lấy tổng thu trừ đi tổng chi trong năm sẽ xác định được số thặng dư hoặc thiếu hụt ngân sách trong năm. Tuy nhiên, khi cân đối ngân sách chúng ta thường xác định số bội chi trước (thông thường tương đương với mức Quốc hội cho phép) và nguồn còn lại được Quốc hội cho phép chuyển nguồn sang năm sau. Đây là chính sách ngân sách thận trọng khi áp dụng lý thuyết bội chi một cách chủ động và điều đó không gây xáo trộn trong chính sách kinh tế vĩ mô, nhưng phải cân nhắc và kiểm tra xem toàn bộ số bội chi có được sử dụng để chi đầu tư phát triển cho các dự án trọng điểm và hiệu quả qua đó tạo thêm công ăn việc làm, tạo đà cho nền kinh tế phát triển, tăng khả năng thu NSNN trong tương lai hay không

2. Giải pháp để tránh thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Giải pháp giảm thất thu ngân sách nhà nước nhờ tổ chức bộ máy thu nộp:

-Tổ chức bộ máy thu nộp gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống thất thu do trốn, lậu thì sẽ là nhân tố tích cực làm giảm tỉ xuất thu ngân sách nhà nước mà vẫn đảm bảo nhu cầu chi tiêu của NSNN. -Chúng ta cần tập trung cho giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng. Bên cạnh đó, cần đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và có chính sách đầu tư phát triển công nghiệp chế biến và công nghiệp phụ trợ. -Cần phải đưa nguồn thu từ trái phiếu Chính phủ vào trong ngân sách để có những tính toán và phân bổ cho phù hợp hơn. -Chính phủ cần siết chặt chi tiêu ngân sách, tập trung vốn hoàn thành những dự án, công trình dở dang, hạn chế khởi công dự án mới, nhất là những dự án có tổng mức đầu tư lớn. Vấn đề nợ công của nước ta hiện nay và giải pháp cho vấn đề nợ công để tránh thất thu ngân sách nhà nước.

-Công khai và minh bạch hóa các khoản nợ nhà nứơc của các tập đoàn và đảm bảo nợ công trong mức an toàn. -Hoàn thiện khung pháp lý về quản lý nợ công, kiểm soát nợ quốc gia ở ngưỡng an toàn bằng việc tiếp tục hoàn thiện chính sách quản lý về vốn ODA, vay ưu đãi, phát hành trái phiếu, quản lý phòng ngừa rủi ro…; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay; thu thập, báo cáo, công khai các chỉ tiêu giám sát an toàn nợ; xây dựng quy chế quản lý rủi ro. Chống thất thu ngân sách nhà nước- nhìn từ hoạt động kiểm tra sau thông qua:

-Trong khi khai thác, cho thuê, nhượng bán tài sản, tài nguyên quốc gia tăng thu cho ngân sách, nhà nước cần phải dành kinh phí thỏa đáng cho để nuôi dưỡng, tái tạo và phát triển các tài sản, tài nguyên ấy, không làm cạn kiệt và phá hủy tài sản, tài nguyên vì mục đích trước mắt. -Chính sách thuế phải vừa huy động được nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa khuyến khích tích tụ vốn cho doanh nghiệp và dân cư. -Chính sách vay dân để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước phải được đặt trên cơ sở thu nhập và mức sống của dân. -Dùng ngân sách nhà nước đầu tư trực tiếp vào một số doanh nghiệp quan trọng trong những lĩnh vực then chốt, nhằm tạo ra nguồn tài chính mới.

-Nhà nước cần có chính sách tiết kiệm, khuyến khích mọi người tiết kiệm tiêu dùng, tinh giản bộ máy, cải cách hành chính để tích lũy vốn chi cho đầu tư

TÊN : LÊ HỒNG NHUNG MSSV :1154020712 LỚP

:11DTDN4

ĐỀ BÀI: Ngân sách nhà nước và biện pháp tăng thu ngân sách nhà

nước