Top 13 # Xem Nhiều Nhất Giải Pháp Sáng Kiến Trong Ngành Tòa Án / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Nhiều Sáng Kiến, Đổi Mới Trong Công Tác Thông Tin, Tuyên Truyền Của Tòa Án Nhân Dân / 2023

Ngày 8/11, TANDTC đã họp và đánh giá kết quả hoạt động quý III/2019, phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm quý IV/2019 của Ban Chỉ đạo công tác Thông tin- tuyên truyền Tòa án nhân dân. Bà Nguyễn Thúy Hiền – Phó Chánh án TANDTC, Trưởng ban chỉ đạo Thông tin tuyên truyền chủ trì cuộc họp.

Văn phòng Bảo đảm hoạt động ổn định của Cổng thông tin điện tử TANDTC, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo TANDTC; tuyên truyền đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; phản ánh kịp thời các hoạt động của lãnh đạo TANDTC, Hội đồng Thẩm phán TANDTC cũng như các hoạt động chung của hệ thống TAND. Trong đó, nhiều hoạt động nổi bật đã được đăng tải kịp thời trên Cổng thông tin điện tử TANDTC.

Nổi bật nhất trong thời gian này Báo Công lý tuyên truyền đậm nét Hội nghị tổng kết thí điểm đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại trong việc giải quyết các vụ án dân sự, khiếu kiện hành chính tại TAND; Hội thảo nêu bật tính ưu việt của Dự thảo Luật Hòa giải tại Tòa án để trình Quốc hội; Các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng pháp luật trong xét xử các tội xâm hại tình dục trẻ em, vi phạm Luật Bảo hiểm xã hội, bảo vệ động vật hoang dã…

Phát biểu kết luận cuộc họp, Phó Chánh án TANDTC Nguyễn Thúy Hiền, Trưởng Ban Chỉ đạo ghi nhận và đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực của các thành viên trong Ban Chỉ đạo đã có nhiều sáng kiến, đổi mới chất lượng để triển khai có hiệu quả, góp phần thực hiện thành công các nhiệm vụ Thông tin – Tuyên truyền các hoạt động của TAND.

Đồng thời, Phó Chánh án TANDTC Nguyễn Thúy Hiện nhấn mạnh, quý III năm 2019, Báo Công lý, Tạp chí Tòa án nhân dân tiếp tục phối với các đơn vị hoàn thiện các dự án, đề án đang triển khai trình Ban cán sự Đảng, lãnh đạo TANDTC phê duyệt. Ngoài ra, là việc kiện toàn Ban Chỉ đạo, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên để triển khai các nhiệm vụ trọng tâm trong toàn hệ thống TAND, đặc biệt là chuẩn bị cho việc ra mắt bộ phim Người Thẩm phán TAND và thúc đẩy cuộc thi sáng tác về Tòa án nhân dân đã phát động.

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Tác Nghiệp Trong Thẩm Định Sáng Kiến / 2023

1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BÁO CÁO GIẢI PHÁP TÁC NGHIỆP (Đề nghị tặng thưởng danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở) I. SƠ LƢỢC BẢN THÂN: - Họ và tên: Phạm Tấn Thành; - Chức vụ: Chuyên viên Phòng Nội vụ Ea H'Leo; - Ngày, tháng, năm sinh: 28/4/1988; - Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Cử nhân Công nghệ thông tin. - Chức năng, nhiệm vụ được phân công: Thi đua-Khen thưởng; QLNN về Thanh niên; Dân vận Chính quyền; Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; Công nghệ thông tin. II. NỘI DUNG GIẢI PHÁP 1. Tên giải pháp: "Giải pháp tác nghiệp trong thẩm định sáng kiến". 2. Căn cứ hình thành giải pháp - Luật Thi đua-Khen thưởng số 15/2003/QH11, ngày 26/11/2003 của Quốc hội; Luật số 39/2013/QH13, ngày 16/11/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua- Khen thưởng của Quốc hội; - Chỉ thị số 34-CT/TW, ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng; - Chỉ thị số 07/CT-TTg, ngày 19/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh phòng, chống tiêu cực trong công tác quản lý công chức, viên chức và thi đua, khen thưởng; - Chỉ thị số 35/CT-TTg, ngày 19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước chào mừng Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ IX và các ngày lễ lớn trong năm 2015; - Nghị định số 42/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng; - Nghị định số 13/2012/NĐ-CP, ngày 02/3/2012 của Chính phủ ban hành Điều lệ sáng kiến; - Nghị định số 65/2014/NĐ-CP, ngày 01/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua - Khen thưởng năm 2013; - Thông tư số 07/2014/TT-BNV, ngày 29/8/2014 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 42/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua-Khen thưởng và Luật sửa đổi bổ sung 2 một số điều của Luật Thi đua - Khen thưởng, Nghị định số 39/2012/NĐ-CP, ngày 27/4/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 42/2010/NĐ- CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ và Nghị định số 65/2014/NĐ-CP, ngày 01/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua- Khen thưởng năm 2013; - Chỉ thị số 32-CT/TU, ngày 09/10/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng và đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước của tỉnh; - Chỉ thị số 02/CT-UBND, ngày 06/3/2014 của UBND tỉnh Đăk Lăk về việc đẩy mạnh công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua yêu nước của tỉnh; - Quyết định số 11/2015/QĐ-UBND, ngày 03/3/2015 của UBND tỉnh Đăk Lăk về việc ban hành quy định công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh; - Quyết định số 3157/QĐ-UBND, ngày 07/12/2011 của UBND tỉnh Đăk Lăk Về việc ban hành Quy định xét công nhận phạm vi ảnh hưởng của thành tích, sáng kiến, giải pháp công tác, đề tài nghiên cứu trong khen thưởng các danh hiệu thi đua; 3. Thực trạng nhiệm vụ, công tác trƣớc khi áp dụng giải pháp - Quy trình thẩm định đối với SKKN, GPCT của cán bộ, công chức hành chính Nhà nƣớc: Hồ sơ sáng kiến kinh nghiệm, giải pháp công tác (SKKN, GPCT) của các cá nhân được Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị tổng hợp, trình đề nghị UBND huyện công nhận, gửi nộp về UBND huyện thông qua Phòng Nội vụ. Chuyên viên Phòng Nội vụ tiếp nhận, thẩm định sơ bộ sau đó đưa ra Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện xem xét, bỏ phiếu kín với tỷ lệ phiếu từ 70% thành viên Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện công nhận tại cuộc họp. Sau đó, Phòng Nội vụ sẽ tổng hợp tham mưu trình Chủ tịch UBND huyện ra Quyết định công nhận những SKKN, GPCT đã được các thành viên Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện công nhận. - Quy trình thẩm định đối với SKKN, GPCT của công chức quản lý, viên chức ngành Giáo dục theo năm học: Hồ sơ SKKN, GPCT của cá nhân được nộp về Phòng Giáo dục và Đào tạo. Chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo tiếp nhận, tổng hợp, thẩm định trình Hội đồng xét duyệt sáng kiến ngành Giáo dục xét, chấm điểm theo Công văn số 76/SGDĐT-VP, ngày 16/01/2013 của Sở Giáo dục và Đào tạo về việc Hướng dẫn viết, đánh giá SKKN từ năm 2013 đến năm 2016: (Loại Tốt (A): Từ 86 đến 100 điểm tr ng đ ti u chu n t đi trở n ti u chu n t đi trở n; Loại Khá (B): Từ 75 đến 85 điểm tr ng đ ti u chu n đạt đi trở n; Loại Trung bình (C): 60 đến 74 điểm; Dưới 60 điểm: Không xếp ại). Sau đó, Phòng Giáo dục và Đào tạo lập Tờ trình gửi nộp hồ sơ Phòng Nội vụ. Do Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện và Hội đồng xét duyệt sáng kiến ngành Giáo dục là ngang nhau vì cùng do Chủ tịch UBND huyện Quyết định thành lập nên Phòng Nội vụ chỉ kiểm tra thể thức, số lượng hồ sơ mà không thẩm định lại và căn cứ Tờ trình của Phòng Giáo dục và Đào tạo tham mưu Chủ tịch UBND huyện ra Quyết định công nhận mà không tham mưu Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện xem xét. - Thực trạng: Như vậy, có thể thấy trong một năm để xét, thẩm định các SKKN, GPCT thì huyện cần phải tổ chức 02 Hội đồng khác nhau: Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện (xét ch cán bộ công chức hành chính Nhà nước the nă công tác) và Hội đồng 3 xét duyệt sáng kiến ngành giáo dục (xét cho công chức quản ý vi n chức ngành Giá dục the nă học). Trong đó, điểm hạn chế là Hội đồng xét duyệt sáng kiến ngành Giáo dục cũng do Chủ tịch UBND huyện Quyết định thành lập nhưng qua mỗi năm học thì thành viên Hội đồng chưa được ổn định, phải kiện toàn thay đổi thành viên mới. Nhiều khi cũng SKKN, GPCT đã được thành viên Hội đồng công nhận trong năm học 2013-2014 nhưng thành viên Hội đồng năm học 2014-2015 vẫn tiếp tục công nhận do thành viên mới không biết được giải pháp đó là của năm trước. Một phần cũng là do khâu lưu trữ, quản lý SKKN, GPCT của công chức làm công tác thi đua, khen thưởng ngành Giáo dục chưa sàn lọc, làm tốt khâu thẩm định ban đầu. - Các thành viên Hội đồng sáng kiến thì làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, bận công việc chuyên môn ở cơ quan nên nhiều lúc không có thời gian xem xét được hết các nội dung của sáng kiến. - Quyết định số 3157/QĐ-UBND, ngày 07/12/2011 của UBND tỉnh Đăk Lăk ban hành đã lâu, không có bảng chấm điểm, khi xét chấm dựa trên 03 điều kiện (Tính ới tính khả thi; phạ vi ảnh hưởng) còn chung chung chưa cụ thể làm cho thành viên Hội đồng khó mường tượng để chấm. Do đó, việc tham mưu Chủ tịch UBND huyện công nhận SKKN, GPCT còn gặp nhiều khó khăn, nhất là việc công nhận trùng lặp SKKN, GPCT; tình trạng sao chép SKKN, GPCT, sao chép trên mạng chưa được phát hiện do chỉ một đầu mối xem xét là 01 Hội đồng xem xét thẩm định; lãng phí tài chính của Nhà nước chi cho công tác xét duyệt sáng kiến, trong khi SKKN, GPCT không mang lại hiệu quả thực chất. 4. Những yếu tố khách quan, chủ quan của những giải pháp đƣợc đề xuất trong thực hiện nhiệm vụ, công tác a) Những yếu tố khách quan: - Đảng và Nhà nước luôn quan tâm sâu sát công tác thi đua, khen thưởng. Đồng thời, xuất phát từ việc nghiên cứu các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng. Trong đó theo Chỉ thị số 34 của Bộ Chính trị cần đổi mới công tác thi đua khen thưởng với 06 nội dung chính. Tiếp đến là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua - Khen thưởng năm 2013; - Được sự quan tâm của tập thể và sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo Phòng Nội vụ trong công tác thi đua-khen thưởng đã tác động, thôi thúc bản thân tôi phải trằn trọc, suy nghĩ để làm sao cho việc khen thưởng danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở phải đúng thực chất. b) Những yếu tố chủ quan: Năm 2015 là năm diễn ra nhiều sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, của tỉnh Đăk Lăk cũng như huyện nhà. Trong đó, bản thân đã xác định là năm có nhiều công việc cần phải tập trung giải quyết đó là: Đại hội thi đua yêu nước huyện lần II; Huyện Ea H'Leo giữ đương chức Cụm trưởng Cụm thi đua số 2 của tỉnh năm 2015. Do đó, bản thân cũng ý thức được trách nhiệm nặng nề và quyết tâm nổ lực lao động sáng tạo hoàn thành công việc được giao. 4 Qua nhiều năm công tác, tham mưu Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện xem xét các sáng kiến nhưng bản thân gần như còn nhầm lẫn, hiểu nhầm sáng kiến là một mảng khác và giải pháp là một mảng khác. Nhưng thực chất thì giải pháp công tác là một thành phần cấu thành sáng kiến. 5. Nội dung của giải pháp 5.1. Giải pháp thứ nhất: Nâng cao năng lực tác nghiệp của công chức làm công tác Thi đua-Khen thưởng về chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ. Như vậy, trong quy trình thì khâu thẩm định sơ bộ của chuyên viên không quyết định công nhận hay không công nhận SKKN, GPCT nhưng cũng là khâu quan trọng và vất vả vì số lượng hồ sơ SKKN, GPCT nhiều. Hơn nữa, để thẩm định được SKKN, GPCT thì yêu cầu chuyên viên cần phải tự nổ lực từ bản thân để có thể có: Kỹ năng, trình độ chuyên môn của chuyên viên làm công tác thẩm định phải đạt chuẩn nhất định; Vốn kiến thức sâu rộng; Có tư duy tốt; Am hiểu nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học, công nghệ; Phải đọc nắm rõ văn bản quy phạm pháp luật quy định về công tác thi đua - khen thưởng và SKKN, GPCT nhất là phải nắm rõ "điều kiện để công nhận SKKN, GPCT". Từ đó: Để có thể áp dụng vào việc thẩm định, tổng hợp, báo cáo, gợi ý kết quả thẩm địnhtham mưu lãnh đạo cơ quan đưa ra trước Hội đồng xem xét trình Chủ tịch UBND huyện quyết định công nhận hoặc không công nhận. 5.2. Giải pháp thứ hai: Xây dựng tiêu chuẩn, điều kiện để công nhận SKKN, GPCT. Từ thực tiễn và qua 04 năm kinh nghiệm thẩm định SKKN, GPCT (t nă 0 đến 0 5) bản thân đúc rút ra "Điều kiện để công nhận SKKN, GPCT" trong phạm vi cấp huyện bao gồm 03 điều kiện cơ bản, đó là: Một là, không trùng với các sáng kiến đã được công nhận; Hai là, có tính mới trong phạm vi cơ quan hoặc trong phạm vi cấp huyện; Ba là, đã được áp dụng tại cơ quan, đơn vị hoặc cấp huyện làm tăng năng suất lao động, hiệu quả công tác. 5.3. Giải pháp thứ ba: Phân loại SKKN, GPCT để thuận tiện, dễ dàng trong việc thẩm định đưa ra Hội đồng xem xét Căn cứ theo Nghị định số 13/2012/NĐ-CP, ngày 02/3/2012 của Chính phủ ban hành Điều lệ sáng kiến đã định nghĩa: Sáng kiến là giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý, giải pháp tác nghiệp, hoặc giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật (gọi chung là giải pháp). Từ định nghĩa đó, bản thân tôi đã nghiên cứu, áp dụng Thông tư số 18/2013/TT- BKHCN, ngày 01/8/2013 và trăn trở suy nghĩ, cần sắp xếp, phân loại các sáng kiến của các cá nhân đã nộp về thành 03 loại giải pháp chính (the Điều của Thông tư 18/2013/TT-BKHCN) cần thẩm định để trình Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện xem xét (vì giải pháp cấu thành n n sáng kiến): - Giải pháp kỹ thuật: Giải pháp kỹ thuật là cách thức kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nhằm giải quyết một nhiệm vụ ( ột vấn đề) xác định, bao gồm: + Sản phẩm, dưới các dạng: Sản phẩm công nghệ (dụng cụ áy c thiết bị inh 5 kiện ); chất liệu hóa học (vật iệu chất iệu thực ph dược ph ỹ ph ...); vật liệu sinh học (chủng vi sinh chế ph sinh học gen thực vật động vật biến đổi gen; giống cây trồng giống vật nuôi); sản phẩm phi vật thể (các công trình đề tài dự án nghi n cứu thuộc ĩnh vực kh a học xã hội - nhân văn). + Quy trình thực hiện (công nghệ ch n đ án dự bá ki tra xử ý kỹ thuật chăn nuôi trồng trọt chữa bệnh ch người động vật và thực vật..; ứng dụng và công tác xây dựng định hướng quy h ạch quản ý điều hành phát tri n kinh tế - xã hội...). - Giải pháp quản lý: Giải pháp quản lý là cách thức tổ chức, điều hành công việc thuộc bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào, trong đó có: + Phương pháp tổ chức công việc (bố trí nhân ực áy c thiết bị dụng cụ nguy n iệu vật iệu...). + Phương pháp điều hành, kiểm tra, giám sát công việc. - Giải pháp tác nghiệp: Bao gồm các phương pháp thực hiện các thao tác kỹ thuật, nghiệp vụ trong công việc thuộc bất kỳ lĩnh vực hoạt động: + Phương pháp thực hiện các thủ tục hành chính giúp giảm thời gian, giảm phiền hà cho người dân, tăng hiệu suất thực hiện (tiếp nhận xử ý hồ sơ đơn thư tài iệu...) + Phương pháp thẩm định, giám định, tư vấn, đánh giá... + Phương pháp tuyên truyền, đào tạo, giảng dạy, huấn luyện... + Phương pháp huấn luyện động vật... 5.4. Giải pháp thứ tƣ: Tham mưu UBND huyện kiện toàn Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện đảm bảo đủ số lượng, thành phần, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cần thiết cho việc xét duyệt. Có thể tham khảo theo hình vẽ sau: Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện (d Chủ tịch UBND huyện QĐ thành ập) Hội đồng xét duyệt sáng kiến Phòng Giáo dục (do Trưởng Phòng Giá dục Quyết định thành ập) Thẩm định về chuyên môn theo Hướng dẫn của Sở Giáo dục & ĐT Các trường học có cá nhân viết SKKN, GPCT Xem xét điều kiện để công nhận SKKN, GPCT (the giải pháp thứ hai) Nộp hồ sơ SKKN, GPCT Các cơ quan, đơn vị, xã, thị trấn Nộp hồ sơ SKKN, GPCT (SK đạt) Nộp hồ sơ SKKN, GPCT (SK ko đạt) Thông báo hoặc tùy theo mức độ sai phạm có thể kiểm điểm hoặc phê bình theo quy định của pháp luật Chủ tịch UBND huyện T h am m ư u (đủ đk) Công nhận (ko đủ đk) Thông báo hoặc phê bình nếu sai phạm tùy theo mức độ 6 Xác định Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện là Hội đồng quan trọng duy nhất trong việc xét duyệt sáng kiến. Do đó, không tổ chức thành lập Hội đồng xét duyệt sáng kiến ngành Giáo dục hay bất kỳ Hội đồng nào khác ngang cấp với Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện để xét sáng kiến mà tiến hành tham mưu UBND huyện chỉ đạo Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo quyết định thành lập Hội đồng xét duyệt sáng kiến theo phân cấp thứ bậc từ thấp đến cao hoặc Thủ trưởng cơ quan tiến hành họp cơ quan lấy ý kiến, xác nhận và chịu trách nhiệm về việc xác nhận sáng kiến đó. 5.5. Giải pháp thứ năm: Xây dựng thang bảng điểm theo tiêu chuẩn nhất định để các thành viên Hội đồng xét duyệt sáng kiến có thể chấm điểm song song với việc bỏ phiếu kín ( ấy tỷ ệ phiếu t 0% trở n). Bảng chấm điểm cũ được bản thân làm để áp dụng năm 2014 theo Quyết định số 3157/QĐ-UBND, ngày 07/12/2011 của UBND tỉnh Đăk Lăk: Cũng trên cơ sở bảng chấm điểm cũ năm 2014, bản thân tôi nghiên cứu và sáng tạo xây dựng thang bảng điểm mới, cụ thể bảng điểm đã được tôi xây dựng cải tiến thêm trong giải pháp này như sau: 7 5.6. Giải pháp thứ sáu: Làm tốt công tác quản lý Nhà nước về sáng kiến. Hiện tại, bản thân tôi đã ứng dụng công nghệ thông tin để lưu các Quyết định công nhận sáng kiến kinh nghiệm cho các cá nhân có tham gia viết đã được công nhận từ năm 2012 tới 2014, năm học 2011-2012 đến năm học 2014-2015. Việc lưu trữ tốt Quyết định vừa tuân thủ cơ sở pháp lý theo Luật Lưu trữ, Thông tư số 09/2011/TT-BNV, ngày 03/6/2011 của Bộ Nội vụ và theo dõi được tên sáng kiến, giải pháp đã được công nhận để thẩm định các sáng kiến, giải pháp mới không để xảy ra tình trạng trùng lặp. Đối với các giải pháp khối cơ quan hành chính nhà nước khi tiếp nhận hồ sơ, bản thân tôi luôn nhắc nhở đề nghị gửi hồ sơ qua Email hoặc sao chép USB hoặc đôi lúc phải cầm USB đi xin file tệp tin về để lưu. Căn cứ những Quyết định công nhận cho các giải pháp, tiến hành làm tốt công tác nhân rộng, phổ biến sáng kiến thông qua trang web của cơ quan hoặc các phương tiện khác. 6. Khả năng áp dụng, phạm vi áp dụng sáng kiến đƣa ra. Nếu đã đƣợc áp dụng thì nêu sơ lƣợc về hiệu quả của sáng kiến mang lại. a) Khả năng áp dụng, phạm vi áp dụng: - Áp dụng được cho công tác thẩm định sáng kiến, giải pháp công tác nhất là áp dụng vào xem xét, thẩm định sáng kiến, giải pháp ngành Giáo dục vì số lượng khá nhiều. - Về phạm vi: Tất cả công chức làm công tác thi đua khen thưởng, thẩm định sáng kiến, giải pháp công tác thuộc Phòng Nội vụ các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk có thể áp dụng. Ngoài ra, cũng có thể áp dụng để công chức kiêm nhiệm làm công tác thi đua-khen thưởng ở các cơ quan, đơn vị trong địa bàn huyện, công chức Văn phòng-Thống kê ở các xã, thị trấn trong địa bàn huyện làm căn cứ thẩm định sơ bộ 8 để giúp Trưởng phòng, Chủ tịch UBND xã, thị trấn xem xét và trình lên Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện xem xét bước tiếp theo. Góp phần giảm thời gian, nâng cao chất lượng các sáng kiến, giải pháp công tác. b) Hiệu quả từ thực tiễn: So sánh số liệu xét duyệt SKKN, GPCT giữa năm 2013 và năm 2014; Nội dung Năm 2013 Năm 2014 Số SKKN, GPCT được công nhận 06 12 Số SKKN, GPCT không được công nhận 03 02 Tổng số SKKN, GPCT các cơ quan, đơn vị đề nghị Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện xem xét 09 14 So sánh số liệu giữa năm học 2013-2014 và năm học 2014-2015. Nội dung Năm học 2013-2014 (do HĐ xét duyệt SKKN ngành giá dục xét đề nghị công nhận) Năm học 2014-2015 (d HĐ xét duyệt sáng kiến huyện xe xét) Số SKKN, GPCT được công nhận 66 112 Số SKKN, GPCT không được công nhận 92 07 (83: HĐ Phòng Giá dục xét ại ra) Tổng số SKKN, GPCT các cơ quan, đơn vị đề nghị Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện xem xét 158 202 Trong năm 2014: Trong 02 SKKN không được công nhận, chuyên viên thẩm định phát hiện 01 SKKN (không đủ điều kiện công nhận) có sao chép chỉnh sửa một số câu từ, đoạn văn của sáng kiến năm 2013. Trong năm học 2014-2015: Nhờ áp dụng phương pháp mới, xét duyệt theo sự phân cấp từ trường học, cơ quan mới đến Hội đồng huyện. Có 07 SKKN, GPCT không được công nhận thì có phát hiện không đủ điều kiện để công nhận như giải pháp này đã 9 đề ra, cụ thể là các cá nhân tham gia viết sáng kiến đã vi phạm các lỗi: Sao chép trên mạng internet; sao chép của các năm học trước; sao chép của các cá nhân trường khác đã được công nhận ở các năm học trước * Hiệu quả khi tiếp tục áp dụng sáng kiến trong thời gian tới: - Các cá nhân khi viết SKKN, GPCT vừa có chất lượng vừa có thể dễ dàng cho Hội đồng xem xét vì viết đủ điều kiện để công nhận, viết có sự lựa chọn theo phân loại sáng kiến, giải pháp - Các thành viên Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện có thể dễ dàng hơn trong việc chấm điểm theo bảng điểm, bình bầu theo phân loại sáng kiến, dễ dàng vận hành, hoạt động theo quy chế, quy trình * Tóm lại, thông qua giải pháp này thì người thực thi việc thẩm định sáng kiến có thể hiểu rõ hơn, làm tốt hơn công tác thẩm định sáng kiến và nhất là có thể tự trả lời được các câu hỏi đặt vấn đề như sau: - Sáng kiến là gì? - Có bao nhiêu loại sáng kiến? - Quy trình để công nhận sáng kiến? - Điều kiện để công nhận sáng kiến? - Cơ quan nào có thẩm quyền công nhận sáng kiến? - Làm thế nào để thẩm định sáng kiến đạt yêu cầu? - Làm thế nào để thẩm định được sáng kiến trùng lặp, sao chép từ cá nhân khác, sao chép internet,..v.v.? - Làm thế nào để tham mưu các thành viên Hội đồng có căn cứ xét, chấm điểm sáng kiến đạt chất lượng, hiệu quả? - Xét duyệt, công nhận sáng kiến sáng để làm gì? III. Các danh hiệu đƣợc ghi nhận: Năm Danh hiệu thi đua Số, ngày, tháng, năm của quyết định công nhận danh hiệu thi đua; cơ ban hành quyết định 2013 Lao động tiên tiến QĐ số 333/QĐ-UBND, ngày 19/02/2014 của UBND huyện Ea H'Leo 2014 Lao động tiên tiến QĐ số 405/QĐ-UBND, ngày 03/3/2015 của UBND huyện Ea H'Leo 10 kiến kinh nghiệm, giải pháp công tác mà bản thân đã nghiên cứu triển khai thực hiện có hiệu quả trong năm 2015. Kính trình Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện xem xét. THỦ TRƢỞNG ĐƠN VỊ Ea H'Le , ngày 03 tháng 12 nă 015 (ký t n đ ng dấu) Ngƣời báo cáo (Đã ký) Phạm Tấn Thành

Ngành Tòa Án Tỉnh Kon Tum Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng Xét Xử / 2023

Thời sự – Chính trị

(kontumtv.vn) – Nhằm nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các vụ án, ngành Tòa án tỉnh Kon Tum đã không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động và hiệu lực, hiệu quả công tác xét xử, đảm bảo thực thi pháp luật công bằng, nghiêm minh.

Xác định nâng cao chất lượng xét xử, giải quyết các loại án là nhiệm vụ trọng tâm và thường xuyên, Tòa án Nhân dân thành phố Kon Tum đã tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ thẩm phán, thư ký, thẩm tra viên; tăng cường công tác tranh tụng tại tòa và thường xuyên tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm. Ông Nguyễn Văn Long, Chánh án Tòa án Nhân dân thành phố Kon Tum cho biết, với những giải pháp đồng bộ, chất lượng xét xử các loại án đảm bảo đúng quy định pháp luật: “Trong năm 2020, Tòa án thành phố Kon Tum tính đến nay là đã thụ lý được 1.029 vụ, giải quyết được 920 vụ, đạt trên 90%. Trong đó không có vụ án nào oan sai, không có vụ án nào bỏ lọt tội phạm, cũng như đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng cho Nhà nước, cho tập thể, cho công dân. Công tác giải quyết các loại án khác ngoài hình sự ra thì công tác hòa giải, đối thoại rất thành công, đạt gần 70% các vụ việc được phép hòa giải”.

Toà án Nhân dân tỉnh đã triển khai thực hiện đồng bộ 14 giải pháp để nâng cao chất lượng xét xử các loại án do Tòa án Nhân dân tối cao đề ra. Đồng thời, ban hành quy chế phối hợp giữa UBND tỉnh và Tòa án Nhân dân tỉnh trong việc nâng cao chất lượng xét xử các vụ án về hình sự, dân sự, hành chính; Chú trọng, kiện toàn đội ngũ cán bộ ngành Tòa án, bố trí đủ các chức danh lãnh đạo đối với tòa, phòng, đặc biệt là đối với đội ngũ thẩm phán và thư ký; tăng cường công tác bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ xét xử; kiện toàn Ủy ban Thẩm phán để hỗ trợ tối đa các vấn đề về chuyên môn nghiệp vụ cho thẩm phán Tòa án Nhân dân 2 cấp. Thẩm phán Nguyễn Thị Hường, Tòa án Nhân dân thành phố Kon Tum cho hay: “Trong người thẩm phán luôn nhớ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đối với người thẩm phán là phải phụng công, thủ pháp, chí công vô tư. Nghề thẩm phán phải luôn tích lũy kinh nghiệm xét xử thực tế và luôn học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp đi trước để phục vụ công tác chuyên môn. Luôn tích cực nghiên cứu các văn bản pháp luật, Luật cũng như Nghị quyết của Hội đồng thẩm phám để vận dụng trong công tác chuyên môn”.

Ông Nguyễn Văn Pho, Phó Chánh án Tòa án Nhân dân tỉnh Kon Tum cho biết thêm: “Nhờ triển khai các biện pháp thiết thực nên trong thời gian qua cả về số lượng, chất lượng giải quyết, xét xử các loại án thì Tòa án nhân dân 2 cấp tỉnh Kon Tum đã được nâng cao chất lượng rõ rệt, tỷ lệ án hủy, sửa giảm hơn so với những năm trước đây. Về số lượng án thì tính đến nay thì Tòa án nhân dân 2 cấp tỉnh Kon Tum thụ lý được 1.882 vụ án, đã giải quyết được 1.596 vụ, đạt tỷ lệ 85%, đến 31/8 là được 85%, án hủy là 0,3, án sửa là 0,25, giảm so với cùng kỳ năm trước”.

Để nâng cao chất lượng xét xử, thời gian tới, Tòa án Nhân dân tỉnh tiếp tục kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ vừa có tâm, vừa có tầm, đáp ứng nhiệm vụ trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Ông Nguyễn Văn Pho, Phó Chánh án Tòa án Nhân dân tỉnh nói: “Tiếp tục chú trọng triển khai 14 giải pháp để nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án Nhân dân Tối cao, đặc biệt là nâng cao chất lượng phiên tòa, những phiên rút kinh nghiệm. Tăng cường đoàn kết nội bộ, coi đoàn kết là sức mạnh, là cơ sở để hoàn thành mọi nhiệm vụ; công tác cán bộ phải xác định là công tác sống còn của đơn vị, phải chọn đúng người, giao đúng việc, đánh giá cán bộ phải dựa trên năng lực công tác”.

Với những giải pháp đồng bộ và sự cố gắng của cán bộ, công chức, tin rằng ngành Tòa án tỉnh sẽ tiếp tục hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

Ngọc Chí – Công Luận

Pháp Lệnh Tổ Chức Tòa Án Quân Sự / 2023

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

Căn cứ vào Luật Tổ chức Toà án nhân dân;

Pháp lệnh này quy định về tổ chức và hoạt động của các Toà án quân sự.

Các Toà án quân sự là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc hệ thống Toà án nhân dân được tổ chức trong Quân đội.

Trong phạm vi chức năng của mình, các Toà án quân sự có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ an ninh quốc phòng, kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của quân nhân, công chức, công nhân quốc phòng và của các công dân khác.

Bằng hoạt động của mình, các Toà án quân sự góp phần giáo dục quân nhân, công chức, công nhân quốc phòng trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, điều lệnh của Quân đội, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống , các vi phạm pháp luật khác.

a) Toà án quân sự trung ương;

b) Các Toà án quân sự quân khu và tương đương;

c) Các Toà án quân sự khu vực.

2. Căn cứ vào nhiệm vụ và tổ chức của Quân đội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể Toà án quân sự quân khu và tương đương, Toà án quân sự khu vực theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

1. Quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý.