Tìm Giải Pháp Cho Quản Lý Rủi Ro Tín Dụng

--- Bài mới hơn ---

  • Bảo Tồn Và Phát Triển Ẩm Thực Truyền Thống Việt Nam
  • Phát Triển Du Lịch Ẩm Thực Trở Thành Sản Phẩm Riêng
  • Cần Đưa Ẩm Thực Việt Trở Thành “đặc Sản” Du Lịch
  • Phát Triển Du Lịch Ẩm Thực Việt Nam
  • Phát Triển Loại Hình Du Lịch Ẩm Thực Tại Việt Nam Trong Thời Gian Tới
  • (DĐDN) – Theo chuyên gia khi các ngân hàng áp dụng Basel II sẽ thay đổi gần như toàn bộ phương thức kinh doanh cũng như quản lý rủi ro từ khâu quản trị doanh nghiệp đến quy trình, giải pháp, công cụ hệ thống đánh giá,…

    Tại Việt Nam, các ngân hàng dự báo tăng trưởng mạnh trong năm nay nhờ nhu cầu tín dụng mạnh mẽ. Tuy vậy, kinh tế Việt Nam vẫn còn có những quan ngại về tỷ lệ nợ xấu, nợ khó đòi ở mức cao. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần nhấn mạnh rằng tốc độ và chất lượng tăng trưởng tín dụng sẽ được kiểm soát chặt chẽ, đặc biệt là tín dụng sử dụng cho các doanh nghiệp với những rủi ro tiềm ẩn cao.

    Nói về thực trạng trong quản lý rủi ro tín dụng, ông Lê Trung Kiên – Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách an toàn hoạt động ngân hàng, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, NHNN cho biết: “Theo khảo sát hiện rất ít ngân hàng đạt được chuẩn mực mặc dù các ngân hàng đã làm nhiều giải pháp nhưng việc chỉ ra 1 con số tác động cụ thể đến kinh doanh hay thiết thực nhất là cổ tức của cổ đông HĐQT vẫn chưa đưa ra được câu trả lời rõ ràng”.

    Ông Kiên phân tích thêm, nguồn nhân sự quản lý rủi ro tín dụng còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu khi quản lý rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế; cơ sở dữ liệu, CNTT, quản trị thông tin còn lạc hậu, chưa tạo đầy đủ cơ sở hạ tầng để quản lý rủi ro; Khả năng đầu tư dành cho quản lý rủi ro còn hạn chế do chi phí cao nhất là đối với các ngân hàng quy mô nhỏ…

    Giải pháp cho quản lý rủi ro tín dụng

    Hiện nay các ngân hàng đều có bộ phận quản lý rủi ro, tuy nhiên trong thời gian tới, các ngân hàng sẽ áp dụng basel II nên đứng trước nhiều thách thức hơn.

    Basel II là phiên bản thứ hai của Hiệp ước Basel, trong đó đưa ra các nguyên tắc chung và các luật ngân hàng của ủy ban Basel về giám sát ngân hàng. Hiệp ước này được coi là tiêu chuẩn tối thiểu để đánh giá các rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt, cũng như nhằm tăng cường hiệu quả trong các hoạt động kinh doanh và quản lý nguồn vốn.

    Bà Nguyễn Thùy Dương – đại diện EY Việt Nam cho rằng: “Xu hướng phát triển mô hình định lượng rủi ro tín dụng là tất yếu trong lĩnh vực ngân hàng Việt Nam. EY có khả năng hỗ trợ cho cả ngân hàng Nhà nước và ngân hàng cổ phần lớn trên khắp Việt Nam trong việc phát triển mô hình xếp hạng tín dụng và phân tích các khoảng cách giữa hiện trạng với yêu cầu của chuẩn Basel II”.

    Là đối tác của EY Việt Nam và cũng là một trong những DN đồng hành cùng các ngân hàng trong công tác quản lý rủi ro tín dụng, ông Đinh Hà Duy Linh – Tổng Giám đốc Công ty HPT đã nhấn mạnh: “HPT sẵn sàng hỗ trợ các ngân hàng cải thiện năng lực quản lý rủi ro của mình với các giải pháp công nghệ và phần mềm quản lý rủi ro mà HPT phối hợp cùng đối tác triển khai”.

    Như vậy, quá trình phát triển của Basel và những Hiệp ước mà tổ chức này đưa ra, các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ giảm thiểu được rủi ro.

    Hồng Hương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn: Giải Pháp Quản Lý Rủi Ro Tín Dụng Tại Ngân Hàng, 9 Điểm!
  • Tìm Giải Pháp Quy Hoạch Phát Triển Đô Thị Thích Ứng Với Ngập Lụt
  • Giải Pháp Nào Cho Quy Hoạch Đô Thị Bình Dương
  • Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Trong Bối Cảnh Mới
  • Kiến Nghị Giải Pháp Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Trong Thế Giới Biến Động
  • Các Phương Thức Quản Lý Giảm Thiểu Rủi Ro Do Tín Dụng

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Một Số Biện Pháp Quản Lý Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Trên Địa Bàn Tp. Hồ Chí Minh
  • Các Phương Pháp Quản Lý Rủi Ro
  • Sáng Kiến Kinh Nghiêm Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 3
  • Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 2
  • Skkn Một Số Biện Pháp Rèn Học Cho Học Sinh Lớp 3 Skkn Thi Sang Doc
  • * Phương thức quản lý rủi ro tín dụng bằng cách nâng cao chất lượng tín dụng.

    Phương pháp này được thực hiện chủ yếu thông qua việc phân tích thẩm định kỹ lưỡng các thông tin tài chính và các thông tin phi tài chính của người nhận nợ và áp dụng thủ tục cấp tín dụng chặt chẽ trước khi đầu tư nhằm phân loại khoản vay và các đối tác vay vốn dựa vào mức độ rui ro tín dụng của nó để quản lý.

    * Phương thức quản lý rủi ro bằng cách trích lập dự phòng rủi ro

    Tổ chức tín dụng trích lập ra một khoản dự phòng ngằm bù đắp cho những rủi ro có thể xảy ra căn cứ vào mức độ rủi ro của các tài sản có.

    * Phương thức quản lý rủi ro bằng cách bảo hiểm rủi ro tín dụng.

    Thị trường trái khoán hoặc ngân hàng thương mại yêu cầu người nhận nợ phải có một khoản chi phí phụ thêm cho việc mua bảo hiểm nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp trong trường hợp phá sản.

    Chất lượng tín dụng càng cao thì tỷ lệ bảo hiểm rủi ro tín dụng càng thấp, khi rủi ro tín dụng của một doanh nghiệp tăng lên, các nhà đầu tư trái khoán và các ngân hàng thương mại sẽ yêu cầu tỷ lệ bảo hiểm tín dụng cao hơn.

    Việc tăng lên của các khoản bảo hiểm này là cần thiết để bù đắp cho mất mát dự kiến cao hơn về trái khoán hoặc khoản vay vì khả năng khoán vay sẽ không được hoàn trả. Kết quả là mức độ thấp về chất lượng tín dụng có thề làm tăng chi phí vay của nó.

    * Phương thức quản lý rủi ro bằng cách phân tán rủi ro.

    Nắm giữ nhiều tài sản có rủi ro thay vì tập trung nắm giữ một hay một số loại tài sản có rủi ro nhất định. Việc phân tán rủi ro tín dụng cho nhiều người vay cho phép các tổ chức tín dụng và các nhà đầu tư giảm rủi ro tín dụng đối với toàn bộ tài sản có.

    Tập hợp nhiều loại cho vay trong một tài sản cho phép tổ chức tín dụng giảm sự thay đổi về thu nhập của chúng. Thu nhập từ các khoản cho vay thành công sẽ bù đắp phần lỗ từ những khoản cho vay bị vỡ nợ. Do đó làm giảm khả năng tổ chức tín dụng đó sẽ bị thiệt hại.

    * Phương thức quản lý rủi ro bằng cách sử dụng thị trường bán nợ.

    Sau khi đầu tư hoặc cho các doanh nghiệp vay, tổ chức tín dụng hoặc nhà đầu tư lập tức tập hợp các tài sản có rủi ro (trái phiếu những khoản nợ có rủi ro tín dụng) và bán cho các nhà đầu tư khác để chuyển đổi sở hữu khoản nợ nhằm quản lý và giảm thiểu rủi ro tín dụng.

    Như vậy, để quản lý rủi ro tín dụng, các tổ chức tín dụng, các nhà đầu tư có thể sử dụng các phương thức như nâng cao tín dụng, trích lập dự phòng rủi ro, bảo hiểm, phân tán rủi ro tín dụng tài sản của rủi ro tín dụng với các tài sản khác và bán các phần của nó cho các nhà đầu tư bên ngoài. Những phương thức như vậy có thể làm giảm rủi ro tín dụng của các tổ chức tín dụng hoặc nhà đầu tư và những rủi ro tín dụng này có thể được chia sẻ cho nhiều người sở hữu mới. Tuy nhiên việc sử dụng các công cụ này có những hạn chế, cụ thể:

    Việc áp dụng những thủ tục cấp dụng quá chặt chẽ nhằm nâng cao chất lượng tín dụng làm người vay trở lên khó khăn hơn trong việc tiếp nhận vốn tín dụng, điều này sẽ làm mất cơ hội đầu tư của tổ chức tín dụng hoặc nhà đầu tư.

    Việc trích lập dự phòng rủi ro thường đặt ra những yêu cầu về tài chính đối với các tổ chức tín dụng. Trong khi bảo hiểm rủi ro tín dụng lại đặt ra những yêu cầu về tài chính đối với người nhận nợ. Do vậy, cả hai phương thức hoặc làm giảm khả năng cân đối và điều hành vốn khả năng của tổ chức tín dụng hoặc làm tăng chi phí vay vốn của người vay, dẫn đến tổ chức tín dụng gặp khó khăn trong việc mở rộng tín dụng và không thực hiện được chính sách khách hàng.

    * Phương thức quản lý rủi to tín dụng bằng cách thông qua dẫn xuất tín dụng.

    Nhưng hợp đồng này mang lại cho các nhà đầu tư, người nhận nợ và ngân hàng những kỹ thuật mới bổ sung cho các biện pháp bán nợ phân tán rủi ro và bảo hiểm nhằm quản lý rủi ro tín dụng.

    * Các cộng cụ dẫn xuất tín dụng chủ yếu hiện nay gồm:

    Hoán đổi tín dụng: là công cụ dẫn xuất làm giảm rủi ro tín dụng thông qua phân toán rủi ro.

    Thay cho việc phân tán rủi ro thông qua hoạt động cho vay ra cả bên ngoài địa phương, tổ chức tín dụng hoặc nhà đầu tư có thể bán một số khoản nợ và mua một số khoản khác nhằm hoán đỏi các khoản thanh toán từ một hoạt động cho vay của nó với khoản thanh toán từ các tổ chức khác. Nghiệp vụ hoán đổi tín dụng chung nhất được gọi là hoán đổi thu nhập toàn bộ; trong giao dịch này, tổ chức quản lý rủi ro sẽ hoán đổi các khoản thanh toán đầu tư hoặc khoản cho vay có lãi suất cố định của tổ chức tín dụng này với khoản thanh toán đầu tư hoặc vay có lãi suất được điều chỉnh của các tổ chức tín dụng, nhà đầu tư hoặc công ty bảo hiểm khác. Hoán đổi tín dụng tạo ra hai điểm thuận lợi quan trọng.

    Nó cho phép các tổ chức tín dụng phân tán rủi ro tín dụng trong khi duy trì một cách trung thành các số dư tài chính của khách hàng. Trong giao dịch hoá đổi thu nhập toàn bộ, số dư của các doanh nghiệp vay vốn được duy trì với các tổ chức tín dụng ban đầu. Khi các khoản nợ được bán, số dư nợ của doanh nghiệp được chuyển đổi cho những người sở hữu mới của khoản nợ.

    Các khoản chi phí quản lý giao dịch hoán đổi có thể thấp hơn là chi phí của giao dịch bán nợ. Điều này đồng nghĩa với việc nó sẽ làm chi phí vay vốn của người nhận nợ giảm và có thể thực hiện phân tán rủi ro với mức chi phí thấp hơn.

    * Quyền chọn tín dụng

    Là loại dẫn xuất tín dụng cung cấp chức năng tương tự bảo hiểm. Các quyền chọn này cho phép các tổ chức tín dụng, các nhà đầu tư có thể lựa chọn mua hoặc bán các tài sản có rủi ro tại một mức giá cố định để bảo vệ cho họ đối với những biến động bất lợi về chất lượng tín dụng các tài sản tài chính hoặc khoản vay của tổ chức tín dụng trong trường hợp rủi to xảy ra.

    Quyền chọn tín dụng mang lại nhiều lợi ích hơn so với việc trích lập dự phòng của các tổ chức tín dụng vì nó không làm tăng chi phí của người vay và không làm giảm hiệu quả sử dụng vốn khả năng của tổ chức tín dụng do phải giữ lại các tài sản có dự phòng. Như vậy nó sẽ bảo vệ cho nhà đầu tư khỏi sự giảm giá của các tài sản có.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Triển Văn Hóa Đọc Trong Trường Học
  • Cần Thiết Xây Dựng Văn Hóa Đọc Trong Các Trường Tiểu Học
  • Xây Dựng Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Trường Tiểu Học
  • Xây Dựng Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Phát Triển Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Thông Qua Việc Đổi Mới Hoạt Động Tổ Chức Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực.
  • Luận Văn: Giải Pháp Quản Lý Rủi Ro Tín Dụng Tại Ngân Hàng, 9 Điểm!

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Giải Pháp Cho Quản Lý Rủi Ro Tín Dụng
  • Bảo Tồn Và Phát Triển Ẩm Thực Truyền Thống Việt Nam
  • Phát Triển Du Lịch Ẩm Thực Trở Thành Sản Phẩm Riêng
  • Cần Đưa Ẩm Thực Việt Trở Thành “đặc Sản” Du Lịch
  • Phát Triển Du Lịch Ẩm Thực Việt Nam
  • Published on

    Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh: Giải pháp quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Thừa Thiên Huế cho các bạn làm luận văn tham khảo

    1. 1. i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, chính xác và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào, mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đã được cảm ơn. Tôi xin cam đoan rằng, các thông tin trích dẫn sử dụng trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc. Huế, tháng 7 năm 2011 Người cam đoan Ngô Hán Thành
    2. 2. ii LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và công tác của các tập thể và các nhân. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Kinh Tế Huế, Phòng Khoa học công nghệ – Hợp tác quốc tế – Đào tạo sau đại học, các Thầy, các Cô và các học viên lớp cao học quản trị kinh doanh K10B – Trường Đại học Kinh tế Huế đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS. Bùi Đức Tính – Người đã trực tiếp hướng dẫn đã tận tình, chu đáo giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Đốc và các Phòng ban của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thừa Thiên Huế, Chi nhánh Ngân Hàng Nhà nước Thừa Thiên Huế đã tạo điều kiện thuận lợi, nhiệt tình cộng tác giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này. Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè và người thân trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn. Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn. Huế, ngày 20 tháng 7 năm 2011 Tác giả luận văn Ngô Hán Thành
    3. 3. iii TÓM LƯỢC LUẬN VĂN Họ và tên học viên: NGÔ HÁN THÀNH Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh; Niên khóa: 2009-2011 Người hướng dẫn khoa học: TS. BÙI ĐỨC TÍNH Tên đề tài: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN CHI NHÁNH THỪA THIÊN HUẾ 1. Tính cấp thiết của đề tài: Rủi ro trong hoạt động tín dụng tồn tại khách quan cùng với sự tồn tại của hoạt động tín dụng và xảy ra do các nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan. Vì vậy, mỗi ngân hàng cần phải xây dựng cho mình một chính sách quản trị rủi ro tín dụng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thất có thể xảy ra. Xuất phát từ những vấn đề nói trên, tôi lựa chọn đề tài: ” Giải pháp quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng đầu tư và phát triển chi nhánh Thừa Thiên Huế” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ của mình. 2. Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được mục đích của đề tài, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp; Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu được tiến hành trên phần mềm Excel, SPSS và Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo. 3. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp khoa học của luận văn: Luận văn đã hệ thống hóa và làm rõ hơn các vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng, rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại. Đồng thời đã nêu rõ những nguyên nhân nảy sinh rủi ro tín dụng ngân hàng và những thiệt hại từ rủi ro tín dụng, khảo sát kinh nghiệm quốc tế về quản lý rủi ro tín dụng và rút ra các bài học có giá trị tham khảo cho Việt Nam. Nghiên cứu và phân tích, đánh giá đúng thực trạng hoạt động tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Thừa Thiên Huế. Luận văn đã nghiên cứu và đưa ra các nhóm giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm nâng cao năng lực quản lý rủi ro, giảm thiểu hơn nữa rủi ro tín dụng tại BIDV Thừa Thiên Huế.
    4. 4. iv DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ATM Máy rút tiền tự động ANQP An ninh quốc phòng BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam CBTD Cán bộ tín dụng CHS Chủ sở hữu CTCP Công ty cổ phần DPRR Dự phòng rủi ro ĐVT Đơn vị tính GDP Tổng sản phẩm quốc nội GĐ Gia đình HĐQT Hội đồng quản trị NHNN Ngân Hàng Nhà Nước NHTM Ngân hàng thương mại NXB Nhà xuất bản QLNN Quản lý nhà nước QLTD Quản lý tín dụng QHKH Quan hệ khách hàng QTTD Quản trị tín dụng RRTD Rủi ro tín dụng TCTD Tổ chức tín dụng TNHH Trách nhiệm hữu hạn TTLL Thông tin liên lạc USD Đồng đô la Mỹ WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
    5. 5. v DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức BIDV Thừa Thiên Huế từ 2006 – 2008 ……………37 Hình 2.2: Sơ đồ bộ máy tổ chức BIDV Thừa Thiên Huế từ 2009 – nay………………38 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Biểu đồ tăng trưởng nguồn vốn huy động của BIDV Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 -2010 ………………………………………..43 Biểu đồ 2.2: Biểu đồ biểu diễn qui mô hoạt động tín dụng của BIDV Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 – 2010 ……………………………………….52 Biểu đồ 2.3 Biểu đồ biểu diễn cơ cấu dư nợ tín dụng xét theo thời hạn cho vay của BIDV Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 – 2010………………………………55 Biểu đồ 2.4 Biểu đồ biểu diễn cơ cấu dư nợ tín dụng xét theo ngành nghề của BIDV Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 – 2010………………………..56 Biểu đồ 2.5 Biểu đồ biểu diễn cơ cấu dư nợ tín dụng xét theo thành phần kinh tế của BIDV Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 – 2010 ……………………….57 Biểu đồ 2.6 Biểu đồ biểu diễn tỷ trọng nợ quá hạn của BIDV Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 -2010……………………………………………………………………….59 Biểu đồ 2.7 Biểu đồ biểu diễn nợ quá hạn phân theo nhóm nợ của BIDV Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 – 2010……………………………………….60 Biểu đồ 2.8 Biểu đồ biểu diễn nợ quá hạn phân theo ngành nghề của BIDV Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 – 2010……………………………………….62 Biểu đồ 2.9 Biểu đồ biểu diễn nợ quá hạn phân theo thành phần kinh tế của BIDV Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 – 2010……………………………………….63
    6. 6. vi DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1 Đặc điểm cơ bản của mẫu điều tra…………………………………………………..31 Bảng 2.1: Nguồn nhân lực của BIDV Thừa Thiên Huế (2007-2010)………………….42 Bảng 2.2: Tình hình nguồn vốn và sử dụng vốn của BIDV Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006-2010 ……………………………………………………………………..44 Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV Thừa Thiên Huế từ 2006 – 2010……………………………………………………………………………..48 Bảng 2.4: So sánh kết quả hoạt động kinh doanh của BIDV Thừa Thiên Huế từ 2006 – 2010……………………………………………………………………………..49 Bảng 2.5 Tình hình cho vay và dư nợ (giai đoạn 2006-2010)…………………………..53 Bảng 2.6 So sánh tình hình cho vay và dư nợ (giai đoạn 2006-2010)………………..54 Bảng 2.7 Nợ quá hạn phân theo nhóm nợ (giai đoạn 2006-2010)……………………..58 Bảng 2.8 So sánh nợ quá hạn phân theo nhóm nợ (giai đoạn 2006-2010) ………….58 Bảng 2.9 Nợ quá hạn phân theo nhóm nợ………………………………………………………59 Bảng 2.10 Nợ quá hạn phân theo ngành nghề giai đoạn 2006-2010 ……………………61 Bảng 2.11 Nợ quá hạn phân theo thành phần kinh tế (giai đoạn 2006-2010) ……….62 Bảng 2.12 Phân tích nhân tố nguyên nhân rủi ro tín dụng………………………………….65 Bảng 3.1 Phân tích nhân tố giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý RRTD……………90
    7. 8. viii 1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng ngân hàng ……………………………………………………..11 1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng……………………………………………………………………….12 1.2.3. Nguyên nhân nảy sinh rủi ro tín dụng ngân hàng …………………………………….13 1.2.4 Thiệt hại do rủi ro tín dụng …………………..21 1.1.4.1. Thiết lập môi trường rủi ro tín dụng phù hợp ……………………………………….21 1.1.4.2. Thực hiện theo một quy trình cấp tín dụng hợp lý………………………………..21 1.1.4.3. Duy trì một quy trình đo lường, kiểm soát và quản trị tín dụng phù hợp….22 1.1.4.4. Đảm bảo kiểm soát đầy đủ rủi ro tín dụng……………………………………………22 1.4.2. Kinh nghiệm của các ngân hàng Thái Lan . Tuy vậy, cùng với việc đem lại thu nhập đáng kể cho ngân hàng thì lĩnh vực tín dụng cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro. Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra tổn thất nghiêm trọng và ảnh hưởng đến chất lượng kinh doanh của ngân hàng. Hậu quả của rủi ro tín dụng thường gây ra những ảnh hưởng xấu đối với ngân hàng như: tăng thêm chi phí ngân hàng, giảm thu nhập, làm xấu đi tình hình tài chính và uy tín của ngân hàng; nếu rủi ro ở mức độ lớn sẽ làm phát sinh những rủi ro mới như rủi ro mất khả năng thanh toán có thể làm cho ngân hàng đến bờ vực phá sản, hoặc tạo nên hiệu ứng dây chuyền bất lợi trong lĩnh vực Ngân hàng. Rủi ro trong hoạt động tín dụng tồn tại khách quan cùng với sự tồn tại của hoạt động tín dụng và xảy ra do các nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan. Vì vậy, mỗi ngân hàng cần phải xây dựng cho mình một chính sách quản trị rủi ro tín dụng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thất có thể xảy ra. Trong những năm qua, hoạt động tín dụng của Ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam (BIDV Việt Nam) nói chung và Ngân hàng đầu tư phát triển Chi nhánh Thừa Thiên Huế (BIDV Thừa Thiên Huế) nói riêng đã có những chuyển biến tích cực, đã quan tâm hơn tới việc kiểm soát tỷ lệ tăng trưởng tín dụng, tập trung vào
    8. 12. 2 tính hiệu quả của các hoạt động tín dụng, quy trình tín dụng được thực hiện ngày càng gần hơn với các chuẩn mực quốc tế. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu ở chi nhánh tuy có xu hướng giảm tiệm cận với thông lệ quốc tế nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ bùng phát. Nợ quá hạn vẫn còn ở mức cao. Hoạt động tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng vẫn còn bộc lộ một số hạn chế cần có giải pháp khắc phục. Xuất phát từ những vấn đề nói trên, tôi lựa chọn đề tài: ” Giải pháp quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng đầu tư và phát triển chi nhánh Thừa Thiên Huế” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ của mình. 2. Câu hỏi nghiên cứu Đề tài tập trung giải quyết 4 câu hỏi sau: – Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Thừa Thiên Huế như thế nào ? – Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng đầu tư phát triển chi nhánh Thừa Thiên Huế như thế nào ? – Những nguyên nhân rủi ro tín dụng tại Ngân hàng đầu tư phát triển chi nhánh Thừa Thiên Huế ? – Giải pháp nào nhằm nâng cao khả năng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng đầu tư phát triển chi nhánh Thừa Thiên Huế ? 3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Mục tiêu của đề tài tập trung vào các nội dung: – Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tín dụng ngân hàng, rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại. – Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng của BIDV Thừa Thiên Huế – Thực trạng công tác quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV Thừa Thiên Huế – Phân tích các nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng – Rút ra các bài học và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV Thừa Thiên Huế. 4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu
    9. 13. 3 Với phạm vi của một luận văn thạc sỹ, đề tài sẽ chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng trên giác độ lý luận và thực tiễn tại BIDV Thừa Thiên Huế, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV Thừa Thiên Huế. 4.2 Phạm vi nghiên cứu + Phạm vi không gian: tình hình tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV Thừa Thiên Huế. + Phạm vi thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng, các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và giải pháp nâng cao khả năng quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV Thừa Thiên Huế, các tài liệu phục vụ đánh giá được thu thập trong khoảng thời gian 5 năm từ 2006 đến 2010. 5. Hạn chế của đề tài nghiên cứu Đề tài nghiên cứu còn có một số hạn chế như sau: phạm vi nội dung nghiên cứu được giới hạn trong tình hình hoạt động tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV Thừa Thiên Huế nên chưa có đủ điều kiện để phân tích đầy đủ hơn. Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập, tổng hợp từ số liệu điều tra ý kiến của cán bộ ngân hàng về nguyên nhân nảy sinh rủi ro và giải pháp quản lý rủi ro với số mẫu điều tra chưa đủ lớn và mang tính định tính nên có thể có những sai lệch nhỏ do ý kiến chủ quan của người được phỏng vấn. 6. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương. Chương 1 tập hợp các kiến thức tổng quát về tín dụng ngân hàng và quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng làm tiền đề cho việc phân tích trong các chương tiếp theo. Chương 2 đi sâu vào phân tích thực trạng hoạt động tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Thừa Thiên Huế trong thời gian từ 2006-2010. Qua đó, đánh giá những mặt thành công và các hạn chế của công tác quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng, tạo tiền đề để đề xuất các giải pháp hoàn thiện ở chương tiếp theo. Chương 3 của luận văn đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại BIDV Thừa Thiên Huế và một số kiến nghị để hoàn thiện công tác quản lý nhằm kiểm soát và giảm thiểu rủi ro trong họat động tín dụng của BIDV Thừa Thiên Huế.
    10. 14. 4 PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH CỦA LUẬN VĂN CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1.1.Tín dụng ngân hàng và ý nghĩa của hoạt động tín dụng ngân hàng 1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Quan hệ tín dụng ra đời và tồn tại từ đòi hỏi khách quan của quá trình tuần hoàn vốn để giải quyết hiện tượng dư thừa, thiết hụt vốn diễn ra thường xuyên giữa các chủ thể của nền kinh tế. Theo điều 4, khoản 14, Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 qui định: cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Một cách khái quát, tín dụng (credit) là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (tài sản) từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định; khi đến hạn người sử dụng phải hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Như vậy, phạm trù tín dụng có ba nội dung chính là tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả. Tín dụng có nhiều loại như: tín dụng nhà nước, tín dụng doanh nghiệp, tín dụng cá nhân, tín dụng ngân hàng. Trong đó, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng tài sản (vốn) giữa ngân hàng và các chủ thể khác trong nền kinh tế; trong mối quan hệ này, ngân hàng vừa giữ vai trò là người đi vay (con nợ) và vai trò là người cho vay (chủ nợ). Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà người tiết kiệm, thông qua vai trò trung gian của ngân hàng, thực hiện đầu tư vốn vào các chủ thể có nhu cầu vay vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng được khái niệm như sau: Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá
    11. 15. 5 nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin. Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc, lãi) đúng hạn; còn người đi vay thì tin tưởng vào khả năng kiếm được tiền trong tương lai để trả nợ gốc và trả lãi vay. Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn. Ngân hàng là trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động. Để xác định thời hạn cho vay hợp lý, ngân hàng phải căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình và quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay. Nếu ngân hàng có nguồn vốn dài hạn ổn định, thì có thể cấp được nhiều tín dụng dài hạn; ngược lại, nếu nguồn vốn không ổn định và kỳ hạn ngắn, mà cấp nhiều tín dụng dài hạn thì sẽ gặp rủi ro thanh khoản. Mặt khác, thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì người vay mới có điều kiện trả nợ đúng hạn. Nếu ngân hàng xác định thời hạn vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay, thì khách hàng không có đủ nguồn để trả nợ khi đến hạn, gây khó khăn cho khách hàng. Ngược lại, nếu thời hạn cho vay lớn hơn chu kỳ luân chuyển vốn sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, tiềm ẩn rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Thứ ba, tín dụng phải dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Nếu không có sự hoàn trả thì không được coi là tín dụng. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (giá trị gốc), nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản lãi, đây chính là giá của quyền sử dụng vốn vay. Khoản lãi luôn là một số dương, như vậy mới bù đắp được chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận, phản ảnh bản chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
    12. 16. 6 Thứ tư, hoạt động tín dụng tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng. Việc thu hồi tín dụng phụ thuộc không những vào những bản thân khách hàng, mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động, ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thị trường, thiên chúng tôi khách hàng gặp khó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng. Thứ năm, tín dụng phải trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Quá trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ như: Hợp đồng tín dụng, khế ước vay tiền, hợp đồng bảo đảm tiền vay, bảo lãnh…, trong đó bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn. Từ các đặc điểm trên cho thấy, tín dụng ngân hàng phải bảo đảm được hai nguyên tắc sau: Thứ nhất, vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích. Thứ hai, vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúng thới hạn đã cam kết trong hợp đồng. 1.1.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng . Mặc dù đã có xu hướng dịch chuyển trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng, theo đó hoạt động tín dụng có xu hướng giảm và thu dịch vụ có xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ hoạt động tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của các ngân hàng. Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra tổn thất nghiêm trọng và ảnh hưởng đến chất lượng kinh doanh của ngân hàng. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng: A.Sauders và H.Lange định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ cả về số lượng và thời gian” . Tại khoản 1 Điều 2 của Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 về việc ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong Hoạt động ngân hàng của Tổ chức tín dụng thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Từ các khái niệm trên chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản về rủi ro tín dụng như sau:
    13. 25. 15 + Khả năng quản lý kinh doanh kém: Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực. Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế. + Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng. Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực. Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất. Khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực. Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng. – Nguyên nhân từ phía ngân hàng: + Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng . Do vậy không kiểm soát được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình sử dụng vốn vay của khách
    14. 27. 17 ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến phá sản. Như vậy, rủi ro tín dụng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của ngân hàng. – Đối với nền kinh tế- xã hội Bắt nguồn từ bản chất và chức năng của ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức và cá nhân có nhu cầu vay lại. Do đó, thực chất quyền sở hữu những khoản cho vay là quyền sở hữu của người đã gửi tiền vào ngân hàng. Bởi vậy, khi rủi ro tín dụng xảy ra thì không những ngân hàng chịu thiệt hại mà quyền lợi của những người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng. Tổn thất của các ngân hàng làm gia tăng quan ngại về tài chính công như khả năng xảy ra sự đổ xô rút tiền ngân hàng “bank runs”. Bên cạnh đó, ngày nay hoạt động của ngân hàng mang tính xã hội hóa cao nên một khi rủi ro tín dụng xảy ra đối với ngân hàng thì nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế-xã hội. Nếu có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng, dù chỉ ở một ngân hàng mà không được ứng cứu kịp thời thì có thể gây phản ứng dây chuyền đe dọa đến tính an toàn toàn và ổn định của cả hệ thống ngân hàng. Từ đó sẽ gây ra những bất ổn về kinh tế – xã hội. Rõ ràng, rủi ro tín dụng có thể gây ra những thiệt hại to lớn, không lường trước được đối với nền kinh tế-xã hội của một quốc gia. 1.3. Quản lý rủi ro tín dụng ngân hàng 1.3.1. Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng Quản trị rủi ro tín dụng là việc sử dụng các biện pháp nghiệp vụ để kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế hậu quả xấu trong hoạt động tín dụng, giảm thiểu sự tổn thất không để hoạt động ngân hàng lâm vào tình trạng đổ vỡ [10]. 1.3.2. Những nội dung cơ bản của quản lý rủi ro tín dụng ngân hàng 1.3.2.1. Nhận diện rủi ro tín dụng Nhận diện rủi ro qua đó có những giải pháp tối ưu giúp ngăn ngừa và xử lý các khoản tín dụng có rủi ro là khâu quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Sau khi khoản vay phát sinh và được phân loại, CBTD luôn phải theo dõi, giám sát khoản vay để nhận diện rủi ro thông qua các dấu hiệu cảnh báo sau: Nhóm các dấu hiệu phát sinh rủi ro từ phía khách hàng:
    15. 28. 18 – Nhu cầu vay vốn tăng cao so với doanh thu, vòng quay vốn chậm. – Doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích. – Thay đổi cơ cấu quản trị, ban lãnh đạo doanh nghiệp. – Sản phẩm tiêu thụ chậm, hàng tồn kho ngày càng tăng. – Các khoản phải thu lớn, xuất hiện những khoản thu khó đòi. – Báo cáo tài chính không rõ ràng minh bạch, có nhiều báo cáo tài chính khác nhau – Có những thông tin xấu ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. – Thường xuyên gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ. – Ban lãnh đạo doanh nghiệp luôn lảng tránh hoặc trì hoãn trong việc thực hiện các yêu cầu của Ngân hàng. Nhóm dấu hiệu xuất phát từ chính sách tín dụng của Ngân hàng: – Sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng. Ví dụ: đánh giá quá cao năng lực tài chính của khách hàng so với thực tế, đánh giá khách hàng chỉ thông qua thông tin “tĩnh” do khách hàng cung cấp mà thiếu đi các thông tin “động” và các thông tin nhạy cảm từ những kênh thông tin khác. – Cấp tín dụng dựa trên các cam kết không chắc chắn và thiếu tính bảo đảm của khách hàng về việc duy trì một khoản tiền gửi lớn hay các lợi ích do khách hàng đem lại từ khoản tín dụng được cấp. – Soạn thảo các điều kiện ràng buộc trong Hợp đồng tín dụng mập mờ, không rõ ràng; không xác định rõ lịch hoàn trả đối với từng khoản vay, cố ý thỏa hiệp các nguyên tắc tín dụng với khách hàng mặc dù có tiềm ẩn rủi ro. – Chính sách tín dụng quá cứng nhắc hoặc lỏng lẻo để kẽ hở cho khách hàng lợi dụng. – Có khuynh hướng cạnh tranh thái quá: giảm thấp lãi suất cho vay, phí dịch vụ hay thực hiện chiến lược “giữ chân” khách hàng bằng các khoản tín dụng mới để họ không quan hệ với các ngân hàng khác mặc dù biết rõ các khoản tín dụng sẽ cấp tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao.
    16. 35. 25 doanh nghiệp. Xếp hạng uy tín tín dụng trên cơ sở áp dụng tiêu chuẩn của S&P (Standard and Poor). – Tuân thủ thẩm quyền phán quyết tín dụng: Các ngân hàng quy định việc quyết định tín dụng theo thẩm quyền được phân cấp từ giám đốc đến Hội đồng quản trị tại trụ sở chính, tùy thuộc vào mức cho vay, điều kiện tín dụng và tài sản đảm bảo, áp dụng chính sách tập quyền trong phê duyệt tín dụng tại trụ sở chính. – Giám sát khoản vay: Sau khi cho vay, Các ngân hàng rất coi trọng việc kiểm tra giám sát các khoản vay bằng cách: tiếp tục thu thập thông tin về khách hàng; thường xuyên giám sát và xếp loại khách hàng; có biện pháp xử lý kịp thời các tình huống rủi ro. Ngoài các vấn đền quan trọng nói trên, các ngân hàng Thái Lan đều rất coi trọng việc cập nhật hiểu biết nghề nghiệp cho nhân viên ngân hàng, liên tục đào tạo theo từng công việc để nâng cao trình độ, kỹ năng và tạo khả năng thực thi độc lập nhiệm vụ được phân công. Các ngân hàng đều áp dụng Sổ tay tín dụng cho các ngân hàng thương mại (gồm 24 chương) được viết rất công phu và rõ ràng, dễ áp dụng; Có chính sách cho vay riêng đối với bất động sản là lĩnh vực có rủi rỏ rất cao. 1.4.3. Kinh nghiệm của Ngân hàng Hongkong and Shanghai Banking Corporation (HSBC) Ngân hàng HSBC hiện tại có 9.800 văn phòng tại 77 quốc gia trên thế giới với 253.000 nhân viên. Đây là một trong những ngân hàng lớn nhất trên thế giới với số vốn theo định giá của thị trường là 190 tỷ USD. Hoạt động của ngân hàng HSBC cực kỳ đa dạng với rất nhiều sản phẩm cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, các sản phẩm tín dụng của HSBC hiện vẫn đang là các sản phẩm mang lại lợi nhuận rất cao cho ngân hàng. Cuối năm 2004, số dư nợ cho vay của ngân hàng là 589 tỷ USD, thu nhập từ lãi tín dụng là 38 tỷ USD. Để có thể đảm bảo có một hoạt động cấp tín dụng an toàn và hiệu quả, HSBC đang áp dụng một hệ thống quản trị rủi ro tín dụng với các nguyên tắc và chuẩn mực cao nhất nhằm giảm thiểu tối đa các tổn thất cho ngân hàng.
    17. 36. 26 HSBC luôn đảm bảo nguyên tắc tách bạch, phân công rõ ràng chức năng giữa các bộ phận trong quá trình giải quyết và giám sát các khoản tín dụng nhằm quản lý độc lập các rủi ro riêng biệt, cụ thể như sau: + Thiết lập các chính sách tín dụng: Xác lập các tiêu chuẩn của tập đoàn HSBC: các chính sách tín dụng và các quy định được đưa vào cẩm nang chi tiết áp dụng chung cho toàn tập đoàn. + Xác lập và kiểm soát chính sách đối với các dư nợ tín dụng lớn: Chính sách này xác định các mức cấp tín dụng cao nhất đối với từng loại khách hàng, nhóm khách hàng và các loại tập trung tín dụng khác. Chính sách này được thiết lập với mức độ bảo thủ hơn so với các quy định chuẩn mực hiện tại. + Đưa ra các định hướng cấp tín dụng cho tập đoàn: Xác định khẩu vị rủi ro đối với các mảng thị trường, các ngành nghề và các loại sản phẩm cụ thể. Tất cả các chi nhánh của tập đoàn cần phải dựa trên các tiêu chuẩn luôn được cập nhật này để triển khai đến từng nhân viên kinh doanh sản phẩm tín dụng. + Tái thẩm định độc lập tất cả các khoản vay vượt quá quyền phán quyết của các chi nhánh: Quy trình tái thẩm định các hạn mức vay hoặc xem xét định kỳ khoản vay cũng được thực hiện như các khoản vay mới. + Quản lý rủi ro đối với các giao dịch giữa tập đoàn và các tổ chức tài chính khác: Tránh việc tập trung rủi ro vào các tổ chức tài chính khác. Việc quản lý dựa trên hệ thống quản lý thông tin tập trung hóa cao và xử lý tự động. + Quản lý rủi ro giữa các quốc gia: Sử dụng hệ thống quản lý hạn mức rủi ro của từng quốc gia có tính tập trung cao dựa trên các thời hạn cho vay và các loại hình kinh doanh đối với dư nợ tín dụng phát sinh tại mỗi quốc gia. + Quản lý rủi ro đối với một số ngành đặc biệt: Các ngành nghề được quan tâm và giám sát đặc biệt là ngành vận chuyển hàng hải, hàng không, viễn thông, sản xuất xe hơi, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản. Đối với các ngành này, tập đoàn đưa ra nhiều hạn chế để giảm thiểu rủi ro.
    18. 37. 27 + Quản lý và phát triển hệ thống đánh giá tín dụng: Hệ thống này sắp xếp các khoản tín dụng vào từng nhóm để có thể xác định các rủi ro đặc thù từ đó có biện pháp quản trị rủi ro hiệu quả. Hiện nay, tổng dư nợ tín dụng nội và ngoại bảng của tập đoàn được chia làm 22 nhóm để có thể phân tích xu hướng rủi ro một cách trung thực nhất. Hệ thống đánh giá này dựa trên các công cụ tập hợp thông tin toàn cầu có tính lâu dài. Việc đánh giá các khoản tín dụng hiện nay được thực hiện một cách tự động hóa rất nhiều dựa trên các công cụ phân tích đánh giá mạnh và cơ sở dữ liệu dồi dào. Các đánh giá tự động này sau đó cũng được xem xét và phê duyệt lại. Việc đánh giá này được thực hiện liên tục theo định kỳ. Dựa trên các đánh giá này mà tập đoàn đưa ra các mức dự phòng thích hợp đối với từng nhóm tín dụng. Đối với các nhóm tín dụng mà tập đoàn không có nhiều thông tin để đo lường rủi ro thì họ áp dụng các mức dự phòng rất cao cho các tổn thất có thể xảy ra trong tương lai. Đối với các khoản tín dụng hoàn toàn chưa có thông tin dữ liệu phân tích hoặc có các dấu hiệu không tốt thì được đánh giá từng trường hợp thông qua các yếu tố: – Tổng hạn mức tín dụng nội và ngoại bảng cung cấp cho khách hàng. – Mức độ nhạy cảm của ngành nghề mà khách hàng đang hoạt động và khả năng thoát khỏi khó khăn khi gặp phải để có thể tạo dòng tiền thanh toán các khoản tín dụng. – Tiền thu về được khi khách hàng bị phá sản/giải thể. – Sự cam kết hỗ trợ tài chính của các ngân hàng và bạn hàng. – Tiền có thể thu hồi nếu phát mãi tài sản. – Khả năng khách hàng thu được ngoại tệ trong trường hợp khách hàng vay bằng ngoại tệ. – Khả năng bán khoản tín dụng này cho tổ chức khác. Ngoài ra, các mức dự phòng khác nhau còn được thiết lập dựa trên rủi ro của các quốc gia khác nhau.
    19. 39. 29 – HSBC đang có hoạt động cấp tín dụng dựa trên việc luôn cố gắng xác định các nơi, điểm phát sinh rủi ro, đo lường chính xác mức độ rủi ro của các khoản, nhóm hạn mức tín dụng để có thể quản lý tốt nhất, đưa ra chiến lược kinh doanh và mức giá (lãi suất) thích hợp. – Việc áp dụng thành công cơ chế quản trị rủi ro tín dụng toàn cầu của HSBC dựa trên nền tảng của hệ thống cơ sở dữ liệu quá khứ và có phân tích tốt. Ngoài ra, HSBC đã và đang áp dụng các phương thức xử lý dữ liệu hiện đại trên nền tảng toán kinh tế và hệ thống công nghệ thông tin cao cấp. Bên cạnh đó, sự tuân thủ cao độ của toàn hệ thống đối với các chính sách tín dụng của HSBC là một trong những yếu tố quan trọng trong công tác quản trị rủi ro tín dụng. – Vai trò của kiểm tra nội bộ trong việc rà soát tính chặt chẽ, hiệu quả, thường xuyên của hệ thống quản trị rủi ro tín dụng đã giúp cho HSBC luôn nâng cao được chất lượng và trình độ quản trị rủi ro tín dụng của mình. 1.4.4. Bài học kinh nghiệm rút ra cho ngân hàng thương mại Việt Nam – Chính sách và quy trình của ngân hàng phải đồng bộ, rõ ràng, hạn chế việc thay đổi thường xuyên để nhân viên nắm vững được toàn bộ các quy định của ngân hàng. – Cần ứng dụng công nghệ hiện đại trong lưu trữ thông tin về quan hệ vay vốn của từng khách hàng để giúp ngân hàng dễ dàng khai thác thông tin tín dụng trong quá khứ khi tái lập quan hệ tín dụng, cập nhật thông tin về các ngành nghề khác nhau để dự báo được rủi ro đối với từng ngành nghề đang cho vay của ngân hàng. – Chú trọng đến công tác kiểm tra nội bộ để phát hiện, chấn chỉnh và xử lý kịp thời các sai phạm sau cho vay. – Phân công CBTD phụ trách các nhóm khách hàng riêng biệt theo ngành nghề nhằm mang lại sự hiểu biết tốt nhất cho CBTD để có thể phục vụ khách hàng tốt nhất với rủi ro thấp nhất. – Đặc biệt quan tâm đến công tác đào tạo nghiệp vụ để nhân viên nắm bắt kịp thời những thay đổi trong môi trường hoạt động kinh doanh. – Đánh giá năng lực, đạo đức cán bộ trước khi phân quyền phê duyệt tín dụng để đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng.
    20. 40. 30 1.5. Phương pháp nghiên cứu Để đạt được mục đích của đề tài, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau: 1.5.1. Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Đây là phương pháp nghiên cứu tổng quát để khái quát đối tượng nghiên cứu và để nhận thức bản chất của các hiện tượng tự nhiên, kinh tế, xã hội. Phương pháp này yêu cầu nghiên cứu các hiện tượng không phải trong trạng thái riêng rẽ, cô lập mà trong mối quan hệ bản chất của các hiện tượng, sự vật; không phải trong trạng thái tĩnh mà trong sự phát triển từ thấp đến cao, trong sự chuyển biến từ số lượng sang chất lượng, từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. 1.5.2. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 1.5.2.1. Số liệu thứ cấp Các số liệu và thông tin về hoạt động tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng được thu thập từ các báo cáo của BIDV Thừa Thiên Huế qua các năm như: Báo cáo tổng kết; Báo cáo kết quả kinh doanh; Báo cáo quyết toán…cũng như các tài liệu nghiên cứu hiện có được đăng tải trên các báo, tạp chí và trên Internet… Ngoài các báo cáo khoa học, luận văn của những người đi trước cũng được sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo quý giá và đã được kế thừa một cách hợp lý trong luận văn. 1.5.2.2. Số liệu sơ cấp Việc điều tra số liệu sơ cấp được tiến hành trên cơ sở khảo sát thực tế, điều tra thu thập ý kiến của các cán bộ từ cấp lãnh đạo đến chuyên viên hiện đang công tác tại BIDV Thừa Thiên Huế. Sẽ tốt hơn cho đề tài nếu điều tra thu thập thêm ý kiến của các khách hàng có nợ xấu tại BIDV Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên, do yêu cầu bí mật khách hàng nên BIDV Thừa Thiên Huế không thể cung cấp cho tác giả danh sách các khách hàng có nợ xấu để tiến hành điều tra. Mặt khác, do vấn đề tâm lý nên cho dù có tiến hành điều tra cũng sẽ rất khó thu thập được ý kiến đầy đủ và chính xác. Chính vì vậy mẫu điều tra có kích thước mẫu không lớn (78 mẫu được lựa chọn trên 82 mẫu thu thập). Tuy nhiên, do đối tượng điều tra là các cán bộ đang công tác tại BIDV Thừa Thiên

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Giải Pháp Quy Hoạch Phát Triển Đô Thị Thích Ứng Với Ngập Lụt
  • Giải Pháp Nào Cho Quy Hoạch Đô Thị Bình Dương
  • Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo Trong Bối Cảnh Mới
  • Kiến Nghị Giải Pháp Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Trong Thế Giới Biến Động
  • Kiến Nghị Bộ Chính Trị Giải Pháp Bảo Vệ Chủ Quyền Biển, Đảo
  • Đồ Án Rủi Ro Tín Dụng Và Một Số Biện Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro Tín Dụng…

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Kinh Nghiệm Giảm Thiểu Rác Thải Nhựa
  • Các Giải Pháp Ngăn Chặn
  • Mách Bạn Những Biện Pháp Tiết Kiệm Điện Năng Hiệu Quả Nhất
  • Cẩm Nang Sử Dụng Tiết Kiệm Năng Lượng Hiệu Quả
  • Vài Phút Quảng Cáo Sản Phẩm

    Đồ án Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng Hải: Đề Cương VIMARU 

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Trong quá trình phát triển của một đất nước, Ngân hàng đóng một vai trò rất quan trọng. Nó là hệ thần kinh của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nền kinh tế chỉ có thể phát triển với tốc độ cao nếu có một hệ thống Ngân hàng hoạt động ổn định và có hiệu quả, không thể có tăng trưởng trong khi hệ thống tổ chức và hoạt động của Ngân hàng yếu kém và lạc hậu. Như vậy đòi hỏi Ngân hàng phải phát triển tương xứng và hoạt động có hiệu quả trong hoạt động lưu thông tiền tệ.

    Điều hoà lưu thông tiền tệ chủ yếu thông qua hoạt động tín dụng, hoạt động tín dụng là xương sống của hệ thống Ngân hàng thương mại, cụ thể là quá trình huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả của Ngân hàng sẽ giúp cho các thành phần kinh tế phát triển ổn định và ngược lại.

    Nước ta đang trong qúa trình Công nghiệp hoá – hiện đại hoá với đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần có sự điều tiết của Nhà nước đã tạo tiền đề cho sự khách quan khôi phục và phát triển các thành phần kinh tế. Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh với những tiềm năng và ưu thế sẵn có đã nhanh chóng thích nghi với cơ chế kinh tế thị trường ngày càng khẳng định vị trí và vai trò quan trọng không thể thiếu của mình trong công cuộc đổi mới nền kinh tế.

    Hoạt động của Ngân hàng có nhiều bước chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, trong nền kinh tế đầy biến động rủi ro là điều không thể tránh khỏi đối với tất cả các thành phần kinh tế. Những nguy cơ tiềm ẩn như sự không trung thực của khách hàng, vốn vay bị sử dụng sai mục đích, khách hàng phá sản hay do suy thoái kinh tế… đều có thể biến một khoản vay chất lượng cao thành một khoản nợ khó đòi. Đó là chưa kể đến những kẽ hở do hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh gây nên những phiền toái cho khách hàng và Ngân hàng trong quá trình hoạt động cũng như tạo điều kiện cho những ý đồ xấu của khách hàng hay cán bộ Ngân hàng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    của nhà nước . Đây là mối đe doạ mà bất cứ Ngân hàng nào cũng phải đương đầu.

    Nhiệm vụ quan trọng và trọng tâm của quản lý các Ngân hàng thương mại là phải nâng cao chất lượng tín dụng, đưa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng đối với các thành phần kinh tế nói chung và các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng.

    Nhận thức rõ được tính cấp bách của vấn đề trên, sau một thời gian nghiên cứu và tìm hiểu em xin mạnh dạn được trình bày một số biện pháp phòng ngừa rủi to tín dụng qua đề tài: ”Rủi ro tín dụng và một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại Việt Nam“.

    BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI GỒM BA PHẦN:

    PHẦN I: Một số lý luận chung về tín dụng, rủi ro tín dụng và bảo đảm an toàn tín dụng trong Ngân hàng thương mại.

    PHẦN II: Thực trạng và nguyên nhân rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam .

    PHẦN III: Một số biện pháp cơ bản hạn chế rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng hiện nay.

    Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Phùng Bích Ngọc – Giảng viên trường ĐHDL Phương Đông, cùng các cô chú tại Ngân hàng No&PTNT huyện Sa Pa đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tiểu luận này.

    Em xin chân thành cảm ơn !

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    I- NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG

    1- Khái niệm Tín dụng Ngân hàng

    Ngân hàng là người môi giới giữa những người có vốn nhàn rỗi với những người có nhu cầu vay vốn. Thông qua cơ chế thị trường, Ngân hàng có khả năng thu hút hầu hết những nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển giao đúng nơi, đúng lúc, phù hợp với nhu cầu trong sản xuất kinh doanh. Đó là hoạt động sinh lời chủ yếu trong các Ngân hàng thương mại-hoạt động tín dụng. Về nội dung kinh tế, tín dụng Ngân hàng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một số lượng tiền nhất định của Ngân hàng (người cho vay) cho người đi vay trong một thời gian nhất định với cam kết hoàn trả theo lãi.

    Tín dụng là phạm trù kinh tế xuất hiện và tồn tại trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Sự phát triển kinh tế xã hội là tiền đề nảy sinh các hình thức khác nhau của quan hệ tín dụng : tín dụng Nhà nước, tín dụng thương mại, tín dụng Ngân hàng … Trong đó, tín dụng Ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng.

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các hình thức tín dụng Ngân hàng ngày càng đa dạng, đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất kinh doanh.

    2- Vai trò tín dụng trong nền kinh tế thị trường.

    Trước đây, trong thời kỳ bao cấp tín dụng như là một tổ chức cấp phát vốn ngân sách vì vậy thường xảy ra nơi cần vốn để sản xuất thì không có hoặc không kịp thời, nơi thì để vốn nằm ứ đọng trong một thời gian dài. Kể từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, hầu như tình trạng đó đã chấm dứt. Với sự cải tổ hệ thống Ngân hàng từ một cấp sang hai cấp, hàng loạt các Ngân hàng thương mại được thành lập. Nhằm mục đích huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, các thành phần kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của toàn xã hội.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    2.1.1- Thúc đẩy tích tụ và cung cấp vốn cho nền kinh tế.

    Hoạt động tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế Quốc dân, là cầu nối cung và cầu về vốn. Là tổ chức kinh doanh tiền tệ các Ngân hàng thương mại luôn cố gắng đat lợi nhuận tối đa để tự khẳng định mình. Hoạt động chính của Ngân hàng thương mại là hoạt động tín dụng, nó đem lại 70 – 80% thu nhập cho Ngân hàng . Việc tập trung và phân phối tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế Quốc dân. Tín dụng Ngân hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực khuyến khích tiết kiệm và đầu tư.

    Như vậy tín dụng Ngân hàng là cánh tay đắc lực của Ngân hàng thương mại, góp phần nâng cao chất lượng và điều hoà tiền tệ, thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, kìm chế và đẩy lùi lạm phát tạo môi trường kinh doanh ổn định.

    2.1.2- Đẩy mạnh quá trình tái sản xuất mở rộng cho đầu tư phát triển.

    Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức sản xuất kinh doanh luôn phải cạnh tranh gay gắt với nhau nếu không muốn tụt hậu và đào thải. Để có thể mở rộng, phát triển sản xuất các doanh nghiệp cần có nhiều yếu tố như: nguồn nhân lực, công nghệ, đất đai, kỹ thuật, vốn…

    Tuy nhiên, có thể khẳng định vốn là quan trọng nhất vì nếu có vốn doanh nghiệp sẽ có được các yếu tố khác do thị trường sẵn sàng cung ứng. Để có vốn doanh nghiệp có thể tim kiếm ở các nguồn khác nhau… nhưng những hình thức này không ổn định mà chi phí lại lớn. Vì vậy thường thì các doanh nghiệp tìm đến các Ngân hàng bởi vì Ngân hàng là một trong những nguồn vốn sẵn có rẻ nhất và linh hoạt nhất. Đặc biệt là đối với những doanh nghiệp nhỏ, Ngân hàng thường là nguồn duy nhất cung cấp tư vấn và vốn bổ xung. Thông qua hoạt động tín dụng Ngân hàng đã đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Như vậy, tín dụng Ngân hàng có vai trò quyết định trong quá trình tái sản xuất mở rộng và đầu tư phát triển của nền kinh tế.

    2.1.3- Tổ chức điều hoà lưu thông tiền tệ.

    Trong nền kinh tế thị trường thường xuyên xuất hiện những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, trong khi các thành phần kinh tế khác lại xuất hiện hiện tượng thiếu vốn tạm thời hoặc thiếu vốn bổ xung đầu tư tài sản cố định. Sự có mặt của tín dụng Ngân hàng được coi như một giải pháp để giải quuyết mâu thuẫn này. Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng đã huy động được nguồn tiết kiệm trong dân cư và phân phối lại cho các thành phần kinh tế có nhu cầu vốn, tạo điều kiện cho sự phát triển nền kinh tế.

    Tất cả mọi quốc gia đều dùng tín dụng Ngân hàng như là một công cụ hữu hiệu để điều hoà vốn trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi đầu tư trở lại cho các ngành kinh tế cân vốn. Nhưng việc cho vay này không phải trải đều cho các chủ thể có nhu cầu mà viêc đầu tư dược thực hiện qua một quá trình thẩm định kỹ lưỡng. Quá trình này rất quan trọng với các Ngân hàng, nó mang tính sống còn của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng đã đưa ra những biện pháp chính sách khuyến khích các Ngân hàng thương mại cho vay hỗ trợ các dự án phát triển Nhà nước thông qua hoạt động tín dụng để từ đó đạt mục tiêu phát triển kinh tế.

    Sự phát triển đa dạng các thành phần kinh tế đã tạo cho nước ta thế và lực mới, thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, bắt đầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhà nước đã tạo ra môi trường thuận lợi để phát huy vai trò và thế mạnh của từng thành phần kinh tế, song song với các chính sách hỗ trợ các ngành kinh tế kém phát triển, tập trung phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn.

    II- RỦI RO TÍN DỤNG

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    1- Khái niệm rủi ro tín dụng.

    Trong các hoạt động của Ngân hàng thì hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho Ngân hàng và cũng là hoạt động chứa nhiều rủi ro nhất. Rủi ro tín dụng là hiện tượng xảy ra gây thiệt hại cho Ngân hàng ngoài sự mong đợi của Ngân hàng mà nguyên nhân của nó có thể là do Ngân hàng , khách hàng hoặc có thể là nguyên nhân khách quan.

    2- Các loại rủi ro tín dụng

    2.1- Rủi ro mất vốn

    Là rủi ro cho vay không thu hồi được nợ. Bản chất của tín dụng Ngân hàng là ứng trước tiền cho doanh nghiệp (người vay), sau một chu kỳ sản xuất hoặc kỳ luân chuyển hàng hoá thì khách hàng mới có tiền trả nợ Ngân hàng. Nội dung ứng trước của tín dụng Ngân hàng càng cao thì mức độ rủi ro càng lớn. Ngân hàng cho vay tín chấp mức độ rủi ro cao hơn cho vay có tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp bằng giấy tờ có giá dễ chuyển đổi ra tiền ít rủi ro hơn là tài sản thế chấp bằng bất động sản. Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, rủi ro này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài sản kinh doanh. Vì hơn 2/3 tài sản của Ngân hàng là các món cho vay và đầu tư đem lại thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng, do đó nếu các khoản cho vay của Ngân hàng không được hoàn trả, Ngân hàng sẽ mất cả vốn lẫn lãi. Số tiền thiệt hại này khi đã vượt quá vốn tự có của Ngân hàng sẽ khiến Ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản.

    2.2- Rủi ro sai hẹn

    Là các khoản cho vay mà khi đến hạn khách hàng vẫn chưa thu hồi được vốn để trả cho Ngân hàng. Thông thường trường hợp này khách hàng sẽ xin Ngân hàng ra hạn thêm thời hạn trả nợ. Nếu lý do của khách hàng không được Ngân hàng chấp thuận, họ sẽ phải chịu lãi suất phạt. Khoản tiền thu hồi chậm này có thể làm đảo lộn kế hoạch kinh doanh của Ngân hàng và luôn tiềm ẩn nguy cơ mất vốn.

    2.3- Rủi ro lãi suất

     

    ĐHDL Phương Đông

    Phạm Khánh Linh

    Quá trình chuyển hoá tài sản của Ngân hàng  bao gồm việc huy động

    vốn và sử dụng vốn. Kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản nợ thường không cân xứng với kỳ hạn và độ thanh khoản của các tài sản có làm cho Ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất.

    2.4. Rủi ro tỷ giá

    Rủi ro hối đoái thường diễn ra dưới hình thức của một chênh lệch giữa giá đặt mua và giá chào bán của tiền tệ. Các rủi ro trong việc giao dịch ngoại hối xuất phát từ tỷ giá hối đoái của các loại tiền tệ khác nhau do tác động của kinh tế và chính trị của một nước. Để thấy được rủi ro hối đoái phát sinh như thế nào, chúng ta giả sử một Ngân hàng Úc cấp tín dụng bằng đồng bảng Anh cho một công ty của Anh. Khi đồng bảng Anh giảm giá so với đồng đôla Úc.Thậm chí trong trường hợp đồng bảng Anh giảm giá đáng kể, thì cả gốc và lãi khi chuyển sang đôla Úc có thể là nhỏ hơn số gốc đầu tư ban đầu, và do đó kết quả đầu tư sẽ là âm. Nghĩa là khi chúng ta chuyển đổi gốc và lãi từ bang Anh sang đôla Úc, thì số tiên thu được chưa đủ để bù đắp rủi ro hối đoái.

    3- Nguyên nhân rủi ro tín dụng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    3.1- Thông tin không cân xứng

    Trong những giao dịch diễn ra trên thị trường tài chính, một bên thường không biết tất cả những gì mà người ta cần biết về bên để có được một quyết định đúng đắn. Sự không cân bằng về thông tin mà mỗi bên có được gọi là thông tin không cân xứng. Việc thiếu thông tin tạo ra những vấn đề trong hệ thống tài chính ở hai mặt, trước khi cuộc giao dịch diễn ra và sau khi cuộc giao dịch diễn ra.

    Chọn lựa đối nghịch là do vấn đề thông tin không cân xứng tạo ra trước khi diễn ra cuộc giao dịch. Do việc lựa chọn đối nghịch khiến dễ có thể là các món cho vay được thực hiện cho những trường hợp rủi ro không trả được nợ, những người cho vay có thể quyết định không cho vay mặc dù có những trường hợp có thể trả được nợ.

    Những người dễ có thể tạo ra một kết cục đối nghịch nhất lại có thể được lựa chọn nhất. Họ là những người vay tiền ít được ưa chuộng nhất vì có nhiều khả năng hơn rằng họ sẽ không hoàn trả được những món nợ của họ.

    Rủi ro đạo đức là một vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra. Đó là khi người cho vay phải chịu một rủi ro là người vay có ý muốn thực hiện những hoạt động không tốt xét theo quan điểm của người cho vay, vì những hoạt động này khiến ít có khả năng để món vay này sẽ hoàn trả. Do rủi ro đạo đức giảm bớt xác xuất hoàn trả được vốn nên người cho vay có thể quyết định thôi không cho vay nữa. Một thực tế đang tồn tại lâu nay là tình trạng các doanh nghiệp vay vốn luôn đối phó với Ngân hàng thông qua việc cung cấp các số liệu không trung thực, mặc dù những số liệu này đã được các cơ quan có chức năng kiểm duyệt. Điều này gây rất nhiều khó khăn cho Ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình hoạt động kinh doanh, cũng như việc quản lý vốn vay của đơn vị. Nhiều khi các Ngân hàng thương mại có những quyết định đầu tư không căn cứ vào số liệu báo cáo của đơn vị mà thường dựa vào những cảm nhận trực quan của mình, điều này nếu kéo dài sẽ rất nguy hiểm.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    3.2- Môi trường kinh tế

    Hoạt động kinh doanh tiền tệ là một loại hình kinh doanh đặc biệt, rất nhạy cảm, chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố của nền kinh tế trong nước và thế giới. Trong thời gian qua nền kinh tế nước ta cũng như một số nước trong khu vực có những biến động gây ảnh hưởng không nhỏ đến ngành Ngân hàng ….

    Bất kỳ một biến động nào của nền kinh tế cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng . Như một cá thể tự nhiên, Ngân hàng “khoẻ mạnh” hay không cũng phụ thuộc rất nhiều vào môi trường kinh tế ổn định hay không.

    3.3- Môi trừơng pháp lý

    3.4- Những nguyên nhân bất khả kháng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Đó là những nguyên nhân như bão lụt, hạn hán, động đát, hoả hoạn…, các vụ ăn cắp, lừa đảo… gây thiệt hại về tài sản của Ngân hàng hoặc của khách hàng khiến người vay mất khả năng trả nợ vay.

    Đối với loại rủi ro này, Ngân hàng phòng ngừa bằng các biện pháp như: mua bảo hiểm, tăng cường bảo vệ trực tiếp, giáo dục ý thức, trách nhiệm cho nhân viên Ngân hàng …

    1- Tình hình quản lý tín dụng tại các Ngân hàng thương mại trong những năm qua.

    1.1- Tình hình huy động vốn

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    trái phiếu Ngân hàng để nâng cao tỷ trọng vốn trung và dài hạn, huy động vôn bằng cách tăng lãi suất tiền gửi ngắn hạn…

    Đến cuối năm 2003, số dư tiền gửi tại các tổ chưc tín dụng tăng 45% so với đầu năm, cao hơn nhiều so với mức tăng năm trước và vượt kế hoạch đề ra. Nhìn chung số vốn huy động được từ nền kinh tế – xã hội tăng đều đặn trong các năm gần đây, rất có ý nghĩa đối với sự phát triển trong bối cảnh vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào nước ta chưa cao.

    So với đầu năm, tính sơ bộ đến hết tháng 6 năm 2004, tổng nguồn vốn của các tổ chức tín dụng trong cả nước tăng khoảng 16%, trong nguồn vốn huy động từ dân cư tăng 8%. Bảng so sánh phân tích sau đây giúp ta nhận rõ hơn tình hình này:

    Bảng 1: Tỷ trọng trong tổng nguồn vốn của các TCTD

    Tỷ trọng

    Tăng so với đầu năm 2004(%)

    So sánh

    trong tổng

    Tỷ trọng trong

    Huy động vốn

    nguồn vốn

    tổng nguồn vốn

    Nhóm các

    của các

    từ dân cư

    của các TCTD

    TCTD

    TCTD (%)

    Các   TCTD   nhà

    75,7

    8

    10

    nước

    Các chi nhánh NH

    1

    nước ngoài & NH

    13

    1

    liên doanh

    Các TCTD cổ phần

    10

    5

    9

    Các TCTD phi NH

    0,3

    6

    7

    Các TCTD hợp tác

    1

    10

    ( Nguồn: Tạp chí Ngân hàng số đặc biệt – Số 1 năm 2004)

    Vốn huy động của các Ngân hàng thương mại tăng và lãi suất huy động cũng được tăng mặc dù lãi suất huy động ngoại tệ tiếp tục giảm. Nhu

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    cầu vay vốn băng đồng VN tăng mạnh hơn vay bằng ngoại tệ, hầu hết các doanh nghiệp tránh vay vốn bằng ngoại tệ mà chuyển sang đề nghị vay vốn bằng VND.

    1.2- Tình hình sử dụng vốn

    Tình hình huy động vốn chủ yếu tập trung vào các Ngân hàng thương mại quốc doanh ( chiếm tỷ trọng 80%), tương tự thị phần tín dụng cũng tập trung tương đương, điều này là hiển nhiên bởi quy luật lợi thế nhờ quy mô. Nhìn vào bảng 2 ta thấy, nếu cho vay bằng VND cả khu vực Ngân hàng thương mại Quốc doanh cao gấp 4,5-5 lần so với Ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh, cho vay bằng ngoại tệ của Ngân hàng thương mại chỉ gấp 1,5-2,5 lần. Điều này phản ánh mức độ tập trung trong hoạt động tín dụng có tính cách biệt. Khách hàng của Ngân hàng thương mại Quốc doanh chủ yếu là khách hàng trong nước nên họ lệch về vay bằng VND nhằm dự phòng rủi ro về tỷ giávà lãi suất không quá cao so với USD, thậm chí còn rẻ hơn sau khi điều chỉnh theo sự thay đổi của tỷ giá. Thị phần ngoại tệ của Ngân hàng thương mại Quốc doanh chủ yếu là các khoản vay của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại chi nhánh Ngân hàng nước ngoài hoặc Ngân hàng liên doanh.

    Bảng 2 : Mức tập trung thị phần cho vay của các NHTMQD và NHTM ngoài quốc doanh .

    Năm

    1998

    1999

    2000

    2001

    2002

    2003

    NHTMQD

    79,6

    75,5

    77,2

    81,4

    81,6

    71,4

    Trong đó: -VND

    53,8

    53,5

    59,3

    65,9

    65,9

    61,1

    – Ngoại tệ

    25,8

    22,2

    18,0

    15,7

    15,7

    10,3

    NHTM ngoài quốc

    20,4

    24,5

    22,8

    18,4

    18,4

    28,6

    doanh.

    Trong đó: -VND

    7,5

    10,1

    9,5

    12,1

    12,1

    20,4

    – Ngoại tệ

    12,9

    14,4

    13,2

    6,3

    6,3

    8,2

    ĐHDL Phương Đông

    Phạm Khánh Linh

    Tổng

    100

    100

    100

    100

    100

    100

    (Nguồn: Tạp chí Ngân hàng số 8 năm 2004)

    Mặc dù thị phần huy động, cho vay của các Ngân hàng thương mại quốc doanh chiếm phần lớn nhưng lại chịu sức ép cạnh tranh từ các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, mặt khác họ là người phản ứng chậm trong sử dụng mỗi công cụ, chiến thuật cạnh tranh. Tính nhạy cảm của các Ngân hàng thương mại quốc doanh theo thông tin thị trường còn chậm nên đã bị các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài lấn trong từng thời điểm, trên từng mặt riêng lẻ của hoạt động Ngân hàng .

    Sức cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại cổ phần, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài trên khía cạnh huy động vốn rất thấp. Ngân hàng thương mại cổ phàn bị yếu thế bởi mức độ tin cậy thấp, mặc dù các Ngân hàng này luôn phại đặt mức lãi suất huy động cao hơn các Ngân hàng thương mại quốc doanh. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, do sợ thị phần vốn huy động có thể bị giảm sút, các Ngân hàng thương mại quốc doanh đôi lúc để mức lãi suất huy động ngang bằng Ngân hàng thương mại cổ phần. Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài không có khả năng cạnh tranh vì họ bị ràng buộc bởi quy định của Ngân hàng nhà nước chứ không phải là họ không có sức cạnh tranh trong lĩnh vực huy động tiết kiệm từ dân cư. Trong tương lai quy định của Ngân hàng nhà nước nới lỏng thị phần huy động vốn của các Ngân hàng thương mại quốc doanh sẽ bị ảnh hưởng lớn.

    Rõ ràng các Ngân hàng thương mại quốc doanh có nguồn vốn lớn, giá vốn thấp, có mối quan hệ lâu dài với khách hàng nhưng chưa tạo thế chủ động và lấn át các Ngân hàng nước ngoài. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, mục tiêu của chi nhánh Ngân hàng nước ngoài là mở rộng thi phần, thôn tính khách hàng để tạo sự ổn định và phát triển, các Ngân hàng thương mại quốc doanh cần phải đánh giá lợi nhuận cho cả gói dịch vụ đối với từng khách hàng từ thanh toán quốc tế giao dịch vốn, kinh doanh ngoại tệ, tín dụng… chứ không nhất thiết từng hoạt động riêng biệt phải sinh lời.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Điều này đòi hỏi tính liên kết, hợp tác giữa các bộ phận ngày càng chặt chẽ và nó cũng đòi hỏi rằng chất lượng dịch vụ khách hàng phải tốt hơn, phát triển sản phẩm mới, cải tiến chất lượng dịch vụ.

    2- Một số vấn đề quản lý rủi ro tín dụng

    2.1- Giá cả thế chấp, cầm cố trong các chu kỳ tín dụng

    Một trong những giải pháp cổ điển để tối thiểu hoá rủi ro tín dụng là yêu cầu người vay thế chấp hoặc cầm cố tài sản khi vay vốn Ngân hàng. Tuy nhiên, giải pháp này không đảm bảo sự thành công cho chính sách tín dụng của Ngân hàng. Một trong những nguyên nhân thất bại là sự xuất hiện mối quan hệ phản hồi giữa các khoản vay và tài sản thế chấp, cầm cố tài sản trong việc quản lý rủi ro tín dụng. Do đó để định giá tài sản thế chấp, cầm cố một cách hợp lý cần lưu tâm đến động thái của nền kinh tế quốc dân.

    Khi cho vay vào thời điểm “đỉnh” của chu kỳ tín dụng (cũng tương ứng với chu kỳ phát triển kinh tế) có đảm bảo bàng tải sản thế chấp, cầm cố được đánh giá theo thời kỳ này, thì khi phát mại tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi nợ, TCTD sẽ bị thua lỗ. Vì vậy, khi ra quyết định cho vay cần lưu tâm đến thời điểm của nền kinh tế.

    2.2- Các rủi ro khi cho cá nhân vay vốn tín dụng

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Ngày nay phân tích rủi ro tín dụng ngày càng có xu hướng hợp thức hoá và tiêu chuẩn hoá. Đối với các thể nhân vay vốn, trong thẩm định năng lực tín dụng, các Ngân hàng thường sử dụng phương pháp cho điểm. Tổng số điểm được tính cho toàn bộ các đặc điểm của khách hàng sẽ được so sánh với một giá trị tới hạn nào đó, và tuỳ theo kết quả so sánh mà khách hàng có thể xếp vào loại đối tượng có khả năng vay hoặc không có khả năng vay. Vậy những vấn đề nào có thể nảy sinh trong quá trình lựa chọn khách hàng ?

    Thứ nhất, xem xét toàn bộ các đặc điểm chủ yếu của khách hàng là một vấn đề khá phức tạp vì nhiều đặc điểm mang tính tâm lý, sinh lý, chính trị, xã hội… rất khó có thể có được một kết luận hoàn hảo.

    Thứ hai, đánh giá các đặc điểm của khách hàng theo cách cho điểm thường mang tính chủ quan. Để tăng tính khách quan trong việc cho điểm thường dựa trên cơ sở thông tin phản hồi về khả năng hoàn trả nợ vay trong quá khứ của khách hàng vay vốn. Trong trường hợp này mức điểm đánh giá là % nợ vay đã được hoàn trả. Tuy nhiên, quy trình này cũng không thể loại bỏ hoàn toàn những tồn tại nói trên, bởi vì kỳ thu nhập các thông tin phản hồi có thể khác nhau và được lựa chọn theo mong muốn chủ quan.

    Thứ ba,việc sử dụng các thang điểm đánh giá trong các phép tính toán không phải là những đại lượng “xơ cứng” theo thời gian, vì những biến động trong các điều kiện kinh tế – xã hội sẽ làm thay đổi mức độ rủi ro mỗi đặc điểm.

    Do đó, việc cho các thể nhân vay vốn tín dụng dựa trên cơ sở lượng hoá rủi ro là một việc làm không đơn giản. Luôn luôn có nhu cầu kiểm tra, sàng lọc lại các kết qủa một cách thận trọng.

    2.3- Rủi ro khi cho vay khách hàng là pháp nhân.

    Trong phương pháp phân tích rủi ro tín dụng khi cho một pháp nhân vay vốn cũng nổi lên những vấn đề bức xúc như trường hợp khách hàng là thể nhân. Khi tính xác suất vỡ nợ của một công ty, các nhà phân tích Ngân hàng sử dụng mô hình đa nhân tố bao hàm một quy trình đáng giá các chỉ tiêu

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    hoạt động cơ bản của công ty vay vốn, để từ đó tính được một chỉ tiêu tổng hợp về xác suất vỡ nợ của công ty. Sau đó đem so sánh chỉ tiêu tổng hợp này với các giá trị chuẩn và rút ra kết luận cuối cùng về khả năng thanh toán của tổ chức kinh tế.

    Tình hình phức tạp khi có nhiều phương pháp phân tích định lượng về khả năng thanh toán dựa trên việc tính toán các chỉ tiêu đặc biệt theo các dữ liệu trên bảng cân đối kế toán. Trong đó có các chỉ tiêu như: hệ số khả năng thanh toán hiện hành, khả năng thanh toán ngay, khả năng thanh toán dài hạn, các chỉ tiêu về thu nhập.

    Mỗi một hệ số nêu trên đều có giá trị tiêu chuẩn dựa trên cơ sở đó để thực hiện so sánh với hệ số tính toán. Hơn nữa trong thực tiễn, các giá trị tiêu chuẩn này thường được áp dụng chung cho tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế và ít thay đổi. Chúng ta phải phân biệt theo ngành, lĩnh vực khác nhau theo cơ cấu tài sản Có và tài sản Nợ khác nhau một cách khách quan. Phải gắn chặt với lạm phát bởi vì tốc độ tăng của nó sẽ làm tăng các chỉ tiêu thực hiện. Rõ ràng sẽ là không có gì sai khi khẳng định rằng, các số chỉ tiêu chuẩn cần được phân biệt theo vùng, lãnh thổ bởi vì các địa phương khác nhau sẽ có điều kiện tái sản xuất và khả năng tiêu thụ sản phẩm không giống nhau, làm ảnh hưởng tới các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp.

    Sự xuất hiện nhiều phương pháp khả năng thanh toán của doanh nghiệp cũng gây nên một vấn đề, các kết quả phân tích theo các phương pháp khác nhau thường cho những kết quả hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, phải thừa nhận rằng, ngày nay các nhà phân tích Ngân hàng đang đối mặt với một nhiệm vụ hết sức phức tạp là nên chọn những phương pháp nào để phân tích rủi ro tín dụng và sử dụng vào thời điểm nào là hợp lý. Tình hình còn phức tạp hơn vì cho đến nay vẫn chưa có một tiêu chí khách quan nào để làm luận cứ khoa học cho những sự lựa chọn nêu trên.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    1- Nâng cao chất lượng cán bộ của Ngân hàng :

    1.1- Năng lực điều hành của ban lãnh đạo Ngân hàng .

    Nói lên vai trò quan trọng của những người đứng đầu trong một tổ chức nói chung và trong một Ngân hàng thương mại nói riêng. Người lãnh đạo Ngân hàng giỏi là người biết kết hợp hài hoà phát huy tối đa sức mạnh của tát cảc các nguồn lực Ngân hàng thương mại mình có thành sức mạnh tổng thể của Ngân hàng.

    Với tư cách là người chịu trách nhiệm đầu tiên về sức cạnh tranh của Ngân hàng, ban lãnh đạo vì vậy phải là người thực sự đủ tài trên mọi phương diện tựu chung gồm 3 khả năng chủ yếu: khả ngăng về chuyên môn, khả năng phân tích phán đoán và khả năng nghệ thuật đối nhân xử thế. Nghiên cứu học hỏi không chỉ là nhiệm vụ của cán bộ công nhân viên mà nó còn là nhiệm vụ của ban lãnh đạo Ngân hàng để lãnh đạo và đưa ra những quyết định sáng suốt thì người lãnh đạo phải là người giỏi nhất trong mọi lĩnh vực, có tầm nhìn rộng trong công việc, hiểu biết về pháp luật.

    1.2- Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn và nghiệp vụ cho các cán bộ tín dụng.

    Không thể đạt được sự tiến bộ thực sự về chất lượng tín dụng nếu không có đội ngũ cán bộ có đạo đức nghề nghiệp, có trình độ nghiệp vụ, nhận thức xã hội và hiểu biết về pháp luật tốt. Sự hợp tác của toàn thể cán bộ nhân viên trong Ngân hàng là sức mạnh lớn nhất để Ngân hàng có thể đứng vững và lớn mạnh trong điều kiện khắc nghiệt hiện nay. Các Ngân hàng thương mại cần chú trọng trong công tác tuyển dụng con người và đào tạo cán bộ có chất lượng cao. Cần phải có định hướng tiêu chuẩn hoá cán bộ tín dụng, yếu tố con người luôn là yếu tố chủ đạo của mọi hoạt động vì con người là chủ thể của nền kinh tế.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Người cán bộ giỏi là người có tầm nhìn rộng trong tương lai, ví dụ một mặt hàng sản xuất này có thể tại thời điểm hiện tại thị trường chưa cần thiết nhưng trong một hoặc một vài năm tới nó lại là một mặt hàng không thể thiếu đối với thi trường. Nếu như là một người cán bộ có tầm nhìn hiểu biết rộng thì họ sẽ đầu tư vào mặt hàng sản xuất đó, và trong một vài năm tới họ sẽ có một khoản lời đáng kể. Mặt khác, nếu như cán bộ tín dụng không nắm bắt được thị trường và xu hướng của nó thì rủi ro mất vốn trong tương lai là rất lớn.

    Bên cạnh kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, các cán bộ tín dụng còn phải thường xuyên trang bị thêm hiểu biết về pháp luật, thị trường, các lĩnh vực khác về kinh tế-tài chính, tin học và ngoại ngữ. Đồng thời chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ tín dụng, làm cho họ thấy được vai trò, vị trí và trách nhiệm lớn lao của mình trong sự nghiệp kinh doanh của ngành để ngày càng có sự nỗ lực trong công việc. Ngoài ra, cấp trên còn có chế độ khen thưởng những cán bộ làm tốt và có biện pháp xử lý kịp thời những cán bộ vi phạm, thiếu trách nhiệm trong phòng chống rủi ro, thiếu đạo đức trong hoạt động tín dụng.

    2- Nâng cao chât lượng thẩm định khách hàng

    Trong nền kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và Ngân hàng ngày cành được khẳng định. Doanh nghiệp cần Ngân hàng bên cạnh để san bằng sự bất thường về nguồn vốn thiếu hoặc thừa, ngược lại doanh nghiệp được coi là chỗ dựa và là động lực để Ngân hàng tồn tại và phát triển. Ngân hàng lựa chọn doanh nghiệp từ các tiêu chuẩn cần phải có để thành lập quan hệ tín dụng như: tư cách, năng lực hoạt động, sức mạnh tài chính, điều kiện hoạt động và tài sản đảm bảo. Trong đó năng lực hoạt động và sức mạnh tài chính thể hiện cho khả năng tài chính của doanh nghiệp, là yếu tố cơ bản quyết định sự kết dính mối quan hệ.

    Nói cách khác, dưới con mắt Ngân hàng năng lực tài chính của doanh nghiệp là sự hiện thân của vốn tín dụng được bảo toàn sinh lợi, do đó nó cần

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    được coi là yếu tố hàng đầu để quyết định quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và doanh nghiệp.

    Trên thực tế có một số Ngân hàng chỉ chú trọng phân tích tài chính doanh nghiệp trên cơ sở số liệu hoạt động của doanh nghiệp trong 3 năm gần nhất và kế hoạch kinh doanh trong thời kỳ vay vốn, kết hợp việc phân tích hiệu quả phương án sản suất kinh doanh có sử dụng vốn vay. Song, các chỉ số tài chính đúc kết từ báo cáo hàng năm của các doanh nghiệp chỉ là những đại lượng mang tính thời điểm, khó có thể đại diện cho bản chất vốn có của doanh nghiệp, chưa kể đến phần lớn con số đó đã được doanh nghiệp gọt giũa trước khi trình Ngân hàng. Trong nhiều trường hợp tại thời điểm tưởng như khoản tín dụng được hoàn trả thì biến cố xuất hiện- doanh nghiệp đầu tư lỗ, tài sản Nợ tài chính gia tăng…, kết quả là phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn có hiệu qủa cao nhưng khoản tín dụng không thu hồi được do dòng tiền cuốn trôi vào các ngõ ngách khác.

    3- Bảo đảm tín dụng bằng tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh và bảo hiểm tín dụng.

    3.1- Cần nâng cao chất lượng bảo đảm tín dụng bằng hình thức thế chấp cầm cố.

    Đối với việc nhận tài sản thế chấp cầm cố điều quan trọng là phải xem xét tính pháp lý của hồ sơ thế chấp cầm cố tài sản để đảm bảo cho việc chuyển nhượng tài sản khi bán đấu giá tránh hiện tượng lừa đảo bằng giấy chứng nhận sở hữu giả. bên cạnh đó cần quan tâm tới việc định giá chính xác tài sản đặc biệt đối với tài sản là nhà đất , dây chuyền máy móc thiết bị nhập ngoại đã qua sử dụng. nếu tài sản cầm cố thế chấp là ngoại tệ cần quan `tâm tới các yếu tố ảnh hưởng trong tương lai như tỷ giá lạm phát …. nhất là những khoản cho vay lớn và dài hạn.

    Một thực tế là các tài sản thế chấp cầm cố rất phong phú và đa dạng cán bộ tín dụng Ngân hàng không thể hểu rõ nguồn gốc đặc điểm những yếu tố tác động cũng như giá trị của chúng. Ví dụ: để thực hiện một món vay thế

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    chấp bởi nhà đất đòi hỏi cán bộ tín dụng không chỉ có những kiến thức cơ bản về nhà đất như luật đất đai, biểu tính giá nhà đất của chính quyền thành phố mà còn phải hiểu biết rõ về giá cả thực những biến động của nó trên thị trường. Một cán bộ tín dụng dù tài giỏi đến đâu cũng không thể hiểu biết được tất cả các lĩnh vực kinh doanh trong nền kinh tế bởi vậy để có thể định giá chính xác giá trị tài sản thế chấp cán bộ tín dụng nên đưa ra những chỉ tiêu nhất định để đánh giá. Với tài sản thế chấp là nhà đất thì cần những chỉ tiêu như: vị trí ngôi nhà, tình trạng hiện tại, sự biến động giá trên thị trường

    … với những tài sản thế chấp cầm cố bằng máy móc thì Ngân hàng nên cùng người vay thuê người giám định như vậy vừa khách quan vừa đảm bảo được tính chính xác.

    Một điều kiện không thể thiếu với tài sản thế chấp cầm cố là khả năng phát mại tài sản không chỉ là những tài sản có giá trị được nhà nước cho phép mà nó còn là những tài sản có khả năng bán được trong trường hợp khách hàng không trả được nợ. Do vậy khi nhận tài sản thế chấp cán bộ tín dụng không nên nhận những tài sản quá lớn, những công trình đang xây dựng dở dang khi phát mại rất khó tìm được người mua mà nếu có cũng thể bù đắp đựoc khoản cho vay. Bên cạnh đó, Ngân hàng cần kiểm tra kỹ giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu không ít trường hợp một tài sản đem thế chấp vay vốn ở nhiều Ngân hàng. Ngoài ra, Ngân hàng nên có quan hệ tốt với địa phương tránh vướng mắc trong quá trình sử lý tài sản thế chấp. Bởi vậy, Ngân hàng nên yêu cầu tất cả các thành viên ký vào giấy đề nghị vay vốn.

    3.2 Bảo lãnh:

    Bảo lãnh có nhiều ưu điểm hơn so với cầm cố và thế chấp. Trong suốt thời hạn cầm cố thế chấp phía Ngân hàng phải thường xuyên kiểm tra tình trạng của những tài sản thế chấp này khi đó bên bảo lãnh cam kết dùng tất cả tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng sẽ không phải quá quan tâm đến việc kiểm tra tình trạng của từng tài sản cụ thể tránh được những nhựơc điểm của cầm cố và thế chấp. Tuy nhiên, Ngân hàng cũng có

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    thể gặp rủi ro mất vốn nếu bên bảo lãnh mất khả năng thanh toán bị tuyên bố phá sản và không thể thực hiện các nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bảo lãnh. Chính vì vậy mà Ngân hàng nên tìm hiểu kỹ về bên bảo lãnh và chỉ chấp thuận sự bảo lãnh của các công ty lớn và có uy tín hoặc yêu cầu bên bảo lãnh phải dùng tài sản để cầm cố thế chấp. Khả năng thực hiện việc trả nợ vay không chỉ phụ thuộc vào việc bên bảo lãnh có đủ tài sản mà quan trọng hơn là bên bảo lãnh có những nguồn thu nhập ổn định để bảo đảm có tiền thanh toán theo đúng lịch biểu của hợp đồng vay vốn. Ngân hàng cần xem xét thực hiện nghĩa vụ của bên bảo lãnh nhằm tạo thuận lợi cho cả Ngân hàng, người vay lẫn người bảo lãnh .

    3.3 Thực hiện bảo hiểm tín dụng:

    Có ba hình thức để bảo hiểm tín dụng như sau:

    • Thứ nhất: Khách hàng vay vốn tín dụng tham gia mua bảo hiểm cho nghành nghề mà họ kinh doanh vì vậy những khoản tín dụng trong trường hợp này coi như cũng được bảo hiểm một cách gián tiếp. Phương pháp này không làm phát sinh thêm thao tác nghiệp vụ trong Ngân hàng. để sử dụng tốt hình thức này thì Ngân hàng cần có chính sách ưu tiên cho vay về khối lượng và lãi suất đối với các doanh nghiệp, cá nhân mua bảo hiểm.

     

    • Thứ hai: Sử dụng biện pháp bảo lưu, nghĩa là Ngân hàng tự bảo hiểm cho chính mình bằng cách lập các quỹ dự phòng để bù đắp những thiệt hại khi gặp rủi ro tín dụng từ đó hạn chế những hậu quả xấu có thể xảy ra mà vẫn đảm bảo được tình hình tài chính của Ngân hàng, rủi ro luôn song hành với hoạt động kinh doanh nhưng đối với mỗi thành phần kinh tế thì hệ số rủi ro tín dụng có khác nhau, việc quy định tỷ trọng rủi ro cụ thể cho từng loại tín dụng có hiệu quả hơn. Phần sử dụng vốn Ngân hàng luôn chứa đựng rủi ro, Ngân hàng phải lấy vốn tự có để bù đắp song vốn của Ngân hàng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng. Như vậy hình thành quỹ dự trữ đặc biệt bù đắp rủi ro tín dụng là hợp lý và cần thiết.

     

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Hàng năm Ngân hàng cần phải trích 10% lợi nhuận trong mọi hoạt động kinh doanh của mình để lập quỹ dự trữ đặc biệt bù đắp rủi ro. Quỹ này được thành lập cho đến khi bằng 100% vốn điều lệ của Ngân hàng . Quỹ dự trữ đặc biệt này sẽ giúp Ngân hàng khắc phục được những khoản tổn thất tín dụng do tình trạng nợ khoanh, nợ tồn đọng lâu dài… để đảm bảo an toàn cho hoạt động của Ngân hàng.

    -Thứ ba: Ngân hàng trực tiếp mua bảo hiểm của các tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp. Như thế Ngân hàng sẽ tránh được những tổn thất khi rủi ro xảy ra đối với những khoản vốn đầu tư.

    4- Xử lý món vay có vấn đề.

    Trong xử lý các khoản vay có vấn đề, có hai sự lựa chọ tổng quát: khai thác hoặc thanh lý. Khai thác là một quá trình làm việc với người vay cho đến khi khoản cho vay được trả một phần hay toàn bộ và không dựa vào các công cụ pháp lý để ép buộc. Thanh lý là ép người vay tuân theo các điều khoản của hợp đồng cho vay, áp dụng và thực hiện tất cả các biện pháp để đat được mục tiêu.

    Món vay có vấn đề được hiểu là món vay đã quá hạn hoặc món vay tuy chưa đến hạn nhưng khách hàng có nguy cơ không trả được nợ cho Ngân hàng do mất khả năng thanh toán, do thua lỗ hoặc doanh nghiệp có biểu hiện

    • phạm pháp luật như lừa đảo, trốn thuế… Xử lý món vay có vấn đề là áp dụng các biện pháp khác nhau để thu hồi nợ. Theo kinh nghiệm của các nhà Ngân hàng thì giải pháp khai thác là khôn ngoan hơn, vì sự tồn tại và phát triển của khách hàng là quyết định sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. Chính các giải pháp mềm dẻo, linh hoạt này đã cứu không ít khách hàng từ chỗ sắp ”khuynh gia bại sản” đến chỗ “gượng” lại được, tiếp tục tồn tại, phát triển và ngày càng gắn bó với Ngân hàng. Các giải pháp khai thác bao gồm:

    – Thương lượng gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ, giãn nợ. – Tiếp thêm vốn giúp khách hàng.

    – Đảo nợ.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    5- Mở rộng cạnh tranh.

    5.1 Mở rộng quan hệ tín dụng nhằm phân tán rủi ro

    Hiện nay, phạm vi hoạt động tín dụng của các Ngân hàng còn hẹp, phần lớn là các doanh nghiệp Nhà nước, vốn cho vay lớn nhưng chưa năng động. Các Ngân hàng thương mại cần phải mở rộng quan hệ tín dụng với tất cả các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế ngoài quốc doanh.

    Biện pháp phân tán rủi ro là tránh tập trung quá lớn vào một lĩnh vực đầu tư, vào một mặt hàng không có sức mạnh cạnh tranh… để đến khi doanh nghiệp không có khả năng trả nợ thì Ngân hàng sẽ không chịu ảnh hương lớn. Vì thế, các NHTM phải phân tán rủi ro bằng cách cho vay vào nhiều đối tượng, nhiều khách hàng khác nhau với nhiều lĩnh vực khác nhau.

    5.2 Đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ tín dụng.

    Đây là biện pháp nhằm phân tán rủi ro đã được các Ngân hàng trên thế giới áp dụng một cách có hiệu quả. Các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam có đến 90% tài sản nợ là đầu tư trực tiếp nên khả năng rủi ro rất cao. Vì thế muốn hạn chế rủi ro tín dụng thì việc đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ tín dụng rất cần được coi trọng. Có đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ thì Ngân hàng mới có thêm lợi nhuận mà các dịch vụ đem lại.

    Muốn đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ thì các Ngân hàng thương mại phải tăng cường các trang thiết bị hiện đại như: máy vi tính, máy Fax cũng như cơ sở vật chất, thiết bị kho tàng. Đồng thời phải đào tạo, nâng cao trình độ ngoại ngữ, vi tính thu thập thông tin thị trường… cho cán bộ Ngân hàng.

    Các Ngân hàng nên thiết lập mối quan hệ với các trung tâm môi giới, tư vấn pháp luật… để chuẩn bị những điều kiện cần thiết để tham gia vào thị trường vốn, thị trường chứng khoán.

    Phải từng bước chuyển dịch cơ cấu từ vốn bán lẻ sang bán buôn, mở rộng và phát triển dịch vụ đã có như thanh toán Quốc tế, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán L/C… Khi hình thành và phát triển những dịch vụ

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    mới, Ngân hàng không những thích nghi với nhu cầu của quá trình tái sản xuất mà bằng con đường đa dạng hoá việc cung ứng tín dụng sẽ thu hút được nhiều khách hàng, qua đó tăng thêm thu nhập cho mình mà có một nguồn nhất định để bù đắp nhũng rủi ro tín dụng mà Ngân hàng gặp phải. Tuy nhiên, muốn đa dạng hoá dịch vụ Ngân hàng đòi hỏi các Ngân hàng phải có một khoản chi phí lớn về tiền của vì nó phụ thuộc vào quá trình hiện đaị hoá công nghệ Ngân hàng cả về máy móc thiết bị lẫn trình độ tinh thông nghiệp vụ mới của cán bộ Ngân hàng .

    5.3. Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu bền với khách hàng.

    Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu bền với khách hàng sẽ giúp Ngân

    hàng:

    • Đánh giá đúng chất lượng khách hàn hệ tín dụng thường xuyên, Ngân hàng có thể nắm bắt, tiết kiệm được chi phí thẩm định và kiểm tra giám sát. Thông qua việc quan được những thông tin về hoạt động kinh doanh của khách hàng. Căn cứ vào số tiền dư trên tài khoản của họ, Ngân hàng sẽ biết được khả năng tiềm tàng và chu kỳ sử dụng vốn, tiền mặt cũng như quan hệ với các khách hàng khác trong việc mua nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm…

    Đây là cách tốt nhất để thu thập thông tin về khàch hàng và là cơ sở để Ngân hàng tiết kiệm được cho việc thẩm định, sàng lọc thông tin, tránh được rủi ro về đạo đức, kế hoạch hoá được nguồn cũng như các chi phí giám sát khách hàng khi đã có sẵn phương thức giám sát khách hàng.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    • Thu hút vốn để củng cố đầu vào mở rộng đầu ra theo đúng yêu cầu của khách hàng, thông qua mối quan hệ lâu bền với khách hàng Ngân hàng có thể huy động được một khối lượng nguồn vốn từ tiền gửi của khách hàng. Sự am hiểu của khách hàng sẽ làm cho Ngân hàng hiểu rõ nhu cầu của khách hàng về loại tín dụng, khối lượng tín dụng, giá cả cho vay để có kế hoạch bố trí nguồn vốn kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng của khách hàng. Do tiết kiệm được chi phí trong thẩm định, kiểm tra giám sát khách hàng nên Ngân hàng sẽ có đủ điều kiện để hạ lãi suất cho vay, điều đó sẽ cuốn hút được khách hàng, làm cho khách hàng gắn bó hơn với Ngân hàng. Mối quan hệ không những ngày càng được củng cố đối với khách hàng sẽ càng có cơ hội để nâng cao chất lượng tín dụng.
    • Đề ra chính sách chiến lược, kế hoạch tác nghiệp trong từng thời kỳ và xu hướng phát triển hoạt động Ngân hàng trong tương lai để không ngừng thích nghi với sự biến động của thị trường, tìm kiếm cơ hội không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng và hiệu quả kinh doanh Ngân hàng.

    Có điều kiện giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, nhất là rủi ro về đạo đức để vươn tới sự hoàn thiện về chất lượng tín dụng, nhằm tạo dựng được hình ảnh, biểu tượng tốt của Ngân hàng trên thị trường.

    Để thiết lập mối quan hệ tốt, lâu bền với khách hàng, Ngân hàng phải có kế hoạch củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động, đề cao uy tín của Ngân hàng trên thị trường, thông qua việc cải thiện và mở rộng thêm nhiều hình thức phục vụ, đổi mới tác phong kinh doanh, thu hút thêm nhiều khách hàng đối với Ngân hàng như những người bạn tin cậy.

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

    Trong quá trình phát triển của một đất nước, hệ thống Ngân hàng thương mại đóng vai trò rất quan trọng. Các Ngân hàng thương mại góp phần điều hoà lượng tiền trong lưu thông giúp ổn định giá cả, chống lạm phát, cung cấp các dịch vụ thanh toán cho nền kinh tế giúp quá trình sản xuất – trao đổi – tiêu dùng diễn ra trôi chảy hơn. Ngân hàng thương mại huy động với mọi nguồn vốn trong nền kinh tế để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh, thực hiện việc tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và theo chiều sâu. Thực hiện tốt việc tự do di chuyển vốn từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao.

    Tuy hoạt động tín dụng của Ngân hàng đem lại hiệu quả cao nhưng kèm theo đó là rủi ro tiềm ẩn rất lớn. Một Ngân hàng gặp rủi ro lớn sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống Ngân hàng.Vì thế, rủi ro tín dụng là vấn đề quan tâm hàng đầu không những đối với cán bộ Ngân hàng mà còn là của toàn xã hội.

    Bên cạnh những chuyển biến tích cực trong quá trình hoạt động, các Ngân hàng thương mại đã và đang gặp không ít khó khăn trong việc huy đọng vốn và sử dụng vốn đạt hiệu quả. Đặc biệt đối với kinh tế ngoài quốc doanh, hoạt động cho vay đối với loại hình này còn có nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Với tính cấp thiết này, mong rằng một số biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh mà em đã trình bày sẽ góp một phần nhỏ vào hoạt động tín dụng của Ngân hàng nói riêng và hoạt động kinh doanh tiền tệ nói chung. Qua đó, góp phần củng cố sự phát triển và ổn định của hệ thống Ngân hàng, đáp ứng được yêu cầu Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất nước.

    Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu còn có nhiều hạn chế nên bài viết này không thể tránh khỏi những khuyết điểm. Vì vậy, em rất mong muốn được sự góp ý của các thầy cô giáo để bài viết có ý nghĩa thực tiễn hơn. Em xin chân thành cảm ơn !

    ĐHDL Phương Đông                                                                                             Phạm Khánh Linh

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Rủi Ro Không Thể Thiếu Với Bất Kỳ Dự Án Nào
  • Nâng Cao Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Qua Thư Viện Xanh
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Việt (Giai Đoạn Vần)
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Giáo Viên Thpt Trước Yêu Cầu Đổi Mới Giáo Dục
  • Skkn Một Số Biện Pháp Thực Hiện Hiệu Quả Chuyên Đề Xây Dựng Môi Trường Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Thông Qua Hoạt Động Tạo Hình Cho Trẻ 4
  • Luận Văn Giải Pháp Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Cá Nhân Tại Eximbank

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Giải Pháp Tăng Cường Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng, Điểm 8, Hot
  • Về Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Ở Việt Nam
  • Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Khai Thác Các Giá Trị Văn Hóa Ẩm Thực Của Thành Phố Hồ Chí Minh Nhằm Phát Triển Du Lịch
  • Quảng Bá Văn Hóa Ẩm Thực: Không Chỉ Chờ “hữu Xạ Tự Nhiên Hương”
  • Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng thương mại đồng thời cũng là hoạt động có tiềm ẩn rủi ro lớn nhất, đặc biệt ở những quốc gia có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam khi mà hệ thống thông tin còn thiếu minh bạch và không đầy đủ, trình độ cán bộ tín dụng còn hạn chế. Mặc khác, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua: với sự bùng nỗ của lạm phát, lãi suất ngân hàng tăng cao dẫn đến, hàng loạt doanh nghiệp gặp khó khăn và phá sản, thu nhập của người dân giảm sút…Chính vì vậy, yêu cầu xây dựng hệ thống quản trị rủi ro tín dụng có hiệu quả và phù hợp tại thị trường Việt Nam là một đòi hỏi bức thiết của các NHTM.luận văn giải pháp quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại eximbank chi nhánh hùng vương

    Cùng với sự cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng thương mại và nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn, hoạt động tín dụng cá nhân ngày càng được các ngân hàng thương mại quan tâm khai thác, các ngân hàng đang hướng tới khách hàng tín dụng cá nhân như một đối tượng khách hàng đầy tiềm năng, đem lại nguồn lợi nhuận cao cho ngân hàng đồng thời phân tán được rủi ro, xây dựng được nền tảng khách hàng ổn định và vững chắc. Tuy nhiên, lợi nhuận và rủi ro là hai mặt của một vấn đề, lợi nhuận cao cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng phải đối mặt với những rủi ro tiềm ẩn từ phía khách hàng cá nhân, cũng như phía chủ quan của ngân hàng đem lại. Điều này là lý do mà mỗi ngân hàng phải xây dựng giải pháp quản trị rủi ro tín dụng cá nhân cho riêng mình.

    Mặc khác, với dư nợ tín dụng cá nhân chiếm trên 45% tổng dư nợ và số lượng trên 1100 khách hàng, việc đẩy mạnh hoạt động tín dụng cá nhân đi kèm với quản trị hiệu quả rủi ro tín dụng là một trong những định hướng kinh doanh quan trọng của Eximbank Chi nhánh Hùng Vương trong thời gian đến.

    Xuất phát từ yêu cầu thực tế này tác giả đã chọn đề tài ” Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Eximbank Chi nhánh Hùng Vương” làm luận văn tốt nghiệp.

    Hệ thống hóa những lý luận về tín dụng cá nhân và nội dung quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại các ngân hàng thương mại nhằm nắm rõ bản chất, các nhân tố tác động đến quản trị rủi ro tín dụng cá nhân.

    Phân tích và đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Eximbank Chi nhánh Hùng Vương.

    Đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Eximbank Chi nhánh Hùng Vương.

    Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: hệ thống lý luận về quản trị rủi ro tín dụng cá nhân và công tác quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Eximbank Chi nhánh Hùng Vương.

    Phạm vi nghiên cứu : công tác quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Eximbank Chi nhánh Hùng Vương trong thời gian từ 2010 đến 2012.

    Sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, đi từ cơ sở lý luận đến thực tiễn nhằm giải quyết và làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu của luận văn. Vận dụng cơ sở lý luận đồng thời tiếp thu ý kiến phản biện của các chuyên gia, cán bộ quản lý điều hành để đưa ra các giải pháp.

    Chương 2: Thực trạng về hoạt động tín dụng cá nhân và công tác quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Eximbank Chi nhánh Hùng Vương.

    Đẩy mạnh tăng trưởng dư nợ tín dụng nói chung và tín dụng cá nhân nói riêng là một trong những định hướng kinh doanh quan trọng của Eximbank Hùng Vương trong thời gian đến, đồng thời phát triển tín dụng gắn chặt với quản trị rủi ro tín dụng là định hướng chiến lược chung của Eximbank trong dài hạn. Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó là lý do quan trọng để tác giả hoàn thành luận văn “Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Eximbank CN Hùng Vương”, đề tài này lần đầu tiên được nghiên cứu tại Eximbank CN Hùng Vương.

    • Một số sách chuyên ngành về quản trị ngân hàng thương mại.
    • Một số tài liệu về quản trị rủi ro tín dụng.

    + Luật các tổ chức tín dụng.

    + Quyết đinh số 493/2005/QĐ-NHNN, Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN.

    + Các tạp chí ngân hàng, tài liệu hiệp ước Basel.

    + Các bài viết trên các website của ngân hàng nhà nước, của Eximbank và của tạp chí tài chính.

    + Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Eximbank và Eximbank Hùng Vương trong giai đoạn (2010 – 2012).

    + Các văn bản chính sách, quy trình, quy định của Eximbank.

    Trên cơ sở tham khảo các tài liệu nói trên tác giả đã tổng hợp, đúc kết thành các lý luận cơ bản về tín dụng cá nhân và quản trị rủi ro tin dụng cá nhân tại ngân hàng thương mại.

    Đồng thời tác giả đã tiến hành nghiên cứu, phân tích số liệu và hoạt động của công tác quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Eximbank Hùng Vương để đánh giá được thực trạng, nêu ra một số hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong công tác quản trị rủi ro tín dụng cá nhân.

    Kết hợp công tác nghiên cứu về cơ sở lý luận, nghiên cứu thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Eximbank Hùng Vương, đồng thời tham khảo, tiếp thu ý kiến của các chuyên gia, lãnh đạo đang công tác tại chi nhánh, tác giả đã đề xuất một số giải pháp quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Eximbank Hùng Vương. Tác giả cũng đã cố gắng tiếp thu ý kiến, góp ý quý báu của các Thầy Cô trong hội đồng bảo vệ luận văn để hoàn thiện hơn đề tài nghiên cứu.

    VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI

    NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÍN DỤNG CÁ NHÂN VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN

    1.1.1. Khái quát chung về tín dụng cá nhân

    1.1.1.1. Khái niệm tín dụng và tín dụng cá nhân

    Theo Luật các tổ chức tín dụng đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 16/06/2010:

    “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”

    Quản trị rủi ro không có nghĩa là né tránh rủi ro mà là đối diện với rủi ro để lựa chọn rủi ro nào sẽ lưu giữ và rủi ro nào phải chuyển giao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bàn Giải Pháp Quy Hoạch Phát Triển Đô Thị
  • Các Giải Pháp Trong Quy Hoạch Thoát Nước, Chống Ngập Tại Đô Thị
  • Giải Pháp Nào Cho Công Tác Quản Lý Quy Hoạch Đô Thị?
  • Bốn Nhóm Giải Pháp Quy Hoạch Và Tài Chính Để Cải Tạo Và Phát Triển Đô Thị Tp. Hcm
  • Giải Pháp Quy Hoạch Đô Thị Nhìn Từ Các Quốc Gia
  • Đề Tài Giải Pháp Tăng Cường Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng, Điểm 8, Hot

    --- Bài mới hơn ---

  • Về Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Ở Việt Nam
  • Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Khai Thác Các Giá Trị Văn Hóa Ẩm Thực Của Thành Phố Hồ Chí Minh Nhằm Phát Triển Du Lịch
  • Quảng Bá Văn Hóa Ẩm Thực: Không Chỉ Chờ “hữu Xạ Tự Nhiên Hương”
  • Quảng Bá Ẩm Thực Chưa Chuyên Nghiệp
  • 1.Tính cấp thiêt của đề tài Có thể thấy rằng môi trường sống của chúng ta đầy rẫy những rủi ro. Rủi ro có thể xuất hiện trong mọi ngành, mọi lĩnh vực. Trong lĩnh vực ngân hàng cũng không là ngoại lệ. Những năm qua, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã góp phần tích cực huy động vốn, mở rộng vốn đầu tư cho lĩnh vực sản xuất phát triển. Trong hoạt động của ngân hàng hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu, mang lại thu nhập của mỗi ngân hàng, tuy nhiên rủi ro của nó cũng không nhỏ, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế mới nổi như Việt Nam bởi nền kinh tế phát triển chưa ổn định, hệ thống thông tin thiếu minh bạch và không đầy đủ, trình độ quản trị rủi ro còn nhiều hạn chế, tính chuyên nghiệp của cán bộ ngân hàng chưa cao… Nếu như công tác quản trị rủi ro mà không tốt, không chặt chẽ thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh ngân hàng, như làm tăng thêm chi phí của ngân hàng, thu nhập lãi bị chậm hoặc làm thất thoát vốn vay, làm xấu đi tình hình tài chính và cuối cùng là làm tổn hại đến uy tín và vị thế của ngân hàng. Đứng trước những thời cơ và thách thức của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong nước với các ngân hàng thương mại nước ngoài, mà cụ thể là thực hiện tốt công tác quản trị rủi ro, đặc biệt là giảm thiểu rủi ro tín dụng đang trở nên cấp thiết. Thực tiễn cho thấy các ngân hàng dù lớn hay nhỏ đều không thể tránh khỏi những rủi ro tín dụng tiềm ẩn, nợ xấu và nợ quá hạn vẫn còn tồn tại. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là rủi ro tín dụng phải được quản lý, kiểm soát một cách bài bản và có hiệu quả, đảm bảo tín dụng hoạt động trong phạm vi rủi ro chấp nhận được, hỗ trợ việc phân bổ vốn hiệu quả hơn trong hoạt động tín dụng nhằm giảm thiểu các thiệt hại phát sinh từ rủi ro tín dụng, tăng thêm lợi nhuận kinh doanh. Một ngân hàng hoạt động kinh doanh có hiệu quả, có năng lực tài chính mạnh và quản lý được rủi ro trong giới hạn cho phép sẽ tạo được niềm tin của khách hàng và nâng cao được vị thế, uy tín đối với các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng trong và ngoài nước. Với các kiến thức thu nhận được trong quá trình học tập tại trường đại học và thực tế thực tập tại NHNo&PTNT Thanh Hóa chi nhánh 4, em đã chọn đề tài ” Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Thanh Hóa chi nhánh 4″ để viết khóa luận tốt nghiệp của mình. 2. Mục đích nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu giải quyết 3 vấn đề cơ bản như sau: – Làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận trong quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại.

    MÃ TÀI LIỆU: 8258

    • PHÍ TÀI LIỆU: 50.000
    • ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF
    • THANH TOÁN QUA MOMO, CHUYỂN KHOẢN, THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (X2)
    • NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN ( VÍ DỤ: 0324 – trinhnam34gmailcom) có thể bỏ chữ @ mới gửi được)
    • CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

    • Đăng nhập MOMO
    • Quét mã QR
    • Nhập số tiền
    • Nội dung: Mã Tài liệu – Email
    • Check mail (1-15p)

    • Mua thẻ cào chỉ Viettel, Vinaphone
    • Mệnh giá gấp 2 phí tài liệu (vì phí nhà mạng 50%)
    • Add Zalo 0932091562
    • Nhận file qua zalo, email

    • Đăng nhập Internet Mobile
    • Chuyển tiền
    • Nhập số tiền
    • Nội dung: Mã Tài liệu – Email
    • Check mail (1-15p)

    NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

    NHẬP TÀI LIỆU BẠN CẦN TÌM VÀO ĐÂY

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Giải Pháp Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Cá Nhân Tại Eximbank
  • Bàn Giải Pháp Quy Hoạch Phát Triển Đô Thị
  • Các Giải Pháp Trong Quy Hoạch Thoát Nước, Chống Ngập Tại Đô Thị
  • Giải Pháp Nào Cho Công Tác Quản Lý Quy Hoạch Đô Thị?
  • Bốn Nhóm Giải Pháp Quy Hoạch Và Tài Chính Để Cải Tạo Và Phát Triển Đô Thị Tp. Hcm
  • Luận Văn Đề Tải Rủi Ro Tín Dụng Và Các Giải Pháp Hạn Chế Rủi Ro Tín Dụng Tại Ngân Hàng Công Thương Đồng Tháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiểu Luận Rủi Ro Tín Dụng Và Các Giải Pháp Hạn Chế Rủi Ro Tín Dụng Trong Hoạt Động Kinh Doanh Của Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
  • Luận Văn Luận Văn Giải Pháp Hạn Chế Rủi Ro Tín Dụng Tại Ngân Hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long Chi Nhánh Hà Nội
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Giảm Thất Nghiệp Ở Khu Vực Thành Thị Việt Nam
  • Các Giải Pháp Làm Giảm Thất Nghiệp? Các Bạn Giúp Mình Với? Nói Rõ Giùm Mình Nha?
  • Thiếu Việc Làm Là Gì? Giải Pháp Cho Tình Trạng Thiếu Việc Làm
  • 1.1. Sự cần thiết của đề tài Cùng với quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là trong giai đoạn đầu Việt Nam là thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) chúng ta phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, không những đối với các doanh nghiệp mà còn đối với cả những cá nhân có nguồn vốn hạn hẹp. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp cũng như những cá nhân phải luôn tìm cách hoàn thiện mình hơn nữa nếu không muốn bị đào thải trước sự lớn mạnh của các công ty nước ngoài đang hoạt động trong nước. Tuy nhiên, đây không phải là một vấn đề dễ thực hiện, nếu chỉ dựa vào nguồn vốn sẵn có của mình thì các doanh nghiệp cũng như những cá nhân không phải là đối thủ của các công ty đó. Vì thế cần phải mở rộng quan hệ hợp tác với Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác để đáp ứng nhu cầu về vốn cho các Doanh nghiệp cũng như những cá nhân. Có thể nói Ngân hàng là mạch máu nuôi sống nền kinh tế, có một vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, thúc đẩy quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn trong xã hội. Mối quan hệ tài chính giữa các Ngân hàng Thương Mại với các Doanh nghiệp và các cá nhân sẽ tác động tích cực, trực tiếp đến quy mô sản xuất kinh doanh. Bởi lẽ, muốn mở rộng sản xuất kinh doanh bắt buộc phải có nguồn tài chính dồi dào, có mở rộng quan hệ tín dụng với các Ngân hàng để giúp các doanh nghiệp và cá nhân đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư để mở rộng sản xuất kinh doanh và tạo thêm việc làm mới cho người lao động. Tuy nhiên, hiện nay hệ thống Ngân hàng Việt Nam đang phải gánh chịu sức ép rất lớn, vừa phải đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng, vừa đối mặt với những thử thách không nhỏ về đối thủ cạnh tranh và phạm vi hoạt động. Các hiệp hội tín dụng, các nhà môi giới, các công ty bảo hiểm, đang giành một phần lớn thị trường tiền gửi và thị trường tín dụng của Ngân hàng. Tuy nhiên, khi Ngân hàng càng mở rộng quy mô hoạt động của mình thì phải chấp nhận thử thách và rủi ro, bởi lẽ hoạt động Ngân hàng là một hoạt động khá phức tạp và hàm chứa nhiều rủi ro. Việc hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro trong kinh doanh là điều quan tâm của mọi nhà quản trị Ngân hàng. Trong hoạt động của các Ngân hàng, bên cạnh các rủi ro thông thường (rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường ) còn phải chịu thêm rủi ro tín dụng do đặc điểm của loại hàng hoá đặc biệt mà nó kinh doanh. Như vậy vấn đề cấp bách nhất hiện nay trong quản trị là làm sao để đảm bảo an toàn tín dụng nhằm cải thiện tình hình tài chính và nâng cao năng lực cạnh tranh với các Ngân hàng khác. Nhận thức được tầm quan trọng to lớn của hoạt động tín dụng đối với Ngân hàng cho nên em đã chọn đề tài: “Rủi ro tín dụng và các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Công Thương Đồng Tháp “. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu 1.2.1. Mục tiêu chung Mục tiêu chung của đề tài là phân tích hiện trạng hoạt động tín dụng từ đó đánh giá tình hình rủi ro tín dụng tại Ngân hàng, đồng thời tìm ra những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng để từ đó tìm ra những biện pháp đề phòng rủi ro, nhằm tối thiểu hóa những thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra. 1.2.2. Mục tiêu cụ thể Đi sâu vào doanh số cho vay, thu nợ, tình hình dư nợ và nợ quá hạn qua 3 năm từ 2004 – 2006 của Ngân hàng để thấy được mặt mạnh, mặt yếu trong hoạt động tín dụng, đồng thời hiểu rõ hơn về tình hình rủi ro tín dụng tại Ngân hàng và nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong thời gian qua. Từ đó đề ra những giải pháp và kiến nghị để góp phần khắc phục và phòng ngừa rủi ro để có thể nâng cao hơn nữa hiệu quả trong hoạt động tín dụng. 1.3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu Tìm hiểu về hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Công Thương Đồng Tháp, tập trung đi sâu tìm hiểu những nguyên nhân làm phát sinh rủi ro tín dụng, quá trình xử lý nợ, tình hình quản lý rủi ro qua đó đánh giá về hoạt động tín dụng của Ngân hàng qua 3 năm từ 2004 – 2006 qua các số liệu thu thập được tại Ngân hàng. Qua đó có thể đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và hạn chế rủi ro tại Ngân hàng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Giải Pháp Hạn Chế Rủi Ro Trong Thanh Toán Hàng Xuất Theo Phương Thức Tín Dụng Chứng Từ
  • Đề Tài Giải Pháp Nhằm Hạn Chế Rủi Ro Trong Phương Thức Thanh Toán Tín Dụng Chứng Từ Tại Ngân Hàng Công Thương Đống Đa
  • Giải Pháp Hạn Chế Rủi Ro Tín Dụng Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt
  • Tăng Cường Quản Lý, Tái Sử Dụng, Tái Chế, Xử Lý, Giảm Thiểu Chất Thải Nhựa
  • Đề Tài Biện Pháp Xử Lý Nợ Quá Hạn Ở Sở Giao Dịch Ngân Hàng Nông Nghiệp
  • Các Phương Pháp Quản Lý Rủi Ro

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiêm Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 3
  • Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 2
  • Skkn Một Số Biện Pháp Rèn Học Cho Học Sinh Lớp 3 Skkn Thi Sang Doc
  • Top 9 Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học Hiệu Quả Nhất 2022
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 3
  • Kết quả

    Các phương pháp quản lý rủi ro:

    1. Né tránh rủi ro.

    Né tránh rủi ro là loại bỏ khả năng bị thiệt hại, là việc không chấp nhận dự án có độ rủi ro quá lớn. Biện pháp này được áp dụng trong trường hợp khả năng bị thiệt hại cao và mức độ thiệt hại lớn. Né tránh rủi ro có thể được thực hiện ngay từ giai đoạn đầu của chu kỳ dự án. Nếu rủi ro dự án cao thì loại bỏ ngay từ đầu.

    2. Chấp nhận rủi ro

    Chấp nhận rủi ro là trường hợp chủ đầu tư hoặc cán bộ dự án hoàn toàn biết trước về rủi ro và những hậu quả của nó nhưng sẵn sàng chấp nhận những rủi ro thiệt hại nếu nó xuất hiện. Chấp nhận rủi ro áp dụng trong trường hợp mức độ thiệt hại thấp và khả năng bị thiệt hại không lớn. Ngoài ra, cũng có những rủi ro mà đơn vị phải chấp nhận.

    3. Tự bảo hiểm

    Tự bảo hiểm là phương pháp quản lý rủi ro mà đơn vị chấp nhận rủi ro và tự nguyện kết hợp thành một nhóm gồm nhiều đơn vị có rủi ro tương tự khác, đủ để dự đoán chính xác mức độ thiệt hại và do đó, chuẩn bị trước nguồn quỹ để bù đắp nếu nó xảy ra. Giải pháp tự bảo hiểm có đặc điểm:

    – Là hình thức chấp nhận rủi ro.

    – Thường là sự kết hợp giữa các đơn vị đầu tư trong cùng công ty bố mẹ hoặc một ngành.

    – Có chuyển rủi ro và tái phân phối chi phí thiệt hại.

    – Có hoạt động dự đóan mức thiệt hại (giống hoạt động bảo hiểm).

    – Hệ thống tự bảo hiểm cũng phải đáp ứng mọi chi tiêu của hệ thống bảo hiểm.

    Tự bảo hiểm có lợi thế là nâng cao khả năng ngăn ngừa thiệt hại, thủ tục chi trả bảo hiểm nhanh gọn, đồng thời, nâng cao khả năng sinh lợi vì tạo điều kiện quay vòng vốn. Tuy nhiên, biện pháp tự bảo hiểm cũng có nhược điểm là đơn vị phải chi phí để vận hành chương trình tự bảo hiểm; đơn vị phải mua và cung cấp nội bộ những dịch vụ có giá trị như những thiết bị ngăn ngừa thiệt hại ; khi khả năng bị thiệt hại xuất hiện đơn vị phải thuê người điều hành theo dõi chương trình tự bảo hiểm. Phương pháp tự bảo hiểm cũng chứa đựng yếu tố rủi ro cờ bạc vì ở đây thực tế đơn vị chấp nhận rủi ro với hy vọng thiệt hại có thể không xảy ra trong một số năm.

    4. Ngăn ngừa thiệt hại

    Ngăn ngừa thiệt hại là hoạt động nhằm làm giảm tính thường xuyên của thiệt hại khi nó xuất hiện. Để ngăn ngừa thiệt hại thiệt hại cần xác định nguồn gốc thiệt hại. Có hai nhóm nhân tố chính đó là nhóm nhân tố môi trường đầu tư và nhân tố về nội tại dự án. Một số biện pháp ngăn ngừa như phát triển hệ thống an toàn, đào tạo lại lao động, thuê người bảo vệ.

    5. Giảm bớt thiệt hại.

    Chương trình giảm bớt thiệt hại là việc chủ đầu tư, bộ quản lý dự án sử dụng các biện pháp đo lường, phân tích, đánh giá lại rủi ro một cách liên tục và xây dựng các kế hoạch để đối phó, làm giảm mức thiệt hại khi nó xảy ra và khi không thể chuyển dịch thiệt hại thì việc áp dụng biện pháp này không phù hợp.

    6. Chuyển dịch rủi ro.

    Chuyển dịch rủi ro là biện pháp, trong đó một bên liên kết với nhiều bên khác để cùng chịu rủi ro. Biện pháp chuyển dịch rủi ro giống phương pháp bảo hiểm ở chỗ: độ bất định về thiệt hại được chuyển từ cá nhân sang nhóm nhưng khác ở chỗ bảo hiểm không chỉ đơn thuần bao gồm chuyển dịch rủi ro mà còn giảm được rủi ro thông qua dự đoán thiệt hại bằng luật số lớn trước khi nó xuất hiện.

    7. Bảo hiểm

    Theo quan điểm của nhà quản lý bảo hiểm thì bảo hiểm là sự chuyển dịch rủi ro theo hợp đồng. Từ bên quan điểm xã hội, bảo hiểm không chỉ đơn thuần là việc chuyển dịch rủi ro mà còn làm giảm rủi ro vì nhóm người có rủi ro tương tự nhau tự nguyện tham gia bảo hiểm đã cho phép dự đoán mức độ thiệt hại trước khi nó xuất hiện. Bảo hiểm là công cụ quản lý rủi ro phù hợp khi khả năng thiệt hại thấp nhưng mức thiệt hại có thể rất nghiêm trọng.

    Chương trình quản lý rủi ro cần được xem xét đánh giá lại thường xuyên. Vì môi trường kinh doanh và đầu tư luôn thay đổi. Mỗi sự thay đổi trong kinh doanh có thể nảy sinh khả năng thiệt hại mới. Cần xác định lại thiệt hại, số lượng, nguyên nhân… và chuẩn bị các chương trình quản lý rủi ro thích hợp. Có nhiều chương trình quản lý rủi ro nhưng một nguyên tắc chung là khi lợi ích do chương trình nào đó tạo ra nhỏ hơn chi phí của nó thì nên thay thế bằng một chương trình khác hợp lý hơn.

    Nguồn: GS.TS.NGƯT. Bùi Xuân Phong (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Một Số Biện Pháp Quản Lý Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Trên Địa Bàn Tp. Hồ Chí Minh
  • Các Phương Thức Quản Lý Giảm Thiểu Rủi Ro Do Tín Dụng
  • Phát Triển Văn Hóa Đọc Trong Trường Học
  • Cần Thiết Xây Dựng Văn Hóa Đọc Trong Các Trường Tiểu Học
  • Xây Dựng Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Trường Tiểu Học
  • Quản Lý Rủi Ro Trong Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Điều Gì Làm Cho Quá Trình Quản Lý Sản Phẩm Thành Công?
  • Tầm Quan Trọng Của Quản Trị Sản Xuất Hiệu Quả
  • Top 13 Phần Mềm Quản Lý Học Sinh – Sinh Viên Tốt Nhất Hiện Nay
  • Tổng Quan Về Tài Chính Công Và Quản Lý Tài Chính Công
  • Đặc Điểm Và Các Phương Pháp Quản Lý Tài Chính Công Hiệu Quả
  • “Mất bò mới lo làm chuồng” là một câu ví để phản ánh những trường hợp mà chỉ đến khi sự việc xảy ra rồi thì người ta mới giật mình nhận biết để xử lý. Doanh nghiệp gần đây bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến việc “làm chuồng” thế nào một cách bài bản để không bị “mất bò”. Ngoài ra, “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” cũng là một câu nói cửa miệng của người Việt Nam.

    Mọi doanh nghiệp hoạt động đều hướng tới mục tiêu tạo ra lợi thế cạnh tranh và đem lại giá trị tăng thêm cho những đối tác bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp gắn kết chặt chẽ với hoạt động của mình. Để có thể đạt được mục tiêu đó, doanh nghiệp thường xây dựng cho mình chiến lược hoạt động cùng hàng loạt những chương trình, kế hoạch để thực thi những chiến lược đã được đề ra. Trong quá trình thực thi chiến lược sẽ thường có nhiều rủi ro xảy ra làm ảnh hưởng đến quá trình tiến tới mục tiêu của doanh nghiệp. Hệ thống quản lý rủi ro doanh nghiệp được thiết lập nhằm san lấp những khiếm khuyết này.

    Khái niệm về quản lý rủi ro doanh nghiệp

    Quản lý rủi ro doanh nghiệp ngày nay được coi như là một bộ phận không thể tách rời với chiến lược doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là chiến lược của doanh nghiệp sẽ được xem là không đầy đủ nếu thiếu vắng sự gắn kết với quản lý rủi ro. Một doanh nghiệp da giầy nào đó chẳng hạn bất ngờ phải đối mặt với một vụ kiện chống bán phá giá dẫn tới những thua thiệt trong việc nhận đơn hàng. Nhân công của một nhà máy nào đó bất ngờ đình công làm ngưng trệ sản xuất. Hàng loạt nhân viên giỏi của một công ty nào đó ra đi để chuyển sang doanh nghiệp khác hoặc thành lập công ty riêng .v.v. Những rủi ro đó sẽ làm cho doanh nghiệp bị bất ngờ và dẫn đến thiệt hại ảnh hưởng đến mục tiêu của doanh nghiệp nếu như chúng không được doanh nghiệp lường trước. Tất cả những vấn đề đó đều được thiết kế và soi rọi trong lăng kính của quản lý rủi ro doanh nghiệp.

    Có nhiều loại rủi ro khác nhau được xâm nhập từ bên ngoài doanh nghiệp cũng như phát sinh bên trong doanh nghiệp. Rủi ro thường được phân loại vào những nhóm chính như rủi ro chiến lược, rủi ro hoạt động, rủi ro tài chính, rủi ro quản lý tri thức và rủi ro tuân thủ.

    Mục tiêu hoạt động của quản lý rủi ro doanh nghiệp

    Xây dựng khuôn khổ nhằm giúp doanh nghiệp thực hiện kế hoạch tương lai có tính nhất quán và có thể kiểm soát;

    Tăng cường năng lực trong việc ra quyết định, lập kế hoạch và sắp xếp thứ tự ưu tiên công việc trên cơ sở hiểu biết thấu đáo và chặt chẽ về hoạt động kinh doanh, môi trường kinh doanh, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp;

    Góp phần phân bổ và sử dụng hiệu quả những nguồn lực trong doanh nghiệp;

    Giảm thiểu những sai sót trong mọi khía cạnh của doanh nghiệp;

    Bảo vệ và tăng cường tài sản cũng như hình ảnh doanh nghiệp;

    Phát triển và hỗ trợ nguồn nhân lực và nền tảng tri thức của doanh nghiệp;

    Tối ưu hóa hiệu quả hoạt động.

    Chính sách quản lý rủi ro doanh nghiệp

    Chính sách quản lý rủi ro được xây dựng trong đó xác định phương pháp tiếp cận đối với rủi ro và quản lý rủi ro. Đồng thời chính sách quản lý rủi ro cũng nêu rõ trách nhiệm trong việc quản lý rủi ro trong toàn bộ doanh nghiệp.

    Hội đồng quản trị là người chịu trách nhiệm xác định định hướng chiến lược và cơ cấu cho chức năng quản lý rủi ro doanh nghiệp nhằm đảm bảo hoạt động hiệu quả nhất. Các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp có trách nhiệm trước hết trong việc quản lý rủi ro hàng ngày, gắn kết việc nhận thức và tuyên truyền về quản lý rủi ro trong bộ phận mình công tác. Kiểm toán nội bộ là người đảm bảo rằng công tác quản lý rủi ro được thực thi có hiệu quả thông qua việc đánh giá theo chương trình, kế hoạch của kiểm toán nội bộ.

    Tùy thuộc quy mô của doanh nghiệp có thể thiết lập một bộ phận chuyên trách đảm nhiệm chức năng quản lý rủi ro trong doanh nghiệp. Nhìn chung, nhiệm vụ của bộ phận này cần phải thực hiện bao gồm:

    – Xây dựng chính sách và chiến lược quản lý rủi ro trong doanh nghiệp;

    – Thiết kế định hướng quản lý rủi ro ở cấp độ chiến lược và chức năng;

    – Xây dựng văn hóa nhận thức về rủi ro trong doanh nghiệp trong đó có việc đào tạo về quản lý rủi ro trong doanh nghiệp;

    – Xây dựng chính sách và tổ chức quản lý rủi ro nội bộ đối với các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp;

    – Thiết kế và rà soát quy trình quản lý rủi ro;

    – Xây dựng các quy trình ứng phó với rủi ro trong đó có các chương trình dự phòng và duy trì hoạt động kinh doanh thường xuyên;

    Quy trình quản lý rủi ro được thiết kế mang tính đồng bộ và có sự gắn kết với việc xây dựng và thực thi chiến lược của doanh nghiệp. Về cơ bản, quy trình quản lý rủi ro cần chứa đựng những giai đoạn hay bước công việc cơ bản như xác định rủi ro, mô tả rủi ro, lượng hóa rủi ro, phân tích rủi ro, xếp hạng rủi ro, đánh giá rủi ro, lập báo cáo về rủi ro, xử lý rủi ro, theo dõi và rà soát quy trình trình quản lý rủi ro.

              Những dấu hiệu thường thấy để nhận biết một hệ thống quản lý rủi ro kém hiệu quả:

    – Doanh nghiệp không xây dựng chính sách quản lý rủi ro;

    – Doanh nghiệp không thực hiện  những nỗ lực để ngăn chặn rủi ro;

    – Không có người chịu trách nhiệm quản lý rủi ro trong doanh nghiệp;

    – Quản lý rủi ro không được xác định là vấn đề ưu tiên của doanh nghiệp;

    – Doanh nghiệp ít quan tâm đến rủi ro hoặc quan tâm quá muộn;

    – Không có khuôn khổ đánh giá rủi ro thống nhất trong doanh nghiệp;

    – Doanh nghiệp không gắn kết quản lý rủi ro với những quy trình hay chuỗi giá trị của doanh nghiệp;

    – Doanh nghiệp thực hiện  việc quản lý rủi ro một cách rời rạc;

    – Doanh nghiệp thực hiện quản lý rủi ro một cách thiếu tập trung;

    – Công tác quản lý rủi ro ngày càng bị coi nhẹ trong doanh nghiệp;

    – Không có sự đồng nhất trong cách diễn đạt ngôn ngữ rủi ro trong doanh nghiệp;

    – Thiếu sự trao đổi thông tin về rủi ro trong doanh nghiệp;

    – Hệ thống kiểm soát chiến lược của doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả;

    – Trong doanh nghiệp tồn tại “những vị trí đáng tin cậy” không được kiểm soát

    – Phân công trách nhiệm không phù hợp.

     

    Sưu tầm: Hương Giang

    Nguồn: sesanhpc.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Trị Doanh Nghiệp, Quản Trị Rủi Ro, Kiểm Soát Nội Bộ?
  • Vai Trò Của Quản Trị Rủi Ro Và 8 Loại Rủi Ro Thường Gặp Trong Kinh Doanh
  • Tìm Hiểu Vai Trò Của Quản Trị Rủi Ro Với Doanh Nghiệp
  • Quản Trị Rủi Ro Là Gì ? Vai Trò Của Quản Trị Rủi Ro Trong Doanh Nghiệp
  • Kỹ Năng Quản Trị Rủi Ro
  • Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Khai Thác Các Giá Trị Văn Hóa Ẩm Thực Của Thành Phố Hồ Chí Minh Nhằm Phát Triển Du Lịch
  • Quảng Bá Văn Hóa Ẩm Thực: Không Chỉ Chờ “hữu Xạ Tự Nhiên Hương”
  • Quảng Bá Ẩm Thực Chưa Chuyên Nghiệp
  • Đưa Văn Hóa Ẩm Thực Việt Thành Tài Sản Quốc Gia
  • Khai Thác Giá Trị Văn Hóa Ẩm Thực Gắn Với Phát Triển Du Lịch
  • Đối với các ngân hàng thương mại, quản trị RRTD có ý nghĩa quan trọng. Nguồn: Internet

    Vai trò của quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại

    Quản trị rủi ro tín dụng (RRTD) được hiểu là quá trình nhận dạng, phân tích nhân tố rủi ro, đo lường mức độ rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn triển khai các biện pháp và quản lý các hoạt động tín dụng nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro trong quá trình cấp tín dụng. Trong quản trị RRTD, tối đa hóa lợi nhuận cho sở hữu chủ, trở thành ngân hàng thương mại (NHTM) tốt nhất về quản trị RRTD và sử dụng tài sản trong hoạt động cấp tín dụng là hai mục tiêu cốt lõi.

    Trên cơ sở nguyên tắc chuẩn mực quản trị rủi ro quốc tế, hệ thống quản trị rủi ro vốn tín dụng gồm các vấn đề cơ bản như: Cơ sở pháp lý cho hoạt động cấp tín dụng phải đầy đủ và chuẩn mực; chất lượng nguồn nhân lực trong quản lý rủi ro; xây dựng hệ thống phân khúc thị trường và phân khúc khách hàng; thẩm định và phê duyệt hồ sơ tín dụng; cấu trúc hệ thống các bộ phận tham gia vào việc tìm kiếm khách hàng, xem xét và quyết định tín dụng; xây dựng các quy trình cụ thể, rõ ràng điều chỉnh hoạt động cấp tín dụng; vấn đề cảnh báo sớm; cơ cấu lại khoản nợ và thu hồi nợ.

    Đối với các NHTM, quản trị RRTD có ý nghĩa quan trọng bởi các yếu tố sau:

    Thứ nhất, RRTD là một trong những vấn đề mà tất cả các NHTM phải đương đầu. Phòng ngừa hạn chế RRTD là vấn đề khó khăn, phức tạp bởi lẽ RRTD mang tính tất yếu khách quan, luôn gắn liền với hoạt động tín dụng, đồng thời lại rất đa dạng phức tạp, RRTD thường khó kiểm soát và dẫn đến những thiệt hại, thất thoát về vốn và thu nhập của ngân hàng.

    Thứ hai, nếu như hoạt động phòng ngừa hạn chế RRTD được thực hiện tốt thì sẽ đem lại những lợi ích cho ngân hàng như: giảm chi phí, nâng cao được thu nhập, bảo toàn vốn cho NHTM; tạo niềm tin cho khách hàng gửi tiền và nhà đầu tư; tạo tiền đề để mở rộng thị trường và tăng uy tín, vị thế, hình ảnh, thị phần cho ngân hàng.

    Thứ ba, hoạt động phòng ngừa hạn chế RRTD tốt sẽ đem lại lợi ích cho cả nền kinh tế. Trong thời đại hiện nay, các định chế tài chính có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nếu như một NHTM gặp vấn đề thì ngay lập tức sẽ ảnh hưởng dây chuyền đến các ngân hàng khác. Vì vậy, quản trị RRTD đem lại sự an toàn, ổn định cho thị trường.

    Công tác quản trị RRTD ở NHTM thường được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, từ khâu phát hiện rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát rủi ro và xử lý rủi ro. Cụ thể:

    Phát hiện rủi ro: Nhận diện RRTD là quá trình xác định liên tục và có hệ thống. Bất kỳ khoản vay nào cũng có thể có vấn đề, việc sớm nhận biết vấn đề và có những biện pháp theo dõi nhanh chóng, chuyên nghiệp giúp các vấn đề, tổn thất có thể giảm đến mức thấp nhất. Những dấu hiệu cảnh báo sẽ giúp ngân hàng có thể nhận biết và có giải pháp xử lý sớm các vấn đề một cách hiệu quả. Các dấu hiệu nhận biết phổ biến thường tập trung vào dấu hiệu tài chính và dấu hiệu phi tài chính của khách hàng vay.

    Quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng là một hệ thống những công cụ, chính sách, tiêu chuẩn và biện pháp nhằm ngăn ngừa và xử lý RRTD trong một ngân hàng gồm: Chính sách tín dụng, quy trình tín dụng, bộ máy quản trị RRTD, các giới hạn tín dụng.

    Đo lường RRTD: Đo lường RRTD là việc lượng hóa mức độ các rủi ro cũng như biết được xác suất xảy ra rủi ro, mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra để xem xét khả năng chấp nhận nó của ngân hàng. Đây là cơ sở để ngân hàng đưa ra quyết định cho vay cũng như xây dựng biện pháp ứng phó phù hợp, nhanh chóng với RRTD khi tình trạng này xảy ra. Để đo lường RRTD các ngân hàng thường xây dựng các mô hình thích hợp để lượng hóa các rủi ro.

    Quản lý và kiểm soát RRTD: Quản lý và kiểm soát RRTD là khâu trọng tâm nhất trong công tác quản trị RRTD của một NHTM, đây chính trọng tâm của quy trình RRTD. Quản lý và kiểm soát RRTD là một hệ thống những công cụ, chính sách, tiêu chuẩn và biện pháp nhằm ngăn ngừa và xử lý RRTD trong một ngân hàng: chính sách tín dụng, quy trình tín dụng, bộ máy quản trị RRTD, các giới hạn tín dụng.

    Bốn bước trong quy trình RRTD có quan hệ chặt chẽ lẫn nhau và quyết định rất lớn tới hiệu quả quản trị RRTD. Trong 4 bước này, bước 1 và bước 3 được coi là bước quan trọng nhất, ngân hàng càng chủ động trong quản lý và kiểm soát rủi ro thì càng giảm thiểu được tổn thất trong hoạt động tín dụng. Từ đó, có thể thấy, vấn đề cốt lõi trong quản trị tín dụng ngân hàng chính là đưa ra các giải pháp, cách thức để phát hiện sớm rủi ro. Hiện nay, nhiều ngân hàng đã xây dựng hệ thống cảnh báo sớm rủi ro, thực hiện thẩm định tín dụng, củng cố hệ thống báo cáo thông tin quản trị tín dụng… Đây chính là những cách thức nhằm phát hiện sớm RRTD.

    Tiêu chuẩn mới cho các ngân hàng quốc tế

    Tháng 12/2017, Ủy ban Basel công bố văn bản “Basel III: Hoàn thiện các cải cách sau khủng hoảng”, với việc cải cách một số tiêu chuẩn để thực hiện tính vốn đối với các loại rủi ro như RRTD, rủi ro điều chỉnh định giá tín dụng hay rủi ro hoạt động. Ủy ban Basel đã đưa ra một tiêu chuẩn hoàn toàn mới khi yêu cầu thực hiện tính vốn cho rủi ro hoạt động – phương pháp tiêu chuẩn (SMA), có hiệu lực từ ngày 1/1/2022 đối với các ngân hàng quốc tế. Sự ra đời của tiêu chuẩn này có ảnh hưởng lớn đối với dữ liệu tổn thất nội bộ của ngân hàng cũng như cách thức vận dụng các dữ liệu để mang đến các giá trị kinh doanh và quản lý rủi ro theo chiều sâu.

    Phương pháp SMA dựa trên 3 cấu phần: Chỉ số kinh doanh (BI) – một tham chiếu dựa trên thông tin báo cáo tài chính đối với rủi ro hoạt động; cấu phần chỉ số kinh doanh (BIC), được tính bằng cách nhân chỉ số BI với hệ số biên theo quy mô của BI; hệ số nhân tổn thất nội bộ (ILM), một hệ số nhân quy mô dựa trên mức tổn thất trung bình của ngân hàng trong quá khứ và chỉ số BIC.

    Sự thay đổi này đến từ 3 mục tiêu:

    Thứ nhất, hạn chế các cách áp dụng khác nhau khi tính vốn yêu cầu cho rủi ro hoạt động của các ngân hàng. Trước đây, theo quy định của cơ quan quản lý, ngân hàng có thể lựa chọn một trong nhiều phương pháp khác nhau, ví dụ thực hiện áp dụng phương pháp tiếp cận dựa theo mô hình, trong đó sử dụng nhiều biến khác nhau để xác định và tối ưu vốn rủi ro hoạt động. Giờ đây, với phương pháp SMA, ngân hàng sẽ bị hạn chế hơn trong việc tối ưu vốn rủi ro hoạt động do việc áp dụng một biến duy nhất là ILM, dựa trên lịch sử tổn thất của ngân hàng.

    Thứ hai, mang đến phương pháp tiếp cận chú trọng vào rủi ro hơn bằng cách kết hợp thu nhập ròng và dữ liệu tổn thất trong 10 năm tại ngân hàng.

    Tại Việt Nam, các ngân hàng trong nước và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang thực hiện phương pháp chỉ số kinh doanh tính vốn yêu cầu cho rủi ro hoạt động theo Thông tư số 41/2016/TT-NHNN ban hành tháng 12/2016. Phương pháp chỉ số kinh doanh có thể coi là một dạng giản thể của phương pháp SMA, trong đó hệ số biên để tính BIC là 15% và ILM là 1.

    Việc chú trọng vào tổn thất nội bộ khi xác định các yêu cầu về vốn cho rủi ro hoạt động của ngân hàng mang 2 ý nghĩa quan trọng:

    Hai là, các ngân hàng có cơ hội rất lớn để giảm thiểu vốn cho rủi ro hoạt động trong hiện tại và tương lai thông qua việc chú trọng công tác quản lý và giảm thiểu tổn thất hoạt động hiện có, theo đó giảm thiểu mức độ ảnh hưởng của hệ số ILM trong việc tính toán vốn rủi ro hoạt động.

    Những vấn đề đặt ra trong bối cảnh hội nhập

    Với những vấn đề đặt ra trong giai đoạn hội nhập, Tạp chí Inside (2017) nhận định, ngành Ngân hàng đang ở giai đoạn đỉnh cao thay đổi và tính bất định. Môi trường cạnh tranh đang gia tăng giữa các ngân hàng, phi ngân hàng và các công ty công nghệ tài chính (FinTech). Đồng thời, môi trường kinh tế tăng trưởng thấp và lãi suất thấp đang gây áp lực lên phương thức thu lợi nhuận truyền thống. Vấn đề nợ xấu chưa xử lý dứt điểm vẫn còn hiện hữu là rủi ro lớn của các NHTM Việt Nam. Bên cạnh đó, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với nền tảng là internet kết nối vạn vật, dữ liệu lớn và điện toán đám mây cũng đang tác động và góp phần cải thiện nhanh chóng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của ngành Ngân hàng.

    Với cách nhìn nhận này, cần có khung khổ quản trị rủi ro có tính bao quát đầy đủ và toàn diện nhất. Theo đó, tiêu chuẩn Basel II được coi là tiêu chuẩn hoàn thiện nhất trong quản trị NHTM cần được quán triệt đầy đủ và áp dụng phù hợp.

    Hơn nữa, các loại rủi ro do tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 ảnh hưởng rất lớn đối với vấn đề bảo mật thông tin ngân hàng nên vấn đề về tài khoản khách hàng và bảo vệ cơ sở dữ liệu nội bộ cũng cần đến các giải pháp công nghệ mang tính đón đầu gắn với gia tăng năng lực của đội ngũ và rèn luyện đạo đức nghề nghiệp.

    Bên cạnh đó, một số vấn đề khác cần lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả trong quản trị RRTD ngân hàng, đó là: Hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm RRTD, trong đó, các chỉ số cảnh báo sớm rủi ro cần bao phủ được các nguyên nhân gây ra vỡ nợ chủ yếu cho khách hàng doanh nghiệp như: Triển vọng kinh doanh, tình hình tài chính, khả năng thanh toán, tài sản đảm bảo và hồ sơ tín dụng, những thay đổi về mặt quản lý hoặc chiến lược… Đồng thời, tăng cường sử dụng các chỉ tiêu có thể tính tự động như tỷ lệ sử dụng hạn mức, số ngày quá hạn, độ biến động dòng tiền vào ra… nhằm tăng tính hiệu quả, bảo đảm số liệu cập nhật theo thời gian thực.

    Ngoài ra, các NHTM cần tập trung hoàn thiện và nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng. Bên cạnh các phương pháp truyền thống, các NHTM nên áp dụng phân tích và thẩm định tín dụng sử dụng mô phỏng dòng tiền. Đồng thời, xây dựng chính sách riêng biệt cho các ngành đặc thù và ngành trọng điểm; Tăng cường quản lý và giám sát trước và sau giải ngân, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ ngân hàng…

    1. Cấn Văn Lực (2016), Cơ hội và thách thức đối với ngành Ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2022-2020, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Banking Vietnam 2022”, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, tr 3-5;
    2. Nguyễn Hồng Sơn, Trịnh Thị Thanh Mai, Trần Thị Thanh Tú (2015), Phát triển bền vững ngân hàng Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, tr 92-100;
    3. Trường Đại học Kinh tế (2017), Kỷ yếu hội thảo “Quản trị ngân hàng hiệu quả”, NXB Khoa học- Kỹ thuật;
    4. Đào Thanh Tú (2014). Xây dựng hệ thống quản trị rủi ro hoạt động tại các NHTM Việt Nam, Tạp chí Tài chính, số 6/2014.
    5. Viện Nghiên cứu Ngân hàng và Tài chính Luân Đôn, Quản trị rủi ro trong ngân hàng, truy cập lần cuối cùng ngày 22/8/2017;
    6. Basel Committee on Banking Supervision of Bank for International Settlement (2001), Risk management practices and regulatory capital, truy cập lần cuối cùng ngày 20/8/2017.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Tại Các Ngân Hàng Thương Mại Ở Việt Nam
  • Đề Tài Giải Pháp Tăng Cường Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng, Điểm 8, Hot
  • Luận Văn Giải Pháp Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Cá Nhân Tại Eximbank
  • Bàn Giải Pháp Quy Hoạch Phát Triển Đô Thị
  • Các Giải Pháp Trong Quy Hoạch Thoát Nước, Chống Ngập Tại Đô Thị
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100