Top 14 # Xem Nhiều Nhất Giải Pháp Quản Lý Chất Thải Rắn / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Chất Thải Rắn Là Gì? Giải Pháp Xử Lý Chất Thải Rắn / 2023

Chất thải rắn dùng để chỉ những loại chất thải tồn tại ở dạng rắn. Khi còn hữu dũng hay không còn nhu cầu sử dụng, chúng bị bỏ hoặc thải ra môi trường. Ngoài ra, chất thải rắn thường được gọi là phế liệu.

Chất thải rắn bao gồm:

– Chất thải rắn không cháy được (kim loại, thủy tinh, sành, sứ, đá,…).

– Chất thải rắn cháy được (cao su, giấy, da, thực phẩm, gỗ, rơm,..).

– Chất thải rắn hỗn hợp (tóc, cát, đá cuội, đất,…)

Ngoài ra, dựa trên đặc tính cùng sự ảnh hưởng tới môi trường, chất thải rắn còn được chia thành:

– Chất thải rắn thông thường: là những loại chất thải rắn có hàm các hợp trong đó chưa vượt ngưỡng an toàn, không gây ra các ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người và môi trường. Chất thải rắn thông thường phổ biến là Chai lọ, thủy tinh, giấy báo, cao su, rác sinh hoạt,…

– Chất thải rắn nguy hại: Là những loại chất thải rắn có hàm lượng các hợp chất trong đó vượt ngưỡng an toàn, nguy hiểm, tác động xấu đến sức khỏe con người và môi trường. Chất thải rắn nguy hại phổ biến là đồ điện tử, máy móc phóng xạ, chì, kim tiêm,..

Phân loại chất thải rắn

Chất thải rắn được phân loại theo nhiều cách tùy thuộc vào từng tính chất. Người ta thường phân loại chất thải rắn theo nguồn gốc, thành phần, tính độc hại, công nghệ xử lý,..

Phân loại chất thải rắn theo nguồn gốc

– Chất thải rắn nông nghiệp: Bao bì phân bón, chai lọ đựng thuốc trừ sâu, trấu, rơm rạ,..

– Chất thải rắn công nghiệp: các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp là nơi tạo ra rất nhiều chất thải rắn như: cao su, nhựa, thủy tinh, giấy,…

– Chất thải rắn đô thị: bao gồm chất thải từ chợ, trường học, cơ quan, hộ gia đình,.

– Chất thải sinh hoạt: bao bì thực phẩm, xương, giấy, nhựa,… những rác thải từ các hoạt động sinh hoạt hằng ngày.

Phân loại chất thải rắn theo thành phần hóa học

– Chất thải rắn hữu cơ: chất thải từ các hoạt động nấu ăn, rau củ, thực phẩm, chất thải nông nghiệp,..

– Chất thải vô cơ: Thủy tinh, xi măng, sỏi, đá, thủy tinh, các vật dụng, đồ điện,…

Phân loại chất thải rắn theo tính chất độc hại

– Chất thải rắn thông thường: giấy bào, vải, thủy tinh,..

– Chất thải rắn độc hại: Chất thải từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, y tế,..

Phân loại chất thải rắn theo công nghệ xử lý

– Chất phải phân hủy sinh học, phân thải khó phân hủy sinh học,

– Chất thải cháy được, chất thải không cháy được,

– Chất thải tái chế được: kim loại, cao su, giấy, gỗ…

Tác hại của chất thải rắn

Chất thải rắn nếu không được thu gom và xử sẽ gây ra rất nhiều tác động xấu sức khỏe của con người và môi trường. Một số tác hại của chất thải rắn như:

Ảnh hưởng tới sức khỏe: Hàm lượng chất hữu cơ trong rác thải sinh hoạt hằng ngày rất dễ phân hủy và gây hôi thối, thành môi trường sống lý tưởng cho vi khuẩn gây bệnh có hại. Những nơi tập chung rác thải sinh hoạt là nơi hấp dẫn với ruồi, muỗi, chuột, gián và các loại vi khuẩn gây nhiều chứng bệnh truyền nhiễm cho con người và vật nuôi trong nhà. Chất thải rắn từ các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp cũng rất độc hại. nước thải từ bãi rác độc hại nếu thải ra nguồn nước gây ô nhiễm lây lan. làm ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất, làm mất vệ sinh môi trường và ảnh hưởng tới đời sống mọi người.

Ảnh hưởng tới môi trường đất: Trong rác thải rắn có chứa nhiều các chất độc hại, khi bị đưa vào môi trường đất mà không được xử lý thì những chất độc chứa trong rác thải rắn ngấm vào đất sẽ tiêu diệt nhiều loài sinh vật có ích cho đất như: vi sinh vật, giun, nhiều loài động vật không xương sống, ếch nhái,…làm môi trường đất bị giảm tính đa dạng sinh học và phát sinh nhiều sâu bọ phá hoại cây trồng. Đặc biệt là tình trạng chôn lấp túi nilon, khi mà phải mất tới 100 năm túi nilon mới phân hủy hết được, gây ô nhiễm môi trường đất rất nghiêm trọng.

Ảnh hưởng tới môi trường nước: Nhiều người có thói quen đổ rác ra các ao, hồ, sông suối. Lượng rác này khi phân hủy sẽ làm ô nhiễm nguồn nước. Nếu để rác không đúng chỗ cũng có thể sẽ bị mưa cuốn xuống ao hồ, sông, suối,… Lâu dần những đống rác này sẽ làm giảm diện tích ao hồ, giảm khả năng tự làm sạch của nước gây cản trở các dòng chảy, tắc cống rãnh thoát nước. Hậu quả dẫn đến hệ sinh thái nước trong các ao hồ bị huỷ diệt.

Ảnh hưởng đến môi trường không khí: Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và mưa nhiều ở nước ta là điều kiện thuận lợi cho các thành phần hữu cơ trong rác thải phân huỷ, thúc đẩy nhanh quá trình lên men, thối rữa và tạo nên mùi khó chịu cho con người. Các chất thải khí phát ra từ các quá trình này thường là H2S, NH3, CH4, SO2, CO2.

Ảnh hưởng đến cảnh quan: Rác thải nói chung và chất thải rắn nói riêng nếu vứt bừa bãi, chất đống lộn xộn, không thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý,… sẽ để lại những hình ảnh làm ảnh hưởng rất nhiều đến mỹ quan khu vực đó.

Giải pháp xử lý chất thải rắn

Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp nhiệt

Phương pháp xử lý chất thải rắn bằng cách đốt là công nghệ sử dụng các lò đốt chuyên dụng nhằm xử lý các loại chất thải rắn xây dựng, y tế, sinh hoạt… có khả năng bắt cháy. Qua quá trình phân hủy nhiệt, cấu trúc mang độc tính của chất thải sẽ bị phá vỡ, không còn hoặc ít gây nguy hại hơn.

Khi thực hiện xử lý chất thải rắn bằng phương pháp đốt, người kỹ thuật viên sẽ được trang bị đầy đủ dụng cụ bảo hộ lao động, sau đó sẽ cho trực tiếp chất thải vào lò đốt. Cuối cùng, khí thải thoát ra ngoài sẽ được làm sạch trước khi thải ra môi trường, phần tro, xỉ than trong lò sẽ được đem đi chôn lấp.

Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp chôn lấp

Phải nói rằng, trong số các công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt hiện nay, xử lý chất thải rắn bằng cách chôn lấp là cách làm đơn giản, được nhiều địa phương, thành phố lớn lựa chọn nhất hiện nay.

Để đem lại hiệu quả cao, các hố chôn chất thải rắn phải được xây dựng chắc chắn, đặt tại vị trí cách xa khu dân cư và không bị sụt lún. Bên dưới đáy hố và bên trên miệng hố cần phải được trang bị lớp chống thấm cao cấp nhằm tránh gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và ô nhiễm không khí, cũng như phát sinh côn trùng gây hại.

Xử lý chất thải rắn bằng công nghệ sinh học

Với những chất hữu không độc hại như chất thải rắn xây dựng, sinh hoạt,.. thì áp dụng công nghệ sinh học để giải quyết rất hiệu quả. Nguyên lý hoạt động ban đầu là khử nước, tiếp đến sẽ chuyển hóa chất thải cho đến khi trở thành xốp và ẩm.

Phương pháp công nghệ sinh học sẽ đem lại hiệu quả cao nhất khi được đặt trong môi trường hiếu khí và yếm khí. Cụ thể:

Môi trường hiếu khí: Khi sử dụng các vi sinh vật trong điều kiện có oxi để chuyển đổi chất hữu cơ thành chất vô cơ, đồng thời sản sinh CO2, H2O.

Môi trường yếm khí: Là môi trường không có oxi, cấu trúc rác thải rắn sẽ bị phá hủy, sinh ra các loại khí như CH4, CO2, NH3, N2, H2S,…

Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp khí hóa Plasma

Phương pháp xử lý chất thải rắn bằng khí hóa Plasma là phương pháp được đánh giá cao nhất, tân tiến nhất, hiện đại nhất. Khí hóa Plasma không chỉ là xử lý triệt để chất thải rắn, tiết kiệm diện tích, mà còn có thể tận dụng chất thải thành năng lượng an toàn để cung cấp điện.

Khi thực hiện phương pháp xử lý chất thải rắn bằng khí hóa Plasma, thay vì dùng nhiệt như phương pháp đốt, sẽ có một hệ thống đèn Plasma đốt chất thải trong nhiệt độ từ 3000 đến 7000 và hoàn toàn không có oxi. Chất thải rắn sẽ bị tiêu hủy nhanh chóng mà không sinh ra khỏi hay các chất thải khác.

Ngoài những phương pháp trên, cách tốt nhất để giảm thiểu tác hại do chất thải rắn gây ra là hạn chế tạo ra chất thải rắn. Một số giải pháp để hạn chế là:

– Nghiêm cấm và xử phạt nặng đối với các hành vi đổ chất thải rắn không đúng nơi quy định.

– Tuyên truyền để mọi người đều hiểu rõ nguyên nhân ô nhiễm chất thải rắn và tác hại của nó.

– Nâng cao và siết chặt các thể chế, chính sách bảo vệ môi trường.

– Huy động mọi nguồn vốn, đầu tư tài chính để nâng cao công nghệ xử lý chất thải.

– Tăng cường các hoạt động thu gom, vận chuyển, phân loại và tái chế theo quy định của chính phủ.

Tags: Kỹ thuật xử lý chất thải rắn, Các phương pháp xử lý chất thải rắn, Quy trình xử lý chất thải rắn y tế, Các phương pháp xử lý rác thải, Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp sinh học, Các biện pháp giảm thiểu chất thải rắn, Biện pháp xử lý chất thải nào đang được chú trọng sử dụng, Giáo trình xử lý chất thải rắn

Xây Dựng Nhiều Giải Pháp Quản Lý Chất Thải Rắn / 2023

Trước hết, xử lý ô nhiễm môi trường các bãi rác tập trung ở các huyện, các bãi rác tạm cấp xã.

Cụ thể là xây dựng và bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách Giai đoạn từ nay đến hết năm 2025 cần tập trung xây dựng, sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách và văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh; hướng dẫn áp dụng các cơ chế khuyến khích, xã hội hóa nhằm thu hút, tăng cường đầu tư từ các nguồn ngoài ngân sách vào các công trình xử lý chất thải rắn sinh hoạt, ưu tiên áp dụng công nghệ thân thiện môi trường. Tích hợp nội dung quản lý chất thải rắn tỉnh Bến Tre vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, huyện; trong đó bổ sung mạng lưới các trạm trung chuyển rác. Điều chỉnh giá dịch vụ phù hợp theo điều kiện thực tế, từng bước có lộ trình tiến đến mức thu đủ chi cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt; xây dựng định mức giá cho đơn vị tiếp nhận xử lý rác thải, điều kiện tiêu chuẩn công nghệ, chính sách ưu đãi để kêu gọi đầu tư. Xây dựng quy định (hoặc hướng dẫn) phân loại rác tại nguồn; sổ tay hướng dẫn quản lý rác thải. Kiện toàn hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan thực hiện công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt các cấp, theo hướng cơ quan đầu mối là ngành tài nguyên và môi trường. Thực hiện lồng ghép việc triển khai các nhiệm vụ quản lý chất thải rắn sinh hoạt vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh.

Đầu tư và cải tạo, nâng cấp hệ thống thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn. Trong đó, xử lý ô nhiễm môi trường các bãi rác tập trung ở các huyện, các bãi rác tạm cấp xã, cụ thể là thực hiện xử lý ô nhiễm môi trường, đóng cửa bãi rác xã Tân Thanh huyện Giồng Trôm năm vào 2020 – 2021; nâng cấp, cải tạo và xử lý ô nhiễm bãi rác thị trấn Chợ Lách vào năm 2020 – 2021; cải tạo và xử lý ô nhiễm bãi rác các huyện Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú, Mỏ Cày Nam. Các huyện, thành phố tiến hành rà soát các bãi rác tạm cấp xã, điểm chứa rác gây ô nhiễm môi trường để tiến hành xử lý ô nhiễm và không tiếp nhận rác thải để xóa điểm ô nhiễm. Cùng với đó là xây dựng mạng lưới thu gom rác, trạm trung chuyển rác. Mỗi huyện, thành phố phải thiết lập mạng lưới vận chuyển, trung chuyển rác; xác định các địa điểm xây dựng trạm trung chuyển rác để thực hiện đầu tư xây dựng; việc đầu tư xây dựng trạm trung chuyển rác phù hợp với điều kiện thực tế, đạt theo quy chuẩn kỹ thuật môi trường (QCVN 07-9:2016/BXD), đảm bảo về khoảng cách không ảnh hưởng môi trường đến trường học, dân cư, các cơ quan, đơn vị tiếp giáp. Các huyện, thành phố chỉ đạo, phối hợp với đơn vị dịch vụ thu gom rác tiến hành mở rộng mạng lưới thu gom rác đến các xã trên địa bàn huyện, thành phố, vận chuyển rác đến khu xử lý rác tập trung để xử lý.

Thiết bị thu gom, phương tiện vận chuyển bước đầu Nhà nước hỗ trợ một phần đầu tư các trang thiết bị thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt và từng bước tiến đến xã hội hóa hoàn toàn; các đơn vị thực hiện dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác phải từng bước đầu tư các trang thiết bị thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt đến năm 2025 các phương tiện vận chuyển (xe vận chuyển, xe ép rác, xe đẩy rác) đạt theo quy chuẩn kỹ thuật môi trường và số lượng đáp ứng cho nhu cầu thu gom vận chuyển rác. Các xã, phường, thị trấn bố trí các thùng bỏ rác, thùng phân loại rác (khi có yêu cầu phân loại rác tại nguồn); vị trí bố trí phải có tính toán đảm bảo mỹ quan đô thị, tiện lợi cho người dân bỏ rác đúng nơi quy định.

Xây dựng mô hình phân loại rác tại nguồn; áp dụng hình thức mô hình, đánh giá hiệu quả và nhân rộng; mô hình phân loại rác thải tại nguồn hộ gia đình ở nông thôn với cách xử lý rác thải hữu cơ dễ phân hủy tại chỗ (tại hộ gia đình hoặc cụm), rác thải khó phân hủy như nhựa, túi nilong, thủy tinh… với thu gom phế liệu tái chế được ưu tiên, rác thải còn lại được thu gom vận chuyển đến khu tập trung xử lý; phân loại rác thải sinh hoạt đô thị tại nguồn thực hiện đồng bộ với đầu tư cơ sở hạ tầng, thiết bị thu gom, vận chuyển, công nghệ xử lý và điều kiện thực tế.

Lập dự án xây dựng 01 khu liên hợp xử lý rác thải tập trung, xử lý rác thải cho toàn tỉnh Bến Tre, kêu gọi đầu tư theo hình thức xã hội hóa, xử lý rác theo công nghệ tiên tiến, không sử dụng diện tích đất để chôn lấp, đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường, không gây ảnh hưởng đến người dân sống xung quanh; có chính sách hỗ trợ, khuyến khích người dân gần khu xử lý rác di dời đến chỗ ở mới để tránh bị ảnh hưởng (người dân vẫn sử dụng đất gần khu vực xử lý rác để sản xuất, không sử dụng đất cho ở và nội dung này được xem xét điều chỉnh trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất).

Tuyên truyền và nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường, xây dựng chương trình, tài liệu, sổ tay tổ chức tuyên truyền, tập huấn và bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ các cấp ngành và nhân dân về bảo vệ môi trường đối với rác thải sinh hoạt; phát động các phong trào thu gom, xử lý rác.

Phổ biến, hướng dẫn các tổ chức, hộ gia đình thực hiện phân loại, thu gom chuyển rác thải sinh hoạt đến đúng nơi quy định; tham gia bảo vệ môi trường công cộng và dân cư. Giáo dục cho học sinh các cấp về bảo vệ môi trường bằng hình thức lồng ghép vào các chương trình giáo dục, sinh hoạt ngoại khóa; triển khai các mô hình thiết thực bảo vệ môi trường tại các điểm sinh hoạt, nhà trường để giáo dục học sinh.

Ngân sách cấp tỉnh hỗ trợ đối với công tác xử lý ô nhiễm môi trường (dự án khắc phục ô nhiễm môi trường nghiêm trọng) theo dự án được cấp thẩm quyền phê duyệt. Các nội dung chi khác cho công tác quản lý, xử lý chất thải, các hoạt động bảo vệ môi trường (ngoài nội dung đã được ngân sách tỉnh hỗ trợ) được thực hiện theo phân cấp quản lý ngân sách nhà nước hiện hành. Ngân sách nhà nước hỗ trợ: chi phí phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải phát sinh từ cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng; hỗ trợ bù chi phí theo đơn giá cho các đơn vị thu gom, vận chuyển và xử lý rác. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia xã hội hóa trong lĩnh vực phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải; thu hút dự án đầu tư xử lý rác thải trên địa bàn tỉnh.

Nâng cao chất lượng công tác thẩm định, phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường, thẩm định công nghệ, xác nhận các công trình bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành của các cơ sở xử lý chất thải. Phối hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa Sở Tài nguyên và Môi trường, lực lượng Cảnh sát môi trường và Ủy ban nhân dân các cấp trong thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý đối với các đơn vị thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt hoạt động trên địa bàn tỉnh có hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường; đồng thời tăng cường giám sát, phát hiện và xử lý đối với hộ gia đình, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường (kể cả hành vi vứt rác, xả rác ra môi trường, bỏ rác không đúng nơi quy định,…).

Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường nhằm tái chế chất thải, giảm chôn lấp, đảm bảo quy chuẩn quốc gia về môi trường; có suất đầu tư, chi phí xử lý, vận hành, bảo dưỡng hệ thống xử lý rác thải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện nay. Tổ chức thẩm định, đánh giá và phổ biến công nghệ tái chế, xử lý chất thải đáp ứng được yêu cầu về bảo vệ môi trường; gắn kết chặt chẽ các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ của các viện nghiên cứu, trường đại học có thể áp dụng vào thực tế cho tỉnh. Tìm kiếm hợp tác quốc tế trong việc tiếp nhận, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ mới, công nghệ tiên tiến; trong học tập, trao đổi kinh nghiệm, đào tạo nguồn nhân lực về phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm, xử lý chất thải thông qua các các chương trình, đề tài, dự án hợp tác quốc tế.

Giải Pháp Cụ Thể Trong Quản Lý Tổng Hợp Chất Thải Rắn / 2023

(Xây dựng) – Điều chỉnh chiến lược quốc gia của Thủ tướng Chính phủ về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 sẽ tiến đến tái chế và xử lý bằng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường và phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, hạn chế khối lượng chất thải rắn phải chôn lấp đến mức thấp nhất.

Gắn với quan điểm quản lý tổng hợp chất thải rắn là quản lý toàn bộ vòng đời chất thải từ khi phát sinh đến khi xử lý cuối cùng, bao gồm phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý cuối cùng nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên, thích ứng với biến đổi khí hậu và hướng tới sự phát triển bền vững của đất nước.

Đây cũng được coi là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trong đó Nhà nước có vai trò chủ đạo, được thực hiện trên cơ sở tăng cường đầu tư, đẩy mạnh xã hội hóa, huy động tối đa mọi nguồn lực, đáp ứng nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, theo đó các tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách nhiệm đóng góp kinh phí, khắc phục, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Việc quản lý tổng hợp chất thải rắn được thực hiện liên vùng, liên ngành đảm bảo sự tối ưu về kinh tế, kỹ thuật, an toàn về xã hội và môi trường, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và gắn với các quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch quốc gia.

Các chất thải rắn phát sinh phải được quản lý theo hướng coi là tài nguyên, được phân loại, thu gom phù hợp với công nghệ xử lý được lựa chọn và khuyến khích xử lý chất thải thành nguyên liệu, nhiên liệu, các sản phẩm thân thiện môi trường, xử lý chất thải kết hợp với thu hồi năng lượng, tiết kiệm đất đai và phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của từng địa phương, vùng và đất nước.

Hệ thống quản lý chất thải rắn đồng bộ, bao gồm xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn, công tác thu gom, vận chuyển trên cơ sở công nghệ phù hợp. Thực hiện đầu tư cho quản lý chất thải rắn phải có trọng tâm, trọng điểm và ưu tiên cho từng giai đoạn cụ thể, tránh dàn trải, kém hiệu quả.

Tầm nhìn tới năm 2050: Tất cả các loại chất thải rắn phát sinh đều được thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý bằng những công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường và phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, hạn chế khối lượng chất thải rắn phải chôn lấp đến mức thấp nhất.

Hoàn thiện các quy định hướng dẫn về phương pháp định giá dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, phấn đấu đến năm 2025 thu đủ chi phí thu gom, vận chuyển và đến năm 2050 bù đắp được 50% cho chi phí xử lý. Đồng thời cũng bổ sung và hướng dẫn thực hiện các chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt.

Tăng cường nghiên cứu khoa học, hiện đại hóa công nghệ và sản xuất thiết bị tái chế, xử lý chất thải rắn giúp đẩy mạnh việc thực hiện các chương trình nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ trọng điểm cấp quốc gia, cấp Bộ về quản lý tổng hợp chất thải rắn, chú trọng việc hoàn thiện dây chuyền công nghệ, thiết bị trong nước để thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn.

Rà soát, điều chỉnh để lập các kế hoạch đầu tư, phát triển cơ sở xử lý chất thải rắn theo quy hoạch đã được phê duyệt, xác định nhu cầu đầu tư, các dự án ưu tiên đầu tư và các nhiệm vụ theo từng giai đoạn của quy hoạch hoặc kế hoạch của từng địa phương.

Thực hiện từ cấp quản lý Nhà nước nhưng vẫn cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng ở các trường học, cộng đồng dân cư, các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ về giảm thiểu, phân loại tại nguồn, tái chế, tái sử dụng chất thải rắn, thải bỏ chất thải rắn đúng nơi quy định.

Hà Đào

Theo

Link gốc:

Quản Lý Chất Thải Rắn Vùng Ven Đô: Thực Trạng Và Giải Pháp / 2023

Đặc điểm vùng ven đô các thành phố lớn, về mặt địa lý đó là khu vực cận kề với thành phố nhưng nó không tồn tại độc lập mà nằm trong miền liên thông nông thôn – ven đô – đô thị. Vùng ven đô là không gian giao diện nằm giữa đô thị và nông thôn, nên vừa mang tính chất đô thị vừa mang tính chất nông thôn. Vùng ven đô theo quan niệm truyền thống là khu vực hẹp nằm xung quanh đô thị lõi trung tâm, nhưng theo quan niệm mới là vùng rộng lớn bao trùm nhiều địa bàn nằm xung quanh đô thị lõi trung tâm đô thị lớn. Đô thị hóa vùng ven đô là quá trình tất yếu mở rộng đô thị lõi trung tâm đến khu vực nông thôn.

Trong những năm qua tốc độ đô thị hóa nhanh và mạnh mẽ, việc mở rộng các đô thị lớn đã và đang thôn tính các vùng liền kề đô thị đồng thời làm thay đổi bộ mặt các làng ven đô, phá vỡ cấu trúc làng xóm cũ, biến nhiều làng, xóm ven đô trở thành khu ở đô thị, tổ chức không gian nửa đô thị, nửa nông thôn, chiều rộng và kết cấu mặt đường của đường làng, ngõ, xóm có nhiều thay đổi, kiến trúc, kiểu dáng nhà ở thay đổi mang dánh dấp đô thị nhiều hơn, ao, hồ và nhiều không gian trống được san lấp để xây dựng công trình, cơn sốt đất đai liên tục diễn ra.

CTR LÀ KẺ THÙ CỦA ĐÔ THỊ HÓA

Chất thải rắn là kẻ thù của đô thị hóa, là nguyên nhân gây ô nhiễm đất và nước. Chất thải rắn đô thị ngày càng diễn biến phức tạp, công tác quản lý chưa hiệu quả,CTR phát sinh từ các nguồn:Sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, y tế, thương mại, dịch vụ và sinh hoạt đô thị đang ngày càng tăng nhanh về chủng loại, số lượng và tính độc hại. Cơn lốc đô thị hóa khiến các vùng ven đô mật độ dân cư tăng nhanh, tốc độ xây dựng lớn làm cho hệ thống hạ tầng như đường giao thông, cấp, thoát nước… quá tải, nguồn nước bị ô nhiễm, ùn tắc giao thông, nguồn sống bị đe dọa. Nhiều khu vực, vùng ven đô khi nhập vào nội thành vẫn còn trắng về hạ tầng kỹ thuật.

Hầu hết các làng xóm của Việt Nam nói chung, đặc biệt các làng ven đô trước đây không có bãi rác mà chỉ có nghĩa trang, có nghĩa là phần lớn rác thải được tái sinh và tái sử dụng ngay trong từng hộ gia đình. Trong quá trình mở rộng và đô thị hóa, rác thải đủ thành phần đang tăng dần, từ nội địa đưa ra, từ ngay chính bản thân khu vực này, mặc dù trên thực tế nhiều làng ven đô đã hình thành các dịch vụ mang tính đô thị như thu gom rác thải, vận chuyển đổ vào nơi quy định, nhưng khối lượng quá lớn, tỷ lệ thu gom thấp, tồn đọng nhiều. Ngoài ra người dân vẫn còn tập quán xả rác bừa bãi mà ở đây không chỉ là thói quen tùy tiện, ý thức cố hữu, chưa chuyển đổi kịp thời sang lối sống đô thị… mà còn là những bất hợp lý trong việc thu gom rác thải và quản lý lỏng lẻo của các cấp chính quyền địa phương.

Mặc dù vậy, trong những năm gần đây, chương trình xây dựng nông thôn mới đã cókết quả nhất định, nhiều làng xóm nông thôn có nhiều thay đổi, nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật được xây dựng, bộ mặt nông thôn từng bước được đổi mới, đời sống của người dân được nâng cao. Tuy nhiên khách quan nhìn nhận công tác quản lý CTR sinh hoạt vẫn còn là một vấn đề nan giải.

H1: Rác thải được tập kết bừa bãi

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CTR VÙNG VEN ĐÔ

Lượng CTR sinh hoạt phát sinh ở Việt Nam: hiện nay khoảng 25,5 triệu tấn/năm, trong đó CTR sinh hoạt đô thị khoảng 38.000 tấn/ngày và CTR sinh hoạt nông thôn – khoảng 32.000 tấn/ngày.

Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt đô thị: đã tăng từ 78% năm 2008 lên 86-86,5% năm 2019 . Dịch vụ thu gom đã được mở rộng tới các đô thị loại V. Một số đô thị đặc biệt, đô thị loại I như TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng có tỷ lệ thu gom khu vực nội thành đạt 100%. Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại khu vực nông thôn mới đạt khoảng 40-55%. Tỷ lệ thu gom tại các vùng ven đô đạt tỷ lệ cao hơn, khoảng 60-80%.

Tỷ lệ tái chế CTR sinh hoạt: hiệnvẫn còn thấp, khoảng 8-12% CTR sinh hoạt đô thị và 3,24% đối với CTR sinh hoạt vùng nông thôn . Một số công nghệ tái chế chất thải như chế biến phân vi sinh, viên nhiên liệu hay đốt thu hồi năng lượng, đốt phát điện cũng đã được triển khai. Việc chế biến, thu hồi năng lượng, phát điện từ chất thải mới chỉ bước đầu được triển khai mặc dù tiềm năng rất lớn.

Xử lý và công nghệ xử lý: Hiện nay, phương pháp chính trong xử lý CTR vẫn là chôn lấp; ước tính 70-75% CTR sinh hoạt đang được xử lý theo phương pháp này. Bên cạnh đó, xử lý CTR bằng hình thức đốt cũng được thực hiện ở nhiều nơi với 02 dạng chủ yếu là lò đốt rác hóa lỏng và công nghệ đốt chất thải thu hồi năng lượng.Vấn đề lựa chọn công nghệ xử lý CTR tối ưu vẫn đang là bài toán thách thức đối với các nhà quản lý và các nhà khoa học trong khi hiện chưa có mô hình công nghệ xử lý CTR sinh hoạt hoàn thiện đạt được cả các tiêu chí về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường . Các công nghệ xử lý CTR của Việt Nam chưa thực sự hiện đại và hầu hết có quy mô nhỏ. Hầu hết công nghệ xử lý chất thải rắn nhập khẩu hầu như không phù hợp với thực tế CTR tại Việt Nam do chưa được phân loại tại nguồn, nhiệt trị của CTR sinh hoạt thấp, độ ẩm không khí cao… Còn các công nghệ xử lý CTR chế tạo trong nước lại chưa đồng bộ và hoàn thiện nên chưa thể phổ biến và nhân rộng.

Mô hình tổ chức thu gom, vận chuyển và xử lý CTR vùng ven đô: (1) Mô hình thu gom tự quản do dân tự tổ chức: Đây là hình thức phổ biến ở các vùng nông thôn, do người dân tự thỏa thuận và cử người thu gom cho 1 xóm hoặc 1 cụm dân cư. (2) Mô hình thu gom do xã, thôn tổ chức được sự quan tâm của chính quyền địa phương như hỗ trợ về phương tiện thu gom, nhiều địa phương đã qui hoạch được điểm tập kết, bãi chôn lấp rác. (3) Mô hình hợp tác xã (HTX) dịch vụ VSMT đây là mô hình được coi là hoạt động khá hiệu quả ở nông thôn. (4) Mô hình công ty Môi trường đô thị (MTĐT): Một số vùng ven đô, các công ty Môi trường đô thị đã mở rộng dịch vụ thu gom rác thải cho các các xã lân cận. Công ty có thể làm dịch vụ trọn gói từ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải hoặc chỉ vận vận chuyển và xử lý. Kinh phí hoạt động của công ty từ nguồn thu phí của dân và ngân sách của thành phố. Hiện chỉ có một số rất ít các xã ven các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh đang thực hiện theo mô hình này.

QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CTR VÙNG VEN ĐÔ

Quan điểm

Quan điểm và mục tiêu quản lý CTR vùng ven đô tuân thủ theo quan điểm quản lý đã được quy định tại QĐ số 491/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm2025 tầm nhìn đến 2050 đó là:

Về quan điểm quản lý: (1) Quản lý tổng hợp chất thải rắn là quản lý toàn bộ vòng đời chất thải từ khi phát sinh đến khi xử lý cuối cùng, bao gồm phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý cuối cùng nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên, thích ứng với biến đổi khí hậu và hướng tới sự phát triển bền vững của đất nước; (2)Chất thải rắn phát sinh phải được quản lý theo hướng coi là tài nguyên, được phân loại, thu gom phù hợp với công nghệ xử lý được lựa chọn; khuyến khích xử lý chất thải thành nguyên liệu, nhiên liệu, các sản phẩm thân thiện môi trường, xử lý chất thải kết hợp với thu hồi năng lượng, tiết kiệm đất đai và phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của từng địa phương, vùng và đất nước.

Về mục tiêu quản lý đến 2025: Về chất thải rắn sinh hoạt nông thôn nói chung và ven đô nói riêng cần đạt: (1) 80% lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại khu dân cư nông thôn tập trung được thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tự xử lý, xử lý tập trung đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường; tận dụng tối đa lượng chất thải hữu cơ để tái sử dụng, tái chế, làm phân compost hoặc tự xử lý tại các hộ gia đình thành phân compost để sử dụng tại chỗ; (2) 95% các bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn đã đóng cửa được cải tạo, xử lý, tái sử dụng đất; phấn đấu 100% các bãi chôn lấp chất thải tự phát không thuộc quy hoạch phải được xử lý đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường;

Giải pháp về phân loại, thu gom và xử lý CTR sinh hoạt

Phân loại, thu gom, vận chuyển CTR sinh hoạt (CTRSH): – CTRSH phát sinh từ hộ gia đình do các hộ tự phân loại và mang đến các điểm gom rác của khu dân cư theo quy định. – CTRSH phát sinh từ nhà hàng, khách sạn, trung tâm thương mại, cơ quan, trường học… được phân loại thu gom và vận chuyển đến trạm trung chuyển theo quy định…

Xử lý CTR sinh hoạt: Do sự đa dạng của CTR tại các khu dân cư ven đô cả về số lượng, chủng loại cũng như thành phần CTR với tỷ lệ CTR hữu cơ khá cao nên các giải pháp xử lý CTR hướng tới giảm thiểu, tái chế và tải sử dụng CTR theo từng điều kiện cụ thể của địa phương. Các giải pháp có thể là: (1) Xử lý ngay tại hộ gia đình; (2) Xử lý tại điểm tập kết CTR sinh hoạt tại các thôn, xã hoặc tại các trạm trung chuyển; (3) Xử lý tập trung tại các khu xử lý theo quy hoạch và (4) Xử lý phân tán..

Giải pháp về cơ chế, chính sách:

– Nghiên cứu xây dựng và ban hành các cơ chế chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho công tác thu gom, vận chuyển, đầu tư xây dựng và quản lý, vận hành các cơ sở xử lý chất thải phù hợp với điều kiện phát triển của vùng ven đô có liên kết với đô thị và các khu dân cư nông thôn liền kề. – Đẩy mạnh xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển và vận hành cơ sở xử lý chất thải rắn; tăng dần nguồn thu từ giá dịch vụ vệ sinh; Rà soát sửa đổi bổ sung và ban hành định mức, đơn giá thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn.

Giải pháp về công nghệ:

Nghiên cứu phát triển công nghệ xử lý chất thải rắn theo hướng giảm thiểu lượng chất thải rắn chôn lấp, tăng cường tỷ lệ tái chế, tái sử dụng và thu hồi năng lượng từ chất thải.

Tăng cường nghiên cứu, chuyển giao công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường để xử lý, tái chế chất thải rắn.

Đẩy mạnh việc xây dựng các mô hình điểm về xử lý, tái chế, tái sử dụng và thu hồi năng lượng từ chất thải rắn nhằm lựa chọn các mô hình phù hợp với vùng ven đô để nhân rộng.

Giải pháp về tổ chức, quản lý, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng:

Kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị trong đó có quản lý CTR vùng ven đô thống nhất từ Trung ương đến địa phương theo hướng giao cho cơ quan quản lý xây dựng và phát triển đô thị quản lý.

Rà soát, quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân từ cấp tỉnh tới cấp huyện, cấp xã; trách nhiệm các cơ quan chuyên môn; trách nhiệm của tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp; trách nhiệm của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; trách nhiệm của cộng đồng dân cư trong công tác quản lý chất thải.

Xây dựng một chương trình truyền thông nhằm tuyên truyền giáo dục người dân có lối sống văn minh đô thị, nâng cao ý thức giữ gìn môi trường, tự giác giữ gìn vệ sinh đô thị, tham gia tích cực vào các hoạt động bảo vệ môi trường là thiết thực bảo vệ chính môi trường sống của mình và của cộng đồng.

KẾT LUẬN

Quản lý chất thải rắn ven đô đang là vấn đề cấp thiết và cấp bách trong công tác quản lý xây dựng và phát triển đô thị hiện nay.Quản lý chất thải rắn vùng ven đô chỉ có được thành công cần phải có một giải pháp đồng bộ từ cơ chế chính sách, huy động nhiều nguồn lực của xã hội tham gia, vai trò và trách nhiệm của các Bộ, ngành đặc biệt của chính quyền các địa phương và vai trò quan trọng không thể thiếu đó là sự tham gia của cộng đồng dân cư.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Luật Bảo vệ môi trường 2014 2. Chính phủ, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 về Quản lý chất thải và phế liệu. 3. Thủ tướng Chính phủ (2018), QĐ số 491/QĐ-TTg ngày 7/5/2018: Phê duyệt điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025 tầm nhìn đến 2050. 4. Lê Cường (2015), Mô hình và Giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt khu ven đô đô thị trung tâm thành phố Hà Nội đến năm 2030, Luận án Tiến sĩ. 5. Nguyễn Hồng Tiến (2015), Quy hoạch& Hạ tầng kỹ thuật, Nhà xuất bản Hồng Đức – ISBN 978 604 86 6147 2.