Top 20 # Xem Nhiều Nhất Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Bảo Hiểm Nhân Thọ / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Luận Án: Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ / 2023

, DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Download luận án tóm tắt với đề tài: Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam, cho các bạn làm luận án tham khảo

7. 7 (SPBH). Tuy nhiên, xét trên góc độ quản trị kinh doanh, có thể định nghĩa một cách đơn giản: SPBH là sản phẩm mà DNBH bán. Như vậy, sản phẩm BHPNT là sản phẩm mà doanh nghiệp kinh doanh BHPNT bán trên thị trường. Nhìn chung các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ cũng như các sản phẩm bảo hiểm nói chung có các đặc điểm cơ bản sau: – Là sản phẩm không định hình. – Là sản phẩm có hiệu quả “xê dịch” – Là sản phẩm “không mong đợi” – Là sản phẩm của “chu kỳ kinh doanh đảo ngược” – Là sản phẩm dễ bắt chước 1.2.4.2 Các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ Theo đối tượng bảo hiểm, các sản phẩm BHPNT được chia thành 3 nhóm: – Nhóm các sản phẩm bảo hiểm tài sản – Nhóm các sản phẩm bảo hiểm TNDS – Nhóm các sản phẩm bảo hiểm con người (hay còn được gọi là bảo hiểm tai nạn cá nhân và chi phí y tế) Ngoài ra, tùy thuộc vào nội dung và ý nghĩa khi triển khai, các sản phẩm bảo hiểm có thể được chia thành: sản phẩm bảo hiểm bắt buộc và sản phẩm tự nguyện; sản phẩm bảo hiểm riêng lẻ và bảo hiểm trọn gói; hoặc phân chia sản phẩm bảo hiểm theo nhóm nghiệp vụ bảo hiểm như: bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm máy bay… 1.2.5 Các nhân tố ảnh hƣởng tới sự phát triển của thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ 1.2.5.1 Môi trường pháp lý Hoạt động của thị trường bảo hiểm không thể nằm ngoài khuôn khổ pháp luật của mỗi quốc gia. Nó không chỉ đơn thuần là việc các công ty bảo hiểm trên thị trường phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật, mà chính điều này đảm bảo cho các công ty được cạnh tranh một cách công bằng và lành mạnh trên thị trường, bảo đảm cho quyền lợi của người tham gia bảo hiểm, từ đó thúc đẩy thị trường phát triển. 1.2.5.2 Môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội Sự phát triển kinh tế của quốc gia là nhân tố quan trọng tiếp theo ảnh hưởng đến thị trường bảo hiểm phi nhân thọ. Trước hết kinh tế phát triển, tức các ngành sản xuất, dịch vụ phát triển, dẫn đến các nhu cầu về bảo hiểm cũng tăng. Ngoài ra, khi kinh tế phát triển, đời sống của người dân được nâng cao, nhu cầu về ăn ở mặc được đáp ứng đầy đủ, thì nhu cầu được bảo vệ trở nên quan trọng. Bên cạnh yếu tố kinh tế, các yếu tố văn hoá xã hội cũng có tác động đáng kể đến sự phát triển của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ như: dân số, trình độ dân trí, văn hóa tiêu dùng… 1.2.5.3 Môi trường kinh tế quốc tế Xu hướng toàn cầu hoá đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay có sự ảnh hưởng lớn lao đến sự phát triển của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ. Việc mở cửa và hội nhập còn tạo nhiều cơ hội khác cho các công ty bảo hiểm trong nước như tiếp cận công nghệ bảo hiểm tiên tiến, tiếp cận thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, hội nhập quốc tế cũng tạo nhiều thách thức đối với sự phát triển của thị trường bảo hiểm trong nước như cạnh tranh khốc liệt hơn từ thị trường nước ngoài, mất sự bảo trợ của Nhà nước…

8. 8 1.2.5.4 Năng lực của DNBH Sự phát triển của thị trường BHPNT luôn gắn liền với năng lực của DNBH trong việc cung cấp các sản phẩm bảo hiểm ra thị trường. Năng lực của DNBH được thể hiện trên các mặt: năng lực tài chính; năng lực marketing; năng lực tổ chức, điều hành và trình độ cán bộ. 1.2.5.5 Vai trò của Hiệp hội bảo hiểm Hiệp hội bảo hiểm có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của thị trường bảo hiểm. Hiệp hội trước hết là cầu nối giữa cơ quan quản lý Nhà nước với các DNBH. Bên cạnh đó, là tổ chức đại diện cho các DNBH, hiệp hội bảo hiểm có thể phát huy sự liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp nhằm xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, nghiên cứu và phát triển các sản phẩm bảo hiểm mới, tổ chức đào tạo cho toàn thị trường. Hiệp hội còn là trung tâm cung cấp thông tin và tuyên truyền chung cho các DNBH. 1.2.5.6 Điều kiện kinh tế và nhận thức của khách hàng Khi điều kiện kinh tế của con người càng nâng cao, nhu cầu của họ cũng tăng lên theo các cấp bậc. Vì nhu cầu về bảo hiểm nằm trong cấp độ nhu cầu “an toàn”, ở mức cao hơn nhu cầu cơ bản, nên khi điều kiện kinh tế còn thấp, người dân trước hết còn phải lo đến cái ăn, cái mặc sẽ không có điều kiện để lo đến việc mua bảo hiểm. Khi điều kiện kinh tế tốt hơn, người dân sẽ có điều kiện tài chính để mua bảo hiểm. Nhận thức về sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm có ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định lựa chọn sản phẩm bảo hiểm để thoả mãn nhu cầu. Đây là quy luật nói chung không chỉ riêng với sản phẩm bảo hiểm. Thậm chí bảo hiểm còn bị chi phối nhiều hơn bởi bảo hiểm là sản phẩm vô hình, là sản phẩm không mong đợi. 1.2.6 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ 1.2.6.1 Chỉ tiêu phản ánh năng lực của thị trường bảo hiểm – Số lượng các DNBH đang hoạt động kinh doanh trên thị trường (1.1) – Số lượng trung gian bảo hiểm (1.2) – Số lượng các sản phẩm bảo hiểm (1.3) – Quy mô vốn của thị trường (1.4) 1.2.6.2 Chỉ tiêu phản ánh quy mô thị trường – Số lượng hợp đồng bảo hiểm (1.5) – Số tiền bảo hiểm (1.6) – Doanh thu phí bảo hiểm (1.7) 1.2.6.3 Đóng góp của thị trường bảo hiểm vào các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước – Đóng góp vào GDP (1.9) – Tạo công ăn việc làm (1.10) – Bù đắp thiệt hại tài chính do rủi ro gây ra (1.11) – Tái bảo hiểm nhằm phát triển quan hệ hợp tác quốc tế và bảo vệ thị trường trong nước: + Phí nhượng (nhận) TBH (1.12) + Phí nhượng (nhận) TBH trong nước, và Phí nhượng (nhận) (1.13) + TBH ra nước ngoài. (1.14) – Giá trị tái đầu tư trở lại nền kinh tế (1.15) – Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm

9. 9 + Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí (1.16) + Hiệu quả theo doanh thu: (1.17) + Hiệu quả theo lợi nhuận: (1.18) – Hiệu quả hoạt động đầu tư: + Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tài chính tổng hợp: (1.19) + Tỷ suất lợi nhuận đầu tư:: (1.20) Hệ thống các chỉ tiêu trên là các chỉ tiêu định lượng phản ánh sự phát triển của thị trường BHPNT. Tuy nhiên, mặc dù là các chỉ tiêu định lượng, nhưng đó là sự thể hiện kết quả phát triển của thị trường về mặt chất lượng. 1.3 MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu có đề cập tới sự phát triển của một số thị trường bảo hiểm trên thế giới như Mỹ, Pháp, Đài Loan, và đặc biệt là các nước Asean như Thái lan, Malaysia, luận án nhận thấy rằng muốn phát triển thị trường BHPNT cần giải quyết các vấn đề cơ bản sau đây: Thứ nhất, hoàn thiện khung khổ pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ. Bao gồm các nội dung cơ bản sau: – Quy định về đăng ký và cấp giấy phép kinh doanh: – Quy định về nội dung hoạt động: – Quy định về vốn pháp định và các khoản ký quỹ: – Quy định về dự phòng nghiệp vụ, biên khả năng thanh toán – Quy định về biểu phí và hoa hồng bảo hiểm: – Các quy định khác Thứ hai, thiết lập được một cơ quan quản lý bảo hiểm với đầy đủ quyền lực để thực thi chức năng và quyền lực của mình, được sự thừa nhận và bảo vệ của pháp luật. Thứ ba, tạo sự cạnh tranh hợp lý cho thị trường bảo hiểm phi nhân thọ theo hướng đa dạng hoá về hình thức sở hữu, bảo đảm cơ cấu hài hoà giữa các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước và nước ngoài. Thứ tư, tạo cơ chế kiểm tra giám sát hoạt động của các công ty bảo hiểm một cách có hiệu quả, tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, đảm bảo thị trường phát triển bền vững.

10. 10 CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM (GIAI ĐOẠN 2006 -2010) 2.1 KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM Do đặc điểm lịch sử của nước ta, sự hình thành và phát triển của thị trường BHPNT Việt Nam đến nay được chia và tóm tắt thành 4 giai đoạn: – Giai đoạn 1964-1974 – Giai đoạn 1975-1993 – Giai đoạn 1994- 2005 – Giai đoạn 2006-2010 2.2 TRỰC TRẠNG THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM (GIAI ĐOẠN 2006-2010) 2.2.1 Điều kiện kinh tế – xã hội Việt Nam Giai đoạn 2006-2010 là giai đoạn mà tình hình kinh tế-xã hội Việt Nam tiếp tục phát triển và tương đối ổn định mặc dù thế giới có nhiều biến đổi và bất ổn cả về mặt kinh tế và chính trị xã hội. Đây là những điều kiện tiền đề hết sức quan trọng đối với sự phát triển của thị trường BHPNT trong giai đoạn này cũng như những năm về sau. Một số chỉ tiêu quan trọng được luận án đề cập tới là: GDP, Sản xuất công nghiệp, Sản xuất nông nghiệp, Xuất nhập khẩu, Đầu tư phát triển, Dân số, Thu nhập dân cư, và Giáo dục. 2.2.2 Thực trạng thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam 2.2.2.1 Quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động thị trường a. Luật kinh doanh bảo hiểm b. Các Nghị định c. Các Thông tư d. Các đề án, chiến lược Ngoài ra, khi thực hiện kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm, các DNBH còn chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật khác của Việt Nam như: Bộ Luật dân sự, Luật Hàng hải Việt Nam. 2.2.2.2 Quản lý nhà nước đối với hoạt động của thị trường BHPNT Theo quy định, Bộ tài chính là cơ quan trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm nói chung, kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng, trong đó có các DNBH phi nhân thọ. Trước đây, Bộ Tài chính có Phòng quản lý bảo hiểm thuộc Vụ Tài chính Ngân hàng thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm. Năm 2003, Phòng quản lý bảo hiểm được tách ra thành lập Vụ Bảo hiểm. Trước những yêu cầu mới, do sự phát triển nhanh chóng của thị trường bảo hiểm Việt Nam và xu hướng hội nhập quốc tế, năm 2009 Vụ bảo hiểm đã được chuyển thành Cục quản lý, giám sát bảo hiểm. 2.2.2.3 Phân tích các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Luận án phân tích sự phát triển của thị trường BHPNT ở Việt Nam trên cơ sở hệ thống các chỉ tiêu được xây dựng ở chương 1. Do hạn chế về số liệu, có một số chỉ tiêu luận án không thể tính toán và phân tích được (Ví dụ: chỉ tiêu phản ánh quy mô thị trường như số lượng hợp đồng bảo hiểm,

11. 11 số tiền bảo hiểm; chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh bảo hiểm và đầu tư tài chính như tỷ suất lợi nhuận trên vốn…). Tuy nhiên, việc không tính toán và phân tích được một số chỉ tiêu này có ảnh hưởng không đáng kể đến kết quả phân tích chung của luận án. (1) Năng lực của thị trường bảo hiểm – Số lượng các doanh nghiệp BHPNT hoạt động trên thị trường Nếu như trước năm 1994 ở Việt Nam chỉ có một doanh nghiệp BHPNT thì đến năm 2006 là 22 doanh nghiệp. Năm 2008 thị trường vẫn tiếp tục được mở rộng và phát triển với sự tham gia thị trường của các DNBH như Công ty Cổ phần Bảo hiểm Hàng không, Bảo hiểm Than Khoáng sản. Đến năm 2010 số doanh nghiệp hoạt động trên thị trường là 30 doanh nghiệp, trong đó có 29 DNBH gốc và một doanh nghiệp TBH thuộc các thành phần kinh tế khác nhau: doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp TNHH, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Bảng 2.9 : Số lƣợng các DNBH trên thị trƣờng BHPNT (2006-2010) Năm 2006 2007 2008 2009 2010 Số lƣợng DNBH gốc 21 22 27 28 29 Số lƣợng doanh nghiệp TBH 1 1 1 1 1 Tổng 22 23 28 29 30 (Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam) – Số lượng trung gian bảo hiểm Bên cạnh sự gia tăng về số lượng các DNBH, số lượng các trung gian bảo hiểm là đại lý và môi giới bảo hiểm cũng tăng lên. Nếu như năm 2004 số lượng doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là 6 công ty, năm 2007 là 8 công ty, thì đến năm 2010 con số này là 11 công ty (trong đó có 6 công ty cổ phần trong nước và 4 công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài). Bảng 2.10: Số lƣợng các DNMGBH ở Việt Nam Năm 2004 2006 2008 2009 2010 Số lƣợng DNMGBH 6 8 8 10 11 (Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam) Đại lý BHPNT cũng không ngừng được tăng lên và đa dạng hóa về hình thức, đặc biệt là đại lý tổ chức như ngân hàng, bưu điện, hội phụ nữ. Hầu hết các DNBH, dù ít hay nhiều, đều triển khai hoạt động Bancassurance, nhất là đối với các DNBH lớn như Bảo Việt, hay các DNBH thuộc ngân hàng như ABIC, BIC. Năm 2009 số lượng đại lý bảo hiểm phi nhân thọ là 37.561 người, tăng 3,69% so với năm 2008. Năm 2010 con số này là khoảng 42.000 người. – Số lượng các sản phẩm bảo hiểm triển khai trên thị trường Thị trường BHPNT Việt Nam đã triển khai được hầu hết các sản phẩm bảo hiểm cơ bản bao gồm cả bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người và bảo hiểm TNDS. Hiện nay theo phân loại của Cục quản lý, giám sát bảo hiểm và Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, các sản phẩm BHPNT được chia thành 11 nhóm. Năm 2004 số lượng sản phẩm BHPNT được bán trên thị trường là 413 (trong đó chủ yếu là sản phẩm bảo hiểm tài sản với 290 sản phẩm), đến năm 2010 con số này đã tăng lên khoảng 620 sản phẩm. – Quy mô vốn của thị trường Quy mô vốn của các DNBH và thị trường càng tăng, năng lực tài chính của thị trường tăng và khả năng bảo vệ của thị trường đối với nền kinh tế xã hội cũng tăng lên. Số lượng bảng 2.12 cho thấy, năm 2004 vốn chủ sở hữu của thị trường là trên 3.000 tỷ đồng, đến năm 2010 là 11.027 tỷ đồng

12. 12 tăng gấp 3,65 lần. Bảng 2.12: Quy mô vốn chủ sở hữu của thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ Năm 2004 2008 2010 Quy mô vốn chủ sở hữu (tỷ đồng) 3.020 8.615 11.027 Tăng so với năm 2004 (lần) – 2,85 3,65 (Nguồn: Ban bảo hiểm phi hàng hải, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam) (2) Quy mô thị trường Bảng 2.13 cho thấy, doanh thu phí và tốc độ tăng doanh thu phí của toàn thị trường BHPNT Việt Nam giai đoạn 2006-2010. Tốc độ tăng doanh thu phí cao nhất là năm 2007 với 31%. Tính chung cho cả giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng bình quân năm của thị trường là 25,4%. Bảng 2.13: Doanh thu phí bảo hiểm thị trƣờng BHPNT (2006-2010) Năm 2006 2007 2008 2009 2010 Doanh thu phí bảo hiểm (tỷ đ) 6.381 8.360 10.887 13.644 17.052 Tốc độ tăng (%) 16 31 30 25 25 (Nguồn:Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam) – Tạo công ăn việc làm Số liệu bảng 2.18 cho thấy, tổng số lao động làm việc trong lĩnh vực BHPNT là 83.017 người, cán bộ nhân viên bảo hiểm là 17.017 người, đại lý bảo hiểm là 66.000 người. Bảng 2.18: Lao động làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ năm 2010 Đơn vị: người Tổng số lao động Số lƣợng cán bộ, nhân viên Số lƣợng đại lý 83.017 17.017 66.000 (Nguồn: Dự thảo chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011-2020 ) Ngành bảo hiểm đang được coi là một trong những ngành “nóng” thu hút lực lượng lao động lớn, có chất lượng cao. Điều này xuất phát từ việc số lượng các DNBH mới được cấp giấy phép hoạt động tăng lên; các DNBH đã thành lập thì mở rộng mạng lưới hoạt động đến khắp các tỉnh thành; thậm chí tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ chí Minh có tới 3 công ty thành viên của cùng một công ty bảo hiểm. – Bù đắp thiệt hại tài chính do rủi ro gây ra Với vai trò là “tấm lá chắn” cho nền kinh tế, thị trường BHPNT đã góp phần quan trọng trong việc bù đắp các thiệt hại tài chính cho các tổ chức và cá nhân trong xã hội do rủi ro gây ra. Năm 2006 số tiền bồi thường của toàn thị trường là 2.495 tỷ đồng; đến năm 2010 con số này là 6.384 tỷ đồng, tăng gấp gần 3 lần so với năm 2007 (bảng 2.19). Tỷ lệ bồi thường các năm nhìn chung dao động quanh con số 40%. Bảng 2.19: Tình hình bồi thƣờng bảo hiểm gốc toàn thị trƣờng (2006-2010) Năm 2006 2007 2008 2009 2010 STBT (tỷ đồng) 2.495 3.228 4.511 5.272 6.384 Tốc độ tăng (%) 15,72 29,38 39,75 16,87 21,09 Tỷ lệ bồi thƣờng bq (%) 39,09 38,62 41,43 38,64 37,44 (Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam)

13. 13 – Bảo vệ hoạt động bảo hiểm gốc và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế thông qua hoạt động tái bảo hiểm Bảng 2.21: Tình hình nhƣợng TBH của thị trƣờng BHPNT (2006-2010) Năm 2006 2007 2008 2009 2010 1. Tổng phí nhƣợng TBH (tỷ đ) 2.491 3.528 4.220 5.103 6.314 1.1 Phí nhƣợng TBH ngoài nƣớc 1.504 2.082 2.603 3.292 4.128 1.2 Phí nhƣợng TBH trong nƣớc 987 1.446 1.617 1.811 2.186 2. Phí nhƣợng TBH /phí BH gốc (%) 39,04 42,20 38,76 37,40 37,03 3. Tỷ lệ phí nhƣợng TBH ra ngoài nƣớc so với phí BH gốc (%) 23,57 24,90 23,91 24,13 24,20 (Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam) Số liệu bảng 2.21 cho thấy, tổng phí nhượng TBH qua các năm là tăng dần, năm 2006 đạt 2.491 tỷ đồng, đến năm 2010 con số này là 6.314 tỷ đồng. Trong đó phí bảo hiểm chủ yếu được nhượng tái ra nước ngoài. Năm 2010 phí nhượng tái ra nước ngoài là 4.128 tỷ đồng, chiếm 65,35% tổng phí nhượng tái, phí nhượng tái trong nước chỉ chiếm 34,65%. Tỷ lệ phí nhượng TBH ra nước ngoài của thị trường BHPNT trung bình trong 5 năm qua là 24,14%. Bảng 2.22 cho thấy tình hình nhận TBH của thị trường BHPNT. Năm 2010 phí nhận TBH là 1.340 tỷ đồng, trong đó phần nhận từ trong nước là chủ yếu, 975 tỷ đồng chiếm 72,76%; phần nhận TBH từ nước ngoài là 365 tỷ đồng chiếm 27,24%. Bảng 2.22: Tình hình nhận TBH của thị trƣờng BHPNT (2006-2010) Đơn vị: tỷ đồng Năm 2006 2007 2008 2009 2010 Tổng phí nhận TBH 557 717 787 1.000 1.340 Phí nhận TBH ngoài nƣớc 100 147 140 179 365 Phí nhận TBH trong nƣớc 457 570 647 821 975 (Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam) – Giá trị tái đầu tư trở lại nền kinh tế Đầu tư tài chính là hoạt động không thể thiếu đối với các DNBH. Với nguồn vốn lớn từ vốn chủ sở hữu và các quỹ DPNVBH, các DNBH đang tham gia tích cực vào thị trường tài chính Việt Nam. Tổng giá trị đầu tư trở lại nền kinh tế của thị trường BHPNT năm 2007 là 11.125 tỷ đồng; đến năm 2010 là 23.000 tỷ đồng, gấp 2 lần so với năm 2007 (bảng 2.23). Phần lớn các DNBH đều đã thành lập Phòng đầu tư hoặc Ban đầu tư riêng biệt. Tính đến năm 2010, đã có Bảo Việt, Bảo Minh thành lập Công ty môi giới chứng khoán. Bên cạnh đó, Bảo Việt còn thành lập được ngân hàng, quỹ đầu tư, công ty đầu tư. Có thể nói thị trường BHPNT đã góp phần nhất định vào việc phát triển thị trường tài chính ở Việt Nam. Bảng 2.23: Giá trị đầu tƣ trở lại nền kinh tế của thị trƣờng BHPNT (2007-2010) Năm 2007 2008 2009 2010 Giá trị đầu tƣ (tỷ đồng) 11.125 15.179 17.585 23.000 Tốc độ tăng (%) – 36,44 15,85 30,79 (Nguồn: Cục quản lý, giám sát bảo hiểm)

14. 14 (4) Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm Sự phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm không thể tách rời với việc kinh doanh có hiệu quả của các DNBH. Xét về hiệu quả kinh doanh chung cho toàn bộ hoạt động kinh doanh (bao gồm cả hoạt động kinh doanh bảo hiểm, hoạt động đầu tư và hoạt động khác), các DNBH đều có lãi. Tuy nhiên, nếu tính riêng cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm Theo số liệu của Bộ Tài chính, năm 2008 có đến 16 DNBH trong tổng số 25 doanh nghiệp hoạt động bị thua lỗ về nghiệp vụ bảo hiểm, tổng số lỗ nghiệp vụ bảo hiểm toàn thị trường là 163 tỷ đồng. Sang năm 2009, con số cũng không sáng sủa hơn với 10 doanh nghiệp có lãi, với số lãi của từng DNBH từ 1 tỷ đến 52 tỷ đồng, nhưng tổng thị trường lỗ nghiệp vụ bảo hiểm tới trên 200 tỷ đồng. Hậu quả là các doanh nghiệp BHPNT phải lấy lãi từ đầu tư tài chính bằng vốn chủ sở hữu, trong đó có thặng dư vốn phát hành cổ phiếu, và dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm để bù đắp. Từ đó cổ tức chia cho cổ đông thấp, kém hấp dẫn trên thị trường chứng khoán. Với tỷ lệ bồi thường chung của toàn thị trường trong 5 năm qua là 39,04% (so với Thái lan là 50%), việc kinh doanh bảo hiểm của các doanh nghiệp không hiệu quả là một vấn đề lớn đặt ra cho thị trường BHPNT nước ta. 2.2.2.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển của thị trường BHPNT a. Kết quả đạt được (1) Thị trường phát triển đáng kể, từng bước đáp ứng được yêu cầu phát triển và ổn định nền kinh tế Thị trường BHPNT trong thời gian qua luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao so với tốc độ tăng GDP. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường giai đoạn 2006-2010 tăng bình quân 25%/năm. Khá cao so với các nước trong khu vực, như Thái lan là 10%. Thị trường BHPNT có đóng góp đáng kể trong việc khắc phục những thiệt hại do rủi ro gây ra cho các tổ chức và cá nhân trong xã hội. Tổng số tiền bồi thường tăng liên tục qua các năm, năm 2010 tổng số tiền bồi thường đạt 6.384 tỷ đồng. Bên cạnh đó, thị trường BHPNT tạo lập được nguồn vốn lớn cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội với giá trị đầu tư trở lại cho nền kinh tế năm 2010 là 23.000 tỷ đồng. Số lượng lao động trong ngành bảo hiểm trước năm 1999 chỉ có 30.000 người, đến năm 2009 đã lên tới 182.319 người và năm 2010 là trên 200.000 người (bao gồm cả BHNT và BHPNT). (2) Cấu trúc thị trường ngày càng được hoàn chỉnh hơn Năng lực “cung” của thị trường BHPNT từng bước tăng lên đáp ứng yêu cầu phát triển của thị trường. Trước năm 1993, thị trường chỉ có duy nhất Bảo Việt, thì đến hết năm 2010 trên thị trường đã có 28 DNBH gốc, 01 doanh nghiệp tái bảo hiểm và 10 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm. Nội dung và lĩnh vực hoạt động của các DNBH được mở rộng; số lượng sản phẩm bảo hiểm gia tăng và chất lượng dịch vụ được dần cải thiện. Năng lực tài chính của thị trường tăng nhanh. Việc thành lập Cục quản lý, giám sát bảo hiểm Việt Nam cho thấy công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm được chú trọng, nhằm đảm bảo cho thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển theo đúng mục tiêu và định hướng của nhà nước đặt ra. Kể từ khi ra đời đến nay, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng vào việc phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam. (3) Thị trường bước đầu đã hội nhập với thị trường bảo hiểm khu vực và quốc tế Việt Nam tích cực tham gia Diễn đàn các cơ quan quản lý bảo hiểm ASEAN. Mục tiêu của

16. 16 (2) Thị trường đang tiềm ẩn những yếu tố rủi ro mất ổn định Thị trường BHPNT Việt Nam phát triển với tốc độ cao trong những năm qua nhưng cũng đang tiềm ẩn rủi ro mất ổn định thông qua số lượng các DNBH đang bị thua lỗ kinh doanh bảo hiểm. Theo Hiệp hội bảo hiểm Việt nam, bình quân trên thị trường có đến 80%-85% số lượng chi nhánh của mỗi doanh nghiệp BHPNT có kết quả kinh doanh là con số âm. Trên các diễn dàn, câu nói về thị trường bảo hiểm Việt nam “càng làm càng lỗ” đã trở thành quen thuộc. Xét trong thời gian ngắn việc lỗ này là có thể chấp nhận được, nhưng nếu tình trạng này kéo dài thì sự đổ vỡ của thị trường là điều có thể xảy ra và kéo theo những hậu quả khôn lường: DNBH mất khả năng chi trả, người mua bảo hiểm không được đền bù hoặc đền bù không đầy đủ, sản xuất kinh doanh, đời sống người dân không được ổn định kịp thời sau rủi ro… (3) Thị trường phát triển chưa cân đối và đồng bộ Thị trường BHPNT nước ta trong thời gian qua tăng trưởng nhanh nhưng phát triển chưa cân đối và đồng bộ, từ đó làm hạn chế vai trò của thị trường đối với sự phát triển chung của nền kinh tế nước nhà. Sự phát triển không cân đối và đồng bộ đó được thể hiện ở cả chiều rộng và chiều sâu: – Thị trường phát triển mới chỉ tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn. Đại bộ phận người dân ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa không có điều kiện được tiếp cận với các loại hình bảo hiểm. – Sản phẩm bảo hiểm tuy có nhiều nhưng khá giống nhau và vẫn còn thiếu trong một số lĩnh vực, khu vực của thị trường. Nhiều sản phẩm nhu cầu thị trường là lớn nhưng chưa đáp ứng được, nhất là các sản phẩm bảo hiểm phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội, phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp như bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính, bảo hiểm nghề nghiệp y dược, luật sư… – Trên thị trường hiện nay có 30 DNBH, con số chưa phải là nhiều so với các nước trong khu vực (ví dụ Thái lan là 71 công ty bảo hiểm gốc và 2 công ty tái bảo hiểm), nhưng tình trạng DNBH chuyên ngành cạnh tranh không lành mạnh đang ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của thị trường. – Thị trường vẫn chưa có sự tham gia của các tổ chức bảo hiểm tương hỗ mặc dù đã có cơ sở pháp lý cho việc thành lập loại hình tổ chức bảo hiểm này. Trong khi đó, với đặc thù phương thức sản xuất và đặc thù văn hóa xã hội, hoạt động sản xuất nông nghiệp ở nông thôn Việt Nam hoàn toàn phù hợp cho bảo hiểm tương hỗ hình thành và phát triển. – Thị trường bảo hiểm Việt Nam tuy mở cửa nhưng, điều này mới diễn ra theo một chiều từ bên ngoài vào. Các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam chỉ tập trung khai thác thị trường trong nước, chưa có kế hoạch thâm nhập thị trường nước ngoài, đặc biệt là trong khu vực ASEAN. – Mặc dù đã có 10 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt động trên thị trường BHPNT, song hoạt động của các doanh nghiệp này chủ yếu mới dừng lại ở việc thu xếp bảo hiểm, đặc biệt là các DNMGBH trong nước. Khối lượng dịch vụ khai thác qua môi giới bảo hiểm cũng còn chiếm tỷ trọng nhỏ. (4) Thị trường phát triển chưa mang tính chuyên nghiệp Thị trường BHPNT thời gian qua mới chỉ được chú trọng phát triển về mặt số lượng mà chưa được quan tâm đầy đủ về mặt chất lượng. Các DNBH chủ yếu cạnh tranh bằng cách hạ phí, mở rộng điều khoản thái quá, sử dụng sức ép hành chính để ép mua bảo hiểm và trả hoa hồng quá cao. Trong khi đó các biện pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hiểm thông qua hoàn thiện các khâu khai thác, giám định bồi thường chưa được chú trọng đúng mức.

18. 18 CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM 3.1 ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2020 3.1.1 Những thuận lợi và khó khăn 3.1.1.1 Thuận lợi Về kinh tế: Trong 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2001- 2010, Việt Nam đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động tiêu cực của hai cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế khu vực và toàn cầu, đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Nhiều mục tiêu chủ yếu của Chiến lược 2001-2010 đã được thực hiện, đạt bước phát triển mới cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất. Kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26%/năm. Đây là những điều kiện tiền đề hết sức quan trọng đối với sự phát triển của thị trường BHPNT ở tất cả các loại hình bảo hiểm: tài sản, TNDS, con người. Về văn hóa-xã hội: Trên cơ sở xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật; dự kiến đến năm 2020, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao của thế giới; tốc độ tăng dân số ổn định ở mức khoảng 1%; tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi; đạt 9 bác sĩ và 26 giường bệnh trên một vạn dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; lao động qua đào tạo đạt trên 70%, đào tạo nghề chiếm 55% tổng lao động xã hội; tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân 1,5- 2%/năm; phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng được bảo đảm. Thực tế này sẽ góp phần quan trọng cho sự phát triển của thị trường BHPNT nước ta. Về kinh tế quốc tế: Quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nền kinh tế nước nhà sẽ giúp các DNBH trong nước sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận với các đối tác là tổ chức kinh doanh bảo hiểm nước ngoài có uy tín, có kinh nghiệm, có tiềm lực tài chính mạnh để hợp tác chuyển giao công nghệ, tăng cường năng lực tài chính, chuyển nhượng tái bảo hiểm và phát triển hoạt động kinh doanh 3.1.1.2 Khó khăn Về kinh tế: Sự phát triển chưa đồng bộ, chưa có sự gắn kết giữa các mảng thị trường tài chính Việt Nam cũng sẽ có những tác động tiêu cực tới sự phát triển của thị trường BHPNT. Một khi chính sách lãi suất còn chưa ổn định; chính sách phát hành trái phiếu chính phủ (TPCP) còn bất cập; tổ chức niêm yết và giao dịch chứng khoán trên thị trường upcom chưa hiệu quả, thị trường TPCP chưa chuyên biệt hóa;… sẽ ảnh hưởng hoạt động đầu tư của các DNBH, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đến kết quả và hiệu quả kinh doanh chung của DNBH. Về văn hóa xã hội: Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có một số mặt yếu kém chậm được khắc phục, nhất là về giáo dục, đào tạo và y tế; đạo đức, lối sống trong một bộ phận xã hội xuống cấp. Môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng; tài nguyên, đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác và sử dụng kém hiệu quả, chính sách đất đai có mặt chưa phù hợp. Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển. Nền tảng để Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa được hình thành đầy đủ. Vẫn đang tiềm

19. 19 ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị – xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia. Những điều này sẽ tiềm ẩn những nguy cơ đe dọa tới sự ổn định và hiệu quả kinh doanh của các DNBH. Về kinh tế quốc tế: Việc thực hiện các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường bảo hiểm nói chung, thị trường BHPNT nói riêng sẽ tạo áp lực cạnh tranh ngày càng tăng đối với các DNBH trong nước. Năng lực hoạt động của các DNBH trong nước còn nhiều hạn chế, khả năng tài chính chưa thực sự vững mạnh, công nghệ quản trị điều hành còn lạc hậu, trình độ đội ngũ cán bộ bảo hiểm chưa cao và thiếu kinh nghiệm thực tiễn,… là các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các DNBH này. 3.1.2 Mục tiêu phát triển thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Theo dự thảo Chiến lược, mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm nói chung, thị trường BHPNT nói riêng trong giai đoạn tới dự kiến đặt ra như sau: Mục tiêu chung: Chiến lược phát triển TTBH Việt Nam giai đoạn 2011-2020 cần đạt được các mục tiêu cơ bản sau: – Thị trường bảo hiểm tiếp tục phát triển toàn diện, bền vững, đóng góp quan trọng vào sự ổn định và tăng trưởng kinh tế đất nước; phát huy mạnh mẽ vai trò là tấm lá chắn an toàn của nền kinh tế-xã hội trước các nguy cơ rủi ro và là kênh huy động vốn hữu hiệu cho đầu tư phát triển. – Thị trường bảo hiểm phát triển phù hợp với điều kiện thực tiễn và định hướng phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng bộ với sự phát triển của các thị trường dịch vụ tài chính khác; tiếp cận với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, từng bước hội nhập với thị trường bảo hiểm trong khu vực và trên thế giới. – Nhà nước tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và thực hiện quản lý thị trường bảo hiểm bằng pháp luật, phát huy vai trò của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam nhằm tạo nền tảng và động lực cho các DNBH, DNMGBH phát triển. Mục tiêu cụ thể: – Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm, nâng cao tỷ trọng dịch vụ bảo hiểm trên GDP: Nâng tỷ trọng đóng góp của ngành bảo hiểm trong GDP lên khoảng 3% năm 2015 và 4% năm 2020. Theo như cơ cấu hiện nay, BHPNT sẽ đóng góp khoảng một nửa (1,5% vào năm 2015 và 2% vào năm 2020) Phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân doanh thu phí bảo hiểm đạt 18-20% trong giai đoạn 2011-2020, trong đó: tăng trưởng bảo hiểm phi nhân thọ bình quân đạt 29-30%; tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ bình quân đạt 16-18%; tăng trưởng môi giới bảo hiểm bình quân đạt 20-25%, tỷ trọng phí bảo hiểm (phi nhân thọ) được thu xếp qua môi giới chiếm 20%. – Ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế-xã hội Đáp ứng yêu cầu bồi thường và trả tiền bảo hiểm nhanh chóng và đầy đủ, bảo đảm ổn định tài chính cho nền kinh tế và cuộc sống dân cư trước các rủi ro. Phấn đấu nâng tổng nguồn vốn đầu tư trở lại nền kinh tế đạt 150.000 tỷ đồng vào năm 2015 (tăng khoảng 2 lần so với năm 2010) và đạt 300.000 tỷ đồng vào năm 2020 (tăng khoảng 3,5 lần so với năm 2010). Theo như cơ cấu trong những năm qua, thị trường BHPNT sẽ đóng góp khoảng gần 50%, còn lại là của thị trường BHNT. – Tạo thêm công ăn việc làm và tăng thu cho ngân sách nhà nước Tiếp tục mở rộng mạng lưới phân phối sản phẩm một cách sâu rộng, qua đó góp phần tạo thêm việc làm cho xã hội. Theo số liệu mà luận án có được từ Tổng thư ký Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, một số chỉ tiêu dự báo về thị trường BHPNT, trong đó có dự báo về nguồn nhân lực bảo hiểm

22. 22 những chính sách điều chỉnh phù hợp, kịp thời. 3.3.3 Nâng cao năng lực quản lý và giám sát bảo hiểm của Nhà nƣớc Nâng cao năng lực quản lý và giám sát nhà nước đối với thị trường bảo hiểm nhằm mục đích đảm bảo thị trường hoạt động và phát triển theo đúng các quy định pháp luật, các định hướng phát triển thị trường đã được đặt ra. Công tác quản lý, giám sát của Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm cần phải được thực hiện toàn diện, trên cơ sở nền tảng pháp luật có vận dụng kết hợp các loại công cụ quản lý, giám sát khác. Việc quản lý giám sát phải dựa trên hệ thống các chỉ tiêu khách quan, phù hợp với yêu cầu thực tiễn kinh doanh bảo hiểm của nước ta và các nguyên tắc chuẩn mực quốc tế. Để làm được những điều trên, năng lực quản lý của Cục quản lý, giám sát bảo hiểm cần phải được tăng cường trên tất cả các mặt: trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý, trình độ tổ chức bộ máy quản lý, trình độ và khả năng áp dụng công nghệ thông tin quản lý. Cụ thể: – Nâng cao trình bộ chuyên môn của cán bộ quản lý nhà nước – Tăng cường quản lý nhà nước thông qua công tác giám sát từ xa và giám sát tại chỗ – Hoàn thiện mô hình quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm 3.3.4 Nâng cao năng lực bảo hiểm của các DNBH Việc nâng cao năng lực bảo hiểm cho các DNBH cần phải được thực hiện đồng bộ trên các mặt: – Nâng cao năng lực tài chính thông qua tăng vốn – Chú trọng đến công tác quản lý rủi ro – Phát triển sản phẩm bảo hiểm mới – Mở rộng địa bàn hoạt động và đa đạng hóa kênh phân phối – Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền – Nâng cao chất lượng dịch vụ ở từng khâu triển khai nghiệp vụ – Nâng cao trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực 3.3.5 Nâng cao vai trò của Hiệp hội bảo hiểm – Xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả với cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm – Sử a đổi, bổ sung Điều lê ̣Hiê ̣p hội bảo hiểm Viê ̣t Nam cho phù hợp với điều kiện mới – Nghiên cứu đến năm 2015 có thể tách riêng Hiệp hội các nhà bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm nhân thọ và môi giới bảo hiểm 3.3.6 Nâng cao nhận thức của ngƣời dân về bảo hiểm Với một thị trường bảo hiểm đầy tiềm năng nhưng tỷ lệ được khai thác thấp (bảng số liệu 2.23) có một phần lý do quan trọng là do nhận thức của người dân về bảo hiểm chưa có hoặc có nhưng không đầy đủ, trong khi bảo hiểm là một sản phẩm dịch vụ “khó”. Phần lớn lỗi ở đây thường được cho là do các DNBH chưa làm tốt công tác thông tin tuyên truyền vì họ là người cung cấp dịch vụ bảo hiểm. Tuy nhiên, nếu nói như vậy là một chiều, bởi bản thân khách hàng, với tư cách là người tiêu dùng, cũng phải tự trang bị kiến thức và có sự hiểu biết để tiêu dùng một cách khôn ngoan nhất. Chính vì vậy, nâng cao nhận thức của người dân về bảo hiểm một mặt là nhiệm vụ quan trọng của các DNBH, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam; mặt khác cũng là trách nhiệm và quyền lợi của bản thân người dân với tư cách là người tiêu dùng. Lúc này vai trò của Hiệp hội người tiêu dùng, của các hội ngành nghề (như hiệp hội các nhà XNK trong việc mua bảo hiểm hàng hóa XNK), của các tổ chức hội

23. 23 đoàn thể (như hội phụ nữ, hội nông dân) trong việc giáo dục kiến thức bảo hiểm là rất quan trọng. 3.3.7 Giải pháp khác Phát triển thị trường BHPNT phải gắn liền với phát triển “cầu” của thị trường là tất yếu khách quan. Trong khi đó, “cầu” của thị trường phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế-xã hội chung của đất nước và điều kiện cụ thể của từng khách hàng. Với khách hàng cá nhân, đó là điều kiện hoàn cảnh gia đình như thu nhập, số con, độ tuổi con cái, nghề nghiệp, học thức…Với khách hàng là tổ chức đó là đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, năng lực của tổ chức, tư duy của người lãnh đạo…Chính vì vậy, phát triển kinh tế nước nhà là tiền đề quan trọng để kích “cầu” trên thị trường. Hoạt động của thị trường BHPNT có thể nói phục vụ cho mọi hoạt động của nền kinh tế: hoạt động XNK có bảo hiểm hàng hóa XNK; hoạt động giao thông vận tải có bảo hiểm máy bay, bảo hiểm tàu hỏa, bảo hiểm xe cơ giới; hoạt động xây dựng lắp đặt có bảo hiểm xây dựng lắp đặt…Chính vì vậy sự phối kết hợp giữa ngành bảo hiểm với các ngành nghề trong nền kinh tế là cần thiết. Sự phối kết hợp có hiệu quả sẽ đem lại nhiều lợi ích: lợi ích cho ngành bảo hiểm, lợi ích cho người mua bảo hiểm và lợi ích quốc gia.

24. 24 KẾT LUẬN Với đề tài nghiên cứu “Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam”, luận án đã đạt được những kết quả chủ yếu sau: (1) Hệ thống hoá và làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về bảo hiểm và thị trường bảo hiểm phi nhân thọ gồm: Tổng quan về bảo hiểm thương mại và BHPNT; thị trường BHPNT, đặc điểm và cấu trúc hoạt động của thị trường BHPNT; các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường BHPNT; hệ thống các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của thị trường BHPNT; và một số bài học kinh nghiệm quốc tế về phát triển thị trường BHPNT. Đây là cơ sở lý luận cho việc phân tích thực trạng phát triển của trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam giai đoạn 1994-2004. Có thể nói, đóng góp mới quan trọng của luận án về mặt lý luận là nghiên cứu và trình bày được các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường BHPNT, và hệ thống chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của thị trường BHPNT (2) Phân tích thực trạng phát triển thị trường BHPNT Việt Nam giai đoạn 2006- 2010. Mặc dù có nhiều biến động, đặc biệt là sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, nhưng nhìn chung các điều kiện kinh tế xã hội Việt nam vẫn khá thuận lợi cho sự phát triển của thị trường BHPNT: GDP và thu nhập bình quân đầu người vẫn tăng qua các năm, kim nghạch XNK, giá trị sản xuất công nghiệp, nông nghiệp tăng liên tục… Nhìn chung thị trường BHPNT Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể trong thời gian qua: số lượng DNBH cuối năm 2010 là 30 doanh nghiệp (29 DNBH gốc và 01 doanh nghiệp TBH), tốc độ tăng trưởng phí bình quân 5 năm qua là 25%/năm, ngành bảo hiểm đã đáp ứng một phần nhu cầu đa dạng và ngày càng tăng của thị trường về các loại hình dịch vụ bảo hiểm, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước. Tuy nhiên thị trường BHPNT nước ta trong thời gian qua cũng còn nhiều tồn tại, hạn chế: (1) Quy mô thị trường còn nhỏ bé, chưa khai thác hết tiềm năng, (2) Thị trường đang tiềm ẩn những yếu tố rủi ro mất ổn định, (3) Thị trường phát triển chưa cân đối và đồng bộ, và (4) Thị trường phát triển chưa mang tính chuyên nghiệp. Luận án cũng trình bày và phân tích 6 nguyên nhân cơ bản dẫn đến những tồn tại này. – Trên cơ sở định hướng phát triển thị trường BHPNT đến năm 2020, luận án xây dựng 3 quan điểm định hướng cho những giải pháp đưa ra nhằm phát triển thị trường đến năm 2020. Các giải pháp luận án đưa ra gồm: (1) Hoàn thiện khung pháp lý đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, (2) Xây dựng và ban hành Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011-2020; xây dựng các chính sách, các đề án, các chương trình bảo hiểm vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội quốc gia, (3) Nâng cao năng lực quản lý và giám sát bảo hiểm của Nhà nước, (4) Nâng cao năng lực bảo hiểm của các DNBH, (5) Nâng cao vai trò của Hiệp hội bảo hiểm, (6) Nâng cao nhận thức của người dân về bảo hiểm, (7) Giải pháp khác Mặc dù đã cố gắng học tập và nghiên cứu, song luận án không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót như không thực hiện được điều tra, khảo sát, các số liệu thị trường chưa hoàn toàn đầy đủ do Việt Nam không có số liệu thống kê… Tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các nhà chuyên môn, các nhà nghiên cứu để luận án được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn.

Một Số Giải Pháp Phát Triển Dịch Vụ Bảo Hiểm Phi Nhân Thọ Tại Việt Nam / 2023

Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường tiềm năng của các nước Đông Nam Á. Nguồn: Internet

Tổng quan về lợi ích của dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ

Bảo hiểm phi nhân thọ (BHPNT) là loại hình bảo hiểm cung cấp các nghiệp vụ thương mại khác bên ngoài bảo hiểm nhân thọ, qua đó công ty bảo hiểm sẽ cam kết chi trả, bồi thường cho những cá nhân người mua/nhận bảo hiểm có những vấn đề tổn thất về vật chất, cơ thể, tai nạn con người.

Đặc trưng của BHPNT là một loại hình dịch vụ đặc biệt, lời cam kết bên Công ty bảo hiểm đề ra, hứa sẽ thực hiện với khách hàng. Khách hàng mua bảo hiểm và đóng phí để có thể nhận được những cam kết bồi thường lớn khi gặp vấn đề hoặc nhận lại tiền đã đóng trong tương lai.

Hợp đồng của BHPNT là hợp đồng có thời hạn, thường từ 1-2 năm hoặc ngắn hơn. Chỉ khi có rủi ro xảy ra trong thời gian bảo hiểm còn hiệu lực thì chi phí bồi thường mới được thực hiện. Phí bảo hiểm nhân thọ được tính dựa trên thời hạn bảo hiểm, phí theo năm sẽ được đóng 1 lần hoặc chia cho từng tháng, khi đến năm tiếp theo sẽ được đóng tiếp. Nếu mở rộng thêm các đặc điểm rủi ro khác trong bảo hiểm, phí bảo hiểm sẽ được tăng lên và ngược lại.

BHPNT còn là một trong những loại hình bảo hiểm mang lại rất nhiều lợi ích đặc biệt, giúp nhiều người có được những cơ hội để hỗ trợ, bù đắp những khoản phí phát sinh khi rủi ro xảy ra. Cụ thể như: Khi mua bảo hiểm nhân thọ, người được hưởng bảo hiểm sẽ nhận được những lợi ích sau: Người tham gia bảo hiểm được trợ cấp, bồi thường những thiệt hại do rủi ro bất ngờ gây ra nằm trong phạm vi bảo hiểm quy định để có thể hồi phục, ổn định, bù đắp cho những chi phí đã đóng trong thời gian mua bảo hiểm; Người tham gia có thể đóng góp một số phí tạo thành nguồn quỹ bảo hiểm lớn ngoài chi trả, bồi thường; Bảo hiểm thương mại mang lại tích lũy cho ngân sách; Bảo hiểm được dùng đề phòng ngừa những trường hợp tai nạn xảy ra, hạn chế được hậu quả và thiệt hại; Chỗ dựa tinh thần cho mọi người, mọi tổ chức để họ yên tâm trong cuộc sống, thúc đẩy phát triển kinh tế, thu hút nguồn lao động nhất định, góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp trong xã hội…

Hoạt động BHPNT tại Việt Nam trải qua nhiều thời kỳ khác nhau và bùng nổ khi thị trường được hình thành với sự xuất hiện của nhiều công ty bảo hiểm mới, bao gồm cả công ty bảo hiểm nước ngoài. Khảo sát số liệu hoạt động BHPNT tại các công ty bảo hiểm thuộc ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2014-2016 cho thấy, hoạt động kinh doanh BHPNT đã có sự phát triển mạnh cả về quy mô lẫn số lượng doanh nghiệp BHPNT (Bảng 1, Bảng 2).

Bên cạnh những chuyển biến tích cực, thị trường BHPNT Việt Nam giai đoạn này có những tồn tại gặp vướng mắc như:

Một là, năng lực tài chính và hiệu quả hoạt động kinh doanh BHPNT mặc dù có dấu hiệu khởi sắc nhưng chưa cao. Theo số liệu của Cục Quản lý giám sát bảo hiểm, năng lực tài chính (thể hiện ở các chỉ tiêu như vốn chủ sở hữu, quỹ dự phòng, tổng tài sản, ROA, ROE…) các công ty bảo hiểm thuộc ngân hàng vẫn còn rất khiêm tốn và có sự chênh lệch so với các công ty BHPNT khác. Mặt khác, trong thời gian qua, với nhiều nghiệp vụ kinh doanh bảo hiểm gốc chưa thực sự hiệu quả như bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản và hàng hóa đã làm cho hoạt động kinh doanh BHPNT, nhất là mức tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận kinh doanh bảo hiểm gốc có xu hướng giảm xuống. Các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả hoạt động như ROA trung bình chỉ đạt khoảng 7,0%, ROE trung bình đạt khoảng 9,0%.

Hai là, các sản phẩm dịch vụ BHPNT chưa đa dạng, phong phú. Theo thống kê, số khách hàng tham gia sử dụng các sản phẩm dịch vụ bảo hiểm chủ yếu là sản phẩm bảo hiểm ô tô, xe máy trong đó sản phẩm bảo hiểm bắt buộc chiếm tỷ trọng lớn. Nhiều sản phẩm khác chưa được khách hàng tham gia hoặc có tham gia nhưng chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu khách hàng. Số lượng sản phẩm bảo hiểm còn hạn chế so với một số các công ty bảo hiểm khác. Số sản phẩm bảo hiểm của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIC) là hơn 130 sản phẩm, của Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) là hơn 100 sản phẩm, của Tổng Công ty bảo hiểm Sài Gòn – Hà Nội (BSH) hơn 60 sản phẩm, của Công ty TNHH Một thành viên Bảo hiểm Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (VBI) là hơn 50 sản phẩm.

Ba là, hoạt động marketing và quảng bá thương hiệu chưa phát triển. Các công ty bảo hiểm thuộc ngân hàng chưa thực sự quan tâm và đẩy mạnh đến công tác truyền thông số.

Bốn là, mạng lưới kinh doanh còn hạn chế và chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn.

Năm là, công tác quản trị rủi ro và bồi thường chưa chặt chẽ. Những năm qua, mặc dù đã có nhiều bước tiến quan trọng trong công tác kiểm tra, kiểm soát và quản trị rủi ro nhưng tỷ lệ bồi thường vẫn tăng lên, đặc biệt là ở một số nghiệp vụ như bảo hiểm con người, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm hàng hóa… Bên cạnh đó, chưa xây dựng được một khung quản lý rủi ro riêng cho mình. Điều này làm cho công tác kiểm soát và quản lý rủi ro còn có nhiều kẽ hở tạo điều kiện cho nhiều hành vi gian lận và trục lợi bảo hiểm diễn ra, làm gia tăng chi phí bồi thường và giảm hiệu quả kinh doanh của các công ty bảo hiểm thuộc ngân hàng.

Theo thống kê niên giám bảo hiểm năm 2016 (Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm – Bộ Tài chính), mức độ thâm nhập BHPNT của các thị trường mới nổi là hơn 1% và của các thị trường phát triển ở mức 2,3%. Điều này cho thấy, còn nhiều phân khúc của thị trường BHPNT còn bỏ ngỏ.

Thứ nhất, nâng cao năng lực tài chính của các công ty bằng cách tăng quy mô vốn chủ sở hữu. Các công ty bảo hiểm cần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trực tiếp của mình để tăng lợi nhuận bổ sung vốn chủ sở hữu.

Thứ ba, hoàn thiện hệ thống kênh phân phối. Hiện nay, đối với các công ty BHPNT, kênh phân phối qua cán bộ chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tuy nhiên, việc sử dụng nhiều cán bộ khai thác bảo hiểm sẽ làm giảm hiệu quả của hệ thống phân phối do sức ỳ rất lớn, chi phí cao, năng suất thấp, đồng thời gây ra sự xung đột với các kênh phân phối khác. Do đó, việc giảm dần cán bộ bán hàng, chủ yếu giữ cán bộ làm công tác đánh giá rủi ro, phục vụ bán hàng là xu hướng cần phải thực hiện quyết liệt trong thời gian tới.

Đối với hệ thống đại lý: Cần nâng cao chất lượng đại lý qua việc phát triển kỹ năng nghề nghiệp của họ, đảm bảo cho đội ngũ đại lý có trình độ chuyên sâu về sản phẩm, có đạo đức về sản phẩm để phát triển thị trường một cách lành mạnh.

Đối với kênh môi giới: Cần mở rộng quan hệ hơn nữa với các nhà môi giới bảo hiểm, việc chấp nhận bán bảo hiểm qua môi giới là một yêu cầu khách quan, bởi BHPNT là một dịch vụ cần nhiều tư vấn, nhất là các sản phẩm mang tính chất kỹ thuật cao. Mặt khác, kênh môi giới cũng có nhiều ưu điểm trong việc triển khai dịch vụ. Tại các nước ASEAN có nhiều tương đồng với thị trường Việt Nam, dịch vụ môi giới cũng rất phát triển. Điều này cho thấy, việc sử dụng môi giới sẽ là một xu thế khó đảo ngược đối với các hoạt động BHPNT. Bên cạnh hai hệ thống kênh chính là đại lý và môi giới, các kênh bảo hiểm khác cũng cần được kiện toàn và đảm bảo hiệu quả hoạt động và đa dạng hóa kênh phân phối như: Bán bảo hiểm qua ngân hàng, qua hệ thống các công ty du lịch, trường học, bưu điện… hay kênh thương mại điện tử. Với sự phát triển của công nghệ thông tin, việc sử dụng kênh thương mại điện tử là cần thiết và quan trọng.

Thứ tư, đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng mạng lưới kinh doanh theo các định hướng: Phát triển và hoàn thiện sản phẩm BHPNT theo nguyên tắc gắn quyền lợi của người tham gia bảo hiểm và công ty bảo hiểm (nguyên tắc số đông bù số ít). Phí bảo hiểm tương ứng với mức trách nhiệm bảo hiểm; cung cấp các sản phẩm bảo hiểm thỏa mãn nhu cầu khách hàng, tăng thêm quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm, mở rộng phạm vi bảo hiểm, bổ sung các quyền lợi bảo hiểm hợp lý cho các sản phẩm bảo hiểm cá nhân, tổ chức, thiết lập mức phí bảo hiểm phù hợp. Đồng thời, các doanh nghiệp bảo hiểm cần nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới, đặc biệt là nhóm các sản phẩm tiềm năng như sản phẩm bảo hiểm cho lĩnh vực nông nghiệp; Đa dạng các sản phẩm bảo hiểm cho các lĩnh vực khác theo kịp sự phát triển của xã hội như bảo hiểm du lịch quốc tế, bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm, bảo hiểm trách nhiệm cho nhà quản lý, điều hành…

Phát triển sản phẩm bảo hiểm không chỉ dừng lại ở các điều khoản hợp đồng mà cần phát triển dịch vụ hoàn chỉnh để thu hút khách hàng. Ngoài những giá trị cốt lõi của dịch vụ là đảm bảo cho các rủi ro thì các dịch vụ phụ thêm sẽ làm gia tăng giá trị cho hợp đồng bảo hiểm. Khi thiết kế sản phẩm cần lưu ý thị trường mục tiêu hiện nay mà các doanh nghiệp BHPNT cần hướng tới đó là nhóm những người có trình độ cao (từ cao đẳng trở lên). Ngoài ra, cũng cần thiết kế các sản phẩm, đơn giản, dễ hiểu để cung cấp đến nhóm người dân có trình độ dưới cao đẳng vì nhóm này tương đối đông, nhưng do trình độ dân trí chưa cao nên mức độ am hiểu về BHPNT chưa nhiều. Nếu cứ sử dụng các sản phẩm đang có sẽ không tạo sự khác biệt và cạnh tranh với các doanh nghiệp bảo hiểm khác, do vậy, cần có các sản phẩm đặc thù cho nhóm đối tượng này.

Thứ năm, tăng cường quản trị rủi ro và nâng cao chất lượng bồi thường. Để thực hiện quản trị rủi ro các công ty bảo hiểm cần xây dựng một mô hình quản trị rủi ro với 3 lớp phòng vệ:

– Lớp phòng vệ thứ nhất: Áp dụng đối với tất cả các đơn vị, khối, phòng, ban. Đây là các đơn vị trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ, qua đó sẽ ngăn ngừa, phát hiện và kiểm soát rủi ro. Lớp phòng vệ này được điều hành trực tiếp bởi ban giám đốc. Trong lớp phòng vệ này cán bộ nhân viên của các công ty bảo hiểm đóng vai trò rất quan trọng, vì họ chính là những người sẽ phân tích và đánh giá quy trình rủi ro. Muốn làm được điều này, đòi hỏi các nhân viên phải có đủ kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm với công việc, có như vậy việc phát hiện và ngăn ngừa rủi ro mới được thực hiện kịp thời.

– Lớp phòng vệ thứ hai:Được thực hiện bởi khối quản trị rủi ro. Khối quản trị rủi ro sẽ có trách nhiệm giám sát mọi rủi ro trên toàn hệ thống. Lớp phòng vệ thứ hai này nhằm mục tiêu hỗ trợ lớp phòng vệ thứ nhất để xây dựng và nâng cao năng lực quản lý rủi ro. Lớp phòng vệ này được điều hành trực tiếp bởi hội đồng quản trị. Trong lớp phòng vệ này, khối quản trị rủi ro sẽ phải có ý kiến vào các quy trình nhằm đảm bảo xây dựng được một quy trình đánh giá rủi ro thực tế, chứ không chỉ xây dựng cho có nhằm đối phó kiểm tra.

– Lớp phòng vệ thứ ba:Được thực hiện bởi bộ phận kiểm toán nội bộ. Bộ phận này sẽ có trách nhiệm kiểm tra và soát xét mọi hoạt động bao gồm cả hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc, hoạt động đầu tư và tái bảo hiểm. Lớp phòng vệ này được thực hiện một cách độc lập bởi ban kiểm soát.

Trong 3 lớp phòng vệ trên thì lớp phòng vệ thứ nhất là quan trọng nhất, bởi rủi ro càng phát hiện sớm và có biện pháp ngăn ngừa kịp thời thì sẽ càng giảm thiểu được tổn thất.

Bên cạnh công tác kiểm soát và quản trị rủi ro thì công tác bồi thường cũng hết sức quan trọng. Trong giai đoạn tới, các công ty bảo hiểm cần chú trọng hơn nữa vào công tác bồi thường nhằm giảm tỷ lệ bồi thường mà vẫn đảm bảo chất lượng dịch vụ bảo hiểm cung ứng. Để thực hiện tốt công tác bồi thường các công ty bảo hiểm cần kết hợp với hệ thống bảo lãnh và tư vấn.

Bên cạnh đó, các công ty bảo hiểm cũng cần áp dụng các chế tài đối với các trường hợp vi phạm quy trình, giải quyết bồi thường chậm do nguyên nhân chủ quan. Mặt khác, các công ty bảo hiểm cần ứng dụng công nghệ thông tin bằng cách thực hiện bồi thường trực tuyến, giám sát giám định thông qua phần mềm giúp cho công việc bồi thường được thực hiện nhanh chóng, giảm thiểu được tình trạng trục lợi.

Ngoài ra, các công ty bảo hiểm cũng cần xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng về giám định bồi thường và thường xuyên tiến hành công tác kiểm tra giám định bồi thường tại các chi nhánh. Đặc biệt, cần tăng cường đào tạo cho các cán bộ bồi thường tại các trụ sở chính, luôn theo sát các cơ quan giám định độc lập để công tác giám định, giải quyết luôn kịp thời, đảm bảo chất lượng bồi thường được nhanh chóng nhất.

1. Báo cáo thường niên của các công ty bảo hiểm thuộc ngân hàng 2014, 2015, 2016; 2. Bộ Tài chính (2016), Thông tư số 22/2016/TT-BTC ngày 16/02/2016; 3. Niên giám thị trường bảo hiểm Việt Nam 2012-2016; 4. Quốc hội (2010), Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi năm 2010, Hà Nội.

Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Bảo Hiểm Việt Nam Trong Thời Gian Tới / 2023

Hiện nay quy mô thị trường bảo hiểm vẫn còn nhỏ so với tiềm năng, theo đó các cơ quan chức năng đưa ra các nhóm giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam trong thời gian tới.

Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2015 đã có mức tăng trưởng cao, ổn định song quy mô thị trường bảo hiểm vẫn còn nhỏ so với tiềm năng.

Để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế và thực hiện được các mục tiêu, chỉ tiêu đặt ra tại Chiến lược giai đoạn 2016-2020, năm 2016 và các năm tiếp theo cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp bảo hiểm và Hiệp hội bảo hiểm cần tập trung vào các nhóm giải pháp:

1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm theo hướng tiếp tục sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện các chính sách bảo hiểm như bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm thuỷ sản, bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm vi mô…

2. Nâng cao tính an toàn hệ thống, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm theo hướng giám sát, đôn đốc doanh nghiệp tự đánh giá, xếp loại theo các tiêu chí quy định tại Thông tư 195/2014/TT-BTC để có biện pháp quản lý, giám sát phù hợp, đảm bảo duy trì an toàn tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; nghiên cứu triển khai mô hình quản lý vốn trên cơ sở rủi ro; ban hành các quy định về quản trị rủi ro doanh nghiệp, tăng cường hệ thống công nghệ thông tin của doanh nghiệp và kết nối toàn thị trường; hoàn thành và triển khai Đề án nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho thị trường bảo hiểm nhằm phát triển nguồn nhân lực chuyên nghiệp hóa và có chuyên môn cao cho các doanh nghiệp bảo hiểm.

3. Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển và đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm, trong đó chú trọng phát triển các sản phẩm có tính cộng đồng và an sinh xã hội cao, cho phép điều chỉnh các sản phẩm bảo hiểm linh hoạt phù hợp với nhu cầu của từng khách hàng cá nhân. Xây dựng cơ sở dữ liệu chung của toàn thị trường phục vụ cho việc định phí bảo hiểm, tạo mặt bằng về mức phí sàn, góp phần lành mạnh hóa môi trường cạnh tranh trên thị trường.

4. Đa dạng và chuyên nghiệp hóa các kênh phân phối bảo hiểm theo hướng mở rộng hình thức thi đại lý bảo hiểm trực tuyến tập trung; tăng cường quản lý chất lượng thi đại lý để nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp của đại lý; nghiên cứu ban hành hướng dẫn đối với các kênh phân phối mới (thương mại điện tử, điện thoại di động…) nhằm tạo hành lang pháp lý giúp doanh nghiệp bảo hiểm đa dạng hóa kênh phân phối.

5. Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm theo hướng tiếp tục tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát doanh nghiệp bảo hiểm; nghiên cứu, đề xuất tổ chức bộ phận chuyên trách hỗ trợ phòng chống gian lận bảo hiểm, hỗ trợ tư vấn pháp lý, trọng tài; xây dựng và triển khai hệ thống công nghệ thông tin kết nối giữa cơ quan quản lý và thị trường nhằm rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục hành chính; hệ thống hỗ trợ công tác phân tích, đánh giá và cảnh báo nguy cơ sớm của doanh nghiệp.

Giải Pháp Marketing Đồng Bộ Cho Bảo Hiểm Nhân Thọ Bắc Giang / 2023

Tham khảo tài liệu ‘giải pháp marketing đồng bộ cho bảo hiểm nhân thọ bắc giang – 1’, luận văn – báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com Lời mở đầu Trong nền kinh tế thị trư ờng hiện nay, ho ạt động sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp diễn ra với sự cạnh tranh gay gắt. Trước ngưỡng cửa hội nh ập, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có những hoạch định chiến lược phát triển kinh doanh, chiến lược th ị trường và chiến lược cạnh tranh một cách đúng đắn và sáng tạo sao cho phù hợp với khả năng của doanh nghiệp, với thự c tế của thị trường. Điều đó đã m inh chứng rằng marketing là công cụ quan trọng nhất của doanh n ghiệp, là chìa khoá vàng giúp các doanh nghiệp giải quyết mọi vấn đề. Với các hệ thống chính sách hiệu quả marketing không chỉ giúp cho các nhà sản xuất; kinh doanh lựa chọn đúng phương án đầu tư, tận dụng triệt để thời cơ kinh doanh mà còn giúp họ xây dựng chiến lược cạnh tranh. Sử dụng các vũ khí cạnh tranh có hiệu quả nhất nh ằm nâng cao uy tín, chinh phụ c khách hàng, tăng cường khả năng cạnh tranh th ị trường. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu và phân tích marketing ở doanh nghiệp trong thời gian thực tập ở Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Bắc Giang em đ ã quyết định chọn đ ề tài: “Các giải pháp marketing đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh ở Công ty Bảo hiểm nhân thọ Bắc Giang” để làm chuyên đề tốt n ghiệp. Mụ c đ ích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận chuyên ngành, tìm hiểu thực tế, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty đ ã chỉ ra ưu điểm cũng như nguyên nhân sinh ra tình trạng đó để từ đó có đ ịnh hướng hoàn thiện nó.

Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version – http://www.simpopdf.com Giới hạn nghiên cứu: Do hạn ch ế về thời gian cũng như năng lực trình độ có hạn, nên đề tài em chỉ n ghiên cứu ph ạm vi dưới góc độ tiếp cận của môn học marketing chuyên ngành. Ph ương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, em cố gắng vận d ụng nguyên lý cơ b ản củ a tư duy đổi m ới, phương pháp tiếp cận h ệ thống lôgic và lịch sử vừa nhằm phân tích biện chứng mụ c tiêu nghiên cứu, vừa đặt nó vào trong môi trường kinh doanh củ a công ty. Với mục đích nghiên cứu, phương pháp và giới hạn nghiên cứu trên, em chia đề tài của mình làm 3 phần: Chương I: Cơ sở lý lu ận củ a việc m ở rộng thị trường ở công ty sản xuất kinh doanh. Chương II: Phân tích và đánh giá thực trạng kinh doanh của Công ty bảo hiểm nhân thọ Bắc Giang. Chương III: Một số giải pháp marketing đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. Để hoàn thành chuyên đề này, em đã nhận được sự chỉ b ảo và giúp đỡ tận tình củ a cô giáo Ph ạm Thuý Hồng – Khoa Kinh doanh Thương mại, cũng như các cô chú, anh ch ị trong công ty. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó. Chương I Những tiền đ ề lý luận về th ị trường và các giải pháp marketing đồng bộ nhằm phát triển th ị trường, nâng cao hiệu qu ả kinh doanh I. Thị trường và tầm quan trọng của việc mở rộng thị trường 1 . Khái niệm thị trường

Vui lòng điền thông tin của bạn để tải tài liệu

(Ưu tiên sđt của Viettel hoặc Mobifone)

Vui lòng chờ 10 giây, một tin nhắn chứa mã số xác thực OTP sẽ được gởi đến số điện thoại của ban. Hãy nhập mã OPT đó vào ô bên dưới để xác nhận việc download tài liệu.

Phòng và trị bệnh cho cây trồng, vật nuôi

Trồng cây rừng, cây công nghiệp

Trồng trọt, chăn nuôi theo mùa

Vật tư, trang thiết bị nông nghiệp

Bảo quản, chế biến sau thu hoạch

Các chuyên đề nông nghiệp khác

NÔNG HỌC TRÊN FACEBOOK

HÃY KẾT NỐI VỚI NÔNG HỌC

GIÁ NÔNG SẢN

HOA LAN BÍ KÍP

chợ nông sản

Hãy khám phá chức năng mới của chúng tôi: tạo gian hàng, đăng sản phẩm để rao bán trực tuyến một cách miễn phí.

Cơ hội để bạn mở rộng kinh doanh, tìm kiếm đối tác và tăng doanh số nhanh nhất.

Bạn cũng đang kinh doanh trong lĩnh vực nông sản?

Tham gia ngay

KỸ THUẬT THỦY SẢN

Kỹ thuật nuôi tôm

Kỹ thuật nuôi cá

B

Cá basa

Cá bóp (cá giò)

Cá bớp

Cá bống tượngC

Cá chép

Cá chẽm (cá vược)

Cá chim trắng

Cá chim (biển)

Cá chim biển vây vàngCá chìnhCá chốt nghệCá cóc DCá đốiCá đối mụcCá điêu hồngGCá giò (cá bóp)H

Cá hô

Cá hồi

Cá hồi vân

Cá hồng mỹKCá kèoLCá lăngCá lăng vàngCá lăng chấmCá lăng nhaCá lóc (cá quả), lóc đen, lóc bôngLươnMCá măngCá mè hoaCá mú (cá song)NCá ngựaQCá quả (cá lóc, lóc đen, lóc bông)R

Cá rô đồng, rô đầu vuông

Cá rô phiSX cá con rô phi, mè trắng làm thức ăn cho thủy đặc sảnS

Cá sặc rằn

Cá sấu

Cá song (cá mú)TCá tai tượngCá tầmCá thát lát

Cá tra

Cá trắm, trắm đen, trắm trắng, trắm cỏCá trêVCá vược, vược trắng, vược nước lợ (cá chẽm)

Cá nước lạnh

Nuôi cá nước lạnh

Các bệnh thường gặp ở cá hồi

Phương thức nuôi cá lồng biển

Nuôi cá trong ao

Kỹ thuật ương cá giống, cá hương

Kỹ thuật nuôi cá ao nước tĩnh

Cấy lúa – nuôi cáLàm ổ cho cá đẻ Khác

Kỹ thuật nuôi các loại thủy hải sản khác

Vật tư & trang thiết bị: thuốc, hóa chất xử lý môi trường, thức ăn, dụng cụ, thiết bị

Nuôi thủy sản theo luật và tiêu chuẩn

An toàn thực phẩm thủy hải sản

Các chuyên đề khác

WEBSITE LIÊN KẾT