Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới

--- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Nhận Thức Của Sinh Viên Về Bình Đẳng Giới
  • Xóa Bỏ Bất Bình Đẳng Giới Từ Những Điều Nhỏ Nhất
  • Xóa Bỏ Bất Bình Đẳng Giới: Cần Những Hành Động Cụ Thể
  • Nỗ Lực Xóa Bỏ Tình Trạng Bất Bình Đẳng Giới
  • Giải Pháp Bảo Tồn Phát Huy Di Sản Văn Hóa Dân Tộc
  • Thông qua hoạt động tuyên truyền bằng hình thức tổ chức hội thi đã giúp các cán bộ, công chức, viên chức, nhất là những người ở cơ sở củng cố kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ, đồng thời tăng cường đổi mới, đa dạng hình thức tuyên truyền để đưa thông tin về bình đẳng giới, cách phòng, chống bạo lực gia đình đến gần với người dân hơn. Cùng với tổ chức hội thi, công tác tuyên truyền miệng thông qua các cuộc họp, sinh hoạt hội, đoàn thể, tổ chức nói chuyện chuyên đề hoặc tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng luôn được các cấp, các ngành và địa phương đẩy mạnh. Chị Trần Thị Hồng Hạnh, ở xã Vị Trung, huyện Vị Thủy, cho biết: “Qua báo, đài, rồi được tham gia buổi nói chuyện chuyên đề về bình đẳng giới, tôi đã hiểu được thế nào là hành vi gây nên bạo lực gia đình. Từ hồi nào tới giờ, tôi chỉ nghĩ bạo lực gia đình là chồng đánh vợ, chứ không biết hành vi gây ảnh hưởng tinh thần cũng là bạo lực gia đình”.

    Như vậy, với nhiều hoạt động tuyên truyền đa dạng, phong phú đã tạo được sự quan tâm của nhiều người đến vấn đề bình đẳng giới. Từ đó, mọi người có cách nhìn nhận đúng đắn hơn về vấn đề bình đẳng giới, biết cách vun vén để xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc.

    Một tháng hành động ý nghĩa

    Vào những ngày diễn ra Tháng hành động, không khí thật rôm rả, sôi nổi, tạo được hiệu ứng lan tỏa trong cộng đồng về những nội dung của bình đẳng giới. Theo bà Đoàn Thị Thùy Hương, Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Vị Thủy, để nâng cao nhận thức của người dân, địa phương đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền về các vấn đề như bình đẳng giới, bạo lực gia đình, xâm hại tình dục trẻ em… Ngoài ra, trong các cuộc họp, sinh hoạt tổ nhóm thì vấn đề bình đẳng giới, phòng chống bạo lực trên cơ sở giới, phòng, chống bạo lực gia đình cũng được lồng ghép tuyên truyền.

    Việc đẩy mạnh triển khai các hoạt động truyền thông với nhiều hình thức cụ thể đã nhận được sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh, góp phần tích cực vào việc nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình. Chị Lý Thị Cẩm Giang, ở xã Vị Đông, huyện Vị Thủy, cho biết: “Được mọi người giải thích, tôi hiểu rằng muốn xây dựng gia đình hạnh phúc thì các thành viên trong gia đình phải bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, phân công công việc gia đình hợp lý, không có tư tưởng trọng nam, khinh nữ”.

    Trong Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới năm 2022, tỉnh đã tổ chức Lễ phát động tại huyện Châu Thành A. Đồng thời, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Báo Hậu Giang, Đài PT&TH Hậu Giang thực hiện chuyên trang, chuyên đề tuyên truyền về bình đẳng giới, phòng chống bạo lực, xâm hại đối với phụ nữ và trẻ em. Phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức Hội thi Tìm hiểu pháp luật về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới, phòng, chống bạo lực gia đình tại một số xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh…

    Bài, ảnh: BÍCH CHÂU

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Giáo Dục
  • Cần Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới
  • Tăng Cường Công Tác Bình Đẳng Giới Và Nâng Cao Vị Thế Của Phụ Nữ Và Trẻ Em Gái
  • Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới, Đánh Giá Thực Trạng Thực Hiện Tại Thừa Thiên Huế (Kỳ 1)
  • Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Theo Quy Định Của Pháp Luật
  • Cần Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Giáo Dục
  • Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới
  • Nâng Cao Nhận Thức Của Sinh Viên Về Bình Đẳng Giới
  • Xóa Bỏ Bất Bình Đẳng Giới Từ Những Điều Nhỏ Nhất
  • Xóa Bỏ Bất Bình Đẳng Giới: Cần Những Hành Động Cụ Thể
  • Trong những năm qua, Đảng và nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện khung luật pháp, chính sách về quyền bình đẳng trên lĩnh vực bình đẳng giới như: Luật hôn nhân và gia đình, Luật bình đẳng giới, Luật phòng chống bạo lực gia đình…mà trọng tâm là Luật bình đẳng giới và thông qua các công ước quốc tế như công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em… nhờ đó mà phụ nữ và trẻ em đều được bảo vệ.

    Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình

    Bình đẳng giới trong gia đình có ý nghĩa quan trọng trong mọi thời đại, đặc biệt là trong điều kiện hiện đại hóa, công nghiệp hóa hiện nay. Bình đẳng giới trong gia đình là môi trường lành mạnh để con người, đặc biệt là trẻ em được đối xử bình đẳng, được giáo dục về quyền bình đẳng, được hành động bình đẳng; là tiền đề quan trọng cho sự thành công trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em; góp phần tăng chất lượng cuộc sống của các thành viên gia đình, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước; góp phần giải phóng phụ nữ và góp phần xây dựng thể chế gia đình bền vững.

    Tuy nhiên, định kiến giới và tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại khá phổ biến ở trong gia đình và một bộ phận dân cư trong xã hội. Trên thực tế, thời gian làm việc của phụ nữ trong gia đình thường dài hơn nam giới, nam giới vẫn được coi là trụ cột gia đình, có quyền quyết định các vấn đề lớn và là người đại diện ngoài cộng đồng. Còn các công việc nội trợ, chăm sóc các thành viên trong gia đình thường được coi là “thiên chức” của phụ nữ.

    Hiện tượng bất bình đẳng vẫn phổ biến ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc phụ nữ là lao động chính song lại không có tiếng nói trong gia đình. Những người đàn ông thường giành thời gian cho việc làng, việc nước, họ hàng, rồi rượu chè, các tệ nạn xã hội… nên gánh nặng gia đình cũng như cường độ lao động và sự vất vả đều dồn lên đôi vai người phụ nữ.

    Nguyên nhân trên do một bộ phận xã hội hiểu không đúng về bình đẳng và bình đẳng giới, còn quan niệm cho rằng bình đẳng giới là ưu tiên cho phụ nữ và việc thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ và của Hội phụ nữ VN. Nhận thức mang tính định kiến giới còn tồn tại trong xã hội, nhất là lãnh đạo, cán bộ, công chức và nam giới…

    Phụ nữ còn tự ti, an phận, cam chịu và chấp nhận với những định kiến giới tồn tại trong xã hội. Phong tục, tập quán lạc hậu theo kiểu “xuất giá tòng phu”, “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, “đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”…còn tồn tại khá phổ biến ở nhiều nơi là một trong những nguyên nhân cản trở mục tiêu bình đẳng giới. Ở khu vực vùng sâu, vùng xa còn nặng nề quan niệm con trai hơn con gái, công việc gia đình là trách nhiệm của riêng phụ nữ, định hướng nghề nghiệp vẫn theo hướng truyền thống… nên việc đầu tư cho trẻ em gái trong học tập không được chú ý và quan tâm nhiều như với trẻ em trai.

    Để đẩy mạnh việc thực hiện bình đẳng trong các gia đình, cần tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức, trách nhiệm của phụ nữ, nam giới trong xây dựng gia đình, giữ gìn, phát huy các giá trị văn hoá tốt đẹp của gia đình… Bởi khi có kiến thức, người dân đặc biệt là nam giới sẽ biết xử lý tình huống để hoà giải mâu thuẫn gia đình. Đồng thời, họ còn được trang bị thêm các kiến thức cơ bản về giới, bình đẳng giới… và những kinh nghiệm để xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc.

    Chính vì vậy, việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của nhân dân (nhất là nông dân, người dân tộc thiểu số), lãnh đạo, cán bộ công chức, viên chức về Hiến pháp, pháp luật về quyền bình đẳng và Luật bình đẳng giới…, lên án những hành vi vi phạm và kìm hãm việc thực hiện quyền bình đẳng giới như: tình trạng bạo lực gia đình, buôn bán phụ nữ và trẻ em, phân biệt đối xử giới, những hủ tục và quan điểm trọng nam khinh nữ, những vấn đề về công tác chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ so sinh, về vai trò và vị trí của phụ nữ, trẻ em trong cuộc sống, trong học tập, công việc, gia đình và tham gia đoàn thể xã hội cần được chú trọng. Bên cạnh đó, tăng cường tuyên truyền về vấn đề phát triển giáo dục và đào tạo nghề cho phụ nữ và trẻ em ở nông thôn, vùng dân tộc thiểu số; việc xây dựng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ, chỉ tiêu bổ nhiệm cán bộ nữ trong cơ cấu cán bộ lãnh đạo của các cơ quan, đơn vị, địa phương…nhằm nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về vị thế của phụ nữ trong xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Công Tác Bình Đẳng Giới Và Nâng Cao Vị Thế Của Phụ Nữ Và Trẻ Em Gái
  • Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới, Đánh Giá Thực Trạng Thực Hiện Tại Thừa Thiên Huế (Kỳ 1)
  • Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Theo Quy Định Của Pháp Luật
  • Tiền Giang: Giải Pháp Đảm Bảo Bình Đẳng Giới Trong Các Lĩnh Vực
  • Luận Văn Đề Tài Ảnh Hưởng Của Định Kiến Giới Đối Với Việc Thực Hiện Bình Đẳng Giới Và Giải Pháp Xóa Bỏ Định Kiến Giới
  • Nâng Cao Nhận Thức Của Sinh Viên Về Bình Đẳng Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Xóa Bỏ Bất Bình Đẳng Giới Từ Những Điều Nhỏ Nhất
  • Xóa Bỏ Bất Bình Đẳng Giới: Cần Những Hành Động Cụ Thể
  • Nỗ Lực Xóa Bỏ Tình Trạng Bất Bình Đẳng Giới
  • Giải Pháp Bảo Tồn Phát Huy Di Sản Văn Hóa Dân Tộc
  • Giải Pháp Cấp Bách Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa Tại Tp Hcm
  • Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ số 3 (1), 2022

    NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

    Ngô Ánh Hồng, Hoàng Trâm Anh*, Nguyễn Như Đạt,

    Lê Thị Uyên Linh, Ngô Bình Dương

    Trường Đại học Văn hóa Hà Nội

    *Tác giả liên lạc: [email protected]

    (Ngày nhận bài: 06/03/2017; Ngày duyệt đăng: 08/05/2017)

    TÓM TẮT

    Bình đẳng giới là vấn đề mang tính toàn cầu và được đề cập t ừ thế kỷ XV. Tuy nhiên, từ

    nhận thức đến hành động vẫn là một khoảng cách không nhỏ. Dù Đảng và Nhà nước ta

    luôn quan tâm, nhưng bất bình đẳng giới vẫn đang tồn tại trong xã hội. Một trong các

    nguyên nhân sâu xa của vấn đề này chính là ở yếu tố văn hóa. Sinh viên trên địa bàn Hà

    Nội đế n từ các vùng miề n trong cả nước. Họ là đối tượng sẽ bước vào hôn nhân, môi

    trường công tác, và các hoạt động xã hội nên có vai trò quyết định thực hiện bình đẳng

    giớ i. Do ít chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo nên nhận thức của sinh viên về vấn đề

    này có nhiều thay đổi tích cực. Từ việc khảo sát lấy ý kiế n đại diện sinh viên 4 trường đại

    học, nhóm nghiên cứu mong muốn đưa t ư tưởng bình đẳng giới đến những người được

    phỏng vấn, đồng thời bước đầu đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của

    sinh viên về vấn đề này.

    Từ khóa: Bình đẳng giới, sinh viên, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.

    ENHANCE THE STUDENT’S AWARENESS OF GENDER EQUALITY

    Ngo Anh Hong, Hoang Tram Anh*, Nguyen Nhu Dat, Le Thi Uyen Linh, Ngo Binh

    Duong Hanoi University Of Culture *Corresponding Author: [email protected]

    ABSTRACT

    Gender equality is a global problem and is mentioned in the XV Century. However, from

    awareness to action is still a significant gap. Although the Party and State always

    interested but gender inequality still exists in society. One of the root causes of this

    problem is the cultural factor. Students in Hanoi came from all regions of the country.

    They are objects will enter the marriage, work environment, and social activities so they

    should be implemented decisive role of gender equality. Because the students are less

    influenced by Confucianism, their awareness of this issue has many positive changes.

    From the opinion survey repsents 4 college students, my team wants to bring gender

    equality ideology to those who were interviewed, at the same time initially proposed some

    measures to raise the students’s awareness of this issue. Keywords: Gender equality,

    student, Hanoi University Of Culture.

    TỔNG QUAN

    Trong nhi ều thế kỷ, s ự bất bình đẳng giới

    đã bó hẹp vai trò của ngườ i phụ nữ khiến

    họ mất đi rất nhiều quyền con người cơ bản.

    Trải qua hàng trăm năm nhen nhóm và đấu

    tranh với ba cột mốc quan trọng gồm Công

    ước CEDAW (1979), Cương lĩnh hành

    động Bắc Kinh (1995) và

    1

    Tuyên bố Thiên niên kỷ (2000) giúp bình

    đẳng giới chính thức được toàn cầu công

    nhận. Hiế n pháp đầ u tiên của nước Việt

    Nam dân chủ C ộng hòa năm 1946 cũng thể

    hiện rất rõ quan điểm nhất quán, xuyên suốt

    về thúc đẩy bình đẳng giới.

    Dù đạt được nhiều thành tựu như ng không

    thể bỏ qua một thực tế rằng vấn đề

    Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ số 3 (1), 2022

    bình đẳng giới ở Việ t Nam vẫn còn rất

    nhiều thách thức. Với nền tảng là tri thức

    khoa học, thanh niên nói chung và sinh viên

    nói riêng là chủ nhân tương lai của đất nước

    sẽ trở thành lực lượng quyết định trong

    công cuộc thúc đẩy bình đẳng giới, xóa bỏ

    định kiến giới.

    Việc nghiên cứu về bình đẳng giới nhen

    nhóm từ thế kỷ XV bởi nhà văn người Pháp

    Christine De Pisan. Từ thế kỷ XVII

    – XVIII, nước Anh ngày càng xuất hiện

    nhiều công trình khoa học về nữ quyền và

    giới mà tiêu biểu là cuốn “A vindication of

    the rights of women” (Một sự bênh vực cho

    quyền của phụ nữ) của tác giả Mary

    Wollstonecraft (1759 – 1797) xuất bản năm

    1792, hay cuốn “The subjection of women”

    (Sự áp bức phụ nữ) của John Stuart Mill và

    vợ ông là Harriet Taylor xuất bản năm 1896

    là sự tranh luận theo hướng tự do cổ điển

    cho quyền bình đẳng phụ nữ. Đến cuối thế

    kỷ XX, thế giới ngày càng có nhiều công

    trình nghiên cứu về giới ở mọi góc độ và

    khía cạnh khác nhau, phong phú về thể loại,

    đa dạng về nội dung như “Feminist and anti

    feminist perspectives” (Quan điểm về phụ

    nữ và chống nữ quyền) của Janet Sayer,

    cuốn “Tương lai của gia đình” do các Giáo

    sư, tiến sĩ xã hội học Charles L.Jones,

    Lorne Tepperman, Susannah J.Wilson biên

    soạn,…

    Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước không

    ngừng hoàn thiện khung luật pháp, chính

    sách về quyền bình đẳng giới như: Luật

    bình đẳng giới, Luật hôn nhân và gia

    đình,… Các công trình nghiên cứu có thể kể

    đến cuốn “Phụ nữ Việt Nam qua các thời

    đại” của nhà dân tộc học Lê Thị Nhâm

    Tuyết xuất bản lần đầu năm 1972. Tác

    phẩm được xem là công trình khoa học đầu

    tiên ở Việt Nam ghi dấu ấn quan trọng, khởi

    đầu cho lĩnh vực nghiên cứu phụ nữ, nghiên

    cứu giới và nó đã gây được tiếng vang trong

    giới học giả và công chúng.

    Năm 2011, Trung tâm nghiên cứu giới, gia

    đình và môi trường trong phát triển

    2

    Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ số 3 (1), 2022

    hưởng như nhau về thành quả của sự phát

    triển đó.

    Bình đẳng giới được thể hiện qua 8 lĩnh vực

    chủ yếu và được trình bày rõ tại Chương II

    của Luật Bình đẳng giới. Đó là việc nam

    giới và nữ giới có quyề n lợi, nghĩ a vụ, và

    cơ hội phát tri ển bình đẳng như nhau về

    chính trị , kinh tế, lao động, giáo dục và đào

    tạo, khoa học và công nghệ, vă n hóa và thể

    dục thể thao, y tế, gia đình.

    Trong những nă m qua, quán triệt sâu sắc

    lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và

    Nhà nước ta đã vận dụng và phát triển một

    cách toàn diện tư tưởng của Người về vấn

    đề bình đẳng giới trong công cuộc xây dựng

    đất nước.

    Ngày nay, quan điểm chỉ đạo c ủa Đảng,

    Nhà nước về việc thực hiện tốt mục tiêu

    bình đẳng giới và quản lý vấn đề này chính

    là việc cần tập trung thực hiện tốt một số n

    ội dung như xây dự ng và hoàn thiện các

    quy định pháp luật, tă ng cường công tác

    tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bình

    đẳng giới đến các tầng lớp nhân dân.

    Đặc điểm tâm lý lứa tuổi của sinh viên

    Lứa tuổi sinh viên có nhữ ng nét tâm lý

    điển hình. Đây là thế mạnh của họ so với

    các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có

    tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình

    cảm trí tuệ phát triển.

    Đặc trưng tâm lý lứa tuổi sinh viên có một

    số nét chính như dễ dàng thích nghi với cái

    mới, phát triển nhận thức và t ự ý thức, phát

    triển tâm lý tình cả m và có khát vọng nghề

    nghiệp. Nhưng lứa tuổi sinh viên không

    tránh khỏi m ột số hạn chế chung như thiếu

    chín chắn trong suy nghĩ , hành động, đặc

    biệt là hạn chế trong việc tiếp thu, chọn lọc

    những cái mới.

    Nhận thức của sinh viên về bình đẳng

    giới

    Nhằ m đánh giá một cách đa chi ều những

    vấn đề cơ bản trong nhận thức của sinh viên

    về bình đẳ ng giới, nhóm nghiên cứu đã

    thiết kế một bả ng hỏi gồm 31 câu hỏi liên

    quan đến nội dung đề tài. Nhóm đã

    3

    Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ số 3 (1), 2022

    Điề u đó phản ánh chân thực qua những con

    số với 75,8% sinh viên tham gia khảo sát

    cho rằng trong tình yêu, cả nam và nữ đều

    có thể chủ động.

    Quan điểm về chọn ngành, môn học cũng

    có sự bi ến đổi lớn về quan niệm khi 72,8%

    số sinh viên được hỏi cho rằng bất luận là

    nam hay nữ miễn thích và có năng khi ếu

    nhóm ngành, khối nào thì học khối đó,

    không nhất thiết nam phải chọn khối ngành

    tự nhiên, kỹ thuật, nữ chọn ngành xã hội và

    nhân văn.

    Quan điểm của sinh viên về bình đẳng giới

    trong gia đình cũng tiến bộ hơn khi 79,2%

    cho rằng vai trò chăm sóc gia đình là công

    vi ệc không c ủa riêng ai nên cả hai vợ

    chồng cùng gánh vác, chia sẻ. Về việc dạy

    con học tậ p trong gia đình, 83,2% số sinh

    viên tham gia khảo sát cho rằng đó là trách

    nhiệm của cả hai vợ chồng.

    Vấn đề đóng góp tài chính cho gia đình

    cũng cho thấy tín hiệu tích cực trong nhận

    thức của sinh viên với 80,3% cho rằng đó

    là trách nhiệ m của cả người vợ lẫn chồng,

    thay vì quan niệm người chống phải là trụ

    cột tài chính như trước kia.

    Mặc dù có nhiều chuyển biến tích cự c của

    sinh viên trong thời gian qua về bình đẳng

    giới trong các mối quan hệ, tuy nhiên, trong

    một số vấn đề, đa phần sinh viên được khả

    o sát có cái nhìn chưa thực sự tích cực về

    bình đẳng gi ới. Tiêu biểu là vấn đề sau ly

    hôn, 70,6% số người được thăm dò t ỏ thái

    độ thông cảm và chia sẻ với người phụ nữ

    ly hôn mặc dù họ không cần biết ly hôn bắt

    nguồn từ những nguyên nhân nào. Nhưng

    chỉ có 6,3% cho rằng phụ nữ sau ly hôn có

    cơ hội tái hôn cao. Trong khi đó, 62,8%

    thông cảm và chia sẻ với người đàn ông ly

    hôn với 22,8% cho rằng đàn ông sau ly hôn

    có cơ hội tái hôn cao. Đó là tỉ lệ lớn hơn rất

    nhiều nếu so với phụ nữ. Với vai trò nội trợ,

    31,3% người được hỏi cho rằng trách

    nhiệm đó thuộc người vợ trong khi chỉ có

    1,6% cho rằng vai trò đó thuộc về người

    chồng. Điều này cho thấy trong một số

    4

    vấn đề, quan niệm bất bình đẳng giới vẫn

    còn tồn tại.

    Giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới

    Để thay đổi nhận thức của sinh viên về bình

    đẳng giới không phải là chuyện của riêng

    cá nhân, tậ p thể nào mà cần giải pháp đồng

    bộ tác động từ cả ba phía gia đình, nhà

    trường và xã hội.

    Tại gia đình, cha mẹ phải làm gương cho

    con cái trong vấn đề bình đẳng giới thông

    qua việc đối xử công bằng với các con trong

    mọi việc, tâm sự, chia sẻ, nói chuyện cởi

    mở về vấn đề gi ới và những tình huống

    bình đẳng giới. Sự chia sẻ chân thành hòa

    lẫn với tình yêu thương của những người

    sống chung một mái nhà sẽ là khúc nhạc dịu

    dàng và sâu l ắng hơn bất c ứ lời giảng nào,

    từ t ừ ngấm sâu vào từng ngóc ngách tâm

    hồn con cái.

    Nhà trường không chỉ là nơi diễn ra các

    hoạt động giáo dục mà còn là môi trường

    hình thành nhận thức cũng như định hướng

    nhân cách mỗi cá nhân. Giải pháp từ nhà

    trường cần mở rộng hơn các hình thức

    tuyên truyền cho phù hợp với đặc thù sinh

    viên như lồng ghép vào chương trình học

    tập, tuyên truyền qua mạng xã hội, qua các

    câu lạc bộ cùng sở thích hay các hội thi hội

    diễn.

    Nhóm giải pháp tuyên truyền giáo dục từ

    môi trường xã hội sẽ được cụ thể hóa trong

    6 nội dung bao gồm tuyên truyền qua các

    phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là

    qua phim ảnh và qua hình ảnh thần tượng

    của giới trẻ.

    KẾT LUẬN

    Phong trào chống bất bình đẳ ng giới ở Việt

    Nam được đánh giá là một bức tranh sáng

    màu nhưng bên cạnh đó, vẫn còn những mả

    ng t ối cần khắ c phục như tình trạng bạo

    lực gia đình, bạo lực giới,…

    Xuất phát từ góc nhìn của sinh viên, đề tài

    bước đầu đề xuất những giải pháp tuy còn

    đơn giản nhưng phù hợp với điều kiện cụ

    thể và mong muốn của giới trẻ.

    Để bình đẳng giới đi từ những điề u luật khô

    khan vào cuộc sống cần một số nhóm

    Chuyên san Phát triển Khoa học và Công nghệ số 3 (1), 2022

    giải pháp cụ thể kết hợp giữa gia đình, nhà

    trường và xã hội. Thứ nhất, gia đình phải là

    “pháo đài” đầu tiên chống l ại bất bình đẳng

    giới. Thứ hai, nhà trường ngoài chức năng

    giáo dục về kiến thức khoa học cần phải có

    sự định hướng về mặt tư

    tưởng xã hội, đặc biệt là bình đẳng giới.

    Thứ ba, bình đẳng giới không phải là

    chuyện của riêng cá nhân, t ổ chức hay tập

    thể mà là vấn đề đòi hỏi sự chung tay góp

    sức của toàn xã hội.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    LÊ VÂN ANH (2007), Luật bình đẳng giới nâng cao vai trò và vị thế của phụ nữ trong

    đời sống xã hội và gia đình, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 306, tr.30-32.

    TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU GIỚI VÀ XÃ HỘI (2014), Hội thảo chia sẻ kinh nghiệm

    lồng ghép giới vào chương trình dạy học, 26/11/2014.

    LÊ NGỌC HÙNG (2006), Phân tích và lồng ghép giới trong giáo dục, Tạp chí Khoa

    học về phụ nữ, số 4, tr.3-11.

    NGUYỄ N THỊ LAN (2006), Xác định cha, mẹ, con dưới góc độ bình đẳng giới, Tạp

    chí Luật học, số 3.

    TRẦN HÀN GIANG (2014), Về một số lý thuyết nữ quyền, Tạp chí Khoa học về Phụ nữ

    số 1, tr.11-19.

    THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ (2012), Quyết định Phê duyệt chiến lược phát triển gia

    đình Việt Nam đến năm 2022, tầm nhìn 2030.

    DOÃN THỊ THUẬN (2009), Một số vấn đề về tuyên truyền bình đẳng giới trên các

    phương tiện thông tin đại chúng, Tạp chí Tuyên giáo số 12, tr.51.

    5

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới
  • Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Giáo Dục
  • Cần Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới
  • Tăng Cường Công Tác Bình Đẳng Giới Và Nâng Cao Vị Thế Của Phụ Nữ Và Trẻ Em Gái
  • Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới, Đánh Giá Thực Trạng Thực Hiện Tại Thừa Thiên Huế (Kỳ 1)
  • Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới Trong Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiếp Tục Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Tuyên Truyền Bình Đẳng Giới
  • Nỗ Lực Xóa Bỏ Khoảng Cách Giới
  • Vài Suy Nghĩ Về Định Hướng Và Giải Pháp Phát Huy Tác Dụng Các Di Tích Lưu Niệm Chủ Tịch Hồ Chí Minh Trong Chiến Lược Phát Triển Du Lịch Việt Nam
  • Làm Tốt Công Tác Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Các Di Tích Lịch Sử
  • Thắc Mắc: Trẻ Biếng Ăn Chậm Tăng Cân Phải Làm Sao?
  • Trong những năm qua, Nhà nước đã có nhiều chính sách về bình đẳng giới (BĐG) trong giáo dục, bởi tầm quan trọng của lĩnh vực này. Đó là làm tăng chất lượng nguồn nhân lực cho xã hội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn nhiều hạn chế trong thực hiện BĐG trong lĩnh vực giáo dục.

    Nhiều chính sách để thúc đẩy BĐG trong giáo dục

    Để thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực giáo dục, Nhà nước đã ban hành những Luật, Nghị định, Thông tư cũng như phê duyệt các chiến lược BĐG. Cụ thể, Luật Giáo dục quy định độ tuổi đi học cho các cấp học từ giáo dục mầm non đến giáo dục phổ thông bình đẳng cho cả nam và nữ, không có sự phân biệt. Nam nữ được hỗ trợ, tạo mọi điều kiện để hoàn thành giáo dục phổ cập, cũng như lựa chọn ngành nghề học tập và đào tạo. Hay, Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014) quy định nam nữ được quyền tự do lựa chọn ngành nghề đào tạo và hỗ trợ người học là phụ nữ, lao động nông thôn khi tham gia các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo dưới 3 tháng được hỗ trợ chi phí đào tạo.

    Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 1/9/2017 về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức đã có quy định về chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng đối với các bộ, công chức, viên chức là nữ.

    Thực hiện quy định về biện pháp thúc đẩy BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo quy định tại Khoản 5 Điều 14 Luật BĐG, nhiều chính sách đã được ban hành, cụ thể quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo (Điểm a, Điều 14). Ngoài ra, Chiến lược quốc gia về BĐG giai đoạn 2011-2020 đã đưa ra hai chỉ tiêu thực hiện BĐG trong giáo dục. Đó là, tỷ lệ biết chữ của nam và nữ trong độ tuổi từ 15-40 ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn đạt 90% vào năm 2022 và 95% vào năm 2022 (Chỉ tiêu 1). Tỷ lệ thạc sĩ đạt 40% vào năm 2022 và 50% vào năm 2022. Tỷ lệ tiến sĩ đạt 15% vào năm 2022 và 25% vào năm 2022.

    Thực hiện quy định tại Luật Giáo dục nghề ngiệp, ngày 28/9/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 46/2015/ QĐ-TTg quy định chính sách hỗ trợ đào tạo sơ cấp, đào tạo dưới 3 tháng, theo đó học viên là nữ được hỗ trợ chi phí đào tạo; hỗ trợ tiền ăn, tiền đi lại.

    Với trách nhiệm quản lý nhà nước, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã tiến hành lồng ghép giới vào chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông và thực hiện rà soát vi phạm BĐG trong sách giáo khoa hiện hành. Trong thời gian qua, công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức bình đẳng giới cho cán bộ, nhà giáo, ngành lao động của ngành giáo dục đã đạt những kết quả đáng kể.

    Bất bình đẳng giới vẫn tồn tại

    Báo cáo 10 năm thi hành Luật Bình đẳng giới của Bộ LĐ-TB&XH tại Hội nghị tổng kết 10 năm thi hành Luật Bình đẳng giới tổ chức tháng 10 năm 2022 cho thấy, tỷ lệ biết chữ của nữ giới (từ 15 tuổi trở lên) dù có tăng từ năm 2002 đến nay, nhưng lại luôn thấp hơn nam giới từ 1-4%. Ở độ tuổi THCS, tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường ở trẻ em trai cao hơn trẻ em gái.

    Thực tiễn cũng cho thấy, bất bình đẳng giới vẫn thể hiện rõ ở các cấp đào tạo trong lĩnh vực giáo dục. Ví dụ ở các trường đại học, cao đẳng Sư phạm, đặc biệt những trường đào tạo giáo viên cho cấp mầm non, tiểu học, trung học phổ thông trong các trường này sinh viên chủ yếu là nữ. Nhưng những giảng viên của trường thì tỷ lệ giảng viên nữ lại chiếm tỷ lệ khiêm tốn hơn giảng viên nam. Đặc biệt những giảng viên nữ có học hàm, học vị thấp hơn nhiều so với giảng viên nam. Trong tổng số 24.083 giảng viên giảng dạy ở các cấp bậc đại học, cao đẳng trên cả nước, chỉ có 8.708 người là nữ, chiếm tỷ lệ 0,36% tổng số giảng viên.

    Đơn cử như ở trường ĐH Sư phạm Hà Nội, cái nôi đào tạo giáo viên các cấp học cho cả nước có 243 giảng viên nữ, chiếm 37,35% trong tổng số giảng viên. Trong số đó, số nữ giảng viên là giảng viên chính chỉ có 31,62%, số chức danh phó giáo sư chiếm 11,24%, giáo sư 9,09% số giảng viên có chức danh. Số nữ có học vị thạc sĩ chiếm 46,5%, tiến sĩ có 28,17%.

    Như vậy, ngay trong ngành giáo dục đào tạo, ngành được coi là nhân văn nhất trong các ngành nghề, BĐG vẫn chưa được thực hiện một cách đầy đủ. Phụ nữ chưa được tạo cơ hội để khẳng định vị trí, vai trò, năng lực của mình.

    Vẫn còn nhiều bất cập

    Báo cáo 10 năm thực hiện Luật Bình đẳng giới của Bộ LĐ-TB&XH cho thấy, việc thực hiện BĐG trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo vẫn còn một số tồn tại. Cụ thể, Luật BĐG quy định về hỗ trợ cho nữ cán bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới 36 tháng tuổi. Tuy nhiên, sau 10 năm thi hành Luật BĐG, chính sách này mới được quy định chung tại Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức. Song vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể để có thể triển khai trong thực tế.

    Cơ hội giáo dục cho trẻ em gái và phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số vẫn còn hạn chế. Tỷ lệ trẻ em gái ở các tỉnh miền núi đi học còn thấp, có nơi chỉ chiếm khoảng 10-15%. Nguyên nhân chủ yếu là các em phải ở nhà giúp việc cho gia đình, trường nội trú thường quá xa nhà và ở một số vùng vẫn còn tập quán lấy chồng sớm.

    Nhìn chung, định kiến giới trong giáo dục vẫn còn khá phổ biến. Phụ nữ vẫn bị coi là có khả năng học tập thấp hơn nam giới và không giỏi bằng nam giới trong khoa học tự nhiên. Phụ nữ học cao bị coi là mối đe dọa đối với hôn nhân và quan hệ hôn nhân của bản thân họ. Trong các gia đình, việc đầu tư cho trẻ em gái đi học vẫn thấp hơn đầu tư cho trẻ em trai do quan niệm trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại.

    Từ thực tiễn đó cho thấy, việc nâng cao nhận thức BĐG trong giáo dục cần được tăng cường hơn. Các hoạt động truyền thông, giáo dục nhận thức về BĐG cần được thường xuyên, đưa vào chỉ tiêu hoạt động của từng cấp, từng ngành giúp các đơn vị trường học, cán bộ, nhà giáo và người lao động làm trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo thấy rõ những nguy cơ và thực trạng bất bình đẳng giới đang ngăn cản sự phát triển của từng cá nhân, tập thể và lớn hơn là của đất nước.

    HẠ THI

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Cho Người Cận Thị Nặng
  • Đa Dạng Hóa Đầu Tư Cho Rừng Đặc Dụng
  • Triển Khai Giải Pháp Quản Lý, Bảo Vệ Rừng Đặc Dụng, Phòng Hộ
  • Bùng Nổ Dân Số Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Thực Trạng Dân Số Việt Nam Và Ý Nghĩa Giải Quyết Vấn Đề Dân Số
  • Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới
  • Nâng Cao Nhận Thức Của Sinh Viên Về Bình Đẳng Giới
  • Xóa Bỏ Bất Bình Đẳng Giới Từ Những Điều Nhỏ Nhất
  • Xóa Bỏ Bất Bình Đẳng Giới: Cần Những Hành Động Cụ Thể
  • Nỗ Lực Xóa Bỏ Tình Trạng Bất Bình Đẳng Giới
  • Bình đẳng giới trong giáo dục làm tăng chất lượng nguồn nhân lực trung bình của xã hội Nếu chúng ta giả định rằng, trẻ em trai và gái có khả năng thiên bẩm như nhau và những đứa trẻ có khả năng hơn sẽ được học tập và đào tạo nhiều hơn, thì việc thiên vị trẻ em trai có nghĩa là những trẻ em trai có tiềm năng thấp hơn trẻ em gái lại được học hành nhiều hơn, như thế, chất lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế sẽ thấp hơn mức có thể đạt được và kìm hãm tiềm năng tăng trưởng kinh tế.

    Có 4 loại hình giáo dục không chính quy, chủ yếu dành cho người lớn, trong đó có phụ nữ. Các chương trình này đã tạo nhiều cơ hội học tập đối với phụ nữ hơn rất nhiều so với trước. Nhận thức được thực trạng và tầm quan trọng của người phụ nữ, đặc biệt là vai trò của giáo dục đối với xã hội, ngành Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện tương đối tốt vấn đề bình đẳng giới.

    Về chủ quan, nhiều chị em chưa thoát ra khỏi tâm lí tự ti, an phận, không cần phấn đấu, không chịu khó học tập để nâng cao trình độ, chưa nhận thức hết vai trò và chưa thay đổi cách nhìn mới về chính mình. Mặt khác, các chính sách trong Giáo dục và Đào tạo ngoài ảnh hưởng chung đối với xã hội còn có ảnh hưởng trực tiếp đến bình đẳng giới. Ví dụ, việc tăng giảm học phí ảnh hưởng rất nhiều đến quyền lợi của trẻ em gái. Bởi vì trẻ em gái có nguy cơ bị buộc nghỉ học cao hơn bé trai khi điều kiện gia đình khó khăn.

    Chính vì thế, để thu hẹp khoảng cách bình đẳng giới, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thông, nâng cao nhận thức về bình đẳng giới. Thông qua nhiều hình thức tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới đã giúp cho các đơn vị, trường học, cán bộ, nhà giáo, người lao động thấy rõ nguy cơ, thực trạng của vấn đề bất bình đẳng giới đang ngăn cản sự phát triển của đất nước. Từ đó mọi người có được nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của bình đẳng giới đối với sự phát triển xã hội, cộng đồng.

    Thêm vào đó, bản thân chị em phải tự lực tự cường phấn đấu để vươn lên, rèn luyện theo các tiêu chí: C ó sức khoẻ, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động sáng tạo, có lối sống văn hoá, có lòng nhân đạo để khẳng định mình.

    Có thể nói , bình đẳng giới trong giáo dục có tầm quan trọng to lớn đối với sự phát triển của đất nước. Vì vậy, có một nhà giáo dục đã viết: Giáo dục một người đàn ông, ta được một gia đình, giáo dục một người phụ nữ ta được cả một thế hệ. Lợi ích trăm năm trồng người chính là xuất phát từ việc bình đẳng giới trong giáo dục.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới
  • Tăng Cường Công Tác Bình Đẳng Giới Và Nâng Cao Vị Thế Của Phụ Nữ Và Trẻ Em Gái
  • Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới, Đánh Giá Thực Trạng Thực Hiện Tại Thừa Thiên Huế (Kỳ 1)
  • Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Theo Quy Định Của Pháp Luật
  • Tiền Giang: Giải Pháp Đảm Bảo Bình Đẳng Giới Trong Các Lĩnh Vực
  • Hà Nội: Tọa Đàm Bàn Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức Về Bình Đẳng Giới Năm 2014

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nào Cho Bình Đẳng Giới Tại Trung Tâm Học Tập Cộng Đồng?
  • Luận Văn Đề Tài Ảnh Hưởng Của Định Kiến Giới Đối Với Việc Thực Hiện Bình Đẳng Giới Và Giải Pháp Xóa Bỏ Định Kiến Giới
  • Tiền Giang: Giải Pháp Đảm Bảo Bình Đẳng Giới Trong Các Lĩnh Vực
  • Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Theo Quy Định Của Pháp Luật
  • Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới, Đánh Giá Thực Trạng Thực Hiện Tại Thừa Thiên Huế (Kỳ 1)
  • Vừa qua, Sở Lao động- Thương binh và Xã hội thành phố Hà Nội đã phối hợp với UBND các huyện: Phúc Thọ, Phú Xuyên và Thanh Oai tổ chức 03 cuộc tọa đàm bàn giải pháp nâng cao nhận thức tiến tới chuyển đổi hành vi về bình đẳng giới.

    Gần 400 đại biểu là các đồng chí đại diện lãnh đạo Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ; lãnh đạo và cán bộ làm công tác bình đẳng giới của Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội các huyện: Phúc Thọ, Phú Xuyên và Thanh Oai; các đồng chí lãnh đạo Đảng ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân và các ban, ngành đoàn thể; các đồng chí Bí thư Chi bộ, trưởng thôn, Chi hội trưởng Phụ nữ các xã và đại diện các hộ gia đình đã tham gia tọa đàm.

    Tại các buổi tọa đàm, hầu hết đại biểu nhất trí đánh giá cao sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và thành phố đối với vấn đề bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ trong thời gian qua; được thể hiện thông qua việc ban hành Luật Bình đẳng giới, các chủ trương, chính sách và được cụ thể hóa bằng chiến lược, chương trình, kế hoạch đối lĩnh vực bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ từ Trung ương tới thành phố và đến cơ sở. Các đại biểu cũng đã khẳng định vai trò chỉ đạo của lãnh đạo Đảng ủy, chính quyền, sự vào cuộc của các ban, ngành, đoàn thể tại cơ sở nói chung và tại 3 xã Bạch Hạ, Kim An và thị trấn Phúc Thọ nói riêng đã góp phần thay đổi nhận thức của cộng đồng về vấn đề bình đẳng giới. Nhận thức của người dân về vị thế của phụ nữ hiện nay trong cộng đồng và gia đình có nhiều chuyển biến hơn, sự đóng góp của phụ nữ trong mọi công việc của đời sống xã hội cũng được ghi nhận tốt hơn… Tuy nhiên, nhiều đại biểu cũng đã nêu lên hiện nay vẫn còn biểu hiện tình trạng bất bình đẳng giới ở cộng đồng dân cư như: Nhận thức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo tại cơ sở chưa thực sự quan tâm tới công tác bình đẳng giới, chưa bố trí kinh phí cho hoạt động công tác này, còn có sự nhầm lẫn cho rằng công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ là của Hội Liên hiệp Phụ nữ; Công tác tuyên truyền về lĩnh vực này chưa được thường xuyên; Trong nhiều gia đình vẫn còn hiện tượng coi trọng vai trò của nam giới hơn phụ nữ thể hiện tâm lý người dân thích sinh con trai, chia tài sản thừa kế cho con trai.

    Thanh Huyền

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Bình Đẳng Giới Đáp Ứng Yêu Cầu Phát Triển Và Bảo Đảm Quyền Con Người Ở Việt Nam
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Thực Hiện Bình Đẳng Giới Đối Với Công Chức, Viên Chức Nữ
  • Tp.hồ Chí Minh: Đề Xuất Một Số Giải Pháp Về Bình Đẳng Giới
  • Thực Hiện Bình Đẳng Giới
  • Chuyên Đề: Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình
  • Những Giải Pháp Về Bình Đẳng Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • #1 Biện Pháp Lồng Ghép Bình Đẳng Giới Trong Xây Dựng Vbqppl
  • Trường Chính Trị Tỉnh Ninh Bình
  • Bình Đẳng Giới Trong Lĩnh Vực Chính Trị
  • Nâng Cao Năng Lực Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới Và Vai Trò Của Phụ Nữ Trong Lãnh Đạo, Quản Lý Thời Kỳ Cách Mạng 4.0
  • Bảo Đảm Bình Đẳng Giới Trong Quản Lý Cán Bộ, Công Chức
  • Tại hội thảo “Bình đẳng giới (BĐG) góp phần nâng cao cuộc sống gia đình”, nhiều tổ chức, cá nhân đã bày tỏ chính kiến, cũng như đưa ra nhiều đề xuất, kiến nghị để thúc đẩy việc thực hiện công tác BĐG thông qua những tham luận súc tích, ý nghĩa. * Thượng tá Trần Phương Đại, Phó trưởng Phòng PX 16, Công an tỉnh: Thực hiện công tác BĐG thông qua ngăn chặn bạo lực gia đình

    Bạo lực gia đình (BLGĐ) ở Việt Nam là vấn đề phức tạp, được dung dưỡng bởi những hủ tục, đặc biệt là quan điểm bất bình đẳng về giới. “Giá trị truyền thống” này đã tác động đến tâm thức văn hóa của mỗi cá nhân và gia đình, hình thành lối suy nghĩ và hành động theo “chuẩn” tương đối phổ biến là chấp nhận hành vi BLGĐ, thậm chí coi đó như một phương pháp giáo dục, răn dạy con người. Điều này đã đẩy phụ nữ vào vị trí yếu thế, phụ thuộc vào nam giới trong tất cả các hoạt động: kinh tế, văn hóa, giáo dục, chính trị, và cả trong sinh hoạt gia đình…

    Tuyên truyền về BĐG trong gia đình và phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý nghiêm nạn BLGĐ là vấn đề cấp bách hiện nay. Việc làm này không chỉ mang tính xã hội sâu sắc, mà còn là một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ quyền con người, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội, phục vụ tốt sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội tỉnh nhà.

    Hội đã chủ động đề xuất với cấp ủy Đảng, chính quyền về chính sách đào tạo cán bộ nữ, chính sách trợ cấp thai sản, tiền thưởng thêm cho cán bộ nữ nhận bằng khen trở lên. Đồng thời tổ chức các hoạt động tư vấn pháp luật cho phụ nữ; tuyên truyền, phổ biến kiến thức về phòng chống BLGĐ…

    Bên cạnh đó, nhiều mô hình hay về BĐG, phát triển kinh tế gia đình, nâng cao trình độ học vấn cho phụ nữ… được triển khai một cách đồng bộ, hiệu quả. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình, thúc đẩy việc thực hiện BĐG trên địa bàn tỉnh.

    * Ông Nguyễn Trung Kết, Trưởng phòng LĐ-TB&XH huyện Phước Long: Thúc đẩy BĐG góp phần xây dựng nông thôn mới

    Cùng với sự nỗ lực, quyết tâm của các cấp, các ngành và cộng đồng xã hội, cũng như sự ra đời của Luật BĐG, các hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ… đến nay, công tác BĐG đã và đang từng bước được thực hiện có hiệu quả.

    Mặt khác, địa phương còn hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập; vận động chị em thực hiện phong trào phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc gắn với học tập và làm theo gương Bác; thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới”…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới
  • Bất Bình Đẳng Giới Và Hướng Khắc Phục Trong Gia Đình
  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Công Tác Bình Đẳng Giới Ở Kiên Giang
  • Những Giải Pháp Bảo Vệ Rừng Tại Vườn Quốc Gia Ba Bể:những Giải Pháp Bảo Vệ Rừng Tại Vườn Quốc Gia Ba Bể
  • Nghiệm Thu Đề Tài Khoa Học “nghiên Cứu Các Giải Pháp Phòng, Chống Bạo Lực Gia Đình Ở Việt Nam Hiện Nay”
  • Nâng Cao Nhận Thức Về An Toàn Giao Thông Cho Giới Trẻ

    --- Bài mới hơn ---

  • An Ninh Hệ Thống Mạng Toàn Diện Cho Doanh Nghiệp
  • 9 Lời Khuyên Giúp Nâng Cao Bảo Mật An Ninh Mạng Cho Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ
  • Có Một Sứ Mệnh Thời Đại Trong Bảo Vệ Bình Yên Không Gian Mạng
  • An Ninh Ở Việt Nam Trong Điều Kiện Hiện Nay
  • Tăng Cường Bảo Đảm An Ninh Mạng Trong Kỷ Nguyên Trí Tuệ Nhân Tạo
  • Những năm qua, công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về giao thông cho thanh, thiếu niên được các cấp bộ đoàn trong tỉnh triển khai với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, góp phần nâng cao nhận thức cho đoàn viên, thanh niên (ĐVTN) về việc chấp hành luật, phát huy vai trò xung kích của ĐVTN trong việc tham gia đảm bảo trật tự an toàn giao thông (ATGT).

    Đoàn viên, thanh niên tham gia phân luồng và hướng dẫn giao thông tại các điểm thi và các bến xe trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2022.

    Thực hiện Chỉ thị 18-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác bảo đảm trật tự, ATGT đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông”, những năm qua, Ban Thường vụ (BTV) Tỉnh đoàn tăng cường thực hiện nhiều giải pháp nhằm nâng cao ý thức của ĐVTN khi tham gia giao thông. Công tác tuyên truyền pháp luật về trật tự ATGT được các cấp bộ đoàn quan tâm triển khai từ tỉnh đến cơ sở, tổ chức tuyên truyền các nội dung về quy tắc giao thông đường bộ, sử dụng làn đường, phòng chống uống rượu, bia đối với lái xe; quy tắc an toàn khi vượt qua đường sắt, hành lang ATGT đường sắt; điều kiện bảo đảm an toàn phương tiện thủy chở khách; vận động thanh niên thực hiện các hành vi văn hóa khi tham gia giao thông như: Chủ động nhường đường, thân thiện với người đồng hành; không nói tục, chửi bậy, hút thuốc lá, vứt rác bừa bãi; không điều khiển phương tiện khi đã uống rượu, bia; hạn chế sử dụng còi nơi đông người; sẵn sàng giúp đỡ người bị tai nạn giao thông… Trong năm 2022 và 10 tháng năm 2022, toàn tỉnh tổ chức gần 100 buổi ra quân tuyên truyền về ATGT, thu hút hơn 10.000 lượt cán bộ, ĐVTN tham gia; 20 buổi tuyên truyền lưu động về ATGT; hàng trăm buổi tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về ATGT thông qua các diễn đàn, tọa đàm, các cuộc thi, đã thu hút hàng nghìn lượt ĐVTN tham gia; hướng dẫn giao thông tại các nút giao thông quan trọng có mật độ người và phương tiện qua lại, nhất là trong các giờ cao điểm… Ngoài ra, các cấp bộ đoàn còn tổ chức các lớp tập huấn kiến thức về ATGT cho ĐVTN với nhiều nội dung phong phú như: Hướng dẫn nghiệp vụ về Luật Giao thông đường bộ, các biển báo, ký hiệu, các quy định, cách xử lý các tình huống khi tham gia giao thông… Các huyện, thị, thành đoàn, đoàn trực thuộc tổ chức treo hàng trăm băng zôn, khẩu hiệu tuyên truyền về ATGT. Bên cạnh đó, các cấp bộ đoàn đã tổ chức ký cam kết không vi phạm Luật Giao thông đường bộ cho các ĐVTN trên toàn tỉnh; hướng dẫn ĐTVN và nhân dân chấp hành đúng Luật Giao thông đường bộ; tuyên truyền, vận động mọi người đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông. BTV Tỉnh đoàn còn chỉ đạo các cấp bộ đoàn, hội, đội tổ chức tuyên truyền về Luật Giao thông đường bộ trên các phương tiện thông tin đại chúng, phối hợp với Báo Thanh Hóa, Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa xây dựng chuyên mục hàng tháng, trong đó có nội dung tuyên truyền về ATGT. Hàng năm, Tỉnh đoàn phối hợp với Sở Giao thông – Vận tải, Công ty Honda Việt Nam tổ chức lễ phát động ATGT và cấp mũ bảo hiểm đạt chuẩn cho ĐVTN trên địa bàn tỉnh. BTV Tỉnh đoàn đã chỉ đạo các đơn vị huyện, thị, thành đoàn có các trường đại học, cao đẳng đóng trên địa bàn tổ chức thành lập mới và duy trì các đội thanh niên tình nguyện giữ gìn trật tự ATGT, tham gia phân luồng và hướng dẫn giao thông tại các địa điểm thi và các bến xe trong kỳ thi THPT quốc gia. Ngoài ra, các cấp bộ đoàn trong tỉnh phối hợp với ngành giáo dục tiếp tục duy trì mô hình “Cổng trường trật tự ATGT” tại các trường học trên địa bàn tỉnh; chỉ đạo các cơ sở đoàn, đội trong trường học xây dựng các “Bảng tin ATGT trường học”, “Hòm thư góp ý”, “Hòm thư điều em muốn nói”; xây dựng “Đoạn đường thanh niên tự quản”…

    Tuy nhiên, công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho thanh, thiếu niên hiện nay còn một số hạn chế như: Hoạt động của các đội thanh niên tình nguyện giữ gìn trật tự ATGT chưa được tổ chức thường xuyên, số lượng còn ít và chưa có sự gắn kết, do đó, chưa huy động được hết sức mạnh tổng hợp của lực lượng này; cơ chế hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các đội thanh niên tình nguyện ATGT chưa đảm bảo, dẫn đến việc tổ chức các hoạt động còn gặp nhiều khó khăn; các hoạt động tập huấn, đào tạo kỹ năng cho đội ngũ tuyên truyền viên còn nhiều hạn chế, tài liệu cho các lớp tập huấn còn thiếu…

    Thời gian tới, BTV Tỉnh đoàn tiếp tục chỉ đạo các cấp bộ đoàn tăng cường các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về trật tự ATGT gắn với các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, phù hợp với từng địa phương; tuyên truyền gương điển hình thực hiện tốt Luật Giao thông đường bộ; tăng cường phối hợp với các cơ quan, đơn vị tổ chức các hoạt động tuyên truyền hiệu quả công tác bảo đảm trật tự ATGT trên địa bàn tỉnh; tăng cường tập huấn, đào tạo kỹ năng cho đội ngũ tuyên truyền viên nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền các quy định của pháp luật về trật tự ATGT…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Nhận Thức Và Ý Thức Tự Giác Chấp Hành Pháp Luật Của Người Tham Gia Giao Thông
  • Luật Bảo Đảm Trật Tự, An Toàn Giao Thông Đường Bộ Tạo Đột Phá Về Atgt
  • Hệ Thống Giao Thông Thông Minh Its Và Những Lợi Ích Thiết Thực
  • An Toàn Giao Thông Và Những Lợi Ích Của Việc Đội Mũ Bảo Hiểm
  • 2 Bài Văn Mẫu Nghị Luận Xã Hội Về Vấn Đề An Toàn Giao Thông Hiện Nay
  • Đáp Án Về Luật Bình Đẳng Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Biện Pháp Cưỡng Chế Thi Hành Án Dân Sự Và Biện Pháp Bảo Đảm Thi Hành Án Dân Sự
  • Các Phương Thức Bảo Vệ Quyền Sở Hữu Trí Tuệ
  • Bảo Vệ Quyền Sở Hữu Trí Tuệ Là Gì?
  • Làm Gì Để Bảo Vệ Sức Khỏe Khỏi Ô Nhiễm Không Khí?
  • Cưỡng Chế Hành Chính: Khái Niệm Và Đặc Điểm
  • Trang chủHỏi đáp pháp luật

    HỎI – ĐÁP ÁN VỀ LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI 

     Câu 1: Cho tôi hỏi các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới ?

    Trả lời: Theo điều 6 của Luật Bình đẳng giới có các nguyên tắc cơ bản  sau:

    1. Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

    2. Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới.

    3. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới.

    4. Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới.

    5. Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật.

    6. Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân.

    Câu 2: Tôi muốn biết các chính sách của Nhà nước về Bình đẳng giới?

    Trả lời: Theo điều 7 của Luật Bình đẳng giới các chính sách của Nhà nước về Bình đẳng giới được quy định như sau:

    1. Bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển.

    2. Bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ; tạo điều kiện để nam, nữ chia sẻ công việc gia đình.

    3. Áp dụng những biện pháp thích hợp để xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu cản trở thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.

    4. Khuyến khích cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới.

    5. Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; hỗ trợ những điều kiện cần thiết để nâng chỉ số phát triển giới đối với các ngành, lĩnh vực và địa phương mà chỉ số phát triển giới thấp hơn mức trung bình của cả nước.

    Câu 3: Trong Luật Bình đẳng giới có mấy hành vi bị nghiêm cấm ? các hành vi bị nghiêm cấm đó là gì vậy ạ?

    Trả lời: Theo điều 10 của Luật Bình đẳng giới có các hành vi bị nghiêm cấm như sau:

    1. Cản trở nam, nữ thực hiện bình đẳng giới.

    2. Phân biệt đối xử về giới dưới mọi hình thức.

    3. Bạo lực trên cơ sở giới.

    4. Các hành vi khác bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật.

    Câu 4: Luật bình đẳng giới quy định trong gia đình như thế nào?

    Trả lời: Theo điều 18 của Luật Bình đẳng giới, trong gia đình Luật bình đẳng giới được quy định như sau:

    2. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình.

    3. Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật.

    4. Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.

    5. Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình.

    Câu 5: Trách nhiệm của gia đình được quy định trong Luật Bính đẳng giới như thế nào?

    Trả lời: Theo điều 33 của Luật Bình đẳng giới, trách nhiệm của gia đình được quy định như sau:

    1. Tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình nâng cao nhận thức, hiểu biết và tham gia các hoạt động về bình đẳng giới.

    2. Giáo dục các thành viên có trách nhiệm chia sẻ và phân công hợp lý công việc gia đình.

    3. Chăm sóc sức khoẻ sinh sản và tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện làm mẹ an toàn.

    4. Đối xử công bằng, tạo cơ hội như nhau giữa con trai, con gái trong học tập, lao động và tham gia các hoạt động khác.

     Câu 6: Trách nhiệm của công dân được Luật Bình đẳng giới quy định như thế nào?

    Trả lời: Theo điều 34  của Luật Bình đẳng giới, trách nhiệm của công dân nam, nữ có trách nhiệm sau đây:

    1. Học tập nâng cao hiểu biết, nhận thức về giới và bình đẳng giới;

    2. Thực hiện và hướng dẫn người khác thực hiện các hành vi đúng mực về bình đẳng giới;

    3. Phê phán, ngăn chặn các hành vi phân biệt đối xử về giới;

    4. Giám sát việc thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới của cộng đồng, của cơ quan, tổ chức và công dân.

    Câu 7: Giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới gồm các cơ quan nào?

    Trả lời: Theo điều 36 của Luật Bình đẳng giới, giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới gồm các cơ quan sau:

    1. Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.

    2. Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới tại địa phương.

     

     C

    âu 8: Việc Khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới?

    Trả lời: Theo điều 37 của Luật Bình đẳng giới, việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới được quy định như sau:

    1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về bình đẳng giới, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

    2. Việc giải quyết khiếu nại về bình đẳng giới được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

    Câu 9: Việc tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới ?

    Trả lời: Theo điều 38 của Luật Bình đẳng giới, việc tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới như sau:

    1. Cá nhân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.

    2. Việc tố cáo, giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

    Câu 10: Các nguyên tắc xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới?

    Trả lời: Theo điều 39 của Luật Bình đẳng giới, các nguyên tắc xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới được quy định như sau:

    Mọi hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời. Việc xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để theo đúng quy định của pháp luật.

    Câu 11: Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình?

    Trả lời: Theo điều 41 của Luật Bình đẳng giới, các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình được quy định như sau:

    1. Cản trở thành viên trong gia đình có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính.

    2. Không cho phép hoặc cản trở thành viên trong gia đình tham gia ý kiến vào việc sử dụng tài sản chung của gia đình, thực hiện các hoạt động tạo thu nhập hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì định kiến giới.

    3. Đối xử bất bình đẳng với các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính.

    4. Hạn chế việc đi học hoặc ép buộc thành viên trong gia đình bỏ học vì lý do giới tính.

    5. Áp đặt việc thực hiện lao động gia đình, thực hiện biện pháp tránh thai, triệt sản như là trách nhiệm của thành viên thuộc một giới nhất định.

    Câu 12: Các hình thức xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới ?

    Trả lời: Theo điều 42 của Luật Bình đẳng giới, các hình thức xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới được quy định như sau:

    1. Người nào có hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

    2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

     

    Thu Hà

    [Trở về]

    Các tin đã đăng

    • Hỏi đáp pháp luật phần 3 
    • Hỏi đáp pháp luật phần 2 
    • Hỏi đáp pháp luật lao động phần 1 
    • Câu hỏi và trả lời tháng 7.2018 
    • Những điều cần biết về hợp đồng lao động 
    • Hỏi – đáp pháp luật tháng 6.2018 
    • Hỏi – đáp pháp luật tháng 5.2018 
    • Đang nghỉ không lương, bố chết, tính tiền lương thế nào? 
    • Không chốt sổ bảo hiểm xã hội (BHXH) được, việc đóng BHXH ở công ty mới như thế nào? 
    • Giải đáp thắc mắc của đoàn viên, người lao động về chế độ bảo hiểm xã hội, trợ cấp thôi việc, nghỉ hàng năm 

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trang Tuyên Truyền, Phổ Biến Pháp Luật
  • 1.2.3. Áp Dụng Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Hiểu Đúng Về Giáo Dục Sớm Cho Trẻ Từ 0
  • “Một Số Biện Pháp Giáo Dục Sớm Cho Trẻ 24
  • Phương Pháp Giáo Dục Sớm Cho Trẻ 0
  • Nâng Cao Nhận Thức Về An Toàn Giao Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Các Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức, Ý Thức Chấp Hành Pháp Luật Về Bảo Đảm Trật Tự, An Toàn Giao Thông
  • Nâng Cao Nhận Thức Về An Toàn Giao Thông Cho Học Sinh
  • Nâng Cao Nhận Thức Và Hành Vi Của Người Tham Gia Giao Thông
  • Nâng Cao Nhận Thức Về Atgt Cho Học Sinh Miền Núi
  • Tiên Yên: Nhiều Giải Pháp Đảm Bảo Trật Tự An Toàn Giao Thông
  • Để kiến thức về an toàn giao thông (ATGT) gắn kết với học sinh, dần dần xóa bỏ nếp nghĩ cũ “đường ta, ta đi”, thời gian qua, các cơ quan, ban, ngành trong tỉnh đã xây dựng nhiều kế hoạch tuyên truyền đến học sinh, nâng cao nhận thức về luật giao thông.

    Với hình thức sân khấu hóa, các thí sinh nhí đã mang đến Hội thi nhiều tiểu phẩm tuyên truyền hay về ý thức chấp hành luật giao thông.

    Hội thi Tìm hiểu ATGT cấp tiểu học tỉnh Cà Mau năm 2022 được các cơ quan, thầy cô giáo, phụ huynh cũng như học sinh đánh giá cao. Hội thi nhằm củng cố và bổ sung kiến thức về ATGT cho học sinh, để các em vận dụng hiểu biết về ATGT khi tham gia giao thông, từ đó hình thành một số kỹ năng cơ bản cho học sinh khi tham gia giao thông, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong việc học tập, tìm hiểu về ATGT.

    Ban Tổ chức trao giải cho các đơn vị tham gia Hội thi Tìm hiểu an toàn giao thông cấp tiểu học tỉnh Cà Mau năm 2022.

    Em Nguyễn Hoàng Yến Vy, học sinh Trường Tiểu học Phan Ngọc Hiển (huyện Đầm Dơi), chia sẻ: “Hội thi Tìm hiểu về ATGT cấp tiểu học đã cho em rất nhiều điều bổ ích. Chúng em được hướng dẫn chấp hành đúng luật khi tham gia giao thông: Phải đội mũ bảo hiểm, đi đúng phần đường quy định, tránh lạng lách, đánh võng, vượt sai quy định, ý nghĩa các biển báo trên đường… từ đó chấp hành đúng quy định để đảm bảo an toàn cho chính mình”.

    Hội thi Tìm hiểu an toàn giao thông cấp tiểu học tỉnh Cà Mau năm 2022 được các cơ quan, thầy cô giáo, phụ huynh cũng như học sinh đánh giá cao.

    Ở nước ta, mỗi năm tai nạn giao thông (TNGT) đã cướp đi sinh mạng của hàng chục ngàn người, bình quân mỗi ngày trên cả nước xảy ra gần 36 vụ TNGT, làm chết gần 20 người. Theo báo cáo sơ kết của Ủy ban ATGT quốc gia, trong 9 tháng đầu năm 2022, toàn quốc xảy ra 13.242 vụ TNGT, làm chết 6.012 người, bị thương 10.319 người. Riêng tỉnh Cà Mau, trong năm 2022 tính đến thời điểm hiện tại, xảy ra 75 vụ TNGT, làm chết 29 người, bị thương 93 người. So với cùng kỳ năm trước, TNGT giảm 6 vụ, giảm 4 người chết và giảm 15 người bị thương.

    Các vụ TNGT xảy ra, nguyên nhân chính là do ý thức tham gia giao thông của một bộ phận người dân còn hạn chế, ý thức chấp hành luật giao thông chưa cao, từ đó dẫn đến nhiều trường hợp TNGT đáng tiếc xảy ra, gây thương vong, để lại hậu quả nặng nề và là gánh nặng cho gia đình, xã hội. Chính vì lẽ đó, thời gian qua, ngoài quan tâm tạo điều kiện, nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông đã được các cấp, ngành, địa phương, nhà trường chú trọng thì việc tuyên truyền đến mọi tầng lớp nhân dân đã được thực hiện khá tốt, trong đó chú trọng đối tượng là học sinh các cấp học. Ở nhiều cơ sở giáo dục, nội dung tuyên truyền luật giao thông và quy định về việc đội mũ bảo hiểm được thực hiện thường xuyên trong những buổi học ngoại khóa, vừa tạo phấn khích cho học sinh, vừa có tác dụng như “mồi lửa” để lan tỏa trong gia đình, cộng đồng và xã hội.

    Với mục đích nâng cao nhận thức, ý thức tự giác chấp hành pháp luật, xây dựng văn hóa giao thông, góp phần kiềm chế, làm giảm TNGT và vận động toàn dân tham gia bảo đảm trật tự ATGT tại cơ sở, thời gian qua, nhà trường, các cơ quan, ban, ngành đã đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, gắn công tác tuyên truyền với các hoạt động xã hội khác nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền về luật giao thông. Từ đó, nêu cao tinh thần trách nhiệm, để mỗi người dân, nhất là học sinh các cấp học chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về ATGT.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân 6 Bài 14: Thực Hiện Trật Tự An Toàn Giao Thông (Tiết 1)
  • Suy Nghĩ Về An Toàn Giao Thông Hiện Nay
  • Dàn Ý Nghị Luận Về Vấn Đề An Toàn Giao Thông Hiện Nay
  • Nêu Suy Nghĩ Về Vấn Đề An Toàn Giao Thông Hiện Nay
  • Những Suy Nghĩ, Giải Pháp An Toàn Giao Thông…
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100