Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Kế Toán Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top Like | Photomarathonasia.com

Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Kế Toán Trong Nghiệp Vụ Hóa Đơn

Chuyên Đề Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Kế Toán Tài Sản Cố Định Hữu Hình Tại Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Phú Thái

Nâng Cao Hiệu Quả Tổ Chức Công Tác Kế Toán Trong Doanh Nghiệp

Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Kế Toán Tại Các Đơn Vị Trực Thuộc Sở Tài Nguyên Và Môi Trường:

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Thúc Đẩy Công Tác Đổi Mới Trong Nhà Trường

Cty Cp Giải Pháp Tinh Hoa Tuyển Dụng Nhân Viên Kinh Doanh

Hiện nay, không ít doanh nghiệp vẫn còn đang sử dụng hóa đơn giấy và gặp phải nhiều hạn chế, bất cập.

Thứ nhất, thủ tục khi muốn đăng ký, phát hành hóa đơn giấy hiện khá rườm rà, phải qua nhiều công đoạn và tốn không ít thời gian cũng như chi phí. Điều này sẽ khiến cho kế toán của doanh nghiệp phải làm việc nhiều với cường độ cao nhưng hiệu quả mang lại đôi khi không thật sự như mong muốn.

Chẳng hạn như khi doanh nghiệp muốn đăng ký hóa đơn đỏ thì doanh nghiệp cần phải tiến hành các thủ tục tối thiểu như sau:

– Nộp đơn đề nghị xin hóa đơn đỏ

– Đợi khoảng 7 ngày để chờ quyết định phê duyệt hay từ chối từ cơ quan thuế

– Tìm nhà in đủ điều kiện để làm hợp đồng thuê in, làm hồ sơ in,…

– Đem mẫu đăng ký tới xưởng in để đặt in theo một số lượng nhất định để sử dụng.

Hạn chế thứ hai mà các doanh nghiệp thường gặp phải khi dùng hóa đơn giấy là tốn nhiều thời gian và công sức. Bởi, ngoài việc phải mất nhiều thời gian đăng ký phát hành hóa đơn giấy để được sử dụng thì các kế toán khi dùng hóa đơn giấy phải tự tay viết hóa đơn, tiến hành gửi hóa đơn đến cho khách hàng,… Đó còn chưa kể trường hợp có sai sót xảy ra thì tiến hành các thủ tục sửa, hủy bỏ, lập lại,… để khắc phục lỗi.

Thứ ba, khi sử dụng hóa đơn giấy, kế toán và doanh nghiệp luôn phải rất cẩn thận vì bất cứ khi nào các rủi ro như: thất lạc, mất, cháy, hỏng hóa đơn,… đều có thể xảy ra. Với những hóa đơn quan trọng thì doanh nghiệp thậm chí sẽ phải tổn thất rất lớn nếu một trong những rủi ro trên xảy ra.

2. Doanh nghiệp có nên chuyển đổi hóa đơn điện tử hay không?

– Thủ tục đăng ký phát hành hóa đơn được tiến hành đơn giản, nhanh chóng, thực hiện ngay trên cổng thông tin online của Tổng cục Thuế. Theo đó, các kế toán doanh nghiệp không cần phải chuẩn bị, in ấn hồ sơ rồi mang tới tận cơ quan thuế trực thuộc nộp như trước đây. Doanh nghiệp chỉ phải chờ 1-2 ngày sau khi nộp hồ sơ thông báo phát hành là đã có kết quả từ cơ quan thuế và được sử dụng. Điều này giúp tiết kiệm rất nhiều thời gian mà vẫn nâng cao hiệu quả làm việc cho kế toán.

– Rút ngắn quy trình lập, xuất hóa đơn. Không chỉ vậy, hệ thống hóa đơn điện tử thông minh còn giúp phát hiện và cảnh báo lỗi sai đến kế toán nhằm hạn chế tối đa các sai sót có thể xảy ra khi xuất hóa đơn,… giảm thiểu áp lực lỗi sai hóa đơn cho kế toán.

– Giảm thiểu tối đa chi phí hóa đơn so với việc sử dụng hóa đơn giấy. Các chi phí như giấy in, mực in, phí vận chuyển, lưu trữ hóa đơn,… đã được cắt giảm hoàn toàn.

Có thể khẳng định rằng: hóa đơn điện tử hiện là xu hướng tất yếu của thời đại số mà mọi doanh nghiệp đều nên sử dụng.

Một lý do nữa mà các doanh nghiệp nên nhanh chóng hoàn thành chuyển đổi sử dụng hóa đơn điện tử là bởi việc sử dụng hóa đơn điện tử đã được luật hóa. Cụ thể tại Thông tư số 68/2019/TT-BTC, được ban hành mới đây nhất của Bộ Tài chính, đã khẳng định như sau: “Từ ngày 01 tháng 11 năm 2022, các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức khác, hộ, cá nhân kinh doanh phải thực hiện đăng ký áp dụng hóa đơn điện tử”.

Như vậy, từ 01/11/2020 thì việc chuyển đổi sử dụng hóa đơn điện tử là quy định bắt buộc đối với mọi doanh nghiệp. Những trường hợp chậm trễ chuyển đổi sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Với những ưu điểm không thể phủ nhận, hóa đơn điện tử hiện được đánh giá là giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kế toán nói chung và nâng cao hiệu quả cho nghiệp vụ hóa đơn của kế toán nói riêng.

Không chỉ vậy, với quy định pháp luật hiện hành thì hóa đơn điện tử sẽ trở thành hình thức hóa đơn bắt buộc với mọi doanh nghiệp từ ngày 01/11/2020. Do đó, các doanh nghiệp cần sớm chuyển chuyển đổi hóa đơn điện tử để đảm bảo tính hợp pháp cho nghiệp vụ hóa đơn điện tử của doanh nghiệp mình, cũng như tính hợp pháp cho cả chu trình kinh doanh, đồng thời nhận lại được nhiều lợi ích mà hóa đơn điện tử mang lại.

Nếu doanh nghiệp đang phân vân chưa biết lựa chọn phần mềm hóa đơn điện tử nào uy tín, chuyên nghiệp thì có thể tham khảo ngay phần mềm E-invoice của ThaisonSoft.

Đặc biệt, nhằm đồng hành, hỗ trợ các doanh nghiệp khỏi lúng túng trong thực hiện các thủ tục, hồ sơ, giấy tờ, ThaisonSoft có triển khai chương trình 100% hỗ trợ doanh nghiệp các thủ tục phát hành hóa đơn điện tử lần đầu qua mạng, sử dụng chỉ sau 2 ngày đăng ký. Phí thiết kế mẫu hóa đơn cơ bản cho doanh nghiệp cũng được miễn phí 100%. Do đó, bạn và doanh nghiệp có thể hoàn toàn an tâm hơn khi lựa chọn phần mềm hóa đơn điện tử E-invoice, góp phần tạo giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kế toán cho doanh nghiệp mình.

Để được tư vấn về phần mềm hóa đơn điện tử E-invoice hoàn toàn miễn phí, Quý doanh nghiệp vui lòng liên hệ ngay Hotline 24/7:

Đã Có Hơn 500 Đội Tham Gia Cuộc Thi “tìm Kiếm Giải Pháp Chấm Điểm Tín Dụng Tại Việt Nam”

Cuộc Thi Tìm Kiếm Giải Pháp Chấm Điểm Tín Dụng Tại Việt Nam

Pokemon Đoạt Giải Nhất Cuộc Thi Tìm Kiếm Giải Pháp Chấm Điểm Tín Dụng Bằng Công Nghệ

Giải Pháp Nâng Cấp Mô Hình Chấm Điểm Tín Dụng

Giải Pháp Chấm Công Điểm Danh Học Sinh Sinh Viên Qua Smartphone…

Nâng Cao Hiệu Quả Tổ Chức Công Tác Kế Toán Trong Doanh Nghiệp

Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Kế Toán Tại Các Đơn Vị Trực Thuộc Sở Tài Nguyên Và Môi Trường:

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Thúc Đẩy Công Tác Đổi Mới Trong Nhà Trường

Cty Cp Giải Pháp Tinh Hoa Tuyển Dụng Nhân Viên Kinh Doanh

Khó Khăn Và Giải Pháp Học Tiếng Anh Hiệu Quả

Giải Pháp Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cho Học Sinh Tiểu Học

Đặt vấn đề

Hiện nay, đại đa số các nhà quản trị doanh nghiệp (DN) còn hạn chế về trình độ quản lý, chưa coi trọng đúng mực về vấn đề tổ chức công tác kế toán trong DN. Những quyết định kinh doanh chủ yếu được đưa ra dựa trên cảm tính, ít khi có căn cứ cụ thể dựa trên tình hình tài chính của DN, tình hình thị trường, từ đó ảnh hưởng lớn đến sức cạnh tranh và vị thế của các DN trên thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay.

Bối cảnh này đòi hỏi nhà quản trị DN cần chú trọng đến tổ chức công tác kế toán trong DN. Để phát huy vai trò của công tác này, đòi hỏi mỗi DN phải có sự thích ứng, linh hoạt với điều kiện về quy mô, đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh gắn với những yêu cầu quản lý cụ thể tại đơn vị mình. Các nội dung về tổ chức công tác kế toán trong DN cần được hiểu rõ và vận dụng một cách phù hợp, qua đó góp phần quan trọng vào việc quản lý tại DN.

Tổ chức công tác kế toán tại doanh nghiệp

Để thu nhận, xử lý thông tin kế toán, phải thông qua một hệ thống các phương pháp khoa học nhất định là phương pháp kế toán. Đồng thời, phải có yếu tố tổ chức bộ máy kế toán với những cán bộ làm công tác kế toán hiểu biết về chuyên môn và được phân công nhiệm vụ cụ thể rõ ràng trong thực hiện các công việc kế toán. Hay nói cách khác, phải có tổ chức bộ máy, tổ chức con người làm kế toán.

Trên góc nhìn nghiên cứu, tổ chức công tác kế toán trong DN là tổ chức việc thực hiện các chuẩn mực, chế độ kế toán để phản ánh tình hình tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra kế toán, chế độ bảo quản, lưu trữ tài liệu kế toán, cung cấp thông tin tài liệu kế toán và các nhiệm vụ khác của kế toán cho các đối tượng cần sử dụng.

Trên quan điểm của DN, tổ chức công tác kế toán là tổ chức việc thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp thông tin về hoạt động của DN trên cơ sở vân dụng các phương pháp kế toán và tổ chức bộ máy kế toán tại DN, nhằm quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Tổ chức công tác kế toán là việc xây dựng các quy trình hạch toán, phân công, quy định mối liên hệ giải quyết công việc giữa các nhân viên kế toán cũng như với các bộ phận khác trong DN.

Như vậy, tổ chức công tác kế toán tại DN vừa giải quyết được việc thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán và các phương pháp, phương tiện tính toán, nhằm đạt được mục đích của công tác kế toán; vừa phải đảm bảo tổ chức bộ máy kế toán hợp lý.

Ý nghĩa và nguyên tắc của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp Về ý nghĩa

Kế toán là việc thu thập, xử lý và kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin giúp nhà quản lý có thể nắm bắt mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Do vậy, tổ chức công tác kế toán trong đơn vị hợp lý, khoa học có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý và điều hành hoạt động của đơn vị. Việc tổ chức công tác kế toán có ý nghĩa quan trọng đối với DN, thể hiện trên các khía cạnh sau:

– Là công cụ thiết yếu để phân tích, đánh giá, tham mưu cho nhà quản trị đưa ra các quyết định quản lý phù hợp.

– Cung cấp chính xác, kịp thời và đầy đủ các thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị cho lãnh đạo đơn vị và các đối tượng quan tâm để có các quyết định đúng đắn, kịp thời.

– Đảm bảo ghi chép, theo dõi, phản ánh và giám sát chặt chẽ các loại tài sản, nguồn vốn kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nguồn vốn trong đơn vị. Ghi chép và phản ánh một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ và có hệ thống tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại DN.

– Đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc, các chính sách, chế độ, thể lệ và các quy định của pháp luật hiện hành. Hiện nay, chế độ kế toán DN cần thực hiện theo Luật Kế toán sửa đổi 2022, Nghị định số 174/2016/NĐ-CP ngày 30/12/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Kế toán; và 3 thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính (Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 hướng dẫn chế độ kế toán DN; Thông tư số 133/2016/TT-BTC ngày 26/8/2016 về chế độ kế toán DN nhỏ và vừa; Thông tư số 132/2018/TT-BTC ngày 28/12/2018 hướng dẫn chế độ kế toán đối với DN siêu nhỏ). Các DN cần nắm rõ các quy định để áp dụng đúng với loại hình DN của mình.

– Đảm bảo nguyên tắc thống nhất giữa các bộ phận kế toán trong đơn vị, giữa đơn vị chính với các đơn vị thành viên và các đơn vị nội bộ, giữa tổ chức công tác kế toán ở công ty mẹ và các công ty. Nguyên tắc thống nhất thể hiện ở các phương diện như: Thống nhất trong thiết kế, xây dựng các chỉ tiêu trên chứng từ, sổ kế toán và báo cáo kế toán với các chỉ tiêu quản lý; Thống nhất trong nội dung, kết cấu và phương pháp ghi chép trên các tài khoản kế toán; Thống nhất giữa các yếu tố chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo kế toán với nhau…

– Đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả. Theo đó, trên phương diện quản lý, phải đảm bảo hiệu quả trong quản lý các đổi tượng hạch toán kế toán trên cơ sở các thông tin do kế toán cung cấp. Trên phương diện kế toán, phải đảm bảo tính đơn giản, dễ làm, dễ đối chiếu, kiểm tra, chất lượng thông tin do kế toán cung cấp phải đảm bảo tính tin cậy, khách quan, đầy đủ, kịp thời, có thể so sánh được và đảm bảo tính khoa học, tiết kiệm, tiện lợi cho thực hiện khói lượng công tác kế toán trên hệ thống sổ kế toán cũng như công tác kiểm tra kế toán…

– Tổ chức bộ máy kế toán: Tổ chức bộ máy kế toán là sự sắp xếp, phân công công việc cho từng kế toán viên và tổ chức luân chuyển chứng từ trong phòng kế toán của DN. Một bộ máy kế toán được tổ chức tốt sẽ giúp cho các thủ tục hành chính của DN hoạt động hiệu quả (đúng thủ tục hành chính, tiết kiệm chi phí thuế DN…). Việc lựa chọn hình thức tổ chức bộ máy kế toán khoa học, hợp lý sẽ làm giảm bớt khối lượng công việc kế toán, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Điều này giúp cho việc tổ chức công tác kế toán thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của kế toán, qua đó phát huy được vai trò của kế toán trong quản lý kinh tế, tài chính của DN. Theo quy định hiện hành, DN phải bố trí người làm kế toán đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của Luật Kế toán, số lượng người làm kế toán tùy theo quy mô hoạt động, yêu cầu quản lý, chức năng nhiệm vụ hoặc biên chế của đơn vị.

– Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán: Theo quy định của Luật Kế toán, tài khoản kế toán dùng để phân loại và hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế, tài chính theo nội dung kinh tế. Hệ thống tài khoản kế toán gồm các tài khoản kế toán cần sử dụng. Mỗi đơn vị kế toán chỉ được sử dụng một hệ thống tài khoản kế toán cho mục đích kế toán tài chính theo quy định của Bộ Tài chính. Để thực hiện đúng quy định, DN cần nắm rõ các quy định tại các thông tư quy định chế độ kế toán DN của Bộ Tài chính như: Thông tư số 200/2014/TT-BTC, Thông tư số 133/2016/TT-BTC, Thông tư số 132/2018/TT-BTC.

– Lập và phân tích báo cáo kế toán: Nhà nước có quy định thống nhất về nội dung, phương pháp, thời gian lập và gửi đối với các báo cáo kế toán định kỳ, đó là các báo cáo tài chính (BCTC), cung cấp thông tin cho các đối tượng quan tâm, sử dụng thông tin kế toán với những mục đích khác nhau để đưa ra các quyết định phù hợp. BCTC của DN gồm: Báo cáo tình hình tài chính; báo cáo kết quả hoạt động; báo cáo lưu chuyển tiền tệ; thuyết minh báo cáo khác theo quy định của pháp luật. Ngoài BCTC, hệ thống báo cáo kế toán của DN còn bao gồm các báo cáo kế toán quản trị, không mang tính chất bắt buộc, nhằm cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu quản lý nội bộ ngành, nội bộ đơn vị. Do vậy, nội dung, hình thức trình bày, kỳ báo cáo được quy định tùy theo yêu cầu quản trị trong từng DN.

– Tổ chức công tác kiểm tra kế toán: Việc kiểm tra kế toán nhằm đảm bảo việc thực hiện đúng đắn các phương pháp kế toán, các chế độ kế toán hiện hành; Tổ chức công tác chỉ đạo công tác kế toán tại DN đảm bảo thực hiện đúng vai trò của kế toán trong quản lý kinh tế, tài chính. Việc kiểm tra kế toán sẽ tăng cường tính đúng đắn, hợp lý, khách quan của thông tin kế toán được cung cấp.

– Ứng dụng công nghệ xử lý thông tin trong công tác kế toán: Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán của DN không chỉ giải quyết được vấn đề xử lý và cung cấp thông tin nhanh chóng, thuận lợi, mà nó còn làm tăng năng suất lao động của bộ máy kế toán, tạo cơ sở để tinh giảm bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác kế toán. Hiện nay, hầu hết DN đều có các phần mềm kế toán riêng để phục vụ cho công tác kế toán tại DN. Phần mềm kế toán sử dụng phải phù hợp với chế độ kế toán hiện hành, được thiết kế phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của DN.

Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp

Nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức công tác kế toán trong DN, trong thời gian tới, công tác này cần chú ý một số nội dung sau:

– Về tổ chức bộ máy kế toán: Hiện nay, trong các DN việc tổ chức công tác, bộ máy kế toán có thể tiến hành theo một trong 3 hình thức: Tổ chức bộ máy kế toán tập trung; Tổ chức bộ máy kế toán phân tán và Tổ chức bộ máy kế toán hỗn hợp (vừa tập trung vừa phân tán). Thông thường, việc tổ chức bộ máy kế toán cần tuân thủ những nguyên tắc cơ bản sau: Phù hợp với yêu cầu và trình độ nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kế toán; Gọn nhẹ, hợp lý, đúng năng lực và hiệu quả; Phù hợp với đặc điểm, điều kiện tổ chức sản xuất kinh doanh, điều kiện hoạt động của DN trên cơ sở tổ chức phân cấp và phân công rõ ràng nhiệm vụ thực hiện các phần hành kế toán cho từng cán bộ kế toán cụ thể của đơn vị.

– Về hệ thống chứng từ kế toán: Hiện nay, hệ thống chứng từ kế toán hiện hành do Bộ Tài chính quy định, DN có thể tự thiết kế chứng từ kế toán nhưng phải đảm bảo các yếu tố để thu nhận và cung cấp thông tin kế toán. Đồng thời, biểu mẫu chứng từ kế toán phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh, đảm bảo rõ ràng, minh bạch, dễ kiểm tra, kiểm soát. Cần xây dựng hệ thống chứng từ đơn giản, rõ ràng, phù hợp với quy định của chế độ kế toán, bên cạnh đó, các chỉ tiêu phản ánh trong chứng từ phải thể hiện được yêu cầu quản lý nội bộ. Tất cả các chứng từ kế toán được lập từ trong đơn vị hay từ các đơn vị bên ngoài phải tập trung vào phòng kế toán và chỉ sau khi kiểm tra xác minh tính pháp lý của chứng từ thì mới dùng ghi sổ kế toán.

– Về hệ thống tài khoản kế toán: Theo quy định hiện hành, DN có thể lựa chọn hệ thống tài khoản do Bộ Tài chính ban hành kèm theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC, Thông tư số 133/2016/TT-BTC, Thông tư số 132/2018/TT-BTC. Như vậy, DN cần dựa vào hệ thống tài khoản kế toán do Bộ Tài chính ban hành, DN căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và tính chất hoạt động, cũng như đặc điểm sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý để nghiên cứu, lựa chọn các tài khoản kế toán phù hợp để hình thành một hệ thống tài khoản kế toán cho đơn vị mình.

– Về kiểm tra, giám sát trong công tác tổ chức kế toán: Việc kiểm tra, giám sát công tác tổ chức kế toán trong DN, nhằm đảm bảo cho công tác kế toán trong các DN thực hiện tốt các yêu cầu nhiệm vụ và chức năng của mình trong công tác quản lý. Đây là việc làm thường xuyên và đòi hỏi bắt buộc tại DN nhằm đảm bảo công tác tổ chức kế toán thực hiện đúng quy định của pháp luật gắn với việc tổ chức hướng dẫn các cán bộ, nhân viên trong đơn vị hiểu và chấp hành chế độ quản lý kinh tế, tài chính nói chung và chế độ kế toán nói riêng và tổ chức kiểm tra kế toán nội bộ tổ chức.

– Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tổ chức kế toán: Để ứng dụng tốt công nghệ thông tin vào công tác kế toán, DN cần tổ chức trang bị thiết bị, phương tiện kỹ thuật, kiến thức tin học cho bộ phận kế toán để kế toán viên có thể sử dụng thành thạo thiết bị, vận hành được các chương trình trên thiết bị từ đó phục vụ tốt công tác kế toán.

Kết luận

Kế toán có vai trò quan trọng trong hệ thống công cụ quản lý của DN. Trong khoa học quản lý, kế toán được nhìn nhận là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động. Kế toán còn là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản, sự vận động tài sản, các hoạt động kinh tế tài chính trong DN, nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của DN. Tuy nhiên, vai trò quan trọng của kế toán chỉ được phát huy khi đơn vị kế toán tổ chức công tác kế toán khoa học và hiệu quả.

Việc tổ chức công tác kế toán tại DN cần gắn với tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán và chế độ kế toán hiện hành, tổ chức vận dụng hình thức kế toán hợp lý, chế độ kế toán, chuẩn mực kế toán, thông lệ kế toán và các phương tiện kỹ thuật tính toán hiện có nhằm đảm bảo chất lượng của thông tin kế toán của đơn vị.

1. Quốc hội (2015), Luật Kế toán số 88/2015/QH13;

2. Chính phủ (2016), Nghị định số 174/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Kế toán năm 2022;

3. Bộ Tài chính (2014), Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp;

4. Bộ Tài chính (2016), Thông tư số 133/2016/TT-BTC ngày 26/8/2016 hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa;

5. Đào Ngọc Hà (2018), Tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp theo quy định của Luật Kế toán 2022;

6. Kế toán Đức Minh (2019), Làm thế nào để nâng cao hiệu quả công tác kế toán doanh nghiệp?.

7. Đặng Hữu Khánh Trung (2020), Bàn về tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp theo quy định hiện hành, Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 11/2019.

Chuyên Đề Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Kế Toán Tài Sản Cố Định Hữu Hình Tại Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Phú Thái

Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Kế Toán Trong Nghiệp Vụ Hóa Đơn

Đã Có Hơn 500 Đội Tham Gia Cuộc Thi “tìm Kiếm Giải Pháp Chấm Điểm Tín Dụng Tại Việt Nam”

Cuộc Thi Tìm Kiếm Giải Pháp Chấm Điểm Tín Dụng Tại Việt Nam

Pokemon Đoạt Giải Nhất Cuộc Thi Tìm Kiếm Giải Pháp Chấm Điểm Tín Dụng Bằng Công Nghệ

Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Thads

“thực Trạng, Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Lực, Hiệu Quả Việc Áp Dụng Biện Pháp Cưỡng Chế Thi Hành Án Dân Sự Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Ngãi” (Số Liệu Từ Ngày 1/12/2013 Đến 31/5/2015)

Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Thi Hành Án Dân Sự

Người Sáng Kiến Các Giải Pháp Quản Lý Đường Bộ Hà Tĩnh

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Cơ Sở Vật Chất Tài Sản Lớp Học Trường Thcs Thị Trấn Cát Bà

Thuyết Minh Mô Tả Thực Hiện Skkn

CỤC THI HÀNH ÁN DS TỈNH KON TUM

CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIẸT NAM

ĐỀ TÀI, SÁNG KIẾN GIẢI PHÁP NÂNG

CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

2. Mục đích của đề tài, sáng kiến:

Để nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dán sự rất cần có các giải pháp nâng cao tính hiệu quả trong công tác thi hành án, có thể nói đây là nhiệm vụ quan trọng nhất, cấp bách nhất trong giai đoạn hiện nay. Vấn đề này đã và đang được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm. Chính vì tầm quan trọng này mà Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số: 21/2008/CT-TTg ngày 01 tháng 7 năm 2008 về việc tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự, trong đó xác định phải tạo chuyển biến cơ bản về công tác thi hành án dân sự. Hàng năm, Cục Thi hành án trên cơ sở chỉ tiêu giao của Tổng cục cũng đã ban hành quyết định giao chỉ tiêu cho các Chi cục, trong đó xác định tỷ lệ % kết quả thi hành án là điều kiện xét thi đua của năm.

Là cơ quan có tính chất đặc thù riêng lại đóng chân trên địa bàn là huyện vùng cao, biên giới còn gặp nhiều khó khăn về mọi mặt. Việc thi hành nhiệm vụ còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc vì nhiều lẽ: trình độ dân trí của một bộ phận người dân còn thấp; sự hiểu biết về pháp luật thi hành án còn hạn chế; không ít các trường hợp đương sự còn gặp khó khăn về kinh tế, không có thu nhập ổn định, hoặc thu nhập thấp dẫn đến khi phải thi hành án thì không có điều kiện.

Để nâng cao trình độ dân trí, sự hiểu biết pháp luật nói chung và pháp luật về Thi hành án nói riêng cho người dân là một việc làm mang tầm vĩ mô cần có sự đầu tư về nhiều mặt và sự phối hợp của nhiều cơ quan ban ngành trong xã hội.

Đứng trước những khó khăn, thách thức đó, bản thân đã áp dụng nhiều giải pháp mang lại hiệu quả rõ rệt, nâng cao kết quả thi hành án.

Trong năm 2013 bản thân đã áp dụng các giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả trong công tác thi hành án là: Đề cao vai trò lãnh chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương và ngành cấp trên; tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan hữu quan trong công tác thi hành án; tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật về thi hành án; làm tốt công tác vận động, thuyết phục thân nhân của người phải thi hành án thi hành thay phần nghĩa vụ của người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù; tăng cường công tác phân loại đơn yêu cầu thi hành án trước khi thụ lý. Các giải pháp này được triển khai áp dụng trong toàn đơn vị, trong đó đối tượng áp dụng là toàn thể Chấp hành viên và cán bộ, công chức của đơn vị.

Công tác thi hành án dân sự đã và đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ. Năm 2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2022 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2022. Thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, Quốc hội đã ban hành Luật thi hành án dân sự năm 2008 và Nghị quyết số 24/2008/NQ-QH về thi hành Luật này. Trên cơ sở đó, Chính phủ, Bộ Tư pháp và các Bộ, Ngành Trung ương đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự, trong đó yêu cầu giảm án chuyển kỳ sau là một nhiệm vụ cấp bách của ngành Thi hành án dân sự. Năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 21/2008/CT-TTg ngày 01 tháng 7 năm 2008 về việc tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự.

Ở địa phương cấp ủy, chính quyền địa phương cũng rất quan tâm đến lĩnh vực thi hành án dân sự, ngày 30/7/2009 Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị số: 04/2009/CT-UBND về tăng cường sự phối hợp trong công tác thi hành án dân sự, trong đó nêu rõ. Ở cấp huyện Ban chỉ đạo Thi hành án cũng được thành lập nhằm tăng cường sự chỉ đạo của chính quyền trong công tác thi hành án, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giải quyết các vụ việc phức tạp được thuận lợi, nhanh chóng hơn.

Có thể nói, tầm quan trọng của công tác thi hành án dân sự ngày càng được nâng cao, ngày càng được nhận thức và xác định đúng hơn với tính chất, yêu cầu nhiệm vụ công tác. Nhiều văn bản pháp luật quan trọng đã ra đời, đặc biệt là Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Nhiều quy định về thủ tục thi hành án đã thể hiện được quan điểm cải cách tư pháp, cải cách hành chính, phù hợp với thực tiễn, yêu cầu phát triển của xã hội. Nhiều tồn tại, vướng mắc trong công tác thi hành án dân sự đã được tháo gỡ, góp phần từng bước nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án. Trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đã được cụ thể hóa hơn, chặt chẽ, hiệu quả hơn. Với nhiều quy định mới, vị thế, vai trò, tổ chức bộ máy, biên chế của các cơ quan Thi hành án dân sự đã được nâng cao hơn cả về mặt “chất” cũng như về mặt “lượng”. Các điều kiện về cơ sở vật chất được cải thiện đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan Thi hành án dân sự hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi và hiệu quả mà Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành đã mang lại, thì trình tự, thủ tục thi hành án dân sự vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế gây khó khăn cho việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan Thi hành án dân sự. Sự phối hợp công tác giữa các cơ quan hữu quan với cơ quan Thi hành án dân sự vẫn có lúc, có nơi chưa chặt chẽ. Đây là những thách thức rất lớn, vì vậy, để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đòi hỏi phải có những giải pháp cụ thể và hiệu quả, và những giải pháp sau đây của ban thân đã được triển khai áp dụng, góp phần thiết thực giải quyết các khó khăn, thách thức trong lĩnh vụ công tác thi hành án dân sự tại địa phương, góp giúp đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác trong năm 2013.

* Tranh thủ sự quan tâm, lãnh chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương.

Luôn đề cao sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy chính quyền địa phương và ngành cấp trên trong công tác thi hành án. Xác định sự lãnh, chỉ đạo có vai trò to lớn quyết định đến kết quả của công tác thi hành án, vì vậy bản thân đã đã tham mưu, đề xuất cho đơn vị phải tranh thủ sự quan tâm lãnh chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền và ngành cấp trên. Những đề xuất của bản thân đã được ghi nhận áp dụng trong thực tiễn thi hành nhiệm vụ, đối với những vụ việc khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết Chấp hành viên luôn xin ý kiến chỉ đạo của ngành cấp trên để có căn cứ giải quyết nhằm hoàn thành nhiệm vụ và bảo đảm quyền lợi cho đương sự.

* Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong thi hành án dân sự.

* Tuyên truyền pháp luật về Thi hành án dân sự.

Qua những buổi làm việc trực tiếp với đương sự, thân nhân của đương sự, những lúc tiến hành xác minh thi hành án tại các cơ quan ban ngành, bản thân luôn tranh thủ giải thích về pháp luật thi hành án dân sự, nhằm tuyên truyền sâu rộng pháp luật thi hành án dân sự đến mọi người dân. Điều này giúp người dân hiểu sâu, hiểu đúng về Thi hành án dân sự, từ đó đã có không ít các trường hợp thay đổi tư duy suy nghĩ, tự nguyện thi hành phần nghĩa vụ của mình.

* Vận động, thuyết phục đương sự, và thân nhân của đương sự thi hành nghĩa vụ của mình và người thân.

Thực tế cho thấy việc vận động thuyết phục đương sự, và thân nhân của đương sự thi hành nghĩa vụ của mình và người thân đã mang lại nhiều kết quả trong công tác thi hành án dân sự. Bản thân rất chú trọng tới việc vận động, thuyết phục đương sự và thân nhân của đương sự. Sau khi nghiên cứu hồ sơ xác định đây là trường hợp trây ỳ, không có tài sản, hoặc đang chấp hành hình phạt tại các trại giam không có thu nhập, sẽ tiến hành xác minh qua đó có các biện pháp mềm dẻo vận động, thuyết phục đương sự thi hành nghĩa vụ của mình. Đối với những trường hợp không có tài sản, thu nhập và đang thụ án sẽ vận động thuyết phục nhân thân của họ thi hành thay cho họ. Những biện pháp này đã giúp giải quyết được rất nhiều các vụ việc tránh tồn đọng án.

* Phân loại đơn yêu cầu thi hành án.

Bản thân đã tham mưu cho đơn vị trong việc nhận đơn yêu cầu thi hành án của đương sự đó là, để tránh tình trạng thụ lý các vụ việc theo đơn yêu cầu thi hành án sau đó gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc thi hành án dẫn đến án khó thi hành tồn đọng kéo dài thì việc nhận đơn phải được kiểm tra kỹ càng, đương sự phải cung cấp được thông tin về tài sản đủ điều kiện, phù hợp với yêu cầu thi hành án mới tiến hành thụ lý hồ sơ. Việc này đã làm giảm đáng kể các vụ việc tồn đọng tại đơn vị.

Sau khi áp dụng các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác thi hành án của bản thân vào thực tế công tác tại đơn vị đã đạt được nhiều kết quả.

Năm 2013 tỷ lệ giải quyết án đạt 96,98% về việc và 99,68% về tiền, đây là kết quả đạt được cao nhất so với những năm gần đây, đó là thành quả của việc áp dụng các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án mà bản thân đã tham mưu đề xuất với đơn vị.

– Công tác thi hành án dân sự chỉ đạt kết quả cao khi cơ quan THADS tranh thủ được sự lãnh chỉ đạo của Cục THADS và của Cấp ủy, chính quyền địa phương.

– Phải chủ động, thực hiện có hiệu quả công tác phối hợp giũa cơ quan Thi hành án dân sự và các cơ quan, ban ngành hữu quan.

– Phải tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật về thi hành án; làm tốt công tác vận động, thuyết phục thân nhân của người phải thi hành án thi hành thay phần nghĩa vụ của người phải thi hành án.

– Chú trọng việc phân loại đơn yêu cầu thi hành án trước khi thụ lý.

Sáng kiến nâng cao hiệu quả công tác thi hành án có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác thi hành án dân sự. Với thực trạng thi hành án dân sự hiện nay việc tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác là một đòi hỏi cấp thiết.

Để các đề tài phát huy được tác dụng trong công tác thi hành án dân sự Tổng cục Thi hành án dân sự Bộ Tư pháp cần có các đợt tập huấn, lựa chọn giới thiệu đề tài, sáng kiến, giải pháp hay điển hình của công chức ngành trên toàn quốc, phù hợp với từng địa phương nhất định để phổ biến áp dụng rộng rãi nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự trên toàn quốc.

Với những lợi ích và hiệu quả mà các giải pháp nêu trên đã mang lại, tôi đề nghị Hội đồng sáng kiến Ngành Thi hành án dân sự xem xét, công nhận.

Hướng Dẫn Thực Hiện Đề Tài, Sáng Kiến Kinh Nghiệm Theo Công 161/gddt Năm 2013 Của Phòng Giáo Dục Thành Phố.

Sáng Kiến Một Số Giải Pháp Về Sử Dụng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Cấp Xã

Đẩy Mạnh Hoạt Động Sáng Kiến, Giải Pháp Công Tác Ngành Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch

Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Bảo Quản Tốt Hồ Sơ Lưu Trữ Và Công Tác Tuyển Sinh Trong Nhà Trường

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Công Nhận Cấp Huyện Dành Cho Cấp Tiểu Học Năm Học 2014

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Thi Đua

Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Thi Đua, Khen Thưởng: Phải Bắt Đầu Từ Công Tác Cán Bộ

Một Vài Kiến Nghị Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Thi Đua, Khen Thưởng Trong Tòa Án Nhân Dân

Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Đánh Giá Thực Thi Công Vụ Của Đội Ngũ Công Chức Hiện Nay

Vấn Đề Đánh Giá Kết Quả Thực Thi Công Vụ Ở Việt Nam Hiện Nay

Đánh Giá Thực Thi Công Vụ Nhằm Đảm Bảo Hiệu Quả Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Chính Nhà Nước

Ngày 11/6/1948, trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “TĐKT là động lực phát triển và là biện pháp quan trọng để xây dựng con người mới. Thi đua yêu nước phải được tiến hành thường xuyên, liên tục hàng ngày”. Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật để chỉ đạo, quản lý hoạt động TĐKT như: Chỉ thị số 39/CT-TW ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị về việc đổi mới và tiếp tục đổi mới công tác TĐKT; Chỉ thị số 34/CT-TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng và nhân điển hình tiên tiến; Chỉ thị số 725/CT-TTg ngày 17/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phát động phong trào thi đua yêu nước phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; Luật TĐKT ngày 26/11/2003 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TĐKT ngày 14/6/2005 được cụ thể hóa trong Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật TĐKT, Luật bổ sung một số điều của Luật TĐKT và các văn bản hướng dẫn thực hiện khác.

Quán triệt các văn bản nêu trên, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban cán sự Đảng, lãnh đạo Bộ và Đảng ủy Bộ, những năm qua công tác TĐKT của Bộ KH&CN đã có những chuyển biến tích cực, ngày càng đi vào nề nếp, tạo điều kiện thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước trong hoạt động quản lý KH&CN và hoạt động KH&CN, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được Đảng và Nhà nước giao. Nhiều văn bản hướng dẫn công tác TĐKT đã được xây dựng, ban hành, thường xuyên cập nhật, bổ sung như: Thông tư số 14/2010/TT-BKHCN ngày 26/8/2010 quy định chi tiết tiêu chuẩn, quy trình và thủ tục xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về KH&CN; Quyết định số 2635/QĐ-BKHCN ngày 26/8/2013 ban hành Quy chế Giải thưởng Tạ Quang Bửu; Quyết định số 644/QĐ-BKHCN ngày 07/4/2013 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng Giải thưởng Tạ Quang Bửu; Quyết định số 2352/QĐ-BKHCN ngày 30/7/2013 ban hành Quy chế TĐKT của Bộ KH&CN… đã giúp quản lý thống nhất, hiệu quả công tác TĐKT của Bộ. Phong trào thi đua yêu nước đã được tổ chức cả chiều sâu lẫn chiều rộng, bám sát thực tiễn, phù hợp với đặc thù của hoạt động KH&CN nói chung, quản lý nhà nước về KH&CN nói riêng, đồng thời từng bước đổi mới nội dung, hình thức TĐKT. Việc phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt đã được quan tâm. Bộ máy làm công tác TĐKT được củng cố, kiện toàn, đặc biệt là việc thành lập Vụ TĐKT theo Nghị định số 20/2013/NĐ-CP ngày 26/2/2013 của Chính phủ đã giúp công tác quản lý về TĐKT của Bộ chính quy và chuyên nghiệp hơn. Qua các phong trào thi đua yêu nước, đã có những bài học kinh nghiệm quý báu được rút ra, nhận thức của cấp ủy, lãnh đạo các cấp về vị trí, vai trò công tác TĐKT cũng như công tác phối hợp giữa cấp ủy, chính quyền và các tổ chức đoàn thể được nâng cao lên một bước.

Bên cạnh mặt tích cực đạt được, trên thực tế công tác TĐKT vẫn còn bộc lộ không ít tồn tại, hạn chế và chưa thật sự trở thành động lực mạnh mẽ cổ vũ, động viên cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm việc và cống hiến. Một số đơn vị chưa quan tâm đúng mức công tác TĐKT, còn mang tính hình thức; công tác tuyên truyền, nhân điển hình tiên tiến, việc bình xét TĐKT chưa bám sát quy định pháp luật về sáng kiến, quy trình thủ tục, hồ sơ khen thưởng chưa đúng quy định,còn có hiện tượng bình xét luân phiên nhau,…

Ðể đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác TĐKT, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức thực hiện phong trào thi đua yêu nước của Bộ KH&CN, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp chủ yếu sau:

Ngay từ đầu năm, Thường trực Hội đồng TĐKT Bộ, Vụ TĐKT cần xây dựng nội dung thi đua và khẩu hiệu hành động và phát động phong trào thi đua để các đơn vị trực thuộc hưởng ứng và lấy đó làm căn cứ xây dựng nội dung thi đua của đơn vị mình cho phù hợp, thiết thực, hiệu quả. Mỗi phong trào thi đua cần tạo ra được sự đột phá mới, nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, xử lý dứt điểm bức xúc; tập trung hoàn thành công tác trọng tâm, trọng điểm của đơn vị.

Hai là, chú trọng công tác phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến:

Đây cần được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong việc đổi mới phương pháp tổ chức phong trào thi đua. Cần xây dựng tiêu chí xác định gương điển hình tiên tiến để áp dụng trong các đơn vị trực thuộc Bộ. Các đơn vị, tuỳ thuộc tính chất công việc được giao, thực hiện bình xét, chấm điểm thi đua định kỳ hàng tháng, quý, năm đối với cán bộ, công chức, viên chức; báo cáo Thường trực Hội đồng TĐKT Bộ những gương người tốt, việc tốt, các tập thể điển hình tiên tiến để tổng hợp, lựa chọn và tổ chức tuyên truyền, nêu gương tại các hội nghị, trên các phương tiện thông tin đại chúng để tạo sự lan tỏa tích cực trong khối cơ quan Bộ, các đơn vị trực thuộc cũng như toàn xã hội. Tổ chức cho lãnh đạo và cán bộ làm công tác TĐKT ở các đơn vị trực thuộc Bộ tham quan, học tập kinh nghiệm , cách làm đạt hiệu quả, đạt thành tích trong thực hiện phong trào thi đua của các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến.

Ba là, đề cao vai trò chỉ đạo, điều hành đối với công tác TĐKT:

Cần nêu cao trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền ở các đơn vị trực thuộc Bộ, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác TĐKT. Tiếp tục kiện toàn Hội đồng TĐKT các cấp và nhân lực làm công tác TĐKT ở các đơn vị trực thuộc Bộ. Cán bộ làm công tác TĐKT, ngoài nắm vững các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ về TĐKT, cần có lòng nhiệt tình với công việc và phải có năng lực tổ chức phong trào thi đua để hướng mọi người trong tập thể phấn đấu đạt mục tiêu đề ra.

Bốn là, công tác TĐKT phải bảo đảm công bằng, kịp thời, đánh giá đúng mức sự nỗ lực, thành tích đạt được.

Việc khen thưởng không nhất thiết phải đến kỳ sơ kết, tổng kết phong trào mới đưa bình xét mà cần tiến hành thường xuyên, vì thực chất của việc khen thưởng có vai trò chủ yếu là động viên tinh thần, làm cho người được khen thưởng phấn khởi, khích lệ và do đó hiệu quả công việc đương nhiên sẽ tốt hơn. Cũng cần quan tâm, động viên kịp thời những tổ chức, cá nhân có tinh thần sáng tạo, vượt khó để hoàn thành nhiệm vụ.

Việc khen thưởng đem lại giá trị tinh thần vì đó là sự tôn vinh. Mà đã là tôn vinh thì phải có sự thừa nhận khách quan. Nếu không công bằng, khách quan thì TĐKT sẽ phản tác dụng. Do vậy, việc khen thưởng phải đảm bảo công bằng: đúng người, đúng thành tích, đúng mục đích trọng tâm của thi đua để kịp thời động viên người tốt, tổ chức tốt nỗ lực hơn nữa, đồng thời có tác dụng khuyến khích người chưa tốt, đơn vị chưa tốt cố gắng phấn đấu hơn, tránh tình trạng cào bằng, hoặc năm trước đơn vị đó, người đó được khen thì năm nay nhường đơn vị khác, làm triệt tiêu sự nỗ lực phấn đấu liên tục của người đó, đơn vị đó.

Năm là, tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các đơn vị thực hiện công tác TĐKT và các quy chế, quy định nội bộ của Bộ:

Vụ TĐKT căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các đơn vị thực hiện công tác TĐKT; kịp thời phát hiện các vấn đề khó khăn, vướng mắc để kiến nghị Lãnh đạo Bộ biện pháp khắc phục, chấn chỉnh nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác TĐKT; phê bình những đơn vị tổ chức thực hiện phong trào qua loa, hời hợt, đối phó; phát hiện, ngăn chặn tiêu cực trong công tác TĐKT, tránh tình trạng khen thưởng tràn lan, không thực chất. Ngoài ra, Vụ cần phối hợp chặt chẽ với Văn phòng Bộ, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Kế hoạch Tổng hợp, Vụ Tài chính, Vụ Hợp tác Quốc tế,… kiểm tra việc chấp hành các quy chế, quy định nội bộ của Bộ như Quy chế làm việc của Bộ; Quy chế phân cấp quản lý cán bộ công chức, viên chức; Quy chế quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; Quy chế quản lý đoàn ra và hộ chiếu,… Trên cơ sở đó, Vụ TĐKT tham mưu cho Hội đồng TĐKT Bộ trong việc đánh giá, bình xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng cuối năm của các cá nhân, đơn vị, bảo đảm khách quan, công bằng.

Sáu là, làm tốt chức năng quản lý nhà nước về công tác quản lý TĐKT để động viên toàn ngành thực hiện tốt hoạt động KH&CN để KH&CN thực sự là động lực phát triển kinh tế – xã hội đất nước:

Để làm được việc đó, Vụ TĐKT cần nỗ lực làm tốt công tác tham mưu xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật làm căn cứ pháp lý cho việc khen thưởng các cá nhân, tổ chức thực hiện xuất sắc trong hoạt động KH&CN, thực sự khuyến khích, động viên cá nhân, tổ chức đó nỗ lực phấn đấu nhiều hơn nữa để đóng góp vào công cuộc phát triển đất nước trong thời kỳ mới./.

Các Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Pháp Luật Thi Đua, Khen Thưởng

Một Số Biện Pháp Cơ Bản Để Đổi Mới Công Tác Thi Đua, Khen Thưởng Trong Giai Đoạn Hiện Nay

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công Tác Thi Đua, Khen Thưởng Sở Nông Nghiệp &…

Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Thi Đua Khen Thưởng

Công Ty Tnhh Giải Pháp Thi Công Saki

🌟 Home
🌟 Top