Top 2 # Xem Nhiều Nhất Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Sau Covid 19 Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực

Giải pháp nâng cao chất lượng ng

Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

BT- Với mục tiêu phát triển trọng tâm 3 trụ cột kinh tế chính là công nghiệp, du lịch, thể thao biển và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với xây dựng chuỗi giá trị trong giai đoạn 2020 – 2025, công tác dự báo nhu cầu và đào tạo phát triển nguồn nhân lực của tỉnh là cần thiết và cấp bách.

Ảnh: Đình Hòa.

Nguồn nhân lực còn yếu và thiếu

Hiện nay, mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN) trên địa bàn tỉnh có 25 cơ sở GDNN, trong đó có 16 cơ sở GDNN công lập và 9 cơ sở GDNN ngoài công lập tuyển mới, đào tạo nghề cho 14.327 người. Trường Đại học Phan Thiết và Cao đẳng Cộng đồng đã tuyển mới 1.814 sinh viên sau đại học, đại học, cao đẳng sư phạm, trung cấp sư phạm, trong đó đại học sư phạm 1.614 sinh viên, cao đẳng sư phạm 132 sinh viên.

Năm 2019, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 726.800 người. Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo có bằng cấp chứng chỉ đạt 16,34%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động phổ thông trong độ tuổi năm 2019 là 2,94%, trong đó khu vực thành thị 5,2%, khu vực nông thôn 1,58%. Các số liệu trên cho thấy tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn chiếm tỷ lệ tương đối, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ còn thấp. Nguyên nhân quan trọng nhất là chất lượng đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng chưa cao, lao động mới tốt nghiệp đa số chưa đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của cơ quan, doanh nghiệp.

Ngoài ra, công tác quản lý, phát triển nguồn nhân lực tỉnh có phần chưa theo kịp sự phát triển của thực tế, các nguồn lực đầu tư đào tạo nguồn nhân lực còn thấp, nhất là nguồn nhân lực trình độ cao. Theo Tiến sĩ Trần Tình – Trưởng Phòng Quản lý khoa học và hợp tác quốc tế – Trường Đại học Phan Thiết, thị trường lao động của tỉnh chưa phát triển, vai trò của các trung tâm giới thiệu việc làm chưa phát huy tối đa. Bên cạnh đó, quản lý doanh nghiệp, các cơ sở sử dụng nhân lực chưa quan tâm đến việc đào tạo đội ngũ lao động hiện có, vì họ cho rằng đây là hoạt động mất nhiều thời gian và tốn kém. Đồng thời, các cơ sở giáo dục chậm đổi mới chương trình đào tạo, chưa đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường lao động.

Đẩy mạnh giải pháp

Để hiện thực hóa phát triển nguồn nhân lực, tỉnh cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ và phát triển các mô hình khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong các trường đại học đào tạo về công nghệ. Cần đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với dạy nghề theo nhu cầu của thị trường và yêu cầu cụ thể của người sử dụng lao động. Tiến sĩ Tình chia sẻ thêm: Nhà trường và doanh nghiệp cần có mối liên kết chặt chẽ hơn để có lực lượng lao động lành nghề. Doanh nghiệp phải là nơi đặt hàng cho các trường đại học về nhu cầu nhân lực; đẩy mạnh hình thành các cơ sở đào tạo trong doanh nghiệp để chia sẻ các nguồn lực chung. Từ đó 2 bên cùng chủ động nắm bắt và đón đầu các nhu cầu thị trường lao động. Các trường đại học cũng cần đổi mới chương trình, nội dung đào tạo theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực và phù hợp. Đào tạo theo hướng đa ngành thay vì chuyên ngành như trước đây, tăng cường sự phản biện của người học, kỹ năng mềm, trình độ ngoại ngữ, công nghệ thông tin…

Tại hội thảo “Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”, ông Lương Thanh Sơn – Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật nhấn mạnh: Để phát triển được nguồn nhân lực chất lượng cao, cần chú trọng gắn kết 3 khâu đào tạo, sử dụng và đãi ngộ. Muốn thành công trong chiến lược phát triển phải chú trọng đến vai trò quan trọng của yếu tố con người, việc thu hút người tài cần trở thành ưu tiên hàng đầu đối với những người làm công tác quản lý. Bên cạnh đó, việc đào tạo phải dựa trên xu hướng, nhu cầu phát triển kinh tế của từng địa phương nói riêng và cả nước nói chung.

M.Vân

Giải Pháp Nâng Cao Nguồn Nhân Lực Giai Đoạn Hậu Covid

Tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm gia tăng

Dưới tác động của đại dịch Covid-19, lực lượng lao động bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc làm và thu nhập. Theo kết quả điều tra lao động việc làm quý I/2020, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động được ghi nhận mức thấp kỷ lục trong vòng 10 năm qua với khoảng 75,4% dân số từ 15 tuổi trở lên.

Tính đến giữa tháng 4/2020, có gần 5 triệu lao động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, khoảng 84,8% doanh nghiệp được khảo sát cho biết gặp khó khăn nhiều do ảnh hưởng của dịch (Theo Báo cáo tình hình lao động việc làm quý I và 4 tháng đầu năm 2020 của Tổng cục thống kê). Nhiều doanh nghiệp buộc phải lựa chọn các phương án cắt giảm chi phí và nhân sự để duy trì hoạt động.

Chỉ tính riêng 2 tháng đầu năm 2020, hơn 77.000 người đã đến làm thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp, tăng 70% so với cùng kỳ năm 2019.

Cũng chỉ trong quý I/2020, có khoảng 35.000 doanh nghiệp đã phải giải thể. Các chuyên gia dự báo nếu dịch bệnh tiếp tục kéo dài, ước tính 50% số doanh nghiệp sẽ không thể trụ lại, đồng nghĩa số lượng lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ lên đến con số hàng triệu người. Đó là còn chưa kể tới các lao động có việc làm phi chính thức, lao động không có hợp đồng,…

Ngoài ra, các doanh nghiệp có quy mô lớn với phương án “ngủ đông” thường lựa chọn giải pháp giảm chi phí nhân sự bằng cách giảm giờ làm, nghỉ luân phiên hoặc cho người lao động nghỉ không lương để đảm bảo lực lượng lao động sẵn sàng ngay khi doanh nghiệp hoạt động trở lại.

Bên cạnh đó, từ các số liệu của thống kê cho thấy, trong thời kỳ dịch bệnh, các nhóm lao động có thu nhập thấp, lao động trẻ tuổi, lao động cao tuổi và lao động làm công việc giản đơn dễ bị tổn thương nhất.

Thói quen trong vận hành sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có thay đổi lớn khi các hệ thống CNTT được ứng dụng cao, từ hệ thống làm việc trực tuyến, giao việc, quản lý công việc, báo cáo và quản lý giờ giấc làm việc của nhân viên từ xa. Các ứng dụng sử dụng được trên các thiết bị smart tăng mạnh, gần 88% các doanh nghiệp được khảo sát đều có sử dụng trang thiết bị, máy móc công nghệ trong công việc.

Giải pháp nâng cao nguồn nhân lực

Nhìn vào bức tranh tổng thể của nền kinh tế và thị trường lao động Việt Nam sau đại dịch, có thể thấy cơ hội phục hồi là có nhưng sẽ sự tăng trưởng dường như sẽ chậm hơn và có nhiều thay đổi. Do vậy, làm thế nào để nguồn nhân lực của Việt Nam bắt kịp xu thế hoạt động sản xuất kinh doanh sau đại dịch là bài toán cần sự chung tay của Nhà nước, doanh nghiệp và chính người lao động ngay lúc này.

Đầu tiên, cần bổ sung, nâng cao kỹ năng, kiến thức về CNTT cho lực lượng lao động bởi khi tất cả DN có xu hướng chuyển đổi sang làm việc gián tiếp để phòng, chống dịch bệnh thì yêu cầu về trình độ, kỹ năng ứng dụng CNTT của đội ngũ nhân sự trở thành điều kiện tiên quyết giúp DN bắt kịp thời cuộc và đảm bảo duy trì SXKD.

Khi đại dịch đi qua, dự báo thị trường sẽ có sự thay đổi lớn trong cách vận hành với việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI)… đòi hỏi nguồn nhân lực cũng phải tương thích.

Để làm tốt điều này, bên cạnh việc đầu tư cho hệ thống, nền tảng ứng dụng và các giải pháp, doanh nghiệp cũng cần chú trọng đầu tư, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nội tại để có thể vận hành hệ thống đó thông qua các cách làm như tự đào tạo, mời các đơn vị đào tạo hoặc tuyển dụng nguồn nhân lực mới trình độ cao…

Về phía Chính phủ, ngoài các chính sách hỗ trợ người lao động, doanh nghiệp gặp khó khăn trong thời kỳ Covid-19, nên nghiên cứu các chính sách dành cho đào tạo, cho các cơ sở giáo dục đào tạo nhằm đưa ứng dụng CNTT thành các chương trình đào tạo bắt buộc cho lực lượng lao động trẻ sẽ tham gia thị trường lao động trong thời gian tới.

Còn đối với người lao động, đặc biệt là các đối tượng lao động dễ bị tổn thương trong thời kỳ dịch bệnh cần nhận thức rõ xu hướng thị trường lao động, tận dụng năng lực bản thân, đầu tư thời gian và nguồn lực, chủ động tham gia vào quá trình đào tạo, nâng cao kiến thức và kỹ năng sử dụng công nghệ để đáp ứng nhu cầu thị trường lao động ngày càng cao.

Thứ hai, cần đa dạng hoá công việc cho lực lượng lao động. Đây là phương pháp đã được áp dụng từ lâu, có thể giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro khi đầu tư vào chỉ duy nhất một lĩnh vực.

Sau đại dịch, các doanh nghiệp càng nên linh hoạt ứng dụng phương pháp này để bố trí phân công lao động có thể làm việc được tại các vị trí khác nhau thông qua cách luân chuyển vị trí, luân chuyển cán bộ. Từ đó đảm bảo nguồn nhân lực có chất lượng, có kinh nghiệm để thích ứng ngay với sự thay đổi của doanh nghiệp về chiến lược, định hướng kinh doanh.

Từ phía người lao động, đây cũng là dịp để nghiên cứu, trang bị các kiến thức về luật pháp, ngoài chuyên môn chính cần chủ động tham gia một cách tích cực tại các vị trí làm việc khác nhau và chủ động tìm kiếm các cơ hội tạo việc làm, thu nhập song song.

Thứ ba, cần lập quỹ dự phòng, quỹ đầu tư đối với các hoạt động trong đời sống cũng như trong hoạt động quản lý, kinh doanh.

Thực trạng hiện nay cho thấy, quỹ dự phòng cho lực lượng lao động trong các trường hợp không có việc làm, thu nhập không ổn định, hay khi chờ thị trường phục hồi, thay đổi còn nhiều hạn chế, các chính sách nhà nước và các gói hỗ trợ chỉ có tính tạm thời hoặc cho từng trường hợp cụ thể mà chưa có tính dài hạn, ổn định. Các hình thức trợ cấp như bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp khó khăn còn đang nhiều thủ tục vướng mắc.

Do vậy, các doanh nghiệp cũng như người người lao động nên tính đến giải pháp tự tạo quỹ bằng cách trích lập hàng tháng một khoản chi phí hoặc tạo quỹ đầu tư thông qua bên thứ 3 như các đơn vị tài chính, ngân hàng hoặc các đơn vị có chức năng đầu tư được đảm bảo bởi Nhà nước nhằm tạo ra một nguồn thu nhập ổn định dự phòng cho trường hợp xấu.

Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia đề xuất Chính phủ xem xét tính toán lại các mức chi phí trích lập quy định đối với người lao động và DN, tạo điều kiện cho bên thứ 3 hoặc các đơn vị, tổ chức có kinh doanh, có thu có thể sử dụng hiệu quả nguồn trích lập và tạo nguồn thu nhập ổn định cho người lao động định kỳ thay vì chi trả một lần khi xảy ra biến cố như hiện nay.

Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Y Tế

Nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực là một trong những mục tiêu quan trọng mà ngành y tế đặc biệt quan tâm thực hiện. Hiện, việc xây dựng mô hình đổi mới đào tạo y khoa tại Việt Nam được tổ chức theo hướng nâng cao chất lượng và hội nhập quốc tế với điểm thay đổi chính là phân định rõ 2 hướng đào tạo là hệ nghiên cứu do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý và hệ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh do Bộ Y tế quản lý.

* Đổi mới để nâng cao chất lượng

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết, Bộ Y tế đã nghiên cứu, đề xuất mô hình đổi mới đào tạo nhân lực y tế và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và Khung trình độ quốc gia Việt Nam, trong đó đào tạo y khoa có bác sĩ y khoa và bác sĩ chuyên khoa, theo đó bác sĩ y khoa tương đương trình độ thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa tương đương trình độ tiến sĩ.

Bộ hoàn thành dự thảo Nghị định quy định về việc tổ chức thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe và trình Chính phủ xem xét ban hành; triển khai xây dựng các tiêu chuẩn để đảm bảo chất lượng đào tạo nhân lực y tế. Trong năm 2016, Bộ đã hoàn thành xây dựng và ban hành Chuẩn năng lực cơ bản của Bác sĩ Răng Hàm Mặt, tiếp tục triển khai xây dựng Chuẩn năng lực cơ bản các ngành: Y tế công cộng, Dược, Dinh dưỡng; phát triển mạng lưới đào tạo liên tục cán bộ y tế để triển khai thực hiện đào tạo liên tục cập nhật, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ y tế.

Bên cạnh tiếp tục triển khai Dự án Thí điểm đưa bác sĩ trẻ tình nguyện về công tác tại miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, Bộ tổng hợp nhu cầu nhân lực y tế trên cơ sở báo cáo và đề xuất của các tỉnh khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ và Đông Nam bộ để đề xuất và triển khai các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và sử dụng nhân lực y tế đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân cho các khu vực này.

Bộ tăng cường giám sát đào tạo nhân lực y tế, tập trung vào công tác đào tạo liên thông, liên kết, đào tạo cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ sử dụng, công tác tuyển sinh, đảm bảo bảo chất lượng đào tạo; đồng thời triển khai thử nghiệm kiểm định chất lượng đào tạo liên tục tại Sở Y tế Nam định và Thành phố Hồ Chí Minh; thực hiện các giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo sau đại học đặc thù ngành y tế, tổ chức thẩm định chương trình, tài liệu đào tạo chuyên khoa cấp 1, chuyên khoa cấp 2, bác sĩ nội trú.

Bộ Y tế đã ban hành văn bản về chủ trương dừng đào tạo chuyển đổi cấp chứng chỉ từ y sĩ sang điều dưỡng và không cấp chứng chỉ hành nghề điều dưỡng cho đối tượng chuyển đổi từ y sĩ sang điều dưỡng để thực hiện theo đúng quy định của Luật Giáo dục và Luật Khám bệnh, chữa bệnh; trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

*Thực hiện giám sát thường xuyên

Tuy vậy, cũng theo Bộ trưởng Bộ Y tế, công tác đào tạo nhân lực y tế hiện nay chưa có đánh giá khách quan, độc lập (các trường tự ban hành chuần đầu ra, chấm điểm và công bố đạt). Trong đào tạo còn lẫn giữa năng lực nghiên cứu và năng lực khám chữa bệnh. Vai trò cốt lõi của đào tạo y (năng lực khám chữa bệnh) chưa được hệ thống bằng cấp nhìn nhận đúng mức. Phương pháp đào tạo nặng về truyền đạt kiến thức, chưa thực sự thiết kế để tạo ra năng lực…

Bên cạnh đó, hệ thống văn bản về đào tạo hiện hành còn thiếu những qui định cho đào tạo nhân lực y tế; việc phân bổ nguồn nhân lực y tế chưa hợp lý, thiếu về số lượng, không đồng đều về chất lượng giữa các vùng, các tuyến.

Ngoài ra, việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ y tế chưa tốt còn xảy ra tiêu cực, gây phiền hà đối với người bệnh. Một số cán bộ y tế mặc dù đã được tập huấn, nhưng còn cứng nhắc, không thân thiện trong giao tiếp, ứng xử với người bệnh.

“Học y vất vả là một thực tế và khi làm việc cũng có rất nhiều áp lực, khó khăn. Việc nghiên cứu, đề xuất cũng như thực hiện các chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, viên chức ngành y tế trong thời gian qua đã được Đảng và Chính phủ quan tâm…’ Bộ trưởng Bộ Y tế cho biết. Mặc dù vậy, trong thực tế, chế độ, chính sách đối với cán bộ y tế còn bất hợp lý, mức lương khởi điểm chưa tương xứng với thời gian đào tạo; thầy thuốc chưa được hưởng phụ cấp thâm niên nghề; chưa có chính sách bền vững để thu hút những thầy thuốc có trình độ chuyên môn cao, tay nghề giỏi làm việc lâu dài tại các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến, trong thời gian tới, Bộ Y tế tiếp tục nghiên cứu để tham mưu cho Chính phủ có các giải pháp và chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, viên chức ngành y tế phù hợp với khả năng của Nhà nước và điều kiện kinh tế xã hội nhằm nâng cao đời sống của cán bộ, công chức, viên chức ngành y tế để đáp ứng chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Bộ tăng cường quản lý chất lượng đào tạo thông qua giám sát thường xuyên, kiểm định chất lượng đào tạo, xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đào tạo, xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về nhân lực y tế. Bộ tăng cường phối kết hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo trong công tác chỉ đạo và quản lý chất lượng đào tạo nguồn nhân lực y tế.

Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Ngành Y Tế

Nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực là một trong những mục tiêu quan trọng mà ngành Y tế đặc biệt quan tâm thực hiện.

Hiện nay, việc xây dựng mô hình đổi mới đào tạo y khoa tại Việt Nam được tổ chức theo hướng nâng cao chất lượng và hội nhập quốc tế với điểm thay đổi chính là phân định rõ hai hướng đào tạo là hệ nghiên cứu do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý và hệ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh do Bộ Y tế quản lý.

Giảng viên hướng dẫn sinh viên thực hành trên động vật.

Đổi mới để nâng cao chất lượng

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết Bộ Y tế đã nghiên cứu, đề xuất mô hình đổi mới đào tạo nhân lực y tế và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và Khung trình độ quốc gia Việt Nam, trong đó đào tạo y khoa có bác sỹ y khoa và bác sỹ chuyên khoa, theo đó bác sỹ y khoa tương đương trình độ thạc sỹ, bác sỹ chuyên khoa tương đương trình độ tiến sỹ.

Bộ hoàn thành dự thảo Nghị định quy định về việc tổ chức thực hành trong đào tạo khối ngành sức khỏe và trình Chính phủ xem xét ban hành; triển khai xây dựng các tiêu chuẩn để đảm bảo chất lượng đào tạo nhân lực y tế.

Trong năm 2016, Bộ đã hoàn thành xây dựng và ban hành Chuẩn năng lực cơ bản của Bác sỹ Răng Hàm Mặt, tiếp tục triển khai xây dựng Chuẩn năng lực cơ bản các ngành Y tế công cộng, Dược, Dinh dưỡng; phát triển mạng lưới đào tạo liên tục cán bộ y tế để triển khai thực hiện đào tạo liên tục cập nhật, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ y tế.

Bên cạnh tiếp tục triển khai Dự án Thí điểm đưa bác sỹ trẻ tình nguyện về công tác tại miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, Bộ tổng hợp nhu cầu nhân lực y tế trên cơ sở báo cáo và đề xuất của các tỉnh khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ và Đông Nam bộ để đề xuất và triển khai các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và sử dụng nhân lực y tế đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân cho các khu vực này.

Bộ tăng cường giám sát đào tạo nhân lực y tế, tập trung vào công tác đào tạo liên thông, liên kết, đào tạo cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ sử dụng, công tác tuyển sinh, đảm bảo bảo chất lượng đào tạo; đồng thời triển khai thử nghiệm kiểm định chất lượng đào tạo liên tục tại Sở Y tế Nam Định và TP. Hồ Chí Minh; thực hiện các giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo sau đại học đặc thù ngành Y tế, tổ chức thẩm định chương trình, tài liệu đào tạo chuyên khoa cấp 1, chuyên khoa cấp 2, bác sỹ nội trú.

Bộ Y tế đã ban hành văn bản về chủ trương dừng đào tạo chuyển đổi cấp chứng chỉ từ y sỹ sang điều dưỡng và không cấp chứng chỉ hành nghề điều dưỡng cho đối tượng chuyển đổi từ y sỹ sang điều dưỡng để thực hiện theo đúng quy định của Luật Giáo dục và Luật Khám bệnh, chữa bệnh; trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Thực hiện giám sát thường xuyên

Tuy vậy, cũng theo Bộ trưởng Bộ Y tế, công tác đào tạo nhân lực y tế hiện nay chưa có đánh giá khách quan, độc lập (các trường tự ban hành chuần đầu ra, chấm điểm và công bố đạt). Trong đào tạo còn lẫn giữa năng lực nghiên cứu và năng lực khám chữa bệnh. Vai trò cốt lõi của đào tạo y (năng lực khám chữa bệnh) chưa được hệ thống bằng cấp nhìn nhận đúng mức. Phương pháp đào tạo nặng về truyền đạt kiến thức, chưa thực sự thiết kế để tạo ra năng lực…

Bên cạnh đó, hệ thống văn bản về đào tạo hiện hành còn thiếu những quy định cho đào tạo nhân lực y tế; việc phân bổ nguồn nhân lực y tế chưa hợp lý, thiếu về số lượng, không đồng đều về chất lượng giữa các vùng, các tuyến.

Ngoài ra, việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ y tế chưa tốt còn xảy ra tiêu cực, gây phiền hà đối với người bệnh. Một số cán bộ y tế mặc dù đã được tập huấn, nhưng còn cứng nhắc, không thân thiện trong giao tiếp, ứng xử với người bệnh.

“Học y vất vả là một thực tế và khi làm việc cũng có rất nhiều áp lực, khó khăn. Việc nghiên cứu, đề xuất cũng như thực hiện các chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, viên chức ngành y tế trong thời gian qua đã được Đảng và Chính phủ quan tâm,” Bộ trưởng Bộ Y tế cho biết.

Mặc dù vậy, trong thực tế, chế độ, chính sách đối với cán bộ y tế còn bất hợp lý, mức lương khởi điểm chưa tương xứng với thời gian đào tạo; thầy thuốc chưa được hưởng phụ cấp thâm niên nghề; chưa có chính sách bền vững để thu hút những thầy thuốc có trình độ chuyên môn cao, tay nghề giỏi làm việc lâu dài tại các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến, trong thời gian tới, Bộ Y tế tiếp tục nghiên cứu để tham mưu cho Chính phủ có các giải pháp và chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, viên chức ngành y tế phù hợp với khả năng của Nhà nước và điều kiện kinh tế xã hội nhằm nâng cao đời sống của cán bộ, công chức, viên chức ngành y tế để đáp ứng chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Bộ tăng cường quản lý chất lượng đào tạo thông qua giám sát thường xuyên, kiểm định chất lượng đào tạo, xây dựng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đào tạo, xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về nhân lực y tế. Bộ tăng cường phối kết hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục và Đào tạo trong công tác chỉ đạo và quản lý chất lượng đào tạo nguồn nhân lực y tế.