Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường …

--- Bài mới hơn ---

  • Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường Thcs Quảng Phương : Trường Thcs Quảng Phương
  • “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Vật Lý Theo Mô Hình Cdio”
  • Những Ai Không Nên Đặt Vòng Tránh Thai?
  • Quy Định An Toàn Làm Việc Trên Cao
  • Huấn Luyện An Toàn Lao Động Làm Việc Trên Cao
  • I. LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ

    -Tình trạng học sinh học yếu môn Toán ở cấp THCS đang là một thực tế đáng lo ngại và là nỗi băn khoăn,trăn trở của nhiều giáo viên dạy toán.

    -Tuy cùng hưởng thụ một nội dung chương trình giáo dục giống nhau, nhưng mỗi học sinh đều có sự phát triển về thể chất và trí tuệ khác nhau,có điều kiện hoàn cảnh và sự quan tâm chăm sóc ở gia đình khác nhau, có động cơ và thái độ học tập khác nhau,môi trường giáo dục khác nhau thì năng lực học tập,khả năng tiếp thu kiến thức của mỗi học sinh cũng phải khác .

    -Có nhiều nguyên nhân làm học sinh học yếu môn toán,song nguyên nhân chính là học sinh chưa có phương pháp học tập đúng đắn,có nhiều lỗ hổng về kiến thức,kĩ năng.Chính vì vậy, tình trạng học sinh học yếu môn toán ngày càng tăng và nguy hiểm hơn là sự kéo dài từ năm này sang năm khác làm cho các em ngày càng hổng kiến thức nhiều hơn.

    -Tôi rất hiểu và thông cảm trước những khó khăn của các em nên Tôi thiết nghĩ cần phải nghiên cứu,tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng trên mới có thể nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, tạo cho học sinh niềm say mê học tập nhất là môn Toán. Chính vì vậy nên Tôi chọn chuyên đề: “Giải pháp nâng cao chất lượng môn Toán”

    II. THỰC TRẠNG:

     * CHUNG

    – Học sinh phần đông sợ bộ môn toán vì phải đối mặt với những công thức, những định lí khô khan.

    -Học sinh ngại khó, thiếu kiên nhẫn trong quá trình học toán dẫn đến việc thường xuyên không học bài và làm bài tập ở nhà.

    -Đa số học sinh chưa biết cách học môn toán như thế nào cho hiệu quả.

    -Gia đình học sinh chưa quan tâm đúng mức đến con em mình.

    -Đôi khi giáo viên cũng thiếu kiên nhẫn đối với học sinh học yếu.

    Đối với bộ môn toán:

    – Từ 5,0 điểm trở lên: 61 / 154 .Tỉ lệ: 39,61 % (giảm 24,2% so với năm học trước). Cụ thể:

          9/1 : 37 / 39 (94,87%). Trong đó có 8 học sinh 10 điểm

          9/2: 8 / 27 (29,63%)

          9/3 : 5 / 31 (16,13%)

          9/4: 6/ 28 (21,43%)

          9/5: 5 / 29  (17,24%)

    – Điểm bình quân môn toán là 4,78. Xếp hạng 10/12

    – Điểm yếu, kém: 93/ 154. Tỉ lệ: 60,39 %. Trong đó yếu: 41 hs. Kém: 52 hs. Không có hs điểm 0

     Cụ thể:  9/1 Yếu: 1; kém: 1

                   9/2: yếu: 12; kém: 7

                   9/3: yếu: 12; kém : 14

                   9/4: yếu: 8; kém: 14

                   9/5: yếu: 8; kém: 16

    III. NGUYÊN NHÂN

    -  Nhận thức của phụ huynh về việc học của con em mình chưa cao, nuông chìu con, sợ con mình học mệt nên chưa động viên con mình trong vấn đề học tập

    – Học sinh học yếu mất căn bản sinh ra chán nãn, thiếu kiên nhẫn nên buông xuôi không hợp tác tới đâu thì tới

    – Một số học sinh do khả năng có hạn, học trước quên sau dẫn đến kiến thức bị hạn hẹp không đạt chuẩn quy định

    – Học sinh có quá nhiều quyền nên dẫn đến ỉ lại, chưa thật sự coi trọng việc học

    – Giáo viên cũng chưa mạnh dạn dùng hết những phương pháp để uốn nắn những học sinh cá biệt

    IV. GiẢI PHÁP

      1. GIẢI PHÁP TÂM LÝ

     - Để học sinh yêu thích môn học của mình,tôi đã tạo sự gần gũi với các em từ những tiết học đầu tiên,chú ý đến những học sinh có hoàn cảnh khó khăn,động viên các em bằng cách kể những gương học tập vượt khó mà các em có thể học tập.Luôn tạo cho các em niềm tin.

     -Có thể khiển trách khi các em chưa ngoan nhưng không quên dành lời khen khi các em có tiến bộ chút ít.

    – Việc đánh giá nhận xét học sinh phải công bằng,khách quan và công tâm,công khai kết quả sau các giờ kiểm tra,cần phải có nhận xét bài làm của học sinh.

    - Để bài giảng hay, tiết học của mình thêm sinh động tôi luôn tìm ra cách giảng gần gũi nhất, dễ hiểu nhất để học sinh có thể tiếp thu dễ dàng.

    Ví dụ: Khi học bài “Tỉ số lượng giác” để học sinh dễ thuộc công thức:

     Tôi dạy học sinh bài thơ: “Sin đi học  (nghĩa là đối chia huyền)

                                             Cosin không hư  (nghĩa là kề chia huyền)

                                             Tang đoàn kết  (nghĩa là đối chia kề)

                                             Cotang kết đoàn”  (nghĩa là kề chia đối)

    Học sinh vừa thuộc công thức toán mà còn học được bài học đạo đức khi đến lớp

    V. ĐỀ XUẤT:

    *Đối với giáo viên:

    -Tìm ra giải pháp hữu hiệu cho riêng mình để hạn chế học sinh yếu kém môn toán

    -Kiên trì, nhẫn nại và hy sinh thời gian cho những học sinh yếu

    -Có cái nhìn lạc quan hơn khi dạy những học sinh yếu kém

    -Hình thành nề nếp và kỷ cương trong các tiết dạy từ đầu năm học để quản lý học sinh tốt hơn.

    *Đối với phụ huynh:

    -Quan tâm con em mình nhiều hơn nữa trong việc học tập

    -Kết hợp tốt với nhà trường trong việc giáo dục các em

    *Đối với BGH:

    -Tư vấn và giúp đỡ giáo viên trong việc dạy học sinh yếu

    -Cảm thông, động viên, chia sẻ với những bức xúc của giáo viên khi dạy học sinh yếu.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cấp Trung Học Cơ Sở
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học : Trường Thcs Quảng Tiến
  • Hội Thảo Chuyên Đề “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Ngữ Văn 9” Tại Trường Thcs Phú An
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cho Học Sinh Yếu Kém Môn Hóa Học! : Trường Thcs Nguyễn Hàm Ninh
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Lịch Sử Ở Trường Thpt Chuyên Lê Hồng Phong
  • Kế Hoạch Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Toán 6
  • Để Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường Phổ Thông
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Mũi Nhọn Môn Toán Trường Thpt Hàn Thuyên Năm 2022
  • Đề Tài Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Trường Thcs Cát Hiệp
  • 3 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Giỏi
  • PHÒNG GD&ĐT HỮU LŨNG

    Trường THCS Hòa Sơn

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc

    Hòa Sơn, ngày 25 tháng 9 năm 2010

    KẾ HOẠCH

    NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN

    Họ và tên: Từ Văn Nghiêm

    Tổ: Khoa học – Tự nhiên

    Trường THCS Hòa Sơn

    Huyện Hữu Lũng-Tỉnh Lạng Sơn

    I.Căn cứ xây dựng kế hoạch:

    – Công văn 659/PGD &ĐT-CM V/v tổ chức hội thảo ” Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông năm học 2010 – 2011 và giai đoạn 2010 – 2022″

    – Căn cứ vào kế hoạch chỉ đạo của BGH ngày: 16/9/2010V/v thực hiện công văn 659/PGD &ĐT-CM V/v tổ chức hội thảo ” Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông năm học 2010 – 2011 và giai đoạn 2010 – 2022″

    -Căn cứ vào kế hoạch chỉ đạo của tổ chuyên môn ngày 17/9/2010 V/v chỉ đạo của BGH

    16/9/2010V/v thực hiện công văn 659/PGD &ĐT-CM V/v tổ chức hội thảo ” Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông năm học 2010 – 2011 và giai đoạn 2010 – 2022″.

    -Căn cứ vào kết quả khảo sát chất lượng đầu năm.

    – Căn cứ vào nhiệm vụ được phân công.

    II. Thực trạng chất lượng giáo dục:

    Thực trạng:

    -Chất lượng giáo dục thấp, tỉ lệ HSKG chưa cao, trong những năm học gần đây không có HSG cấp huyện.

    -Tình trạng HS

    1Thuận lợi:

    -BGH có kế hoạch chỉ đạo sát sao,thông suốt từ tổ chuyên môn đến giáo viên.

    -Hầu hết giáo viên đạt trình độ chuẩn.

    -Trẻ khỏe, có năng lực ,tâm huyết với nghề, và có trình độ tin học.

    – Học sinh đi học đúng độ tuổi, được trang bị đầy đủ vở và SGK

    2. Khó khăn:

    -Hầu hết HS xuất thân trong gia đình làm nghề nông cho nên các em chưa đầu tư thời gian vào việc học.

    -Phụ huynh HS chưa thực sự quan tâm đến việc học của con.

    -Nhận thức việc học tập của các em chưa đồng đều vì ý thức HS chưa cao.

    -Tình trạng HS bỏ học vẫn xảy ra thường xuyên

    3.Nguyên nhân:

    a.Về phía HS:

    -Quá lười học.

    -HS diễn đạt nghèo vốn từ.

    -Nhận thức chậm

    -Không ham đọc sách.

    -Chưa có kiến thức tổng hợp.

    -Chưa biết cách tự học, tiếp thu kiến thức một cách thụ động.

    -Sa vào các tệ nạn xã hội: Chát, game.

    – Thời gian để học sinh ôn luyện quá ngắn

    b.Về phía giáo viên:

    -Phương pháp giảng dạy của một số giáo viên chưa thực sự phù hợp với mọi đối tượng HS.

    – GV chưa đầu tư thời gian cho bài dạy.

    – Chưa tìm tài liệu phù hợp với đối tượng HS (Khi ôn luyện HSG), thời gian ôn luyện ngắn.

    – Chưa khai thác triệt để thiết bị dạy học.

    – GV còn trẻ nên chua có nhiều kinh nghiệm trong công tác giảng dạy

    c.Phân phối chương trình.

    – Chưa phù hợp, số tiết ôn tập cuối chương còn ít nên chất lượng bài kiểm tra chưa cao.

    d.Sách giáo khoa.

    -Bài tập vận dụng cuối mỗi bài học còn hạn chế.

    III. Những mục tiêu, chỉ tiêu, biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục,nâng cao học sinh khá giỏi.

    1. Mục tiêu:

    – Nâng cao chất lượng giáo dục, tỉ lệ học sinh khá giỏi, giảm tối đa học sinh yếu kém

    2. Chỉ tiêu:

    * Môn to¸n 6:

    Stt

    Số hsGiỏiKháTBYếuTừ TB trở lên

    SLTỉ lệSLTỉ lệSLTỉ lệSLTỉ lệSLTỉ lệ

    17245,62534,73041,61318,15981,9

    3. Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục

    a.Về phía giáo viên.

    -GV tìm hiểu hs, phân loại hs .

    -Hướng dẫn hs cách tự học, quan tâm, lắng nghe thấu hiểu hs bằng tình thương của người thầy.

    -Phụ đạo HSYK, bồi dưỡng HSKG.

    -Tổ chuyên môn dự giờ trao đổi kinh nghiệm phương pháp dạy học tích cực, thống nhất phương pháp giảng dạy.Sinh hoạt theo cụm trường để học hỏi lẫn nhau.

    -Tích cực học hỏi để nâng cao trình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Giáo Dục Trẻ Trong Trường Mầm Non Long Biên
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Chăm Sóc, Giáo Dục Trẻ
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mầm Non
  • Giải Pháp Xây Dựng Môi Trường Tâm Lí Xã Hội Trong Trường Mầm Non
  • Các Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Tiếng Anh
  • Dạy Và Học Môn Tiếng Anh: Giải Pháp Nào Để Nâng Cao Chất Lượng?
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Phân Môn Hát Ở Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chuyên Môn Cho Giáo Viên Mầm Non
  • CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁN

    I. Bối cảnh chất lượng bộ môn toán đầu năm học 2008-2009 của nhà trường và những nguyên nhân.

    Qua khảo sát chất lượng đầu năm học ở bộ môn toán các khối lớp từ 6 đến 9 có kết quả cụ thể như sau:

    Với con số đã nêu kết hợp với thực tế nắm bắt phần nào phản ánh chất lượng bộ môn toán vẫn còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà trường và phụ huynh. Sở dĩ chất lượng đầu vào có tỉ lệ thấp như vậy là do nhiều nguyên nhân. Có thể nêu ra đây một số nguyên nhân để cùng tham khảo.

    1. Đặc điểm rõ nét nhất của ngôi trường THCS Chu Văn An là ngôi trường đặt ở vị trí không trung tâm, đường sá đi lại không thuận lợi, cơ sở vật chất còn thiếu thốn lại ở cạnh 2 ngôi trường lớp có điều kiện thuận lợi hơn về nhiều mặt. Bên cạnh đó dự án trường sắp chuyển đi nơi khác phần nào gây tâm lý hoang mang nên sức thu hút học sinh ngày càng giảm sút. Đặc biệt số học sinh giỏi ở trường Lê Văn Tám chuyển đi nơi khác ngày càng nhiều gây ảnh hưởng không ít đến chất lượng mũi ngọn cũng như tạo hạt nhân cho phong trào thi đua học tốt của nhà trường.

    2. Trên địa bàn Phường An Sơn có một số khu dân cư do đặc điểm nghề nghiệp nên việc quan tâm đến việc học tập của con em cũng chưa cao, môi trường sinh hoạt cũng phần nào ảnh hưởng đến việc học tập của các em. Trường thu hút con em thuộc địa bàn (khu Bến Sạn, làng giết mổ An Thổ, nay lại thêm các tụ điểm vui chơi Karaoke, bi da, café, các quán nhậu mọc lên rất nhiều trên địa bàn phường).

    3. Chất lượng đầu vào lớp 6 còn thấp. Trình trạng ngồi nhầm lớp vẫn còn làm ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức của các em.

    4. Một số học sinh có hoàn cảnh đặc biệt về hạnh phúc gia đình, về hoàn cảnh kinh tế. Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình.

    5. Một bộ phận học sinh chưa xác định được động cơ, thái độ học tập, chưa thực sự có tinh thần vượt khó, vươn lên mà còn chây lười, thụ động trong học tập.

    6. Do đặc điểm của môn toán là bộ môn suy luận loogic, nó đòi hỏi học sinh không những phải nắm vững kiếm thức về định nghĩa, định lý, hệ quả, tính chất, quy tắc,… một cách cơ bản có hệ thống mà còn phải biết suy luận, phân tích, tổng hợp, lập luận. Nói chung, là bộ môn hơi khó học nên tỉ lệ học sinh yếu kém tương đối cao so với các môn khác.

    7. Một số em vì nhiều lí do khác nhau đã hỏng kiến thức cũ, nay lại phải tiếp thu kiến thức mới nên rất vất vả, đâm ra chán nãn, chây lười, quậy phá dẫn đến chất lượng yếu kém.8. Về phần giáo viên: Một bộ phận giáo viên vẫn chưa theo kịp với yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục nên việc dạy học ở một số tiết chưa thực sự có chất lượng.

    II. Những giải pháp mà nhóm đã thực hiện nhằm từng bước nâng cao chất lượng học sinh yếu kém môn toán.

    Qua thực tế tình hình chất lượng, nhóm đã suy nghĩ, đánh giá và bàn bạc biện pháp để từng bước nâng cao chất lượng yếu kém bộ môn toán, cụ thể như sau:

    1. Ngay từ đầu năm học các giáo viên bộ môn điều tra, nắm chắc đối tượng học sinh yếu kém môn toán của lớp mình đang giảng dạy là bao nhiêu? Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm để phân loại đặc điểm từng đối tượng: Yếu do hoàn cảnh gia đình? Yếu do hỏng kiến thức cũ? Yếu do lười học? Yếu do trí tuệ hạn chế? Yếu vì ảnh hưởng môi trường bạn bè? Để có thái độ và biện pháp thích hợp.

    2. Trên cơ sở điểu tra phân loại ban đầu mà giáo viên có cách nhìn nhận và thái độ ứng xử cho phù hợp: Nhẹ nhàng, bảo ban, động viên, khích lệ đối với các em có hoàn cảnh đặc biệt hoặc mất căn bản, đồng thời nghiêm nghị, cứng rắn đối với các em chây lười, quậy phá với mục đích chung là để các em phấn khởi, tin tưởng và nổ lực trong học tập.

    3. Trong giảng dạy nói chung và trong từng bài học cụ thể, phải có sự chú ý giúp đỡ đối tượng yếu, kém thông qua câu hỏi gợi mở, bài tập (công việc này phải thực hiện ngay trong thiết kế bài giảng, và ngay cả kiểm tra bài cũ cũng có những câu hỏi dành cho học sinh yếu kém để động viên, diều dắt các em.

    4. Thường xuyên động viên, hướng dẫn các em cần phải nắm vững lý thuyết, vì kiến thức toán học là môn suy luận loogic nếu không nắm vững hệ thống lý thuyết thì không thể hiểu được khi nghe giảng chứ chưa nói gì việc giải bài toán. Để làm được việc này thì giáo viên cần giúp đỡ học sinh cách học dễ ghi nhớ, dễ thuộc, lâu quên. Có thể là như: Công thức thì luôn ghi nhiều nơi ở nhà để lúc nào cũng đập vào mắt buộc phải nhớ hoặc ghi vào sổ tay bỏ túi thỉnh thoảng mở ra xem dù bất cứ ở đâu. Học định lý thì phải vẽ hình, từ hình vẽ tưởng tượng đó để suy luận xây dựng thành lời, thỉnh thoảng giáo viên còn cung cấp thơ vui để các em dễ nhớ, dễ vận dụng.

    5. Giáo viên cần cung cấp cho học sinh quy trình các bước giải một bài toán.

    B1: Tìm hiểu về bài toán: Đọc thật kỹ đề toán. Cú ý các chi tiết nổi bậc, khắc sâu từng ý cơ bản là lưu ý mối quan hệ của chúng.

    B2: Tìm lời giải: Xét xem bài toán thuộc dạng nào? Phương pháp chứng minh ra sao?

    B3: Thực hiện lời giảng: Trình bày bài viết lập luận của mình

    B4: Kiểm tra lại bài giải và thử tìm xem phương pháp khác để giải bài toán trên hoặc phát triển một bài toán mới từ bài toán đã cho.

    Đặc biệt khi giảng dạy hình học ta cần hướng dẫn các em phương pháp chứng minh bằng con đường phân tích đi lên một cách có hệ thống. Trước tiên bằng câu hỏi tổng quát dành cho học sinh giỏi, sau đó triển khai phương pháp bằng một loạt câu hỏi dẫn dắt để học sinh yếu kém tham gia xây dựng theo cơ sở phân tích. Tiếp theo yêu cầu đối tượng khá giỏi trình bày bài toán giải bằng lời và cuối cùng cho đối tượng cho đối tượng yếu kém trình bày lại bài viết để lớp nhận xét, bổ sung. Thực hiện theo quy trình này tuy mất thời gian nhưng thà rằng làm ít mà chắc, phục vụ nhiều cho đối tượng yếu, kém còn hơn là dạy nhiều nhưng chỉ phục vụ cho học sinh khá, giỏi. Do vậy, bài tập cần nghiên cứu phân dạng để rồi mỗi dạng chỉ giải một bài mẫu, các bài còn lại học sinh về nhà làm tương tự theo cách đã giải.

    6. Giáo viên cần chú ý và coi trọng bước hướng dẫn về nhà. Để giúp cho học sinh yếu, kém có thể tiếp thu bài mới thì giáo viên cần nghiên cứu kỹ nội dung bài mới và đề ra các yêu cầu cần thiết để học sinh chuẩn bị. Ví dụ: Khi chuẩn bị bài dạy “Góc có đỉnh bên trong và ngoài đường tròn” thì yêu cầu học sinh về học lại tính chất góc ngoài của một tam giác ở hình học 7, tính chất góc nội tiếp ở hình học 9. Có như thế thì việc hiểu được chứng minh định lý của bài trên đối với học sinh yếu, kém là dễ dàng. Nếu không có hướng dẫn trước thì các em không biết chuẩn bị điều gì và dẫn đến việc tiếp thu bài mới rất khó khăn.

    7. Giáo viên bộ môn kết hợp với giáo viên chủ nhiệm để phân đôi bạn học tập hoặc nhóm bạn học tập (cơ cấu có đối tượng khá, giỏi và yếu, kém với nhau) trong đó chú ý giao nhiệm vụ cho các học sinh khá, giỏi giúp đỡ học sinh yếu kém và cần thiết đề ra các biện pháp cụ thể để thúc đẩy việc hoạt động của các nhóm có hiệu quả. Ví dụ: khi được kiểm tra đối tượng yếu, kém của nhóm mà không thuộc bài hoặc chưa làm bài thì cả nhóm cùng liên đới chịu trách nhiệm). Có như thế các em mới nhắc nhở, giúp đỡ nhau tích cực.

    8. Giáo viên cần tận dụng các tiết phụ đạo hoặc bám sát để củng cố, hệ thống, ôn tập lại các kiến thức đã học. Cung cấp cho các em phương pháp chứng minh. Việc này rất cần thiết đối với học sinh yếu, kém. Và đây cũng là dịp để giáo viên tháo gỡ những băn khoăn, thắc mắc của học sinh, muốn vậy đòi hỏi giáo viên phải phân giải, thân thiện để các em mạnh dạn tỏ bày những trăn trở trong việc học toán (giáo viên nên động viên khuyến khích các đối tượng yếu, kém hỏi.Việc tháo gỡ được nhiều thắc mắc này cho các em xem như một thành công lớn của một tiết dạy bằng các hình thức phong phú để tạo không khí vui vẻ, thỏa mái, thích thú trong học tập (Chú ý các tiết sinh hoạt này nhằm đế các đối tượng yếu, kém là chính để đảm bảo mục đích từng bước nâng cao chất lượng học toán của học sinh yếu kém).

    9. Giáo viên thỉnh thoảng liên hệ với phụ huynh qua điện thoại (Ghi chép ở giáo viên chủ nhiệm) những trường hợp cần thiết nhằm mục đích phối hợp để giáo dục tốt. (nếu đối tượng có nhiều tiến bộ đáng khen thì báo phụ huynh biết để mừng và tiếp tục động viên – nếu đối tượng chậm tiến bộ, ì ạch, chây lười thì cũng báo để phụ huynh biết và cùng phối kết hợp nhắc nhở, động viên, giáo dục thích đáng hơn).

    III. Kết luận:

    Với những công việc là cụ thể bằng những biện pháp tích hợp nêu trên, chúng tôi nhận thấy chất lượng học tập của học sinh yếu kém môn toán từng bước có chuyển biến, tiến bộ. Một số em đã từng lo sợ môn học này, nay lại có khuynh hướng thích học. Từng bước gây được không khí ham học, tỷ lệ yếu, kém giảm dần. Chất lượng thống kê cuối năm 2008-2009 cho thấy điều đó.

    IV. Những bài học kinh nghiệm:

    Qua kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy, bằng các việc làm cụ thể, bằng biện pháp thích hợp, chúng tôi rút ra được một số kinh nghiệm để nâng cao chất lượng học sinh yếu kém môn toán như sau:

    1. Phải yêu nghề, mến trẻ, luôn tận tâm với công việc, hết lòng hết sức với học sinh thân yêu.

    2. Luôn khơi dậy và phát triển năng lực tự học, nhằm hình thành tư duy tích cực, độc lập sáng tạo, nâng cao năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề ở học sinh.

    3. Kết hợp chặt chẻ giữa ôn bài cũ, giảng bài mới, rèn luyện kỹ năng tư duy, phương pháp học tập, từng bước nâng cao năng lực lập luận, phân tích, tổng hợp cho học sinh.

    4. Tăng cường học tập cá thể với học tập nhóm, phải có mối quan hệ hợp tác giữa cá nhân trên con đường tìm tòi, phát hiện kiến thức mới.

    5. Phát huy vai trò chủ động của học sinh, phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh, nhận xét, góp ý cách phát biểu, cách làm bài của bạn, trách vấp phải sai lầm, tìm nguyên nhân sai lầm và nêu cách sửa chữa.

    6. Giáo viên cần phải chuẩn bị bài kỹ, phân loại các bài tập, phân loại phương pháp giải, phân loại theo mức độ phát triển tư duy.

    7. Giáo viên dạy toán cần quán triệt tinh thần “Tư duy quan trọng hơn kiến thức; nắm vững phương pháp hơn thuộc lý thuyết, dạy cách suy nghĩ, cách tư duy, cách phân tích, cách tổng hợp và thường xuyên cung cấp cho các em phương pháp học toán”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Internet…
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy ⋆ Nam Phát Construction
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy Đạt Chuẩn
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Epoxy Hiệu Quả Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Biện Pháp Thi Công Sơn Nền Bê Tông Tiết Kiệm Chi Phí ?
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Tham Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Toán Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Toán Lớp 5
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Chủ Nhiệm Ở Trường Thcs
  • Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Biển Nha Trang Hiện Nay
  • Ô Nhiễm Môi Trường Nguyên Nhân Và Giải Pháp
  • SKKN nâng cao chất lượng môn toán lớp 5

    Năm học : 2006 – 2007

    Phần mở đầu

    1. Lý do chọn đề tài:

    Năm học 2006-2007 là năm học đổi mới chương trình và thay SGK lớp 5; là năm học tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm.

    Giáo viên trường TH chúng tôi đã triển khai thực hiện những thay đổi theo phương pháp dạy học mới. Mục đích giáo dục tiểu học được hoàn thiện theo hướng toàn diện hơn. Với chương trình mới, chúng ta đã và đang từng bước thay đổi nội dung dạy học cho nên người giáo viên cần tập trung đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp. Hiện nay, chúng ta đang tập trung đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh trong quá trình dạy học. Trong Luật giáo dục cũng đã khẳng định: “Phương pháp dạy học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh”. Vậy để tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh về môn Toán cần có phương pháp dạy học phù hợp: phù hợp với nội dung kiến thức, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi cửa học sinh, phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể của nhà trường… Thực tế bản thân tôi, giáo viên trường tôi đã vận dụng thành thạo các phương pháp dạy học truyền thống vào dạy toán như: giảng giải, vấn đáp, trực quan… Ngoài những phương pháp này, hình thức thầy tổ chức trò hoạt động đòi hỏi người giáo viên phải biết vận dụng nhiều phương pháp và các kĩ thuật khác nữa. Chẳng hạn: phải biết theo dõi từng học sinh trong quá trình giải bài tập để kịp thời giúp đỡ học sinh yếu, giao việc cho học sinh giỏi, phải biết cách nhanh chóng chia lớp thành nhóm để tổ chức giải câu đố toán học, phải biết cách làm mẫu khi hướng dẫn học sinh sử dụng đồ dùng dạy học… Giáo viên trường tôi tuy đã biết về các kĩ thuật dạy học nói trên nhưng chưa thành thục khi sử dụng chúng, giáo viên ngại sử dụng hoặc chỉ lạm dụng một vài kĩ thuật nào đó mà thôi. Đây chính là điểm yếu của tôi, của giáo viên trường tôi và cũng chính là lí do tôi chọn đề tài này để nghiên cứu áp dụng giảng dạy tại lớp 5B (lớp tôi chủ nhiệm) trong năm học 2006-2007 này nhằm nâng cao chất lượng của lớp.

    2. Mục đích nghiên cứu:

    Tìm hiểu nội dung dạy học toán và nghiên cứu một số biện pháp cải tiến phương pháp, hình thức dạy học toán để áp dụng nâng cao chất lượng môn toán cho học sinh lớp 5.

    3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    Phương pháp dạy học Toán của giáo viên ở trường TH

    Học sinh 5B (lớp tôi chủ nhiệm).

    4. Nhiệm vụ nghiên cứu:

    Tìm hiểu thực trạng dạy học toán ở trường TH , rút kinh nghiệm, có một số biện pháp cải tiến phương pháp dạy học toán nhằm n

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Môn Toán 7
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 9
  • Giải Pháp Cho Bãi Đỗ Xe Thông Minh
  • Nhà Thông Minh Tại Đà Nẵng
  • Smart Home Đà Nẵng #1 Giải Pháp Nhà Thông Minh Tại Đà Nẵng
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường Thcs Vĩnh Thới

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tiết Thực Hành Môn Tin Học 4
  • Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Thể Dục Cho Trẻ Mầm Non
  • Điểm Tiếng Anh Thấp: Nguyên Nhân Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ngoại Ngữ
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh: Không Thể Chậm Trễ Hơn !
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Trong Trường Thcs
  • I. LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ

    -Tình trạng học sinh học yếu môn Toán ở cấp THCS đang là một thực tế đáng lo ngại và là nỗi băn khoăn,trăn trở của nhiều giáo viên dạy toán.

    -Tuy cùng hưởng thụ một nội dung chương trình giáo dục giống nhau, nhưng mỗi học sinh đều có sự phát triển về thể chất và trí tuệ khác nhau,có điều kiện hoàn cảnh và sự quan tâm chăm sóc ở gia đình khác nhau, có động cơ và thái độ học tập khác nhau,môi trường giáo dục khác nhau thì năng lực học tập,khả năng tiếp thu kiến thức của mỗi học sinh cũng phải khác .

    -Có nhiều nguyên nhân làm học sinh học yếu môn toán,song nguyên nhân chính là học sinh chưa có phương pháp học tập đúng đắn,có nhiều lỗ hổng về kiến thức,kĩ năng.Chính vì vậy, tình trạng học sinh học yếu môn toán ngày càng tăng và nguy hiểm hơn là sự kéo dài từ năm này sang năm khác làm cho các em ngày càng hổng kiến thức nhiều hơn.

    -Tôi rất hiểu và thông cảm trước những khó khăn của các em nên Tôi thiết nghĩ cần phải nghiên cứu,tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng trên mới có thể nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, tạo cho học sinh niềm say mê học tập nhất là môn Toán. Chính vì vậy nên Tôi chọn chuyên đề: “Giải pháp nâng cao chất lượng môn Toán”

    II. THỰC TRẠNG:

    – Học sinh phần đông sợ bộ môn toán vì phải đối mặt với những công thức, những định lí khô khan.

    -Học sinh ngại khó, thiếu kiên nhẫn trong quá trình học toán dẫn đến việc thường xuyên không học bài và làm bài tập ở nhà.

    -Đa số học sinh chưa biết cách học môn toán như thế nào cho hiệu quả.

    -Gia đình học sinh chưa quan tâm đúng mức đến con em mình.

    -Đôi khi giáo viên cũng thiếu kiên nhẫn đối với học sinh học yếu.

    Đối với bộ môn toán:

    – Từ 5,0 điểm trở lên: 61 / 154 .Tỉ lệ: 39,61 % (giảm 24,2% so với năm học trước). Cụ thể:

    9/1 : 37 / 39 (94,87%). Trong đó có 8 học sinh 10 điểm

    9/2: 8 / 27 (29,63%)

    9/3 : 5 / 31 (16,13%)

    9/4: 6/ 28 (21,43%)

    9/5: 5 / 29 (17,24%)

    – Điểm bình quân môn toán là 4,78. Xếp hạng 10/12

    – Điểm yếu, kém: 93/ 154. Tỉ lệ: 60,39 %. Trong đó yếu: 41 hs. Kém: 52 hs. Không có hs điểm 0

    9/2: yếu: 12; kém: 7

    9/3: yếu: 12; kém : 14

    9/4: yếu: 8; kém: 14

    9/5: yếu: 8; kém: 16

    III. NGUYÊN NHÂN

    – Nhận thức của phụ huynh về việc học của con em mình chưa cao, nuông chìu con, sợ con mình học mệt nên chưa động viên con mình trong vấn đề học tập

    – Học sinh học yếu mất căn bản sinh ra chán nãn, thiếu kiên nhẫn nên buông xuôi không hợp tác tới đâu thì tới

    – Một số học sinh do khả năng có hạn, học trước quên sau dẫn đến kiến thức bị hạn hẹp không đạt chuẩn quy định

    – Học sinh có quá nhiều quyền nên dẫn đến ỉ lại, chưa thật sự coi trọng việc học

    – Giáo viên cũng chưa mạnh dạn dùng hết những phương pháp để uốn nắn những học sinh cá biệt

    IV. GiẢI PHÁP

    1. GIẢI PHÁP TÂM LÝ

    – Để học sinh yêu thích môn học của mình,tôi đã tạo sự gần gũi với các em từ những tiết học đầu tiên,chú ý đến những học sinh có hoàn cảnh khó khăn,động viên các em bằng cách kể những gương học tập vượt khó mà các em có thể học tập.Luôn tạo cho các em niềm tin.

    -Có thể khiển trách khi các em chưa ngoan nhưng không quên dành lời khen khi các em có tiến bộ chút ít.

    – Việc đánh giá nhận xét học sinh phải công bằng,khách quan và công tâm,công khai kết quả sau các giờ kiểm tra,cần phải có nhận xét bài làm của học sinh.

    – Để bài giảng hay, tiết học của mình thêm sinh động tôi luôn tìm ra cách giảng gần gũi nhất, dễ hiểu nhất để học sinh có thể tiếp thu dễ dàng.

    Ví dụ: Khi học bài “Tỉ số lượng giác” để học sinh dễ thuộc công thức:

    Tôi dạy học sinh bài thơ: “Sin đi học (nghĩa là đối chia huyền)

    Cosin không hư (nghĩa là kề chia huyền)

    Tang đoàn kết (nghĩa là đối chia kề)

    Cotang kết đoàn” (nghĩa là kề chia đối)

    Học sinh vừa thuộc công thức toán mà còn học được bài học đạo đức khi đến lớp

    -Tìm ra giải pháp hữu hiệu cho riêng mình để hạn chế học sinh yếu kém môn toán

    -Kiên trì, nhẫn nại và hy sinh thời gian cho những học sinh yếu

    -Có cái nhìn lạc quan hơn khi dạy những học sinh yếu kém

    -Hình thành nề nếp và kỷ cương trong các tiết dạy từ đầu năm học để quản lý học sinh tốt hơn.

    -Quan tâm con em mình nhiều hơn nữa trong việc học tập

    -Kết hợp tốt với nhà trường trong việc giáo dục các em

    -Tư vấn và giúp đỡ giáo viên trong việc dạy học sinh yếu

    -Cảm thông, động viên, chia sẻ với những bức xúc của giáo viên khi dạy học sinh yếu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Đơn Vị
  • Luận Văn Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng Trung Dài Hạn Tại Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam
  • Luận Văn Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Quân Đội
  • Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng
  • Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Ở Việt Nam
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4 Theo Mô Hình Dạy Học Mới Vnen
  • Chuyên Đề: Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4+5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Skkn Hung Doc
  • Một Số Biện Pháp Dạy Học Chủ Đề Vật Chất Năng Lượng Môn Khoa Học Lớp 5
  • 8 Biện Pháp Hay Nâng Cao Chất Lượng Môn Khoa Học Ở Tiểu Học
  • I. MỞ ĐẦU:

    1. Lý do chọn đề tài:

    Trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế tri thức của thời đại, Nghị quyết đại hội

    Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra nhiệm vụ: “Nâng cao dân trí, phát huy nguồn

    lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam”. Bởi vậy Giáo dục luôn

    được xác định là “Quốc sách hàng đầu” mà “Giáo viên là nhân tố quyết định chất

    lượng giáo dục đào tạo”. Xuất phát từ yêu cầu thực tế của nhà trường Tiểu học hiện

    nay, bên cạnh đó còn xuất phát từ mục tiêu cơ bản của ngành Giáo dục – Đào tạo đã

    đề ra, phải đào tạo con người mới phát triển toàn diện có đầy đủ tri thức, thông

    minh, sáng tạo và đức độ để sau này có thể làm chủ tương lai.

    Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, chất lượng

    giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đào tạo ở bậc Tiểu học. Mục tiêu giáo dục

    tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn

    và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp

    tục học lên trung học cơ sở. Trong các môn học ở bậc Tiểu học, môn Toán chiếm

    một vị trí rất quan trọng, giúp các em chiếm lĩnh được tri thức, phát triển trí thông

    minh, năng lực tư duy, sáng tạo lôgic góp phần quan trọng vào sự hình thành và

    phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh. Trong đó môn toán ở lớp 1 giữ vai trò

    hết sức quan trọng, bởi toán lớp 1 cung cấp cho các em những kiến thức đầu tiên,

    là cơ sở cho việc phát triển kỹ năng tính toán và tư duy, giúp học sinh nhanh chóng

    hoàn thiện mình. Hiện nay, chương trình toán tiểu học cao đòi hỏi học sinh đạt

    được chuẩn về kiến thức, kỹ năng. Ngoài ra học sinh còn được tăng cường kiến

    thức, kỹ năng vào buổi 2. Điều đó rất khó khăn, với yêu cầu là học sinh học tập

    một cách chủ động, tích cực trong lĩnh hội tri thức, tự phán đoán, giải quyết các bài

    tập. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, không giảng giải nhiều. Đối tượng học sinh

    không đồng đều, có học sinh mồ côi, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh

    khuyết tật học hòa nhập, nhận thức chậm, gia đình ít quan tâm, thêm vào đó là học

    sinh lớp 1 bước đầu chuyển từ chơi sang học. Đòi hỏi giáo viên không chỉ dạy mà

    còn phải dỗ. Kết quả về kiến thức, kỹ năng cơ bản đạt yêu cầu trở lên.

    Vậy làm thế nào để học sinh học tốt môn toán lớp 1, chất lượng môn toán được

    nâng cao là việc làm vô cùng quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục hiện nay.

    Điều đó làm giáo viên có lúc lúng túng trong việc lựa chọn và tìm ra biện pháp tốt

    nhất để nâng cao chất lượng môn Toán. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp

    một nhiều năm. Tôi rất trăn trở và suy nghĩ làm sao để nâng cao chất lượng môn

    toán lớp 1. Tôi quyết định chọn và nghiên cứu “Một số giải pháp nâng cao chất

    lượng dạy – học môn toán lớp 1″.

    1

    2. Mục đích nghiên cứu:

    Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác giảng dạy về dạy học môn Toán ở

    trường Tiểu học Đông Vệ 1, nhằm đề xuất những biện pháp đổi mới phương pháp

    dạy học của bản thân để nâng cao chất lượng dạy học môn Toán cho học sinh lớp 1

    trong nhà trường.

    3. Đối tượng nghiên cứu:

    Giáo viên và học sinh lớp 1 trong quá trình dạy học môn Toán ở trường Tiểu

    học Đông Vệ 1.

    4. Phương pháp nghiên cứu:

    – Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.

    – Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.

    – Phương pháp điều tra thống kê.

    – Phương pháp so sánh, đối chiếu.

    – Phương pháp đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm.

    2

    II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    1. Cơ sở lý luận :

    Tại hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam lần VIII

    đã chỉ rõ nhiệm vụ quan trong của ngành giáo dục và đào tạo là “Đổi mới mạnh mẽ

    phương pháp giáo dục đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói

    quen tích cực, tự giác và tư duy sáng tạo của học sinh”. Phương pháp tích cực đã

    được nước ta áp dụng từ năm 2002 và áp dụng đồng bộ trên tất cả các trường tiểu

    học của cả nước. Mặt khác lịch sử của toán học cho thấy rằng quá trình nhận thức

    toán học không phải lúc nào cũng suôn sẻ, thuận lợi mà luôn có những mâu thuẫn

    như quan điểm và tư tưởng nhận thức.

    Nhiệm vụ của người giáo viên

    Thực hiện giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáo

    dục, kế hoạch dạy học; soạn bài lên lớp kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh; quản

    lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt

    động chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục.

    Chương trình và mục tiêu chương trình toán lớp 1:

    Chương trình gồm 35 tuần (4 tiết / 1 tuần x 35 = 140 tiết)

    Số học: học sinh biết đọc viết đếm các số đến 100, làm tính cộng, tính trừ

    không nhớ trong phạm vi 100.

    Đại lượng, đo đại lượng: học sinh biết đo độ dài trong phạm vi 20.

    Yếu tố hình học: Học sinh nắm được về điểm, đoạn thẳng, hình vuông, hình

    tam giác, hình tròn.

    Giải bài toán có lời văn: Biết giải bài toán đơn về cộng, trừ.

    Yêu cầu với mức độ tư duy còn thấp, quá trình nhận thức môn toán phải đi từ

    cụ thể, kỹ năng phân tích tổng hợp còn yếu hầu như chỉ dựa vào hình ảnh có sẵn

    trước mắt. Vì thế chương trình toán lớp 1 chỉ tâp trung:

    + Học xong toán lớp 1 học sinh bước đầu có kiến thức cơ bản, đơn giản thiết

    thực về phép đếm, về số lượng, về số tự nhiên trong phạm vi 100, về phép cộng và

    phép trừ không nhớ trong phạm vi 100, về độ dài, đo độ dài trong phạm vi 20, tuần

    lễ, ngày trong tuần, đọc giờ đúng trên mặt đồng hồ, về một số hình học (đoạn

    thẳng, điểm, hình vuông, tròn, hình tam giác) giải bài toán có lời văn.

    + Hình thành và rèn luyện kĩ năng thực hành: đọc, viết, đếm, so sánh các số

    trong phạm vi 100, cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100, đo ước lượng độ dài các

    đoạn thẳng (với các số tự nhiên trong phạm vi 20), nhận biết hình vuông, hình tròn,

    hình tam giác, điểm đoạn thẳng, giải các bài toán đơn về cộng, trừ. Bước đầu biết

    diễn đạt bài toán bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài

    tập thực hành, tập dượt so sánh, phân tích tổng hợp trừu tượng hoá, khái quát hoá

    trong phạm vi của những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế học sinh.

    Những đặc điểm tâm lý của trẻ vào lớp 1

    3

    – Một số tiết học GV còn ngại sử dụng đồ dùng, hoặc sử dụng đồ dùng chưa

    thật hiệu quả Ví dụ: Sách giáo khoa hướng dẫn đồ dùng bằng hình vẽ ô tô, GV còn

    máy móc chưa mạnh dạn sáng tạo trong việc sử dụng nhiều đồ dùng khác như: que

    tính, chiếc lá, hình tam giác, chấm tròn thay thế. Hoặc những đối tượng học sinh

    nhận thức chậm, GV chưa sử dụng đồ dùng trực quan giúp học sinh khắc sâu kiến

    thức.

    – Việc tổ chức các trò chơi mới, sân chơi phong phú để thu hút HS khi học

    môn toán còn hạn chế. Khả năng tích hợp các môn học như môn Tiếng Việt còn

    chưa thường xuyên, chưa hiệu quả. Ví dụ: trò chơi “Truyền điện”, việc đặt câu hỏi

    để hỏi bạn, HS còn lúng túng.

    – Chưa thường xuyên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm hoặc tổ chức áp

    dụng phương pháp dạy học tích cực chưa linh hoạt, chưa sáng tạo, có lúc còn dập

    khuôn máy móc, áp đặt …..ít tổ chức hoạt động ngoại khóa như: câu lạc bộ, rung

    chuông vàng, chuyên mục,…nhằm bổ trợ kiến thức toán học cho học sinh.

    2.2. Thực trạng việc học môn toán lớp 1C

    Ngay từ đầu năm khi được phân công chủ nhiệm lớp 1C, tôi đã tìm hiểu đối

    tượng, hoàn cảnh của học sinh trong lớp từ đó nắm bắt được hoàn cảnh gia đình

    cũng như khả năng của từng em để có phương pháp giảng dạy có hiệu quả. Kết quả

    điều tra cụ thể như sau:

    42

    Hoàn cảnh học sinh

    Con gia đình cán bộ

    Con gia đình lao động tự do

    Con gia đình công nhân

    SL

    %

    Qua việc nắm bắt hoàn cảnh từng đối tượng học sinh trong lớp, tôi thấy được

    những thuận lợi và khó khăn của lớp 1C do tôi phụ trách như sau:

    * Thuận lợi:

    Đối với học sinh lớp 1C trường Tiểu học Đông Vệ 1 đã được tiếp cận và làm

    quen với phương pháp dạy học tích cực của giáo viên ngay từ đầu năm học, thành

    lập được hội đồng tự quản, phân công nhiệm vụ cho từng ban: ban học tập, ban thư

    viện, ban đối ngoại…. Các ban học tập nắm bắt khá tốt việc điều hành, hướng dẫn,

    xử lí tình huống trong nhóm.

    Trong hoạt động nhóm, một số em mạnh dạn, tự tin, hướng dẫn bạn với nhiều

    hình thức đọc kết quả, viết kết quả phép tính nối tiếp nhau, kiểm tra đôn đốc những

    5

    3.2 Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới phương pháp dạy học.

    – Chuẩn bị bài trước khi lên lớp rất quan trọng nên việc xây dựng mục tiêu

    bài học cũng như sắp xếp, tổ chức các hoạt động dạy – học cần được coi trọng.

    – Trong giảng dạy có nhiều học sinh nhận thức chậm. Giáo viên phải kiên trì,

    không nên khắt khe mà nên tạo điều kiện cho các em được tham gia vào các hoạt

    động học tập, được chia sẻ để tự tin hơn …

    – Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh

    thường xuyên trao đổi với giáo viên trong tổ, tổ chức các chuyên đề, sinh hoạt

    chuyên môn mới, chia sẻ, giải quyết kịp thời các khó khăn.

    – Tăng cường khảo sát chất lượng học sinh ngay tại các giờ học, buổi học,

    tuần học…

    – Chấm bài thường xuyên, động viên học sinh bằng nhiều hình thức như

    tuyên dương …

    – Giáo viên áp dụng phương pháp thường xuyên, phương pháp chứng minh tạo

    thói quen cho học sinh.

    Ví dụ cụ thể về sự kiên trì, chủ động đổi mới phương pháp.

    Khi dạy về phép công trong phạm vi 9.

    Bước 1: Các em quan sát giáo viên làm mẫu: 9 que tính thêm 1 que tính bằng 10

    que tính. 9 + 1 = 10.

    Bước 2: Học sinh làm việc cá nhân, các em dùng que tính để lập các phép tính

    cộng tiếp theo vào bảng con hoặc bảng phụ. 1 + 9 = 10; 8 + 2 = 10; 7 + 3 = 10

    Bước 3: Học sinh trao đổi nhóm 2. Đối chiếu các phép cộng đã lập.

    Bước 4: Học sinh đọc các phép cộng trong nhóm 6.

    Bước 5: Báo cáo trước lớp, dưới sự điều hành của Chủ tịch hội đồng tự quản.

    Hoạt động nhóm còn phát huy tính tự quản của cán bộ lớp, nhóm trưởng, nhằm

    kiểm tra việc học tập của các bạn trong nhóm mình một cách tốt nhất, có tác dụng

    sửa chữa uốn nắn kịp thời những thiếu hụt, sai sót về kiến thức cho học sinh học

    yếu. Giúp các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo. Có

    thể nói phương pháp này hình thành tinh thần tự giác trách nhiệm đối với tập thể

    cho từng thành viên của nhóm như vậy để tránh tình trạng lười biếng, sao nhãng

    nhiệm vụ được giao, tránh sự ghen tị.

    Nhưng chỉ có tổ chức hoạt động theo nhóm và quan sát trực quan còn là chưa đủ

    nếu trong giờ toán không có luyện tập thực hành trong giờ toán thời gian học sinh

    luyện tập chiếm tới 2/3 tiết học, càng được luyện tập nhiều thì học sinh càng khắc

    sâu được kiến thức. Có khi có những nội dung lí thuyết phải qua làm bài tập thì

    học sinh mới hiểu được.

    7

    Ví dụ : Sử dụng phương pháp luyện tập thực hành trong bài phép cộng trong

    phạm vi 9.

    Một tiết dạy có 35 phút, giáo viên dành khoảng 10-12 phút để xây dựng công

    thức cộng trong phạm vi 9 (hay bảng cộng trong phạm vi 9)

    Sau khi xây dựng xong công thức

    8+1=9

    3+6=9

    1+8=9

    6+3=9

    Giáo viên cho học sinh thực hành luyện tập 15 – 20 phút bằng cách đọc cá nhân, tập

    thể, đọc thuộc bằng mọi hình thức… Sau khi luyện tập xong giáo viên lại cho học

    sinh học thuộc lại bảng cộng trong phạm vi 9 bằng cách đọc nối tiếp giữa hai tổ,

    hoặc em A nêu phép tính em B trả lời và ngược lại.

    * Lưu ý : Trong tiết học giáo viên thực hiện linh hoạt các phương pháp như:

    + Phương pháp trực quan

    + Phương pháp hỏi đáp

    + Phương pháp giảng giải ( giải nghĩa từ )

    + Phương pháp luyện tập thực hành

    + Phương pháp kỉ luật tích cực.

    + Phương pháp trò chơi

    Trong phương pháp dạy học toán lớp 1, giáo viên phải sử dụng linh hoạt đúng

    lúc, đúng chỗ các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Việc sử

    dụng các phương pháp, các hình thức dạy học cần theo hướng tích cực hóa hoạt

    động của học sinh, tăng cường tập luyện thực hành để phát triển các kĩ năng tính

    toán, nhằm nhanh chóng đạt được yêu cầu cộng trừ trong phạm vi 10 và cộng trừ

    không nhớ trong phạm vi 100.

    Bám sát 5 yêu cầu của giáo viên:

    1. Giáo viên giao nhiệm vụ phải rõ ràng, ngắn gọn.

    2. Làm mẫu phải rõ ràng, chính xác, dứt khoát.

    3. Chú ý đến tính đồng loạt, tính cá thể của học sinh.

    4. Nói ít, tránh nói nhiều.

    5. Không chê, khuyến khích học sinh tích cực làm việc.

    Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập thực hành luyện tập cũng có thể linh

    hoạt dưới nhiều hình thức: Cá nhân – nhóm – lớp…

    Vì hình thức dạy học này có sự kết hợp tính tập thể và tính cá nhân mà

    trong đó học sinh trong nhóm được sự chỉ đạo của nhóm trưởng, trao đổi những

    hiểu biết về kiến thức với nhau, giúp học sinh hợp tác với nhau, cùng tìm tòi phát

    hiện, trình bầy và chiếm lĩnh chi thức. Các thành viên trong nhóm không chỉ quan

    tâm đến việc học tập của mình mà còn quan tâm đến việc học tập của các bạn

    khác trong nhóm ( Nhóm 2, nhóm 4, nhóm 6…).

    8

    3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng trực

    quan.

    Giáo viên thường sử dụng các dụng cụ học tập trực quan, nhiều màu sắc hấp

    dẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh bởi thời gian chú ý có chủ định chỉ

    kéo dài 15- 20 phút. Như vậy, cách sử dụng trực quan như trên rất có lợi cho việc

    HS tập trung chú ý kéo dài và cao độ.

    – Học sinh được học tập qua ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình ảnh được

    trình chiếu một cách sinh động tạo sự hứng thú cho các em tập trung hơn. Tuy

    nhiên giáo viên không nên lạm dụng.

    Giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích

    chất đặc biệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác

    tích cực và chính xác và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui

    vẻ khi ghi nhớ kiến thức.

    Đặc biệt là đồ dùng trực quan đã đem lại hứng thú cho học sinh. Đòi hỏi các

    em phải tư duy, sử lý nhanh các tình huống, tự tìm tòi khám phá kiến thức qua trực

    quan. Kết quả học sinh ghi nhớ được kiến thức sâu, các em chóng thuộc bài. Lớp

    học thoải mái, vui vẻ, giờ học đạt hiệu quả cao. Học sinh ham thích học toán.

    3.4 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt hơn.

    Tổ chức nhiều trò chơi học tập như: rung chuông vàng, hái hoa học tập, trò

    chơi… nhằm bổ sung kiến thức, tạo sự tự tin, nhanh nhẹn, kỹ năng điều hành hoạt

    động nhóm …

    Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường

    học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ

    30 – 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết,

    hứng thú khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển

    thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Tinh nhạy và sức bền vững,

    tinh khéo léo của các thao tác của đôi bàn tay để tập viết được phát triển nhanh. Tất

    cả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những

    thử thách đó thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội

    đặc biệt là giáo viên dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.

    4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:

    Với việc áp dụng các giải pháp trên cho học sinh lớp 1, tôi thấy chất lượng

    giờ học được nâng lên rõ rệt. Học sinh hào hứng, phấn khởi và luôn chờ đợi để

    được học hình. Trong giờ học các em rất say sưa, hăng say phát biểu ý kiến xây

    dựng bài, không khí lớp học sôi nổi, giờ học hấp dẫn, nhẹ nhàng. Các em nắm chắc

    kiến thức và được khắc sâu kiến thức. Qua tiết học còn rèn luyện được tính nhanh

    nhẹn, tự tin, bạo dạn. Vì thế chất lượng học tập của học sinh qua các kì khảo sát

    được nâng lên rất nhiều. Cụ thể như sau:

    9

    1C

    42

    THỜI ĐIỂM KIỂM TRA

    KẾT QUẢ

    Cuối kỳ I

    10

    Thanh Hóa, ngày 20 tháng 3 năm 2022

    Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình

    viết, không sao chép nội dung của người khác.

    Người thực hiện

    Hồ Thị Mai

    11

    MỤC LỤC

    NỘI DUNG

    I. MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    2. Mục đích nghiên cứu

    3. Đối tượng nghiên cứu

    4. Phương pháp nghiên cứu

    II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    1. Cơ sở lý luận

    2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

    2.1. Thực trạng việc dạy học môn Toán lớp 1 của nhà trường

    2.2. Thực trạng việc học môn toán lớp 1C

    3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng môn toán lớp 1

    3.1. Phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng.

    3.2. Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới phương pháp

    dạy học.

    3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ

    dùng trực quan.

    3.4. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt

    hơn.

    4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

    III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

    1. Kết luận

    2. Kiến nghị

    12

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn.doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Lớp 8 Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Âm Nhạc Cho Hs Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 2
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Phân Môn Vẽ Trang Trí
  • Skkn Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Giảng Dạy Phân Môn Vẽ Trang Trí Ở Trường Thcs
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hòa Nhập Cho Trẻ Khuyết Tật Trí Tuệ Đạt Hiệu Quả
  • Biện Pháp Giúp Trẻ Khó Khăn Về Ngôn Ngữ Qua Các Hoạt Động Ở Trường Mầm Non
  • Skkn Giúp Trẻ Khuyết Tật “chậm Phát Triển Trí Tuệ, Ngôn Ngữ Kém” Hoà Nhập Với Trường Mầm Non
  • Thứ ba – 27/05/2014 14:39

    PHÒNG GD&ĐT TP LÀO CAI

    TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN BÁ NGỌC

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO

    CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN LỚP 1

    Người thực hiện: Phạm Thị Hằng

    Chức vụ: Tổ trưởng tổ chuyên môn khối 1

    Đơn vị: Trường TH Nguyễn Bá Ngọc

    Duyên Hải, ngày 02 tháng 12 năm 2013

    1

    1

    4

    2.2 Thực trạng chất lượng đầu vào lớp 1 trường TH Nguyễn Bá Ngọc- thành phố Lào Cai.

    5

    2.3 Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán lớp 1

    2.3.1 Phối kết hợp với gia đình học sinh

    2.3.2 Tích cực, kiên trì thực hiện đổi mới phương pháp dạy học

    2.3.3 Sử dụng đồ dùng hiệu quả, đặc biệt là đồ dùng trực quan

    2.3.4 Tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập thân thiện, hiệu quả.

    6

    2.4 Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm.

    – Trong giảng dạy có nhiều học sinh nhận thức chậm. Giáo viên phải kiên trì, không nên khắt khe mà nên tạo điều kiện cho các em được tham gia vào các hoạt động học tập, được chia sẻ để tự tin hơn …

    – Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh thường xuyên trao đổi với giáo viên trong tổ, tổ chức các chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn mới, chia sẻ, giải quyết kịp thời các khó khăn.

    – Tăng cường khảo sát chất lượng học sinh ngay tại các giờ học, buổi học, tuần học…

    – Chấm bài thường xuyên, động viên học sinh bằng nhiều hình thức như tuyên dương …

    – Giáo viên áp dụng phương pháp thường xuyên, phương pháp chứng minh tạo thói quen cho học sinh.

    Ví dụ : Soạn một tiết toán cụ thể theo phương pháp mới

    Phép cộng trong phạm vi 7

    – Lập và ghi nhớ bảng cộng trong phạm vi 7

    – Vận dụng các phép tính cộng trong phạm vi 7 làm các bài tập.

    – HS khuyết tật nắm đựơc các phép cộng trong phạm vi 7

    * Giáo dục học sinh say mê, yêu thích học toán.

    II : Đồ dùng dạy học

    – Bộ đồ dùng dạy toán.

    III: Các hoạt động dạy học chủ yếu

    Hoạt động 1: Thành lập và ghi nhớ bảng cộng trong phạm vi 7

    a: Hướng dẫn học sinh phép cộng 6+1=7, 1+6=7

    HD h/s q/s hình vẽ và nêu thành bài toán

    : Gv hướng dẫn HS làm việc cá nhân, dùng que tính lập các phép tính cộng

    HS ghi bảng con các phép tính đã lập

    6+1=7 4+3=7

    1+6=7 3+4=7

    5+2=7 2+5=7

    HS làm việc theo nhóm đôi.

    – HS đọc và đối chiếu kết quả

    : HS trao đổi và ghi nhớ phép cộng trong phạm vi 7 theo nhóm 4.

    : HS báo cáo kết quả trước lớp dưới sự điều hành của ban học tập.

    – Trưởng ban tổ chức cho các bạn ghi nhớ các phép cộng.

    Hoạt động 2: Thực hành

    Bài 1: Tính

    – HS đọc yêu cầu, làm bài vào SGK

    – Trưởng ban học tập nhận xét – chốt lại kiến thức: Bài toán ôn lại phép cộng trong phạm vi 7

    Bài 2: Tính

    – GV gọi h/s nêu yêu cầu bài tập

    – Gv nhận xét chốt lại nội dung bài

    – Khi thay đổi vị trí các số trong phép tính nhưng kết quả không thay đổi

    Bài 3: Tính

    – GV hướng dẫn h/s cách làm bài tập

    – Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành lớp nêu cách làm.

    – Gv nhận xét

    Bài 4: Viết phép tính thích hợp

    – Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành các bạn tìm hiểu đề bài bài toán.

    B1: Quan sát tranh

    B2: Đặt đề toán.

    a/ Có 6 con bướm. Thêm 1 con bướm. Hỏi tất cả có bao nhiêu con bướm?

    b/ Có 4 con chim, 3 con chim bay tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu con chim?

    B3: Viết phép tính

    * Củng cố dặn dò

    – CTHĐTQ điều hành lớp ôn lại các phép tính cộng trong phạm vi 7

    – GV nhận xét xếp giờ

    – H/s quan sát hình và nêu thành bài toán

    – HS 6 cộng 1 bằng 7

    – HS đọc phép tính 6+1=7

    ( CN-N-L)

    – HS làm việc cá nhân theo lệnh của GV.

    – HS lập các phép cộng ra bảng con, dựa trên trực quan (que tính)

    – HS trao đổi nhóm đôi.

    – Nhóm trưởng điều hành các cá nhân đọc phép cộng trong phạm vi 7.

    – Đại diện các nhóm báo cáo kết quả

    – HS thi đua nhau ghi nhớ phép cộng trong phạm vi 7.

    – HS khắc sâu: 6+1=7; 1+6=7…

    – HS nêu y/c bài tập – làm bài tập vào SGK

    – HS đổi vở, kiểm tra chéo.

    6 2 3 4 1 5

    + + + + + +

    1 5 4 3 6 2

    7 7 7 7 7 7

    – HS nêu yêu cầu bài tập – 3 h/s lên bảng làm bài tập – cả lớp làm bảng con.

    7+0=7 6+1=7 3+4=7 2+5=7 0+7=7 1+6=7 4+3=7 5+2=7

    – HS mời các bạn nhận xét và chữa bài.

    – HS nêu yêu cầu bài tập – cách thực hiện phép tính

    5+1+1=7 4+2+1=7 2+3+2=7 3+2+2=7 3+3+1=7 4+0+2=6

    – HS làm bài tập và chữa bài

    – HS q/s tranh vẽ, đặt thành bài toán

    – HS làm vở ô ly – 2 bạn làm bảng phụ.

    – Viết phép tính thích hợp vào ô trống

    a/ 6+1=7

    b/ 4+3=7

    Ví dụ cụ thể về sự kiên trì, chủ động đổi mới phương pháp.

    Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành lớp báo cáo kết quả

    Khi dạy về phép công trong phạm vi 9.

    Bước 1: Các em quan sát giáo viên làm mẫu: 9 que tính thêm 1 que tính bằng 10 que tính. 9 + 1 = 10.

    Bước 2: Học sinh làm việc cá nhân, các em dùng que tính để lập các phép tính cộng tiếp theo vào bảng con hoặc bảng phụ. 1 + 9 = 10; 8 + 2 = 10; 7 + 3 = 10

    Bước 3: Học sinh trao đổi nhóm 2. Đối chiếu các phép cộng đã lập.

    Bước 4: Học sinh đọc các phép cộng trong nhóm 6.

    Bước 5: Báo cáo trước lớp, dưới sự điều hành của Chủ tịch hội đồng tự quản.

    Hoạt động nhóm còn phát huy tính tự quản của cán bộ lớp, nhóm trưởng, nhằm kiểm tra việc học tập của các bạn trong nhóm mình một cách tốt nhất, có tác dụng sửa chữa uốn nắn kịp thời những thiếu hụt, sai sót về kiến thức cho học sinh học yếu. Giúp các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo. Có thể nói phương pháp này hình thành tinh thần tự giác trách nhiệm đối với tập thể cho từng thành viên của nhóm như vậy để tránh tình trạng lười biếng, sao nhãng nhiệm vụ được giao, tránh sự ghen tị.

    Nhưng chỉ có tổ chức hoạt động theo nhóm và quan sát trực quan còn là chưa đủ nếu trong giờ toán không có luyện tập thực hành trong giờ toán thời gian học sinh luyện tập chiếm tới 2/3 tiết học, càng được luyện tập nhiều thì học sinh càng khắc sâu được kiến thức. Có khi có những nội dung lí thuyết phải qua làm bài tập thì học sinh mới hiểu được

    Ví dụ : Sử dụng phương pháp luyện tập thực hành trong bài phép cộng trong phạm vi 9.

    Một tiết dạy có 35 phút, giáo viên dành khoảng 10-12 phút để xây dựng công thức cộng trong phạm vi 9 (hay bảng cộng trong phạm vi 9)

    Sau khi xây dựng xong công thức

    8+1=9 3+6=9

    1+8=9 6+3=9

    Giáo viên cho học sinh thực hành luyện tập 15 – 20 phút bằng cách đọc cá nhân, tập thể, đọc thuộc bằng mọi hình thức… Sau khi luyện tập xong giáo viên lại cho học sinh học thuộc lại bảng cộng trong phạm vi 9 bằng cách đọc nối tiếp giữa hai tổ, hoặc em A nêu phép tính em B trả lời và ngược lại.

    : Trong tiết học giáo viên thực hiện linh hoạt các phương pháp như:

    + Phương pháp trực quan

    + Phương pháp hỏi đáp

    + Phương pháp giảng giải ( giải nghĩa từ )

    + Phương pháp luyện tập thực hành

    + Phương pháp kỉ luật tích cực.

    + Phương pháp trò chơi

    Trong phương pháp dạy học toán lớp 1, giáo viên phải sử dụng linh hoạt đúng lúc, đúng chỗ các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Việc sử dụng các phương pháp, các hình thức dạy học cần theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, tăng cường tập luyện thực hành để phát triển các kĩ năng tính toán, nhằm nhanh chóng đạt được yêu cầu cộng trừ trong phạm vi 10 và cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100.

    Bám sát 5 yêu cầu của giáo viên:

    1. Giáo viên giao nhiệm vụ phải rõ ràng, ngắn ngọn

    2. Làm mẫu phải rõ ràng, chính xác, dứt khoát.

    3. Chú ý đến tính đồng loạt, tính cá thể của học sinh

    4. Nói ít

    5. Không chê, khuyến khích học sinh tích cực làm việc

    Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập thực hành luyện tập cũng có thể linh hoạt dưới nhiều hình thức: Cá nhân – nhóm – lớp…

    Vì hình thức dạy học này có sự kết hợp tính tập thể và tính cá nhân mà trong đó học sinh trong nhóm được sự chỉ đạo của nhóm trưởng, trao đổi những hiểu biết về kiến thức với nhau, giúp học sinh hợp tác với nhau, cùng tìm tòi phát hiện, trình bầy chiếm lĩnh chi thức. Các thành viên trong nhóm không chỉ quan tâm đến việc học tập của mình mà còn quan tâm đến việc học tập của các bạn khác trong nhóm ( Nhóm 2, nhóm 4, nhóm 6…).

    3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng trực quan.

    Giáo viên thường sử dụng các dụng cụ học tập trực quan, nhiều màu sắc hấp dẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh bởi thời gian chú ý có chủ định chỉ kéo dài 15- 20 phút. Như vậy, cách sử dụng trực quan như trên rất có lợi cho việc HS tập trung chú ý kéo dài và cao độ.

    – Học sinh được học tập qua ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình ảnh được trình chiếu một cách sinh động tạo sự hứng thú cho các em tập trung hơn. Tuy nhiên giáo viên không nên lạm dụng.

    Giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức.

    Đặc biệt là đồ dùng trực quan đã đem lại hứng thú cho học sinh. Đòi hỏi các em phải tư duy, sử lý nhanh các tình huống, tự tìm tòi khám phá kiến thức qua trực quan. Kết quả học sinh ghi nhớ được kiến thức sâu, các em chóng thuộc bài. Lớp học thoải mái, vui vẻ, giờ học đạt hiệu quả cao. Học sinh ham thích học toán.

    3.4 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt hơn.

    – Tổ chức nhiều trò chơi học tập như: rung chuông vàng, hái hoa học tập, trò chơi Bin-gô… nhằm bổ sung kiến thức, tạo sự tự tin, nhanh nhẹn, kỹ năng điều hành hoạt động nhóm …

    3.5

    Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ 30 – 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Tinh nhạy và sức bền vững, tinh khéo léo của các thao tác của đôi bàn tay để tập viết được phát triển nhanh. Tất cả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những thử thách đó thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội đặc biệt là giáo viên dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.

    Phạm Thị Hằng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Luyện Tập Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Skkn: Một Số Biện Pháp Dạy Từ Vựng Tiếng Anh Ở Tiểu Học
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 12 Nắm Vững Trọng Âm Từ Trong Tiếng Anh
  • Biện Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm Là Gì ? Khái Niệm Về Biện Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm ?
  • Phòng Ngừa Chuẩn Là Gì? Các Biện Pháp Phòng Ngừa Chuẩn Là Gì?
  • Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Sinh Lớp 10 Môn Toán

    --- Bài mới hơn ---

  • “một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thi Vào Lớp 10 Thpt”.
  • Nhiều Biện Pháp Nâng Chất Lượng Tăng Gia
  • Tăng Gia Sản Xuất Hướng Vào Nâng Cao Chất Lượng Đời Sống Bộ Đội
  • Đẩy Mạnh Tăng Gia Sản Xuất, Nâng Cao Chất Lượng Nuôi Dưỡng Bộ Đội
  • Đại Đội Kho Tăng Gia Sản Xuất, Nâng Cao Đời Sống Chiến Sĩ
  • Theo thầy Tùng, trước khi lên lớp HS đọc bài mới sẽ được thầy cô giảng để biết một số khái niệm, định nghĩa, biết được phần nào những kiến thức khó hiểu để chú ý hoặc chủ động đề nghị thầy cô giảng chậm, kỹ hơn. Đọc lại và thực hiện ngay các bài tập đơn giản. Khi học một kiến thức mới, HS cần có ký hiệu bằng mực khác màu hoặc kẽ đóng khung để dễ nhớ những phần quan trọng.

    HS cần chuẩn bị những đồ dùng cần thiết trước khi đến lớp; trong quá trình học cần ghi chép đúng lúc. Thời gian ở nhà các em xem lại kiến thức trọng tâm vừa học; làm ngay các bài tập thầy cô đã dặn; hệthống lại các bài tập; làm các bài tập mang tính tổng hợp kiến thức của toàn chương. Các em cần chú ý chủ động trong việc giữ gìn sức khỏe, chủ động làm nhiều dạng toán, ghi chép những điều quan trọng vào sổ tay…

    Toán là môn học cần có tính tư duy cao, tính kiên trì, nhẫn nại nên một số em rất sợ môn học này. Nếu không có phương pháp học tốt, các em dễ mất căn bản và sẽ vuột mất cơ hội vào lớp 10 công lập.

    Trong các kỳ tuyển sinh vào lớp 10, trường THCS Nguyễn Thị Minh Khai (TP.TDM) có chất lượng đầu vào ở môn toán cao so với các trường khác. Cô Trần Thị Kim Anh đưa ra nhận xét, tình trạng HS học yếu môn toán ở cấp THCS đang là thực tế đáng lo ngại và là nỗi băn khoăn, trăn trở của nhiều giáo viên dạy toán.

    Có nhiều nguyên nhân làm cho các em học yếu môn toán, nhưng nguyên nhân chính là HS chưa có phương pháp học đúng đắn, có nhiều lỗ hổng về kiến thức, kỹ năng, không xác định được động cơ học tập, dẫn đến chất lượng học tập còn yếu.

    Để khắc phục phần nào tình trạng này, trường đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp thực hiện để cải thiện tình trạng HS yếu kém, trường vừa tổ chức dạy ôn tập, vừa dạy phụ đạo cho HS lớp 9. Với cô Kim Anh, cần tạo sự gần gũi với HS ngay từ đầu năm học.

    Trong quá trình giảng dạy cô có thái độ nhẹ nhàng, khéo léo, xử lý tốt các tình huống sư phạm, để những HS yếu không mặc cảm với bạn bè. Cô cũng công tâm với tất cả HS; giúp đỡ HS rèn luyện kỹ năng, thái độ và phương pháp học tập phù hợp. Cô còn xây dựng cho HS cách học tự giác, giúp các em thấy lợi ích của việc đi học phụ đạo.

    Các thầy cô trong tổ nghiệp vụ toán THCS của Sở Giáo dục – Đào tạo cũng đã phân tích những lỗi HS thường mắc phải trong bài thi tuyển sinh lớp 10. Những lỗi cơ bản HS thường mắc là ghi đề sai; đọc đề không kỹ, dẫn đến nhầm số, đảo số, thiếu dấu; đặt dấu sai trong biểu thức khi tính; khi viết phân số không có dấu gạch ngang; phần làm sai khi làm lại HS không gạch bỏ; một bài toán làm 2 cách trong bài thi…

    Thầy Đặng Minh Khâm, Tổ trưởng tổ nghiệp vụ toán THCS thì lưu ý, trong giảng dạy giáo viên cần chuẩn mực, chính xác khi dùng ký hiệu toán học.

    Nghiêm khắc, không bỏ qua các lỗi sai của HS trong quá trình chấm bài trả tại lớp; phải sửa sai rút kinh nghiệm cho HS qua bài làm của các em, tránh bỏ qua hoặc làm sơ sài khi trả bài kiểm tra; thường xuyên đóng góp cho đồng nghiệp khi dự giờthao giảng về khâu trình bày bài giải hoặc sử dụng ký hiệu không đúng.

    H.THÁI

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Tuyển Sinh Lớp 10
  • Chiêm Hóa Triển Khai Thực Hiện Nâng Cao Chất Lượng Chi Hội Nông Dân
  • Nâng Cao Chất Lượng Tổ Chức Hội Nông Dân
  • Củng Cố Tổ Chức Hội Và Nâng Cao Chất Lượng Hội Viên
  • Hội Nông Dân Tỉnh Bắc Giang
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Môn Toán 7

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Lớp 5
  • Tham Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Toán Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Toán Lớp 5
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Chủ Nhiệm Ở Trường Thcs
  • Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Biển Nha Trang Hiện Nay
  • Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học môn toán 7

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    1) Lý do chọn đề tài:

    Năm học 2009- 2010 với quyết tâm thực hiện yêu cầu đổi mới nội dung phương

    pháp dạy và học của thầy và trò. Đảm bảo hướng dẫn và tích cực hoá hoạt động dạy và

    học, tạo sự chuyển biến thực sự về việc truyền đạt kiến thức và kĩ năng của chương

    trình học. Bản thân tôi luôn trăn trở làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học môn

    Toán và làm cho các em yêu thích môn học này. Đó là lý do để tôi chọn đề tài khoa học

    này.

    B. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

    I. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH:

    Trong những năm gần đây, tình hình học sinh học yếu môn Toán chiếm tỉ lệ khá

    cao. Các em cảm thấy chán nản khi học môn học này bởi nhiều lý do khác nhau. Đây

    là vấn đề mà hầu như các giáo viên giảng dạy bộ môn Toán đều quan tâm và trăn trở

    làm thế nào để chất lượng môn Toán được nâng lên và làm thế nào để các em yêu

    thích môn học này.

    Chúng ta đã biết môn Toán là một môn khoa học tự nhiên, để học tốt bộ môn này

    đòi hỏi các em không những chăm học mà cần phải biết tư duy sáng tạo. Do xã là

    một vùng có nền kinh tế tương đối khó khăn, cha mẹ các em chủ yếu làm nghề nông

    nên chưa có sự quan tâm, giúp đỡ các em trong việc học. Bên cạnh đó các em ngoài

    việc học trên lớp thì về nhà các em phải phụ giúp gia đình trong công việc nhà như

    làm mộc, khảmø . . . vốn thời gian học của các em đã ít nay càng ít hơn. Nhưng khi

    các em đầu tư cho việc học của mình thì nguồn tài liệu giúp các em trong công việc

    học tập cũng còn nhiều hạn hẹp. Thầy cô, bạn bè ở xa nên có những vấn đề khó khăn

    trong việc học, những vấn đề các em chưa hiểu, chưa rõ các em lại càng không biết

    hỏi ai. Vốn đã học yếu nay lại càng học yếu hơn. Thực tế năm học chất lượng môn

    Toán ở khối 7 cụ thể như sau:

    II. TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN:

    1. Tồn tại:

    – Học sinh đến lớp ít thuộc bài cũ và làm bài tập về nhà.

    – Trong giờ học trên lớp học sinh còn thụ động, ít tham gia các hoạt động lĩnh hội

    kiến thức.

    – Chất lượng môn Toán 7 của học sinh ở những năm học trước chưa cao, dẫn đến các

    môn học khác cũng có chất lượng thấp.

    – Đạo đức của học sinh ngày càng đi xuống, đặc biệt là trong thời gian gần đây. Vì

    vậy rèn luyện hạnh kiểm cho học sinh, dạy kiến thức nói chung và kiến thức toán học

    nói riêng là hai vấn đề có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình giáo dục đào

    tạo.

    Giải một bài toán, tiếp thu một kiến thức mới tức là học sinh đã trải qua các thao tác

    tư duy: phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, cụ thể hóa. Do đó trong quá trình học toán

    học sinh luôn luôn phải suy nghĩ để hành động tìm ra giải pháp nhằm giải quyết những

    vấn đề chiếm lĩnh kiến thức mới. Quá trình đó đã rèn luyện khả năng phát triển tư duy

    trí tuệ ở học sinh. Phải nói môn Toán là môn học đòi hỏi học sinh phải hoạt động, chịu

    khó suy nghĩ nhiều. Từ đó góp phần phát triển tư duy rất mạnh so với các môn học

    khác.

    Phần nhiều học sinh học tốt môn Toán thì học tốt các môn học khác. Bởi lẽ các em

    đã có những khả năng tư duy toán học thì cũng có thể đủ khả năng để hiểu các vấn đề

    khác. Qua môn Toán đã rèn lại cho các em những đức tính: Chịu khó, cẩn thận, tỉ mỉ,

    thận trọng, chính xác, suy luận chặt chẽ … có phương pháp làm việc khoa học, sắp xếp

    thứ tự hợp lý trước sau để giải quyết vấn đề. Đó là đặc trưng nổi bật của môn Toán

    trong nhà trường phổ thông.

    2. Rèn luyện hạnh kiểm cho học sinh, dạy kiến thức nói chung và kiến thức toán

    học nói riêng là hai vấn đề có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình

    giáo dục đào tạo :

    Việc rèn luyện hạnh kiểm cho học sinh trong nhà trường cũng là một mặt quan

    trọng trong công tác giáo dục đào tạo, nó đi song đôi với việc dạy kiến thức cho học

    sinh. Hai mặt này có tác động qua lại, quan hệ với nhau trong quá trình học tập.

    Một học sinh có hạnh kiểm tốt tức là biết vâng lời thầy cô giáo, chăm chỉ học tập,

    biết học hỏi giúp đỡ bạn bè … Đó cũng là một trong những yếu tố cần thiết để giúp

    học sinh học tập tốt. Trái lại, một học sinh ít chịu nghe lời thầy cô giáo, không chăm chỉ

    trong học tập, không học hỏi ở bạn bè, trong lớp thường gây ồn ào mất trật tự sẽ ảnh

    hưởng xấu đến quá trình học tập tiến bộ của các em. Vì vậy hạnh kiểm cũng là một

    trong những điều kiện quan trọng để thúc đẩy quá trình học tập cho học sinh. Đó cũng

    2

    Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học môn toán 7

    là một tác động mạnh mẽ để học sinh học tập tiến bộ, nắm kiến thức vững chắc. Đặc

    biệt, môn Toán cần có sự cố gắng liên tục từ đầu đến cuối để có nền tảng vững vàng học

    tập tốt các lớp sau này.

    Một học sinh đã học tốt những môn học nói chung và môn toán nói riêng, tức là học

    sinh đó đã nắm được các kiến thức tương đối chắc từ đó gây cho học sinh hứng thú

    trong học tập. Từ đó học sinh có thể tự nhận thức, nhận biết đượcviệc học là cần thiết,

    đôi khi trở thành nhu cầu tìm tòi, học hỏi. Đó cũng là một yếu tố tích cực để rèn luyện

    cho học sinh có hạnh kiểm tốt: Siêng năng, chăm chỉ, chịu khó và nghe lời thầy cô giáo.

    Từ các ý trên ta thấy việc dạy cho học sinh nắm vững chắc kiến thức toán học cũng

    là một trong những điều kiện quan trọng để rèn luyện hạnh kiểm học sinh trong nhà

    trường. Làm sao trong quá trình dạy học chúng ta không để cho học sinh có chiều

    hướng bị tụt hậu về kiến thức vì như vậy thường kéo theo tụt hậu về hạnh kiểm. Chúng

    ta, với tinh thần trách nhiệm của mình cố gắng giúp học sinh có chiều hướng phát triển

    liên tục, vững chắc. Từng bước trong quá trình dạy học cũng là đã rèn luyện hạnh kiểm

    đi song song trong quá trình học tập của từng đối tượng học sinh. Có như vậy mới đảm

    bảo tính giáo dục toàn diện trong nhà trường, đặc biệt là lứa tuổi học sinh THCS hình

    thành nhân cách các em vào giai đoạn ban đầu.

    3.Kế hoạch dạy ở lớp:

    Vấn đề dạy một tiết Toán đạt tốt, học sinh nắm vững kiến thức của một tiết học thì

    việc đầu tư vào một giáo án là không thể thiếu được trong quá trình dạy học. Do đặc

    điểm của môn Toán là một môn học rất gần gũi với thực tế đời sống nên người giáo

    viên phải linh hoạt, sáng tạo trong từng tiết dạy của mình để làm nổi rõ sự kết hợp, gắn

    bó của Toán học với cuộc sống hàng ngày. Ngôn ngữ phải dễ hiểu để học sinh dễ nhìn

    nhận, chiếm lĩnh tri thức mới. Với phương pháp dạy học mới hiện nay, chúng ta cần

    thiết kế một hệ thống câu hỏi logic, gợi mở từ câu đầu tiên đến câu cuối cùng để học

    sinh tự tìm kiếm ra kiến thức mới. Từ đó kiến thức mới sẽ được học sinh khắc sâu , nhớ

    lâu và sẽ gây hứng thú trong học tập.

    Dạy môn toán cần dạy cho học sinh nắm chắc các khái niệm, các qui ước, các ký

    hiệu, các tính chất … Nó là mấu chốt để học sinh khỏi mơ hồ, lẫn lộn giữa cái này

    với cái khác, có suy nghĩ lệch lạc, quan niệm tách rời xa với thực tế đời sống. Chẳng

    hạn, dạy về chu vi một hình, học sinh phải biết chu vi một hình là gì ? Tại sao hình

    vuông lại lấy (cạnh x 4) còn chu vi hình chữ nhật lại tính (dài + rộng )x2… Các vấn đề

    đó rất gần gũi với đời sống, nếu chúng ta không để ý tới thì đôi khi học sinh chỉ thực

    hành một cách máy móc, rập khuôn các công thức do vậy mau quên, kiến thức Toán

    học không được sâu sắc.

    Khi dạy Toán cần có đồ dùng dạy học trực quan, nếu có điều kiện cần phát huy mặt

    này. Chẳng hạn khi dạy bài ” Tính chất ba đường trung tuyến của tam giác ” từng học

    sinh phải có thước thẳng để học sinh nắm chắc cách đo, kích thước của mỗi đơn vị độ

    dài, một tam giác bằng giấy, mảnh giấy kẻ ô vuông; giáo viên cũng cần chuẩn bị các

    dụng cụ như: Thước thẳng, tam giác, giấy kẻ ô vuông… Khi dạy tiết thực hành ngoài

    trời xác định khoảng cách giữa hai địa điểm A và B trong đó có một địa điểm nhìn thấy

    nhưng không đến được, giáo viên phải chuẩn bị giác kế để học sinh biết giác kế là gì ?

    Đặt giác kế tại điểm A vạch theo đường xy vuông góc với AB tại A, ta phải đặt giác kế

    ra sao, dùng thước dây xác định E là trung điểm của AD trên mặt đất như thế nào ?…

    3

    Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học môn toán 7

    Để tạo tình huống gây trí tò mò cho học sinh khi dạy chứng minh định lí ” Tổng các

    góc trong một tam giác bằng 180

    0

    “, giáo viên phải chuẩn bị thước đo góc và bảng phụ

    có vẽ sẵn các tam giác có nhiều hình dạng khác nhau. Vào đầu tiết học giáo viên cho lần

    lượt một số học sinh lên đo các góc của tam giác. Gợi ý cho các em phát hiện một điều

    thú vị là ” Tổng các góc trong một tam giác bằng 180

    0

    “. Lúc này đặt vấn đề cần thiết

    chứng minh điều thú vị đó.

    Vì vậy đầu tư vào việc chuẩn bị đồ dùng trực quan cho một tiết dạy là hết sức cần

    thiết để học sinh hiểu được kiến thức một cách sâu sắc, sát với thực tế, hiểu được các

    kiến thức đó có được do đâu ? Dựa trên cơ sở nào ?… Còn rất nhiều các vấn đề khác

    nếu được đầu tư chu đáo sẽ tạo nên một tiết học hấp dẫn, dễ học và gây hứng thú cho

    học sinh trong học tập.

    Một vấn đề cần thiết nữa đặt ra là khi dạy một tiết học người giáo viên phải nắm bắt

    kịp thời số học sinh hiểu bài và chưa kịp hiểu bài. Từ đó có biện pháp giúp đỡ số học

    sinh chưa kịp hiểu bài. Sau mỗi tiết học đều phải có phần củng cố và luyện tập; bằng

    những câu hỏi trọng tâm, cơ bản tiết học người giáo viên phải quan sát từng đối tượng

    học sinh; chú ý đến học sinh yếu, cá biệt để nắm bắt tình hình tiếp nhận kiến thức trong

    nội dung bài học; bài luyện tập tại lớp cần được nâng dần từ dễ đến khó, từ những bài

    toán rất đơn giản đến phức tạp. Ngoài ra người giáo viên phải tính đến việc kiểm tra

    một lúc được nhiều học sinh; nhất là yêu cầu tối thiểu những nội dung cần đạt được.

    Chẳng

    hạn khi dạy bài ” Luỹ thừa của một số hữu tỉ” giáo viên phải đưa ra một số bài tập nâng

    cao dần như sau:

    Thực hiện các phép tính sau:

    a) 2

    3

    b) (- 5)

    3

    µ µ

    0 0

    80 ; 45A B

    = =

    Với bài tập này học sinh vận dụng trực tiếp định lí 1 và định lí 2 để giải:

    Bài tập 1:

    Áp dụng định lí 1, ta có:

    Trong

    :ABC AB BC AC

    ∆ < <

    hay 2cm < 4cm < 5cm

    AC < AB < BC

    Qua bài tập này giáo viên rút ra nhận xét cho học sinh thấy: Trong một tam giác

    nếu biết độ dài ba cạnh của tam giác thì ta có thể so sánh ba góc của tam giác đó và nếu

    biết số đo hai góc của một tam giác thì ta có thể so sánh ba cạnh của tam giác đó.

    Sau khi học sinh nắm được bài tập này, giáo viên cho một bài tập nâng cao hơn như

    sau:

    Ba bạn Hạnh, Nguyên, Trang đi đến trường theo ba con đường AD, BD, CD

    ( hình vẽ sau). Biết rằng ba điểm A, B, C cùng nằm trên một đường thẳng và

    ·

    ACD

    là góc tù. Hỏi ai đi xa nhất, ai đi gần nhất ? Hãy giải thích ?5

    C

    B

    A

    Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học môn toán 7

    Để giúp đỡ nhau trong học tập, học sinh khá giúp học sinh yếu, giáo viên có thể tạo

    ra các cặp học tập khá yếu. Trong những lúc rãnh rỗi, trong những giờ giải lao, kể cả ở

    nhà chỗ nào chưa hiểu bạn yếu có thể hỏi bạn khá. Khi đã tổ chức làm thì phải có những

    hình thức tuyên dương điển hình, khuyến khích thi đua với nhau, có kiểm tra việc tiến

    bộ của học sinh yếu với mục đích các em đều học được môn Toán và có phong trào học

    tập sôi nổi.

    Tóm lại trong quá trình dạy học sự nhiệt tình, chịu khó, tinh thần trách nhiệm của

    người giáo viên là đều không thể thiếu được để dạy nâng cao chất lượng học tập cho

    học sinh. Nhưng đó cũng chỉ là một mặt, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để học sinh đạt

    chất lượng cao. Phải có sự kết hợp, vận dụng sáng tạo trong phương pháp dạy học nhất

    là phương pháp dạy học mới hiện nay. Người giáo viên cần chú ý trong từng trường

    hợp, từng đối tượng học sinh để học sinh tự lực của mình có điều kiện phát triển khả

    năng tư duy, chiếm lĩnh kiến thức.

    4.Kế hoạch ra bài tập về nhà:

    Môn Toán là môn học rất cần đến việc thực hành, luôn luôn phải có sự kết hợp với

    nhau giữa lý thuyết và thực hành. Qua thực hành mới củng cố được lý thuyết, khắc sâu

    kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán và phát triển tư duy. Ở phạm vi SGK sau mỗi bài

    học đều có một lượng bài tập để học sinh thực hành, luyện tập nhưng đôi khi còn ít, hệ

    thống bài tập chưa đủ cho học sinh yếu tập làm quen từ những bài tập rất dễ để từng

    bước nâng dần giải những bài tập khó hơn. Do đó trong từng tiết dạy người giáo viên có

    thể ra thêm bài tập tùy tình hình lớp học để học sinh có điều kiện tiếp xúc với khâu thực

    hành và nội dung bài tập phong phú hơn.

    Những số tiết cơ bản trong chương trình rất cần thiết. Vì vậy vấn đề luyện tập thật

    nhiều để học sinh nhớ lâu, củng cố lý thuyết được bền vững là rất cần thiết.

    Nếu khâu thực hành làm ít thì rõ ràng kiến thức chóng quên hơn, lí thuyết không

    được khắc sâu đậm nét. Chẳng hạn khi dạy cộng, trừ, nhân, chia số hữu tỉ ở học sinh

    lớp 7, cần có lượng bài tập thật nhiều để qua bài tập học sinh mới được khắc sâu kiến

    thức. Khi dạy học sinh mới giải toán hình, nếu học sinh ít giải bài tập, ngại thực hành

    8

    Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học môn toán 7

    báo về gia đình kịp thời những sai sót, … của học sinh cho gia đình biết. Từ đó gia

    đình cho biết ý kiến, giáo viên mới dò theo ý đó mà xử lý phù hợp

    Tất cả những kế hoạch phối hợp nêu trên giúp chúng ta giáo dục các em một cách toàn

    diện. Phải có mối liên kết với nhau giữa tất cả các giáo viên bộ môn, giáo viên chủ

    nhiệm và gia đình đó là phương pháp đánh bao vây vào một mục tiêu, chỉ có con đường

    bị tê liệt và hòa vào quỹ đạo. Buộc các em phải cố gắng vươn lên trong học tập bên

    cạnh đó có sự giúp đỡ của bạn bè, của thầy cô giáo, việc học trở thành rất cần thiết cho

    các em mang lại nhiều điều thú vị và bổ ích.

    IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

    – Sau khi áp dụng chuyên đề này thì kết quả học kì I môn Toán khối 7 năm học

    2009 – 2010 đạt kết quả như sau:

    Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém

    C. KẾT LUẬN

    Trong tình hình chất lượng học sinh hiện nay tất cả các môn nói chung và môn Toán

    nói riêng, học sinh yếu kém càng ngày càng nở ra, học sinh khá giỏi càng ngay bị co lại.

    Là người giáo viên đứng trước tình hình đó phải trăn trở suy nghĩ tìm nguyên nhân

    chính, cơ bản dẫn đến kết quả nêu trên, để có biện pháp thích đáng, hữu hiệu, tìm ra

    giải pháp tối ưu nhất để nâng dần chất lượng, đảm bảo yêu cầu của cấp trên.

    Theo tôi nghĩ việc nâng cao chất lượng dạy học không thể chỉ xét đến một mặt nào

    đó mà phải nhìn trên quan điểm toàn cục, đồng bộ trên mọi mặt. Về phía giáo viên phải

    có sự nhiệt tình, phải có năng lực, phải có đầu tư cao cho từng tiết dạy. Về phía học

    sinh đã đi vào quỹ đạo nội quy, trật tự, kỉ cương của lớp học, của nhà trường hay

    chưa ? Một điều cần thiết trước tiên để dạy đạt chất lượng là phải xây dựng một tập thể

    lớp có tổ chức, có kỉ cương, tất cả các thành viên đều hoạt động theo quỹ đạo đó. Nếu

    một phần tử nào đó chưa hòa mình vào quỹ đạo kịp cũng buộc đầu quay theo quỹ đạo

    để trở thành một lớp học có nề nếp, im lặng, trật tự. Giáo viên vào lớp tự nhiên thấy

    hứng thú, hưng phấn, say mê trong công tác dạy học của mình.

    Trong thời gian tới bản thân sẽ cố gắng thực hiện đầy đủ, nhiều hơn nữa những gì đã

    trăn trở trước tình hình chất lượng môn Toán hiện nay. Làm sao các em đều học được

    môn Toán, môn Toán trở thành một môn học rất gần gũi với các em. Các em không

    ngại giải bài tập, xem đó là khâu thực hành cần thiết để giúp các em phát triển tư duy,

    trí tuệ, tính chịu khó, cần cù, làm đến nơi đến chốn không bỏ dở giữa chừng. Tính suy

    luận logic, chính xác, chặt chẽ là cơ hội để rèn luyện bản thân, rèn luyện nhân cách của

    con người bước vào tương lai đầy niềm tin và hy vọng. 9

    Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học môn toán 710

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 9
  • Giải Pháp Cho Bãi Đỗ Xe Thông Minh
  • Nhà Thông Minh Tại Đà Nẵng
  • Smart Home Đà Nẵng #1 Giải Pháp Nhà Thông Minh Tại Đà Nẵng
  • Những Xu Hướng Phát Triển Của Nhà Thông Minh Ở Việt Nam
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nề Nếp Thông Qua Hoạt Động Của Đội Cờ Đỏ
  • Chuyên Đề Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Lớp Vnen
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Hoc Sinh Thcs
  • Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lịch Sử
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Vật Lí 7 Ở Vùng Đặc Biệt Khó Khăn.
  • trong quá trình dạy học .Do đặc điểm của môn Toán là một môn học rất gần gũi với thực tế đời sống nên người giáo viên phải linh hoạt , sáng tạo trong từng tiết dạy của mình để làm nổi rõ sự kết hợp , gắn bó của Toán học với cuộc sống hàng ngày . Ngôn ngữ phải dễ hiểu để học sinh dễ nhìn nhận , chiếm lĩnh tri thức mới . Với phương pháp dạy học mới hiện nay, chúng ta cần thiết kế một hệ thống câu hỏi logic , gợi mở từ câu đầu tiên đến câu cuối cùng để học sinh tự tìm kiếm ra kiến thức mới . Từ đó kiến thức mới sẽ được học sinh khắc sâu , nhớ lâu và sẽ gây hứng thú trong học tập . *Dạy môn toán cần dạy cho học sinh nắm chắc các khái niệm , các qui ước, các ký hiệu , các tính chất Nó là mấu chốt để học sinh khỏi mơ hồ , lẫn lộn giữa cái này với cái khác , có suy nghĩ lệch lạc, quan niệm tách rời xa với thực tế đời sống.Chẳng hạn , dạy về chu vi một hình , học sinh phải biết chu vi một hình là gì ? Tại sao hình vuông lại lấy (cạnh x 4) còn chu vi hình chữ nhật lại tính (dài + rộng )x2 Các vấn đề đó rất gần gũi với đời sống , nếu chúng ta không để ý tới thì đôi khi học sinh chỉ thực hành một cách máy móc , rập khuôn các công thức do vậy mau quên , kiến thức Toán học không được sâu sắc. *Khi dạy Toán cần có đồ dùng dạy học trực quan , nếu có điều kiện cần phát huy mặt này . Chẳng hạn khi dạy bài " Đo đoạn thẳng trên tia " từng học sinh phải có thước đo để học sinh nắm chắc cách đo , kích thước của mỗi đơn vị độ dài ; giáo viên cũng cần chuẩn bị các dụng cụ đo : thước thẳng, thước dây Khi dạy tiết thực hành ngoài trời đo chiều cao của vật , giáo viên phải chuẩn bị giác kế để học sinh biết giác kế là gì ? Cách xác định góc bằng giác kế ra sao , dùng thước dây xác định khoảng cách giữa hai điểm trên mặt đất như thế nào ? Để tạo tình huống gây trí tò mò cho học sinh khi dạy chứng minh định lí " Tổng các góc trong một tam giác bằng 1800" , giáo viên phải chuẩn bị thước đo góc và bảng phụ có vẽ sẵn các tam giác có nhiều hình dạng khác nhau .Vào đầu tiết học giáo viên cho lần lượt một số học sinh lên đo các góc của tam giác . Gợi ý cho các em phát hiện một điều thú vị là " Tổng các góc trong một tam giác bằng 1800 " . Lúc này đặt vấn đề cần thiết chứng minh điều thú vị đó . Vì vậy đầu tư vào việc chuẩn bị đồ dùng trực quan cho một tiết dạy là hết sức cần thiết để học sinh hiểu được kiến thức một cách sâu sắc , sát với thực tế , hiểu được các kiến thức đó có được do đâu ? Dựa trên cơ sở nào ? Còn rất nhiều các vấn đề khác nếu được đầu tư chu đáo sẽ tạo nên một tiết học hấp dẫn , dễ học và gây hứng thú cho học sinh trong học tập. Một vấn đề cần thiết nữa đặt ra là khi dạy một tiết học người giáo viên phải nắm bắt kịp thời số học sinh hiểu bài và chưa kịp hiểu bài . Từ đó có biện pháp giúp đỡ số học sinh chưa kịp hiểu bài . Sau mỗi tiết học đều phải có phần củng cố và luyện tập ; bằng những câu hỏi trọng tâm , cơ bản tiết học người giáo viên phải quan sát từng đối tượng học sinh ; chú ý đến học sinh yếu , cá biệt để nắm bắt tình hình tiếp nhận kiến thức trong nội dung bài học ; bài luyện tập tại lớp cần được nâng dần từ dễ đến khó , từ những bài toán rất đơn giản đến phức tạp . Ngoài ra người giáo viên phải tính đến việc kiểm tra một lúc được nhiều học sinh ; nhất là yêu cầu tối thiểu những nội dung cần đạt được . Chẳng hạn khi dạy bài " Giải phương trình bậc nhất một ẩn" giáo viên phải đưa ra một số bài tập nâng cao dần như sau: v.v. Các bài tập a,b,c,d dành cho học sinh yếu và kiểm tra một lúc đồng thời 4 học sinh lên bảng . Là các bài tập yêu cầu tối thiểu sau một tiết dạy học sinh phải tự làm được. Khi giảng bài "Định lí Talet trong tam giác" , kiến thức học sinh cần nắm được trong tiết học này là nội dung định lí Talet , định lí đảo của định lí Talet và hệ quả . Nội dung định lí Talet được phát biểu như sau: "Nếu một đường thẳng cắt hai cạnh của một tam giác và song song với cạnh còn lại thì nó định ra trên hai cạnh đó những đoạn thẳng tỉ lệ" . Để giúp học sinh nắm được định lí , cách vận dụng định lí để giải bài tập , yêu cầu tối thiểu để học sinh đạt được , giáo viên ra một bài tập : Cho tam giác ABC,một đường thẳng song song với BC và cắt hai cạnh AB & AC lần lượt tại B' & C'. Biết AB'=5cm , BB'=4cm , CC'=6cm . Tính AC'? Với bài tập này học sinh vận dụng trực tiếp định lí Talet để giải Theo định lí Talet ta có : hay = Qua bài tập này giáo viên rút ra nhận xét cho học sinh thấy : Trong 4 đoạn thẳng AB',BB', AC',CC' nếu biết được số đo 3 đoạn thẳng ta sẽ tính được số đo đoạn thẳng còn lại . Sau khi học sinh nắm được bài tập này , giáo viên cho một bài tập nâng cao hơn như sau: Cho hình thang ABCD có AB//CD ; AB=BC=3cm ; AD=2cm ; CD=5cm. Các cạnh bên AD & BC cắt nhau tại E . Tính AE , BE ? Để giúp đỡ nhau trong học tập , học sinh khá giúp học sinh yếu , giáo viên có thể tạo ra các cặp học tập khá yếu . Trong những lúc rãnh rỗi , trong những giờ giải lao , kể cả ở nhà chỗ nào chưa hiểu bạn yếu có thể hỏi bạn khá . Khi đã tổ chức làm thì phải có những hình thức tuyên dương điển hình , khuyến khích thi đua với nhau , có kiểm tra việc tiến bộ của học sinh yếu với mục đích các em đều học được môn Toán và có phong trào học tập sôi nổi.Trong sách bồi dưỡng môn Toán cấp tiểu học cho giáo viên có viết : "Số học là hạt nhân của chương trình toán" . Vì vậy người giáo viên cần dạy học sinh nắm vững chắc về cấu trúc của số học và các phép tính trên tập N,tập Z , tập Q. Do đó chương trình Toán lớp 6 là nền tảng để có cơ sở học các nội dung khác .Trong chương trình có những chỗ căn bản , trọng tâm nên giáo viên phải thường xuyên ôn luyện và ra bài tập thật nhiều để học sinh thực hành để kiến thức mới được khắc sâu và lâu quên. Giáo viên cũng cần hướng dẫn học sinh cách ôn tập chương , cách liệt kê các công thức toán để tóm tắt và chốt lại những điểm trọng tâm vận dụng vào giải bài tập . Tóm lại trong quá trình dạy học sự nhiệt tình , chịu khó ,tinh thần trách nhiệm của người giáo viên là đều không thể thiếu được để dạy nâng cao chất lượng học tập cho học sinh . Nhưng đó cũng chỉ là một mặt , là điều kiện cần nhưng chưa đủ để học sinh đạt chất lượng cao . Phải có sự kết hợp ,vận dụng sáng tạo trong phương pháp dạy học nhất là phương pháp dạy học mới hiện nay . Người giáo viên cần chú ý trong từng trường hợp ,từng đối tượng học sinh để học sinh tự lực của mình để có điều kiện phát triển khả năng tư duy , chiếm lĩnh kiến thức ,rèn luyện kỹ năng kỹ xảo trong việc giải toán . 2.3.2.Phương pháp ra bài tập về nhà : Môn Toán là môn học rất cần đến việc thực hành, luôn luôn phải có sự kết hợp với nhau giữa lý thuyết và thực hành . Qua thực hành mới củng cố được lý thuyết , khắc sâu kiến thức , rèn luyện kỹ năng tính toán và phát triển tư duy . Ở phạm vi SGK sau mỗi bài học đều có một lượng bài tập để học sinh thực hành , luyện tập nhưng đôi khi còn ít ,hệ thống bài tập chưa đủ cho học sinh yếu tập làm quen từ những bài tập rất dễ để từng bước nâng dần giải những bài tập khó hơn .Do đó trong từng tiết dạy người giáo viên có thể ra thêm bài tập tùy tình hình lớp học để học sinh có điều kiện tiếp xúc với khâu thực hành và nội dung bài tập phong phú hơn. Những số tiết cơ bản trong chương trình rất cần thiết .Vì vậy vấn đề luyện tập thật nhiều để học sinh nhớ lâu , củng cố lý thuyết được bền vững là rất cần thiết . Nếu khâu thực hành làm ít thì rõ ràng kiến thức chóng quên hơn , lí thuyết không được khắc sâu đậm nét . Chẳng hạn khi dạy quy tắc cộng, trừ , nhân, chia phân số ở học sinh lớp 6, cần có lượng bài tập thật nhiều để qua bài tập học sinh mới được khắc sâu quy tắc . Khi dạy học sinh mới giải toán hình , nếu học sinh ít giải bài tập , ngại thực hành thì chắc chắn các em không nhạy bén ,vận dụng lý thuyết ít được linh hoạt vào giải bài tập .Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến đợt kiểm tra , đợt thi , làm giảm sút chất lượng trầm trọng .Nói chung do đặc điểm của môn Toán là môn học không thể nói suông , nói và làm phải luôn đi song song với nhau.Vì vậy , cần thực hành để rèn luyện kỹ năng , khắc sâu kiến thức và phát triển tư duy. 2.3.3.Phương pháp kiểm tra bài tập về nhà : *Kiểm tra bài cũ, kiểm tra bài tập về nhà là việc rất cần thiết .Nếu chúng ta kiểm tra thường xuyên thì việc học bài cũ và làm bài tập ở nhà của các học sinh sẽ chu đáo hơn . Ngược lại , nếu bị xem nhẹ thì việc chuẩn bị bài tập ,học bài cũ sẽ hạn chế và chất lượng học tập giảm rõ rệt. *Ở lứa tuổi của các em nhất là đầu cấp học đôi khi nhận thức còn kém , học là để đối phó thầy cô giáo, học là để giáo viên kiểm tra bài mình đã làm ,đã thuộc. Chưa có sự hiểu biết phải tự giác học để hiểu , để bản thân mình được tiến bộ . Do vậy kiểm tra bài cũ thường xuyên là biện pháp để học sinh tự giác học bài và làm bài ở nhà trước khi đến lớp . Từ đó tạo nên không khí lớp học nghiêm túc , trật tự , mọi học sinh đều ở tư thế chuẩn bị giáo viên sẽ kiểm tra mình . *Thời gian kiểm tra bài cũ ở đầu các tiết học rất có giới hạn , không thể kiểm tra hết được.Vì vậy muốn nắm được việc làm bài tập ở nhà của học sinh một cách toàn diện người giáo viên phải nghĩ ra kế hoạch phân công các tổ trưởng chịu trách nhiệm kiểm tra từng thành viên trong tổ ở đầu buổi học .Đầu tiết học các tổ trưởng báo cáo tình hình chuẩn bị bài tập ở nhà của từng tổ viên . Học sinh nào chưa làm bài tập ở nhà sẽ có biện pháp xử phạt thích đáng . Trong trường hợp học sinh không làm bài tập ở nhà mà lên lớp mượn vở bạn chép cũng được báo lại và sẽ xử phạt nặng hơn. Giải pháp nữa là giáo viên cùng với các em bầu cán sự bộ môn Đại số và hình học để chính những em này sẽ là hạt nhân : Thứ nhất có thể giải bài tập khó cho các bạn (nêu em giải được ) ,chỉ đạo trong công tác kiểm tra việc làm bài của các bạn Thứ hai làm một cầu nối để thông tin lại về chất lượng giờ dạy của giáo viên (các em có hiểu bài không ,phương pháp truyền đạt của thầy ...) *Sau khi các tổ trưởng báo cáo lại xong giáo viên mới kiểm tra bài cũ . Nếu kiểm tra có gì không khớp với báo cáo của tổ trưởng thì sẽ có biện pháp xử phạt tổ trưởng vì chưa thực hiện đúng với sự phân công . Có như vậy trong từng tiết học mới sớm phát hiện được những học sinh lười học bài , lười làm bài tập giúp giáo viên sớm có biện pháp xử lý và tìm ra nguyên nhân cụ thể để sớm khắc phục. *Công tác đánh giá định kỳ (bài kiểm tra )nên ra 2 hoặc 3 đề trong một giờ kiểm tra giúp các em tính tự lực cánh sinh trong làm bài ,sau khi chấm trả bài giáo viên nên lập bảng tổng hợp điểm : Giỏi Khá Tbình Yếu Kém để theo dõi chất lượng qua các bài kiểm tra để từ đó có biện pháp nâng cao chất lượng Với kế hoạch kiểm tra bài tập ở nhà và đánh giá như trên , người giáo viên đã kiểm tra được toàn diện học sinh . Phải làm thường xuyên , liên tục mới thấy được kết quả nâng cao chất lượng rõ rệt tạo thành nếp thi đua học tập sôi nổi ở học sinh . Học sinh hứng thú học tập , giáo viên biết được các học sinh cá biệt của mình . Khi trở thành thói quen , giáo viên làm việc rất nhẹ nhàng nhưng đạt hiệu quả cao . Từ các báo cáo tổng quát đến cụ thể tình hình học tập của học sinh , giáo viên kịp thời nắm bắt được lỗ hổng của học sinh mà kịp thời sửa chữa. Tóm lại , những kế hoạch ở lớp , kế hoạch ra bài tập về nhà đến kế hoạch kiểm tra bài tập về nhà là những suy nghĩ tìm ra phương pháp làm việc của bản thân trong thời gian qua . Với những kế hoạch đó bản thân tôi đã làm nhiều năm và thấy chất lượng dạy học tăng rõ rệt. Nhưng dù sao thì tinh thần trách nhiệm , tính nhiệt tình trong công tác , hăng say trong nghề nghiệp là không thể thiếu được trong quá trình giảng dạy ,nó phải được xuất phát từ tâm của một nhà giáo . 2.3.4. Phương pháp phối hợp giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm , giáo viên bộ môn với gia đình ,xây dựng mối tương quan "Gia đình - nhà trường - xã hội " trong quá trình giáo dục học sinh Việc phối hợp giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm trong công tác dạy học cũng là điều cấn thiết . Giáo viên bộ môn phải trao đổi với giáo viên chủ nhiệm những học sinh cá biệt , học sinh lười để cùng hợp tác kiểm điểm , nhắc nhở , xử phạt ; dùng đủ hình thức từ mềm dẻo đến cứng rắn hơn sao cho các em sửa chữa tiến bộ dần đà theo cả lớp. Cũng thông qua giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn mới nắm được tình hình gia đình của những em cá biệt có hoàn cảnh khó khăn , gia đình buông lỏng hay ảnh hưởng của bạn bè xunh quanh .để có biện pháp phù hợp với từng hoàn cảnh khác nhau mang lại hiệu quả giáo dục cao hơn. Giáo viên chủ nhiệm cũng có trách nhiệm trao đổi với giáo viên bộ môn những học sinh cá biệt ở lớp mình , những học sinh có hoàn cảnh khó khăn để giáo viên bộ môn nắm bắt được tình hình trước, có cách xử lý khéo là liều thuốc chữa bệnh có hiệu quả nhất mang lại kết quả nhanh nhất. Còn vấn đề phối hợp giữa gia đình học sinh và nhà trường cũng không thiếu được; cụ thể là giữa giáo viên bộ môn , giáo viên chủ nhiệm và gia đình . Giáo viên có trách nhiệm báo về gia đình kịp thời những sai sót , lười biếng của học sinh cho gia đình biết (Thông qua trao đổi trực tiếp hay phiếu kiến nghị với gia đình hay lời phê ,nhận xét trực tiếp vào vở bài tập của các em ).Từ đó gia đình cho biết ý kiến , giáo viên mới tham khảo theo ý đó mà xử lý phù hợp . Những trường hợp vi phạm quá mức có thể báo cáo với liên đội ,ban giam hiệu nhà trường,hội phụ huynh đễ phối hợp giáo dục các em Tất cả những kế hoạch phối hợp nêu trên giúp chúng ta giáo dục các em một cách toàn diện . Phải có mối liên kết với nhau giữa tất cả các giáo viên bộ môn , giáo viên chủ nhiệm ,BGH và gia đình ,xã hội đó là phương pháp "thế cờ vây " vào một mục tiêu,giải thích cho các em hiểu rằng việc học tập trước tiên là học cho chính mình , cho gia đình ,cho xã hội.Buộc các em phải cố gắng vươn lên trong học tập bên cạnh đó có sự giúp đỡ của bạn bè, của thầy cô giáo, việc học trở thành rất cần thiết cho các em mang lại nhiều điều thú vị và bổ ích . Trong tình hình chất lượng học sinh hiện nay tất cả các môn nói chung và môn toán nói riêng , học sinh yếu kém càng ngày càng "nở ra", học sinh khá giỏi càng ngay bị "co lại". Là người giáo viên đứng trước tình hình đó phải trăn trở suy nghĩ tìm nguyên nhân chính , cơ bản dẫn đến kết quả nêu trên, để có biện pháp thích đáng, hữu hiệu , tìm ra giải pháp tối ưu nhất để nâng dần chất lượng , đảm bảo yêu cầu giáo dục theo kịp thời đại. 2.4.Kết quả đạt được: - Sau khi áp dụng phương pháp này lớp tôi dạy đạt hiệu quả cao. Năm học 2012-2013 qua khảo sat định kỳ cả 3 lần học sinh đạt từ loại kha trở lên là 90%. Học kỳ I của năm học 2013-2014, đạt 98% học sinh khá, giỏi.Đặc biệt ở kì thi khảo sát chất lượng mũi nhọn năm học 2013- 2014 lớp tôi dạy có 10 em đạt giải môn Toán . PHẦN 3 Kết luận Qua thực tế giảng dạy , với cách dạy trên , tôi nhận thấy học sinh có nhiều tiến bộ. Với cách dạy và học trên học sinh chăm chú say mê học toán, các em không ngại khi giải các bài toán đặc biệt các bài toán hình học. Học sinh tích cực, chủ động tìm tòi, sáng tạo xây dựng kiến thức của bài học. Nhờ vậy mà học sinh nắm bài nhanh, nhớ kiến thức lâu hơn, chắc hơn và tự tin làm cho không khí tiết học sôi nổi, không gò bó, học sinh được thực sự bộc lộ hết khả năng của mình. Từ đó học sinh có hứng thú học toán, tạo thành thói quen tự suy nghĩ, chủ động làm bài để tìm ra cách giải hay và nhanh nhất. Đề xuất một số giải pháp: 3.1. Đối với trường THCS Nghĩa Lâm có nhiều em học sinh dân tộc thiểu số ,mặt bằng kiến thức không đồng đều nên việc tiếp thu kiến thức toán học còn hạn chế vì vậy theo tôi nên tổ chức cho các em học lớp hai buổi để các em có thêm thời gian luyện tập bài tập... Giống như hình thức tổ chức phụ đạo như hiện nay nhưng phải có sự chỉ đạo xuyên suốt của các cấp ,giáo viên dạy phải có giáo án ,có một phương án cho phân phối chương trình bổ túc thêm từng phần cụ thể. 3.2. Nên tổ chức mô hình trường THCS bán trú,tức là đến trường các em vừa học vừa chơi từ đó giáo viên toán cần có kế hoạch cho các làm bài tập nhóm,nhóm học tập ... 3.3 Thành lập câu lạc bộ giáo viên dạy toán theo cụm ,câu lạc bộ em yêu toán học Hình thức tổ chức câu lạc bộ như sau: 3.3.1.Phải có tiêu chí của câu lạc bộ khi tham gia các em ,giáo viên có quyền và nghĩa vụ gì? 3.3.2.Thành lập ban chủ nhiệm câu lạc bộ (gồm giáo viên ,học sinh) Hàng năm nên tổ chức đại hội câu lạc bộ ,tổ chức buổi lễ khi kết nạp thành viên mới,trao thẻ câu lạc bộ cho các em . 3.3.3.Trong vấn đề này phải phát huy tối đa phía học sinh ,Đội ngũ giáo viên dạy toán phải là ban cố vấn và là chủ nhiệm câu lạc bộ phải là giáo viên toán có năng lực ,đạo đức tốt ,tâm huyết ,ví như có thể tư vấn cho các em ... Theo tôi thiết nghĩ việc nâng cao chất lượng dạy học không thể chỉ xét đến một mặt nào đó mà phải nhìn trên quan điểm toàn cục, đồng bộ trên mọi mặt . về phía giáo viên phải có sự nhiệt tình , phải có năng lực, phải có đầu tư cao cho từng tiết dạy . Về phía học sinh đã đi vào quỹ đạo nội quy , trật tự , kỉ cương của lớp học , của nhà trường hay chưa, về phía gia đình đã thực sự quan tâp đến con ,em mình chưa ?,xã hội (môi trường ) của các sống đã thực sự trong sạch chưa ? v.v...Nhưng một điều cần thiết trước tiên để dạy đạt chất lượng là phải xây dựng một tập thể lớp có tổ chức , có kỉ cương , tất cả các thành viên đều hoạt động theo quỹ đạo đó . Nếu một phần tử nào đó chưa hòa mình vào quỹ đạo,chưa theo kịp cũng buộc tự quay theo quỹ đạo để trở thành một lớp học có nề nếp , trật tự,chú ý nghe giảng . Giáo viên vào lớp tự nhiên sẽ thấy hứng thú , say mê trong công tác dạy học của mình hơn, yêu nghề hơn. Trong thời gian tới bản thân sẽ cố gắng thực hiện đầy đủ , nhiều hơn nữa những gì đã trăn trở trước tình hình chất lượng môn Toán hiện nay . Làm sao các em đều học được môn Toán , môn Toán trở thành một môn học rất gần gũi với các em,"thực sự là môn thể thao trí tuệ" . Các em không ngại giải bài tập , xem đó là khâu thực hành cần thiết để giúp các em phát triển tư duy , trí tuệ, tính chịu khó , cần cù , làm đến nơi đến chốn không bỏ dở giữa chừng,không ngại khó . Tính suy luận có logic , chính xác , chặt chẽ là cơ hội tốt nhất để rèn luyện bản thân , rèn luyện nhân cách của con người .để các em có một hành trang tri thức đầy đủ bước vào tương lai đầy niềm tin và hy vọng. 3.4. Soạn bài các tiết Toán thật cẩn thận chi tiết và có chất lượng. 3.5. Thường xuyên đọc các tài liệu, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, trau dồi kiến thức môn Toán với các đồng nghiệp. 3.6. Sử dụng tốt đồ dùng trực quan, tranh ảnh để tạo hứng thú học tập cho học sinh và nhớ nhanh nội dung bài học. 3.7. Cần quán triệt phương pháp lấy học sinh làm trung tâm, coi học sinh làm chủ thể của hoạt động nhận thức, biến các em thành người chủ động trong quá trình học tập, lĩnh hội tri thức. Các em phải hoàn toàn tự mình tham gia mọi hoạt động nhận thức . Sau khi thực hiện đề tài này, tôi nhận thấy học sinh không những học tốt môn Toán mà còn học tốt cả những phân môn khác trong chương trình phổ thông. Nghĩa Lâm, ngày 05 tháng 03 năm 2022 Người viết Hồ Văn Thái Tài liệu tham khảo 1. Sách giáo khoa-Sách bài tập môn toán các khối lớp. 2.Tài liệu về đổi mới phương pháp dạy-học toán trong trường phổ thông. 3. Tập huấn về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo tinh thần Nghị Quyết 29 4. Các nguồn tài liệu trên mạng internet MỤC LỤC Phần 1; Mở đầu Trang 1. 1.2.Rèn luyện hạnh kiểm cho học sinh Trang 2,3 II/PHƯƠNG PHÁP DẠY NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN CHO HỌC SINH 2.1.Phương pháp dạy học trên lớp Trang 3,4,5 2.2.Phương pháp ra bài tập về nhà Trang 3,4,5 2.3.Phương pháp kiểm tra bài tập về nhà và kiểm tra định kỳ Trang 6,7 2.4.Phương pháp phối hợp giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm Trang 7,8 2.5.Đề xuất một số giải pháp mới qui mô. Trang 8,9 Đăk Nông Giáo Dục

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Duy Trì Và Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán, Môn Thi Tổ Hợp Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Học Vần
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Thcs
  • Biện Pháp Về Dạy Học Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 7 Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Thcs Đô Thành, Huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An.
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100