Tiểu Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục

--- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Đơn Vị
  • Hội Thảo Chuyên Đề “giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Ngữ Văn 9” Tại Trường Thcs Phú An
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học Trong Trường Tiểu Học
  • Nâng Cao Chất Lượng Môn Giáo Dục Thể Chất
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tiếng Anh: Cần Tạo Động Lực Cho Người Học
  • HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

    HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I

    ……***……

    HÀ THỊ HƯƠNG

    LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

    ĐỀ TÀI : NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC THCS Ở HUYỆN YÊN – TỈNH QUẢNG NINH TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ – HIỆN ĐẠI HOÁ.

    NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

    ………………………………..

    Khoa tư tưởng Hồ Chí Minh

    QUẢNG NINH, THÁNG 6 NĂM 2006

    MỞ ĐẦU.

    1. Lý do chọn đề tài:

    Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học từ lâu đời. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, truyền thống đó đã góp phần tạo nên nét đẹp của nền văn hiến Việt Nam và được phát huy hơn bao giờ hết trong thời đại mới,

    Hơn thế kỷ qua, kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Trong sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ và xây dựng đất nước, nền giáo dục nước nhà thực sự giữ một vai trò quan trọng, gánh vác những sứ mệnh quang vinh của sứ mạng dân tộc.

    Ngày nay, trong công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xuống và lãnh đạo đã thu được nhiều thành tựu rực rỡ. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trưường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN đã được hình thành và từng bước phát triển. Trình độ dân chí được nâng lên một bước làm cơ sở cho kinh tế- xã hội phát triển, tạo động lực cho sự nghiệp công nghiệp – hiện đại hoá đất nước.

    Với xu thế quốc tế hoá ngày càng tăng lên, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và trên thế giới đang diễn ra mạnh mẽ và phát triển với tốc độ cao. ” khoa học đã trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp như Mác dự đoán, còn công nghệ đổi mới hết sức nhanh chóng. Trình độ dân trí và tiềm lực khoa học, công nghệ đã trở thành nhân tố quyết định sức mạnh và thế của mỗi Quốc gia trên thế giới” (Văn kiện hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp Hành Trung ương khoá VIII – Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà nội;1997, tr 5).

    Việc quan hệ ngày càng được mở rộng đã làm cho mỗi quốc gia hiểu sâu sắc thêm những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi nguồn sáng tạo, mọi của cải vật chất văn hoá và văn minh của mỗi quốc gia dân tộc và toàn nhân loại. Để có cơ hội hội nhập được với nền kinh tế mang tính chất khu vực hoá, toàn cầu hoá, nhiều quốc gia trên thế giới và trong khu vực đã nhận thức và có chủ trương trong phát triển giáo dục.

    Trong chiến lược phát triển KT – XH của đất nước, chúng ta đã đặt con người vào vị trí trung tâm, phát huy nhân tố con người. Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển do con người và vì con người. Phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Đây là một trong những quan điểm cơ bản của cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ tiến lên CNXH của chiến lược ổn định và phát triển KT – XH đến năm 2010 và 2022. Nguồn lực đó là đào tạo con người phát triển trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, phẩm chất tốt đẹp, cưường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến là mục tiêu hướng tới của toàn Đảng, toàn dân ta.

    Thực hiện quan điểm ấy là trách nhiệm của các cấp các ngành, nhưng trước hết phải là ngành giáo dục. Giáo dục là cách thức, là con đường cơ bản và ngắn nhất, bền vững nhất để hình thành và hoàn thiện con người mới XHCN – con người phát triển về trí tuệ, thể lực, đạo đức, lẽ sống, tình cảm.

    Hai mươi năm đổi mới, nền giáo dục đào tạo của nước ta đã có nhiều chuyển biến và đạt được những thành tựu quan trọng. Hệ thống giáo dục quốc dân mới được xác lập, luật giáo dục ra đời, mạng lưới trường lớp phát triển rộng, đáp ứng được nhu cầu học tập của mọi người, qui mô có bước tăng trưởng khá, mặt bằng dân trí được nâng lên, nội dung, phươngpháp giảng dạy được cải cách theo hớng hiện đại, được coi trọng triển khai.

    Tuy nhiên, trước những thách thức của sự phát triển kinh tế, KH – CN trong khu vực và trên thế giới, trước những đòi hỏi của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước nền giáo dục cần được phát triển theo tốc độ nhanh, chất lượng tốt hơn. “chúng ta chỉ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Đơn Vị
  • Tiểu Luận Một Số Biện Pháp Quản Lí Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Thcs Bạch Xa Huyện Hàm Yên
  • Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện Cho Học Sinh Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Quân Khu 7 Phát Huy Vai Trò Nêu Gương Của Cán Bộ Chủ Trì Ở Đơn Vị Cơ Sở
  • Phát Huy Trách Nhiệm Nêu Gương Của Cán Bộ, Đảng Viên Công An Nhân Dân
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nêu Gương Và Trách Nhiệm Nêu Gương Của Cán Bộ, Đảng Viên
  • Nêu Gương Là Một Trách Nhiệm Hàng Đầu
  • Nâng Cao Trách Nhiệm Thực Hiện Nêu Gương Của Cán Bộ Quản Lý Chỉ Huy Ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Chúng ta đang sống trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão, nền kinh tế tri thức đang chiếm vai trò chủ đạo tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội. Từ nhận thức sâu sắc về vai trò chất lượng nguồn nhân lực của đất nước, trong thời gian qua Đảng và nhà nước ta luôn đặc biệt coi trọng công tác giáo dục, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Giáo dục không ngừng phải đổi mới để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện là nhiệm vụ chính trị, trọng tâm hàng đầu ở các nhà trường. Trường Tiểu học Đông Lỗ số 2 không ngừng nỗ lực để nâng cao chất lượng toàn diện mặc dù còn rất nhiều khó khăn. Giáo viên là lực lượng nòng cốt quyết định chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. Do vậy giáo viên cần :

    * Tăng cường tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng nghề nghiệp của mình.

    Tổ chức thực hiện việc áp dụng công nghệ thông tin trong học tập, nghiên cứu, giảng dạy và công tác quản lí. Nhà trường phải xây dựng được trang Website của đơn vị và Ban giám hiệu chỉ đạo cán bộ giáo viên đăng kí thành viên tham gia viết bài, gửi bài, giao lưu học hỏi trên trang Website để bồi dưỡng kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm. Chỉ đạo các tổ chuyên môn và từng cán bộ giáo viên tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình nghiên cứu, soạn bài và giảng dạy trên lớp.

    Triển khai và thực hiện tốt kế hoạch thăm lớp, dự giờ học để hỏi, đúc rút kinh nghiệm. Tổ chức tốt hội thi giáo viên giỏi cấp trường và tham gia tích

    cực hội thi giáo viên giỏi cấp huyện, cấp tỉnh hàng năm.

    Giáo viên nghiêm túc theo chương trình và chuẩn kiến thức kĩ năng.

    * Giáo viên xây dựng và phát triển phong trào học tập ở học sinh. Tập trung khơi dậy nâng cao công tác tự học, tự rèn.

    – Chú trọng công tác giáo dục, động viên ý thức học tập, rèn luyện của học sinh.

    – Quan tâm công tác ôn tập, bồi dưỡng, phụ đạo học sinh theo đối tượng.

    * Tăng cường phối hợp với hội cha mẹ học sinh tổ chức các hoạt động ngoài giờ và hoạt động trải nghiệm sáng tạo.

    Áp dụng một số biện pháp như trên Trường Tiểu học Đông Lỗ số 2 đã từng bước nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. Xây dựng cho các em một nền tảng toàn diện để trở thành những công dân đáp ứng thời đại công nghệ phát triển.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Cả Hệ Thống Chính Trị Trong Bảo Vệ Chủ Quyền, An Ninh Biên Giới Quốc Gia
  • Nhận Thức Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn An Ninh Mạng
  • Yêu Cầu Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn, An Ninh Mạng
  • Yêu Cầu Giải Pháp Nâng Cao Nhận Thức Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Bảo Vệ An Toàn An Ninh Mạng
  • Sự Cần Thiết Phải Nâng Cao Nhận Thức, Trách Nhiệm Của Quân Nhân Về Nhiệm Vụ Bảo Vệ An Toàn, An Ninh Mạng Trong Quân Đội
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đại Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Thiết Thực Để Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Đại Học
  • Tư Vấn Tuyển Sinh 2022
  • 7 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đại Học
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Lý Luận Chính Trị Cho Cán Bộ, Đảng Viên ​
  • Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Chính Trị
  • Những chuyển biến tích cực về chất lượng giáo dục đại học

    Theo Tổng cục Thống kê, năm 2022, cả nước có 235 trường đại học, bao gồm 170 trường công lập và 65 trường ngoài công lập. Mạng lưới các trường đại học phát triển rộng khắp cả nước, đa dạng về loại hình, cấp bậc, ngành nghề đào tạo.

    quy mô đào tạo, trong 3 năm trở lại đây, số lượng sinh viên đại học có xu hướng giảm. Năm học 2022- 2022, số sinh viên đại học là 1,7 triệu người, giảm 72.000 người so với năm học 2022-2017. Năm học 2022- 2022, số lượng sinh viên đại học, cao đẳng, trung cấp (trong đó, chỉ tính sinh viên cao đẳng và trung cấp sư phạm) là 1,5 triệu người (giảm so với năm học 2022-2018 là 200.000 người). Số lượng sinh viên đại học giảm cho thấy đã có sự chuyển biến về nhận thức của sinh viên trong việc lựa chọn ngành nghề và sự hấp dẫn ngày càng lớn của các cơ sở đào tạo nghề khi học viên vừa học vừa thực hành tại doanh nghiệp được cam kết có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp.

    Ngược lại với sự giảm sút về số lượng sinh viên đại học, chất lượng GDĐH được nâng lên, thể hiện qua số sinh viên tốt nghiệp ra trường tăng và tỷ lệ lao động có việc làm theo trình độ chuyên môn đại học trở lên tăng cao. Năm 2022, cả nước có 319,5 nghìn sinh viên tốt nghiệp đại học, tăng 4,6% so với năm 2022. Tỷ lệ lao động có việc làm theo trình độ chuyên môn đại học trở lên năm 2022 là 90% và năm 2022 là 93%.

    Để nâng cao chất lượng đào tạo, những năm qua, ngành giáo dục đã chỉ đạo các cơ sở GDĐH chủ động đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực, tăng cường kỹ năng ứng dụng và thực hành… C ác cơ sở đào tạo thực hiện gắn đào tạo v ới thị trường lao độn g, chủ động nắm bắt nhu cầu của doanh nghiệp hoặc phát t r iển chương t r ình đào tạo có sự tham g ia của các doanh nghiệp bảo đảm chất lượng đầu ra.

    Theo đó, các trường GDĐH đã triển khai chương trình tiên tiến, chương trình chất lượng cao chuyển giao từ các nước phát triển để từng bước nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế. Năm 2022, các trường đại học trên cả nước triển khai được 37 chương trình tiên tiến và khoảng 250 chương trình đào tạo chất lượng cao. Đội ngũ giáo viên đại học tăng cả về số lượng và chất lượng. Theo Tổng cục Thống kê, trong 7 năm (từ năm 2010-2017), số lượng giáo viên đại học tăng thêm 24 nghìn người. Số lượng giáo viên có trình độ chuyên môn trên đại học tăng thêm 34 nghìn người. Việc giảm khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành trong đào tạo thông qua thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo sinh viên có nhiều chuyển biến về chất lượng sinh viên tốt nghiệp đại học. Tỷ lệ sinh viên khởi nghiệp trong các nhà trường hiện chiếm khoảng 15% và đang có chiều hướng tăng về số lượng, cải thiện về chất lượng.

    Cùng với đào tạo, công tác nghiên cứu khoa học của các trường đại học cũng đạt nhiều kết quả tích cực. Theo Báo cáo Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2022, khu vực các trường đại học đóng góp hơn 50% tổng số nhân lực khoa học công nghệ trong cả nước. Năm 2022, trong các cơ sở GDĐH đã có 945 nhóm nghiên cứu. Số lượng các công bố, đặc biệt là công bố quốc tế và ảnh hưởng khoa học thể hiện qua mức độ được trích dẫn tăng mạnh. Chỉ tính riêng công bố quốc tế của 30 trường đại học hàng đầu Việt Nam từ năm 2022 đến tháng 6/2018 đã đạt 10,5 nghìn bài, bằng tất cả công bố trên toàn quốc giai đoạn 5 năm (từ năm 2011-2015).

    Ngoài ra, hoạt động tự chủ đại học cũng đã được đẩy mạnh. Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết số 77/NQ-CP của Chính phủ về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập giai đoạn 2014-2017 đã có 23 cơ sở GDĐH thí điểm thành công, có sự phát triển, lan tỏa giúp toàn hệ thống GDĐH chuyển biến tích cực theo hướng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, chất lượng hoạt động, tiến tới tự chủ đại học.

    tác kiểm định chất lượng được tăng cường. Số lượng các cơ sở GDĐH đạt tiêu chuẩn kiểm định quốc tế và trong nước tăng lên. Năm 2022, cả nước có khoảng 90 cơ sở GDĐH được công nhận bởi tổ chức kiểm định trong nước và 5 cơ sở GDĐH được công nhận bởi tổ chức đánh giá/kiểm định quốc tế. Bên cạnh đó, có 112 chương trình đào tạo đại học đã được đánh giá và công nhận, gồm 8 chương trình đánh giá theo tiêu chuẩn trong nước; 104 chương trình đánh giá theo tiêu chuẩn khu vực và quốc tế.

    Có thể thấy, trong nhiều năm đổi mới, chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong các trường đại học của Việt Nam đã có chuyển biến tích cực. Vị thế các trường đại học Việt Nam trong bảng xếp hạng châu Á được nâng cao. Theo Báo cáo Cạnh tranh Toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới 2022-2018, Việt Nam xếp hạng 84/137 quốc gia về chất lượng hệ thống giáo dục đại học và 79/137 quốc gia về khả năng đổi mới. Chỉ có hai trường đại học V iệt Nam nằ m trong top 1.000 trường trên thế giới (ĐH Quốc gia Hà Nội; ĐH Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh).

    Bên cạnh đó, các trường đại học nỗ lực nâng hạng. Theo kết quả xếp hạng 505 trường đại học tốt nhất châu Á năm 2022 do tổ chức giáo dục Quacquarelli Symonds (QS) của Anh thực hiện, Việt Nam có 7 trường đại học lọt top. Đó là Đại học Quốc gia Hà Nội (xếp hạng 124), Đại học Quốc gia TP HCM (144), Đại học Bách khoa Hà Nội (nhóm 261-270), Đại học Tôn Đức Thắng (nhóm 291-300), Đại học Cần Thơ (nhóm 351-400), Đại học Huế và Đại học Đà Nẵng (nhóm 451-500).

    Vẫn còn nhiều khó khăn

    Mặc dù GDĐH thời gian qua đã có chuyển biến tích cực, song chất lượng GDĐH vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra. Nhiều cơ sở GDĐH chất lượng đào tạo chưa cao, nhất là đào tạo sau đại học, liên kết, liên thông… Hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và phục vụ cộng đồng còn hạn chế khi số lượng công trình, bài báo, các phát minh, sáng chế chưa tương xứng với tiềm năng.

    Một số trường đại học sau thời gian hoạt động vẫn chưa đủ các điều kiện bảo đảm chất lượng theo đề án thành lập trường. Việc thành lập trường, mở ngành, xác định chỉ tiêu tuyển sinh… chủ yếu dựa trên năng lực của cơ sở đào tạo, chưa bám sát nhu cầu thị trường lao động… Cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý, chất lượng đào tạo hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

    Việc triển khai đào tạo chất lượng cao trình độ đại học không đồng đều, chủ yếu tập trung ở những trường đại học lớn trong khi các trường đại học do địa phương quản lý còn chậm được triển khai.

    Cơ sở pháp lý về tự chủ đại học chưa vững chắc và thiếu đồng bộ nên việc triển khai còn nhiều lúng túng, chưa thống nhất; một số nội dung cam kết của Chính phủ (theo tinh thần của Nghị quyết 77) chưa được thực hiện (như: Cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, hỗ trợ lãi suất vay) gây khó khăn cho nhiều cơ sở GDĐH. Tự chủ chưa gắn liền với đổi mới quản trị đại học và trách nhiệm giải trình xã hội.

    Bên cạnh đó, nguồn tài chính chưa nhiều, chi phí thấp, cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm nghèo nàn, chưa tạo môi trường làm việc cho các nhà khoa học giỏi; Chính sách khuyến khích và thúc đẩy đầu tư từ khu vực tư nhân chưa đồng bộ, chưa đủ mạnh để tạo cơ chế thúc đẩy sự bình đẳng giữa các trường thuộc khối công lập và ngoài công lập cũng như đáp ứng yêu cầu cạnh tranh về chất lượng với các nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn.

    Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học

    Để giải quyết những vấn đề đặt ra đối với GDĐH hiện nay, hệ thống GDĐH Việt Nam trong thời gian tới tập trung vào các giải pháp như:

    hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển GDĐH, sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học; các quy định tự chủ đối với các cơ sở GDĐH công lập; quy hoạch mạng lưới các cơ sở GDĐH và đào tạo giáo viên theo các quy chuẩn chất lượng, phù hợp với Nghị quyết 19-NQ/TW và Luật Quy hoạch; xây dựng Chiến lược tổng thể phát triển GDĐH giai đoạn 2022-2030, tầm nhìn 2035; kế hoạch và giải pháp tăng cường số lượng các trường đại học Việt Nam có mặt trong các bảng xếp hạng quốc tế.

    Nhà nước cần khuyến khích các doanh nghiệp liên kết, đầu tư, hỗ trợ các trường đại học theo hình thức đặt hàng; đẩy mạnh hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục với việc tập trung kiểm định chương trình đào tạo.

    tăng cường đầu tư, đổi mới cơ chế tài chính GDĐH, các trường tự xác định mức học phí tương xứng với chất lượng đào tạo; ưu tiên đầu tư ngân sách để phát triển một số cơ sở GDĐH, ngành đào tạo mang tầm khu vực, quốc tế và cơ sở đào tạo giáo viên chất lượng cao; phát triển một số ngành, vùng đặc thù để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; có cơ chế phân bổ nguồn lực cho GDĐH theo nguyên tắc cạnh t r anh, bình đẳng, hiệu quả…

    đổi mới chương trình đào tạo theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu của thị trường, phát triển tư duy sáng tạo của học viên; quản lý chất lượng tổng thể bao gồm: Quản lý các điều kiện đầu vào, quản lý quá trình đào tạo và quản lý chất lượng đầu ra phù hợp với khung trình độ quốc gia; triển khai các giải pháp nâng cao khả năng có việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp. Công bố các điều kiện đảm bảo chất lượng, tỷ lệ có việc làm của sinh viên tốt nghiệp, các sản phẩm khoa học công nghệ của trường.

    nâng cao chất lượng hình thành đội ngũ giảng viên năng động, cập nhật kiến thức chuyên môn, khả năng ngoại ngữ và tin học đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong quá trình hội nhập quốc tế, tạo ra những”sản phẩm” có chất lượng, đáp ứng thị trường lao động trong và ngoài nước./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Thcs Tô Hiệu
  • Những Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Ở Trường Thcs Quang Minh
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Thcs Đồng Việt
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học Sinh Tiểu Học Huyện Tây Giang
  • Thực Hiện Đồng Bộ Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện
  • Biện Pháp Khắc Phục Biến Đổi Khí Hậu
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì?
  • Một Số Biện Pháp Giảm Thiểu Và Thích Ứng Với Bđkh
  • Ðồng Bộ Các Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu
  • Chủ nhật, 23/12/2012 22:12

    Để nâng cao chất lượng giáo dục, phải thực hiện đồng bộ, có hiệu quả nhiều giải pháp – đó là ý kiến chung của cán bộ quản lý và giáo viên ở tất cả các cấp học trong tỉnh. Tuy nhiên, mỗi trường, mỗi cấp học cũng phải tùy theo tình hình thực tế của trường mình như: Điều kiện cơ sở vật chất, trình độ giáo viên, khả năng tiếp nhận của học sinh… để lựa chọn và thực hiện các giải pháp sao cho hiệu quả nhất.

    giúp học sinh chủ động, thích thú học tập hơn của giáo viên

    Trường THCS Nguyễn Văn Linh, xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải.

    Trường THCS Trần Phú, Tp. Phan Rang Tháp Chàm được đánh giá là một trong những trường THCS có chất lượng ổn định của tỉnh. Điều này thể hiện qua kết quả thi tuyển sinh lớp 10 hàng năm của trường, tỷ lệ học sinh có điểm trung bình 2 môn thi Toán – Văn trong kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 đều tăng từ năm học 2010-2011 đến 2012-2013. Cô giáo Nguyễn Thị Minh Trâm, Hiệu trưởng Trường THCS Trần Phú, cho biết: “Để có được kết quả này, ngay từ đầu mỗi năm học, trường đều xây dựng và triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp: chống lưu ban, bỏ học; tăng cường đổi mới phương pháp dạy học, kết hợp triển khai thực hiện chặt chẽ việc kiểm tra- đánh giá – xếp loại học sinh theo chuẩn kiến thức kỹ năng; tổ chức tốt các hoạt động ngoài giờ lên lớp”.

    Trong số những giải pháp đang được triển khai đồng bộ ở các trường, “Tăng cường đổi mới kiểm tra – đánh giá – xếp loại học sinh” được đánh giá là giải pháp phát huy hiệu quả nhất trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Năm học 2012-2013, hầu hết các Trường THPT trên địa bàn tỉnh đều triển khai thực hiện chung đề, chung đợt đối với bài kiểm 1 tiết ở tất cả các bộ môn và đối với bài kiểm tra 15 phút cho các môn thi tốt nghiệp. Riêng với các kỳ thi lên lớp, kiểm tra chất lượng đầu năm, cuối kỳ các trường đều tổ chức như kỳ thi tốt nghiệp THPT: đề chung, ngồi theo số báo danh, bài thi rọc phách, giáo viên bộ môn không tham gia coi thi bộ môn mình phụ trách, giáo viên giảng dạy không chấm bài kiểm tra lớp mình. Nhà trường không phát hành đề cương ôn thi học kỳ mà chỉ công bố ma trận nhận thức giúp học sinh làm quen với cách thức thi tốt nghiệp THPT và thi đại học sau này. Việc chấm, trả bài và vào điểm được thực hiện kịp thời, có biên bản chấm bài kiểm tra đảm bảo tính công bằng, chính xác, đánh giá đúng thực chất học lực của học sinh…

    Tuy nhiên, giải pháp nào đi nữa thì để nâng cao chất lượng giáo dục quan trọng nhất vẫn là vai trò của người thầy. Ngoài trình độ, năng lực chuyên môn, bản thân mỗi giáo viên cũng phải thật sự tâm huyết, yêu nghề, nhiệt tình trong đổi mới phương pháp giảng dạy; tìm tòi, sáng tạo ra những đồ dùng dạy học thiết thực cho học sinh. Mỗi giải pháp đưa ra, cùng đòi hỏi phải có sự đoàn kết, thống nhất của tập thể sư phạm nhà trường… có như vậy mới thực sự tạo được sự chuyển biến trong cách dạy, cách học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

    Bích Thủy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Gd&đt Đưa Ra 7 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đại Học
  • Đau Ruột Thừa Là Đau Bên Nào Và Vị Trí Đau Nằm Ở Đâu?
  • Nội Tạng Của Cơ Thể Con Người Gồm Bộ Phận Nào? Chúng Có Chức Năng Gì
  • Những Bộ Phận Thừa Thải Trên Cơ Thể Con Người
  • Gan Có Chức Năng Gì? 6 Tác Nhân Gây Bệnh Cho Gan🤢
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Trẻ Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường Mầm Non
  • Giải Pháp Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Các Giải Pháp Đồng Bộ Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Nhiều Giải Pháp Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông Năm 2022
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Để Giảm Thiểu Tai Nạn Giao Thông
  • Trang chủ ” Khoa giáo – Giáo dục LLCT ” Tin tức hoạt động

    Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng ban Thường trực

    Theo đánh giá của Bộ Giáo dục và đào tạo, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 29 – NQ/TW, ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, ngành Giáo dục đào tạo đã đạt được những kết quả hết sức quan trọng. Ngành đã tiếp tục có những giải pháp để hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, tạo cơ sở pháp lý cho các địa phương, các cơ sở giáo dục đào tạo thực hiện tốt hơn. Các địa phương đã rà soát, quy hoạch lại mạng lưới giáo dục, sáp nhập các trường tiểu học, trung học cơ sở có quy mô nhỏ thành trường đa cấp có quy mô lớn hơn; Chất lượng đội ngũ giáo viên và quản lý giáo dục được nâng cao. Công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên chuẩn bị cho triển khai đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông được triển khai tích cực, bài bản, toàn diện và hệ thống. Công tác bồi dưỡng thường xuyên, chuẩn nghề nghiệp đối với giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục được thực hiện nghiêm túc và thường xuyên; Chất lượng giáo dục mầm non có nhiều chuyển biến tích cực. Chất lượng giáo dục phổ thông được nâng cao. Tích cực đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá. Tổ chức tốt kỳ thi trung học phổ thông quốc gia. Công tác giáo dục hướng nghiệp và định huống phân luồng học sinh chất lượng hơn. Việc lựa chọn học nghề phổ thông của học sinh đã chuyển dần theo hướng phù hợp với nhu cầu phát triển kỹ năng, phục vụ nhu cầu lao động xã hội. Giáo dục đại học theo hướng phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao; Tăng cường các giải pháp giáo dục đạo đức lối sống và phòng chống bạo lực học đường trong học sinh, sinh viên; Chất lượng dạy học ngoại ngữ được nâng cao hơn, đặc biệt là tiếng Anh ở các cấp học. Hoàn thành xây dựng khung năng lực giáo viên ngoại ngữ, bộ tiêu chí đánh giá các đơn vị tổ chức bồi dưỡng giáo viên ngoại ngữ.; Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý được đẩy mạnh. Cơ sở dữ liệu của các cấp học đã được thống kê. Cải cách hành chính được thục hiện một cách quyết liệt. Cơ sở vật chất bảo đảm cho giáo dục được quan tâm hơn; Hợp tác quốc tế được đẩy mạnh. Các hoạt động thúc đẩy, kết nối các nhà đầu tư, các cơ sở giáo dục, chia sẻ cơ hội đầu tư và hợp tác trong lĩnh vực giáo dục. Đến nay, cả nước có tổng số 455 dự án FDI thuộc lĩnh vực GDĐT trên tổng số 27.533 dự án đầu tư nước ngoài của 19 ngành kinh tế. Nhiều cơ sở giáo dục đã tích cực hội nhập quốc tế thông qua các chương trình liên kết đào tạo nước ngoài và các chương trình trao đổi sinh viên, giảng viên và hợp tác nghiên cứu.

    Bên cạnh những kết quả trên, ngành Giáo dục đào tạo vẫn còn một số hạn chế. Một số địa phương chưa quan tâm đúng mức việc quy hoạch mạng lưới trường, lớp học, còn thiếu đất cho xây dựng trường học, đặc biệt là các thành phố lớn, các khu công nghiệp, khu chế xuất. Một số địa phương vẫn còn tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ. Nhiều địa phương còn thiếu giáo viên mầm non theo định biên và chưa có giải pháp khắc phục triệt để. Tình trạng học sinh, sinh viên vi phạm đạo đức lối sống đang được báo động. Công tác phân luồng, hướng nghiệp trong giáo dục phổ thông chưa thật sự hiệu quả. Chất lượng nguồn nhân lực vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thực tiễn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho giáo dục còn nhiều bất cập. Công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra còn hạn chế nhất định. Còn để xảy ra sai phạm nghiêm trọng trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2022 tại một số địa phương như Sơn La, Hòa Bình, Hà Giang.

    Để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo trong thời gian tới, ngành giáo dục và đào tạo cần tiếp tục triển khai thực hiện tốt Nghị quyết 29 – NQ/TW, ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó cần tập trung đồng bộ một số giải pháp sau:

    Thứ nhất: Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về giáo dục. Tuyên truyền về giáo dục có tác dụng tạo chuyển biến nhận thức và sự đồng thuận cho nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới giáo dục. Đó là tuyên truyền về Nghị quyết 29 – NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cũng như các chủ trương, chính sách mới về giáo dục đào tạo; đổi mới chương trình, sách giáo khoa; giáo dục mầm non, giáo dục nghề…

    Thứ hai: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các cấp. Đội ngũ giáo viên có vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy. Để thực hiện được nhiệm vụ cao cả này cần khắc phục những rào cản, bất cập hiện nay (biên chế, tiền lương…) để giáo viên yên tâm công tác, thực sự say sưa, tâm huyết với nghề. Giáo viên cần đảm bảo chuẩn theo quy định và thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng cập nhật và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Các khóa bồi dưỡng tránh dàn trải mà cần ngắn hạn, chuyên sâu và bồi dưỡng theo, sát nhu cầu thực tế, tạo động lực để giáo viên học tập, nâng cao trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu đổi mới.

    Thứ ba: Nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý giáo dục các cấp. Quản lý là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự kỷ cương, nề nếp. Cán bộ quản lý cần tổ chức thực hiện nghiêm túc và hiệu quả các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, quy định, cũng như các chương trình, kế hoạch của cấp trên cũng như có những mô hình hay, phương pháp mới phù hợp với xu thế và tình hình thực tế tại địa phương, đơn vị. Xây dựng và thực hiện có hiệu quả bộ tiêu chuẩn cán bộ quản lý cũng như đánh giá, phân loại, sử dụng, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ quản lý theo tiêu chuẩn chức danh cụ thể.

    Trình duyệt của bạn không hỗ trợ HTML5 video.

    Trình duyệt của bạn không hỗ trợ HTML5 video. Trình duyệt của bạn không hỗ trợ HTML5 Audio.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn Khi Xử Lý Hành Chính
  • Một Số Biện Pháp Đổi Mới Phương Pháp Giáo Dục
  • 5 Biện Pháp Giúp Giáo Viên, Nhà Trường Giáo Dục Kỉ Luật Tích Cực Học Sinh
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Giáo Dục Thể Chất
  • Bản Cập Nhật Ob22 Mới: Thanh Trừng
  • 7 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đại Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Lý Luận Chính Trị Cho Cán Bộ, Đảng Viên ​
  • Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Chính Trị
  • Tăng Cường Giáo Dục Chính Trị, Tư Tưởng Cho Cán Bộ, Đảng Viên, Góp Phần Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Đảng Trong Thời Kỳ Mới
  • Tăng Cường Công Tác Giáo Dục Chính Trị Tư Tưởng Cho Cán Bộ Và Đảng Viên, Sinh Viên Trong Tình Hình Hiện Nay
  • Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Sinh viên trong lễ tốt nghiệp.

    Thứ nhất: về việc chuẩn hóa hệ thống, Bộ GD-ĐT sẽ thực hiện từ tên gọi thống nhất của các cơ sở giáo dục đại học đến trình độ đào tạo phù hợp với khung năng lực tham chiếu Asean. Cụ thể, chuẩn hóa tên gọi các cơ sở giáo dục đại học bằng tiếng nước ngoài.Sắp xếp lại hệ thống giáo dục đào tạo và dạy nghề. Trước mắt, thống nhất trình độ trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề thành trung cấp nghề nghiệp và trình độ đào tạo này đã được đưa vào dự thảo Luật Giáo dục nghề nghiệp trình Quốc hội thông qua trong thời gian sắp tới.

    Thực hiện Luật Giáo dục đại học, các cơ sở giáo dục đại học nước ta cần phân thành 3 nhóm: Trường ĐH theo định hướng nghiên cứu, trường ĐH theo định hướng ứng dụng và các trường cao đẳng thực hành nghề nghiệp) và thực hiện xếp hạng trong từng nhóm.

    Thứ hai:Kiểm định chất lượng đào tạo bao gồm kiểm định chất lượng chương trình và kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học. Bộ GD&ĐT đã thành lập 2 Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục trực thuộc 2 ĐHQG.

    Để kiểm định chất lượng của tất cả các cơ sở giáo dục đại học trong cả nước, trong thời gian tới, Bộ GD&ĐT cho biết cần thành lập thêm một số trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục phân bố ở các vùng miền trong cả nước.

    Thứ ba: Đổi mới chương trình đào tạo, phát triển chương trình chất lượng cao. Trước hết, các trường được tự chủ trong xây dựng chương trình đào tạo, chủ động lựa trong lựa chọn hệ thống giáo trình phục vụ giảng dạy.Các trường có thể xây dựng chương trình chất lượng cao với mức thu học phí tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo với chất lượng tương ứng.

    Thứ tư: Đổi mới công tác tuyển sinh

    Thực hiện Luật Giáo dục đại học và Nghị quyết 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Bộ GD&ĐT đã yêu cầu các trường thực hiện quyền tự chủ tuyển sinh. Các trường phải gửi Đề án tự chủ tuyển sinh cho Bộ GD&ĐT trước ngày 30/9/2014 để thực hiện tự chủ tuyển sinh trong năm tới. Dự kiến từ năm 2022 trở đi, Bộ GD&ĐT sẽ tập trung tổ chức kỳ thi quốc gia nhằm 2 mục đích: Xét tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ.

    Dự thảo đề án kỳ thi quốc gia đã được đưa ra lấy ý kiến dư luận rộng rãi. Trên cơ sở thống nhất ý kiến về kỳ thi quốc gia, Bộ GD&ĐT yêu cầu các trường ĐH, CĐ cần xem việc tham gia tổ chức kỳ thi như là nhiệm vụ của mình để phối hợp với các Sở GD&ĐT thực hiện kỳ thi nghiêm túc.

    Đồng thời, đề nghị các trường cũng cân nhắc, lựa chọn phương thức tuyển sinh vào các ngành nghề khác nhau của trường mình một cách phù hợp nhất để đảm bảo mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo.

    Thứ năm:Củng cố hệ thống quản trị đại học. Hiện nay, Bộ GD&ĐT đang hoàn thiện phiên bản cuối cùng Điều lệ trường ĐH trên nền tảng của Luật GD ĐH và các quy định hiện hành.Luật GD ĐH quy định việc thành lập Hội đồng trường đối với các cơ sở GD ĐH công lập và đảm bảo quyền lực của Hội đồng này trong mọi hoạt động của nhà trường.

    Đối với những cơ sở GD ĐH ngoài công lập, các quy định hiện hành phù hợp với điều kiện Việt Nam. Các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay tạo sự hài hòa giữa lợi ích của nhà đầu tư và mục tiêu giáo dục và đào tạo. Cơ sở giáo dục phi lợi nhuận theo đúng nghĩa là cơ sở giáo dục của xã hội tự sở hữu chính mình, không ai là chủ sở hữu. Vì vậy tất cả lợi nhuận có được sẽ được tái đầu tư để phát triển nhà trường.

    Mô hình như vậy hiện nay khó hiện thực ở nước ta. Vì vậy Luật GD ĐH đã xác định trường đại học tư thục không vì lợi nhuận khi không chia lợi nhuận hay chia nhưng không quá mức lãi của trái phiếu chính phủ. Nhà đầu tư vẫn là chủ sở hữu của nhà trường. Khung pháp lý hiện nay đủ để các trường ngoài công lập hoạt động.

    Việc bồi dưỡng kinh nghiệm quản trị đại học cũng cần được thực hiện thường xuyên và có hiệu quả. Quy hoạch bồi dưỡng cán bộ trẻ, năng động và cơ cấu dần vào các vị trí quản lý để thử thách.

    Các trường cần xây dựng kế hoạch gửi cán bộ quản lý có năng lực đi học tập công tác quản lý các trường ĐH nước ngoài. Nên phân biệt rạch ròi mục đích của thực tập chuyên môn và học tập quản lý.

    Thứ sáu:Đổi mới cơ chế tài chính, đầu tư tập trung, đồng bộ và hiệu quả. Nhân rộng mô hình tự chủ tài chính của các trường ĐH công lập để có thêm nguồn lực đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo. Khuyến khích các trường công lập có đủ điều kiện đăng ký thực hiện tự chủ tài chính, tự chủ thu học phí.

    Các cơ sở GD ĐH chấm dứt tình trạng xây dựng dự án đầu tư mà không nhằm mục tiêu rõ ràng, không nhắm đến hướng lâu dài. Dự án đầu tư cần nằm trong kế hoạch phát triển tổng thể của nhà trường trong trung hạn và dài hạn.

    Đổi mới công tác tài chính để tạo động lực cho các trường cạnh tranh lành mạnh nâng cao hiệu quả đầu tư toàn hệ thống. Đầu tư trang thiết bị phải đi kèm với việc đào tạo cán bộ sử dụng, khai thác, bảo dưỡng. Chấm dứt tình trạng mua sắm trang thiết bị rồi mà không có người sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả, gây lãng phí nguồn lực đầu tư của Nhà nước.

    Thứ bảy: Xây dựng mục tiêu chiến lược phát triển nhà trường. Mặc dù mục tiêu chiến lược phát triển các cơ sở GD ĐH đã được Bộ GD&ĐT yêu cầu công bố từ lâu nhưng một số trường cho đến nay vẫn chưa có bản kế hoạch hoàn chỉnh hoặc có nhưng chưa thể hiện được mục tiêu dài hạn cũng như kế hoạch phát triển trong từng giai đoạn.

    Trên cơ sở Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT lần này, các trường cần có bản kế hoạch phát triển cụ thể.

    Trong bản kế hoạch cần nêu rõ mục tiêu đào tạo, chất lượng đào tạo qua từng giai đoạn thể hiện rõ qua chuẩn đầu ra, quy mô sinh viên đi kèm với kế hoạch phát triển đội ngũ và CSVC tương ứng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Vấn Tuyển Sinh 2022
  • Giải Pháp Thiết Thực Để Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Đại Học
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đại Học
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Thcs Tô Hiệu
  • Những Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Ở Trường Thcs Quang Minh
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học …

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tiết Học Tin Học Ở Bậc Tiểu Học : Phòng Gd&đt Nam Trực
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Thể Dục Và Các Hoạt Động Thể Dục Thể Thao Ở Trường Tiểu Học
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh.
  • Sáng Kiến Giúp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Sinh Lớp 8
  • Ninh Lai là một xã thuộc khu vực trung huyện của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Toàn xã có 5 dân tộc anh em chung sống, trong đó, dân tộc Sán Dìu chiếm hơn 70%. Trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Ninh Lai được chọn là xã điểm của huyện trong đó, xây dựng trường chuẩn quốc gia là một trong những tiêu chí quan trọng trong chương trình xây dựng nông thôn mới. Bởi lẽ, giáo dục là quốc sách hàng đầu. Chính vì vậy, nhà trường luôn đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao chất lượng dạy và học, đặc biệt hơn nữa là việc đề ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh lớp 1 vùng dân tộc thiểu số.

    Trong những năm qua Trường Tiểu học Ninh Lai đã triển khai việc dạy Tiếng Việt công nghệ đối với lớp 1- Lớp nền móng của bậc Tiểu học. Trong quá trình thực hiện và áp dụng, nhà trường đã rút ra được một số sáng kiến về các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh lớp 1 vùng dân tộc thiểu số như:

     Đẩy mạnh công tác  tuyên truyền, nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành và nhân dân đối với việc nâng cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số

     Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số

    Tham mưu các cấp có thẩm quyền, làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục đầu tư xây dựng, tu sửa cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu dạy học 2 buổi/ngày.

     

    Các phòng học được đầu tư xây dựng kiên cố

    Đối với giáo viên luôn tích cực nâng cao tinh thần tự học, tự bồi dưỡng, tham gia đầy đủ các lớp tập huấn của ngành, chú trọng đến việc cử CB, GV tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao trình độ đào tạo trên chuẩn đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp giáo dục.

    Khảo sát thực trạng học sinh, xây dựng kế hoạch phụ đạo học sinh.

    Công tác phụ đạo học sinh 

    Thực hiện tốt công tác quản lý dạy học; Tăng thời lượng dạy, đây là giải pháp vô cùng quan trọng đối với học sinh dân tộc thiểu số nhất là học sinh bắt đầu vào học lớp 1; thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá; thực hiện đầy đủ, hiệu quả các chế độ, chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với học sinh

    Đổi mới phương pháp dạy học, nhẹ nhàng  phù hợp đối tượng học sinh dân tộc thiểu số theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, phát triển các kỹ năng của người học.

     

     

    Hoạt động nhóm nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập

    Giáo viên chủ nhiệm tuyên truyền, hướng dẫn mỗi gia đình phải xây dựng được góc học tập cho con em mình.

    Nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học, qua các buổi sinh hoạt chuyên môn có chia sẻ, rút kinh nghiệm sau giờ dạy tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học.

    Tăng cường sử dụng đồ dùng dạy học và đồ dùng tự làm, khuyến khích giáo viên sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy đạt hiệu quả.

    Thường xuyên liên lạc với phụ huynh học sinh để nắm bắt các thông tin, trao đổi việc học tập của các em; Luôn quan tâm đến các đối tượng học sinh đặc biệt là các em học sinh chưa đạt chuẩn KTKN; tuyên dương học sinh kịp thời giúp học sinh tiến bộ hơn trong học tập.

    Tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa, ngày hội Đọc sách, tổ chức các sân chơi trí tuệ như “Rung chuông vàng”, các câu lạc bộ về toán, TV…; Tổ chức giao lưu kết nghĩa với trường bạn nhằm nâng cao ý thức tự học cho các em học sinh, giúp các em mạnh dạn trong giao tiếp và học hỏi lẫn nhau.

    Với một số giải pháp nói trên, chất lượng học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 1 của đơn vị trường ngày càng được nâng cao một cách rõ rệt. Tuy nhiên, thầy và trò trường tiểu học Ninh Lai vẫn không ngừng cố gắng phấn đấu và học hỏi để ngày càng có thêm nhiều kinh nghiệm hơn nữa trong việc nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh lớp 1 vùng dân tộc thiểu số, để chất lượng giáo dục của lớp 1 nói riêng và của cả cấp học nói chung ngày càng đi lên.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Đọc, Viết Tiếng Việt Cho Học Sinh Lớp 1
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2 – Tiểu Học An Hòa A
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Lớp 2
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Trong Giảng Dạy Môn Toán Lớp 5
  • Q2 Tìm Hiểu Các Biện Pháp Bảo Vệ Độ…
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học Sinh Lớp 1 Trường Tiểu Học Ninh Lai

    --- Bài mới hơn ---

  • Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Tiểu Luận Một Số Biện Pháp Quản Lí Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Trường Thcs Bạch Xa Huyện Hàm Yên
  • Luận Văn Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Ở Đơn Vị
  • Ninh Lai là một xã thuộc khu vực trung huyện của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Toàn xã có 5 dân tộc anh em chung sống, trong đó, dân tộc Sán Dìu chiếm hơn 70%. Trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Ninh Lai được chọn là xã điểm của huyện trong đó, xây dựng trường chuẩn quốc gia là một trong những tiêu chí quan trọng trong chương trình xây dựng nông thôn mới. Bởi lẽ, giáo dục là quốc sách hàng đầu. Chính vì vậy, nhà trường luôn đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao chất lượng dạy và học, đặc biệt hơn nữa là việc đề ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh lớp 1 vùng dân tộc thiểu số.

    Trong những năm qua Trường Tiểu học Ninh Lai đã triển khai việc dạy Tiếng Việt công nghệ đối với lớp 1- Lớp nền móng của bậc Tiểu học. Trong quá trình thực hiện và áp dụng, nhà trường đã rút ra được một số sáng kiến về các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh lớp 1 vùng dân tộc thiểu số như:

    Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số

    Đối với giáo viên luôn tích cực nâng cao tinh thần tự học, tự bồi dưỡng, tham gia đầy đủ các lớp tập huấn của ngành, chú trọng đến việc cử CB, GV tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao trình độ đào tạo trên chuẩn đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp giáo dục.

    Khảo sát thực trạng học sinh, xây dựng kế hoạch phụ đạo học sinh .

    Công tác phụ đạo học sinh

    hực hiện tốt công tác quản lý dạy học; ăng thời lượng dạy ây là giải pháp vô cùng quan trọng đối với học sinh dân tộc thiểu số nhất là học sinh bắt đầu vào học ; thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá; thực hiện đầy đủ, hiệu quả các chế độ, chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với học sinh

    ổi mới phương pháp dạy học phù hợp đối tượng học sinh dân tộc thiểu số theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, phát triển các kỹ năng của người học

    Hoạt động nhóm nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập

    Tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa, ngày hội Đọc sách, tổ chức các sân chơi trí tuệ như “Rung chuông vàng”, các câu lạc bộ về toán, TV…; Tổ chức giao lưu kết nghĩa với trường bạn nhằm nâng cao ý thức tự học cho các em học sinh, giúp các em mạnh dạn trong giao tiếp và học hỏi lẫn nhau.

    Với một số giải pháp nói trên, chất lượng học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 1 của đơn vị trường ngày càng được nâng cao một cách rõ rệt. Tuy nhiên, thầy và trò trường tiểu học Ninh Lai vẫn không ngừng cố gắng phấn đấu và học hỏi để ngày càng có thêm nhiều kinh nghiệm hơn nữa trong việc nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh lớp 1 vùng dân tộc thiểu số, để chất lượng giáo dục của lớp 1 nói riêng và của cả cấp học nói chung ngày càng đi lên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học Sinh Lớp 1 Vùng Dân Tộc Thiểu Số.
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Hiện Nay
  • Skkn Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tư Vấn Hướng Nghiệp Cho Học Sinh Trong Trường Thcs
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Hướng Nghiệp Ở Trường Thcs
  • Thực Hiện Nhiều Giải Pháp, Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện
  • Các Giải Pháp Cơ Bản Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đại Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Mãi Phẩm Chất Bộ Đội Cụ Hồ
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Tự Học
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp Một Hòa Nhập Nhanh
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 5 Hứng Thú Đến Trường
  • Nguyên Nhân, Giải Pháp Giúp Học Sinh Yếu Tiến Bộ
  • Chúng tôi rất vui mừng vì tham dự Hội thảo có gần 150 nhà khoa học, nhà quản lí giáo dục của gần 40 cơ sở khoa học, giáo dục ở cả ba miền đất nước và một số đồng nghiệp quốc tế. Kỷ yếu Hội thảo tập hợp 42 tham luận của các tác giả trong vào ngoài nước. Tại Hội thảo, 9 tham luận được trình bày, 25 ý kiến phát biểu, tranh luận trực tiếp. Tất cả đều là những suy nghĩ rất tâm huyết, tâm đắc, hướng tới tương lai chất lượng của GDĐH Việt Nam. Tổng kết Hội thảo quả rất khó. Chúng tôi càng chưa thể kết luận Hội thảo; bởi vì các ý kiến trong kỷ yếu và tại Hội thảo phong phú, đa chiều; hơn nữa, chúng tôi có thể chưa hiểu được hết cái hồn, cái thần, tầm cao và chiều sâu của không ít ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lí giáo dục rất có uy tín. Chỉ xin hệ thống hóa một số luận điểm chính theo các nhóm vấn đề đã được nêu trong Hội thảo rất có ý nghĩa này.

    Về quan điểm, phương pháp nhìn nhận, đánh giá chất lượng GDĐH và các giải pháp nâng cao chất lượng

    Các tham luận, ý kiến, trực tiếp hoặc gián tiếp, đều gặp gỡ ở những quan điểm, phương pháp cơ bản; rằng phải nhìn các vấn đề trong tính hệ thống, tính toàn diện, trong sự phát triển và trong hoàn cảnh lịch sử – xã hội cụ thể ở nước ta hiện nay cũng như trên thế giới. Tách giáo dục đại học khỏi những quan điểm, phương pháp nhìn nhận ấy đều sa vào chủ quan, cực đoan. Thêm nữa, không phải trực tiếp nói về giải pháp mới là giải pháp. ở đây, có không ít về vấn đề thuộc tầm vi mô, bao trùm, định hướng cho những giải pháp nâng cao chất lượng GDĐH Việt Nam. Trong ý nghĩa ấy, nó quan trọng hơn những giải pháp cơ bản cụ thể.

    Về khái niệm chất lượng giáo dục

    Chúng ta đang đánh giá chất lượng GDĐH mang tính cá nhân, chủ quan. Đây là vấn đề mang tính lịch sử – cụ thể, phụ thuộc vào hàng loạt yếu tố cụ thể (khách quan – chủ quan, bên trong – bên ngoài, qui mô – điều kiện, đầu vào – quá trình – đầu ra,v.v…).

    Đánh giá chất lượng giáo dục không đơn giản; nó phức tạp ngay từ chính khái niệm này. Trong cách hiểu phổ biến hiện nay, chất lượng giáo dục là mức độ phù hợp, mức độ đáp ứng mục tiêu đã được đề ra của một chương trình đào tạo.

    Chất lượng giáo dục không chung chung, mà luôn gắn với mục đích, mục tiêu cụ thể, bao gồm những yếu tố cả định tính, cả định lượng và không dễ “đo”. Có những yếu tố thấy kết quả ngay, song không ít yếu tố cần độ lùi thời gian để kiểm nghiệm, thử thách. Tránh nhầm lẫn đồng nhất chất lượng giáo dục với kết quả học tập hoặc với số người sau khi tốt nghiệp đại học đi làm hay thất nghiệp, dù chúng là chỉ số của chất lượng. Có nhà nghiên cứu đã phát biểu: “Sinh viên ra trường thất nghiệp nhiều hay ít không hẳn do giáo dục yếu kém mà do nền kinh tế đất nước chưa phát triển mạnh”

    Chất lượng giáo dục cũng phải được hiểu toàn diện. Nó bao gồm nhiều lĩnh vực, như :

    Có cái nhìn như vậy, chúng ta sẽ có cơ sở để đánh giá chất lượng GDĐH bình tĩnh hơn, khách quan hơn.

    Về những đặc điểm của GDĐH hiện nay và các mô hình của nó

    Nhiều tham luận chú ý những đặc điểm sau đây của GDĐH hiện nay:

    Hai đặc điểm trên không hạ thấp yêu cầu cao của tri thức và phương pháp đào tạo đại học. Đấy là bước tiến của kinh tế xã hội, sự dân chủ hóa đại học và đòi hỏi của dân trí.

    • GDĐH luôn song hành cùng nghiên cứu khoa học. Không nghiên cứu khoa học nghiêm túc không phải và không còn là đại học.

    • GDĐH mang đậm tính dân tộc, đồng thời cũng đậm tính quốc tế. Nó là đỉnh cao của tri thức quốc gia; là cửa ngõ để văn hóa, khoa học kỹ thuật quốc gia đến với thế giới và thế giới đến với quốc gia (Không ngẫu nhiên, các nguyên thủ quốc gia, khi đến thăm các nước, thường tới thăm và thuyết trình ở các đại học).

    Đấy là một số đặc điểm của GDĐH. Còn mô hình các đại học hiện nay, theo một số tham luận, đang “có vấn đề”. Chúng ta cần tham khảo mô hình đại học ở các nước châu Âu và Mỹ để áp dụng vào thực tiễn Việt Nam. Đó cũng là yêu cầu của sự liên thông đại học và công nhận bằng cấp trên bình diện quốc tế. Cần chú ý rằng bậc cao học không thuộc đào tạo sau đại học, chỉ là sự hoàn thiện bậc đại học. Đào tạo Tiến sĩ mới gọi là sau đại học.

    Trọng tâm của Hội thảo, như tên gọi của nó, hướng về các giải pháp nâng cao chất lượng GDĐH. Nhiều tham luận, ý kiến tâm đắc, mạnh dạn đề cập các vấn đề sau đây:

      Thay đổi triệt để tư duy về GDĐH, trước hết là ở các cấp quản lý. Cụ thể là:
    • Cần có cái nhìn tổng thể về mọi phương diện cơ bản của GDĐH để có hệ thống quan điểm quốc gia về nó. Cái nhìn về giáo dục phải xa hơn, rộng hơn cái nhìn về kinh tế; không nên và không thể dừng lại chỉ ở 5 – 10 hay 15 năm.

    • GDĐH hiện nay chưa theo kịp sự thay đổi của tư duy kinh tế và đời sống kinh tế đất nước. “Đại học như là doanh nghiệp, các trường đại học công lập phải nhanh chóng trở thành những tập đoàn tri thức”. Các đại học là những “nhà sản xuất” có “sản phẩm” và “khách hàng” riêng của mình là “sinh viên” và “sản phẩm nghiên cứu khoa học” cung cấp cho các công ty, xí nghiệp và cho người học, cho xã hội. Có thế mới nâng cao tính cạnh tranh của đại học. Chế độ bao cấp hiện nay khiến “sai đâu Bộ chịu”, không đại học nào chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình. Phải coi GDĐH là dịch vụ (Lợi ích công là Giáo dục phổ thông), đẩy mạnh xã hội hóa và quốc tế hóa GDĐH dưới sự kiểm soát của Nhà nước.

    • Để giải bài toán qui mô – chất lượng – điều kiện, phải “phân tầng chất lượng” các đại học. Có tầng chất lượng quốc tế, tầng chất lượng quốc gia, tầng chất lượng địa phương , cộng đồng và điều kiện đảm bảo chất lượng tương ứng.

    • Phải xây dựng và thực hiện hệ thống đảm bảo chất lượng GDĐH, bộ tiêu chí chất lượng để kiểm tra, đánh giá đại học. Trong Kỷ yếu Hội thảo, một số nhà nghiên cứu đã trình bày hệ thống và bộ tiêu chí ấy. Đã đến lúc đại học Việt Nam áp dụng.

      Nâng cao năng lực, đội ngũ quản lý và giảng viên đại học

    Đây là vấn đề vô cùng quan trọng để nâng cao chất lượng GDĐH. Không ít tham luận thẳng thắn chỉ ra: Đội ngũ này ở các đại học còn thiếu và yếu. Việc “đôn” các cao đẳng lên đại học và mở nhiều đại học dân lập trong khi chưa chuẩn bị đủ điều kiện cần thiết, cùng với việc kỷ cương ở đại học còn bị buông lỏng, càng làm cho đội ngũ đại học Việt Nam yếu hơn.

    Các tham luận đề xuất:

    • Phải quản lý đội ngũ trên cả 3 mặt: Qui hoạch phát triển, sử dụng, nuôi dưỡng môi trường.

    • Chú trọng xây dựng đội ngũ trẻ. Tăng cường cho giảng viên trẻ đi học tập ở nước ngoài. Nên giữ lại những sinh viên có khả năng nghiên cứu và tiếp tục phát triển và thi tuyển vào vị trí giảng viên ở các bộ môn.

    • Cán bộ quản lý phải được đào tạo bài bản, chú trọng năng lực thực tế và các tiêu chuẩn cần thiết khác.

    • Chế độ lương cho giảng viên đại học phải được thay đổi để khuyến khích và tạo điều kiện làm việc cho đội ngũ này.

    • Kỷ cương ở các đại học phải được thực hiện nghiêm.

      Nhìn lại mục tiêu GDĐH, thay đổi căn bản chương trình, nội dung và phương pháp dạy – học ở đại học

    Chương trình, nội dung phương pháp có ảnh hưởng quan trọng đến với chất lượng đào tạo đại học hiện nay là vấn đề nhiều tham luận quan tâm. ở góc độ nhất định, chương trình, nội dung đào tạo thế nào, chất lượng thế ấy. Tham luận của các đại biểu tập trung vào mấy vấn đề sau:

    • Chương trình, nội dung đào tạo đại học Việt Nam còn lạc hậu, được xây dựng chủ yếu bằng chủ nghĩa kinh nghiệm. “Việc sửa đổi đã và đang tiến hành không hiệu quả”. Phải chú ý đến khoa học xây dựng chương trình, tính cơ bản, tính hiện đại và thiết thực của nó.

    • Các chương trình, nội dung đào tạo còn độc lập với nhau, thiếu tính liên thông giữa các bậc học, cấp học. Điều này dẫn đến thực trạng: Học nhiều nhưng kiến thức mới không được bao nhiêu, kiến thức chưa đáp ứng tương đương trình độ.

    • Các môn chính trị thời lượng còn nhiều; cần thay đổi quan niệm về cách dạy để đạt hiệu quả cao và tăng cường hơn thời lượng cho ngoại ngữ, tin học, chuyên môn, thực hành.

    • Ở ĐH, dạy cách học, khả năng tự học, tự đọc sách, tự tìm tri thức, và dạy tư duy sáng tạo, khả năng diễn đạt, giao tiếp thực hành quan trọng hơn việc dạy tri thức.

    • Không phải trường đại học nào, bộ môn và giảng viên nào cũng nên viết và viết được giáo trình. “Công việc của trường đại học là phải xây dựng được những thư viện lớn, mua thật nhiều sách, tổ chức dịch thuật nhiều tài liệu chuyên môn. Công việc của thầy giáo là giới thiệu và hướng dẫn sinh viên những tài liệu bắt buộc hoặc cần phải đọc”. Mặt khác, công nghệ thông tin phải góp phần tích cực và hiệu quả hơn trong phương pháp dạy và học.

      Tăng cường cơ sở vật chất và tạo những điều kiện, chủ yếu là cơ chế, để các đại học nâng cao khả năng đào tạo, nghiên cứu

    Các ĐH Việt Nam còn rất nghèo, đặc biệt là quĩ đất, các phòng thí nghiệm và thư viện. Khuôn viên các ĐH Việt Nam quá nhỏ bé, thua các ĐH thế giới rất xa. Chính phủ cần có quyết sách nhanh và mạnh, cấp đất cho các ĐH.

    Học phí 125 USD/ SV/ năm học cúa các ĐH Việt Nam hiện nay là cực kì thấp so với học phí ĐH Quốc tế thuộc ĐHQG chúng tôi (2000-2500 USD), càng thấp so với ĐH Quốc tế RMIT tại Việt Nam. Đã đến lúc phải tính toán đủ chi phí đào tạo, phần Nhà nước hỗ trợ bao nhiêu, còn lại người học phải đóng, để các ĐH có nguồn lực tăng cường cơ sở vật chất.

    Nhà nước qui định để các doanh nghiệp, xí nghiệp trong và ngoài nước có sử dụng nguồn nhân lực đại học nộp mức thuế phù hợp cho đào tạo nhân lực để bổ sung vào ngân sách cho GDĐH. Đây cũng là vinh dự đóng góp cho GDĐH của các đơn vị này.

    Các cấp quản lí phải có những cơ chế về đào tạo, nghiên cứu, tài chính theo hướng phân cấp triệt để quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước xã hội cho các ĐH.

    Tại Hội thảo, vai trò của báo chí đối với GD nói chung, GDĐH nói riêng cũng được đề cập tới. Báo chí luôn đồng hành cùng GD, vì GD. Để làm tốt điều đó, báo chí phải tôn trọng tôn chỉ, mục đích; đưa tin khách quan, chính xác; đổi mới cách thức, tư duy làm báo; tăng cường thông tin về những điển hình tiên tiến, những nhân tố mới tích cực.Việc thông tin thiếu khách quan, không chính xác, dù nhỏ, cũng để lại hậu quả khá lớn, gây hoang mang dư luận, nhân dân lo lắng.

    Từ Hội thảo này, chúng tôi kiến nghị với các cấp quản lí một số vấn đề sau đây:

    1. Chỉ đạo nghiên cứu để đổi mới mạnh mẽ tư duy về GDĐH, đặc biệt về quan niệm quốc gia: GDĐH là lợi ích công hay dịch vụ xã hội; “đại học là doanh nghiệp tri thức, khoa học” dưới sự quản lí của Nhà nước?

    2. Tham khảo kinh nghiệm các nước để rút ngắn khoảng cách ĐH Việt Nam với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới.

    3. Nhanh chóng tăng cường cơ sở vật chất và và phân cấp triệt để, để tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm xã hội cho các ĐH.

    4. Đánh giá đúng thực trạng của GDĐH Việt Nam để tránh bi quan hoặc quá chủ quan. Điều cần nhất lúc này là tìm các giải pháp và điều kiện thực hiện các giải pháp để nâng cao chất lượng GDĐH Việt Nam, cùng với quyết tâm cao để thực hiện.

    Các tham luận trong Kỷ yếu và trình bày tại Hội thảo là những ý kiến rất tâm huyết, sâu sắc, bổ ích cho các cấp quản lý, các trường đại học và tất cả chúng ta – những người trong cuộc. Chúng ta đã cất tiếng nói tâm huyết, trăn trở, đầy trách nhiệm của mình. Điều rất nổi bật là chúng ta đã phát biểu rất thẳng thắn và tâm huyết. Riêng với Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh và Báo GD&TĐ, đây là những tư liệu, những gợi ý quan trọng để chúng tôi góp phần xây dựng cơ quan, xây dựng ngành.

    PGS. TSKH Bùi Mạnh Nhị

    -(Hiệu trưởng trường ĐHSP TP.HCM)

    --- Bài cũ hơn ---

  • 9 Giải Pháp Đổi Mới Toàn Diện Giáo Dục
  • Thiết Kế Giải Pháp Giá Trị, Bảng Giá 12/2020
  • Xây Dựng Giải Pháp Giá Trị
  • Giải Pháp Giá Trị Trong Mô Hình Kinh Doanh Canvas
  • Giữ Vững Và Phát Huy Phẩm Chất Bộ Đội Cụ Hồ
  • Bàn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Tác Động Của Biến Đổi Khí Hậu Đến Hòa Bình, An Ninh Quốc Tế Hiện Nay Và Đề Xuất Đối Với Việt Nam
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì? Phân Tích Các Nguyên Nhân Biến Đổi Khí Hậu
  • Vien Khoa Hoc Ky Thuat Nong Nghiep Mien Nam
  • Xây Dựng Chính Sách, Pháp Luật Và Triển Khai Các Hành Động Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam
  • Nhiều Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu
  • (QBĐT) – Sở Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) Quảng Bình vừa tổ chức hội nghị bàn giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục với sự tham dự của lãnh đạo các phòng GD-ĐT, các đơn vị trực thuộc sở.

    Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, những năm qua, ngành GD-ĐT Quảng Bình đã có nhiều chuyển biến tích cực qua từng năm học. Đặc biệt, chất lượng dạy và học từng bước được nâng lên, cơ sở vật chất giáo dục, xây dựng đội ngũ được quan tâm đầu tư, chất lượng mũi nhọn và đại trà có nhiều khởi sắc.

     

    Các đại biểu dự hội nghị.

    Theo đó, các giải pháp được các đại biểu đề xuất để nâng cao chất lượng giáo dục, đó là: Tăng cường công tác quản lý nhà nước, các nguồn lực đầu tư, cải cách hành chính về GD-ĐT; đẩy mạnh công tác thanh tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm; chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ, bồi dưỡng, nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ quản lý giáo dục; triển khai có hiệu quả chương trình, SGK giáo dục phổ thông mới; đẩy mạnh công tác kiểm định chất lượng giáo dục, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia…

     

    Các đại biểu cũng thống nhất các vấn đề về quan tâm đến bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, khắc phục tính rụt rè, thiếu mạnh dạn của cả giáo viên và học sinh; tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, giáo dục thể chất cho học sinh, sinh viên, bảo đảm an toàn trường học.

     

    Mặt khác, đẩy mạnh công tác truyền thông về GD-ĐT, tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức và hành động, sự đồng thuận của mọi tầng lớp nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới GD-ĐT, nhất là việc đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông.

     

    A.T

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Nghề Nghiệp
  • Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục – Đào Tạo
  • Skkn Một Số Giải Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Quốc Phòng Và An Ninh
  • Hội Thảo Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy, Học Tập Môn Giáo Dục Quốc Phòng – An Ninh Ở Các Trường Đại Học Hiện Nay, Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100