Hà Nội Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Của Công An Xã

--- Bài mới hơn ---

  • Tổng Kết 6 Năm Thực Hiện Chủ Trương Bố Trí Công An Chính Quy Tại Xã Trọng Điểm, Phức Tạp Về An Ninh, Trật Tự .công An Tra Vinh
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Lực Lượng Công An Chính Quy Về Đảm Nhiệm Chức Danh Công An Xã
  • Bộ Trưởng Tô Lâm: Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Công An Xã Chính Quy Tại Cơ Sở
  • Xây Dựng Lực Lượng Công An Xã Chính Quy
  • Bố Trí Công An Chính Quy Về Xã: Hiệu Quả Bước Đầu
  • Việc sắp xếp, bố trí lực lượng này đang được Công an TP Hà Nội báo cáo Chủ tịch UBND TP Hà Nội triển khai thực hiện theo Thông tư số 15/TT-BCA, đảm bảo đúng theo nguyên tắc và đây cũng là một trong những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Công an xã trên địa bản Thủ đô giai đoạn 2022 – 2022.

    Bên cạnh đó, Công an Hà Nội cũng tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao trình độ cho lực lượng Công an xã, đảm bảo mục tiêu toàn bộ Trưởng Công an xã, Phó trưởng Công an xã đều qua lớp Trung cấp Công an; các Công an viên đều được tập huấn về chính trị, pháp luật, nghiệp vụ, điều lệnh, quân sự, võ thuật CAND; đồng thời đẩy mạnh phong trào “Thi đua vì An ninh Tổ quốc” trong lực lượng Công an xã.

    Theo báo cáo của Công an TP Hà Nội, qua 7 năm thực hiện Pháp lệnh Công an xã (2008), lực lượng Công an xã của thành phố đã chấp hành nghiêm chỉnh các văn bản chỉ đạo của cấp trên trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn; chủ động tham gia nắm tình hình toàn diện các mặt công tác, kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chính quyền cơ sở triển khai thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự. Công an xã là lực lượng nòng cốt trong phong trào Toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc, tham gia tích cực việc giải quyết mâu thuẫn nội bộ nhân dân, phối hợp duy trì trật tự an toàn giao thông, tham gia bảo vệ các sự kiện quan trọng.. Thiếu tướng Đoàn Duy Khương, Giám đốc Công an TP Hà Nội cho biết: Trong tình hình mới, thực hiện Chỉ thị của Bộ Công an, Công an thành phố sẽ bổ sung, hoàn thiện chương trình, nội dung để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện Công an xã, bảo đảm Công an xã có phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm trong công tác, gắn bó với nhân dân, nắm vững qui định của pháp luật. Công an xã phải là lực lượng biết tổ chức phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hoạt động phạm tội và hành vi vi phạm pháp luật, giải quyết và xử lý vụ việc xảy ra ở cơ sở theo đúng pháp luật.

    Công an TP Hà Nội sẽ đánh giá, có kế hoạch trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ và phương tiện phục vụ hoạt động cho Công an xã, trước mắt ưu tiên cho các xã trọng điểm, phức tạp về an ninh trật tự.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Lực Lượng Công An Xã
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Công An Các Xã, Thị Trấn
  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Của Lực Lượng Công An Xã Trong Tình Hình Mới
  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công An Xã, Xây Thế Trận An Ninh Nông Thôn (3)
  • Skkn: Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Cho Học Sinh Học Môn Hình Học 8
  • Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Bvmt

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Tiễn Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tham Mưu Cho Cấp Ủy Công Tác Bảo Vệ Và Xử Lý Ô Nhiễm Môi Trường
  • Đông Hải: Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Công Tác Bảo Vệ Môi Trường
  • Nhiệm Vụ Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Phòng An Ninh Của Đảng Ta 2022
  • Trình Bày Nhiệm Vụ, Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Phòng An Ninh ? Liên Hệ Thực Tế?
  • Trinh Bày Nhiệm Vụ Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực An Ninh Quốc Phòng? Liên Hệ Thực Tế
  • Thứ tư – 28/10/2015 10:12

    Kiện toàn tổ chức bộ máy

    Bao gồm:

    – Tiếp tục kiện toàn, củng cố hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về BVMT từ cấp tỉnh đến cấp xã, bảo đảm ở cấp huyện có cán bộ lãnh đạo phụ trách bộ phận quản lý môi trường, cấp xã có cán bộ phụ trách công tác BVMT;

    – Rà soát, làm rõ nội dung, xử lý dứt điểm tình trạng chồng chéo, vướng mắc, phân tán trong phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước, tập trung đầu mối quản lý nhà nước về BVMT.

    Tăng cường công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

    Bao gồm:

    – Chú trọng phát triển nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo chuyên môn, kỹ năng, kiến thức quản lý, ngoại ngữ bảo đảm nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu về BVMT trong thời kỳ mới;

    – Tăng cường phát triển nguồn nhân lực quản lý môi trường ở các doanh nghiệp.

    Phát triển khoa học công nghệ

    – Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học về môi trường, phát triển và ứng dụng công nghệ cao trong BVMT, phát huy vai trò của khoa học và công nghệ trong việc thúc đẩy, nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh;

    – Nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ về BVMT, xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, sự cố môi trường và BĐKH;

    – Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, dự báo, cảnh báo về tài nguyên, môi trường. Hiện đại hóa trang thiết bị, kỹ thuật phục vụ nghiên cứu, đánh giá về môi trường;

    – Tăng cường quan hệ hợp tác, tham gia tích cực các diễn đàn về khoa học công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực môi trường;

    – Xây dựng cơ chế, chính sách trợ giá; khuyến khích người dân tiêu dùng, sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường, sử dụng năng lượng sạch, tái tạo, các sản phẩm tái chế nhằm hỗ trợ ngành kinh tế môi trường phát triển;

    – Triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học, xây dựng luận cứ khoa học phục vụ công tác hoạch định chính sách, kế hoạch về BVMT của tỉnh;

    – Nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ trong xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái và sự cố môi trường, tăng cường áp dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, các công nghệ sạch, thân thiện với môi trường. Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực BVMT. Tăng cường các trang thiết bị, kỹ thuật phục vụ công tác nghiên cứu, đánh giá về BVMT.

    – Có lộ trình thay thế xăng A92 bằng xăng sinh học E5.

    12.3.4. Thực hiện giải pháp thúc đẩy, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế đa phương và song phương

    Bao gồm:

    – Hợp tác chặt chẽ với các nước láng giềng và các nước trong khu vực để giải quyết các vấn đề môi trường liên quốc gia;

    – Tham gia tích cực vào các hoạt động quốc tế và khu vực vì môi trường, ứng phó BĐKH; thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, chương trình, dự án song phương và đa phương về BVMT phù hợp với lợi ích quốc gia;

    – Nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới về quản lý môi trường, BVMT tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, tiết kiệm năng lượng vận dụng, áp dụng vào địa phương;

    – Tranh thủ tối đa nguồn hỗ trợ tài chính, kỹ thuật từ các nước, các tổ chức quốc tế và cá nhân cho công tác BVMT, ứng phó BĐKH.

    Tăng cường công tác đầu tư phát triển, nâng cao năng lực về cơ sở vật chất

    Bao gồm:

    – Đa dạng hóa đầu tư BVMT, thực hiện các cơ chế, chính sách, biện pháp cụ thể để khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư BVMT; triển khai mạnh mẽ mô hình hợp tác công – tư (PPP); thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn vay ưu đãi, vốn hỗ trợ phát triển từ các tổ chức quốc tế và Chính phủ cho BVMT ở địa phương, đặc biệt là trong việc khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên và ĐDSH;

    – Tăng cường nguồn vốn đầu tư cơ bản cơ sở hạ tầng về xử lý môi trường cho tỉnh Quảng Trị, đặc biệt là đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải đô thị, hệ thống xử lý nước thải tập trung ở các KCN, CCN, xử lý rác thải;

    – Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động BVMT; phát triển các dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải và các dịch vụ khác BVMT với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế;

    – Thành lập và tăng cường năng lực cho Quỹ BVMT của tỉnh nhằm thu hút nguồn lực để hỗ trợ kịp thời cho các hoạt động BVMT;

    – Tăng cường năng lực cơ sở vật chất, trang thiết bị cho Chi cục BVMT; năng lực quan trắc môi trường cho Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật môi trường;

    – Sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường; phát huy vai trò, trách nhiệm của ngành tài nguyên và môi trường trong phân bổ, giám sát các nguồn chi ngân sách cho BVMT, bảo đảm nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường được sử dụng gắn với trách nhiệm BVMT; bảo đảm mức và cơ cấu đầu tư cho BVMT hợp lý trong đầu tư phát triển, trong sản xuất, kinh doanh.

    Thực hiện đổi mới phương thức vận hành và cải cách hành chính

    Bao gồm:

    – Tăng cường công tác cải cách thủ tục hành chính để nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật về BVMT;

    – Hoàn thiện và cải tiến bộ thủ tục hành chính về môi trường từ cấp tỉnh đến cấp huyện theo quy định của Luật BVMT năm 2014, đảm bảo hoạt động hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính;

    – Xây dựng, hoàn thiện Hệ thống cơ sở dữ liệu môi trường nhằm thống nhất quản lý, lưu trữ dữ liệu, liên kết cơ sở dữ liệu quản lý môi trường giữa cấp tỉnh và cấp huyện phục vụ đắc lực cho công tác quản lý môi trường trên địa bàn;

    – Đẩy mạnh áp dụng Hệ thống quản lý môi trường theo Tiêu chuẩn ISO 14000 trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Các Giải Pháp Thực Hiện Quyền Và Bảo Vệ Trẻ Em
  • Toàn Dân Chăm Sóc, Bảo Vệ Trẻ Em
  • Nỗ Lực Triển Khai Các Giải Pháp Bảo Vệ, Chăm Sóc Trẻ Em
  • Đa Dạng Giải Pháp Chăm Sóc, Bảo Vệ Trẻ Em
  • Tăng Cường Các Giải Pháp Bảo Đảm Thực Hiện Quyền Trẻ Em Và Bảo Vệ Trẻ Em Trong Ngành Giáo Dục
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Việc

    --- Bài mới hơn ---

  • Cải Thiện Điều Kiện Và Môi Trường Làm Việc, Giảm Thiểu Tai Nạn Lao Động, Bệnh Nghề Nghiệp
  • Một Số Giải Pháp Cải Thiện Điều Kiện Làm Việc Trong Các Cơ Sở Cán Kéo Thep Quy Mô Nhỏ Tại Miền Trung
  • Đề Tài Biện Pháp Nâng Cao Kết Quả Học Tập, Điểm Cao, Hot 2022
  • Bài Tham Luận Một Số Biện Pháp Nâng Cao Kết Quả Học Tập Của Sinh Viên
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Công Nghệ Sao Vàng Svc
  • Nâng cao chất lượng công việc là thiết kế lại nội dung công việc để nó có ý nghĩa hơn và đem lại sự phấn khởi qua việc tạo điều kiện cho công nhân tham gia vào việc hoạch định, tổ chức, điều khiển công việc của họ.

    Việc nâng cao chất lượng công việc giả định là có rất nhiều công việc chuyên môn mà những người công nhân không thể nào hình dung được là làm sao họ có thể góp phần vào mục đích chung.

    Người công nhân cả ngày chỉ biết siết ốc vào bù lông sẽ quên mọi việc khác như ốc dùng để giữ bánh xe trong 1 xe mới và sự an toàn của gia đình anh phụ thuộc vào sự làm việc cần cù chăm chỉ của anh.

    Nâng cao chất lượng công việc không chỉ mang lại sự hài lòng không thôi, mà nó còn làm cho việc tổ chức thêm hiệu quả. Nhiều nhà quản lý cảm thấy mục tiêu của nâng cao chất lượng công việc và nâng cao hiệu quả không những chỉ thích hợp với nhau mà còn là bộ phận cần thiết cho nhau. Họ tranh cãi với nhau là khó có thể kéo dài việc sản xuất mà không có sự thích thú trong công việc, và việc nâng cao chất lượng công việc sẽ giúp giải quyết vấn đề này.

    Hai điều kiện cần có thể thiết lập hiệu quả của việc nâng cao chất lượng công việc:

    – Việc quản lý phải cung cấp thông tin, mục tiêu và hiệu suất công tác mà trước đây không thích hợp với những công nhân.

    – Một bầu không khí tổ chức thích đáng được thiết lập để đưa đến thành công, trước hết bầu không khí này không được gợi ý quá đáng đến việc kiểm tra cách cư xử riêng của từng người trong cơ cấu tổ chức.

    Hai điều kiện này có thể định hướng bởi quan điểm quản lý truyền thống:

    Thứ nhất, Từng người làm công đều được xem là nhà quản lý. Mỗi người phải cỏ quan hệ với các hoạt động về quản lý kế hoạch, tổ chức, kiểm tra công việc của mình. Đó là mục tiêu cơ bản của việc nâng cao chất lượng công việc.

    Thứ hai, Cơ cấu tổ chức phải cố gắng biến công việc thành trò chơi – làm cho công việc trở nên vui vè. Nếu công việc của một công nhân được phân bố nghĩa là nó mang lại phần thưởng trò chơi đã được chơi, mục tiêu thấy được và có ý nghĩa, thông tin phản hồi tức khắc, sự liên kết nhóm nảy sinh, và những công nhân sẽ phấn khởi với công việc của họ. Ngoài ra, chúng ta nên phân bố một số phần thưởng cho công việc nhằm kích thích động viên người lao động.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ
  • Nâng Cao Chất Lượng Nhân Sự Nhờ Quản Lý Công Việc Hiệu Quả
  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công Việc, Hoàn Thành Xuất Sắc Nhiệm Vụ Được Giao Năm 2022
  • Giải Đề Án Case 008: Để Nhân Viên Gắn Bó Với Nơi Làm Việc
  • Làm Như Thế Nào Để Nhân Viên Gắn Bó Lâu Dài Với Công Ty?
  • Đề Xuất Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bảo Đảm An Sinh Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng An Sinh Xã Hội Cho Tương Lai
  • Tập Trung Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Đảm Bảo An Sinh Xã Hội
  • Đồng Bộ Các Giải Pháp Đảm Bảo An Toàn Thực Phẩm Tại Nông Thôn
  • An Toàn Thực Phẩm Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Đồng Bộ Giải Pháp Đảm Bảo An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm
  • Nhà nước ta luôn xác định bảo đảm tốt an sinh xã hội là một chủ trương, có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự sự ổn định chính trị xã hội và phát triển bền vững của đất nước. Công tác xóa đói, giảm nghèo đã được Đảng và Nhà nước tập trung chỉ đạo, thực hiện với nhiều chính sách, chương trình, dự án và huy động các nguồn lực của toàn xã hội để triển khai, giúp người nghèo tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng, nhất là y tế, giáo dục, dạy nghề, nhà ở, nước sinh hoạt; hỗ trợ sản xuất thông qua các chính sách về bảo đảm đất sản xuất, tín dụng ưu đãi, khuyến nông – lâm – ngư, phát triển ngành nghề; phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn.

    Để hiện thực hóa các mục tiêu về an sinh xã hội, các đại biểu cho rằng cần tập trung thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp: đẩy mạnh tạo việc làm, phát triển thị trường lao động tích cực, gắn với triển khai các chương trình phát triển kinh tế – xã hội; phát triển hệ thống bảo hiểm đồng bộ, đa dạng, chất lượng ngày càng được nâng cao. Các chính sách và giải pháp để xóa đói giảm nghèo bền vững được triển khai đồng bộ; tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt chính sách đối với người có công và các chính sách trợ giúp xã hội; không ngừng nâng cao phúc lợi xã hội và phát triển đa dạng hệ thống các dịch vụ xã hội cơ bản…

    Các ý kiến tại Hội thảo sẽ được Hội đồng Lý luận Trung ương tập hợp, chắt lọc để đề xuất các kiến nghị với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương về mục tiêu, quan điểm và giải pháp chủ yếu, nhất là những giải pháp mới có tính đột phá, khả thi cao, bảo đảm nâng cao rõ rệt chất lượng và hiệu quả an sinh xã hội ở đất nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tphcm Với Giải Pháp Bảo Đảm An Sinh Xã Hội
  • Bắc Ninh: Đồng Bộ Các Giải Pháp Đảm Bảo An Sinh Xã Hội
  • Tăng Cường Các Giải Pháp Để Thực Hiện Tốt Chính Sách An Sinh Xã Hội
  • Tăng Cường Vai Trò Thực Hiện An Sinh Xã Hội Của Doanh Nghiệp Việt Nam
  • An Sinh Xã Hội Cho Người Cao Tuổi: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Mấy Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kế Hoạch

    --- Bài mới hơn ---

  • Báo Cáo Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Lớp Ghép Năm Học 2014
  • Nâng Cao Chất Lượng Lập Pháp Của Quốc Hội
  • Tiếp Tục Nâng Cao Chất Lượng Lập Pháp Của Quốc Hội
  • Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Lập Pháp Của Quốc Hội
  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công Tác Xây Dựng Pháp Luật
  • Công tác kế hoạch – tổng hợp là khâu trung tâm, bảo đảm cho hoạt động công tác đảng, công tác chính trị ở các cơ quan, đơn vị được tiến hành chặt chẽ, thống nhất, chất lượng, hiệu quả, góp phần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Vì thế, tìm ra các giải pháp để nâng cao chất lượng công tác này là vấn đề rất quan trọng.

    Thực tiễn cho thấy, công tác kế hoạch – tổng hợp có vai trò to lớn đối với chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị. Bởi vậy, cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên và cơ quan chính trị các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện khá tốt công tác này.

    Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác đảng, công tác chính trị trong tình hình mới, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị đã lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung: “Quy chế công tác kế hoạch – tổng hợp về công tác đảng, công tác chính trị; Quy định hệ thống văn kiện công tác đảng, công tác chính trị; Quy định tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam”. Cùng với đó là những hướng dẫn cụ thể để tổ chức thực hiện chặt chẽ, thống nhất trong toàn quân. Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị ở các cơ quan, đơn vị; bảo đảm công tác đảng, công tác chính trị thật sự là “linh hồn, mạch sống” trong các hoạt động của bộ đội, tinh thần đoàn kết, thống nhất được giữ vững; nhận thức chính trị, quyết tâm phấn đấu và ý thức, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ không ngừng được nâng lên; hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” lan tỏa trong toàn xã hội, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Quân đội.

    Tuy vậy, trong quá trình tổ chức thực hiện đã bộc lộ một số hạn chế, như: việc nghiên cứu, quán triệt, cụ thể hóa quy chế, quy định, hướng dẫn thực hiện ở một số nơi, nhất là cấp cơ sở chưa sâu, chưa kỹ; chất lượng xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch, chương trình và báo cáo kết quả công tác đảng, công tác chính trị chưa cao; đăng ký, ghi chép sổ sách có nội dung chưa thống nhất; cá biệt, có đơn vị còn tự bổ sung thêm đầu sổ ngoài quy định; việc áp dụng tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị ở một số đơn vị còn biểu hiện hình thức, chạy theo thành tích, v.v. Những hạn chế đó, phần nào dẫn đến chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị và hoạt động lãnh đạo, chỉ huy ở một số cơ quan, đơn vị chưa cao (còn biểu hiện mất đoàn kết nội bộ); cán bộ, đảng viên, chiến sĩ vi phạm kỷ luật phải xử lý kỷ luật (có trường hợp bị tước quân tịch), v.v. Để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác đảng, công tác chính trị, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới, cần tiến hành đồng bộ nhiều nội dung, giải pháp; trong đó, nâng cao chất lượng công tác kế hoạch – tổng hợp là giải pháp đặc biệt quan trọng. Phạm vi bài viết xin trao đổi một số nội dung chủ yếu sau:

    1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, trình độ, năng lực của chủ thể tiến hành công tác kế hoạch – tổng hợp về công tác đảng, công tác chính trị. Đây là nội dung quan trọng hàng đầu; bởi mọi hoạt động thực tiễn đều phụ thuộc vào nhận thức, trách nhiệm và năng lực của chủ thể tiến hành. Chủ thể của công tác này bao gồm: chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo và chủ thể quản lý, hướng dẫn, điều hành tổ chức thực hiện.

    Đối với chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo (là hệ thống cấp ủy, tổ chức đảng các cấp từ Quân ủy Trung ương đến chi bộ ở các cơ quan, đơn vị), cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác kế hoạch – tổng hợp; thấy rõ việc nâng cao chất lượng công tác này là nhiệm vụ chính trị quan trọng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và phải được thể hiện rõ trong nghị quyết của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp. Việc nâng cao chất lượng công tác kế hoạch – tổng hợp phải phù hợp với phương hướng, mục tiêu, yêu cầu, nội dung công tác đảng, công tác chính trị và tình hình thực tiễn của cơ quan, đơn vị, bảo đảm tính khả thi cao; tổ chức thực hiện phải chặt chẽ, nghiêm túc; khắc phục triệt để tình trạng “khoán trắng” cho cơ quan chính trị, hoặc phó mặc cho cơ quan (cán bộ) chuyên trách trong quá trình tiến hành công tác này.

    Đối với chủ thể quản lý, hướng dẫn, tổ chức thực hiện (gồm cán bộ chủ trì, hoặc đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị, cơ quan chính trị và cơ quan, cán bộ chuyên trách), đây là đội ngũ cán bộ giữ trọng trách định hướng chính trị – “linh hồn, mạch sống” trong mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị. Hơn ai hết, họ phải luôn nhận rõ, việc nâng cao chất lượng công tác kế hoạch – tổng hợp vừa là tiền đề, vừa là cơ sở, điều kiện để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị. Vì thế, chính ủy, chính trị viên, người đứng đầu cấp ủy các cấp cần thường xuyên tự quán triệt, học tập, tích lũy kinh nghiệm, không ngừng nâng cao trình độ, năng lực thực tiễn trong chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, kiểm soát công tác kế hoạch – tổng hợp về công tác đảng, công tác chính trị. Cơ quan chính trị, cán bộ chuyên trách các cấp – lực lượng nòng cốt, trực tiếp tham mưu, đề xuất, giúp cấp ủy, cán bộ chủ trì tổ chức thực hiện phải thường xuyên quán triệt tốt sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, sự điều hành, hướng dẫn, phân công của chính ủy, chính trị viên; tích cực tự nghiên cứu, học tập nâng cao trình độ, năng lực và bám sát thực tiễn, tình hình nhiệm vụ, kịp thời khắc phục những khâu yếu, mặt yếu, tham mưu đúng, trúng, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.

    2. Hoàn thiện hệ thống quy chế, quy định; nâng cao chất lượng nội dung, hình thức, quy trình công tác kế hoạch – tổng hợp phù hợp với thực tiễn. Quy chế, quy định là hành lang pháp lý trong quá trình thực hiện; nội dung, hình thức phù hợp với thực tiễn không chỉ bảo đảm tính khả thi cao mà còn trực tiếp nâng cao chất lượng công tác kế hoạch – tổng hợp. Trước sự phát triển về nhiệm vụ công tác đảng, công tác chính trị của Quân đội trong tình hình mới, có những nội dung trong quy chế, quy định công tác kế hoạch – tổng hợp sẽ lạc hậu, không còn phù hợp, dẫn đến hạn chế về chất lượng công tác này. Vì vậy, thường xuyên rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định công tác kế hoạch – tổng hợp ở các cấp, các cơ quan, đơn vị, bảo đảm tính khoa học. Sự thống nhất trong toàn quân là vấn đề cấp thiết, đòi hỏi cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên và cơ quan chính trị các cấp cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, đúng quy trình và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho quá trình tiến hành. Đội ngũ cán bộ chuyên trách – lực lượng trực tiếp tiến hành phải nêu cao trách nhiệm, tích cực rà soát, tham mưu đúng, trúng; nội dung sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện phải phù hợp với hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ thường xuyên, cũng như trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và tính đặc thù của từng cơ quan, đơn vị, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống. Đồng thời, phải thống nhất với điều lệnh, điều lệ của Quân đội, pháp luật của Nhà nước, đúng với cơ chế tổ chức sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội.

    Căn cứ hệ thống quy chế, quy định về công tác đảng, công tác chính trị, mỗi cơ quan, đơn vị xác định nội dung công tác kế hoạch – tổng hợp phù hợp với chức năng, nhiệm vụ chính trị và tính chất đặc thù của cơ quan, đơn vị mình. Quá trình đề xuất xây dựng, triển khai phải nghiên cứu, quán triệt, thực hiện đúng nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cấp mình, kế hoạch, hướng dẫn của cơ quan chức năng cấp trên,… xác định đúng, trúng nội dung, phù hợp với từng nhiệm vụ cụ thể. Xuất phát từ thực tiễn và nội dung cụ thể để vận dụng linh hoạt các hình thức, biện pháp tiến hành, bảo đảm chất lượng, hiệu quả công tác kế hoạch – tổng hợp; tránh tình trạng dập khuôn máy móc, hay cứng nhắc trong quá trình tiến hành.

    3. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách, đổi mới phong cách, phương pháp công tác kế hoạch – tổng hợp. Đội ngũ cán bộ chuyên trách là lực lượng nòng cốt, trực tiếp tiến hành và quyết định chất lượng công tác này ở các cơ quan, đơn vị. Vì thế, cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị và cơ quan chức năng các cấp cần thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, kiện toàn đủ về số lượng, đúng về cơ cấu biên chế, tốt về chất lượng và có nguồn dự trữ để đội ngũ cán bộ này luôn đáp ứng tốt yêu cầu phát triển của nhiệm vụ. Làm tốt việc quy hoạch, sử dụng, đưa đi đào tạo, đào tạo lại, tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ; chú trọng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, phương pháp công tác, trình độ, năng lực thực tiễn, nhất là kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm tiến hành công tác kế hoạch – tổng hợp cho đội ngũ cán bộ chuyên trách. Đồng thời, quan tâm đúng mức và giải quyết tốt chế độ, chính sách,… để họ yên tâm công tác, tích cực, tự giác tu dưỡng, rèn luyện, ra sức học tập để tự hoàn thiện bản thân, phấn đấu hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.

    Cùng với đó, cấp ủy, chỉ huy, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng và chính ủy, chính trị viên các cấp cần thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, hướng dẫn, bồi dưỡng về phong cách, phương pháp làm việc cho đội ngũ cán bộ chuyên trách. Cụ thể hóa các tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức và phong cách, phương pháp làm việc: “khoa học, chặt chẽ, sâu sát, tỉ mỉ”, giải quyết tốt các mối quan hệ: “đối với mình, đối với người, đối với công việc” và phong cách: tư duy, diễn đạt, ứng xử,… để mỗi cán bộ làm công tác kế hoạch – tổng hợp hợp “tự soi”, “tự sửa” hằng ngày, không ngừng nâng cao trách nhiệm, chất lượng, hiệu quả công tác theo chức trách, nhiệm vụ được giao.

    Đại tá ĐỖ KHẮC CẨN, Phó Chánh Văn phòng Tổng cục Chính trị

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Và Tiến Độ Trong Lập Và Phát Hành Báo Cáo Kiểm Toán
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Kháng Nghị Phúc Thẩm
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kháng Nghị Phúc Thẩm Đối Với Án Bản Án, Quyết Định Dân Sự, Hành Chính…
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kháng Nghị Phúc Thẩm Hình Sự Ở Cấp Huyện
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kháng Nghị Phúc Thẩm Hình Sự
  • Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Trình Giao Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • Sở Gtvt Nghệ An: Tăng Cường Giải Pháp Quản Lý Chất Lượng Công Trình Giao Thông
  • Rèn Luyện Kỹ Năng Giao Tiep Và Ứng Xử Sư Phạm
  • Đề Tài Một Số Phương Pháp Rèn Luyện Kỹ Năng Giao Tiếp
  • Giao Tiếp Sư Phạm Mầm Non: Thực Trạng Và Giải Pháp Bồi Dưỡng
  • Luận Văn: Kỹ Năng Giao Tiếp Của Giáo Viên Mầm Non Với Trẻ, Hot
  • Tham dự Hội thảo còn có các nhà khoa học thuộc Hội Khoa học kỹ thuật cầu đường Việt Nam, Viện Khoa học và công nghệ Giao thông vận tải, Trường Đại học GTVT Hà Nội, Đại học Xây dựng, Đại học Công nghệ GTVT, đại diện các cơ quan tham mưu của Bộ GTVT, Cục Quản lý xây dựng và chất lượng công trình giao thông….

    Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Đông chủ trì Hội thảo

    Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Đông nhấn mạnh sự phát triển của ngành gắn liền với các công trình giao thông, nhiều công trình giao thông mang dấu ấn, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế năng lực của các đơn vị được nâng cao. Thời gian tới nhiều công trình trọng diểm được triển khai thi công như Cảng hàng không Long Thành, đường cao tốc Bắc – Nam, cảng Lạch Huyện… đặt ra nhiều thách thức đối với Ngành GTVT. Do đó để có công trình đảm bảo chất lượng bên cạnh việc các cơ quan đơn vị quản lý nhà nước thực hiện đúng vai trò trách nhiệm của mình theo đúng quy định của pháp luật còn đòi hỏi phải tiếp tục nâng cao chất lượng các khâu từ thiết kế, chuẩn bị dự án đến công tác thi công. Thứ trưởng mong các đại biểu tham dự Hội thảo sẽ cùng với Bộ đưa ra các giải pháp để tiếp tục nâng cao chất lượng xây dựng các công trình giao thông. Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Đông cũng yêu cầu Cục Quản lý xây dựng và chất lượng công trình giao thông với , tiếp thu đầy đủ các ý kiến tại Hội thảo, tổng hợp và tham mưu cho lãnh đạo Bộ có những cải cách để nâng cao chất lượng xây dựng các công trình giao thông.

    Đại diện nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học về xây dựng và giao thông đã tới dự

    Theo ông Lê Kim Thành, Cục trưởng Cục Quản lý xây dựng và chất lượng công trình giao thông, từ năm 2022 đến nay, ngành GTVT đã hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng khoảng 218 công trình, dự án. Các công trình đưa vào khai thác đều cơ bản đảm bảo chất lượng theo yêu cầu thiết kế, an toàn công trình, số lượng các công trình quy mô lớn, đạt chất lượng cao ngày càng nhiều hơn như cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, đường nôi Nhật Tân – Nội Bài, hầm đường bộ Đèo Cả, cầu Cao Lãnh,… Để thực hiện công tác quản lý nhà nước về chất lượng công trình, bên cạnh việc chủ động tham gia xây dựng góp ý Luật và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Đất đai,… Bộ GTVT cũng đã ban hành nhiều văn bản để tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong quản lý đầu tư xây dựng, yêu cầu các chủ thể tham gia thực hiện nghiêm túc các quy định về áp dụng hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm tăng cường chất lượng thiết kế và thi công.

    Bên cạnh những kết quả đã đạt được, ông Lê Kim Thành cũng nêu ra những hạn chế tồn tại đối với chất lượng các công trình xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông như chậm khắc phục sửa chữa trong thực hiện trách nhiệm bảo hành công trình, vẫn còn những hư hỏng cục bộ sau khi công trình mới đưa vào khai thác…

    Ngoài ra các đại biểu cũng kiến nghị đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp kỹ thuật – công nghệ tiến tiến nhằm đẩy nhanh tiến độ thi công, nâng cao chất lượng, tiết kiệm nguyên vật liệu góp phân giảm giá thành xây dựng. Đối với các công trình giao thông ở địa hình vùng đồi núi, ngập lụt và có tính chất kỹ thuật phức tạp cần sử dụng các giải pháp thiết ké xây dựng đột phá. Khuyến khích tổ chức thực hiện và có chứng chỉ quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO ở tất cả các khâu từ quản lý văn phòng đến thực địa; đẩy mạnh việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chí ISO 9001-2015 tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng. Tăng cường công tác đấu thầu các hợp đồng tư vấn giám sát, tư vấn kiểm định qua mạng; sử dụng phương pháp chấm điểm kết hợp giữa điểm kỹ thuật và giá, thay cho chọn phương pháp giá thấp nhất để đánh giá lựa chọn nhà thầu. Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra công tác tư vấn giám sát, tư vấn kiểm định tại các dự án, đặc biệt là các phòng thí nghiệm, các thiết bị thí nghiệm sử dụng cho công tác kiểm định. Tăng cường triển khai thực hiện công tác quản lý chất lượng từ thiết kế, thẩm tra, thẩm định đến triển khai xây dựng tại các dự án xây dựng công trình giao thông.

    Kết thúc Hội thảo, Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Đông cảm ơn ý kiến đóng góp của các đại biểu, Thứ trưởng yêu cầu Cục Quản lý xây dựng và chất lượng công trình giao thông, Vụ Khoa học – Công nghệ, Viện Khoa học Công nghệ GTVT tiếp thu ý kiến của các đại biểu, đồng thời xây dựng các chuyên đề nghiên cứu để hoàn thiện các quy định các văn bản quy phạm pháp luật nâng cao chất lượng xây dựng công trình giao thông.

    D.T

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Vài Biện Pháp Phòng Chống Các Tệ Nạn Xã Hội Xâm Nhập Học Đường Skkn Doc
  • Đa Dạng Biện Pháp Phòng, Chống Tệ Nạn Xã Hội Tại Cơ Sở
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 8
  • Quân Đội Góp Sức Phòng, Chống Ma Túy
  • Đẩy Mạnh Tuyên Truyền Phòng, Chống Tội Phạm Và Tệ Nạn Xã Hội
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Lớp 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giải Toán Có Lời Văn Cho Học Sinh Lớp 2 – Tiểu Học An Hòa A
  • Nâng Cao Chất Lượng Đọc, Viết Tiếng Việt Cho Học Sinh Lớp 1
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học …
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Tiết Học Tin Học Ở Bậc Tiểu Học : Phòng Gd&đt Nam Trực
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Thể Dục Và Các Hoạt Động Thể Dục Thể Thao Ở Trường Tiểu Học
  • Nguyễn Thị Hồng Hương

    Website Trường Tiểu Học Bắc Hà – TP Hà Tĩnh

    Thứ ba – 27/11/2018 21:04

    •  
    •  
    •  

    Trước hết chúng ta phải khẳng định lại rằng: chương trình lớp 2 có vai trò, vị trí dặc biệt quan trọng trong CTGDTH, giai đoạn học lớp 2 là bước nền tảng đối với việc hình thành các kĩ năng của HSTH. Trong năm học 2022-2019, sở GDDT chúng ta lựa chọn lớp là khâu đột phá trong việc dạy học ở tiểu học

    Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Hồng Hương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Trong Giảng Dạy Môn Toán Lớp 5
  • Q2 Tìm Hiểu Các Biện Pháp Bảo Vệ Độ…
  • Các Biện Pháp Khắc Phục Ô Nhiễm Môi Trường Dễ Làm, Hiệu Quả
  • Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Nhiệm Vụ Cấp Bách Bảo Vệ Môi Trường Thủ Đô Hà Nội
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nông Sản

    --- Bài mới hơn ---

  • Hợp Tác Để Nâng Cao Chất Lượng Cho Nông Sản Đbscl
  • Giải Pháp Quan Trọng Nâng Cao Chất Lượng Sản Phẩm Nông Nghiệp
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Hòa Giải Ở Cơ Sở
  • Hội Thảo Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hòa Giải Ở Cơ Sở
  • Khánh Vĩnh: Chú Trọng Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Hòa Giải Tại Cơ Sở
  • Đầu tư công nghệ sấy – Giải pháp nâng cao chất lượng nông sản

    Page Content

    Những năm gần đây, thời tiết diễn biến bất thường khiến việc thu hoạch, bảo quản, chế biến nông sản (lúa, ngô, khoai và các loại rau, củ, quả) tại tỉnh ta gặp rất nhiều khó khăn. Quan tâm áp dụng công nghệ sau thu hoạch, đặc biệt là đầu tư công nghệ sấy được xem là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giảm thất thoát, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đây còn là cơ hội để phát triển các chuỗi liên kết hướng tới một nền sản xuất nông nghiệp bền vững.

    Đóng gói sản phẩm ngô sấy tại Công ty TNHH Minh Dương, Cụm công nghiệp An Xá (thành phố Nam Định).

    Đầu năm 2022, anh Vũ Đình Kiên, xóm 4, xã Trực Nội (Trực Ninh) thuê gom 4,3ha ruộng của người dân trong vùng để tổ chức sản xuất lúa thương phẩm và các loại cây thảo dược như: trạch tả, sài đất, hoa cúc chi… Khi bắt tay vào sản xuất thực tế, anh Kiên nhận thấy mùa thu hoạch thường vào đúng đợt mưa bão nên nông dân gặp nhiều khó khăn trong khâu phơi thóc dẫn đến thóc bị mốc, hỏng, bị thương lái ép giá. Tốt nghiệp Học viện Nông nghiệp Việt Nam chuyên ngành bảo quản chế biến, anh Kiên đã đầu tư vốn xây lò, mua máy sấy thóc bán tự động công suất sấy 5 tấn thóc/mẻ với hệ thống lò sấy, anh đã khắc phục hoàn toàn các yếu tố bất lợi do thời tiết, đảm bảo chất lượng lúa sau thu hoạch. Nhờ chủ động được khâu chế biến, thóc thương phẩm của anh luôn đảm bảo chất lượng, được khách hàng tín nhiệm, tiêu thụ tốt, hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn. Từ thành công bước đầu, anh tiếp tục đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, đồng thời liên kết với các hộ nông dân phát triển dịch vụ sản xuất – tiêu thụ lúa thương phẩm hàng hóa. Đến nay, anh Kiên trực tiếp sản xuất 7,5ha và liên kết với 12 hộ nông dân trong xã và các xã Trực Đại, Liêm Hải, Trực Phú, Trực Đạo (Trực Ninh); Nghĩa Châu, Nghĩa Đồng (Nghĩa Hưng); Nam Tiến, Nam Hồng (Nam Trực)… với quy mô gần 70ha cấy lúa Bắc thơm số 7, các loại lúa nếp. Quy mô và chuỗi liên kết sản xuất tăng đòi hỏi công suất sấy tăng. Năm 2022, anh đã đầu tư thêm máy sấy với công suất 20 tấn/mẻ. Anh Kiên cho biết, so với phương pháp phơi tự nhiên truyền thống, việc đầu tư công nghệ sấy có ưu điểm là giúp nông dân chủ động trong quá trình thu hoạch, không lệ thuộc vào thời tiết; vận hành máy và kỹ thuật sấy không cần tay nghề cao nên dễ sử dụng; chất lượng, màu sắc gạo tốt hơn; tỷ lệ tấm giảm; độ ẩm hạt thóc đều, bảo quản được lâu hơn. Mỗi năm anh xuất bán khoảng 500 tấn thóc đi Thái Bình, Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình và trong tỉnh. Anh Kiên đang tiếp tục đầu tư thêm 1 máy sấy tự động công suất 20 tấn/mẻ và dự kiến nâng sản lượng thóc xuất bán ra thị trường lên 1.000 tấn/năm.

    Để thúc đẩy tiêu thụ, nâng cao giá trị nông sản địa phương, Công ty TNHH Minh Dương, Cụm công nghiệp An Xá (thành phố Nam Định) đã đầu tư công nghệ chế biến đảm bảo thực hiện quy trình sản xuất khép kín từ khâu sơ chế nông sản đến hoàn thiện sản phẩm gồm: hệ thống kho lạnh cấp đông bảo quản nguyên liệu, dây chuyền sấy chân không, đóng gói. Với công nghệ sấy chân không công suất 4-5 tấn/ngày, các sản phẩm mít, ngô, chuối, khoai tây, hạt sen… của Công ty vẫn giữ nguyên được hương vị, màu sắc, độ thơm ngon cũng như hàm lượng dinh dưỡng có sẵn trong củ, quả tươi tự nhiên. Sản phẩm ngô nếp sấy của Công ty giòn xốp, độ thẩm thấu dầu thấp; không đổi màu, không bị caramel hóa, giữ được màu, mùi vị tự nhiên của ngô nếp tươi và đặc biệt là không bị vi khuẩn xâm nhập trong suốt quá trình chế biến. Anh Nguyễn Văn Thủy, Giám đốc Công ty cho biết: Các sản phẩm của Minh Dương được sản xuất từ nguồn nguyên liệu sạch với công nghệ sản xuất tiên tiến, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đã khẳng định được thương hiệu trên thị trường, trở thành món quà quen thuộc của mọi đối tượng người tiêu dùng. Để ổn định nguồn hàng xuất bán ra thị trường, Công ty đã đầu tư liên kết xây dựng vùng nguyên liệu quy mô lớn tại các huyện Nam Trực, Ý Yên, Giao Thủy… Mỗi năm Công ty thu mua hàng nghìn tấn khoai tây, khoai lang, ngô nếp và các loại rau, củ, quả khác. Theo tính toán, mỗi sản phẩm của Minh Dương sau chế biến nâng giá trị sản phẩm lên khoảng 300% so với việc bán nguyên liệu thô. Không chỉ mang lại hiệu quả cho người kinh doanh, việc đầu tư chế biến sâu của Công ty TNHH Minh Dương còn góp phần quan trọng thúc đẩy sản xuất nông sản hàng hóa của tỉnh phát triển.

    Theo thống kê của Sở NN và PTNT, hiện nay tỷ lệ tổn thất sản lượng trong và sau thu hoạch của lúa là 11-13%, ngô 13-15%, tập trung ở các khâu thu hoạch, phơi sấy, bảo quản và xay xát, chế biến. Đối với rau quả bị tổn thất hơn 20% cả về sản lượng và chất lượng. Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng này là thời tiết khắc nghiệt, mưa nắng thất thường, đồng ruộng manh mún, sản lượng không tập trung và không có hệ thống máy sấy nông sản… Hầu hết các loại nông sản đều được nông dân phơi trực tiếp dưới nắng. Khi đưa lúa vào máy xay xát dễ bị nứt vỡ, thành phẩm chất lượng không đảm bảo, nên giá bán không cao. Đặc biệt, khi thời tiết mưa to kéo dài, lại đúng vào thời kỳ thu hoạch rộ nông sản (nhất là ở vụ lúa mùa) thường gây ngập nước khiến nông sản hay bị lên men, mọc mầm chỉ có thể sử dụng làm thức ăn cho gia súc hoặc đổ bỏ. Ngoài sự tổn thất về sản lượng, nông sản còn bị sụt giảm đáng kể về chất lượng như: nhiễm aflatoxin đối với ngô làm giá hạt thương phẩm bị giảm từ 10-20%; gạo bị biến màu, giảm chất dinh dưỡng do không được làm khô kịp thời và đúng quy trình. Để khắc phục tình trạng trên, một số doanh nghiệp, cá nhân trên địa bàn tỉnh đã mạnh dạn đầu tư hệ thống dây chuyền máy móc, thiết bị chế biến hiện đại, đặc biệt là công nghệ sấy, nâng cao giá trị và tính cạnh tranh cũng như xây dựng thương hiệu, tạo lập vị thế cho nông sản địa phương trên thị trường, đồng thời đẩy mạnh các chuỗi liên kết. Điển hình là Công ty TNHH Toản Xuân (Ý Yên) đầu tư 70 tỷ đồng xây dựng nhà máy chế biến gạo công nghệ hiện đại với lò sấy công suất 200 tấn lúa/mẻ. Hiện Công ty liên kết với hơn 20 HTX và 40 hộ dân có diện tích sản xuất lớn để tạo thành vùng nguyên liệu sản xuất gạo sạch Toản Xuân và gạo Toản Xuân 888. Công ty TNHH Cường Tân (Trực Ninh) liên kết với các HTX và các hộ nông dân thuê gom, tích tụ được hơn 300ha ruộng để sản xuất lúa giống. Công ty đã đầu tư nhà máy chế biến và bảo quản hạt giống diện tích gần 20 nghìn m2; 15 kho lạnh với dung tích bảo quản trên 750 tấn thóc giống; 15 dây chuyền sấy hạt giống và nhiều công cụ nông nghiệp khác… đảm bảo cơ giới hóa đồng bộ từ khâu làm đất, thu hoạch đến chế biến và bảo quản lúa giống.

    Theo các chuyên gia ngành Nông nghiệp, việc đầu tư công nghệ chế biến, kho chứa tiêu chuẩn sẽ thúc đẩy liên kết trực tiếp giữa doanh nghiệp với nông dân; giúp nâng cao chất lượng nông sản, từng bước đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu. Giá trị gia tăng của nông sản tăng giúp hiệu quả sản xuất của nông dân cũng tăng lên. Thời gian tới, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh xây dựng các mô hình liên kết theo chuỗi giữa doanh nghiệp và nông dân; từng bước xây dựng thương hiệu cho từng loại sản phẩm nông nghiệp; có cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp và cá nhân đầu tư phát triển công nghệ bảo quản, chế biến nhằm gia tăng giá trị nông sản, phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 8 Bí Quyết Nâng Cao Chất Lượng Nhân Viên Của Doanh Nhân Mỹ
  • Sức Sống Và Sự Lan Tỏa Của Ngày Hội Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc
  • Tiếp Tục Nâng Cao Chất Lượng Ngày Hội Đại Đoàn Kết Toàn Dân
  • Nam Trực Thực Hiện Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ
  • Nâng Cao Năng Lực Lãnh Đạo, Sức Chiến Đấu Của Tổ Chức Cơ Sở Đảng Và Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện
  • Biện Pháp Khắc Phục Biến Đổi Khí Hậu
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì?
  • Một Số Biện Pháp Giảm Thiểu Và Thích Ứng Với Bđkh
  • Ðồng Bộ Các Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu
  • Chủ nhật, 23/12/2012 22:12

    Để nâng cao chất lượng giáo dục, phải thực hiện đồng bộ, có hiệu quả nhiều giải pháp – đó là ý kiến chung của cán bộ quản lý và giáo viên ở tất cả các cấp học trong tỉnh. Tuy nhiên, mỗi trường, mỗi cấp học cũng phải tùy theo tình hình thực tế của trường mình như: Điều kiện cơ sở vật chất, trình độ giáo viên, khả năng tiếp nhận của học sinh… để lựa chọn và thực hiện các giải pháp sao cho hiệu quả nhất.

    giúp học sinh chủ động, thích thú học tập hơn của giáo viên

    Trường THCS Nguyễn Văn Linh, xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải.

    Trường THCS Trần Phú, Tp. Phan Rang Tháp Chàm được đánh giá là một trong những trường THCS có chất lượng ổn định của tỉnh. Điều này thể hiện qua kết quả thi tuyển sinh lớp 10 hàng năm của trường, tỷ lệ học sinh có điểm trung bình 2 môn thi Toán – Văn trong kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 đều tăng từ năm học 2010-2011 đến 2012-2013. Cô giáo Nguyễn Thị Minh Trâm, Hiệu trưởng Trường THCS Trần Phú, cho biết: “Để có được kết quả này, ngay từ đầu mỗi năm học, trường đều xây dựng và triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp: chống lưu ban, bỏ học; tăng cường đổi mới phương pháp dạy học, kết hợp triển khai thực hiện chặt chẽ việc kiểm tra- đánh giá – xếp loại học sinh theo chuẩn kiến thức kỹ năng; tổ chức tốt các hoạt động ngoài giờ lên lớp”.

    Trong số những giải pháp đang được triển khai đồng bộ ở các trường, “Tăng cường đổi mới kiểm tra – đánh giá – xếp loại học sinh” được đánh giá là giải pháp phát huy hiệu quả nhất trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Năm học 2012-2013, hầu hết các Trường THPT trên địa bàn tỉnh đều triển khai thực hiện chung đề, chung đợt đối với bài kiểm 1 tiết ở tất cả các bộ môn và đối với bài kiểm tra 15 phút cho các môn thi tốt nghiệp. Riêng với các kỳ thi lên lớp, kiểm tra chất lượng đầu năm, cuối kỳ các trường đều tổ chức như kỳ thi tốt nghiệp THPT: đề chung, ngồi theo số báo danh, bài thi rọc phách, giáo viên bộ môn không tham gia coi thi bộ môn mình phụ trách, giáo viên giảng dạy không chấm bài kiểm tra lớp mình. Nhà trường không phát hành đề cương ôn thi học kỳ mà chỉ công bố ma trận nhận thức giúp học sinh làm quen với cách thức thi tốt nghiệp THPT và thi đại học sau này. Việc chấm, trả bài và vào điểm được thực hiện kịp thời, có biên bản chấm bài kiểm tra đảm bảo tính công bằng, chính xác, đánh giá đúng thực chất học lực của học sinh…

    Tuy nhiên, giải pháp nào đi nữa thì để nâng cao chất lượng giáo dục quan trọng nhất vẫn là vai trò của người thầy. Ngoài trình độ, năng lực chuyên môn, bản thân mỗi giáo viên cũng phải thật sự tâm huyết, yêu nghề, nhiệt tình trong đổi mới phương pháp giảng dạy; tìm tòi, sáng tạo ra những đồ dùng dạy học thiết thực cho học sinh. Mỗi giải pháp đưa ra, cùng đòi hỏi phải có sự đoàn kết, thống nhất của tập thể sư phạm nhà trường… có như vậy mới thực sự tạo được sự chuyển biến trong cách dạy, cách học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

    Bích Thủy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Gd&đt Đưa Ra 7 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đại Học
  • Đau Ruột Thừa Là Đau Bên Nào Và Vị Trí Đau Nằm Ở Đâu?
  • Nội Tạng Của Cơ Thể Con Người Gồm Bộ Phận Nào? Chúng Có Chức Năng Gì
  • Những Bộ Phận Thừa Thải Trên Cơ Thể Con Người
  • Gan Có Chức Năng Gì? 6 Tác Nhân Gây Bệnh Cho Gan🤢
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Nữ Công

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Ban Nữ Công Quần Chúng
  • Nâng Cao Chất Lượng Các Văn Phòng Cấp Ủy
  • Nâng Cao Chất Lượng Tham Mưu Của Văn Phòng Cấp Ủy
  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Văn Phòng Cấp Ủy Theo Hướng Chuyên Nghiệp
  • Văn Phòng Cấp Ủy: Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Tham Mưu, Phục Vụ
  • Nâng cao chất lượng công tác nữ công trong hoạt động công đoàn; Đẩy mạnh phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong nữ CNVCLĐ, triển khai tổng kết 10 năm phong trào thi đua Giỏi việc nước Đảm việc nhà giai đoạn 2010-2020 là các hoạt động nữ công CĐ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam đang thực hiện.

    Hiện nay, toàn ngành Nông nghiệp và PTNT có khoảng 65.000 lao động, trong đó lao động nữ chiếm tỉ lệ 40%. Nữ CNVCLĐ tham gia ở tất cả các lĩnh vực công tác của ngành. Trình độ, năng lực cán bộ nữ ngày càng được nâng cao, đáp ứng cơ bản các yêu cầu công việc và phát triển ngành. Những năm qua, lực lượng nữ CNVCLĐ trong ngành đã không ngừng phát huy vai trò, vị trí, năng lực của mình trên tất cả các lĩnh vực công tác; từng bước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, góp phần tích cực trong sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, đất nước.

    Nhận thức rõ vai trò của phong trào nữ CNVCLĐ và hoạt động nữ công trong phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn ngành Nông nghiệp và PTNT, thời gian qua, Ban Thường vụ Công đoàn Nông nghiệp và PTNT Việt Nam đã tập trung chỉ đạo công đoàn các cấp triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình công tác nữ công, tạo điều kiện để nữ CNVCLĐ yên tâm lao động, học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thực hiện tốt quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

    Ban Nữ công công đoàn các cấp vận động nữ CNVCLĐ tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua, các cuộc vận động, trọng tâm là các phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”; động viên nữ CNVCLĐ vượt qua khó khăn, vừa lao động sản xuất, học tập, công tác, vừa tích cực cập nhật kiến thức mới, tích lũy kinh nghiệm hay, tiếp cận khoa học công nghệ tiên tiến, phát huy sáng kiến, cải tiến kĩ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động sản xuất.

    Công đoàn ngành tăng cường chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của đoàn viên công đoàn và người lao động, nhất là đối với lao động nữ bằng nhiều hình thức và việc làm cụ thể. Năm 2022, Ban Thường vụ Công đoàn Nông nghiệp và PTNT Việt Nam tiếp tục triển khai Quyết định 323/QĐ-CĐN ngày 25/12/2018 về phân công nhiệm vụ các ủy viên Ban Thường vụ Công đoàn Ngành tăng cường chỉ đạo củng cố tổ chức; quản lý, phát triển đoàn viên mới; bảo vệ quyền lợi người lao động và thực hiện các nghĩa vụ tài chính công đoàn. Trong đó chú trọng công tác xây dựng, ký kết thỏa ước lao động tập thể cấp ngành, quan tâm bổ sung các điều khoản có lợi hơn cho người lao động, đặc biệt đối với lao động nữ. Tổ chức các chương trình ký kết “Phúc lợi cho đoàn viên công đoàn” tại Công ty TNHH MTV Dịch vụ khai thác hải sản Biển Đông, Tổng công ty Cà phê Việt Nam…

    Hoạt động từ thiện năm 2022 từ nguồn xã hội từ thiện, CĐ Ngành đã chi hỗ trợ thăm hỏi 468 nữ CNLĐ nghèo mỗi suất quà trị giá 500.000 đồng, chi thăm hỏi 8 nữ CNLĐ mắc bệnh hiểm nghèo mỗi suất quà 2.000.000 đồng; hỗ trợ sửa chữa 5 nhà ở. Công tác chăm lo sức khoẻ cho lao động nữ được các đơn vị quan tâm thường xuyên: đảm bảo điều kiện vệ sinh, an toàn nơi làm việc; 100% phụ nữ có thai được khám thai đủ 5 lần và được tiếp cận với dịch vụ y tế; trên 95% đơn vị tổ chức khám sức khoẻ định kỳ, tổ chức khám và điều trị phụ khoa cho các chị em lao động nữ; thực hiện tốt chế độ, chính sách chăm sóc sức khoẻ cho lao động nữ khi mang thai, sinh đẻ, nuôi con; đặc biệt có đơn vị còn hỗ trợ chi phí bồi dưỡng thêm cho lao động nữ sau khi sinh, tạo điều kiện vật chất cho lao động nữ trong thời gian mang thai và cho con bú.

    Để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động công tác nữ công, trong thời gian tới các cấp Công đoàn Ngành cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm sau: Ban Chấp hành Công đoàn các cấp cần quan tâm, thường xuyên củng cố, kiện toàn Ban Nữ công quần chúng; chỉ đạo nâng cao chất lượng hoạt động, đa dạng hóa các hình thức hoạt động nữ công như tọa đàm, giao lưu, tổ chức các diễn đàn, câu lạc bộ, sinh hoạt chuyên đề nhằm thu hút đông đảo nữ CNVCLĐ tham gia. Tiếp tục cụ thể hóa các chủ trương, quan điểm của Tổng LĐLĐ Việt Nam về thực hiện toàn diện và chất lượng công tác nữ công ở các cấp công đoàn. Triển khai Đề án “Đổi mới hoạt động nữ công trong các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước”; Tập huấn nghiệp vụ công tác nữ công cho công đoàn các đơn vị.

    Hàng năm, trên cơ sở hướng dẫn nhiệm vụ trọng tâm công tác nữ công của Ban Thường vụ Công đoàn Nông nghiệp và PTNT Việt Nam, Ban Nữ công Công đoàn các cấp cần tham mưu Ban Chấp hành Công đoàn cùng cấp xây dựng kế hoạch, tổ chức các hoạt động; tạo điều kiện để cán bộ nữ công trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm hoạt động nữ công, tạo mối liên kết mật thiết giữa nữ CNVCLĐ với hoạt động nữ công.

    Đẩy mạnh phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong nữ CNVCLĐ, nhất là ở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước. Tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ chính sách đối với lao động nữ; thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể với những quy định có lợi hơn cho lao động nữ so với quy định của pháp luật;

    Đẩy mạnh các hoạt động xã hội từ thiện, vận động nguồn lực giúp đỡ cho đối tượng là nữ CNVCLĐ, con CNLĐ có hoàn cảnh khó khăn; Tăng cường phối hợp với Ban vì sự tiến bộ phụ nữ cùng cấp trong việc tổ chức các hoạt động trong nữ CNVCLĐ; Củng cố kiện toàn ban nữ công công đoàn các cấp, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ tham mư­­­u cho BCH công đoàn cùng cấp về công tác vận động nữ CNVCLĐ. Phát hiện, bồi dư­­ỡng và đào tạo quy hoạch cán bộ nữ, tăng khả năng tiếp cận của phụ nữ đối với quá trình ra quyết định ở các đơn vị chủ chốt.

    Tổng LĐLĐ Việt Nam đã trao tặng 1 cờ, bằng khen cho 4 tập thể, cá nhân; Ban Thường vụ Công đoàn Nông nghiệp và PTNT Việt Nam trao tặng 1 cờ, 21 bằng khen cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”. Đồng chí Lê Thị Tươi- Trưởng ban Nữ công Công đoàn Công ty TNHH MTV Cà phê 52 thuộc Công đoàn Tổng công ty Cà phê Việt Nam đại diện cho cán bộ nữ công ngành Nông nghiệp được biểu dương, khen thưởng tại Hội nghị biểu dương Trưởng ban nữ công do Tổng LĐLĐ Việt Nam tổ chức vào tháng 2/2019. Trong năm học 2022-2019, Đoàn Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam tặng 1 cờ thi đua, 1 bằng khen; Ban Thường vụ Công đoàn Nông nghiệp và PTNT Việt Nam tặng 11 bằng khen cho các cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua “Giỏi việc nước, Đảm việc nhà”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Ban Nữ Công
  • Cđ Dệt May Vn Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Nữ Công
  • Tham Luận Về Công Tác Nữ Công
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Nữ Công, Góp Phần Xây Dựng Công Đoàn Vững Mạnh
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Công Tác Nữ Công Trong Trường Tiểu Học
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100