Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cấp Trung Học Cơ Sở

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường …
  • Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường Thcs Quảng Phương : Trường Thcs Quảng Phương
  • “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Vật Lý Theo Mô Hình Cdio”
  • Những Ai Không Nên Đặt Vòng Tránh Thai?
  • Quy Định An Toàn Làm Việc Trên Cao
  • Sở Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) vừa triển khai tới các phòng GD-ĐT, trường THCS về những nhiệm vụ trọng tâm năm học 2022 – 2022 đối với cấp THCS. Những định hướng đưa ra nhằm tháo gỡ tồn tại, vướng mắc, nâng cao chất lượng dạy và học ở cấp học này.

    Kết quả còn hạn chế

    Năm học 2022 – 2022, sau 6 năm xét tuyển, học sinh (HS) THCS lại quay lại hình thức thi tuyển vào lớp 10. Kết quả thi không đáp ứng kỳ vọng đã đặt ra nhiều vấn đề trong dạy và học cấp THCS. Cụ thể, trong số 3 môn thi vào lớp 10, môn tiếng Anh có tỷ lệ HS dưới điểm trung bình nhiều nhất với hơn 74%. Trong đó, một số trường như: THCS Hoa Lư, Tiểu học và THCS Vạn Thạnh (huyện Vạn Ninh) có 100% HS dưới điểm trung bình.

     

    Tiết học tại Trường THCS Thái Nguyên (TP. Nha Trang).

    Tại hội nghị Giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học cấp THCS do Sở GD-ĐT tổ chức vừa qua, nhiều ý kiến đã thẳng thắn chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến kết quả này như: ít phụ đạo HS yếu; kiểm tra, giám sát tình hình dạy học, đánh giá HS ở các trường chưa nghiêm túc; một số đơn vị còn chạy theo chỉ tiêu; việc phân luồng HS sau THCS còn yếu; một số nơi, năng lực của giáo viên còn hạn chế, thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học, phương pháp giảng dạy còn lạc hậu…

    Lãnh đạo Sở GD-ĐT thừa nhận những hạn chế rõ ràng trong việc dạy và học cấp THCS. Đó là việc tổ chức hoạt động trải nghiệm chưa đều khắp; việc xây dựng các bài học liên môn chỉ mới tập trung ở một số môn, chất lượng bài học chưa cao; việc giảng dạy lồng ghép các nội dung giáo dục kỹ năng sống còn mang tính gượng ép, trình diễn, chưa bao quát tất cả đối tượng HS. Trong việc tự chủ của các trường, đa số các trường vẫn xây dựng kế hoạch dạy học rập khuôn theo phân phối chương trình của Bộ GD-ĐT, chưa phù hợp với thực tế địa phương, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên của mình.

    Nhiều lãnh đạo trường THCS cũng bày tỏ lo ngại về vấn đề chất lượng HS lớp 5 được bàn giao lên lớp 6. Việc đánh giá chất lượng HS lớp 5 chưa đầy đủ đã dẫn đến hiện tượng “ngồi nhầm lớp” ở một số nơi. Tuy nhiên, việc kiểm tra HS để có hướng dạy học hợp lý lại vướng quy định của Bộ GD-ĐT về việc không khảo sát HS lớp 6.

    Cần các giải pháp đồng bộ

    Từ việc nhìn nhận những hạn chế trên, Sở GD-ĐT đã có thông báo tới các phòng GD-ĐT, trường THCS về những nhiệm vụ tập trung triển khai trong năm học tới. Theo đó, các phòng GD-ĐT cần chỉ đạo các trường THCS tiếp tục thực hiện các giải pháp đồng bộ về đội ngũ, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường và điều kiện của địa phương. Đồng thời, thực hiện tốt việc tuyên truyền cho cha mẹ HS và HS về công tác tư vấn hướng nghiệp, định hướng phân luồng sau THCS.

    Bên cạnh đó, các trường trực thuộc cần nghiêm túc đánh giá HS tiểu học đảm bảo đúng chất lượng qua mỗi khối lớp; có hình thức phân hóa HS ngay từ đầu năm học để tổ chức dạy học phù hợp. Đồng thời, thực hiện nghiêm túc quy trình tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng HS từ khâu ra đề, coi thi, chấm kiểm tra.

    Theo ông Lê Đình Thuần – Sở GD-ĐT sẽ tiếp tục có văn bản hướng dẫn việc thực hiện chuyên môn cho các cơ sở giáo dục; trong đó hướng dẫn việc phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong xây dựng kế hoạch giáo dục ở mỗi nhà trường. Đồng thời, tăng cường thanh tra, kiểm tra để tư vấn, hỗ trợ, giúp đỡ kịp thời công tác chuyên môn; phát huy vai trò đội ngũ giáo viên cốt cán để hỗ trợ chuyên môn cho các trường. Sở cũng sẽ xây dựng bộ đề để giúp các trường khảo sát chất lượng HS và tổ chức dạy học phân hóa phù hợp, ban hành văn bản hướng dẫn nội dung ôn tập, cấu trúc đề thi minh họa cho HS cuối cấp.

    H.NGÂN

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học : Trường Thcs Quảng Tiến
  • Hội Thảo Chuyên Đề “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Ngữ Văn 9” Tại Trường Thcs Phú An
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cho Học Sinh Yếu Kém Môn Hóa Học! : Trường Thcs Nguyễn Hàm Ninh
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Lịch Sử Ở Trường Thpt Chuyên Lê Hồng Phong
  • Một Số Phương Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Lịch Sử 7
  • Nâng Cao Chất Lượng Các Văn Phòng Cấp Ủy

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Tham Mưu Của Văn Phòng Cấp Ủy
  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Văn Phòng Cấp Ủy Theo Hướng Chuyên Nghiệp
  • Văn Phòng Cấp Ủy: Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Tham Mưu, Phục Vụ
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Trợ Giúp Pháp Lý Cho Người Dân Tộc Thiểu Số
  • Tăng Cường Quản Lý Chất Lượng Vụ Việc Trợ Giúp Pháp Lý
  • Theo báo cáo, năm 2022, với khối lượng công việc lớn lại phải thực hiện trong thời gian ngắn, song hệ thống văn phòng cấp ủy Đảng bộ Thành phố đã có nhiều cố gắng, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng cao, đáp ứng tốt yêu cầu tham mưu, phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Thường vụ, Thường trực Thành ủy và cấp ủy các cấp.

    Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội Ngô Thị Thanh Hằng trao Cờ đơn vị xuất sắc phong trào thi đua năm 2022 cho các tập thể.

    Kết luận hội nghị, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Ngô Thị Thanh Hằng bên cạnh việc biểu dương những thành tích đã đạt được trong năm 2022, đồng thời chỉ ra một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục.

    Cụ thể, đề nghị hệ thống văn phòng cấp ủy cần chủ động xây dựng kế hoạch, triển khai các giải pháp tập trung khắc phục trong thời gian tới, đó là việc tham mưu một số văn bản chất lượng chưa cao, chưa đảm bảo yêu cầu về tiến độ; chế độ thông tin báo cáo đặc biệt là các vấn đề nóng phát sinh về an ninh trật tự đôi lúc còn chưa được thực hiện kịp thời; cải cách hành chính gắn với triển khai ứng dụng công nghệ tin hiệu quả còn chưa cao; công tác tiếp dân, việc tham mưu cho cấp ủy xử lý đơn thư ở một số đơn vị còn chậm, chưa dứt điểm để kéo dài, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh điểm nóng…

    Phó Bí thư Thường trực Thành ủy nhấn mạnh, trong năm 2022, hệ thống văn phòng cấp ủy cần tập trung thực hiện tốt 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó, tham mưu với Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy và các cấp ủy rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định; tổ chức thực hiện nền nếp, khoa học, có hiệu quả quy chế làm việc, chương trình công tác toàn khóa, chương trình công tác hằng năm bảo đảm vừa toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm. Cùng với đó, tiếp tục đổi mới phương thức, lề lối làm việc của hệ thống văn phòng cấp ủy theo hướng khoa học, đẩy mạnh kế hoạch hóa, quy trình hóa, quy chế hóa, tiêu chuẩn hóa, tin học hóa trong tất cả các khâu.

    Trong năm 2022, tập trung thực hiện số hóa hệ thống tài liệu lưu trữ của Đảng bộ Thành phố; nâng cấp hệ thống thiết bị giao ban trực tuyến từ Thành phố đến xã, phường, thị trấn, thí điểm vận hành cơ quan văn phòng điện tử. Đặc biệt, lưu ý hệ thống văn phòng cấp ủy tiếp tục triển khai thực hiện việc rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ văn phòng cấp ủy theo vị trí việc làm, gắn với thực hiện Nghị quyết số 39 (khóa XI) của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 18, 19 Hội nghị T.Ư 6 (khóa XII).

    “Ở những nơi có điều kiện cả về cơ sở vật chất và nhân lực, cấp ủy cần chỉ đạo và văn phòng chủ động đăng ký để văn phòng quận, huyện, thị ủy sẽ phục vụ chung các Ban Đảng, hoặc hợp nhất văn phòng cấp ủy với văn phòng UBND, HĐND. Nếu làm được chắc chắn sẽ tiết kiệm được cơ sở vật chất, về kinh phí hoạt động. Đồng thời, tăng cường kỷ cương công vụ, nâng cao ý thức, trách nhiệm, cải tiến phong cách, lề lối làm việc của cán bộ, công chức, nhân viên theo hướng chuyên nghiệp, chất lượng, hiệu quả. Gương mẫu thực hiện tốt Bộ quy tắc ứng xử tại cơ quan, đơn vị hành chính và nơi công cộng để xây dựng đội ngũ cán bộ văn phòng cấp ủy: trung thực, tận tâm, trách nhiệm”.- Phó Bí thư Thường trực Ngô Thị Thanh Hằng nhấn mạnh.

    A.Tùng- T.Toàn

    Nguồn :

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Ban Nữ Công Quần Chúng
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Nữ Công
  • Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Ban Nữ Công
  • Cđ Dệt May Vn Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Nữ Công
  • Tham Luận Về Công Tác Nữ Công
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tuyến Y Tế Cơ Sở

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Y Tế Hiện Nay
  • Vận Dụng 23 Giải Pháp Can Thiệp Và Áp Dụng Đa Phương Thức Trong Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Sức Khoẻ Người Dân
  • Bàn Giải Pháp Phát Triển Ngành Y Tế
  • Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến Nói Về Giải Pháp ‘3 Chân Kiềng’ Phát Triển Ngành Y Tế
  • Chú Trọng Giải Pháp Phát Triển Nhân Lực Ngành Y Tế
  • Tin tuc tong hop hang ngay, tin trong tinh Thai Nguyen

    Cán bộ Trạm Y tế xã Lâu Thượng (Võ Nhai) tiêm vắc-xin phòng bệnh sởi cho trẻ.

    Hiện trên địa bàn tỉnh có tổng số cán bộ y tế hiện đang công tác tại tuyến y tế cơ sở (tuyến huyện và trạm y tế tuyến xã) là 2.144 người, trong đó có 421 bác sĩ, còn lại là các vị trí chuyên môn khác: dược sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên.

    Theo đồng chí Đặng Ngọc Huy, Phó Giám đốc Sở Y tế: Công tác xây dựng và phát triển mạng lưới y tế cơ sở được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Y tế, mà trong đó trạm y tế (TYT) xã, phường là tuyến y tế cơ bản, đầu tiên gần dân nhất, trực tiếp nhất với người dân và cũng là cánh tay nối dài nhằm giảm tải cho các bệnh viện tuyến huyện, tỉnh và trung ương.

    Về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế và cung ứng dịch vụ khám, chữa bệnh: Tuyến huyện, cơ bản được đầu tư xây dựng và trang bị các thiết bị y tế, bảo đảm thực hiện các dịch vụ y tế đúng tuyến trong hoạt động khám, chữa bệnh. Nhiều bệnh viện tuyến huyện thực hiện được khá nhiều kỹ thuật vượt tuyến như mổ nội soi, chạy thận nhân tạo (Bệnh viện: Định Hóa, Đại Từ, Trung tâm Y tế Võ Nhai, Trung tâm Y tế Đồng Hỷ), tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi tham gia khám, chữa bệnh.

    Để nâng cao chất lượng tuyến y tế cơ sở, ngành Y tế tiếp tục thực hiện hoàn thành các mục tiêu Đề án Củng cố và hoàn thiện y tế cơ sở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2022 đã ban hành tại Quyết định số 2074/QĐ-UBND tỉnh ngày 17/9/2012 của UBND tỉnh Thái Nguyên. Tiếp tục thu hút và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực y tế cơ sở về chuyên môn nghiệp vụ; bồ trí cơ cấu nhân lực hợp lý, đúng và đủ theo quy định.

    Cán bộ y tế trong các bệnh viện, trung tâm y tế huyện tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn trong khám, chữa bệnh; tăng cường khả năng cung cấp dịch vụ kỹ thuật theo phân tuyên chuyên môn kỹ thuật; tăng cường đưa các dịch vụ y tế của tuyến trên thực hiện tại tuyến huyện; tăng cường công tác chỉ đạo tuyến, chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ chuyên môn cho tuyến xã.

    Các TYT thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, thực hiện việc quản lý sức khỏe toàn diện, liên tục cho từng người dân trên địa bàn, tập trung vào việc theo dõi, tư vấn sức khỏe, chăm sóc giảm nhẹ, phục hồi chức năng, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, bà mẹ, trẻ em…

    Các TYT tuyến xã triển khai thực hiện theo nguyên lý y học gia đình, thực hiện nhiệm vụ quản lý và điều trị các bệnh mạn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường. Đẩy mạnh hơn nữa hoạt động y tế dự phòng, chủ động phòng, chống dịch bệnh, làm tốt công tác an toàn thực phẩm, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em; dân số, kế hoạch hóa gia đình; tiếp tục xây dựng hoàn thành 100% số xã đạt Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế.

    Sở Y tế tăng cường thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về y tế, chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm các hoạt động y tế nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người dân trong lĩnh vực y tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Y Tế Cơ Sở
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Y Tế Hoba
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Y Tế Gs
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Y Tế Gs Tài Trợ Cục Quân Y Tổ Chức Chương Trình Tập Huấn Về Kiểm Chuẩn Chất Lượng Xét Nghiệm Cho Các Bệnh Viện Toàn Quân
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Y Tế Đăng Quang
  • Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Y Tế Cơ Sở

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tuyến Y Tế Cơ Sở
  • Nâng Cao Chất Lượng Y Tế Hiện Nay
  • Vận Dụng 23 Giải Pháp Can Thiệp Và Áp Dụng Đa Phương Thức Trong Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc Sức Khoẻ Người Dân
  • Bàn Giải Pháp Phát Triển Ngành Y Tế
  • Bộ Trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến Nói Về Giải Pháp ‘3 Chân Kiềng’ Phát Triển Ngành Y Tế
  • Hiện nay, toàn tỉnh có 105/141 xã được công nhận đạt Bộ Tiêu chí quốc gia về y tế xã, điều này, đã tạo thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh từ cơ sở. Theo thống kê, từ đầu năm đến nay có trên 25 nghìn lượt người được khám chữa bệnh tại các trạm y tế; tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi được tiêm, uống đủ loại vắc xin đạt trên 98%. Các Chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế được triển khai đúng quy định, công tác phòng, chống dịch, bệnh được chú trọng và đạt hiệu quả cao.

    Trẻ được tiêm chủng tại Trạm Y tế xã Phúc Yên (Lâm Bình).

    Chỉ vài năm trước, Trạm Y tế xã Phúc Yên (Lâm Bình) còn thiếu thốn về cơ sở vật chất, nhà làm việc xuống cấp, không bảo đảm điều kiện y tế cơ bản. Đến nay, với sự quan tâm của tỉnh, Trạm Y tế xã đã được đầu tư xây mới, mua sắm trang thiết bị phục vụ người dân. Mỗi năm, trạm khám và điều trị trên 3.000 lượt bệnh nhân, tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng đạt 98,1%; phụ nữ mang thai được khám thai định kỳ ít nhất 3 lần trong thời kỳ thai nghén, được tiêm phòng uốn ván đủ mũi đạt trên 98%…

    Chị Triệu Thị Thu, thôn Nà Khau, xã Phúc Yên chia sẻ, giờ đây mỗi khi trong nhà có người ốm đau chị đều đưa xuống Trạm Y tế khám và lấy thuốc. Mỗi lần đến Trạm, các bác sỹ đều nhiệt tình hướng dẫn cách điều trị, uống thuốc. Ngoài ra, chị còn được các cán bộ y tế của Trạm tuyên truyền về cách phòng chống dịch bệnh, các biện pháp tránh thai…

    Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác khám, chữa bệnh ở tuyến y tế cơ sở vẫn còn gặp một số khó khăn. Theo ông Đào Duy Quyết, Giám đốc Sở Y tế, hiện nay, cơ bản các trạm y tế tuyến xã trong toàn tỉnh đã được đầu tư nâng cấp. Tuy nhiên, ngành Y tế còn gặp nhiều khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh như: Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị còn nhiều khó khăn; nguồn nhân lực có trình độ còn thiếu; nhận thức của một bộ phận người dân còn hạn chế, dẫn đến sự hợp tác giữa cán bộ y tế và người bệnh chưa cao…

    Nhằm giải quyết từng bước những khó khăn đó, ngành Y tế đã đề ra nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng y tế cơ sở trong thời gian tới. Trong đó, tập trung đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động của mạng lưới y tế cơ sở có sự kết nối với các cơ sở y tế chuyên khoa tuyến trên; phát triển hoạt động của y tế trường học, y tế cơ quan theo hướng tăng cường chăm sóc sức khỏe ban đầu. Ngoài ra, ngành phát triển thực hiện các dịch vụ kỹ thuật theo phân tuyến chuyên môn của Bộ Y tế. Đồng thời, tiếp tục tập trung kiện toàn đội ngũ nhân viên có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ năng lực thực hiện nhiệm vụ; tăng cường đầu tư về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, thuốc thiết yếu cho các cơ sở y tế tuyến huyện và tuyến xã, trong đó ưu tiên các xã vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn…

    Bác sỹ Hoàng Văn An, Trạm trưởng Trạm Y tế xã Thượng Nông (Na Hang) cho biết, hiện nay tại Trạm có 5 cán bộ, gồm 1 bác sỹ, 3 y sỹ và 1 nữ hộ sinh với 10 phòng chức năng. Nhiều hạng mục được đầu tư khang trang, trang thiết bị hiện đại để phục vụ công tác khám chữa bệnh như: Phòng lưu bệnh nhân, phòng y học cổ truyền, phòng chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng tiêm… Nhờ đó, chất lượng khám, chữa bệnh cho người dân được nâng lên; tạo niềm tin đối với người bệnh.

    Trong thời gian tới, ngành Y tế tỉnh tiếp tục thực hiện hiệu quả các giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh tuyến y tế cơ sở. Từ đó, làm tốt hơn công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân, nhất là ở các xã vùng khó khăn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Y Tế Hoba
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Y Tế Gs
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Y Tế Gs Tài Trợ Cục Quân Y Tổ Chức Chương Trình Tập Huấn Về Kiểm Chuẩn Chất Lượng Xét Nghiệm Cho Các Bệnh Viện Toàn Quân
  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Y Tế Đăng Quang
  • Văn Phòng Đại Diện Công Ty Tnhh Giải Pháp Y Tế Đăng Quang Tại Hà Nội
  • Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Hòa Giải Ở Cơ Sở

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Hòa Giải Ở Cơ Sở Từ Thực Tiễn Thi Hành Ở Quảng Bình
  • Tài Liệu Tập Huấn Nghiệp Vụ Hòa Giải Cơ Sở
  • Huyện Cẩm Thủy Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Hòa Giải Ở Cơ Sở
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Của Công Tác Hòa Giải Ở Cơ Sở Trên Địa Bàn Tỉnh
  • Phát Huy Vai Trò Nòng Cốt Của Mttq Việt Nam Và Các Tổ Chức Thành Viên Trong Công Tác Hòa Giải Ở Cơ Sở
  • Trangtinphapluat.com tổng hợp, giới thiệu tới bạn đọc một số giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm nâng cao chất lượng hòa giải các tranh chấp phát sinh ở cơ sở thông qua tổ hòa giải.

    Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về hoà giải ở cơ sở nhìn chung tương đối đầy đủ và chi tiết, tạo được khung hành lang pháp lý quan trọng để công tác hoà giải ở cơ sở đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực trạng thi hành Luật hoà giải ở cơ sở cho thấy các quy định pháp luật này cần được tiếp tục kiện toàn ở một số nội dung như sau:

    Thứ nhất, đối với quy định về bầu hoà giải viên

    Theo quy định tại Điều 8 Luật Hoà giải ở cơ sở năm 2013 thì “Người được đề nghị công nhận là hòa giải viên phải đạt trên 50% đại diện trong thôn, tổ dân phố đồng ý”. Quy định này đòi hỏi số lượng các đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đi họp tương đối đầy đủ hoặc khi được phát phiếu lấy ý kiến phải rất hợp tác trong việc bày tỏ nguyện vọng rõ ràng trong việc lựa chọn hoà giải viên thì mới đạt yêu cầu. Trong khi đó, thực tế cho thấy, có một bộ phận người dân chưa thật sự quan tâm và nhận thức đầy đủ về vai trò của hoà giải viên và hoạt động hoà giải ở cơ sở. Do đó, việc triệu tập đi họp để biểu quyết hay phát phiếu lấy ý kiến của các hộ gia đình sẽ khó đạt được tỉ lệ đồng thuận là 50% đại diện hộ gia đình trong toàn thôn hoặc tổ dân phố.

    Bên cạnh đó, hoà giải ở cơ sở là một loại hoạt động dựa trên nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện của người dân, là khuyến khích chứ không phải bắt buộc, bởi vậy, việc bầu hoà giải viên không thể đòi hỏi 100% các hộ gia đình trong tổ dân phố hoặc trong thôn phải quan tâm và đưa ra ý kiến biểu quyết vì sẽ có những gia đình có quyền từ chối tham gia bầu hoặc không quan tâm đến thủ tục bầu hoà giải viên. Điều này cho thấy việc pháp luật áp đặt rằng một người chỉ được đề nghị công nhận là hoà giải viên phải đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý là khó khả thi.

    (Tải tài liệu tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ hòa giải viên cơ sở)

    Vì những lý do này, chúng tôi cho rằng quy định tại khoản 3 Điều 8 nên điều chỉnh cụm từ “trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý” thành “trên 50% đại diện hộ gia đình tham gia bầu hoà giải viên đồng ý”. Đề xuất này một mặt sẽ làm cho kết quả bầu hoà giải viên bớt mang tính hình thức (những người không quan tâm, không tìm hiểu về hoà giải cơ sở hay bầu hoà giải viên thì việc biểu quyết của họ cũng thường mang tính hình thức, miễn cưỡng biểu quyết cho xong); mặt khác hoạt động bầu hoà giải viên sẽ được tiến hành một cách linh hoạt và hiệu quả khi người được đề nghị công nhận là hoà giải viên không quá phụ thuộc vào một tỉ lệ cứng nhắc là 50% đại diện hộ gia đình trong toàn thôn hoặc tổ dân phố, tránh rườm rà khi mà số lượng biểu quyết không đạt yêu cầu về tỉ lệ quy định.

    Ngoài ra Phần đánh giá thực trạng cũng cho thấy sự cần thiết của việc thu hút sự tham gia hoà giải của các vị chức sắc tôn giáo, trưởng ấp, già làng… Về vấn đề này, Luật Hoà giải ở cơ sở quy định tại Điều 19 về Người được mời tham gia hòa giải như sau: “Trong quá trình hòa giải, nếu thấy cần thiết, hòa giải viên và một trong các bên khi được sự đồng ý của bên kia có thể mời người có uy tín trong dòng họ, ở nơi sinh sống, nơi làm việc; người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội; già làng, chức sắc tôn giáo, người biết rõ vụ, việc; đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc người có uy tín khác tham gia hòa giải”.

    Thứ hai, về việc thôi làm hoà giải viên

    Khoản 1 Điều 11 Luật Hoà giải ở cơ sở quy định “1. Việc thôi làm hòa giải viên được thực hiện trong các trường hợp sau đây: a) Theo nguyện vọng của hòa giải viên; b) Hòa giải viên không còn đáp ứng một trong các tiêu chuẩn quy định tại Điều 7 của Luật này; c) Vi phạm nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở theo quy định tại Điều 4 của Luật này hoặc không có điều kiện tiếp tục làm hòa giải viên do bị xử lý vi phạm pháp luật.” Theo đó, một người sau khi được bầu và được công nhận là hoà giải viên sẽ thực mang tư cách hoà giải viên và thực hiện nhiệm vụ của mình cho đến khi nào bản thân không muốn làm nữa hoặc không đáp ứng yêu cầu của một hoà giải viên nữa. Quy định này có ưu điểm là sẽ xây dựng được đội ngũ hoà giải viên lâu năm, giàu kinh nghiệm, tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho việc bầu hoà giải viên.

    Tuy nhiên, thực tế cho thấy hoạt động hiệu quả của các tổ hoà giải thường phụ thuộc vào một thành viên chính, có uy tín, có tiếng nói trong cộng đồng. Những người còn lại thường đóng vai trò thứ yếu, họ thường thuyết phục các bên theo chủ ý của người có ảnh hưởng lớn hoặc rất ít trao đổi hoặc thường chỉ có mặt và giữ vai trò ghi biên bản.

    Để đẩy mạnh tính hiệu quả và tính tích cực của các thành viên trong tổ hoà giải, chúng tôi nghĩ đến việc đề xuất bổ sung quy định về nhiệm kỳ công tác của các thành viên này vì các lý do sau đây:

    1) Việc quy định nhiệm kỳ sẽ hình thành một thói quen rà soát và tiến hành bầu hoà giải viên một cách có kế hoạch. Sự thay đổi hoà giải viên theo nhiệm kỳ sẽ góp phần bổ sung nhân tố mới, nhạy bén, hăng hái, tích cực, tạo ra được sự hỗ trợ đắc lực cho những người lớn tuổi, làm việc nhiều năm, giàu kinh nghiệm nhưng có thể sẽ gặp trở ngại trong việc bắt kịp sự thay đổi nhanh chóng của xã hội, trong việc tiếp cận và khai thác thông tin phục vụ hoạt động hoà giải ở cơ sở;

    2) Việc quy định nhiệm kỳ công tác của hoà giải viên sẽ khắc phục được sự tuỳ tiện xin thôi làm hoà giải viên. Thực trạng khảo sát có đề cập đến vấn đề có một số hoà giải viên vừa mới được cử đi tập huấn về thì lại xin thôi hoà giải viên. Hiện tượng này làm giảm hiệu quả của công tác tập huấn nâng cao năng lực hoà giải viên, lãng phí công sức đào tạo, tập huấn mà lại không phát huy được tác dụng gia tăng chất lượng hoạt động hoà giải ở cơ sở;

    3) Việc quy định nhiệm kỳ công tác của hoà giải viên không mâu thuẫn với việc giữ chân những hoà giải viên nhiệt tình, giàu kinh nghiệm và có uy tín đối với cộng đồng dân cư. Những hoà giải viên này thường là người lớn tuổi, được tín nhiệm – họ có thể là hoà giải viên trong nhiều nhiệm kỳ;

    4) Việc thiết lập cơ chế nhiệm kỳ có thể mở ra một hướng đi mới cho hoạt động của hoà giải viên, đó có thể là chế độ hoà giải viên chuyên trách trong tương lai hoặc ít nhất cũng góp phần chú trọng và làm cụ thể hơn nữa tới yếu tố năng lực (Competency) của hoà giải viên theo quy định của khung pháp lý quốc tế . Hiện tại, Luật Hoà giải ở cơ sở của Việt Nam quy định về tiêu chuẩn của hoà giải viên phải là người “Có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín trong cộng đồng dân cư; Có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân; có hiểu biết pháp luật”. Trong hai nội dung này có nội dung thứ hai chi thù lao cho hoà giải viên trực tiếp tham gia vụ việc hoà giải là tối đa 200.000đ/vụ việc/tổ hòa giải[3] là chưa phù hợp với thực tế.

    (Tải slide bài giảng tập huấn nghiệp vụ hòa giải ở cơ sở)

    Ở những khu vực vùng cao, đường xá xa xôi, di chuyển khó khăn, nếu tổ hoà giải gồm 3 người phải tự đến nơi tiến hành hoà giải thì thù lao nói trên chia cho 3 người là quá ít ỏi và có những lúc không đủ bù đắp chi phí đi lại thực tế đã phải bỏ ra. Nói một cách khác, pháp luật hiện nay đang quy định khoán 200.000đ/vụ việc/tổ hoà giải mà chưa chi hỗ trợ kinh phí đi lại cho các thành viên của tổ hoà giải này. Đây là một vấn đề mà hầu hết các đối tượng hoà giải viên khi được khảo sát đều đề cập tới, vấn đề này ảnh hưởng không nhỏ đến nhiệt huyết của hoà giải viên khi làm nhiệm vụ.

    (Trích từ dự thảo báo cáo nghiên cứu thực trạng giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải ở cơ sở của UNDP)

    Rubi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Nghiên Cứu Khoa Học Đáp Ứng Yêu Cầu Đào Tạo Nghề Tại Trường Trung Cấp Luật Đồng Hới
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Trong Hoạt Động Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục Của Sinh Viên Tại Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Nghiên Cứu Khoa Học Trong Các Cơ Sở Giáo Dục Đại Học
  • Nâng Cao Chất Lượng Nông Sản Để Hội Nhập Quốc Tế
  • Nâng Cao Sức Cạnh Tranh Hàng Nông Sản Việt Nam Trong Hội Nhập
  • Nâng Cao Chất Lượng Tham Mưu Của Văn Phòng Cấp Ủy

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Văn Phòng Cấp Ủy Theo Hướng Chuyên Nghiệp
  • Văn Phòng Cấp Ủy: Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Tham Mưu, Phục Vụ
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Trợ Giúp Pháp Lý Cho Người Dân Tộc Thiểu Số
  • Tăng Cường Quản Lý Chất Lượng Vụ Việc Trợ Giúp Pháp Lý
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Vụ Việc Khi Trợ Giúp Viên Pháp Lý Tham Gia Hoạt Động Tố Tụng
  • (Quanlynhanuoc.vn) – Do đặc thù công việc của mình, cán bộ Văn phòng cấp ủy luôn phải đặt mình trong trạng thái “trực chiến đấu cao nhất; làm việc trách nhiệm, hết mình; giữ vững nguyên tắc nhưng linh hoạt, năng động và luôn sáng tạo để đáp ứng yêu cầu của cấp ủy.

    1. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lâm thời lần thứ nhất được tiến hành tại Hương Cảng (Trung Quốc), từ ngày 14/10- 31/10/1930, dưới sự chủ trì của đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị lần thứ nhất, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định thành lập bộ phận chuyên môn giúp việc Trung ương Đảng – tiền thân của Văn phòng cấp ủy sau này. Suốt nửa tháng diễn ra Hội nghị, mọi công việc của Hội nghị đều được bộ phận giúp việc chuẩn bị chu đáo, được bảo vệ an toàn và bảo mật. Hội nghị đã thành công tốt đẹp về mọi mặt, hoàn thành nhiều nội dung quan trọng, đặt nền móng cho hoạt động của Đảng những năm tiếp theo. Đây chính là dấu mốc, là những trang sử đầu tiên về hoạt động Văn phòng của Trung ương Đảng.

    Tháng 5/ Văn phòng Thường vụ Trung ương Đảng mới được thành lập tại xã Quảng Nạp (nay là xã , huyện tỉnh Thái Nguyên), do đồng chí Lê Văn Lương làm Bí thư với nhiệm vụ theo dõi tình hình trong cả nước, tổng hợp báo cáo Thường vụ Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Trường Chinh, thực hiện các công việc về hành chính, quản trị.

    Năm 1948, Văn phòng Trung ương Đảng tiếp tục được củng cố và tăng cường tổ chức, bộ máy, cán bộ, đi sâu hơn vào chuyên môn, nghiệp vụ và hướng dẫn thực hiện đến các địa phương trong cả nước. Văn phòng Trung ương Đảng đã không ngừng trưởng thành và có những đóng góp tích cực vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Ghi nhận những thành tích đó, ngày 29/01/2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra thông báo quyết định lấy ngày 18/10/1930 là ngày truyền thống của Văn phòng Trung ương Đảng, đồng thời là Ngày truyền thống của Văn phòng cấp ủy Đảng.

    Nghị quyết Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II chính thức đã quy định nhiệm vụ của Văn phòng Trung ương Đảng là “giúp Trung ương và Ban Bí thư giải quyết công việc hằng ngày”.

    Tết Nguyên đán năm 1950, đến thăm Văn phòng Trung ương Đảng tại chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ đã nói: “Công tác Văn phòng có tầm quan trọng đặc biệt, giúp cho cán bộ lãnh đạo nắm được tình hình. Cán bộ Văn phòng nắm tình hình sai thì lãnh đạo sẽ giải quyết công việc không đúng… cho nên phải luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, năng lực công tác và giữ bí mật, để phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ được giao”. Câu nói của Bác vừa là lời căn dặn, vừa là phương châm công tác đối với cán bộ văn phòng nói chung, cán bộ Văn phòng cấp ủy Đảng nói riêng.

    Ngày , Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 45-QĐ/TW sáp nhập Ban Kinh tế, Ban Nội chính, Ban Tài chính – Quản trị vào Văn phòng Trung ương Đảng.

    Từ năm theo Nghị quyết của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), Ban Kinh tế và Ban Nội chính được tái lập lại và tách khỏi Văn phòng Trung ương Đảng.

    Hiện nay, Văn phòng cấp ủy là một trong 5 cơ quan chuyên môn giúp việc cho cấp ủy cơ sở gồm: Tổ chức, Tuyên giáo, Dân vận, Kiểm tra và Văn phòng. Cũng là một ban chuyên môn của Đảng, song Văn phòng cấp ủy lại có chức năng, nhiệm vụ đặc biệt mà không cơ quan tham mưu, giúp việc nào có thể thay thế. Đó là giúp cấp ủy điều hành toàn bộ hoạt động của đảng bộ; phối hợp, điều hòa hoạt động của các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy; tham mưu, tổng hợp và trực tiếp phục vụ cơ quan lãnh đạo cao nhất của một cấp ủy Đảng giữa hai kỳ đại hội.

    Theo đó, Văn phòng cấp ủy là đơn vị đầu tiên tiếp nhận các thông tin, chủ trương của cấp ủy cấp trên và thông tin tổng hợp từ các nguồn đến cấp ủy; cùng các ban đảng đề xuất chủ trương chỉ đạo và là cơ quan duy nhất thẩm định cuối cùng các chủ trương, nghị quyết chỉ đạo của cấp ủy. Bên cạnh đó, Văn phòng cấp ủy còn được giao nhiệm vụ trực tiếp tham mưu tổ chức và phục vụ mọi hoạt động của cấp ủy; cả về hoạt động đối nội, đối ngoại của cấp ủy, tiếp xúc trực tiếp với các đầu mối khi đến cấp ủy; là cơ quan làm việc trực tiếp nhất, gần gũi nhất, thường xuyên nhất với cấp ủy, chính vì vậy “văn phòng là người lính gác cửa của cấp ủy”.

    2. Đảng bộ Học viện Hành chính Quốc gia là đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng bộ Bộ Nội vụ (tính từ ngày 01/8/2014). Đảng bộ được thành lập vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX (theo Nghị quyết số 450 ngày 04/02/1983 của Quận ủy Đống Đa về việc chuyển Chi bộ thành Đảng bộ cơ sở) với tên gọi ban đầu là Đảng bộ Trường Hành chính Trung ương. Trải qua 11 kỳ đại hội mỗi một kỳ lại đánh dấu một mốc son của Đảng bộ Học viện.

    Để có được thành công của các kỳ Đại hội, Văn phòng Đảng ủy Học viện Hành chính Quốc gia (viết tắt là Văn phòng Đảng ủy) đã góp phần không nhỏ trong công tác tham mưu, giúp việc, tư vấn, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ của đại hội Đảng có hiệu quả. Thời gian đầu chỉ có bộ phận chuyên trách nằm trong Ban Tổ chức cán bộ được bố trí một đến hai cán bộ chuyên trách; qua 61 năm, tổ chức bộ máy Văn phòng Đảng ủy đã ngày càng được kiện toàn; cán bộ, viên chức Văn phòng Đảng ủy đều là những người đạt chuẩn về trình độ, có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, tư tưởng vững vàng, kiên định.

    Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, ngày 07/5/2018, Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia ban hành Quyết định số 1516/QĐ-HCQG về việc thành lập Văn phòng Đảng – Đoàn thể; tiếp đó, ngày 29/5/2018 Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia ban hành Quyết định số 1786/QĐ-HCQG quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Đảng – Đoàn thể. Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên cho đơn vị, làm cơ sở nền tảng để Văn phòng Đảng ủy Học viện, đoàn thể hoàn thiện và phát triển mạnh mẽ với phương châm: ” Đoàn kết – Sáng tạo – Kỷ cương – Tham mưu chất lượng, hiệu quả”.

    Văn phòng Đảng ủy đã luôn bám sát nhiệm vụ, chủ động tham mưu, giúp việc Đảng ủy, Ban Thường vụ, Thường trực Đảng ủy lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện hiệu quả các mặt công tác trên các lĩnh vực:

    (1) Công tác chính trị tư tưởng đã có những chuyển biến tích cực, tính tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên được nêu cao, tạo được sự thống nhất ý chí và hành động trong Đảng, sự đồng thuận cao trong toàn Học viện.

    (2) Công tác cán bộ tập trung triển khai thực hiện đồng bộ, dân chủ, khách quan, đúng quy định của Đảng và Nhà nước; bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ.

    Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được gắn với công tác quy hoạch, bảo đảm nguồn cán bộ kế cận đủ năng lực, phẩm chất, uy tín ngang tầm nhiệm vụ.

    Chú trọng việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí nguồn cán bộ tại chỗ, nhất là cán bộ nữ, cán bộ trẻ; công tác luân chuyển, điều động cán bộ được triển khai thực hiện có hiệu quả.

    (3) Công tác phát triển tổ chức Đảng và đảng viên mới, bảo vệ chính trị nội bộ cũng được tham mưu thực hiện tốt; chỉ tính trong nhiệm kỳ 2022 – 2022, ngoài việc cử hàng trăm quần chúng ưu tú và đảng viên mới tham gia các lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng và lớp bồi dưỡng dành cho đảng viên mới kết nạp, Đảng ủy học viện Hành chính Quốc gia đã xem xét đề nghị Đảng ủy Bộ Nội vụ quyết định công nhận 221 đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức; xem xét đề nghị kết nạp 199 quần chúng ưu tú vào Đảng (trong đó 103 sinh viên hệ chính quy).

    (4) Công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng được tiến hành thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm, bám sát yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị; đặc biệt, tập trung xử lý dứt điểm những vấn đề, vụ việc còn tồn đọng, kéo dài trong nhiều năm, giữ vững kỷ cương, kỷ luật. Công tác dân vận của cấp ủy Đảng và hệ thống chính trị được triển khai thực hiện nghiêm túc, nhất là việc quán triệt, triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác dân vận. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách bảo đảm nghiêm túc.

    Công tác tuyên giáo luôn quán triệt mục tiêu “Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”, do đó công tác tuyên giáo đi sâu tuyên truyền, quán triệt đến cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ thực hiện việc nói và làm theo đúng quan điểm, đường lối, cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên luôn quán triệt sâu sắc và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

    (5) Công tác đoàn thể đã cụ thể hóa chương trình hoạt động cho từng tháng, từng quý và cả năm, bảo đảm đáp ứng nhiệm vụ của công đoàn cấp trên và chỉ đạo của Đảng ủy Học viện.

    – Hướng hoạt động vào các nhiệm vụ trọng tâm như: tiếp tục thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng nếp sống văn minh công sở, tham gia công tác phát triển đảng viên mới, chế độ phúc lợi đối với cán bộ, viên chức và người lao động trong Học viện.

    – Ban Nữ công và Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ Học viện (đặc thù của Học viện có hơn 60% số cán bộ, giảng viên là nữ) duy trì các hoạt động, với nhiều hình thức phong phú như hội thảo, tọa đàm về vai trò của phụ nữ trong Học viện, về bình đẳng giới, tổ chức tư vấn cho chị em “giữ lửa” hạnh phúc gia đình…

    – Công tác Đoàn và phong trào thanh niên đã khẳng định rõ tầm quan trọng trong hoạt động chung của Học viện. Các phong trào Đoàn, Hội của sinh viên Học viện ở các phân viện của Học viện đều phát triển và đạt được những kết quả rất đáng khích lệ, đóng góp chung vào việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ Học viện và được Đoàn Khối các cơ quan Trung ương, Thành Đoàn Hà Nội, Thành Đoàn TP. Hồ Chí Minh và các địa phương đánh giá cao.

    Với vị trí, vai trò của mình, Văn phòng Đảng ủy Học viện ngày càng nâng cao về chất lượng, làm tốt vai trò tổng hợp thông tin phục vụ đắc lực cho sự lãnh, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ, Thường trực Đảng ủy; phối hợp với các tiểu ban Đảng tham mưu giúp Đảng ủy điều hành công việc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng; công tác văn thư, lưu trữ, công nghệ thông tin, tài chính Đảng ngày càng chính quy, chặt chẽ, khoa học, nâng cao hiệu quả công việc, bảo đảm hoạt động của cấp ủy được thông suốt…

    Với chức năng, nhiệm vụ và vị trí công tác đó, cán bộ, viên chức Văn phòng Đảng ủy Học viện luôn tận tâm, tận tụy, sáng tạo trong công việc; đoàn kết chặt chẽ, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

    3. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (công nghệ 4.0), để nâng cao chất lượng công tác tham mưu, phục vụ lãnh đạo hiệu lực, hiệu quả. Trước mắt và trong thời gian tới, Văn phòng Đảng ủy Học viện (Văn phòng Đảng – Đoàn thể) xác định nhiệm vụ trọng tâm là như sau:

    Một là, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác tham mưu giúp cấp ủy tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Học viện, quy chế làm việc, chương trình công tác toàn khóa, chương trình công tác năm của Đảng ủy Học viện. Đồng thời, tham mưu xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh, đột xuất, các khâu đột phá để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội Ðảng bộ Học viện (khóa XI), nhiệm kỳ 2022 – 2025.

    Hai là, nâng cao chất lượng công tác thẩm định, thẩm tra văn bản trình Đảng ủy (xét kết nạp đảng viên mới, xét chính thức cho đảng viên dự bị…) và tham mưu, giúp việc Đảng ủy kịp thời ban hành các văn bản, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng ủy, Ban Thường vụ trên các lĩnh vực (nghị quyết, thông báo kết luận phiên họp Đảng ủy…).

    Ba là, công tác tham mưu có tính dự báo, tính định hướng và kịp thời nắm bắt những diễn biến về tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng để giúp Đảng ủy, Ban Thường vụ, Thường trực Đảng ủy có chỉ đạo kịp thời và sát sao.

    Bốn là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin có hiệu quả trong hoạt động của Văn phòng Đảng ủy, bảo đảm an toàn thông tin mạng, cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác. Tăng cường hướng dẫn, kiểm tra công tác đảng vụ đối với các đảng bộ, chi bộ thuộc và trực thuộc Đảng bộ Học viện Hành chính Quốc gia.

    Năm là, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để bảo đảm tiêu chuẩn theo chức danh, vị trí việc làm và nâng cao trình độ mọi mặt đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ.

    ThS. Nguyễn Minh Tuấn

    Học viện Hành chính Quốc gia

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Các Văn Phòng Cấp Ủy
  • Tìm Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Ban Nữ Công Quần Chúng
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Nữ Công
  • Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Ban Nữ Công
  • Cđ Dệt May Vn Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Nữ Công
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Hòa Giải Ở Cơ Sở

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Thảo Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hòa Giải Ở Cơ Sở
  • Khánh Vĩnh: Chú Trọng Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Hòa Giải Tại Cơ Sở
  • Tập Trung Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng Chính Sách
  • Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Ở Trường Đại Học Hà Tĩnh
  • Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Quản Lý Bộ Phận Buồng Của Các Khách Sạn Ở Việt Nam
  • Nâng cao chất lượng công tác hòa giải ở cơ sở

    Thời gian qua, đội ngũ hòa giải viên trong tỉnh đã tham gia thực hiện tốt công tác hòa giải ở cơ sở. Chất lượng kỹ năng hòa giải được nâng lên, hạn chế đơn thư khiếu nại, tố cáo, góp phần củng cố sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân, hỗ trợ chính quyền địa phương giữ vững trật tự an toàn xã hội.

    Cán bộ Tư pháp – Hộ tịch thị trấn Cổ Lễ (Trực Ninh) tuyên truyền về Luật Hòa giải ở cơ sở đến từng người dân.

    Toàn tỉnh hiện có 3.650 tổ hòa giải với 21.751 hòa giải viên cơ sở, 100% thôn, xóm, tổ dân phố có tổ hòa giải, mỗi tổ hòa giải trung bình có từ 5-7 thành viên, hầu hết là người có uy tín, người hiểu biết pháp luật tham gia hoạt động đảm bảo quy định của pháp luật, phù hợp với tình hình thực tế từng địa bàn. Để đội ngũ hòa giải hoạt động hiệu quả, các xã, phường, thị trấn luôn chú trọng thực hiện tốt Luật Hòa giải ở cơ sở như: Xây dựng tổ hòa giải; xác định rõ trách nhiệm của mặt trận và chính quyền các cấp trong tổ chức hoạt động này… Trên cơ sở hướng dẫn của Sở Tư pháp, cấp huyện, UBND cấp xã phối hợp với ban thường trực Ủy ban MTTQ cùng cấp thường xuyên rà soát, thống kê số lượng tổ hòa giải hiện có; số lượng tổ viên đủ điều kiện trở thành hòa giải viên cần được bổ sung, thay thế. Cơ cấu tổ hoà giải có tổ trưởng và các tổ viên do Ủy ban MTTQ cấp xã phối hợp với các tổ chức thành viên của mặt trận lựa chọn, giới thiệu để nhân dân bầu và do UBND cùng cấp công nhận. Cùng với việc nâng cao kỹ năng cho đội ngũ hòa giải viên, các cấp, các ngành đã thường xuyên phối hợp, lồng ghép công tác hòa giải ở cơ sở với các phong trào tại cộng đồng dân cư, gắn công tác hòa giải với nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội và giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Từ đầu năm 2022 đến nay, toàn tỉnh tiếp nhận và hòa giải 723 vụ, việc, trong đó hòa giải thành 510 vụ, 25 vụ việc chưa giải quyết xong. Những vụ việc hòa giải không thành đều được hòa giải viên hướng dẫn chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết để tránh tình trạng khiếu kiện vượt cấp, kéo dài… Cùng với việc hòa giải các mâu thuẫn, tranh chấp, các hòa giải viên còn tích cực lồng ghép hoạt động hòa giải với đẩy mạnh công tác trợ giúp pháp lý, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao hiểu biết pháp luật, tạo thói quen chấp hành pháp luật cho nhân dân trong tỉnh.

    Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở, thời gian tới, Sở Tư pháp cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý Nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến sâu rộng chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở. Phát huy trách nhiệm và sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan Tư pháp, Ủy ban MTTQ và các tổ chức thành viên của MTTQ nhằm tạo sức mạnh tổng hợp thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở. Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hòa giải; cung cấp tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ, tài liệu pháp luật cho đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở; tổ chức các hội thi tìm hiểu pháp luật, hội thi hòa giải viên giỏi, tuyên truyền viên pháp luật…, góp phần nâng cao vai trò của công tác hòa giải ở cơ sở đối với việc giữ vững an ninh trật tự ở địa phương./.

    Bài và ảnh: Văn Huỳnh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Quan Trọng Nâng Cao Chất Lượng Sản Phẩm Nông Nghiệp
  • Hợp Tác Để Nâng Cao Chất Lượng Cho Nông Sản Đbscl
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nông Sản
  • 8 Bí Quyết Nâng Cao Chất Lượng Nhân Viên Của Doanh Nhân Mỹ
  • Sức Sống Và Sự Lan Tỏa Của Ngày Hội Đại Đoàn Kết Toàn Dân Tộc
  • Nâng Cao Chất Lượng Tổ Chức Cơ Sở Đảng

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Tổ Chức Cơ Sở Đảng Ở Địa Bàn Khó Khăn (Kỳ 1)
  • Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Của Tổ Chức Đảng Cơ Sở Ở Kon Tum
  • Nâng Cao Chất Lượng Tổ Chức Cơ Sở Đảng Ở Địa Bàn Khó Khăn
  • Tiếp Tục Nâng Cao Chất Lượng Tổ Chức Cơ Sở Đảng Và Đảng Viên
  • Bàn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kết Nạp Đảng Viên Tại Khu Phố
  • Nửa nhiệm kỳ qua, các cấp ủy Đảng trong thành phố triển khai nhiều giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) và chất lượng đội ngũ đảng viên. Bên cạnh tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhóm giải pháp theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, từng cấp ủy đảng địa phương, cơ quan, đơn vị cũng chủ động nghiên cứu, sáng tạo thực hiện nhiều giải pháp, cách làm mang lại hiệu quả đáng khích lệ.

    Các TCCSĐ quận Bình Thủy tham dự Liên hoan các mô hình tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh do Ban Tuyên giáo Quận ủy tổ chức.

    Cũng theo đồng chí Lê Văn Thành, qua đối thoại và nhất là trong quá trình “hậu kiểm”, BTV nhận thấy hầu hết các đồng chí bí thư, cấp ủy của các TCCSĐ đã nêu cao vai trò gương mẫu, trách nhiệm trong việc tham mưu thực hiện nhiệm vụ chính trị tại cơ quan, đơn vị. “Song song đó, Đảng bộ Khối vẫn duy trì việc ký cam kết của người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu; thường xuyên chấn chỉnh, nhắc nhở TCCSĐ nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình; tổ chức Hội nghị chuyên đề về nâng cao đạo đức công vụ cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong Đảng bộ Khối CQDCĐ… Sắp tới, Đảng ủy Khối sẽ tổ chức hội nghị chuyên đề nâng cao chất lượng xây dựng thực hiện quy chế làm việc của cấp ủy TCCSĐ và chi bộ”- đồng chí Lê Văn Thành nhấn mạnh.

    Theo đồng chí Nguyễn Thị Kim Thảo, Ủy viên BTV, Trưởng ban Ban Tổ chức quận ủy Bình Thủy, từ năm 2022, Ban Tổ chức Quận ủy Bình Thủy đề nghị các cấp ủy đảng trong Đảng bộ quận thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ việc cập nhật, lưu trữ các tài liệu về thực hiện NQTW4, Chỉ thị 05. Trong đó, chú trọng tập hợp các kế hoạch khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của tập thể, tổ chức đảng; mở sổ cập nhật những ưu điểm và hạn chế khuyết điểm của các tập thể, cá nhân để làm cơ sở nhận xét, đánh giá chất lượng cuối năm… “Ban Tổ chức Quận ủy vừa triển khai kế hoạch, biểu mẫu “sổ tay” thực hiện NQTW4 khóa XII. Trong đó, liệt kê cụ thể 27 biểu hiện suy thoái, giúp đảng viên tự soi rọi, nhận diện “mức độ” hạn chế, khuyết điểm của bản thân. Từ đó, đề ra kế hoạch khắc phục hiệu quả. Đồng thời, chỉ đạo cấp ủy chi bộ thường xuyên giám sát việc khắc phục, tổ chức kiểm điểm xoay vòng để kịp thời uốn nắn những đảng viên có dấu hiệu vi phạm…” – đồng chí Nguyễn Thị Kim Thảo nhấn mạnh.

    Chi bộ ấp Thới Hưng, xã Giai Xuân, huyện Phong Điền họp bàn kế hoạch triển khai công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chỉ tiêu kinh tế- xã hội của địa phương.

    Song song đó, TCCSĐ thường xuyên được củng cố, kiện toàn, chất lượng đội ngũ đảng viên được nâng cao, phát huy vai trò hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị ở cơ sở. Hằng năm, chỉ đạo chặt chẽ việc thực hiện đánh giá, phân loại chất lượng đảng bộ cấp trên cơ sở và hướng dẫn, đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên. Số lượng TCCSĐ yếu kém giảm dần qua các năm, tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt khá cao, bình quân 93,28%/năm (chỉ tiêu Nghị quyết đạt 90% trở lên). Công tác phát triển đảng viên được chú trọng, đã phát triển 7.699 đảng viên mới, đạt 69,99% chỉ tiêu Nghị quyết đề ra. Đến nay, toàn Đảng bộ thành phố có 719 TCCSĐ, với 51.433 đảng viên, tăng 7.699 đảng viên so với năm 2022.

    Công tác kiểm tra, giám sát được các cấp ủy quan tâm thường xuyên. Nội dung kiểm tra, giám sát có trọng tâm, trọng điểm, sát hợp với nhiệm vụ chính trị và thực tiễn địa phương. Nửa nhiệm kỳ qua, Ban Thường vụ Thành ủy và các cấp ủy trực thuộc xây dựng, tổ chức thực hiện 3.123 cuộc kiểm tra, giám sát. Các cấp ủy đảng thi hành kỷ luật 233 đảng viên (khiển trách 144, cảnh cáo 69, cách chức 15, khai trừ 15), giảm 87 trường hợp so với cùng kỳ.

    Theo đồng chí Nguyễn Thanh Hoàng, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Phong Điền, thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện, nửa nhiệm kỳ qua, tất cả 10 chỉ tiêu đạt và vượt tiến độ đề ra; trong đó, có 5 chỉ tiêu đạt 100% kế hoạch cả nhiệm kỳ… Đó là do BTV Huyện ủy đã kịp thời cụ thể hóa, ban hành 3 nghị quyết chuyên đề; đặc biệt nghị quyết chuyên đề về việc phân công cán bộ chỉ đạo cơ sở; những nghị quyết chuyên đề về công tác tổ chức xây dựng Đảng, góp phần nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ… Qua đó, tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức và ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong việc chấp hành Điều lệ Đảng, các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương và nghị quyết của cấp ủy các cấp. Hằng năm có trên 90% TCCSĐ đạt trong sạch, vững mạnh…

    Nửa nhiệm kỳ còn lại, Ban Thường vụ Thành ủy Cần Thơ tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ đảng viên; sắp xếp kiện toàn các TCCSĐ theo đúng loại hình, rà soát, sửa đổi, bổ sung chức năng nhiệm vụ; đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ, nhất là sinh hoạt chuyên đề; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, quy chế làm việc của cấp ủy, quy định việc cấp ủy viên và đảng viên dự sinh hoạt với chi bộ khu dân cư; quan tâm công tác phát triển đảng viên, nhất là ở khu dân cư và các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước; đồng thời, sàng lọc, xử lý nghiêm minh đối với đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tiếp tục đổi mới công tác đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức đảng và đảng viên, bảo đảm việc đánh giá đúng thực chất…

    Bài, ảnh: QUỲNH LAM

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tổ Chức Cơ Sở Đảng Ở Tỉnh Thái Bình Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ
  • Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Ở Huyện Hiệp Hòa: Nhiều Giải Pháp Phát Huy Hiệu Quả
  • Kiến Nghị Của Dn Cũng Là Giải Pháp Giúp Chính Phủ Cải Cách Tốt Hơn
  • Kiến Nghị Và Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Của Công Tác Thu Bhxh Ở Việt Nam
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Cán Bộ Hội Phụ Nữ Cơ Sở

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Các Cấp
  • Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Đổi Mới Sinh Hoạt, Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Của Chi Hội Phụ Nữ Cơ Sở
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Của Hội Đồng Nhân Dân Phường Thạch Bàn
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Giám Sát Chuyên Đề Của Thường Trực Và Các Ban Hđnd Tỉnh Thanh Hóa
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Giám Sát Của Hội Đồng Nhân Dân
  • Lâu nay chúng ta thường nói “Cán bộ nào thì phong trào đó”. Thực tế đã chứng minh: Nơi nào cán bộ phụ nữ năng động, làm việc trách nhiệm, nhiệt tình thì ở đó phong trào sẽ sôi nổi, hiệu quả, ngược lại nơi nào cán bộ làm việc hời hợt, thiếu trách nhiệm, yếu cả về trình độ chuyên môn và nghiệp vụ thì phong trào sẽ ngày một yếu đi. Cả nhiệm kỳ 2006-2011, Hội LHPN tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động xây dựng đội ngũ cán bộ phụ nữ cơ sở giỏi, có đủ tài và đức đưa phong trào của Hội gặt hái thêm nhiều thành công.

    Lâu nay chúng ta thường nói “Cán bộ nào thì phong trào đó”. Thực tế đã chứng minh: Nơi nào cán bộ phụ nữ năng động, làm việc trách nhiệm, nhiệt tình thì ở đó phong trào sẽ sôi nổi, hiệu quả, ngược lại nơi nào cán bộ làm việc hời hợt, thiếu trách nhiệm, yếu cả về trình độ chuyên môn và nghiệp vụ thì phong trào sẽ ngày một yếu đi. Cả nhiệm kỳ 2006-2011, Hội LHPN tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động xây dựng đội ngũ cán bộ phụ nữ cơ sở giỏi, có đủ tài và đức đưa phong trào của Hội gặt hái thêm nhiều thành công.

    Phát hiện, bồi dưỡng, giới thiệu cho Đảng những cán bộ, hội viên phụ nữ có trình độ, năng lực vào nguồn quy hoạch cán bộ hội, cán bộ nữ là công việc các cấp hội phụ nữ đặc biệt quan tâm, làm tốt trong thời gian qua. Đối với những xã khó khăn về công tác cán bộ nữ, Hội phụ nữ cấp tỉnh, huyện, thành phố trực tiếp làm việc với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương cùng tìm ra giải pháp thực hiện hiệu quả nhất. Hội phụ nữ cơ sở thường xuyên rà soát trình độ cán bộ, tham mưu, đề xuất để được cấp ủy Đảng, các cấp hội cử đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ tại các lớp do Tỉnh hội phối hợp với các trường, trung tâm tổ chức, như: Hội LHPN tỉnh phối hợp với trường Chính trị tỉnh, trường Cán bộ phụ nữ TƯ mở lớp trung cấp phụ vận và nghiệp vụ công tác phụ nữ, kỹ thuật nấu ăn, tin học văn phòng, quản lý doanh nghiệp… cho gần 1500 cán bộ hội. 8 huyện, thành phố cũng tổ chức tập huấn cho các đối tượng là Ủy viên BTV, BCH hội phụ nữ 286 xã, phường, thị trấn… Do đó, trong nhiệm kỳ 2006-2011, toàn tỉnh có 78 cán bộ hội hoàn thành trình độ văn hóa 12/12, 42 chị học xong trung cấp chính trị, 75 chị học ĐH, CĐ, trung cấp, nâng tỷ lệ chủ tịch hội phụ nữ cơ sở đạt trình độ văn hóa 12/12 lên 89,8%, trung cấp lý luận: 82,5%, trung cấp chuyên môn trở lên: 76,9% (tăng so với đầu nhiệm kỳ từ 6%-10%), phó chủ tịch Hội phụ nữ cơ sở đạt trình độ văn hóa 12/12: 72,7%, trung cấp lý luận: 27,6%, trung cấp chuyên môn trở lên: 34,8% (tăng so với đầu nhiệm kỳ từ 5,4% – 9,2%). Tỷ lệ cán bộ BCH và Ban thường vụ hội cơ sở cũng tăng lên đáng kể: trong BCH trình độ văn hóa 12/12: 47,4%, trung cấp lý luận 15%, trung cấp chuyên môn trở lên 24,8%; trong Ban thường vụ trình độ 12/12: 70,6%, trung cấp lý luận 39%, trung cấp chuyên môn trở lên 25,7%. Đội ngũ cán bộ hội phụ nữ cơ sở còn được trưởng thành hơn từ hội thi “Cán bộ hội phụ nữ cơ sở giỏi” các cấp năm 2009.

    5 năm qua, các cấp hội đã bầu bổ sung 32 chủ tịch, 32 phó chủ tịch, 85 ủy viên BTV, BCH, 41 chi hội trưởng. Việc bầu bổ sung luôn bảo đảm đúng nguyên tắc và kịp thời. Nếu đầu nhiệm kỳ 2006- 2011, có 9.282 cán bộ hội phụ nữ cơ sở đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu “Cán bộ hội cơ sở giỏi”, thì cuối nhiệm kỳ bình xét có 6.247 chị đạt, chiếm 67,3%. Trong đó, TƯ Hội LHPN Việt Nam tặng bằng khen cho 5 chị, Hội LHPN tỉnh tặng giấy khen cho 89 chị, huyện hội và thành hội khen 873 chị, các chị còn lại được nhận giấy chứng nhận đạt “Cán bộ hội cơ sở giỏi”.

    Tuy nhiên công tác cán bộ hội phụ nữ cơ sở nhiệm kỳ 2006-2011 vẫn còn những hạn chế, như: Trình độ một số cán bộ hội cơ sở còn yếu, đặc biệt là cán bộ chủ chốt cao tuổi, phương pháp làm việc thiếu tính sáng tạo, chưa khoa học; việc tham mưu quy hoạch cán bộ yếu, một số lãnh đạo địa phương chưa thực sự quan tâm đến công tác quy hoạch cán bộ hội phụ nữ; một số cán bộ nguồn có tâm lý ngại đi học nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn; cơ chế chính sách về công tác cán bộ hội cơ sở chưa phù hợp khiến chị em không chuyên tâm công tác…

    Để xây dựng đội ngũ cán bộ hội phụ nữ cơ sở đáp ứng được nhu cầu của thời kỳ CNH- HĐH đất nước, có đủ năng lực, trình độ thực hiện tốt nhiệm vụ của nhiệm kỳ tiếp theo (2011-2016) và nhiệm vụ của địa phương, các cấp hội phụ nữ cần thực hiện nghiêm túc và đồng bộ, hiệu quả các giải pháp chủ yếu: Kết thúc đại hội phụ nữ cấp cơ sở nhiệm kỳ 2011- 2022, BCH Hội phụ nữ cấp cơ sở phải xây dựng quy chế hoạt động và tổ chức thực hiện nghiêm quy chế. Tiếp tục thực hiện tốt quy chế, nguyên tắc, quy định về người cán bộ hội phụ nữ, coi trọng giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức người cán bộ hội, đẩy mạnh học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tích cực tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương về công tác quy hoạch cán bộ hội, phát hiện, bồi dưỡng cán bộ nguồn; nắm chắc thực trạng đội ngũ cán bộ hội để xây dựng kế hoạch đào tạo chuẩn hóa. Ngay đầu nhiệm kỳ 2011- 2022 tổ chức cho cán bộ cơ sở đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu “Cán bộ Hội cơ sở giỏi”, hàng năm bình xét theo đúng quy định. Kiện toàn đội ngũ cán bộ hội kịp thời, đúng nguyên tắc. Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách với cán bộ hội cơ sở, thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng, tổ chức các buổi tọa đàm, hội thi, hội thảo về công tác cán bộ hội cơ sở…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Tập Hợp Phụ Nữ, Phát Triển, Quản Lý Hội Viên Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Chi, Tổ Hội Gắn Với Thực Hiện Bình Đẳng Giới Và Sự Tiến Bộ Phụ Nữ
  • Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Tham Mưu, Tổng Hợp Của Vksnd Tỉnh Cao Bằng
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Tạo Hình Mẫu Giáo
  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Lưu Trú Tại Khách Sạn Rất Hay, Điểm 8
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Cho Cơ Sở Y Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Y Tế
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Khám, Chữa Bệnh, Khắc Phục Căn Bản Tình Trạng Quá Tải Bệnh Viện
  • Giải Pháp Phát Triển Đối Tượng Tham Gia Bhyt
  • Nhiều Giải Pháp Phát Triển Đối Tượng Tham Gia Bhyt
  • Huyện Vĩnh Tường Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Phát Triển Đối Tượng Tham Gia Bhyt
  • Mặc dù trên cả nước hiện nay có tới hơn 1400 cơ sở khám chữa bệnh nhưng nhiều người dân vẫn còn tâm lý “ngại” và “sợ” khi đi khám bệnh bởi muôn vàn lý do khác nhau: từ chất lượng dịch vụ, thủ tục phức tạp, tình trạng quá tải liên miên hay thái độ của nhân viên y tế… Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của các trung tâm y tế, bệnh viện cũng như doanh thu của các đơn vị này nói chung, sau quy định tự chủ tài chính (áp dụng từ tháng 10/2017).

    1. Tuyển chọn và đào tạo kỹ năng đội ngũ y bác sĩ có tài, có đức.

    Một vấn đề nóng đang nổi lên hiện nay là y đức bác sĩ. Do tính chất công việc áp lực, một bác sĩ không chỉ cần có chuyên môn cao mà thái độ, cách hành xử với bệnh nhân cũng cần kiên nhẫn, văn minh, phù hợp.

    Ngoài đầu tư về chuyên môn cho các bác sĩ: trau dồi, học hỏi thêm nhiều kiến thức về y khoa trong quá trình học tập lẫn làm việc tại bệnh viện, cử đội ngũ đi học chuyên sâu, thậm chí du học nước ngoài thì các bệnh viện nên chú trọng hơn vào việc rèn luyện thái độ, y đức của họ trong môi trường chuyên nghiệp, quy củ. Luôn tuân thủ quy tắc: coi người bệnh là trung tâm, mang đến sự hài lòng và nâng cao uy tín của bệnh viện với người bệnh.

    2. Đầu tư cho Hệ thống cơ sở vật chất đạt chuẩn.

    Công nghệ y học ngày càng phát triển và hỗ trợ hiệu quả hơn cho hoạt động của các cơ sở y tế nói chung. Để nâng cao hiệu quả chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe – y tế thì việc bổ sung, cải tạo và nâng cấp các trang thiết bị đáp ứng nhu cầu chữa bệnh cao hơn là không thể bỏ qua.

    Không những cần đầu tư đầy đủ về các trang thiết bị y tế, các bệnh viện cần đẩy mạnh vào việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác khám chữa bệnh, giảm thiểu tối đa thời gian chờ đợi của người bệnh. Dựa trên nền tảng của các phần mềm quản lý, phần mềm quản trị quan hệ khách hàng (CRM), giờ đây mọi bệnh viện có thể “số hóa” dữ liệu khách hàng, phân tích và đem đến cho họ những giải pháp dịch vụ tối ưu hơn trước kia.

    Cụ thể, bằng việc ứng dụng phần mềm CRM vào quản lý dữ liệu khách hàng, các trung tâm y tế có thể lưu lại mọi thông tin về bệnh nhân, từ đó phân loại được khách hàng theo độ tuổi, giới tính, loại bệnh, mức độ bệnh, số lần khám tại cơ sở… cùng rất nhiều thông tin bổ ích khác. Đặc biệt, với dung lượng bộ nhớ không giới hạn, thông tin các hồ sơ bệnh án sẽ được lưu lại vĩnh viễn, dễ dàng tìm kiếm, cập nhật và bảo mật tuyệt đối trên hệ thống phần mềm.

    Với sự hỗ trợ đắc lực của những phần mềm này, các hoạt động chăm sóc bệnh nhân của các trung tâm y tế sẽ diễn ra nhanh chóng, hiệu quả hơn. Nhờ đó, sự hài lòng của họ gia tăng, đem đến lượng khách tin tưởng, quay lại thăm khám tại các đơn vị này ngày càng nhiều.

    Cũng bởi vậy, mọi đơn vị y tế cần thường xuyên đầu tư, cập nhật mới hệ thống công nghệ, cơ sở vật chất, góp phần cải tiến quy trình, chất lượng dịch vụ ở cơ sở mình, nhằm đem đến sự hài lòng tối đa cho các bệnh nhân đến thăm khám.

    3. Nâng cao dịch vụ chăm sóc khách hàng.

    Mặc dù đã đầu tư vào kỹ thuật công nghệ, máy móc và đội ngũ y bác sĩ nhưng cơ sở y tế của bạn vẫn chưa thể nâng cao được chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe? Nguyên nhân nằm ở đâu?

    Nguyên nhân chính nằm ở dịch vụ khách hàng, khâu chăm sóc khách hàng tại đơn vị y tế chưa chuyên nghiệp, chưa được quan tâm đúng mức. Dịch vụ đào tạo kỹ năng chăm sóc khách hàng chưa được đầu tư chuyên nghiệp, bài bản, chưa đáp ứng được nhu cầu phức tạp của nhiều bệnh nhân đến khám chữa bệnh.

    Đã có không ít trường hợp bệnh viện quá tải, thiếu nhân viên dịch vụ chăm sóc, nhân viên thiếu kỹ năng hỗ trợ các thủ tục, giải đáp thắc mắc… dẫn đến bệnh nhân mệt mỏi chờ đợi, các lễ tân tiếp nhận có thái độ cáu kỉnh, gắt gỏng, y bác sĩ chịu nhiều áp lực trước thái độ của bệnh nhân và người nhà. Thực trạng này thường xuyên xảy ra ở nhiều bệnh viện do chưa có đội ngũ CSKH chuyên nghiệp, khả năng xử lý công việc và tình huống chưa tốt, đặc biệt thiếu sự hỗ trợ đắc lực từ các phần mềm quản lý hiện đại.

    Vậy giải pháp cho tình trạng này là gì?

    – Đào tạo kỹ năng, nghiệp vụ dành riêng cho đội ngũ nhân viên tư vấn, tiếp tân bài bản, để họ có thể xử lý tốt mọi tình huống, trường hợp bệnh nhân khác nhau khi đến cơ sở y tế khám bệnh

    – Hoàn thiện quy trình dịch vụ chuyên nghiệp bao gồm cả trước, trong và sau khi khám bệnh: từ khâu tiếp nhận bệnh nhân, thăm khám bệnh cho đến khi họ đã sử dụng dịch vụ và chăm sóc họ sau khi khám chữa bệnh.

    – Ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào hệ thống quản lý khách hàng, quản lý dữ liệu bệnh viện, nhằm tối thiểu hóa những công việc mà một nhân viên lễ tân, tiếp tân bệnh viện cần làm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bàn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Y Tế
  • Chính Phủ Bàn Giải Pháp Thực Hiện Bhyt Toàn Dân
  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Y Tế Thông Minh Ecomedic
  • Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Quân Đội Trong Giai Đoạn Cách Mạng Hiện Nay
  • Bàn Về Xây Dựng Đội Ngũ Cán Bộ Ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Quân Đội Hiện Nay
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100