Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Sinh Học Cấp Thcs
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Môn Sinh Học 6
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Và Học Tập Môn Sinh Học Lớp 6 Sách Giáo Khoa Mới Ở Các Trường Thcs Tỉnh An Giang
  • Bài 14. Thực Hiện Trật Tự, An Toàn Giao Thông
  • Kiểm Tra Các Đơn Vị Vận Tải Đảm Bảo An Toàn Khi Tham Gia Giao Thông Trong Điều Kiện Dịch Bệnh Covid
  • Đối với các trường THCS ngoài nhiệm vụ tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng đại trà để tránh hiện tượng học sinh ngồi nhầm lớp nhằm góp phần thực hiện cuộc vận động hai không với bốn nội dung, thì công tác nâng cao chất lượng mũi nhọn cũng hết sức quan trọng và được nhiều trường quan tâm. Vậy làm thế nào để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở các trường THCS đạt kết quả cao? Đây là một nhiệm vụ không phải một cá nhân hay tập thể làm được mà cần có sự phối kết hợp chặt chẻ của giáo viên giảng dạy, học sinh, Ban giám hiệu trường và Ban chấp hành hội phụ huynh của trường. Là một giáo viên đã một số năm có học sinh đạt học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh tôi mạnh dạn trao đổi một số kinh nghiệm sau:

    – Giáo viên phải có tâm huyết, có trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp.

    – Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải tìm hiểu, phát hiện ra học sinh có năng khiếu bộ môn ngay từ lớp đầu cấp (khối 6).

    – Lập danh sách và lên kế hoạch bồi dưỡng (giáo viên phải có kế hoạch bồi dưỡng cụ thể, khoa học).

    – Công tác bồi dưỡng được tiến hành trong cả các tiết học (giáo viên có những câu hỏi nâng cao dành cho HSG).

    – Trong quá trình ôn HSG phải ôn kiến thức cơ bản, trong tâm trước, sau đó mới nâng cao. Tránh trường hợp chưa dạy kiến thức cơ bản đã dạy nâng cao làm cho học sinh choáng ngợp, bồi dưỡng phải từ kiến thức đơn giản đến kiến thức nâng cao.

    – Ngoài ôn luyện ở lớp GV cần ra những câu hỏi để HS tìm hiểu thêm, làm bài tập thêm ở nhà.

    – GV không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, học hỏi các đồng chí, đồng nghiệp trong trường hoặc một số trường bạn có kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi để tích lũy thêm kinh nghiệm bồi dưỡng.

    – Phải có năng khiếu bộ môn

    – Siêng năng, tích cực trong học tập, không ngừng học hỏi và sưu tầm tài liệu để nghiên cứu.

    – Thường xuyên rèn luyện kĩ năng làm bài.

    – Phải tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên đầu tư cho công tác bồi dưỡng.

    – Tham mưu tốt với phụ huynh học sinh để thành lập quỹ hổ trợ cho GV và HS khi đi thi, học tập ở huyện hoặc có thành tích trong các cuộc thi..

    – Đông viên kịp thời đối với cả giáo viên và học sinh có thành tích cao.

    – BCHH cùng với trường thành lập quỹ hội để hổ trợ giáo viên và học sinh trong qua trình bồi dưỡng, đi thi, thưởng cho giáo viên và học sinh khi có kết quả cao.

    – Động viên kịp thời đối với HS có thành tích và giáo viên có công bồi dưỡng

    – Phải tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho HS học tập (thời gian học tập, tài liệu nghiên cứu).

    Giáo viên:Nguyễn Hữu Tuấn

    Trường THCS Phù Hóa, Quảng Trạch, Quảng Bình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Ôn Thi Tốt Nghiệp Thpt Năm 2013
  • Các Giải Pháp Tăng Cường Hiệu Quả Công Tác Ôn Thi Tốt Nghiệp
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Ôn Thi Tốt Nghiệp Địa Lý
  • Giải Pháp Nào Để Nâng Cao Chất Lượng Ôn Thi Tốt Nghiệp?
  • Luận Văn: Hoạt Động Văn Hoá Học Đường Của Học Sinh Thpt, Hay
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi

    --- Bài mới hơn ---

  • Chậm Phát Triển Trí Tuệ
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Vùng Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Qủa Công Tác Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Lịch Sử Cho Học Sinh Lớp 11 Trường Thpt Lam Kinh
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Tiểu Học Huyện Triệu Sơn
  • Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Đáp Ứng Yêu Cầu Đổi Mới
  • Nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi

    Trong nhiều năm qua, ngành GD và ĐT tỉnh luôn xác định công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Ngành GD và ĐT tỉnh nhiều năm liền được công nhận là đơn vị xuất sắc toàn quốc. Thành tích học sinh giỏi của tỉnh trên trường thi quốc gia, quốc tế luôn đứng trong tốp đầu cả nước.

    Thầy và trò Trường THCS Hải Lý (Hải Hậu) trao đổi về bài học trước giờ lên lớp.

    Có được kết quả trên, UBND tỉnh, ngành GD và ĐT và các địa phương đã quan tâm chỉ đạo, tạo mọi điều kiện tốt nhất để các kỳ thi học sinh giỏi cấp trường, cấp huyện, cấp tỉnh các năm học diễn ra thành công; qua đó, lựa chọn học sinh xuất sắc nhất tham gia thi học sinh giỏi các môn văn hóa. Sở GD và ĐT chỉ đạo các nhà trường tập trung các giải pháp nâng cao chất lượng học sinh giỏi văn hóa trên nền kiến thức cơ bản vững chắc. Ngay từ đầu mỗi năm học, ban giám hiệu các nhà trường xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi. Phát hiện và xây dựng nguồn bắt đầu từ lớp 10, lựa chọn giáo viên có năng lực chuyên môn, kinh nghiệm và tinh thần trách nhiệm, phân công theo hướng ổn định có tính kế thừa và phát huy kinh nghiệm. Tạo mọi điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức từ đồng nghiệp để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền giáo dục hiện đại. Ban giám hiệu các trường chỉ đạo giáo viên bồi dưỡng lựa chọn học sinh có khả năng, tư chất, trí tuệ, lòng đam mê, tính sáng tạo vào đội tuyển. Giáo viên bồi dưỡng luôn có ý thức tự rèn luyện, tích lũy tri thức và kinh nghiệm, trau dồi chuyên môn, đồng thời có trách nhiệm cao, nhiệt tình, say mê với công việc, có kiến thức và hiểu biết sâu rộng, biết tạo cho học sinh động cơ thái độ học tập đúng đắn, niềm say mê yêu thích và hứng thú trong học tập; thường xuyên tìm tòi các tư liệu, có kiến thức nâng cao trên các phương tiện; thực hiện phương châm “dạy chắc cơ bản rồi dạy nâng cao”; thông qua những bài luyện cụ thể để dạy phương pháp tư duy – dạy kiểu dạng bài có quy luật, loại bài có tính đơn lẻ rồi luyện các dạng tổng quát. Sau mỗi bài tập nâng cao, giáo viên đưa ra phương pháp giải hoặc những lưu ý cho học sinh tự khắc sâu kiến thức để cách trình bày được lập luận lôgic hơn; hướng dẫn học sinh cách tự học, tự nghiên cứu; phối hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh, với giáo viên chủ nhiệm trong việc dạy học sinh giỏi, tạo mọi điều kiện để các em phát huy hết năng lực của mình. Tuy nhiên, việc thành công không chỉ phụ thuộc vào thầy cô giáo mà phần lớn phụ thuộc vào mức độ quyết tâm và tư chất của từng học sinh. Do vậy, các nhà trường luôn kiên định mục tiêu giáo dục toàn diện, bồi dưỡng học sinh giỏi trên nền kiến thức cơ bản vững chắc; chú trọng các mục tiêu về chuyên môn và đề ra các mục tiêu cụ thể; chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy của thầy, phương pháp học tập của trò; xây dựng chuẩn của một giờ dạy; trong đó đánh giá cao việc tạo hứng thú và phát triển tư duy học sinh; dạy kiến thức để hình thành phương pháp và rèn luyện tư duy, trên cơ sở đó, học sinh tự vận động để tiếp nhận kiến thức mới; khuyến khích giáo viên, học sinh đa dạng hóa các hình thức dạy và học như: chuyển giao chuyên đề, tập dượt nghiên cứu, học từ xa, học qua giao lưu… Các hình thức học tập trên được học sinh hưởng ứng và có tác dụng tốt. Tại Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong và một số trường THPT chất lượng cao của tỉnh như: Trần Hưng Đạo, A Hải Hậu, Lý Tự Trọng, Giao Thủy, Tống Văn Trân, bồi dưỡng học sinh giỏi là công việc đòi hỏi nhiều công sức của cả thầy và trò, đặc biệt, có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của lãnh đạo các nhà trường. Đặc biệt, tại Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi có nhiều thuận lợi, đạt được nhiều thành tích xuất sắc. Nhiều năm liền nhà trường đứng ở tốp đầu toàn quốc về số lượng, chất lượng học sinh giỏi, nhiều môn đạt giải đồng đội, giải cá nhân. Có được kết quả đó, nhà trường đã xây dựng được chiến lược phù hợp, kế hoạch cụ thể về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, có phương án động viên kịp thời để các đội tuyển đạt thành tích cao nhất. Các thầy, cô phụ trách đội tuyển đổi mới phương pháp dạy học, khơi dậy niềm đam mê học hỏi, sáng tạo, bồi dưỡng khả năng tự học, khí chất sáng tạo của các em để tạo bước đột phá trong công tác bồi dưỡng. Trước mỗi kỳ thi, học sinh trong các đội tuyển được tư vấn chuẩn bị thật tốt sức khỏe, dồn hết trí lực, tâm lực cho kỳ thi để có được phong độ cao nhất, luôn sáng suốt và thăng hoa trong những giờ phút quyết định để có kết quả như mong muốn. Với những nỗ lực của toàn ngành GD và ĐT, những năm gần đây, tỉnh ta có tỷ lệ học sinh đoạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia chiếm trên 80% số học sinh dự thi, thuộc tốp đầu toàn quốc. Từ năm 2010 đến nay, tỉnh ta đã có 19 lượt học sinh đoạt giải Olympic quốc tế, trong đó có 3 Huy chương Vàng, 4 Huy chương Bạc, 12 Huy chương Đồng. Năm học 2022-2020, tỉnh ta có 78/93 học sinh đoạt giải quốc gia với 4 giải Nhất, 22 giải Nhì, 27 giải Ba, 25 giải Khuyến Khích và giành được 1 Huy chương Vàng Olympic Hóa học quốc tế, 1 Huy chương Đồng Olympic Toán học quốc tế. Năm học 2022-2021 tỉnh ta có 77/92 học sinh đoạt giải quốc gia ở 11 môn thi với tỷ lệ học sinh đoạt giải 83,69%.

    Kết quả trên thể hiện sự quyết tâm của các nhà quản lý giáo dục, của các thầy, cô giáo trong việc nỗ lực nâng cao chất lượng giảng dạy và cũng thể hiện sự nỗ lực, quyết tâm lớn của các em học sinh.

    Hướng tới đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, thời gian tới, bên cạnh giáo dục các môn văn hóa, các nhà trường tổ chức các câu lạc bộ, hội thảo, những sân chơi trí tuệ để học sinh được học hỏi, nâng cao kiến thức, rèn luyện kỹ năng. Tổ chức các kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp trường lớp 10, lớp 11 và có hình thức khen thưởng đối với học sinh có giải; có chế độ động viên, khuyến khích, kịp thời đối với giáo viên và học sinh tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi có thành tích cao. Làm tốt công tác xã hội hóa, tham mưu với địa phương để tuyên truyền vận động nhằm thay đổi nhận thức của phụ huynh về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi./.

    Bài và ảnh: Minh Thuận

    --- Bài cũ hơn ---

  • 9 Giải Pháp Đột Phá Nâng Cao Tỉ Lệ Tốt Nghiệp Thpt Quốc …
  • Những Nhân Tố Quy Định Văn Hóa Chính Trị Của Sĩ Quan Trẻ Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Hiện Nay
  • Công Ty Cổ Phần Công Nghệ Môi Trường Giải Pháp Xanh
  • Chung Tay Giữ Gìn Vệ Sinh Môi Trường
  • Đảm Bảo Vệ Sinh Môi Trường Tại Các Vùng Ven Biển
  • Quảng Trị: Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Yếu, Kém Môn Toán
  • Biện Pháp Cải Thiện, Nâng Cao Chất Lượng Nuôi Dạy Học Sinh Bán Trú
  • Chăm Lo Đời Sống Học Sinh Bán Trú, Nâng Cao Chất Lượng Học Tập
  • Một Số Giải Pháp Tích Cực, Để Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Ăn Bán Trú Đạt Hiệu Quả Và An Toàn Thực Phẩm Tại Trường Tiểu Học Đồng Cương.
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Quản Lý Học Sinh Bán Trú Trong Giờ Nghỉ Trưa Ở Tiểu Học
  • Theo đánh giá của ngành GD&ĐT tỉnh Quảng Trị, công tác nâng cao chất lượng giáo dục đại trà trong thời gian qua đã có những khởi sắc khi kết quả đạt được so với tỉnh thành trong toàn quốc qua kỳ thi THPT quốc gia thường xếp ở nữa trên trong số 64 tỉnh thành.

    Tuy nhiên, về công tác giáo dục mũi nhọn, bồi dưỡng học sinh giỏi chưa tương xứng với tiềm lực vốn có của Quảng Trị bởi nhiều nguyên nhân khách quan khó khắc phục, nhưng rõ ràng công tác quản lý, chỉ đạo, từ phía đội ngũ cán bộ, giáo viên làm công tác bồi dưỡng học sinh giỏi vẫn còn hạn chế dẫn đến chưa nâng cao được chất lượng giáo dục học sinh giỏi.

    Lãnh đạo ngành GD&ĐT tỉnh Quảng Trị khen thưởng đối với những học sinh giỏi đạt giải tại các kỳ thi quốc gia năm học 2022-2019

    Tại hội thảo này, đã có nhiều ý kiến phát biểu từ cơ sở thể hiện tinh thần, trách nhiệm và sự quan tâm rất lớn về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi văn hoá cấp THPT, đánh giá đúng thực trạng và có những kiến nghị về các phương án bồi dưỡng làm sao để học sinh của tỉnh Quảng Trị có được kết quả cao trong các kỳ thi.

    Thầy giáo Hoàng Xuân Thuỷ, Phó giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Quảng Trị chia sẻ: Tại hội thảo này, các tham luận đã đề cập đến nhiều gốc độ từ công tác quản lý, xây dựng kế hoạch, lựa chọn đội tuyển, phương pháp ôn luyện và các giải pháp hỗ trợ; đồng thời chia sẻ các cách làm hay, sáng tạo.

    Sự thành công của các em học sinh tại các kỳ thi quốc gia có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ cán bộ giáo viên bồi dưỡng các đội tuyển dự thi học sinh giỏi văn hoá cấp THPT

    Chất lượng học sinh giỏi Quốc gia của tỉnh Quảng Trị đã có hướng phát triển cả về số lượng và chất lượng; đã có học sinh đạt giải cao trong khu vực và quốc tế. Kết quả này góp phần động viên, thúc đẩy phong trào học tập của học sinh, giảng dạy của giáo viên; tạo thêm động lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, phụ huynh, học sinh toàn tỉnh.

    Tuy nhiên, thực tế cho thấy số lượng học sinh đạt giải Quốc gia, Khu vực và Quốc tế còn ít, chưa bền vững; chưa đồng đều giữa các môn, có một số môn chất lượng thấp. Chất lượng học sinh giỏi văn hoá của các trường THPT chưa đồng đều; có một số trường có rất ít học sinh tham gia thi học sinh giỏi văn hoá cấp tỉnh.

    Việc gắn kết đổi mới công tác BDHSGVH với đổi mới phương pháp dạy học còn hạn chế. Công tác tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên để bắt kịp xu hướng đổi mới trong đề thi, nội dung; sử dụng tiếng Anh để khai thác nguồn học liệu trong công tác ôn thi HSG còn rất kiêm tốn. Công tác bồi dưỡng của một số đơn vị, tổ chuyên môn còn mang tính giao khoán cho giáo viên, thiếu đi sự phối hợp.

    Thầy giáo Hoàng Xuân Thuỷ cũng cho biết thêm, để có được chất lượng học sinh tham dự các kỳ thi học sinh giỏi văn hoá cấp THPT trước hết là các đơn vị chuyên môn thuộc Sở GD&ĐT cần phải chỉ đạo sát công tác bồi dưỡng và tổ chức thi học sinh giỏi phù hợp với thực tiễn.

    Hội thảo nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi văn hoá cấp THPT của ngành GD&ĐT tỉnh Quảng Trị.

    Một trong những điểm sáng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn, cần nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của các tỉnh bạn để duy trì và phát triển vững chắc kết quả chất lượng mũi nhọn. Có chiến lược đầu tư lâu dài để tăng số lượng học giải khu vực và quốc tế. Đào tạo đội ngũ giáo viên bồi dưỡng chuyên về cả chuyên môn và ngoại ngữ để đáp ứng nhiệm vụ.

    Các trường THPT cần tăng cường đầu tư công tác Bồi dưỡng học sinh và xây dựng Kế hoạch cụ thể, tạo nên một phong trào sâu rộng trong đơn vị nhằm phát huy thế mạnh đồng thời khắc phục các tồn tại, tạo điều kiện thuận lợi nhất, để phát triển chất lượng học sinh giỏi.

    Mặt khác, giáo viên cần tăng cường tự học, thông qua việc tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi để rèn luyện chuyên môn, bồi dưỡng kiến thức cho bản thân; vừa làm tốt công tác bồi dưỡng theo phân công vừa giúp đỡ các giáo viên trong tổ thực hiện tốt nhiệm vụ…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp “nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Năm Học 2012
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Quản Lý, Chỉ Đạo, Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Giỏi Ở Trường Thcs
  • Tham Luận: Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Trường Thpt Bến Tre
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập, Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Các Nghị Quyết Của Đảng
  • Tọa Đàm: “những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập, Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Các Nghị Quyết Của Đảng”
  • Tham Luận: Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Trường Thpt Bến Tre

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Quản Lý, Chỉ Đạo, Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Giỏi Ở Trường Thcs
  • Giải Pháp “nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Năm Học 2012
  • Quảng Trị: Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Yếu, Kém Môn Toán
  • Biện Pháp Cải Thiện, Nâng Cao Chất Lượng Nuôi Dạy Học Sinh Bán Trú
  • HỌC SINH GIỎI TRƯỜNG THPT BẾN TRE

    Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một công tác mũi nhọn trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn lực, bồi dưỡng nhân tài cho nhà trường nói riêng, cho địa phương nói chung. Bồi dưỡng HSG là một công việc khó khăn và lâu dài, đòi hỏi nhiều công sức của thầy và trò.

    1. Những thuận lợi, khó khăn trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của trường THPT bến Tre.

    – Cơ sở vật chất trường của trường còn hạn chế cũng có ảnh hưởng ít nhiều đến việc dạy và học.

    – Đa số giáo viên dạy bồi dưỡng vừa phải bảo đảm chất lượng đại trà, vừa phải hoàn thành chỉ tiêu chất lượng mũi nhọn và công tác kiêm nhiệm do đó cường độ làm việc quá tải và việc đầu tư cho công tác bồi dưỡng HSG cũng có phần bị hạn chế.

    – Một số học sinh tham gia học bồi dưỡng chưa cố gắng nhiều nên kết quả thi học sinh giỏi ở một số môn chưa cao.

    – Giáo viên dạy bồi dưỡng đều phải tự soạn chương trình dạy, theo kinh nghiệm của bản thân, theo chủ quan, tự nghiên cứu, tự sưu tầm tài liệu.

    – Một số ít phụ huynh học sinh chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình, khi nhà trường chọn vào đội tuyển lại chưa quan tâm cho đi bồi dưỡng.

    2. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trường THPT Bến Tre Giải pháp 1. Đối với Ban giám hiệu:

    – Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức về sự nghiệp giáo dục trong toàn xã hội. Tăng cường công tác tham mưu cho chính quyền địa phương, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về giáo dục. Nâng cao chất lượng công tác dạy bồi dưỡng học sinh giỏi.

    – Trên cơ sở phương hướng thực hiện nhiệm vụ năm học, ngay từ đầu năm học ban giám hiệu xây dựng kế hoạch bồi dưỡng sinh giỏi.

    – Phân công chuyên môn một cách hợp lý chọn lựa những đồng chí giáo viên có năng lực chuyên môn giỏi, có kinh nghiệm, tinh thần trách nhiệm, cố gắng phân công theo hướng ổn định có tính kế thừa và phát huy kinh nghiệm.

    Phát hiện và xây dựng nguồn bắt đầu từ lớp 10, cử giáo viên giỏi, có kinh nghiệm dạy bồi dư­ỡng.

    – BGH có lịch chỉ đạo cụ thể, trang bị đầy đủ sách nâng cao, tài liệu tham khảo cho giáo viên đ­ược phân công dạy.

    – Tạo mọi điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức từ đồng nghiệp để đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của thời đại.

    – Có những chế độ động viên, khuyến khích, kịp thời đối với giáo viên và học sinh tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi có thành tích cao.

    Giải pháp 2. Đối với giáo viên bộ môn :

    – Cần phải phân công chuyên môn một cách hợp lý, giáo viên có tinh thần trách nhiệm, cố gắng phân công theo hướng ổn định để phát huy kinh nghiệm của giáo viên.

    – Cần tạo mọi điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.

    – GV dạy phát hiện và tự bồi dưỡng HS ngay trên từng tiết dạy (Bằng nhiều hình thức khác nhau, câu hỏi tư duy…).

    – Việc lựa chọn đội tuyển cần tiến hành ngay sau khi kết thúc năm học thông qua việc trao đổi với giáo viên giảng dạy trước đó để lựa chọn những em có khả năng, tư chất, trí tuệ, lòng đam mê vào đội tuyển, làm nguồn cho năm học kế tiếp.

    – Thông qua giáo viên chủ nhiệm định hướng, sự thỏa thuận của giáo viên bồi dưỡng ở các đội tuyển để tránh tình trạng chồng chéo giữa môn này với môn kia.

    – Bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi cần được tiến hành thường xuyên cả trên lớp và các buổi chiều riêng, không nên để gần thi mới tích cực bồi dưỡng làm cho học sinh quá tải đồng thời ảnh hưởng đến kết quả học tập các môn học khác của học sinh.

    Giải pháp 3. Đối với giáo viên dạy bồi dưỡng:

    – Muốn có HSG phải có Thầy giỏi vì thế người thầy phải luôn luôn có ý thức tự rèn luyện, tích lũy tri thức và kinh nghiệm, trau dồi chuyên môn, luôn xứng đáng là “người dẫn đường tin cậy” cho học sinh noi theo. Phải thường xuyên tìm tòi các tư liệu, có kiến thức nâng cao trên các phương tiện, đặc biệt là trên mạng internet. Lựa chọn trang Web nào hữu ích nhất, tiện dụng nhất, tác giả nào hay có các chuyên đề hay, khả quan nhất để sưu tầm tài liệu…

    – Trong công tác BDHSG khâu đầu tiên là khâu tuyển chọn học sinh khâu này rất quan trọng.

    – Bước tiếp theo, sau khi lựa chọn được học sinh, chúng ta lập kế hoạch cho HS và cho mình một cách cụ thể tránh tình trạng thích đâu dạy đó. Dạy theo chuyên đề là biện pháp mà tổ chúng tôi thấy đó là hữu hiệu nhất mà tôi sử dụng.

    – Nắm vững phư­ơng châm: dạy chắc cơ bản rồi mới nâng cao – Thông qua những bài luyện cụ thể để dạy phương pháp t­ư duy – dạy kiểu dạng bài có quy luật trước, loại bài có tính đơn lẻ, đặc biệt sau.

    – Để giải đ­ược các bài toán dành cho học sinh giỏi, học sinh cần phải hiểu kiến thức một cách cơ bản, hệ thống, vững chắc, sâu sắc và có khả năng vận dụng linh hoạt.

    – Lý do phải dạy theo nh­ưng phư­ơng châm nêu trên:

    + Mỗi loại cần thông qua một hoặc hai bài điển hình, quan trọng là phải rút ra phương pháp rồi cho thêm một số bài cho học sinh tự vận dụng cho thành thạo phương pháp, cần kiểm tra thẩm định xem học sinh đã nắm chắc ch­ắn chưa, nếu chư­a chắc ch­ắn cần phải củng cố đến khi đ­ược mới thôi.

    + Hầu hết các bài đều có thể quy về một loại nào đó cùng nhiều bài khác có quy tắc giải chung, đó là phổ biến: mỗi loại bài toán có một loại nguyên tắc, cứ xác định đúng loại bài, sử dụng đúng nguyên tắc là giải quyết đ­ược. Nh­ưng cá biệt có một ít bài không theo những nguyên tắc chung, thuộc những tình huống cá biệt, có thể sử dụng những cách riêng, thường không rõ quy luật, như­ng giải quyết nhanh. Cần phải coi trọng loại bài có nguyên tắc là chính. Loại sau chỉ nên giới thiệu sau khi đã học kỹ loại trên, vì loại đó học bài nào chỉ biết bài đó mà không áp dụng cho nhiều bài khác đư­ợc.

    + Một số giáo viên mới bồi d­ưỡng học sinh giỏi, thư­ờng hay nôn nóng, bỏ qua b­ước làm chắc cơ bản, cho ngay bài khó, học sinh mới đầu đã gặp ngay một “mớ bòng bong”, không nhận ra và ghi nhớ đ­ược từng đơn vị kiến thức kỹ năng, kết quả là không định hình đ­ược ph­ương pháp từ đơn giản đến phức tạp, càng học càng hoang mang.

    + Một số lại coi những bài đơn lẻ không có quy luật chung là quan trọng, cho học sinh làm nhiều hơn và tr­ước những bài có nguyên tắc chung (coi những bài đó mới là “thông minh”), kết quả là học sinh bị rối loạn, không học đ­ược phương pháp tư­ duy theo kiểu đúng đắn khoa học và thông thư­ờng là: mỗi loại sự việc có một nguyên tắc giải quyết, chỉ cần nắm vững một số nguyên tắc là giải quyết đ­ược hầu hết các sự việc.

    Về chương trình bồi dưỡng:

    – Giáo viên cần biên soạn chương trình, nội dung bồi dưỡng rõ ràng, cụ thể, chi tiết cho từng khối lớp, về từng mảng kiến thức rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ theo số tiết quy định nhất định và nhất thiết phải bồi dưỡng theo quy trình từ thấp đến cao, từ dễ đến khó để các em HS bắt nhịp dần.

    – Xác định rõ trọng tâm kiến thức giảng dạy cho từng khối lớp để tránh trùng lặp. Chương trình bồi dưỡng cần có sự liên thông trong suốt 3 năm .

    Tài liệu bồi dưỡng:

    – Giáo viên sưu tầm các bộ đề thi các cấp trong tỉnh nhà và các tỉnh khác thông qua công nghệ thông tin nhằm giúp các em tiếp xúc làm quen với các dạng đề, luôn tìm đọc, tham khảo các tài liệu hay định hướng cho học sinh.

    – Giáo viên hướng dẫn học sinh các tài liệu, sách vở, phù hợp với trình độ của các em để tự rèn luyện thêm ở nhà. Đồng thời cung cấp hoặc giới thiệu các địa chỉ trên mạng để học sinh có thể tự học, tự nghiên cứu, bổ sung kiến thức.

    Về thời gian bồi dưỡng:

    – Để chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả thì nhà trường đã có kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi liên tục và đều đặn, không dồn ép ở tháng cuối trước khi thi vừa quá tải đối với học sinh vừa ảnh hưởng đến quá trình tiếp thu kiến thức ở môn học khác của học sinh. (Thông thường thì ít nhầt 1 buổi/ tuần và nên thực hiện trong thời gian dài)

    Giải pháp 4. Đối với học sinh:

    – Học sinh phải nhận thức đúng về tầm quan trọng của học tập.

    – Học sinh phải yêu thích môn học, say mê trong học tập và ham học hỏi (đây là điều quan trọng).

    – Học sinh phải cần cù tích luỹ và chăm chỉ rèn luyện, ngoài luyện sách giáo khoa, học sinh cần luyện thêm ở sách tham khảo và tài liệu khác.

    Giải pháp 5. Đối với phụ huynh:

    – Quan tâm tạo điều kiện, động viên tích cực con em học tập tốt hơn.

    – Trang bị đầy đủ dụng cụ học tập.

    – Thường xuyên liên lạc với GV, nhà trường để nắm tình hình học tập của con mình.

    Giải pháp 6. Sự phối hợp giữa các tổ chức trong trường và khen thưởng

    – Để hỗ trợ cho công tác dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả, các bộ phận gián tiếp như: Chi bộ, Ban giám hiệu, Công đoàn, Đoàn thanh niên, giáo viên chủ nhiệm… cũng cần quan tâm đặc biệt và có những biện pháp hỗ trợ đúng mức như: tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh tham gia bồi dưỡng. Ví dụ: giảm bớt tiết, bớt công tác kiêm nhiệm, bồi dưỡng thỏa đáng cho giáo viên, có chế độ ưu tiên khuyến khích đối với học sinh đạt giải; tuyên dương khen thưởng kịp thời đối với các giáo viên và học sinh đạt thành tích; quan tâm theo dõi và đáp ứng các nhu cầu chính đáng của giáo viên và học sinh về phòng học, điện, nước…

    Tôi nghĩ rằng Người thầy giáo có vai trò quyết định nhất đối với kết quả HSG, các em HS có vai trò quyết định trực tiếp đối với kết quả của mình; Kết quả công tác bồi dưỡng học sinh giỏi có đạt hay không, điều đó còn phụ thuộc rất lớn ở các em học HS. Việc bồi dưỡng học sinh giỏi giống như chúng ta ươm một mầm non. Nếu chúng ta biết rào, biết thường xuyên chăm sóc, vun xới thì mầm non sẽ xanh tốt, phát triển.

    ( Trần Hương Bình – GV trường THPT Bến Tre)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập, Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Các Nghị Quyết Của Đảng
  • Tọa Đàm: “những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập, Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Các Nghị Quyết Của Đảng”
  • Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Quán Triệt Nghị Quyết
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Của Học Sinh Thcs
  • Luận Văn Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đánh Giá Kết Quả Học Tập Của Sinh Viên Dưới Hình Thức Trắc Nghiệm Khách Quan
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Sinh Học Trường Trung Học Cơ Sở

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà Môn Hóa Học
  • Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Của Học Sinh
  • Thầy Cô Cần Làm Gì Để Thay Đổi Phương Pháp Dạy Học
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán (Phần Giải Toán) Ở Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tiếng Việt Khối Lớp 1 Ở Trường Tiểu Học 1 Sông Đốc
  • SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC

    BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN SINH HỌC 8 Ở TRƯỜNG THCS

    I. PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lý do nghiên cứu đề tài:

    Theo “chiến lược con người” của Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ với mục tiêu:

    “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” đã được cụ thể hoá trong

    nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt trong xu thế hội nhập quốc tế mục

    tiêu “Bồi dưỡng nhân tài” càng được Đảng và Nhà nước quan tâm hơn “Hiền tài là

    nguyên khí quốc gia”. Đất nước muốn phồn thịnh đòi hỏi phải có những người tài để

    giúp nước. Hiện nay, chúng ta đang trong xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế, gia

    nhập WTO thì nhân tài là một trong những yếu tố để chúng ta có thể tiếp cận với sự

    tiến bộ khoa học công nghệ của các nước trong khu vực và trên thế giới.

    Thực tế hiện nay ở các trường THCS về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đã

    được chú trọng song vẫn còn những bất cập nhất định như:cách phát hiện, tuyển chọn,

    phương pháp giảng dạy chưa tối ưu, chưa tìm ra được hướng đi cụ thể cho công

    tác này. Từ những bất cập trên dẫn đến hiệu quả bồi dưỡng không đạt được như ý

    muốn.

    Trong các môn học ở bậc trung học cơ sở cụ thể là khối 8 thì bộ môn sinh học hiện

    nay vẫn còn xem là bộ môn phụ ít được phụ huynh và học sinh quan tâm, do đó khi

    được nhà trường phân công bồi dưỡng học sinh giỏi môn sinh 8 bản thân tôi rất trăn

    trở vì những lý do đó nên để đảm bảo chất lượng đại trà ổn định và vững chắc là một

    điều khó đối với bộ môn sinh mà ở đây đỏi hỏi chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi

    phải ngang tầm với các trường có chất lượng cao nên bản thân rất lo lắng và sợ mình

    không thực hiện tốt được nhiệm vụ nhà trường giao. Nhưng cùng với sự phát triển

    giáo dục của cả nước, của tỉnh, của huyện chất lượng giáo dục của nhà trường đã có

    những sự phát triển vượt bậc. Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, của các cấp

    chính quyền, của nhà trường, đồng nghiệp nên bản thân tôi cũng như những giáo viên

    khác lại càng suy nghĩ nhiều hơn phải làm như thế nào đây để nâng cao chất lượng

    công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn sinh 8. Chính những điều đó đã thôi thúc tôi suy

    nghĩ, trăn trở qua nhiều năm bồi dưỡng. Câu hỏi làm thế nào để chất lượng bộ môn

    sinh học ngày càng cao và bền vững, mũi nhọn học sinh giỏi bộ môn này ngày càng

    sánh được với các bộ môn học khác và ngang tầm với chất lượng các trường có chất

    lượng cao. Nhận thức được vai trò của việc bồi dưỡng học sinh giỏi và muốn góp

    phần vào công tác phát triển và bồi dưỡng HSG môn sinh học 8 ở trường tôi đang

    -1-

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    công tác do đó tôi chọn đề tài : ” Một số biện pháp nâng chất lượng bồi dưỡng học

    sinh giỏi môn sinh 8 ở trường THCS”

    Nội dung đề cập của đề tài là những biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng

    HSG giúp các em tìm hiểu sâu về một loài động vật cao nhất trên bậc thang tiến hóa con người, về những điều bí ẩn trong chính bản thân các em. Khi đã hiểu rõ, nắm chắc

    các kiến thức đó, các em sẽ tự tin trong học tập, trong thi cử, vận dụng được những

    kiến thức khoa học bộ môn vào cuộc sống, góp phần giữ vững cái nôi học sinh giỏi

    của nhà trường của quê hương tôi. Đồng thời sáng kiến này cũng góp phần vào việc

    “Đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho địa phương, cũng như cho đất nước.

    Trong những năm gần đây với đề tài này đã có một số người nghiên cứu song vẫn

    còn chung chung, chưa đưa ra được những giải pháp cụ thể. Nếu có thì giải pháp chưa

    trọng tâm và khả năng ứng dụng chưa cao.

    2. Điểm mới của đề tài:

    Đề tài: ” Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn

    sinh 8 ở trường THCS” đã đưa ra được một số biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất

    lượng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn sinh học 8, đã xác định được tư

    tưởng cho học sinh làm cho học sinh yên tâm và có hứng thú trong học tập, không còn

    xem môn sinh là môn phụ. Đã biết tích hợp bộ môn mình với bộ môn khác đặc biệt là

    môn toán, môn lý, môn mỹ thuật để tăng thêm hứng thú và sự say mê học tập cho học

    sinh .

    Đề tài còn nêu lên được việc đổi mới cách dạy của thầy và đổi mới cách học của

    trò nhằm góp phần tích cực vào việc thực hiện Nghị quyết số: 29-NQ/TW ngày 04

    tháng 11 năm 2013 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về

    Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,

    hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội

    nhập quốc tế.

    3. Phạm vi áp dụng đề tài:

    – Phạm vi đề tài của tôi đề cập đến là một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng

    học sinh giỏi bộ môn sinh học 8 được áp dụng tại nơi tôi công tác từ năm 2014-2015

    và có thể tiếp tục áp dụng trong các năm học sau với tinh thần rút ra những bài học

    kinh nghiệm và có sửa đổi,bổ sung cho phù hợp với các đối tượng và giai đoạn cụ

    thể . Mặt khác đề tài có thể áp dụng đối với các đơn vị có những nét tương đồng với

    đơn vị ở vùng khá thuận lợi.

    -2-

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    II. PHẦN NỘI DUNG

    1. Thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn sinh học 8 ở trường

    THCS hiện nay .

    * Thuận lợi:

    Hiện nay, giáo dục ở các trường luôn được các cấp chính quyền đặc biệt quan tâm.

    Vì thế cơ sở vật chất, điều kiện dạy học đã có nhiều đổi mới. Đa số là trường đạt

    chuẩn quốc gia. Học sinh được ngồi học trong các phòng học khang trang đầy đủ

    trang thiết bị cần thiết cho mỗi lớp học. Hệ thống điện, đường, trường trạm đã được

    đầu tư trực tiếp đến các hộ gia đình do đó đời sống vật chất tinh thần của bà con được

    nâng cao. Chế độ chính sách hỗ trợ học sinh nghèo học sinh vượt khó được thực hiện

    kịp thời nên đã giải quyết được những khó khăn cho học sinh trong cuộc sống và

    trong học tập.

    Nhận thức của phụ huynh về việc học đã có sự chuyển biến tích cực vì thế gia đình

    đã dành một sự đầu tư cơ bản cho con em học tập. Chất lượng học tập của các em đã

    có những tiến bộ rõ rệt và mang tính ổn định vững chắc. Phong trào thi đua học tập

    trong học sinh ngày càng rõ nét. Từ đó đã xuất hiện nhiều tấm gương học tốt tiêu biểu.

    Các em đã mạnh dạn tham gia các lớp bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu

    do nhà trường tổ chức và đã gặt hái được những thành tích đáng kể góp phần xây

    dựng phong trào học tập của xã nhà ngày một đi lên.

    Bên cạnh đó, nhà trường rất quan tâm đến công tác mũi nhọn học sinh giỏi, học

    sinh năng khiếu. Từ việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cho đến phân công chỉ đạo

    giáo viên phụ trách đều chi tiết, lựa chọn kĩ càng. Tài liệu tham khảo cho giáo viên và

    học sinh đã được đầu tư cơ bản, đáp ứng đủ nhu cầu dạy học trong quá trình bồi

    dưỡng. Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm chỉ đạo sâu sát mũi nhọn bồi dưỡng

    từng môn học. Luôn động viên tiếp sức cho giáo viên và học sinh trong quá trình bồi

    dưỡng. Tham gia dự giờ để tư vấn thêm cho giáo viên trong quá trình bồi dưỡng. Đề

    ra những chính sách mang tính thi đua thiết thực, khen thưởng rõ ràng để thầy và trò

    có động lực cố gắng phấn đấu đạt hiệu quả cao.

    Chất lượng đội ngũ giáo viên công tác tại các trường đã đạt và vượt chuẩn trên 70

    %, đáp ứng kịp thời nhu cầu dạy học theo hướng đổi mới và hiện đại. Giáo viên đã

    nắm chắc được hệ thống các phương pháp dạy học bộ môn, biết phối hợp khá linh

    hoạt các phương pháp dạy học; tổ chức được các hình thức học tập của học sinh khá

    đa dạng, phong phú nên đã tạo ra nhiều tiết dạy sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn được học

    sinh vào quá trình khám phá, tìm tòi lí thú. Sự hỗ trợ tích cực của công nghệ thông tin

    -3-

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    học nên không tham gia bồi dưỡng có những em tham gia thì đa số với tình trạng

    không hứng thú với bộ môn. Số lượng học sinh có đủ điều kiện bồi dưỡng ít, số môn

    bồi dưỡng khá nhiều nên việc lựa chọn có khi trùng lặp học sinh ở các bộ môn. Ban

    giám hiệu nhà trường có khi phải can dự vào việc lựa chọn học sinh bồi dưỡng. Thực

    trạng đó dẫn đến có sự ảnh hưởng đến chất lượng dạy học và kết quả bồi dưỡng bộ

    môn.

    Điều kiện hoàn cảnh gia đình của một số em còn khó khăn nên việc quan tâm của

    gia đình đến học tập của các em còn hạn chế nhiều, nhìn chung còn phó mặc cho giáo

    viên và nhà trường. Tài liệu tham khảo của các em hoàn toàn do giáo viên sưu tầm và

    mượn thêm từ thư viện nhà trường, sưu tầm ở trên mạng. Bên cạnh đó, công tác tự

    học, tự nghiên cứu ở nhà của học sinh còn hạn chế. Các em chưa có thói quen tự học,

    sáng tạo trong học tập. Việc học còn phụ thuộc quá nhiều vào việc giảng dạy trên lớp

    chính khóa và bồi dưỡng của giáo viên nên vấn đề học bài, khắc sâu kiến thức ở nhà

    của các em chưa thật chu đáo, thiết thực.

    BẢNG SỐ 1

    Chất lượng khảo sát đầu năm môn sinh học 8 để lựa chọn học sinh giỏi:

    Năm học: 2014-2015

    Lớp

    Giỏi

    Khá

    SL

    %

    SL

    %

    Yếu

    Kém

    %

    SL

    %

    SL

    %

    8A

    29

    4

    13,8

    8

    27,6 13

    48,8

    4

    13,8

    0

    0

    25 86,2

    8B

    35

    0

    0

    8

    22,9 17

    48,6

    10 28,6

    0

    0

    25 71,4

    8C

    31

    0

    0

    7

    22,6 17

    54,8

    9

    0

    0

    22

    95

    4

    4,2

    23

    24,2 47

    49,5

    23 24,2

    0

    0

    73 76,8

    29

    71

    Kết quả cho thấy tỉ lệ học sinh giỏi còn thấp 4,2 %, trước thực trạng trên, để

    khơi dậy trong các em sự hứng thú học tập, yêu thích bộ môn, say mê khám phá, tìm

    tòi kiến thức, phát triển tư duy, tính sáng tạo cho học sinh, nhằm nâng cao chất lượng

    dạy học, và giúp học sinh học giỏi hơn môn sinh 8 tôi đi vào nghiên cứu và áp dụng

    thực tiễn đề tài: ” Một số biện pháp nâng cao chất bồi dưỡng học sinh giỏi môn sinh

    8 ở trường THCS”

    -5-

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    thời để ta có nguồn để chúng ta tiến hành kiểm tra đánh giá và loại dần những em

    không tiến bộ, không đạt theo yêu cầu đã đưa ra qua các lần kiểm tra, thi chọn, để lựa

    chọn chính xác đối tượng học sinh giỏi. Giáo viên cần đánh giá học sinh một cách

    khách quan, chính xác, không chỉ qua bài thi mà cả qua việc học tập bồi dưỡng dưỡng

    hằng ngày, việc thực hiện bài tập về nhà, việc chuẩn bị bài mới. Việc lựa chọn đúng

    không chỉ nâng cao hiệu quả bồi dưỡng, mà còn tránh bỏ sót học sinh giỏi và không bị

    quá sức đối với những em không có tố chất.

    Biện pháp 2 : Xác định tư tưởng để học sinh yên tâm và có hứng thú học tập

    bồi dưỡng bộ môn.

    Như phần trên tôi đã nêu, đối tượng học sinh tôi bồi dưỡng đa số là học sinh không

    có sự hứng thú và đam mê đối với bộ môn, các em xem môn sinh là môn phụ, có tư

    tưởng đứng núi này trong núi nọ tìm cách để chuyển môn bồi dưỡng. Vì vậy giáo viên

    phải tích cực động viên, xác định tư tưởng để các em thấy được tầm quan trọng của

    việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn sinh học: như là hiện nay đời sống con người ngày

    càng cao nhu cầu về sức khoẻ ngày càng lớn do đó đòi hỏi phải có Bác sĩ giỏi mà

    muối thi Bác sĩ phải học 3 môn trong đó không thể thiếu được bộ môn sinh học …

    Ngoài việc xác định rõ tư tưởng cho các em bản thân tôi còn phải đổi mới cách dạy

    tạo ra sự hứng thú, tính tò mò cho các em, tạo niềm vui cho các em khi được học bồi

    dưỡng môn sinh học 8 ; Đồng thời bản thân tôi đã giúp cho các em có cách học mới

    giúp cho các em tự tin hơn, chủ động, sáng tạo hơn trong việc chiếm lĩnh kiến thức

    mới, …từ đó các em có yên tâm và có hứng thú trong học tập hơn. Mặt khác giáo viên

    bồi dưỡng phải tham mưu cho ban giám hiệu nhà trường, GVCN, các giáo viên cùng

    bộ môn và các bộ môn khác để làm tốt công tác tư tưởng cho các em.

    Biện pháp 3 :Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng một cách cụ thể tránh tình trạng

    thích đâu dạy đó và biên soạn chương trình, nội dung bồi dưỡng rõ ràng cụ thể chi

    tiết cho từng chuyên đề, từng mảng kiến thức( Theo tôi dạy theo chuyên đề là biện

    pháp hữu ích nhất ).

    Đầu năm học, giáo viên phải quan tâm đến việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng phù

    hợp với đặc trưng bộ môn và tình hình dạy học của đơn vị. Để làm được điều đó,

    tôi dựa vào các căn cứ như sau:

    Căn cứ vào kế hoạch thi học sinh giỏi của phòng, kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi

    tổng thể của nhà trường, tôi đã xây dựng kế hoạch bồi dưỡng phù hợp với tình hình

    đơn vị, thời gian dạy học chính khóa và dung lượng kiến thức cần đạt trong bồi

    -7-

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    dưỡng. Kế hoạch phải mang tính định hướng và mục tiêu yêu cầu cần đạt trong và kết

    thúc quá trình bồi dưỡng, kết quả dự thi.

    Hiện nay có rất nhiều sách nâng cao và tài liệu bồi dưỡng của phòng phát hành, các

    tài liệu tham khảo, đề thi học sinh giỏi các năm trước, ngườn tài liệu ở trên

    mạng …. song chương trình bồi dưỡng chưa có sách hướng dẫn chi tiết, cụ thể từng

    tiết, từng buổi học như trong chương trình chính khoá. Vì thế soạn thảo chương

    trình bồi dưỡng là một việc làm hết sức quan trọng và rất khó khăn nếu như chúng

    ta không có sự tham khảo, tìm tòi và chọn lọc tốt. Giáo viên cần biên soạn nội

    dung bồi dưỡng dẫn dắt học sinh từ cái cơ bản của nội dung chương trình học

    chính khoá, tiến dần tới chương trình nâng cao (tức là trước hết phải khắc sâu kiến

    thức cơ bản của nội dung học chính khóa, từ đó vận dụng để mở rộng và nâng cao

    dần).

    Cần soạn thảo chương trình từ cơ bản tới nâng cao, từ đơn giản đến phức tạp để

    các em học sinh bắt nhịp dần. Đồng thời phải có ôn tập củng cố, kiểm tra, rút kinh

    nghiệm qua mỗi bài kiểm tra.

    Không nên xây dựng chương trình như sách giáo khoa nâng cao hiện nay vì như

    thế học sinh khó nắm chắc kiến thức, dễ nhầm lẫn. Mặt khác trong sách nâng cao

    số lượng kiến thức nâng cao quá nhiều nếu lạm dụng sẽ ôm đồm, làm học sinh

    hoang mang bởi quá nhiều kiến thức không biết nắm kiến thức nào bỏ kiến thức

    nào …

    Một số tiết ôn tập, giáo viên bồi dưỡng cần giúp các em tổng hợp các kiến thức,

    các dạng bài, các phương pháp giải bài tập theo từng chuyên đề theo hệ thống. Vì

    hầu hết các em chưa tự mình hệ thống được kiến thức mà đòi hỏi phải có sự hướng

    dẫn, giúp đỡ của giáo viên.

    Điều cần thiết, giáo viên đầu tư nhiều thời gian, tham khảo nhiều tài liệu để đúc

    rút, soạn thảo cô động nội dung chương trình bồi dưỡng. (Cần lưu ý : Tùy thuộc vào

    thời gian bồi dưỡng, khả năng tiếp thu của học sinh mà mức độ kiến thức cao hay

    thấp, số lượng bài khó và ôn tập củng cố kiểm tra nhiều hay ít)

    Biện pháp 4 : GV Chuẩn bị bài ( soạn bài ) chu đáo cho việc bồi dưỡng và phải

    xác định rõ trọng tâm kiến thức cho từng buổi, từng tiết để tránh trùng lặp.

    Công tác soạn bài có tầm quan trọng đặc biệt. Nó quyết định sự thành công hay

    thất bại của một tiết trên lớp. Nó chính là bản hướng dẫn hành động cho người giáo

    viên. Do vậy, không được xem thường, qua loa, máy móc, xa rời đối tượng học sinh.

    -8-

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    Phải tận dụng điều kiện thiết bị dạy học hiện có để giúp các em quan sát trực quan,

    khắc sâu thêm kiến thức.

    Trong bài soạn phải thể hiện rõ được phương pháp dạy của giáo viên (hướng dẫn,

    điều khiển hoạt động học tập của học sinh theo hướng tích cực và thể hiện rõ hoạt

    động của học sinh (học sinh tích cực chủ động hoạt động, tự nghiên cứu và tìm ra kiến

    thức dưới sự điều khiển của giáo viên, của nhóm, …).

    Ngoài ra trong soạn bài tôi còn đặc biệt chú ý lựa chọn và sử dụng thiết bị dạy học

    minh họa, tài liệu tham khảo giúp các em khám phá cái mới, mở rộng kiến thức hoặc

    củng cố và khắc sâu kiến thức cho các em sau mỗi buổi bồi dưỡng tạo cho các em

    hứng thú hơn khi được bồi dưỡng môn sinh….

    Biện pháp 5 : Lựa chọn, kết hợp và sử dụng phương pháp bồi dưỡng phù hợp

    với nội dung chuyên đề bồi dưỡng.

    Môn sinh học 8 (môn cơ thể người và vệ sinh) là môn khoa học thực nghiệm mà

    phương pháp nghiên cứu chủ yếu là quan sát và thí nghiệm (Thực nghiệm). Như

    chúng ta đã biết, con người có nguồn gốc động vật, thuộc lớp Thú nên cấu tạo cơ thể

    và các hoạt động sinh lí về đại thể giống với động vật thuộc lớp Thú. Do đó người ta

    thường tìm hiểu cấu tạo và hoạt động sinh lí của phần lớn các cơ quan, hệ cơ quan trên

    cơ thể động vật để hiểu về con người. Vì thế, trong dạy học, bồi dưỡng bộ môn này

    khi có điều kiện sẵn mẫu vật tự nhiên (tim, phổi, thận, não…) mà giáo viên hay học

    sinh có được, có thể cho học sinh quan sát các mẫu vật đó để tìm hiểu hình thái (màu

    sắc, hình dạng, kích thước), giải phẩu (cấu tạo bên trong các cơ quan và cơ thể) kết

    hợp với tranh vẽ, mô hình cơ quan, hệ cơ quan của người để so sánh, đối chiếu từ đó

    giúp học sinh ghi nhớ kĩ hơn và chính xác hơn.

    Ngoài tác dụng về mặt nhận thức, các phương pháp đặc trưng này còn rèn luyện,

    tập dượt cho học sinh phương pháp nghiên cứu, giúp các em phát triển tư duy khoa

    học, tác phong cẩn thận, chính xác và có lòng say mê tìm hiểu nghiên cứu .

    Con người là đối tượng nghiên cứu của môn sinh học 8, là đối tượng rất gần gũi

    với các em, là chính bản thân các em, là bạn bè thân thiết xung quanh các em là một

    phương tiện trực quan sống cần được khai thác trong quá trình dạy các kiến thức hình

    thái, giải phẫu. Chẳng hạn, mắt với màng giác, mống mắt, con ngươi; lưỡi với các gai

    vị giác, da với các sản phẩm của da (lông, móng); tai ngoài… các chi, xương đai, các

    loại khớp, các bắp cơ… có thể quan sát trực tiếp trên cơ thể mình hoặc bạn. Do đó có

    thể khai thác những vốn hiểu biết của các em về các cơ quan, bộ phận cơ thể người,

    vào quá trình dạy học. Giáo viên có thể dùng phương pháp hỏi – đáp gợi mở từ thực tế

    -9-

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    các bộ phận cơ thể để các em dễ nhớ, dễ vận dụng và nắm chắc hơn. Hoặc về phía học

    sinh có thể dùng những hiểu biết khoa học để tìm hiểu, giải thích những hiện tượng

    thường gặp trong đời sống. Chẳng hạn, vì sao máu người có màu đỏ, vì sao người say

    rượu thường có biểu hiện chân nam đá chân chiêu trong lúc đi, vì sao ta nhai cơm lâu

    trong miệng lại có cảm giác ngọt ……..

    Học sinh lớp 8 là học sinh có độ tuổi từ 13-14 tuổi. Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi

    của lứa tuổi này rất thất thường. Vì ở lứa tuổi này học sinh đang bước vào lứa tuổi

    dậy thì, giai đoạn quá độ chuyển từ thiếu niên sang thanh niên, cơ thể phát triển mạnh

    về kích thước và thể lực, đồng thời có những chuyển biến mạnh về mặt sinh lí. Do đó

    các em thích tìm hiểu về bản thân, hay tò mò, ham hiểu biết, thích tìm tòi cái mới,

    muốn khẳng định mình, các em tự cho mình là người lớn và cũng muốn mình được

    coi là người lớn, muốn được tham gia vào các hoạt động một cách độc lâp, muốn thử

    sức mình. Tuy nhiên mức độ phát triển của hệ thần kinh chưa đạt đến sự hoàn thiện,

    do đó các em chóng mệt mỏi, dễ hưng phấn song cũng dễ chuyển sang trạng thái ức

    chế khi phải tiếp thu bài một cách thụ động, kém hào hứng. Vì thế khi sử dụng những

    phương pháp dạy học theo chuyên đề phải giúp các em động não và tích cực hoá hoạt

    động học tập của các em để học tập đạt kết quả cao .

    Sự thành công của việc bồi dưỡng phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp dạy học

    mà giáo viên lựa chọn. Do đó trong quá trình bồi dưỡng để đạt kết quả cao trong bồi

    dưỡng tôi thường lựa chọn, kết hợp sử dụng những phương pháp sau :

    – Phương pháp hỏi đáp, tạo tình huống giải quyết vấn đề.

    Giáo viên dùng lời nói để dẫn dắt, giúp học sinh suy nghĩ, tìm tòi kiến thức cần

    nghiên cứu. Giáo viên đưa ra tình huống cho học sinh giải quyết vấn đề. Đây là một

    trong những phương pháp phổ biến và đặc trưng trong công tác bồi dưỡng học sinh

    giỏi.

    Ví dụ : khi ôn tập nội dung về các loại mô, tôi cho học sinh có thời gian để ghi nhớ

    đặc điểm của các loại mô. Tôi đặt câu hỏi : Trong cơ thể người có mấy loại mô

    chính nào ? Em hãy lập bảng so sánh các loại mô đó về cấu tạo và chức năng ?

    Học sinh trình bày :

    – Có 4 loại mô chính : Mô biểu bì, mô liên kết, mô cơ, mô thần kinh.

    – So sánh các loại mô :

    Mô biểu bì

    Mô liên kết

    – 10 –

    Mô cơ

    Mô thần kinh

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    Bảo vệ, hấp

    thụ, tiết ( mô

    sinh sản làm

    nhiệm vụ

    sinh sản)

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    Tế bào dài, xếp

    thành lớp ,thành

    Noron có thân nối với

    sợi trục và sợi nhánh

    – Tiếp nhận kích

    thích

    – Dẫn truyền xung

    Co, dãn tạo nên

    thần kinh

    sự vận động của

    các cơ quan và

    – Xử lí thông tin, điều

    vận động của cơ

    hòa các hoạt động

    thể

    các cơ quan

    Sau khi học sinh trình bày xong kết quả, tôi nhận xét bổ sung và nêu câu hỏi vận

    dụng: Máu thuộc loại mô gì ? Vì sao xếp máu vào loại mô đó ?

    Học sinh vận dụng kiến thức và trả lời, giáo viên nhận xét và khẳng định lại :

    – Máu thuộc mô liên kết .

    – Nếu quan niệm huyết tương của máu là chất nền và xét về nguồn gốc các tế bào

    máu được tạo ra từ các tế bào giống như nguồn gốc tế bào sụn, xương thì có thể xếp

    máu thuộc mô liên kết.

    Ngoài câu hỏi vận dụng trên, tôi còn nêu lên một số câu hỏi khác như : Nêu điểm

    giống nhau và khác nhau giữa mô mỡ và mô máu về cấu tạo và chức năng ? Học sinh

    trả lời và tôi nhận xét bổ sung thêm.

    Phương pháp vấn đáp, tạo tình huống giải quyết vấn đề là phương pháp phổ biến

    nhất trong dạy học bồi dưỡng. Phương pháp này có ưu điểm là dễ thực hiện, bao quát

    được nhiều lượng kiến thức cần bồi dưỡng trong cùng một đơn vị thời gian. Rèn luyện

    kĩ năng liên hệ, vận dụng của học sinh để giải quyết các bài tập.

    – Phương pháp trực quan.

    Là phương pháp sử dụng phương tiện trực quan như mô hình, mẫu vật thật, tranh

    ảnh … giúp các em đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Hiện tại mẫu vật

    và tranh ảnh về bộ môn sinh 8 ở các trường học khá đầy đủ. Tôi đã vận dụng những

    thiết bị sẵn có này để giúp học sinh nắm rõ kiến thức, khắc sâu thêm kiến thức trong

    quá trình bồi dưỡng.

    – Phương tiện trực quan sẽ đóng vai trò chủ yếu và tích cực trong quá trình

    nhận thức khi chúng được sử dụng như một “nguồn” để dẫn tới kiến thức. Ở đây

    học sinh độc lập quan sát dưới sự tổ chức và chỉ đạo của giáo viên để đi tới

    – 11 –

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    củng cố kiến thức và rèn luyện, phát triển tư duy logic, năng lực cho học sinh, nhất là

    những học sinh khá, giỏi. Học sinh có thể tự học ở nhà rất hiệu quả, không tốn kém.

    Tóm lại dạy học dựa trên bản đồ tư giúp học nắm bài học có hệ thống và đảm bảo

    tính logic cao. Giúp giáo viên trình bày bảng khoa học và ngắn gọn. Sử dụng bản đồ

    tư duy trong bồi dưỡng học sinh giỏi có tác dụng tích cực trong việc hệ thống hóa kiến

    thức cũng như phát triển ý tưởng của học sinh trong quá trình học tập.

    Ví dụ:

    Sau khi kết thúc chuyên đề hệ tiêu hoá tôi dùng sơ đồ tư duy để hệ thống hóa lại

    kiến thức, cụ thể là thể hiện mảng kiến thức về tiêu hoá và các cơ quan tiêu hoá như

    sau:

    – 14 –

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    Các phương pháp này phát huy được tính tự giác, tính tích cực, tự lực, tính chủ

    động, sáng tạo, học sinh tự giành lấy kiến thức dưới sự tổ chức và chỉ đạo của giáo

    viên, iến thức thu được sẽ trở thành tài sản riêng của các em.Vì vậy các em nắm bài

    sâu và nắm chắc hơn.Ngoài ra, còn gây được hứng thú nhận thức rất lớn đối với các

    em, mà hứng thú là yếu tố tâm lý ban đầu có tác dụng tíc cực đối với quá trình nhận

    thức của học sinh.

    Qua quá trình bồi dưỡng cũng như giảng dạy trên lớp tôi rút ra một điều thì dù lựa

    chọn và kết hợp các phương pháp dạy học nào đi chăng nữa thì nghệ thuật sư

    phạm( nghệ thuật khen – chê đúng lúc) là một điều không thể thiếu trong quá trình bồi

    dưỡng vì nhờ nghệ thuật sư phạm mà tiết dạy sẽ được nhẹ nhàng hơn, thân thiện hơn,

    – 15 –

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    để thay thế bởi sự quát nạt, mắng mỏ học sinh trong quá trình dạy học. Có như thế

    mới tạo được sự mạnh dạn, hứng thú học tập bộ môn, tạo nên được lòng ham thích,và

    đam mê bộ môn.

    Ví dụ : Khi chúng ta nêu một câu hỏi mà học sinh không trả lời được, lúc này học

    sinh đang đứng trước một áp lực rất lớn, đó là không biết cô sẽ xử sự với mình như

    thế nào đây ? chắc là mình bị 0 điểm rồi. Nếu lúc này giáo viên chúng ta không có

    nghệ thuật thì giáo viên chúng ta vô tình làm mất đi niềm đam mê của học sinh đối

    với bộ môn ( em không học bài cô cho 0 điểm, em như thế này như thế kia (chê học

    sinh …), chúng ta thay bằng những lời chê này bằng tình yêu thương học sinh đó là

    giáo viên tìm hiểu nguyên nhân vì sao em không thuộc bài (không trả lời được) và

    mình phải tin vào lý do đó dù là chưa chắc hẳn là như thế để cho các em có cơ hội

    chuộc lỗi, sau đó giáo viên đưa ra một yêu cầu mới mà chắc chắn học sinh đó sẽ đáp

    ứng được chứ đừng chọn yêu cầu cao có như vậy học sinh mới tự tin vào khả năng

    của mình không bất mản vào giáo viên và bộ môn mà mình đang học mà càng ngày

    càng yêu thích bộ môn hơn.(câu hỏi thường dùng của tôi khi gặp trường hợp này: Em

    hãy nêu cho cô kiến thức bất kỳ của môn sinh học 8 mà em biết, thì lúc này học sinh

    rất phấn khởi nhớ lại những kiến thức đã học ở các tiết trước để trả lời ). Cuối cùng

    giáo viên phải xử phạt phân minh : bây giờ cô trừ em 1 điểm hoặc nhiều hơn tuỳ giáo

    viên vì em không thực hiện ngay yêu cầu thứ nhất mà em thực hiện yêu cầu thứ 2 do

    đó em bị trừ điểm. Qua đây học sinh rút ra được một bài học là phải học bài chuyên

    cần để được điểm cao nếu không sẽ bị trừ điểm và từ đó học sinh sẽ say mê học bài củ

    hơn, đam mê đối với bộ môn hơn và điều này đã được thực tiễn chứng minh.

    Biện pháp 6: Xây dựng nề nếp học tâ âp ngay từ những tuần đầu :

    Điều trước tiên tôi quan tâm đó là nề nếp học tâ pâ trên lớp. Không phải chỉ

    nghiêng về trâ ât tự lớp học mà tôi còn chú ý ở các em cách dùng sách, vở, thước, bút,

    … nói chung là dụng cụ học tâ âp.

    Khi nào sử dụng vở học để làm bài, khi nào dùng vở nháp và sử dụng vở nháp

    như thế nào ? Trình bày ở vở nháp có khoa học và cẩn thận không…? Khi nào phải

    làm bài mô ât cách đô âc lâ pâ , khi nào thì thảo luâ ân nhóm. Điều này, trong khoảng 2 đến

    3 tuần đầu các em sẽ quen và hiểu được ý tôi muốn các em lúc nào phải làm gì?

    Có như thế, các em sẽ biết tâ pâ trung nghe giảng lúc nào? Biết khi nào phải làm

    bài? Khi nào cần phải thảo luâ nâ và phát biểu ý kiến đóng góp cùng các bạn hay cùng

    với giáo viên để xây dựng bài mới.

    – 16 –

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    Biện pháp 7: Giáo viên bồi dưỡng có sổ theo dõi học sinh (Ghi chép sự chuyên

    cần và kết quả của các lần kiểm tra của học sinh, ưu khuyết điểm của học sinh

    qua mỗi bài kiểm tra – Hướng khắc phục.)

    I. Theo sự chuyên cần của học sinh trong các buổi học

    (Đi học không đánh dấu – Vắng đánh dấu nhân)

    Thứ ,Ngày

    T

    T

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    2 5

    Họ và tên học sinh

    Lớp

    Kết quả kiểm tra

    Họ và tên học sinh

    Nguyễn Văn A

    Dương Minh B

    Ngô Đức C

    ……

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    Thay vào công thức tính công ta có : A = 800.8 =800(J)

    Ví dụ 2: Xương dài ra nhờ đâu ? Hãy vẽ sơ đồ và mô tả thí nghiệm chứng minh điều

    đó. Đối với bài tập này muốn hoàn thành bài tập này phải vận dụng kiến thức mỹ

    thuật để hoàn thành ( Phải vẽ được sơ đồ thí nghiệm). Do đó giáo viên phải luyện

    cho học sinh vẽ được sơ đồ thí nghiệm thông qua vận dụng môn mỹ thuật.

    Biện pháp 9 : Hướng dẫn cho học sinh phương pháp học tập phù hợp ở lớp

    cũng như ở nhà.

    Trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi phải yêu cầu học sinh tự giác, tích cực và

    có thói quen tư duy logic và mạnh dạn trình bày bài làm của mình với thầy cô. Từ đó

    giáo viên mới nắm được các em còn yếu ở những điểm nào để củng cố thêm.

    Như chúng ta đã biết thời lượng lên lớp với đội tuyển là không nhiều, việc nâng

    cao kết quả bồi dưỡng phải kết hợp với hoạt động dạy học chính khoá trên lớp và đặc

    biệt là việc hướng dẫn học sinh tự học là biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả

    bồi dưỡng. Thực tế cho thấy học sinh nào có tinh thần và phương pháp tự học tốt thì

    sẽ thành công cao hơn các bạn khác. Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh cách sử

    dụng quỹ thời gian của mình một cách hợp lý và hiệu quả, tránh lãng phí thời gian,

    nhưng cũng đảm bảo thời gian nghỉ ngơi giải trí. Thực tế cho thấy, có học sinh học rất

    nhiều, thâu đêm suốt sáng, không thu xếp được thời gian nghỉ ngơi, nên hậu quả là

    không những không thành công mà còn gây mụ mẫm đầu óc, cơ thể mệt mỏi kéo

    dài…Do đó giáo viên phải dạy cho học sinh cách học (biết cách tự học) .

    Cụ thể :

    Giáo viên cần hướng dẫn học sinh khi học trước hết phải nắm chắc kiến thức cơ

    bản từ đó mới có cơ sở kiến thức để liên hệ, so sánh, để giải quyết các vấn đề trong

    thực tiễn cuộc sống từ thấp đến cao, từ dễ đến khó.

    Không những thế học sinh cần phải có thói quen đặt ngược vấn đề, như đặt câu hỏi

    tại sao lại như vậy? Để từ đó hiểu bài một cách cặn kẽ, giúp các em ghi nhớ có chủ

    định.

    Giáo viên cần tập cho học sinh có thói quen ghi chép lại những hiện tượng sinh học

    quan sát được từ thực tế và tự đặt câu hỏi để giải thích, đưa ra nhận định khoa học.

    Tập cho học sinh có ý thức làm bài tập nâng cao để rèn luyện kiến thức chuyên sâu và

    trí thông minh.

    Giáo viên ra bài tập về nhà với dung lượng và kiến thức phù hợp với đối tượng học

    sinh. Việc học tập ở nhà có ý nghĩa rất quan trọng, đó là một hình thức học tập độc lập

    – 19 –

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV : NGUYỄN THỊ MỸ HIỀN

    của học sinh. Muốn học sinh thực hiện hiệu quả công việc này thì giáo viên cần sự

    hướng dẫn kĩ càng chu đáo cho các em định hướng cách làm các bài tập đó.

    Ví dụ: Khi dạy xong chuyên đề tuần hoàn, tôi ra bài tập về nhà cho học sinh phần

    bài tập nâng cao như sau :

    1. Phân tích hoạt động của máu trong vòng tuần hoàn lớn và vòng tuần hoàn nhỏ. Từ

    đó so sánh vòng tuần hoàn lớn và vòng tuần hoàn nhỏ .

    2. Vì sao máu chảy trong mạch không bao giờ đông hể ra khỏi mạch là đông ngay ?

    Hướng dẫn hoàn thành câu hỏi 1: Tôi yêu cầu các em về xem lại đường đi của

    máu trong vòng tuần hoàn nhỏ và trong vòng tuần hoàn lớn thông qua việc quan sát

    lại hình 16.1 nghiên cứu chú thích và quan sát kỹ hướng mũi tên, từ đó các em sẽ phân

    tích được hoạt động của máu trong vòng tuần hoàn lớn và vòng tuần hoàn nhỏ. Khi

    các em phân tích được hoạt động của máu trong vòng tuần hoàn lớn và vòng tuần

    hoàn nhỏ thì các em sẽ dễ dàng thấy được sự giống nhau và khác nhau giữa vòng tuần

    hoàn lớn và vòng tuần hoàn nhỏ (so sánh vòng tuần hoàn lớn và vòng tuần hoàn nhỏ)

    Hướng dẫn hoàn thành câu hỏi 2: Tôi hướng dẫn các em vận dụng kiến thức ở

    chuyên đề tuần hoàn cụ thể là dựa vào kiến thức phần I. Đông máu trang 48 sách giáo

    khoa của bài 15 “Đông máu và nguyên tắc truyền máu” để giải thích bằng cách trả lời

    hai câu hỏi nhỏ đó là : máu chảy trong mạch không bao giờ đông là do đâu ? Tại sao

    máu ra khỏi mạch là đông ngay .

    Biện pháp 10 : Giáo viên bồi dưỡng phải tích cực tích lũy nâng cao kiến thức bộ

    môn, sử dụng tốt tài liệu tham khảo trong công tác bồi dưỡng.

    Muốn có học sinh giỏi thì người giáo viên bồi dưỡng luôn có ý thức tự tìm tòi, rèn

    luyện, tích luỹ tri thức và kinh nghiệm, trao dồi chuyên môn, luôn xứng đáng là

    ” người dẫn đường tin cậy ” cho học sinh noi theo. Phải thường xuyên tìm tòi tư liệu ,

    có kiến thức nâng cao trên các phương tiện, đặc biệt là trên mạng. Lựa chọn trang

    Web nào hữu ích nhất, tác giả nào hay nhất để sưu tầm tài liệu…..

    Giáo viên cần phải xác định rõ việc tự học, tự rèn là yếu tố nội lực quyết định sự

    thành công. Vì thế cần có sự đầu tư, nghiên cứu tài liệu bộ môn để tích lũy kiến thức

    và chắt lọc, vận dụng vào quá trình bồi dưỡng.

    Khi đã tích lũy được vốn kiến thức chuyên sâu về bộ môn, giáo viên bồi dưỡng

    phải biết chắt lọc, lựa chọn kiến thức để chuyển tải phù hợp với đối tượng học sinh

    mình bồi dưỡng. Phải ra những câu hỏi, bài tập vận dụng từ thấp đến cao, tránh ôm

    – 20 –

    TRƯỜNG THCS SƠN THỦY

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Bài Thực Hành Trong Chương Trình Sinh Học 8
  • Skkn Một Số Giải Pháp Trong Dạy Học Môn Sinh Giúp Phát Triển Năng Lực Cho Học Sinh
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Ôn Thi Thpt Quốc Gia Môn Sinh Học
  • Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Tập Cho Học Sinh Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Công Nghệ
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Lịch Sử 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Skkn: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đọc Cho Học Sinh Lớp 3
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 3
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Viết Đúng Chính Tả Cho Học Sinh Lớp 3
  • Skkn Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 3
  • I. PHẦN MỞ ĐẦU

    1.1. Lý do chọn đề tài:

    Thế kỉ XXI, đất nước ta có bước phát triển mạnh mẽ về mọi mặt đòi hỏi

    mỗi người cần phải năng động, sáng tạo, có tay nghề cao, sẵn sàng thích ứng với

    những biến đổi diễn ra hàng ngày. Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 29NQ/TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng lần thứ (VIII) khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công

    nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

    nghĩa và hội nhập quốc tế. Điều đó đặt ra một yêu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp

    giáo dục là phải đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài phục vụ đất nước.

    Việc bồi dưỡng học sinh giỏi, ươm trồng những hạt giống nhân tài cho quê

    hương, đất nước là một nhiệm vụ rất quan trọng và cần thiết vì những người tài

    bao giờ cũng là nhân tố quan trọng để thúc đẩy xã hội phát triển. Đặc biệt đối

    cấp học THCS, bồi dưỡng học sinh giỏi được xem là mũi nhọn của mỗi trường

    nói riêng của ngành giáo dục nói chung. Kết quả học sinh giỏi là thước đo năng

    lực của mỗi nhà giáo và cũng là thương hiệu cho mỗi nhà trường.

    Trong những năm gần đây, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử 9

    đạt được thành tích đáng kể. Tuy nhiên chất lượng của học sinh giỏi chưa ổn

    định chưa đáp ứng kì vọng của nhà trường, của ngành giáo dục đề ra. Điều đó,

    xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như xã hội có những nhận thức chưa

    đầy đủ về vị trí chức năng của bộ môn Lịch sử, nhiều phụ huynh cho đây là môn

    học phụ không mang lại tương lai cho con em mình không muốn cho con em

    tham gia. Vì thế, tình trạng học sinh chưa nắm được những sự kiện lịch sử cơ

    bản hay nhớ sai hoặc nhầm lẫn kiến thức lịch sử là hiện tượng khá phổ biến.

    Bản thân là một giáo viên trực tiếp bồi dưỡng trong những năm đầu tham

    gia chất lượng còn thấp tâm lý của phụ huynh không muốn cho con em mình

    tham gia đội tuyển tuy nhiên trong quá trình giảng dạy giáo viên đã chủ động

    trong việc nắm bắt kiến thức và đối tượng học sinh làm tốt công tác tư tưởng và

    đưa ra biện pháp phù hợp do vậy đã làm thay đổi nhận thức của phụ huynh và

    học sinh chất lượng đội tuyển không ngừng được nâng cao. Từ thực tế đó bản

    1

    2

    II. PHẦN NỘI DUNG

    2.1.Thực trạng của vấn đề mà sáng kiến cần giải quyết

    2.1.1. Về phía giáo viên:

    Phần lớn giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác bồi

    dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử. Những người được phân công giảng dạy tâm

    không sâu sắc nhầm lẫn giữa sự kiện này với sự kiện kia. Chính vì vậy chất

    lượng đội tuyển chưa ổn định.

    2.1.3 Nguyên nhân của thực trạng

    Qua trao đổi với các đồng nghiệp và thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy

    một số nguyên nhân sau:

    Một là chương trình chính khóa quá nhiều môn, thêm vào đó các em lại

    tham bồi dưỡng học sinh giỏi nên rất hạn chế về thời gian tự học, tự nghiên cứu.

    Hai là tài liệu Bồi dưỡng học sinh giỏi có khá nhiều, tuy nhiên các tài liệu

    đó đơn thuần chỉ chứa đựng nội dung kiến thức thuần tuý, chưa có tài liệu đề

    cập đến kinh nghiệm, cách thức, phương pháp, các kĩ năng làm bài lịch sử một

    cách cụ thể để giúp giáo viên dễ dàng tiếp cận. Do đó công tác bồi dưỡng học

    sinh giỏi thường gặp khó khăn, kết quả chưa ổn định.

    Ba là thực tế hiện nay, môn Lịch sử ít được học sinh, phụ huynh chú trọng

    đầu tư và cho rằng đây là môn học phụ khó xác định nghề nghiệp trong tương

    lai. Do đó việc hình thành đội tuyển học sinh có năng khiếu học tập bộ môn rất

    khó khăn. Đa số học sinh lựa chọn, tham gia bồi dưỡng các môn học khác đội

    tuyển Sử phải chọn sau điều đó ảnh hưởng không nhỏ công tác bồi dưỡng và

    chất lượng của đội tuyển.

    Mặt khác, học sinh chưa bắt kịp với sự đổi mới phương pháp dạy học theo

    hướng phát triển năng lực, chưa chủ động và linh hoạt trong bồi dưỡng.

    * Kết quả cụ thể số học sinh bồi dưỡng HSG Sử 9 qua các năm trước khi áp

    dụng đề tài như sau:

    Năm học

    2011-2012

    Năm học

    2011-2012

    Tỷ lệ học

    Tỷ lệ học sinh

    Tỷ lệ học sinh không

    sinh hứng thú

    20%

    không hứng thú

    80%

    biết vận dụng kiến thức

    70%

    Số học sinh đạt giải

    Số học sinh đạt giải

    Điểm TB

    2.2. Các biện pháp thực hiện

    4

    2.2.1. Biện pháp 1: Dạy học sinh nắm kiến thức cơ bản

    Phân phối chương trình và yêu cầu kiến thức trong chương trình Lịch sử 9

    ở trường THCS chỉ dừng lại ở mức độ nhất định, bài giảng trong SGK đều nhằm

    mục đích cung cấp kiến thức cơ bản về tiến trình lịch sử thế giới và Việt Nam

    theo diện rộng, chưa đi vào chiều sâu. Đối với học sinh giỏi yêu cầu phải hiểu

    biết sâu sắc và toàn diện. Các em phải nắm chắc bản chất các sự kiện, hiện

    tượng lịch sử, các vấn đề lịch sử,… để có đủ tự tin, có sự sáng tạo khi giải quyết

    bất kì đề thi nào.

    Trong chương trình bồi dưỡng, bản thân tôi kết hợp dạy kĩ hệ thống kiến

    thức cơ bản theo sách giáo khoa kết hợp chuẩn kiến thức kĩ năng bằng việc lựa

    chọn những sự kiện, những vấn đề lịch sử trọng tâm dạy cho các em rồi tiến

    hành mở rộng kiến thức bằng các chuyên đề nâng cao.

    Các chuyên đề trong chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi Lịch sử 9 đi sâu

    làm rõ được hoàn cảnh lịch sử, nội dung bản chất của các vấn đề lịch sử, các giai

    đoạn lịch sử ,mối quan hệ giữa quá khứ – hiện tại – tương lai. Đảm bảo cho học

    sinh đạt được mức độ về kiến thức : nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích,

    đánh giá.

    Những kiến thức từ các chuyên đề là công cụ giúp học sinh giải quyết tốt

    các loại đề thi. Giáo viên tiến hành dạy từng chuyên đề phù hợp với chương

    trình khả năng tiếp nhận của từng đối tượng học sinh bồi dưỡng. Sau khi dạy

    xong một chuyên đề, một bài lịch sử, giáo viên yêu cầu học sinh phải dành một

    khoảng thời gian để suy nghĩ, nhìn nhận vấn đề đó, đặc biệt là ý nghĩa của sự

    kiện đó với giai đoạn trước và sau nó.

    Ví dụ : Sau khi học sinh học xong chuyên đề Cuộc vận động dân chủ trong

    những năm 1936-1939, tôi sẽ hỏi các em so với thời kì 1930-1931 chủ trương

    của Đảng trong thời kì 1936-1939 có nhiều điểm khác? Tại sao có sự khác nhau

    như vậy?

    Với câu hỏi trên học sinh phải trả lời được những kiến thức sau:

    5

    1930-1931

    Kẻ thù

    Đế quốc, phong kiến

    Nhiệm vụ

    sai.

    Chống đế quốc, giành Chống phát xít, chống chiến

    độc lập dân tộc, chống tranh đế quốc, chống bọn phản

    phong kiến giành ruộng động thuộc địa và tay sai đòi tự

    đất cho dân cày

    do, cơm áo hòa bình.

    Mặt trận nhân dân phản đế

    Mặt trận

    Hình thức, phương

    pháp đấu tranh

    1936-1939

    Bọn phản động Pháp và tay

    Bí mật, bất hợp pháp

    Đông Dương

    Hợp pháp, nửa hợp pháp, công

    Bạo động vũ trang

    khai, nửa công khai.

    Sở dĩ có sự khác nhau như vậy là vì hoàn cảnh lịch sử có sự thay đổi so với

    thời kỳ trước đặc biệt mặt trận nhân Pháp đã ban hành nhiều chính sách về tự do

    dân chủ, ân xá tù chính trị cho các thuộc địa và lợi dụng tình hình này, Đảng ta

    đã chủ trương đòi tự do dân chủ dân sinh.

    Làm như vậy sẽ giúp học sinh nhớ được kiến thức và nếu gặp các dạng bài

    hệ thống, so sánh, phân biệt, rút ra bài học kinh nghiệm… học sinh làm bài đạt

    hiệu quả cao hơn.

    Theo bản thân, các em được tham gia dự thi học sinh giỏi môn Lịch sử 9

    phải nắm vững kiến thức cơ bản của bộ môn Lịch sử 9 – kiến thức cơ bản ở đây

    không chỉ là những sự kiện đơn lẻ mà phải bao gồm hệ thống những hiểu biết

    cần thiết về những sự kiện, niên đại, nhân vật, địa danh, các nguyên lý, quy luật,

    những kết luận khái quát, phương pháp, kĩ năng. Vì vậy, khi nắm vững kiến thức

    học sinh mới có khả năng vận dụng để giải quyết được với các loại câu hỏi, bài

    tập.

    Bên cạnh đó việc quan trọng để cung cấp kiến thức cho học sinh là chọn và

    giới thiệu những tài liệu đảm bảo chất lượng cho các em. Thị trường sách hiện

    nay khá phong phú nhưng quỹ thời gian của học sinh thì có hạn, nên bản thân

    chọn mua hoặc phôtô tài liệu cho học sinh như: Sách giáo viên Lịch sử 9,

    Chuyên đề bồi dưỡng Sử 9, Hướng dẫn trả lời câu hỏi và bài tập Lịch sử 9, Bài

    tập bổ trợ và nâng cao Lịch sử 9; 100 câu hỏi và bài tập trắc nghiệm Lịch sử 12,

    6

    Luyện thi cấp tốc các dạng bài tập từ các đề thi quốc gia môn Lịch sử; Bộ đề thi

    Lịch sử. Giáo viên còn giới thiệu các địa chỉ tin cậy trên mạng internet để học

    sinh tham khảo…phục vụ công tác bồi dưỡng đạt kết quả.

    2.2.2. Biện pháp2 : Rèn luyện kĩ năng ôn tập cho đội tuyển.

    2.2.2.1. Kĩ năng ghi nhớ các sự kiện lịch sử cơ bản

    Học Lịch sử không phải bắt buộc học sinh phải học thuộc lòng một cách

    máy móc, một lúc phải nhớ quá nhiều sự kiện, song phải biết ghi nhớ, hiểu một

    số sự kiện quan trọng, gắn với niên đại, địa danh, nhân vật lịch sử. Nếu không

    ghi nhớ và không hiểu sự kiện lịch thì không thể làm tốt bài lịch sử, bởi vì bài

    lịch sử không thể viết như một bài chính trị mà cần có sự kiện để chứng minh.

    Ví dụ, khi học về cách mạng tháng Tám, học sinh phải ghi nhớ và hiểu Hội

    nghị toàn quốc từ ngày 14 đến ngày 15/8/1945 hay Đại hội quốc dân Tân Trào

    từ ngày 16 đến ngày 17/8/1945.

    Muốn làm tốt bài thi môn lịch sử các em cần phải ghi nhớ tốt sự kiện lịch

    sử. Tuy nhiên nhiều em chưa có cách ghi nhớ phù hợp. Qua nhiều năm bồi

    dưỡng bản thân đưa ra cho học sinh vài gợi ý về cách ghi nhớ.

    Thứ nhất, ghi nhớ thời gian xảy ra sự kiện lịch sử. Mỗi bài, mỗi chương

    đều có những sự kiện gắn với thời gian nhất định. Các em có kĩ năng ghi nhớ

    logic, biết tìm ra điểm tựa để nhớ, có thể lập dàn ý, lập bảng hệ thống hóa.

    Chẳng hạn, khi học về khởi nghĩa Bắc Sơn (27/9/1940); Khởi nghĩa Nam

    Kì (23/11/1940); Binh biến Đô Lương (14/1/1941); các em có thể ghi nhớ bằng

    cách: lấy mốc khởi nghĩa Bắc Sơn làm chuẩn rồi suy ra cứ cách nhau hai tháng

    diễn ra một sự kiện hay các sự kiện đều diễn ra trong tháng lẻ.

    Các em có thể ghi nhớ máy móc mối quan hệ giữa các sự kiện, giữa thời

    gian và địa điểm xảy ra sự kiện. Ví dụ khi học bài Cuộc kháng chiến chống Pháp

    kết thúc trong đó có chiến dịch Điện Biên Phủ các em phải nắm vững ba đợt tấn

    công của quân ta vào cứ điểm Điện Biên Phủ bằng cách lấy ngày 13/3/1954 là

    ngày mở đầu, rồi dùng sự kiện Ngày quốc tế Phụ nữ (8/3) làm điểm tựa và suy

    ra, cách 5 ngày quân ta mở cuộc tiến công đầu tiên vào cứ điểm Điện Biên Phủ

    7

    giành chính quyền về tay nhân dân ? Vậy thời cơ trong cách mạng tháng Tám là

    gì?

    Để trả lời được câu hỏi trên học sinh phải hiểu được cách mạng tháng Tám

    thành công ngoài vệc chuẩn bị lâu dài còn phải biết chớp lấy lấy thời cơ. Thời

    cơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài( chủ

    quan và khách quan). Trong đó điều kiện chủ quan giữ vai trò quan trọng nhất.

    Về nguyên nhân chủ quan: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào ngày

    (3/2/1930) có quá trình chuẩn bị chu đáo trong 15 năm với các lần diễn tập

    (1930-1931), (1936-1939); (1939-1945). Đặc biệt trong phong trào cách mạng

    1939-1945, Đảng ta đã chuẩn bị chu đáo về mọi mặt: Lực lượng chính trị, lực

    lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng và bước đầu tập duyệt cho quần chúng

    đấu tranh vũ trang giành chính quyền. Khi nghe tin phát xít Nhật bị đồng minh

    đánh bại quân Nhật ở Đông Dương hoang mang dao động mất hết tinh thần

    chiến đấu. Quân đồng minh chưa kịp nhảy vào Đông Dương. Qua cao trào

    kháng Nhật cứu nước, quần chúng đã sẵn sàng chờ lệnh khởi nghĩa.

    Về nguyên nhân khách quan: Thời cơ ngàn năm có một, tháng 5/1945, phát

    xít Đức bị tiêu diệt, ngày 14/8/1945, phát xít Nhật bị quân đồng minh đánh bại.

    Ngày 15/8/1945, quân Nhật đầu hàng quân đồng minh không điều kiện.

    Như vậy, cách mạng tháng Tám nổ ra trong điều kiện chủ quan và khách

    quan đã chín muồi. Đó là thời cơ ngàn năm có một vì nó rất quý và rất hiếm nếu

    ta bỏ lỡ thời cơ sẽ không bao giờ trở lại. Nhận thức rõ thời cơ có một không hai

    này Chủ Tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ “Đây là thời cơ có ngàn năm có một cho nhân

    dân ta nổi dậy. Lần này dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết

    giành cho được độc lập dân tộc”. Điều đó thể hiện tinh thần đoàn kết trên dưới

    một lòng của nhân dân ta để giành độc lập dân tộc thoát ra khỏi ách xâm lược

    của thực dân Pháp và phát xít Nhật.

    2.2.2.3. Kĩ năng liên hệ, so sánh, đối chiếu tài liệu lịch sử

    Với kĩ năng này yêu cầu các em phải biết liên hệ, so sánh, đối chiếu tài liệu

    đang học với hiện tại. Công việc này được tiến hành trên cơ sở nắm vững sự

    9

    kiện đang học và hiểu rõ tình hình, nhiệm vụ hiện nay. Có nhiều biện pháp để

    tiến hành:

    Một là: Rút ra bài học kinh nghiệm của quá khứ cho hiện tại. Ví dụ: Từ sự

    thắng lợi của công cuộc cải cách Trung Quốc và sự thất bại của công cuộc cải tổ

    của Liên Xô, Đảng ta rút ra được bài học kinh nghiệm gì?

    + Cải cách, đổi mới phải kiên định mục tiêu chủ nghĩa xã hội, làm cho mục

    tiêu đó thực hiện có hiệu quả hơn bằng những bước đi, biện pháp đúng đắn…

    + Đảm bảo quyền lãnh đạo tuyết đối của Đảng Cộng sản Việt Nam, nắm

    vững nguyên lí chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí minh lấy dân làm

    gốc…

    + Đổi mới toàn diện, đồng bộ, trọng tâm là đổi mới về kinh tế, đổi mới về

    chính trị phải thận trọng…

    Hai là: So sánh sự kiện lịch sử, rút ra điểm giống nhau, khác nhau, điểm

    mạnh, điểm yếu là một kĩ năng không thể thiếu trong việc bồi dưỡng học sinh

    giỏi môn Lịch sử nói chung và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử 9 nói

    riêng . Nội dung so sánh có thể là các phong trào cách mạng, các chiến dịch

    quân sự, các cuộc cách mạng…

    Để học sinh nắm được kĩ năng này, trong quá trình bồi dưỡng, giáo viên

    nên “định dạng” các hình thức so sánh thường gặp như: So sánh các cuộc cách

    mạng, nội dung so sánh thường là: Lực lượng cách mạng, đối tượng của cách

    mạng, tính chất cách mạng, mục tiêu của cách mạng, phương pháp tiến hành

    cách mạng, kết quả, ý nghĩa của cách mạng….

    So sánh về điều kiện lịch sử của các quốc gia trong một thời điểm lịch sử

    cụ thể nào đó về các nội dung: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục…

    Ví dụ: So sánh điểm khác nhau cơ bản giữa Hiệp định Sơ-bộ(6/3) với Hiệp

    định Giơ-ne-vơ (21/7/1954) để thấy bước tiến của ta trong cuộc đấu tranh ngoại

    giao.

    Điểm khác nhau cơ bản:

    – Hiệp định Sơ-bộ(6/3), chính phủ Pháp công nhận nước ta là một quốc gia

    tự do nằm trong Liên Bang Đông Dương thuộc Pháp. Còn Hiệp định Giơ-ne-vơ

    10

    (21/7/1954), Pháp và các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập chủ

    quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ ba nước Đông Dương.

    – Trong lúc kí Hiệp định sơ bộ do ta còn yếu hơn địch nên ta phải chấp

    nhận điều khoản đó. Đây là sách lược mềm dẻo để phân hóa kẻ thù. Còn trong

    khi kí hiệp định Giơ-ne-vơ ta đã giành thắng lợi quyết định ở Điện Biên Phủ,

    quyết định đến sự thất bại của thực dân Pháp ở Đông Dương.

    Như vậy, so với Hiệp định Sơ-bộ, Hiệp định Giơ-ne-vơ là một bước tiến

    vượt bậc trong cuộc đấu tranh ngoại giao của ta.

    2.2.2.4. Kĩ năng phân tích, chứng minh.

    Phân tích, chứng minh là một kĩ năng được xem là “khó” nhất trong các kĩ

    năng khi tiến hành thực hiện một bài làm lịch sử. Với cấp độ yêu cầu đối với học

    sinh THCS, kĩ năng này thường chưa đặt ra yêu cầu cao, song lại phải vận dụng

    thường xuyên trong quá trình học và làm bài.

    Tuy nhiên để rèn luyện kĩ năng phân tích chứng minh một nội dung, sự

    kiện lịch sử đòi hỏi sự “tư duy” cao độ, bởi vậy qua quá trình bồi dưỡng đội

    tuyển học sinh giỏi chúng ta nên chú ý rèn luyện cho các em kĩ năng này một

    cách nhuần nhuyễn.

    Trong bộ môn Lịch sử 9, kĩ năng phân tích thường là phân tích các nguyên

    nhân thành công hay thất bại, ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm của một sự

    kiện lịch sử nào đó.

    Rèn luyện kĩ năng phân tích, chứng minh, tức là rèn luyện cho các em biết

    “mổ xẻ”. Để làm được điều chúng ta biết đặt ra các câu hỏi “tại sao”, “vì sao”.

    Một bài tập phân tích “sâu” tức là trả lời đầy đủ, chuẩn xác yêu cầu cần

    phân tích, mặc dù ở cấp THCS, trong kết cấu đề thi, kĩ năng này được đặt ra

    nhiều bởi biết “phân tích” là thể hiện cao khả năng tư duy lịch sử.

    Chứng minh phong trào cách mạng 1930-1931 diễn ra trên quy mô rộng

    khắp, hình thức đấu tranh phong phú, tính chiến đấu triệt để: Đối với yêu cầu

    này các em phải lấy sự kiện để chứng minh- sự kiện đó nằm trong diễn biến của

    phong trào cách mạng cách mạng 1930-1931 đỉnh cao phong trào Xô viết Nghệ

    11

    Tĩnh đồng thời các em phải biết khái quát tổng hợp để có kiến thức toàn diện khi

    đó mới làm đầy đủ:

    Ngay từ khi đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã phát động quần chúng đấu

    tranh chống thực dân, phong kiến để đòi độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho

    dân cày.

    – Tính quy mô rộng khắp:

    + Phong trào phát triển trên quy mô rộng khắp cả nước, kéo dài gần hai

    năm(cuối năm 1930 đầu năm 1931).

    + Phong trào đã thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân chủ yếu là

    quần chúng công nông, với hàng trăm cuộc đấu tranh lớn nhỏ, tiêu biểu là cuộc

    đấu tranh của 5000 công nhân và nông dân Vinh- Bến Thủy vào ngày 1/5/1930,

    cuộc biểu tình của hơn hai vạn nông dân Thanh Chương vào ngày 1/9/1930 và

    cuộc biểu tình của 6 vạn nông dân Hưng Nguyên ngày 12/9/1930.

    – Tính triệt để:

    + Phong trào đã nhằm vào hai kẻ thù cơ bản của nhân dân ta bọn đế quốc

    phong kiến và tay sai.

    + Tại một số nơi thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh trước sức mạnh đấu

    tranh của quần chúng, hệ thống chính quyền địch bị tan rã từng mảng, bọn quan

    lại cường hào bỏ trốn, chính quyền công nông binh thành lập dưới hình tức XôViết.

    – Sử dụng hình thức đấu tranh quyết liệt: Phong trào sử dụng hình thức đấu

    tranh từ thấp đến cao, từ mít tinh, biểu tình đến đốt huyện đường, phá nhà lao,

    kết hợp biểu tình với thị uy với hoạt đông vũ trang để tiến công địch.

    + Trong tháng 9,10/1930, phong trào sử dụng hình thức đấu tranh vũ trang

    khởi nghĩa cướp chính quyền thành lập chính quyền cách mạng.

    Như vậy, phong trào cách mạng 19301931, đỉnh cao Xô-Viết Nghệ Tĩnh là

    phong trào cách mạng rộng lớn đầu tiên của quần chúng công nông ở nước ta do

    Đảng lãnh đạo. Tính quy mô rộng lớn, tính chất cách mạng triệt để và hình thức

    đấu tranh quyết liệt của phong trào đã chứng minh bước phát triển nhảy vọt về

    12

    13

    – Sau khi lập dàn ý mới bắt đầu trả lời câu hỏi. Phải có phần mở đề trước

    khi làm bài các em có thể sử dụng hoàn cảnh lịch sử để mở bài nhưng không nên

    quá dài dòng, chỉ cần vài câu, đủ ý để dẫn dắt vào nội dung trả lời.

    – Phần thân bài : Dựa trên cơ sở những ý cơ bản đã vạch ra, tập trung liên

    hệ những kiến thức đã học, đã nắm được, nhớ được và sử dụng các phương pháp

    liên kết câu, liên kết đoạn trong văn bản để làm bài không làm theo kiểu gạch

    đầu dòng trên giấy nháp. Đây là trọng tâm nhất của câu trả lời, điểm cao hay

    thấp là ở nội dung phần này.

    – Phần kết luận: Phải có phần kết luận trong làm bài, tóm tắt ý nghĩa, tác

    dụng của phần thân bài để làm kết luận – cũng như phần mở đầu, chỉ cần vài câu,

    không nên dài dòng học sinh có thể sử dụng phần kết quả, ý nghĩa, hay bài học

    kinh nghiệm cho phần kết luận.

    – Trong khi các em làm bài nên chọn câu dễ làm trước – nhưng trong thi

    học sinh giỏi môn Lịch sử khuyến khích làm các câu hỏi theo tiến trình lịch sử

    câu nào sự kiện trước thì làm trước.

    – Trong quá trình làm bài hạn chế xóa lem nhem không được dùng bút tẩy,

    nếu lỡ có sai thì nên gạch một nét chỗ sai. Cố gắng để chữ viết dễ đọc, trình bày

    bài khoa học không nên viết chèn, hay gạch xóa quá nhiều trong bài làm.

    Ví dụ: Ở đề bài, hãy phân tích nội dung ” Lời kêu gọi toàn quốc kháng

    chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/12/1946)”. Các em cần nêu phần mở đầu

    ngắn gọn “Sau hiệp định Sơ-bộ (6/3/1946) và Tạm ước (14/9/1946) được kí giữa

    ta và Pháp. Về phía ta, thực hiện nghiêm chỉnh những điều khoản được kí kết,

    còn thực dân Pháp bội ước. Trước tình thế đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt

    Đảng và chính phủ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến vào đêm 19/12/1946.

    – Phần thân bài: Đây là phần chủ yếu và quan trọng nhất của bài, các em

    phải trình bày các sự kiện, ý tưởng… nhằm giải quyết các vấn đề được đặt ra.

    Trong phần thân bài, các em cần nêu cho được các luận điểm và mỗi luận điểm

    có các luận cứ để trình bày. Ví dụ với đề trên, chúng ta có thể lập đề cương phần

    thân bài như sau:

    14

    + Nêu khái quát hoàn cảnh ra đời của lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến

    của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    + Nêu và phân tích nội dung cơ bản của Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

    + Nêu ngắn gọn ý nghĩa của lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

    – Phần kết luận: Nêu khái quát các ý đã trình bày ở phần mở đầu và phần

    thân bài.

    Trong việc lập đề cương một bài viết cần tránh hai việc: Một là lập đề

    cương quá sơ lược, không định hướng bài viết làm cho nên khi làm viết bài làm

    một cách tùy tiện; hai là, lập đề cương quá chi tiết, mất nhiều thời gian, ảnh

    hưởng đến việc hoàn thành bài viết.

    2.2.3.3: Kĩ năng phân bố thời gian làm bài

    Trong thực tế nhiều năm qua, không ít học sinh làm bài môn khoa học xã

    hội nói chung và làm bài thi môn Lịch sử nói riêng thường bị lạm dụng về thời

    gian. Việc bố trí thời gian để làm các câu hỏi trong đề bài là rất cần thiết. Muốn

    vậy khi tiếp xúc với đề, các em cần phải bố trí thời gian để trả lời từng câu hỏi

    như thế nào? Trước hết chúng ta phải xác định câu nào có số điểm cao nhất, yêu

    cầu lượng kiến thức nhiều nhất, chúng ta giành thời gian cho câu đó nhiều nhất.

    Phải tránh tính trạng câu nào học thuộc thì chăm chú làm câu đó mà không biết

    cách phân định về thời gian.

    Ví dụ: đề ra có ba câu:

    Câu 1 (2,0 điểm) : Anh (chị) hãy phân tích bài học kinh nghiệm của cách

    mạng tháng Tám(1945)?

    Câu 2 (3,5 điểm): Dựa vào ba sự kiện quan trọng sau đây: Chiến dịch Việt

    Bắc (1947), Chiến dịch Biên giới (1950) và chiến thắng Điện Biên Phủ (1954),

    anh chị hãy làm sáng tỏ bước phát triển của cuộc kháng chiến chống thực dân

    Pháp của nhân dân ta.

    Câu 3 (2,0 điểm): Anh chị hãy trình bày những thành tựu (từ sau chiến

    tranh thế giới thứ hai đến năm 1991) của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật của

    nhân loại ?

    15

    b. Phân tích nội dung của Cương lĩnh

    – Cương lĩnh xác định đường lối chiến lược cách mạng Đảng là tiến hành

    cuộc cách mạng ” tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội Cộng

    sản”.

    – Nhiệm vụ của cách mạng là đánh đổ đế quốc Pháp, bọn phong kiến và tư

    sản phản cách mạng làm cho nước Việt Nam được độc lập tự do, lập chính phủ

    công nông binh, tịch thu hết sản nghiệp lớn của đế quốc và bọn phản cách mạng

    chia cho dân cày nghèo, tiến hành cách mạng ruộng đất…

    – Lực lượng của cách mạng là công nông, tiểu tư sản, trí thức. Còn phú

    nông, trung tiểu địa chủ và tư sản sản thì phải lợi dụng hoặc trung lập học, đồng

    thời phải liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới.

    – Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp vô sản sẽ giữ vai

    trò lãnh đạo cách mạng.

    c. Ý nghĩa của Cương lĩnh

    Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản do Nguyễn Ái Quốc soạn

    thảo tuy còn vắn tắt, song đây là cương lĩnh giải phóng dân tộc sáng tạo, sớm

    kết hợp đúng đắn về vấn đề dân tộc và giai cấp. Độc lập và tự do là tư tưởng chủ

    yếu của Cương lĩnh này.

    2.2.4.3. Đề thi xác định nguyên nhân thành công của một sự kiện lịch sử

    Đây là loại đề thi thường gặp nhưng cái khó của học sinh là lý giải được

    nguyên nhân nào có tính chất quyết định nhất. Với loại đề này học sinh phải

    trình bày được nguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng phải lí giải được

    nguyên nhân chủ quan có vai trò quyết định đến nguyên nhân thành công của

    một sự kiện lịch sử.

    Ví dụ: Đề thi xác định nguyên nhân thành công của cách mạng tháng Tám

    1945, nguyên nhân nào có tính chất quyết định nhất? Vì sao?

    Để làm được đề này, học sinh phải nắm vững các vấn đề cơ bản sau:

    Thắng lợi Cách mạng tháng Tám 1945 là kết quả tổng hợp của những nhân

    tố khách quan và chủ quan:

    * Về khách quan:

    18

    Cách mạng tháng Tám thắng lợi nhanh chóng và ít đổ máu một phần nhờ

    có hoàn cảnh quốc tế thuận lợi. Chiến tranh thế giới thứ hai của bọn đế quốc làm

    cho chúng ngày càng thêm suy yếu. Tiếp đó là cuộc chiến đấu của nhân dân

    Liên Xô và lực lượng dân chủ đã từng bước làm thất bại lực lượng phát xít ĐứcI-ta-li-a-Nhật Bản: Tất cả đã tác động đến cách mạng thế giới, thúc đẩy các dân

    tộc thuộc địa đấu tranh tự giải phóng.

    Đến khi lực lượng đồng minh và Liên Xô đánh bại Phát xít Nhật ở Châu Á

    Thái Bình Dương vào ngày 14/8/1945 đã tạo nên thời cơ khách quan cho cách

    mạng tháng Tám thắng lợi. Đó là thời cơ ” ngàn năm có một” được Đảng ta triệt

    để lợi dụng, kịp thời chớp lấy, phát động toàn dân nổi dậy khởi nghĩa và giành

    thắng lợi một cách nhanh chóng và ít đổ máu.

    Tuy nhiên, điều kiện khách quan đó chỉ có thể được phát huy thông qua

    điều kiện chủ quan của ta.

    * Về chủ quan:

    Trong những nguyên nhân đó nguyên nhân có Đảng lãnh đạo là nhân tố cơ

    bản nhất để cách mạng tháng Tám thắng lợi.

    Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước sâu sắc, đã kiên cường

    đấu tranh bất khuất từ ngàn xưa cho độc lập tự do.Vì vậy, khi Đảng Cộng sản

    Đông Dương và mặt trận Việt Minh phất cao ngọn cờ cứu nước thì mọi người

    hăng hái hưởng ứng, nhất tề đứng lên cứu nước cứu nhà.

    Có khối liên minh công nông vững chắc, tập hợp được mọi lực lượng yêu

    nước trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, biết kết hợp tài tình đấu

    tranh chính trị và vũ trang, đấu tranh du kích và khởi nghĩa từng phần.

    Thắng lợi của cách mạng tháng Tám nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của

    Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh .

    Trong những nguyên nhân đó nguyên nhân có Đảng lãnh đạo là nhân tố cơ

    bản nhất để cách mạng tháng Tám thắng lợi.

    Khi xác định nguyên nhân quyết định nhất, trước hết phải thấy rằng nguyên

    nhân chủ quan đóng vai trò quyết định, nguyên nhân khách quan chỉ có tác dụng

    đưa cách mạng tháng Tám nhanh chóng giành được thắng lợi và ít đổ máu.

    19

    Trong các nguyên nhân chủ quan đó vai trò lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh

    là nguyên nhân quyết định nhất

    Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn,

    sáng tạo phù hợp với điều kiện lịch sử Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải

    phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, kết hợp giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa

    xã hội. Với đường lối cách mạng đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh trong

    15 năm, qua các lần diễn tập (1930-1931), (1936-1939), (1939-1945). Đặc biệt

    khi Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh phát

    động cao trào kháng Nhật cứu nước, làm tiền đề cho Tổng khởi nghĩa. Và khi

    thời cơ xuất hiện, Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhanh chóng chớp thời

    cơ phát động tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc, đưa cách

    mạng tháng Tám đến thắng lợi cuối cùng.

    2.2.5. Biện pháp 5: Chú trọng việc kiểm soát kiến thức của học sinh thông

    qua từng chuyên đề và qua các bài kiểm tra.

    Đây là hoạt động có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của công tác bồi

    dưỡng mà bản thân đã áp dụng trong thời gian được phân công trực tiếp giảng

    dạy. Trước khi học chuyên đề mới những kiến thức học sinh đã bồi dưỡng ở

    chuyên đề trước được giáo viên kiểm tra nhuần nhuyễn tạo cơ sở để các em dễ

    dàng tiếp cận các chuyên đề sau. Bởi lịch sử có sự logic của nó chuyên đề trước

    là nguyên nhân của chuyên đề sau.

    Có hai cách kiểm soát kiến thức cho học sinh đó là: Kiểm tra bằng lời gọi

    học sinh lên bảng trình bày giáo viên và các thành viên trong lớp nghe, nhận xét,

    bổ sung kiến thức với biện pháp này học sinh có cơ hội trình bày quan điểm của

    mình trước tập thể, rèn luyện cho các em tâm lí bình tĩnh tự tin khi làm

    bài.Trong quá trình kiểm soát giáo viên có thể cho học sinh tự kiểm tra lẫn nhau.

    Kiểm tra bằng cách gọi học sinh ghi lại phần kiến thức đã học. Biện pháp này có

    hiệu quả vừa tác động đến óc, tai mắt do vậy huy động tối đa đa khả năng của

    các em. Trong quá trình học sinh thể hiện giáo viên có thể điều chỉnh cách trình

    bày bài của các em. Qua phần kiến thức bạn trình bày các em có thể tự sữa sai

    20

    và bổ sung những kiến thức còn thiếu. Đồng thời đây cũng là thời gian để các

    em tự tái hiện lại kiến thức khắc sâu nhớ bền vững kiến thức cho bản thân mình.

    Công tác kiểm tra thường xuyên sau mỗi chương hoặc sau mỗi chuyên đề

    được giáo viên chú trọng. Việc làm này giúp học sinh tự trình bày những kiến

    thức đã thu nhận được vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các câu hỏi mở,

    qua đó giáo viên sẽ có điều kiện giúp các em điều chỉnh cách trình bày bài, cách

    dùng từ, diễn đạt ý. Học sinh giỏi môn Lịch sử nói chung và Lịch sử 9 nói riêng

    không chỉ nắm vững kiến thức lịch sử, kĩ năng phân tích đánh giá sự kiện Lịch

    sử, mà còn có sự sáng tạo. Vì vậy, trong quá trình bồi dưỡng cho học sinh chúng

    tôi thường xuyên quan tâm đến việc chấm và sửa bài cho học sinh một cách chu

    đáo kĩ càng để các em tự bổ sung kiến thức đây là một trong những giải pháp

    quan trọng giúp cho công tác bồi dưỡng đạt kết quả cao.

    2.2.6. Biện pháp 6: Xây dựng tư tưởng, tâm lý vững chắc cho học sinh.

    Trong nhiều năm thực hiện công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, bản thân tôi

    nhận thấy rằng cần phải tạo cho học sinh có một tâm lý thật sự thoải mái trong

    quá trình ôn tập cũng như khi chuẩn bị bước vào kì thi. Tránh gây cho học sinh

    áp lực nặng nề, chẳng hạn như: Giáo viên luôn tạo ấn tượng cho học sinh về kỳ

    thi học sinh giỏi là cực kì khó, đòi hỏi sự cao siêu…điều này làm cho học sinh có

    cảm giác lo sợ, mất tự tin hoặc giáo viên luôn áp đặt cho học sinh rằng đã thi là

    phải đậu, phải có số điểm cao…Làm như vậy sẽ gây áp lực tâm lý cho học sinh

    và dẫn đến kết quả không tốt, thậm chí có nhiều học sinh vì sợ không đạt được

    mục tiêu bắt buộc đó nên đã xin từ bỏ đội tuyển học sinh giỏi.

    Muốn làm tốt vấn đề nêu trên, theo tôi trước hết người giáo viên phải có

    những tư vấn cần thiết làm cho học sinh có cảm giác rằng kì thi học sinh giỏi dù

    ở cấp nào cũng vậy nó vẫn giống như các kì thi diễn ra thường xuyên ở nhà

    trường. Ngoài ra tôi thường nêu rõ quan điểm rằng “Khi các em được chọn đi ôn

    thi thì phải cố gắng hết mình. Nếu đạt kết quả cao thì càng tốt, còn nếu không thì

    chúng ta vẫn vui, vẫn hãnh diện vì đó là sự cố gắng lớn lao của bản thân mình”.

    21

    Chính những động thái này của giáo viên sẽ làm cho học sinh có cảm giác an

    tâm, thoải mái nhưng luôn cố gắng để học tập một cách tốt nhất.

    Tóm lại, bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử nói chung và môn Lịch sử 9

    nói riêng là một trong những hoạt động vất vả, khó khăn và thử thách đối

    với những người làm nghề dạy học, là công tác cực kì quan trọng giúp

    cho ngành giáo dục phát hiện nhân tài, lựa chọn những mầm giống tương lai cho

    đất nước trong sự nghiệp trồng người. Đồng thời giúp cho học sinh thực hiện

    được ước mơ là con ngoan, trò giỏi và có định hướng đúng về nghề nghiệp của

    mình trong tương lai.

    Để làm được điều đó hơn ai hết người thầy cần không ngừng học hỏi và tự

    học hỏi để nâng cao trình độ đúc rút kinh nghiệm, thường xuyên xây dựng, bổ

    sung chương trình và sáng tạo trong phương pháp giảng dạy.

    Người thầy có vai trò quyết định nhất đối với kết quả học sinh giỏi, các em

    học sinh có vai trò quyết định trực tiếp đối với kết quả của mình, kết quả công

    tác bồi dưỡng học sinh giỏi có đạt hay không, điều đó còn phụ thuộc rất lớn ở

    các em học sinh.

    2.3. Kết quả đạt được

    * Những kết quả qua những năm bản thân trực tiếp bồi dưỡng HSG:

    Năm học

    2012-2013

    2013-2014

    2014-2015

    Năm học

    Số học sinh

    Số học sinh không

    Số học sinh không biết

    Số HS đạt giải

    Số HS đạt

    Điểm TB đội

    Xếp vị thứ cấp

    22

    Làm công tác bồi dưỡng học sinh giỏi phải có tâm huyết, yêu người, yêu

    học sinh, có tinh thần trách nhiệm, chịu khó tìm tòi sáng tạo trong công tác

    chuyên môn, biết khơi dậy sự đam mê, hứng thú làm cho các em biết yêu thích

    bộ môn.

    Có kế hoạch đúng đắn phù hợp với đối tượng học sinh để đề ra biện pháp

    phù hợp, phối hợp chặt chẽ với giáo viên tuyến 2 và phụ huynh học sinh để kiểm

    soát kiến thức và đảm bảo an toàn giao thông cho học sinh, tạo sự đoàn kết yêu

    thương nhau giữa các em học sinh trong lớp.

    Giáo viên luôn tìm tòi sưu tầm các bộ đề thi năm trước và đề thi các tỉnh

    khác cho học sinh làm quen tránh gây tâm trạng bỡ ngỡ cho các em khi làm bài.

    Trong bồi dưỡng, cách thức ôn tập được tiến hành một cách phong phú đa

    dạng trong bài học. Kiến thức phù hợp với trình độ học sinh, chú ý nâng cao để

    phù hợp với học sinh giỏi.

    Ôn tập bồi dưỡng không đánh đố học sinh mà chủ yếu khơi dậy sự suy

    nghĩ đam mê hứng thú cho học sinh. Bồi dưỡng nội dung từ đơn giản đến phức

    tạp. Từ cụ thể đến trừu tượng, khái quát hóa. Phải nắm chắc từng thành viên

    trong đội tuyển để từ đó thực hiện công tác bồi dưỡng sát với từng học sinh hơn.

    Sử dụng đa dạng phương pháp trong một buổi ôn tập tạo nên sự thoải mái

    trong học tập của học sinh.

    III. PHẦN KẾT LUẬN

    23

    XẾP LOẠI CỦA BAN HĐKH TRƯỜNG

    Hiệu Trưởng

    Nguyễn Ngọc Phưởng

    25

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Lịch Sử Lớp 9 Trung Học Cơ Sở
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số Nhung Giai Phap Nang Cao Chat Luong Doc
  • Chương Trình Giáo Dục Song Ngữ: Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Cho Trẻ Hòa Nhập Lớp 1
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học Sinh Tiểu Học Huyện Tây Giang Skkn 20142015 Nguyen Quoc Ky Doc
  • 3 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Giỏi

    --- Bài mới hơn ---

  • Trách Nhiệm Nêu Gương Của Cán Bộ, Đảng Viên Và Người Đứng Đầu
  • Hội Thảo “giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Lý Luận Chính Trị”
  • Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Môn Lý Luận Chính Trị Cho Sinh Viên
  • Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng, Phương Pháp Giảng Dạy Lý Luận Chính Trị
  • Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Và Học Tập Lý Luận Chính Trị
  • GD&TĐ – Năm học 2000-2001, Trường THCS Thị trấn Sông Thao (Cẩm Khê, Phú Thọ) sáp nhập với Trường Chuyên Sông Thao và mang tên Trường THCS Thị trấn Sông Thao cho đến ngày nay. Hiện nay, nhà trường phải thực hiện 2 nhiệm vụ đó là: Bồi dưỡng học sinh giỏi và nâng cao chất lượng đại trà.

    Một lớp học của của Trường THCS Thị trấn Sông Thao. Ảnh: Trung Toàn

    Từ những kết quả đã đạt được trong những năm qua và điều kiện thực tế của nhà trường, cô Hiệu trưởng Nguyễn Thị Ngọc Lan chia sẻ một số kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng học sinh giỏi (HSG).

    Thứ nhất: Chi bộ đảng, Ban giám hiệu nhà trường luôn xác định việc bồi dưỡng học sinh giỏi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nhà trường; phải xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi ngay từ đầu năm học, khảo sát chất lượng để phân loại đối tượng học sinh, phát hiện và xây dựng nguồn HSG từ đầu lớp 6.

    Có những biện pháp hỗ trợ, tạo điều kiện cho giáo viên tham gia bồi dưỡng HSG như giảm các công tác kiêm nhiệm, động viên, tuyên dương khen thưởng kịp thời đối với giáo viên có thành tích cao trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi và những học sinh đạt giải cao trong các kì thi.

    Thứ hai: Tổ chức có hiệu quả các buổi sinh hoạt chuyên đề bồi dưỡng HSG, rút kinh nghiệm năm trước để đề ra các giải pháp cho năm tiếp theo; khơi dậy sự say mê, tâm huyết, nhiệt tình, trách nhiệm của đội ngũ giáo viên bồi dưỡng.

    Phân công giáo viên bồi dưỡng phải có khả năng phát hiện để lựa chọn những học sinh có khả năng, tư chất, trí tuệ, lòng đam mê, tính sáng tạo.

    Thứ ba: Giáo viên dạy có trách nhiệm cao, nhiệt tình, say mê với công việc, có kiến thức, hiểu biết sâu rộng, có kinh nghiệm và phương pháp dạy học phù hợp bộ môn, là người biết tạo cho học sinh động cơ học tập đúng đắn, tạo niềm say mê, yêu thích và niềm hứng thú học tập, thắp sáng những ước mơ, khát khao, tìm tòi, khám phá kiến thức của học sinh.

    Giáo viên bồi dưỡng HSG hướng dẫn học sinh cách học, không chỉ học ở thầy cô mà còn biết học ở bạn, học trên sách vở, tài liệu, các kênh thông tin, trên thực tế cuộc sống.

    Giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm các tài liệu phù hợp như: các sách tham khảo, tài liệu trên mạng…. Qua đó, hình thành thái độ học tích cực, độc lập nghiên cứu của học sinh…

    Giáo viên cũng cần phối hợp chặt chẽ với cha mẹ học sinh, với giáo viên chủ nhiệm để động viên, thúc đẩy học sinh tích cực học tập.

    Mặt khác, giáo viên cần tôn trọng sự lựa chọn của học sinh và cần có những định hướng để các em phát huy được năng khiếu và niềm đam mê của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Trường Thcs Cát Hiệp
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Mũi Nhọn Môn Toán Trường Thpt Hàn Thuyên Năm 2022
  • Để Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường Phổ Thông
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Toán 6
  • Kế Hoạch Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Lịch Sử Lớp 9 Trung Học Cơ Sở

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Lịch Sử 9
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chữ Viết Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Skkn: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đọc Cho Học Sinh Lớp 3
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 3
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Viết Đúng Chính Tả Cho Học Sinh Lớp 3
  • TIÊU ĐỀ

    1. Mở đầu

    1

    1.1 Lí do chọn đề tài

    1-2

    1.2 Mục đích nghiên cứu

    1.3 Đối tượng nghiên cứu

    1.4 Phương pháp nghiên cứu

    2. Nội dung

    2

    2.1 Cơ sở lí luận

    2.2 Thực trạng của vấn đề

    3

    2

    3

    2.3 Giải pháp

    3-16

    Kết luận, kiến nghị

    17-18

    1

    1. MỞ ĐẦU

    1.1 Lý do chọn đề tài:

    Như chúng ta đã biết môn Lịch sử có một vị trí, ý nghĩa rất quan trọng đối

    với việc giáo dục thế hệ trẻ. Nhà Bác học F-Ba-con đã chứng minh tầm quan trọng

    của việc học lịch sử trong việc hình thành và giáo dục trẻ em: ” Muốn tinh phải học

    thơ, muốn đầu óc tập trung phải học sách Toán, muốn tư duy sáng suốt phải học

    lịch sử và các điều của luật pháp” ( Bàn về đọc sách)

    Từ những hiểu biết về quá khứ học sinh hiểu rõ truyền thống dân tộc, tự hào

    với truyền thống dựng nước và giữ nước của ông cha ta, xác định nhiệm vụ hiện

    tại, có thái độ đúng với quy luật của tương lai, nhất là đối với học sinh lớp 9 cuối

    cấp trung học cơ sở.

    Tuy nhiên thời gian qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng đang rộ lên

    những tin, bài dở khóc dở cười về kiến thức làm bài thi môn Lịch sử của học sinh có thể nói là sự mơ hồ về lịch sử. Hơn nữa bộ môn Lịch sử được xem là môn phụ,

    lại khó học, khó nhớ, khó viết, khó làm bài nên điểm kiểm tra cũng như thi cử rất

    thấp cho nên rất ít học sinh yêu thích học môn lịch sử, ngại học Lịch sử; cũng rất ít

    phụ huynh muốn con mình theo học bộ môn này.

    Nhưng bên cạnh đó vẫn có những học sinh đam mê môn học, yêu thích môn

    học và mạnh dạn đăng ký tham gia bồi dưỡng và tham dự kỳ thi học sinh giỏi môn

    Lịch sử ở các cấp; và cũng có nhiều người trưởng thành, thành đạt từ môn Lịch sử như người ta thường nói “Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống”.

    Vậy làm thế nào để bồi dưỡng có hiệu quả – thực hiện công cuộc “bồi dưỡng

    nhân tài cho đất nước” trở thành nỗi trăn trở của những nhà quản lý cũng như

    những người trực tiếp giảng dạy bộ môn Lịch sử ở các cấp học, bậc học.

    Đối với bậc THCS, vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi văn hóa nói chung và

    môn Lịch sử nói riêng đã được nhiều nhà trường chăm lo, đầu tư rất bài bản. Tuy

    nhiên, do nhiều yếu tố, kết quả mang lại không cao – đặc biệt đối với bộ môn Lịch

    sử.

    Qua thực tiễn bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Lịch sử tham dự kỳ thi học

    sinh giỏi cấp tỉnh trong những năm gần đây, bản thân tôi đã lựa chọn những giải

    pháp thiết thực, phù hợp và mang lại hiệu quả, có nhiều học sinh đạt giải cấp Tỉnh.

    Bởi vậy tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến của mình: Một số giải pháp nhằm nâng

    cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử lớp 9- THCS

    1.2 Mục đích nghiên cứu:

    Bồi dưỡng học sinh giỏi là công tác cực kì quan trọng giúp cho ngành giáo

    dục phát hiện nhân tài, lựa chọn những mầm giống tương lai cho đất nước trong sự

    nghiệp trồng người. Đồng thời giúp cho học sinh thực hiện được ước mơ là con

    ngoan, trò giỏi và có định hướng đúng về nghề nghiệp của mình trong tương lai.

    2

    ra những kết luận có ý nghĩa quan trọng thiết thực”. Đây chính là cơ sở để những

    người quan tâm đến sử học và những thầy cô giáo giảng dạy môn lịch sử cần nhận

    thức đúng, sâu sắc, ý nghĩa, vị trí của bộ môn Lịch sử ở trường THCS và tìm ra

    những phương pháp để nâng cao chất lượng bộ môn, thu hút được nhiều học sinh

    yêu thích học lịch sử và học giỏi lịch sử.

    2.2 Thực trạng của vấn đề:

    Là giáo viên trực tiếp giảng dạy lịch sử ở trường THCS trong nhiều năm tôi

    nhận thấy:

    – Học sinh chưa thật sự yêu thích môn học này , khả năng đánh giá, nắm bắt

    sự kiện chưa cao, chưa hiểu hết bản chất của sự kiện, vấn đề của lịch sử.

    – Hiện nay một số học sinh và phụ huynh có thái độ chưa coi trọng bộ môn

    lịch sử, coi đó là môn học phụ, môn học thuộc lòng, không cần làm bài tập, không

    cần học. Học không biết sau này làm được gì? Do đó việc tuyển chọn học sinh có

    học lực khá giỏi vào đội tuyển sử rất khó khăn. Dẫn đến chất lượng bài thi học sinh

    giỏi môn lịch sử của các trường trung học Sầm Sơn trong những năm gần đây rất

    thấp.

    – Phương pháp giảng dạy cũng như bồi dưỡng học sinh giỏi còn nghèo nàn,

    đơn điệu, khả năng kết hợp đa dạng các phương pháp chưa tốt, tính sáng tạo trong

    giảng dạy chưa cao.

    – Kết quả học tập của học sinh còn thấp, đặc biệt là ở kì thi học sinh giỏi

    những năm trước đây.

    – Xuất phát từ nhu cầu của học sinh và tình hình môn học, qua quá trình

    giảng dạy tôi đã tìm tòi và thực nghiệm nhiều giải pháp, kết quả học sinh hứng thú,

    chăm chỉ học tập, nắm bắt sử liệu nhanh, so sánh, nhận xét đánh giá linh hoạt hẳn

    lên, kết quả thi học sinh giỏi ngày càng cao.

    Từ những cơ sở trên tôi quyết định chọn đề tài này, để nêu lên những kinh

    nghiệm của bản thân, đóng góp một số ý kiến vào quá trình đổi mới môn học, nâng

    cao khả năng nhận thức của học sinh, nhằm giúp các em đạt kết quả cao trong các

    kì thi học sinh giỏi.

    2.3 Giải pháp:

    Để đạt được kết quả cao trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, bản thân tôi đã

    thực hiện các giải pháp sau:

    Giải pháp 1. Sử dụng phim tư liệu và công nghệ thông tin nhằm gây hứng thú

    cho học sinh, giúp các em yêu thích môn lịch sử.

    Lâu nay nói đến môn lịch sử đa số học sinh đều ngại học vì kiến thức dài,

    phải ghi nhớ nhiều sự kiện…..Vì vậy việc chọn lựa học sinh vào đội tuyển rất khó.

    Để thay đổi cách dạy truyền thống tôi đã đưa nhiều bộ phim tư liệu vào dạy cho

    học sinh. Qua những tiết học như vậy tôi thấy học sinh rất hứng thú học tập, chăm

    chú xem và hiểu bài ngay trên lớp, giờ học sôi nổi, nhẹ nhàng. Từ đó rất nhiều học

    4

    sinh thích học bộ môn lịch sử. Thậm chí nhiều học sinh xung phong vào đội tuyển

    học sinh giỏi.

    Ví dụ khi dạy đến chương III: Việt Nam trong những năm 1939-1945.Tôi

    hướng dẫn cho học sinh xem bộ phim tư liệu: ” Nỗi đau lịch sử- Nạn đói khủng

    khiếp năm 1945″ Học sinh xem phim và sẽ hiểu được dưới hai tầng áp bức Pháp –

    Nhật nhân dân ta đã bị đẩy đến thảm họa hơn hai triệu đồng bào bị chết đói.

    Ví dụ Khi dạy chương V: Kháng chiến chống Pháp 1946-1954. Tôi hướng

    dẫn cho học sinh xem các bộ phim tư liệu:

    – Phim tư liệu cuộc kháng chiến chống Pháp

    – Đại tướng Võ Nguyên Giáp ” Những trận đáng chấn động thế giới”

    – Điện Biên Phủ: Sự kiện và nhân chứng.

    Ví dụ khi dạy chương VI: Việt Nam từ năm 1954- 1975. Cuộc kháng chiến

    chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta. Tôi hướng dẫn cho học sinh xem bộ phim tư

    liệu ” Đường mòn Hồ Chí Minh”

    Sau hiệp định Giơ-ne-vơ nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Mĩ nhảy

    vào biến Miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ. Vĩ tuyến

    17 trở thành phòng tuyến quân sự của Mĩ.

    Mĩ ban hành Luật 10/59, lê máy chém đi khắp miền Nam thảm sát tập thể,

    các hình thức tra tấn thời trung cổ nhưng không lay chuyển được ý chí chiến đấu

    của nhân dân miền Nam .Bác Hồ quyết định : Đấu tranh chính trị kết hợp với đấu

    tranh vũ trang, quyết định mở Đường Trường Sơn. Thượng tá Võ Bẩm người gốc

    Liên khu V được giao nhiệm vụ dẫn đoàn quân sự đặc biệt mở đường 559. Chuyến

    đầu tiên đưa 10 vạn tấn hàng đi B – giữ bí mật tuyệt đối- chi viện người và của cho

    miền Nam.

    Đường Trường Sơn là một kì công trong lịch sử chiến tranh. Thể hiện quyết

    tâm sắt đá của Đảng ta ” Dù khó khăn đến mấy cũng phải mở đường Trường Sơn”Con đường mòn, con đường ra tiền tuyến. ” Đi không dấu, nấu không khói, nói

    không tiếng”

    Chuyên gia Mĩ đã nói: Cuộc chiến tranh này đã sử dụng những thành tựu tối

    tân nhất, những loại vũ khí tân tiến lần đầu tiên được sử dụng ở Việt Nam. Mĩ chi

    110 tỉ đô la cho cuộc chiến tranh này. Cứ 5 quả bom trên 1 mét đường Trường Sơn.

    Nhà báo Pháp đã nói: Điều làm ta buồn phiền là đườn mòn Hồ Chí Minh

    không phá hủy được. Trên Đường mòn ấy, cộng sản đã được Đức Phật phù

    hộ.

    Lịch sử là một môn học đặc thù, kiến thức lịch sử là những gì diễn ra trong

    quá khứ. Chính vì thế nhiệm vụ của dạy học lịch sử là khôi phục lại bức tranh quá

    khứ để từ đó rút ra bài học từ quá khứ , vân dụng nó vào trong cuộc sống hiện tại

    và tương lai. Trong việc khôi phục lại bức tranh quá khứ một cách sinh động, thì

    những bộ phim tư liệu, phương tiện trực quan là yếu tố hết sức cần thiết. Tuy nhiên

    các đồ dùng truyền thống chưa đủ để truyền tải thông tin, chưa có tính sinh động,

    5

    hấp dẫn để cuốn hút học sinh tập trung vào bài giảng… Có những bài kênh hình

    sách giáo khoa chưa đủ để học sinh nắm bắt được đầy đủ các thông tin sự kiện,

    nhân vật lịch sử… mà cần phải có những hình ảnh, những bức tranh bên ngoài đưa

    vào để minh hoạ cho bài giảng.

    Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, xu hướng dạy học hiện đại với sự kết hợp

    những thành tựu công nghệ thông tin đã và đang diễn ra một cách khá phổ biến ở

    các nghành học, cấp học. Ứng dụng Công nghệ thông tin với tư cách là một phương

    tiện hỗ trợ cho việc dạy học mang lại ưu thế và hiệu quả cao trong dạy học bộ môn

    lịch sử.

    Giáo viên dùng lời nói , sử dụng hình ảnh, phim ảnh kết hợp với tổ chức cho

    học sinh phát hiện … giúp học sinh học tập chú ý hơn, tạo được cảm xúc tìm tòi,

    nhận thức và khái quát hoá sự kiện, hiện tượng lịch sử.

    Cũng giống như các bộ môn khác lịch sử có nhiều khả năng để ứng dụng

    công nghệ thông tin vào dạy học. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên cùng một lúc

    các em huy động nhiều giác quan để học tập, do đó việc ghi nhớ sự kiện, địa danh,

    nhân vật tốt hơn, tái tạo quá khứ dễ dàng hơn. Không có đồ dùng trực quan dù giáo

    viên có dạy hay đến đâu, lời nói dù có sinh động, giàu hình ảnh đến mấy cũng khó

    có thể tái tạo cho học sinh biểu tượng cụ thể, chính xác về quá khứ.

    Khi ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học lịch sử, chỉ với một thao tác

    đơn giản, cùng một lúc giáo viên sẽ thực hiện được các nhiệm vụ: Cung cấp sự

    kiện, tạo biểu tượng và đặt cơ sở cho việc hình thành khái niệm.

    Ví dụ: Khi dạy bài 27: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp

    xâm lược kết thúc( 1953-1954)

    Để tổ chức học sinh trả lời câu hỏi: Vì sao Pháp- Mĩ lại chọn Điên Biên Phủ

    để xây dựng tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương ? ( Coi Điện Biên Phủ là

    pháo đài bất khả xâm phạm)

    Giáo viên trình chiếu cho học sinh quan sát lược đồ giáo khoa điện tử khắc

    hoạ về địa thế của Điện Biên Phủ, về sự gấp rút xây dựng lực lượng cơ động mạnh

    của quân Pháp ở đây. Kết hợp với phương pháp trao đổi, đàm thoại, nêu vấn đề

    …Lược đồ được xây dựng với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, có hiệu ứng sinh

    động, kèm theo hình ảnh…học sinh sẽ cảm nhận được các sự kiện lịch sử sâu sắc.

    6

    Phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu bài như thế sẽ giúp các em hiểu

    rằng trước những đòn tấn công quyết liệt của quân dân ta, Na Va đã quyết định xây

    dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm hùng mạnh, chấp nhận giao chiến với

    ta. điều này xuất phát từ nhận định: Điện Biên Phủ là một thung lũng rộng lớn, bao

    quanh toàn là đồi núi trùng điệp nhưng lại là chìa khoá để bảo vệ Thượng Lào và

    chiếm lại các vùng đất đã mất ở Tây Bắc Việt Nam. Đối với Việt Minh nơi đây quá

    xa hậu phương, địa hình rừng núi hiểm trở nên tiếp tế sẽ khó khăn. Nếu chẳng may

    thất bại, Pháp sẽ dễ dàng mở một con đường tháo chạy sang Lào …Từ nhận định

    này, được sự giúp đỡ của Mĩ, Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn

    cứ điểm hùng mạnh với 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu lớn, với số quân tinh

    nhuệ 16.200 tên, được trang bị những loại vũ khí tối tân, hiện đại… nên cả Pháp và

    Mĩ đều nhận định: ” Điện Biên Phủ là pháo đài bất khả xâm phạm “.

    7

    Ứng dụng công nghệ thông tin còn mở rộng tầm hiểu biết của học sinh ra thế

    giới bên ngoài. Thấy được sự tiến bộ vượt bậc của khoa học- kĩ thuật, trí thông

    minh của con người. Từ đó giáo dục cho học sinh ý thức học hỏi, vận động, sáng

    tạo trong học tập và đời sống.

    Ví dụ khi dạy bài 9: Nhật Bản- SGK lớp 9

    – Giáo viên cho học sinh sử dụng loại kênh hình để khai thác kiến thức thì giáo

    viên cần cho học sinh quan sát và qua đó yêu cầu học sinh miêu tả, phân tích, và

    đánh giá các sự kiện lịch sử, rút ra mối liên hệ giữa các sự kiện.

    Khi cho học sinh quan sát các hình ảnh của nước Nhật:

    + Tàu chạy trên đệm từ đạt tốc độ 4000km/h

    + Cầu Sê-tô O-ha-si nối liền các đảo chính Hôn-Xiu và Xi-cô-cư.

    8

    Nhật Bản là một quốc gia không được thiên nhiên ưu đãi như các nước khác

    trên thế giới. Tuy nhiên với sự nỗ lực của bản thân, người dân Nhật Bản đã vươn

    lên và trở thành một trong ba trung trung kinh tế lớn của thế giới ( Mĩ – Tây Âu Nhật Bản).

    Nhật Bản rất chú trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong tất cả các

    lĩnh vực và cầu Sê-tô-O-ha-ri là một trong lĩnh vực về sự phát triển trong giao

    thông vận tải của nước này.

    Cầu Sê-tô-O-ha-ri là một cây cầu lớn của Nhật Bản vượt biển dài 9,4km.

    Lũng cầu đôi, dành cho đường ôtô cao tốc và xe lửa. Tuyến đường này có bốn làn

    đường cho ôtô và một đường ray cho xe lửa.

    Cầu Sê-tô-O-ha-ri được biết đến với sự thán phục hâm mộ với nhân dân thế

    giới. Một loạt tuyến đường cao tốc và đường ray được kết nối với nhau và chạy qua

    cây cầu nổi tiếng nối hai đảo chính Hôn -Xiu và Xi-cô-cư .

    Qua quan sát các hình ảnh này giáo viên phải đặt các câu hỏi gợi mở để học sinh

    rút ra nhận xét đánh giá được sự phát triển thần kì về kinh tế và khoa học kỹ thuật

    của Nhật Bản. Cũng thông qua đó giáo dục cho học sinh ý thức tự lực tự cường,

    phấn đấu để vươn lên.

    Giải pháp 2. Tuyển chọn học sinh:

    Trong công tác Bồi dưỡng HSG khâu phát hiện và tuyển chọn học sinh rất

    quan trọng chẳng khác nào “chọn giống của nhà nông”. Giáo viên cần lựa chọn đối

    tượng học sinh khá, giỏi, có kiến thức bộ môn, yêu thích môn học, có tính năng

    chuyên cần, thích học hỏi, chữ viết đẹp.

    Trong những năm gần đây, việc thành lập các đội tuyển của nhà trường được

    tiến hành từ đầu năm học lớp 9 .Tuy nhiên tôi đã ngầm thành lập đội tuyển của

    mình trước đó thông qua các bài kiểm tra định kì ở các lớp dưới phát hiện học sinh

    có năng khiếu, có sự yêu thích học Lịch sử tôi trực tiếp gặp các em để tìm hiểu tâm

    lý, khơi dậy ở học sinh niềm đam mê, giới thiệu các em tham gia vào đội tuyển để

    bồi dưỡng. Phân tích cho các em niềm tự hào, hãnh diện khi đỗ đạt. Đã là học sinh

    giỏi cấp Thị, cấp Tỉnh có giải thì đương nhiên bất cứ môn học nào cũng được

    hưởng chế độ ưu tiên ngang nhau và vinh quang như nhau.

    – Bên cạnh đó, tôi còn gặp các giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm thăm

    hỏi tình hình học tập của các em để chọn ra những học sinh có năng lực, có tố chất

    thông minh và làm siêng. Học sinh đó phải học khá các môn khác, nhất là môn

    Toán, Ngữ văn, vì môn lịch sử cũng cần ở học sinh khả năng phân tích, tư duy logic

    và kết hợp những kiến thức văn, thơ minh họa cho bài viết thêm sinh động, giảm sự

    khô khan nhàm chán gây được thiện cảm cho người đọc.

    Giải pháp 3. Xây dựng kế hoạch/ chương trình bồi dưỡng/ Tài liệu, giáo án chi

    tiết cụ thể:

    9

    Lịch sử địa phương

    Ôn luyện

    Giáo viên cần biên soạn chương trình, giáo án bồi dưỡng rõ ràng, cụ thể, chi

    tiết cho từng buổi, về từng mảng kiến thức theo số tiết quy định nhất định và nhất

    thiết phải bồi dưỡng theo quy trình từ thấp đến cao, từ dễ đến khó để các em học

    sinh bắt nhịp dần.

    Chương trình bồi dưỡng cần có sự liên thông trong suốt 4 năm liền (từ lớp 6

    đến lớp 9 ). Hệ thống đề cương cho học sinh ôn luyện gồm 3 phần: Lịch sử thế giới,

    Lịch sử Việt Nam và lịch sử địa phương.

    Chương trình lớp 6, 7 chọn những sự kiện tiêu biểu.

    Lớp 8 bao gồm: Lịch sử thế giới cận đại và lịch sử Việt Nam cận đại,

    Lớp 9: Lịch sử Thế giới hiện đại và lịch sử Việt Nam.

    Lịch sử địa phương từ lớp 6 -lớp 9.

    Giáo viên sưu tầm tài liệu bồi dưỡng, bộ đề thi các cấp trong tỉnh nhà và

    các tỉnh khác thông qua công nghệ thông tin nhằm giúp các em tiếp xúc làm quen

    với các dạng đề , luôn tìm đọc, tham khảo các tài liệu hay để hướng dẫn cho học

    sinh.

    Giáo viên hướng dẫn học sinh các tài liệu, sách vở, băng đĩa phù hợp với

    trình độ của các em để tự rèn luyện thêm ở nhà. Đồng thời cung cấp hoặc giới thiệu

    các địa chỉ trên mạng để học sinh có thể tự học, tự nghiên cứu, bổ sung kiến thức.

    Nắm vững phương châm : dạy chắc cơ bản rồi mới nâng cao

    Thông qua những bài luyện cụ thể để dạy phương pháp tư duy, khả năng

    phân tích, đánh giá, so sánh các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử.

    Để chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả thì cần có kế hoạch

    bồi dưỡng học sinh giỏi liên tục và đều đặn, không dồn ép ở tháng cuối trước khi

    thi vừa quá tải đối với học sinh vừa ảnh hưởng đến quá trình tiếp thu kiến thức ở

    môn học khác của học sinh.

    Giải pháp 4. Giáo viên dạy đội tuyển phải thường xuyên trao dồi kiến thức, tự

    học tự bồi dưỡng:

    Muốn có HSG phải có Thầy giỏi vì thế người thầy phải luôn luôn có ý thức

    tự rèn luyện, tích lũy tri thức và kinh nghiệm, trau dồi chuyên môn, luôn xứng đáng

    là “người dẫn đường tin cậy” cho học sinh noi theo. Cổ nhân có câu: ” Một gánh

    sách hay không bằng một thầy giáo giỏi” . Thực tế chứng minh có những người

    thầy giáo lịch sử giỏi đã trở thành một vĩ nhân của dân tộc, cả thế giới ngưỡng mộ

    tôn vinh. Đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Đại tướng của nhân dân, vị tướng

    huyền thoại của lịch sử chiến tranh thế giới. Cho nên người thầy phải giúp học sinh

    hiểu hết ý nghĩa của môn lịch sử trong cuộc sống, xã hội…Phải thường xuyên tìm

    tòi các tư liệu, sách báo, kiến thức nâng cao trên các phương tiện, đặc biệt là trên

    11

    mạng internet. Lựa chọn trang Web nào hữu ích nhất, tiện dụng nhất, tác giả nào

    hay có các chuyên đề hay, khả quan nhất để sưu tầm tài liệu…

    Giải pháp 5 .Hướng dẫn học sinh hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ tư duy và

    lập bảng niên biểu.

    Trong dạy học lịch sử, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh vẽ sơ đồ tư duy

    để khái quát lại nội dung kiến thức của toàn bài, toàn chương…

    Ví dụ khi dạy bài 13 SGK lịch sử lớp 9: Tổng kết lịch sử thế giới từ sau năm

    1945 đến nay. Giáo viên cần cho học sinh hệ thống lại kiến thức bằng sơ đồ tư duy.

    Hệ thống hóa kiến thức bằng sơ đồ tư duy giúp học sinh có khả năng khái

    quát cao, ghi nhớ được những sự kiện, những nội dung lịch sử nổi bật.

    Niên biểu được tạm chia thành 3 loại chính:

    – Niên biểu tổng hợp: bảng liệt kê những sự kiện lớn xảy ra trong thời gian dài.

    Loại niên biểu này giúp học sinh không chỉ ghi nhớ những sự kiện chính mà còn

    nắm được các mốc thời gian đánh dấu mối quan hệ của các sự kiện quan trọng.

    Ví dụ niên biểu những sự kiện chính từ năm 1930-1945; 1946- 1954; 19541975; niên biểu những thành tựu của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chíên

    chống Pháp 1946-1954…

    – Niên biểu chuyên đề: đi sâu trình bày nội dung một vấn đề quan trọng nổi bật

    nào đó của một thời kì lịch sử nhất định nhờ đó mà học sinh hiểu được bản chất sự

    kiện một cách toàn diện, đầy đủ. Ví dụ niên biểu “8 sự kiện chính của cách mạng

    tháng Tám”

    – Niên biểu so sánh dùng để đối chiếu, so sánh các sự kiện xảy ra cùng một lúc

    trong lịch sử, hoặc ở thời gian khác nhau nhưng có những điểm tương đồng, dị biệt

    nhằm làm nổi bật bản chất, đặc trưng của các sự kiện ấy, hoặc để rút ra một kết luận

    khái quát. Bảng so sánh là một dạng của niên biểu so sánh nhưng có thể dùng số

    liệu và cả tài liệu sự kiện chi tiết để làm rõ bản chất, đặc trưng của các sự kiện cùng

    loại hoặc khác loại.

    Ví dụ niên biểu so sánh chủ trương của Đảng trong cao trào 1930-1931 và 19361939 có gì khác nhau; Bảng so sánh giữa chiến lược chiến tranh đặc biệt và chiến

    lược chiến tranh cục bộ của Mĩ…..

    *.Cách thức lập bảng niên biểu hệ thống hoá kiến thức

    Có thể tiến hành việc lập bảng theo các bước sau.

    -Trước hết, giáo viên tìm hoặc hướng dẫn học sinh tìm những vấn đề, những nội

    dung có thể hệ thống hoá bằng cách lập bảng. Đó là các sự kiện theo trình tự thời

    gian, các lĩnh vực … Tuy nhiên chỉ nên chọn những vấn đề tiêu biểu giúp việc nắm

    kiến thức tốt nhất, đơn giản nhất, không nên đưa ra quá nhiều các loại bảng làm

    việc hệ thống kiến thức trở nên rối.

    -Thứ hai, lựa chọn hình thức lập bảng với các tiêu chí phù hợp.

    12

    Với bảng niên biểu sự kiện: có thể lập theo các tiêu chí thời gian, sự kiện, kết

    quả- ý nghĩa…

    * Em hãy chọn 08 sự kiện tiêu biểu trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm

    1945 và điền vào bảng sau :

    STT Thời gian

    1

    14-15/8

    2

    15/8/1945

    3

    1617/8/1945

    4

    19/8/1945

    5

    23/8/1945

    6

    25/8/1945

    7

    30/8/1945

    8

    2/9/1945

    Tên sự kiện

    Hội nghị toàn quốc của

    ĐCS Đông Dương họp ở

    Tân Trào( Tuyên Quang)

    Mệnh lệnh khởi nghĩa từ

    Tân Trào truyền về Hà

    Nội

    Đại hội quốc dân họp ở

    Tân Trào (tuyên Quang)

    Nội dung, ý nghĩa

    Quyết định tổng khởi nghĩa dành

    chính quyền trong toàn quốc

    trước khi quân đồng minh vào

    Cổ vũ mạnh mẽ công cuộc chuẩn

    bị khởi nghĩa giành chính quyền

    ở Hà Nội và trong toàn quốc

    Lãnh tụ Hồ Chí Minh ra mắt

    trước đại biểu quốc dân. Lệnh

    tổng khởi nghĩa được ban bố, 10

    chính sách của Việt Minh được

    thông qua khích lệ cả nước nổi

    dậy giành chính quyền.

    Giành chính quyền ở Hà Giành chính quyền ở Hà Nội, cơ

    Nội

    quan đầu nãm của Nhật bị tiêu

    diệt.

    Quyết định đến thắng lợi trong

    toàn quốc

    Giành chính quyền ở Trung tâm đầu não chính quyền

    Huế

    thân Nhật bị tiêu diệt

    Giành chính quyền ở Sài

    Gòn

    Tại Huế, vua Bảo Đại

    nộp ấn kiếm cho chính

    quyền cách mạng.

    Nước VNDCCH ra đời

    Thủ tiêu cơ quan kinh tế quan

    trọng của Nhật

    Chế độ phong kiến Viêt Nam bị

    sụp đổ hoàn toàn

    Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt

    chính phủ lâm thời đọc Tuyên

    ngôn độc lập- Khai sinh ra nước

    Việt Nam dân chủ cộng hoà.

    1

    Với bảng niên biểu tổng hợp: tùy vấn đề mà xác định tiêu chí phù hợp.

    Ví dụ, với bảng niên biểu những thành tựu toàn diện của cuộc kháng chiến chống

    Pháp có thể lập với các tiêu chí: lĩnh vực, thành tựu, kết quả – ý nghĩa; niên biểu

    những thắng lợi tiêu biểu trên mặt trận quân sự trong kháng chiến chống Pháp với

    các tiêu chí thời gian, chiến thắng, kết quả-ý nghĩa…

    13

    * Trình bày những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân ta trên các

    mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao trong kháng chiến chống Pháp từ

    12/1946- 7/1954

    Thời gian

    Quân sự

    Chính trị

    Ngoại giao

    12/1946

    Cuộc chiến đấu

    của quân dân Hà

    Nội và các đô thị

    vĩ tuyến 16 ” giam

    chân địch”

    1947

    Chiến dịch Việt

    Bắc Thu-Đông kết

    thúc bằng sự rút

    chạy của quân

    Pháp khỏi Việt

    Bắc.

    Cơ quan đầu não

    kháng chiến được

    an toàn.

    1950

    Chiến dịch Biên

    Trung Quốc, Liên

    giới thu đông làm

    Xô và các nước dân

    phá sản kế hoạch

    chủ nhân dân đã

    Rơ ve của Pháp.

    đặt quan hệ ngoại

    giao với nước ta.

    1950-1953

    Ta mở các chiến – 2/1951 Đại hội

    dịch: Trung du, đại biểu toàn quốc

    Đường số 18, Hà lần thứ 2 họp ở

    Nam Ninh, Hòa Chiêm Hóa(Tuyên

    Bình, Tây Bắc, Quang). Đánh dấu

    Thượng Lào và bước trưởng thành

    giành thế chủ động của Đảng và thúc

    trên chiến trường. đẩy kháng chiến đi

    đến thắng lợi.

    – Mặt trận Liên

    Việt được thành lập

    3/1951

    – Đại hội chiến sĩ

    thi đua và cán bộ

    gương mẫu lần thứ

    nhất đã bầu chọn

    được 7 anh hùng.

    14

    1954

    Chiến cuộc ĐôngXuân 1953-1954

    bước đầu làm phá

    sản kế hoạch Na

    Va

    7/5/1954

    Chiến

    dịch Điện Biên

    Phủ toàn thắng.

    Đánh bại cuộc xâm

    lược của Pháp và

    can thiệp Mĩ ở

    Đông Dương

    21/7/1954

    Hiệp

    định Giơ ne vơ về

    Đông Dương được

    kí kết- Là văn băn

    quốc tế ghi nhận

    các quyền cơ bản

    của 3 nước Đông

    Dương.

    -Với niên biểu so sánh :

    Ví dụ: Hãy so sánh hai phong trào cách mạng 1930-1931 và 1936-1939 theo những

    nội dung sau:

    Nội dung

    1930-1931

    1936-1939

    Kẻ thù cách mạng

    Đế quốc và phong kiến

    Bọn phản động Pháp và

    tay sai

    Nhiệm vụ và mục tiêu cách Chống đế quốc giành độc Chống phát xít, chống

    mạng

    lập dân tộc, chống phong chiến tranh. Chống bọn

    kiến chia ruộng đất cho phản động thuộc địa và

    dân cày

    tay sai đòi tự do dân

    chủ, cơm áo, hòa bình

    Hình thức đấu tranh

    Bí mật, bất hợp pháp

    Hợp pháp, nửa hợp

    pháp, công khai, nửa

    công khai.

    Lực lượng tham gia

    Nông dân, công nhân

    Đông đảo các tầng lớp

    nhân dân.

    Ví dụ: So sánh chiến lược “chiến tranh đặc biệt” và chiến lược ” chiến tranh cục

    bộ” của đế quốc Mĩ theo các nội dung sau:

    Nội dung

    Chiến tranh đặc biệt

    Chiến tranh cục bộ

    Thời gian tiến hành chiến 1961- 1965

    1965- 1968

    tranh

    Phạm vi chiến tranh

    Miền Nam Việt Nam

    Cả nước Việt Nam

    Lực lượng chính tham gia

    Quân đội ngụy Sài Gòn

    Quân đội Mĩ và quân

    đồng minh

    15

    Tính chất chiến tranh

    Chiến tranh xâm lược Chiến tranh xâm lược

    thực dân kiểu mới của Mĩ thực dân kiểu mới của

    Giải pháp 5. Thường xuyên chấm chữa bài cho học sinh

    Một học sinh giỏi không chỉ nắm vững kiến thức lịch sử, vững kỹ năng mà

    còn có sự sáng tạo. Vì vậy, trong quá trình bồi dưỡng cho học sinh tôi thường

    xuyên quan tâm đến việc chấm và sửa bài cho học sinh. Bài viết cần phải được sửa

    chữa, chỉ bảo cụ thể, để phát huy những cái hay, sửa sai kịp thời những cái dở, để

    có sự nhìn nhận đánh giá một cách công bằng, khách quan mỗi khi tuyển lựa đội

    tuyển chính thức đi dự thi.

    Sau khi dạy một chuyên đề, hay một giai đoạn lịch sử tôi thường tổ chức

    kiểm tra để chấm và sửa bài cho học sinh. Kiểm tra có thể cho bài tập các em về

    nhà làm, quy định thời gian nộp bài, nhưng theo tôi tốt nhất là cho học sinh làm bài

    kiểm tra ngay trên lớp bồi dưỡng.

    Việc chấm chữa bài cho học sinh còn nhằm rèn cho các em kĩ năng làm bài,

    kĩ năng ghi nhớ các sự kiện qua sơ đồ tư duy, bảng thống kê, lập bảng so sánh các

    sự kiện lịch sử…, kĩ năng trình bày, kĩ năng diễn đạt,

    Ngoài việc thường xuyên chấm chữa bài cho học sinh, tôi còn giao cho học

    sinh kiểm tra chéo lẫn nhau, chấm chữa bài cho nhau, kiểm tra miệng theo cặp…

    giúp học sinh củng cố và bổ sung kiến thức cho nhau, rút kinh nghiệm cho nhau.

    Giải pháp 6. Hướng dẫn cho học sinh một số kĩ thuật khi làm bài thi.

    – Đọc kĩ đề để nhận định đúng tránh lạc đề.

    – Lập dàn ý cho từng câu để tránh tình trạng bỏ sót ý.

    – Phải làm hết tất cả các câu hỏi.

    – Tùy theo số điểm của từng câu hỏi trong đề mà phân bố thời gian làm bài

    cho hợp lí. Trung bình câu 2 điểm tối đa làm hết 15 phút. Nếu các câu nhiều điểm

    cứ như thế mà nhân lên.

    – Câu nào dễ làm trước, khó làm sau.

    – Bài viết phải rõ ràng, sạch sẽ, không sai lỗi chính tả, ngữ pháp, dễ đọc,

    tránh tẩy xóa, tránh thay giấy.

    2.4 Hiệu quả:

    Nhờ những giải pháp trên cùng với sự nổ lực của cả thầy và trò, sự quan tâm

    của lãnh đạo nhà trường, đội tuyển học sinh giỏi môn Lịch sử lớp 9 do tôi dạy đã

    đạt được một số kết quả sau:

    – Chọn lựa được những học sinh có năng lực và phẩm chất tốt vào đội tuyển.

    – Đa số các em đều yêu thích môn học và có động cơ học tập đúng đắn.

    – Chữ viết và trình bày ngày càng tiến bộ.

    – Rèn luyện được các kĩ năng cho học sinh.

    16

    – Số giải học sinh giỏi cấp Thị, cấp Tỉnh năm sau nhiều hơn năm trước.

    Nhiều em thi đậu vào chuyên Lam Sơn

    Năm học

    Đạt giải cấp Thị

    Đạt giải cấp Tỉnh

    Thi đậu vào chuyên

    Lam Sơn

    2013-2014

    5/5 em đạt giải

    2 em đạt giải

    3 em thi đậu

    2014-2015

    6/8 em đạt giải

    3 em đạt giải

    2015-2016

    7/8 em đạt giải

    6 em đạt giải

    5 em thi đậu( Trong

    đó 2 em đạt điểm tốp

    10)

    17

    – Phòng giáo dục nên tổ chức thi chọn đội tuyển và bồi dưỡng học sinh giỏi

    ngay cuối năm học lớp 8.

    – Soạn thảo khung chương trình và kiến thức ôn thi chung cho học sinh giỏi

    toàn thị. Giáo viên các trường bám theo khung phân phối chương trình để ôn thi

    cho học sinh.

    – Chú trọng hơn công tác khảo sát, lựa chọn học sinh vào lớp bồi dưỡng học

    sinh giỏi.

    – Chọn nguồn học sinh số lượng nhiều(20 học sinh). Khảo sát chọn học sinh

    giỏi thi đội tuyển cấp Tỉnh qua nhiều bài khảo sát.

    – Ra đề thi cần bám sát cấu trúc đề thi của Sở giáo dục.

    Xác nhận của thủ trưởng đơn vị

    Sầm Sơn, ngày 25 tháng 3 năm 2022

    Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh

    nghiệm của mình viết, không sao chép

    nội dung của người khác.

    Người viết

    Lê Tiến Dũng

    Nguyễn Thị Lý

    18

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Tuyển tập bộ đề thi học sinh giỏi cấp Tỉnh của các Tỉnh qua nhiều năm.

    SGK Lịch sử Lớp 9, SGK Lịch sử Lớp 12 NXB giáo dục Việt Nam.

    Tuyển chọn đề thi học sinh giỏi 9 và tuyển sinh vào Lớp 10 chuyên môn

    Lịch sử, NXB Đại học sư phạm năm 2011 của tác giả Lê Thị Hà, Đặng Thị

    Quyên.

    Giải đáp câu hỏi và bài tập Lịch sử 9, NXB Sư phạm Hà Nội của tác giả

    Đoàn Công Thương, Nguyễn Thị Kim Hoa.

    Các bộ phim tư liệu trên kênh VTV1 của Đài truyền hình Việt Nam.

    19

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số Nhung Giai Phap Nang Cao Chat Luong Doc
  • Chương Trình Giáo Dục Song Ngữ: Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Cho Trẻ Hòa Nhập Lớp 1
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học Sinh Tiểu Học Huyện Tây Giang Skkn 20142015 Nguyen Quoc Ky Doc
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Cho Trẻ Hòa Nhập Lớp 1 Skkn Mot So Giai Phap Nang Cao Chat Luong Hoc Cho Tre Hoa Nhap Lop 1 Doc
  • Kế Hoạch Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Sinh
  • Các Biện Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Của Trường Nói Chung Và Môn Sinh Nói Riêng
  • Biện Pháp Tổ Chức Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Ở Trường Tiểu Học
  • Sáng Kiến Bồi Dưỡng Hs Giỏi Tiểu Học
  • Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Toán Tiểu Học
  • học khỏc hoàn thành tốt: 350 em = 80,5 % 2. Đối tượng bồi dưỡng: Học sinh đạt danh hiệu học sinh giỏi năm học 2013 - 2014 và có kết quả bài khảo sát đầu năm học (khối 2, 3, 4, 5) đều đạt điểm 9 hoặc 10. Kết quả khảo sỏt đầu năm: Khối SSHS Mụn Toỏn Mụn TV Giỏi Khỏ TB Yếu Giỏi Khỏ TB Yếu SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL K1 92/39 K2 95/37 K3 92/48 K4 75/36 K5 90/44 TS 444 3.Thời gian tổ chức bồi dưỡng- phụ đạo : 1.Vể chương trỡnh : Theo phõn phối từng chương ở cỏc khối, theo từng tuần dạy 2.Thời gian bồi dưỡng : -Từ thỏng 9/2013 đến hết thỏng 4/2014 (bắt đầu từ tuần học thứ 4) 3.Thời gian khảo sỏt : -Đợt 1: tuần thứ tư thỏng 11/2013 -Đợt 2: tuần thứ nhất thỏng 4/2014 IV. Các biện pháp và giải pháp: a. Nội dung dạy học - Dạy theo chương trình chung, không dạy những nội dung kiến thức, kĩ năng ngoài chương trình, không dạy trước chương trình, không đa kiến thức từ lớp trên xuống lớp dưới để giảng dạy. - Trong khi học đối với mỗi đơn vị kiến thức bồi dưỡng, học sinh biết cách tự học, biết tư duy độc lập, biết liên hệ với thực tiễn xung quanh, biết cách thực hành để hiểu sâu sắc và toàn diện hơn những đối tượng học sinh khác trong lớp. Nội dung bồi dưỡng theo định hướng sau, tựy tỡnh hỡnh thực tế tổ chuyờn mụn bổ sung cho phự hợp. Giỏo viờn bồi dưỡng phải giải quyết những bài tập giảm tải theo CV 5842 của BGDĐT. a.Mụn Tiếng Việt : ( Cú chương trỡnh riờng ) 1.Đối với lớp 2 : a.Luyện từ và cõu : - Điền từ sỏt nghĩa trong 1 bài ( hoặc đoạn viết ) cho sẵn . - Hiểu và tỡm được cỏc từ cựng nghĩa , gần nghĩa , trỏi nghĩa . - Biết đặt và trả lời cõu hỏi với cỏc kiểu cõu khỏc nhau . - Cỏch dựng cỏc dấu cõu trong khi viết cõu . b.Tập làm văn : 2. Đối với lớp 3 : a. Luyện từ và cõu : - Biết điền từ ở một số bài cho sẵn . Biết dựng từ ngữ để đặt cõu . - Nhận diện và biết đặt cõu cú dựng biện phỏp so sỏnh , nhõn hoỏ ; cỏc từ chỉ hoạt động , tớnh chất . - Nắm được một số cõu tục ngữ, ca dao núi về một đề tài, hiểu và biết vận dụng - Biết sử dụng một số dấu cõu. Thực hành đỏnh dấu cõu . b. Tập làm văn : - Kể lại được cõu chuyện đó đọc đó nghe hoặc đó dược đọc 3. Đối với lớp 4 : a. Luyện từ và cõu : - Nắm chắc cỏc từ loại danh từ , động từ , tớnh từ trong cõu . - Xỏc định được chủ ngữ, vị ngữ trong cỏc loại cõu . - Biết sử dụng cỏc dấu cõu trong khi đặt cõu . - Biết thờm trạng ngữ chỉ mục đớch, nguyờn nhõn, phương tiện cho cõu b. Tập làm văn : - Biết xõy dựng được đoạn văn kể chuyện, cỏc cỏch mở bài khỏc nhau .... - Biết viết được loại văn miờu tả và cỏch dựng từ gợi tả về hỡnh ảnh, màu sắc .... 4. Đối với lớp 5 : a. Luyện từ và cõu : - Nắm chắc cỏc từ đồng nghĩa , trỏi nghĩa , đồng õm khỏc nghĩa , từ nhiều nghĩa .... - Nắm được về mối quan hệ từ trong cõu, cỏch nối cỏc vế cõu ghộp bằng quan hệ từ, cặp từ hụ ứng . - Biết cỏch viết liờn kết cỏc cõu bằng từ ngữ nối ... - Cỏch ghi cỏc dấu cõu . b. Tập làm văn : - Biết xỏc định nội dung yờu cầu đề bài , xỏc định được cỏc loại văn tả cảnh , tả người , tả đồ vật , cõy cối , kể chuyện .... - Biết dựng từ gợi tả , so sỏnh để tạo thờm bài văn cú cảm xỳc . b. Mụn Toỏn : - Nội dung bao gồm : - Số và chữ số - dóy số ( Số tự nhiờn ,số thập phõn, phõn số ) - Cỏc phộp tớnh về số tự nhiờn , số thập phõn , phõn số . - Cỏc tớnh chất của cỏc phộp tớnh . - Cỏc dạng tỡm hai số .. - Cỏc bài toỏn cú lời văn . - Cỏc bài toỏn điển hỡnh . - Đại lượng và đo đại lượng . - Hỡnh học . 1. Đối với lớp 2 : a.Cỏc số tự nhiờn : Hiểu và nắm được : -Phộp cộng và phộp trừ . Mối quan hệ và cỏc tớnh chất . -Phộp nhõn , chia đến 5 . -Biết gọi tờn cỏc thành phần cảu phộp cộng và trừ . b.Cỏc đại lượng : -Học sinh nắm được đơn vị đo độ dài , quan hệ giữa cỏc đơn vị đo . -Học sinh nắm được đơn vị đo khối lượng - Dung ớch ( lớt ) . c. Cỏc yếu tố hỡnh học : -Biết nhận dạng hỡnh ( tam giỏc , tứ giỏc ... ) -Vẽ thờm và tỡm số luợng cú trong hỡnh - Nờu tờn . d. Giải toỏn cú lời văn : -Biết túm tắt đề toỏn .( bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng .) -Giải toỏn dạng thờm , bớt , ớt hơn , nhiều hơn ... -Biết lớ giải bài toỏn đơn giản . 2. Đối với lớp 3 : a.Cỏc số tự nhiờn : -Thực hiện cỏc phộp tớnh cộng , trừ nhõn , chia . Làm quen và tớnh được giỏ trị cỏc biểu thức . -Nắm được thành phần của phộp chia , nhõn . Tỡm thành phần chưa biết . b.Cỏc đại lượng : -Nắm và hiểu được , phõn biệt được đơn vị đo độ dài , khối lượng , thời gian . -Nắm được cỏc mối quan hệ của đơn vị đo c. Cỏc yếu tố hỡnh học : -Tỡm số lượng hỡnh , nờu tờn hỡnh , vẽ thờm hỡnh . -Biết được đỉnh , gúc , cạnh gúc vuụng , gúc khụng vuụng . -Biết tớnh chu vi hỡnh chữ nhật , chu vi và diện tớch hỡnh vuụng . -Biết vẽ tõm , đường kớnh , bỏn kớnh và trang trớ hỡnh trũn . d. Giải toỏn cú lời văn : -Biết túm tắt đề toỏn ( bằng lời hoặc sơ đồ đoạn thẳng ) -Giải toỏn dạng thờm , bớt , ớt hơn , nhiều hơn , gấp , giảm một số lần . -Biết giải bài toỏn liờn quan đến rỳt về đơn vị . 3.Đối với lớp 4: a.Cỏc số tự nhiờn ; -Biết viết số tự nhiờn trong hệ thập phõn .Cỏc phộp tớnh cộng , trừ , nhõn , chia . Tớnh chất của cỏc phộp tớnh . -Nắm được và thực hiện đỳng cỏc biểu thức , dóy số , quy luật về dóy số . -Thực hiện được cỏc dạng toỏn tỡm x . b. Phõn số : -Biết cộng , trừ , nhõn , chia phõn số . -Nắm được tớnh chất phõn số , so sỏnh phõn số cựng mẫu , cựng tử hoặc mượn phõn số trung gian để so sỏnh . -Biết quy đồng phõn số . c. Đo lường : -Hiểu và biết đổi cỏc đơn vị đo độ dài , khối lượng . d. Hỡnh học : -Biết tớnh diện tớch hỡnh bỡnh hành, hỡnh thoi . -Nhận diện được gúc tự , gúc nhọn, gúc bẹt, vẽ được hai đường thẳng vuụng gúc, song song ; vẽ hỡnh chữ nhật , hỡnh vuụng ... e. Cỏc loại toỏn điển hỡnh : - Nắm thành thạo cỏc bước ở cỏc dạng toỏn : TB cộng, tỡm hai số khi biết tổng hiệu , tổng tỉ ; hiệu và tỉ .... 4. Đối với lớp 5: a. Số tự nhiờn : - Nắm chắc thờm về số và chữ số, dóy số, quy luật dóy số . - Nắm chắc tớnh chất của 4 phộp tớnh . - Tớnh nhanh theo nhiều dạng . - Cỏc dạng toỏn tỡm x . b.Số thập phõn : - Nắm chắc về cộng, trừ, nhõn, chia so sỏnh số thập phõn . - Viết được cỏc số đo độ dài, diện tớch, khối lượng dưới dạng số thập phõn . c. Hỡnh học : - Biết được cỏc yếu tố của hỡnh tam giỏc, hỡnh thang, hỡnh trũn, hỡnh hộp chữ nhật , hỡnh lập phương và cỏch tớnh chu vi , DT cỏc hỡnh . Vận dụng biến đổi cụng thức tớnh b. Hình thức tổ chức, phương pháp dạy học * Hình thức - Nhà trường không tổ chức thành lớp riêng để bồi dưỡng cho đối tượng học sinh giỏi. - Trong giảng dạy giáo viên tạo điều kiện cho học sinh giỏi hoà nhập và phát huy tác dụng đối với học sinh trong lớp. Học sinh giỏi cần giúp đỡ kèm cặp học sinh trung bình - yếu trong lớp. - Tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu chủ yếu đợc tiến hành vào buổi thứ hai theo từng nhóm, từng môn học với hệ thống kiến thức riêng cho từng đối tợng học sinh. - Trong giờ học chính khoá, đối với học sinh giỏi, giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi hoặc bài tập phù hợp với khả năng phát triển của học sinh theo hướng phân hoá đối tợng học sinh. -Giỏo viờn chủ nhiệm chuẩn bị nội dung kiến thức theo nhúm vấn đề để tổ chức bồi dưỡng, phụ đạo cho học sinh lớp mỡnh dạy. * Phương pháp dạy học - Căn cứ vào kết quả khảo sát đầu năm và kết quả học tập của học sinh năm học trước, mỗi giáo viên chủ nhiệm có danh sách phân loại đối tượng học sinh từ đó giáo viên xác định và điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tợng học sinh nói chung, đối tượng học sinh giỏi nói riêng. - Giáo viên lựa chọn nội dung mỗi tiết học phù hợp với đối tượng học sinh nhằm phát huy trí thông minh, sáng tạo khi trả lời câu hỏi hoặc giải các bài tập; tạo điều kiện cho học sinh giỏi biết cách hướng dẫn đối tượng học sinh khác học tập và đạt kết quả tốt. - Giáo viên giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống xung quanh; nội dung học và vận dụng cần tạo điều kiện để tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập và phát triển năng lực, sở trường, năng khiếu của từng em. - Giáo viên tổ chức các hoạt động giảng dạy và giáo dục một cách đa dạng, linh hoạt, hấp dẫn, phù hợp với đặc điểm tâm lí học sinh và điều kiện cụ thể của mỗi lớp (dạy trên lớp theo hình thức giao luư, dạy ngoài không gian lớp học; tổ chức tham quan, ngoại khoá để học sinh đợc học tập thông qua hoạt động thực tế; học ở th viện, hoặc tham gia các trò chơi, cuộc thi, hội diễn, hội thao, triển lãm tranh bổ ích đối với việc giáo dục toàn diện). - Ngoài ra, nên tổ chức các buổi sinh hoạt nh một hội thảo nhỏ để học sinh giỏi trình bày cách học, cách suy nghĩ khi làm một bài toán, bài tập làm văn, Qua đó góp phần bồi dưỡng học sinh giỏi đồng thời tác động tích cực đến những đối tợng học sinh khác trong lớp. - Các tổ chuyên môn tổ chức hội thảo về nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp dạy học cho đối tợng học sinh giỏi theo từng khối lớp. - Kết hợp tổ chức giao luư học sinh giỏi ở các cấp (trường, huyện) với yêu cầu tạo điều kiện để các em thể hiện khả năng vận dụng, tư duy sáng tạo về một vấn đề, một đơn vị kiến thức trong chơng trình, nhằm giúp học sinh tự tin và có hướng phấn đấu trong tương lai. * Trách nhiệm trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi + Nhà trường: - Đầu năm học nhà trờng lập kế hoạch bồi dưỡng học s

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẫu Kế Hoạch Bồi Dưỡng Phụ Đạo Học Sinh
  • Một Số Kinh Nghiệm Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Ngữ Văn Lớp 9 Ở Trường Ptdt Nội Trú Eakar
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Ngữ Văn Bậc Thcs
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phát Hiện Và Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Ngữ Văn Ở Trường Thcs
  • Những Biện Pháp Tổ Chức Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Toán Ở Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Hiệu Quả Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Trong Công Tác Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Tiếng Anh

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Văn
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Trong Trường Tiểu Học
  • Giải Pháp Nào Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Giáo Viên Mầm Non?
  • Kiến Nghị Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Giáo Viên
  • Kiến Nghị Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Giáo Viên Phổ Thông
  • MỘT SỐ BIỆN PHÁP HIỆU QUẢ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRONG CÔNG TÁC BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN TIẾNG ANH

    Một số biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Anh.

    Tiếng Anh là một công cụ vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại. Không những thế, Tiếng Anh còn là công cụ tạo điều kiện để hòa nhập với cộng đồng Quốc tế và khu vực, giúp chúng ta tiếp cận thông tin về khoa học kĩ thuật, giáo dục văn hóa, y tế, công nghiệp, nông nghiệp đang thay đổi hàng giờ, hàng ngày. Và công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng nhân tài cho nhà trường nói riêng, cho địa phương nói chung. Bồi dưỡng học sinh giỏi là một công việc khó khăn và lâu dài, đòi hỏi nhiều công sức của thầy và trò. Trong những năm gần đây, qua các kỳ thi học sinh giỏi vòng huyện, vòng Tỉnh bộ môn Tiếng Anh trường Trung học cơ sở Long Khánh A đã đạt được những thành công nhất định góp phần vào kết quả thi học sinh giỏi chung của toàn trường nói riêng và Phòng giáo dục nói chung.

    Được sự chỉ đạo, quan tâm sâu sát và kịp thời của Ban lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào Tạo huyện Hồng Ngự, của Ban giám hiệu nhà trường trong việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung cũng như công tác bồi dưỡng HSG nói riêng. Có kế hoạch cụ thể, lâu dài trong công việc bồi dưỡng học sinh giỏi, tổ chức thi tuyển chọn học sinh giỏi tạo nguồn cho trường từ năm đầu cấp (lớp 6).

    Ban giám hiệu cần phân công chuyên môn một cách hợp lý, lựa chọn giáo viên có năng lực chuyên môn , có kinh nghiệm, có tinh thần trách nhiệm, cố gắng phân công theo hướng ổn định để phát huy kinh nghiệm của giáo viên. Bên cạnh đó Ban giám hiệu có những chế độ động viên, khuyến khích khen thưởng đối với giáo viên và học sinh tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi đạt hiệu quả bằng cách trao giải thưởng và tuyên dương các em trong tiết sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt chủ nhiệm, ghi tên vào bảng học sinh tiêu biểu của trường .

    Muốn có HSG thì cả thầy và trò cùng cố gắng. Thầy phải luôn luôn có ý thức tự rèn luyện, tích lũy tri thức và kinh nghiệm, trau dồi chuyên môn, luôn xứng đáng là “người dẫn đường tin cậy” cho học sinh noi theo. Phải thường xuyên tìm tòi các tư liệu, có kiến thức nâng cao trên các phương tiện, đặc biệt là trên mạng internet. Lựa chọn trang Web nào hữu ích nhất, tiện dụng nhất, tác giả nào hay có các chuyên đề hay, khả quan nhất để sưu tầm tài liệu…

    Trong công tác bồi dưỡng khâu đầu tiên là khâu tuyển chọn học sinh khâu này rất quan trọng . Như phần trên tôi nói, đó là chúng ta lựa chọn đội tuyển ngay từ năm đầu cấp, lựa chọn những em có khả năng, tư chất, trí tuệ, lòng đam mê vào đội tuyển, làm nguồn cho năm học kế tiếp. Bước tiếp theo là sau khi lựa chọn được học sinh, chúng ta lập kế hoạch cho mình một cách cụ thể để ôn tập và bồi dưỡng lâu dài, nắm vững phư­ơng châm : “Dạy chắc cơ bản rồi mới nâng cao”

    Giáo viên cần biên soạn chương trình, nội dung bồi dưỡng rõ ràng, cụ thể, chi tiết cho từng khối, lớp, về từng mảng kiến thức rèn luyện nhất thiết phải bồi dưỡng theo quy trình từ thấp đến cao, từ dễ đến khó để các em HS bắt nhịp dần. Giáo viên dạy bồi dưỡng đều phải tự soạn chương trình dạy, theo kinh nghiệm của bản thân, theo chủ quan, tự nghiên cứu, tự sưu tầm tài liệu qua sách bồi dưỡng học sinh giỏi, một số trang web: Violet, chúng tôi Tiếng Anh 123, TOPICA Native, chúng tôi BBC Learning English, Exam English,…..

    Xác định rõ trọng tâm kiến thức giảng dạy cho từng khối lớp để tránh trùng lăp. Chương trình bồi dưỡng cần có sự liên thông trong suốt 4 năm liền (từ lớp 6 đến lớp 9 ).

    Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi muốn đạt kết quả cao thì các em không những phải nắm vững kiến thức trọng tâm khối lớp mình thi mà còn nâng cao thêm kiến thức của khối lớp trên. Ví dụ:

    + Thi học sinh giỏi lớp 7 phải nắm vững kiến thức 6, 7, và 8.

    + Thi học sinh giỏi lớp 8 phải nắm vững kiến thức 6, 7, 8 và 9.

    + Thi học sinh giỏi lớp 9 phải nắm vững kiến thức 6, 7, 8, 9 và một số kiến thức trong chương trình tiếng Anh 10.

    Giáo viên sưu tầm các bộ đề thi các cấp huyện, tỉnh nhà và các tỉnh khác thông qua công nghệ thông tin nhằm giúp các em tiếp xúc làm quen với các dạng đề , luôn tìm đọc, tham khảo các tài liệu hay để hướng cho học sinh. Cung cấp đa dạng, đầy đủ các loại bài tập các em sẽ gặp trong kì thi thông qua đề thi mẫu các năm trước và giới hạn thời gian làm bài dưới sự giám sát của giáo viên bồi dưỡng.

    Để chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả thì nhà trường cần có kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi liên tục và đều đặn, bắt đầu từ hè đối với lớp 7, 8, 9 và đầu năn đối với lớp 6. Không dồn ép ở tháng cuối trước khi thi vừa quá tải đối với học sinh vừa ảnh hưởng đến quá trình tiếp thu kiến thức ở môn học khác của học sinh.

    Bồi d­ưỡng học sinh giỏi là một quá trình lâu dài. Cần phải bồi d­ưỡng hứng thú và tính tích cực, độc lập nghiên cứu của học sinh.

    Cần phát hiện sớm các em học sinh giỏi và bồi d­ưỡng sớm, tốt nhất từ lớp 6 để có thể đạt kết quả cao.

    Cách tốt nhất bồi d­ưỡng hứng thú cho học sinh là hư­ớng dẫn dìu dắt cho các em đạt đ­ược những thành công từ thấp lên cao. Nhiều học sinh lúc đầu ch­ưa bộc lộ rõ năng khiếu nh­ưng sau quá trình đ­ược dìu dắt đã trư­ởng thành rất vững chắc và đạt thành tích cao.

    Kinh nghiệm trên đươc áp dụng và đã đạt hiệu quả cao tại trường THCS Long Khánh A trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi những năm qua.

    Tác giả: Nguyễn Thị Thiên Hương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Môn Tin Học
  • Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Lịch Sử
  • Giải Pháp Nào Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Lịch Sử?
  • Đề Tài: Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Thể Dục Cho Trẻ
  • Tổ Chức Thi Online Môn Tin Học Cấp Thcs
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100