Top 11 # Xem Nhiều Nhất Giải Pháp Marketing Phát Triển Du Lịch Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Giải Pháp Phát Triển Hoạt Động Marketing Trong Kinh Tế Du Lịch

Mặc dù có vị trí thuận lợi trong phát triển du lịch bền vững song Cửa Lò hiện vẫn ảnh hưởng khá nặng nề về tính mùa vụ. Bởi ở đây chủ yếu chỉ phát triển loại hình du lịch tắm biển, ít phát triển các loại hình du lịch công vụ (MICE), du lịch chữa bệnh, tổ chức sự kiện… Do vậy, lượng khách tới tham quan du lịch tại Cửa Lò không đều trong năm, chỉ tập tập trung vào một số tháng trọng điểm (trong tháng 6-7 hàng năm chiếm trên 63% tổng lượng khách cả năm).

Nhìn vào Hình 1, có thể thấy rằng, tình trạng cung ứng dịch vụ lưu trú đã không đáp ứng được cầu trong dịp cao điểm. Nói cách khác, vào thời điểm tháng 6-7 hàng năm, khu du lịch Cửa Lò đã không có đủ phòng khách sạn để đáp ứng nhu cầu của du khách, dẫn đến tình trạng khách phải ở ghép hoặc ở các khu nhà nghỉ tư nhân kém chất lượng.

Vào thời điểm này, phòng nghỉ của hầu hết các khách sạn trong khu vực đã hoạt động tối đa công suất, tạo doanh thu trong lĩnh vực này rất cao. Tuy nhiên, hết mùa cao điểm, các tháng còn lại trong năm số lượng phòng trống lại rất lớn, lĩnh vực này hầu như không có doanh thu, thể hiện trong khoảng trống ABGO và khoảng trống CDEF. Trung bình cả năm công suất buồng chỉ đạt 23% – 25%, theo đó doanh thu từ hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú trong năm sẽ rất thấp. Điều này, dẫn đến một nghịch lý: Nếu các DN đầu tư xây thêm các khách sạn, nhà nghỉ để tận thu vào mùa vụ du lịch thì sẽ gây sự lãng phí rất lớn. Ngược lại, nếu không đầu tư xây dựng thêm cơ sở hạ tầng thì khi vào mùa sẽ thiếu trầm trọng nguồn cung. Mặt khác, sự tập trung một lượng khách lớn trong mùa du lịch, gây quá tải cho bãi biển Cửa Lò, khiến cho du khách không thể cảm nhận và hưởng thụ hết được giá trị của khu du lịch này…

Nhìn từ biểu đồtrên cho thấy, tỷlệ lao động thất nghiệp khi vào vụ rất thấp chỉ chiếm 6% nhưng sau mùa du lịch, tỷlệ lao động thất nghiệp tăng lên rất cao (khoảng 26%), tỷlệ lao động chuyển đổi sang công việc khác là 24%. Theo đó, số lượng lao động trong ngành du lịch dịch vụ giảm một cách mạnh mẽ từ 57% xuống còn 13%.

Tính mùa vụ thể hiện rõ nét, kéo mức giá chênh lệch giữa chính vụ và trái vụ cũng rất lớn. Chẳng hạn từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm, mức giá được đẩy lên rất cao, các tháng còn lại hầu như kinh doanh theo cảm tính hoặc cho sinh viên thuê theo tháng với mức giá rẻ. Giá cả sản phẩm dịch vụ cũng vậy, vào thời kỳ cao điểm, các DN thường đẩy mức giá lên rất cao thậm chí có lúc gấp 2-3 lần so với thời kỳ thấp điểm.

Hơn nữa, sản phẩm dịch vụ của khu du lịch Cửa Lò vẫn còn đơn điệu, ít các trung tâm dịch vụ vui chơi, giải trí. Hoạt động kinh doanh ăn uống hầu như cũng chỉ sôi động vào mùa hè. Chính do tư tưởng “làm 3 tháng ăn 1 năm” cho nên các hộ kinh doanh hầu như chỉ chú ý đến vấn đề tận thu trong mùa vụ, ít chú ý đến đầu tư vào các nâng cấp cơ sở hạ tầng, khai thác du lịch bền vững. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng “đội giá” lên cao so với giá cả bình thường trong mùa lễ hội.

Khuyến nghị giải pháp Điều tiết về cầu

Giải pháp về giá: Thị trường du lịch là một thị trường cạnh tranh sôi động, có tầm quan trọng trong việc xác định giá của sản phẩm dịch vụ. Ngoài nhu cầu của khách lẻ, họ ít quan tâm hơn đến sự chênh lệch giá thì công ty lữ hành lại rất nhạy cảm với giá mà các đơn vị kinh doanh dịch vụ lưu trú và ăn uống định ra. Do đó, các đơn vị kinh doanh dịch vụ lưu trú cần đặc biệt chú ý đến mức giá cho dịch vụ của mình tại các thời điểm khác nhau. Để kích cầu trong giai đoạn vắng khách thì các DN kinh doanh dịch vụ ở Cửa Lò nên định giá theo phương châm “Đảm bảo sống sót” hoặc cơ cấu lãi ít, để thu hút đối tượng khách ở thị trường Nghệ An, Hà Tĩnh vào những dịp cuối tuần hoặc các ngày nghỉ lễ.

Điều tiết về cung

Giải pháp về sản phẩm: Tiếp tục nâng cao chất lượng các sản phẩm hiện có như du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng, tham quan di tích văn hoá lịch sử… Đồng thời, phát triển các sản phẩm du lịch tiềm năng như: Du lịch sinh thái, tham quan các làng nghề thủ công mỹ nghệ, chế biến hải sản, kết nối tour trong và ngoài tỉnh… Ngoài ra, để giảm thiểu tác động của tính thời vụ, cần có sự đầu tư về cơ sở vật chất để thu hút tổ chức các hội nghị hội thảo vào những mùa vắng khách, thu hút và tổ chức các giải thi đấu thể thao, hoạt động văn hóa văn nghệ để tăng thêm lượng khách vào mùa trái vụ. Mở rộng tiếp cận thị trường khách du lịch MICE (hội nghị, hội thảo kết hợp khen thưởng…), từ đó đa dạng các loại hình kinh doanh du lịch và các sản phẩm du lịch, phá thế kinh doanh du lịch mùa vụ và kinh doanh lưu trú là chủ yếu như hiện nay…

Giải pháp về phân phối: Tiếp tục phát huy các mối quan hệ với các công ty lữ hành ở các tỉnh phía Bắc và cần có các mối quan hệ với các công ty lữ hành, các công ty du lịch trên địa bàn Nghệ An, bởi họ có rất nhiều kinh nghiệm trong việc xúc tiến và quảng bá tới khách hàng.

Đề Tài Giải Pháp Marketing Phát Triển Du Lịch, Hay, Điểm Cao

, DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này! Sinh viên Nguyễn Hoàng Thủy Tiên

4. LỜI CẢM ƠN Xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Tiến sĩ Vũ Thị Tuyết, người đã trực tiếp nhiệt tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu, tạo điều kiện tốt nhất cho em có thể hoàn thiện khóa luận một cách thuận lợi. Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô Khoa Quản lý – Trường Đại học Thăng Long, đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản vững chắc làm nền tảng để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này! Thang Long University Library

5. MỤC LỤC Trang LỜI MỞ ĐẦU CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MARKETING ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH…1 1.1. Khái niệm về marketing………………………………………………………………………………………………1 1.2. Tổng quan về marketing điểm đến du lịch …………………………………………………………………2 1.2.1. Khái niệm về điểm đến du lịch………………………………………………………………….2 1.2.2. Khái niệm về marketing điểm đến du lịch ………………………………………………….3 1.3. Vai trò của marketing điểm đến du lịch……………………………………………………………………..4 1.3.1. Đối với điểm đến……………………………………………………………………………………..4 1.3.2. Đối với khách du lịch……………………………………………………………………………….5 1.3.3. Đối với doanh nghiệp du lịch ……………………………………………………………………6 1.4. Cách thức thực hiện marketing điểm đến du lịch………………………………………………………6 1.4.1. Vai trò của NTOs/DMOs trong marketing điểm đến du lịch ……………………….6 1.4.2. Các bước thực hiện marketing điểm đến……………………………………………………9 1.5. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của chƣơng trình marketing điểm đến du lịch……….19 1.5.1. Chỉ tiêu đánh giá định tính…………………………………………………………………….19 1.5.2. Các chỉ tiêu đánh giá định lượng…………………………………………………………….19 CHƢƠNG2. THỰCTRẠNGVIỆCÁPDỤNGMARKETINGĐIỂMĐẾNCHODULỊCH HÀNỘI ………………………………………………………………………………………………………………………………………………..21 2.1. Giới thiệu tổng quan về thủ đô Hà Nội……………………………………………………………………..21 2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển……………………………………………………………..21 2.1.2. Đặc điểm địa lý – dân số …………………………………………………………………………22 2.1.3. Đặc điểm về khí hậu……………………………………………………………………………….22 2.2. Tổng quan các sản phẩm du lịch của Hà Nội……………………………………………………………23 2.2.1. Địa điểm du lịch tại Hà Nội ……………………………………………………………………23 2.2.1.1. Di tích lịch sử – văn hóa ………………………………………………………………………23 2.2.1.2. Danh thắng thiên nhiên……………………………………………………………………….24 2.2.1.3. Các điểm đến khác ………………………………………………………………………………25 2.2.2. Văn hóa Hà Nội …………………………………………………………………………………….25 2.2.2.1. Con người ………………………………………………………………………………………….25 2.2.2.2. Lễ hội…………………………………………………………………………………………………26 2.2.2.3. Làng nghề truyền thống……………………………………………………………………….27 2.2.3. Các dịch vụ đi kèm…………………………………………………………………………………28 2.2.3.1. Cơ sở lưu trú………………………………………………………………………………………28 2.2.3.2. Nhà hàng – Quán ăn …………………………………………………………………………..29 2.2.3.3. Dịch vụ mua sắm, lưu niệm………………………………………………………………….30

8. DANH MỤC VIẾT TẮT Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ DMO Tổ chức marketing điểm đến (Destination Marketing Organization) ECFTSQH Nghiên cứu cảm nhận của khách du lịch về chất lượng du lịch tại Hà Nội (The Evaluation of Customers’ Feeling About The Tourism Services Quality in Hanoi) NCKH Nghiên cứu khoa học NTO Tổ chức du lịch quốc gia (National Tourism Organization) SVHTT&DL Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch UBND TP Ủy ban Nhân dân Thành phố Thang Long University Library

12. 2 lấy thị trường làm định hướng nhằm thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của con người thông qua trao đổi. 1.2. Tổng quan về marketing điểm đến du lịch 1.2.1. Khái niệm về điểm đến du lịch Theo quan niệm truyền thống “điểm đến du lịch là nơi mà con người sử dụng những kỳ nghỉ của họ”. Qua quá trình nghiên cứu, các chuyên gia về marketing du lịch đã đưa ra những khái niệm tổng quát về điểm đến du lịch: “Điểm đến du lịch là nơi có các yếu tố hấp dẫn, các yếu tố bổ sung và các sản phẩm kết hợp những yếu tố này để đáp ứng các nhu cầu và mong muốn của du khách” – Tiến sĩ Nguyễn Văn Đảng – Trường đại học Thương mại. [1, trg.3] Theo chúng tôi Nguyễn Văn Mạnh: “Điểm đến du lịch là một điểm đến mà chúng ta có thể cảm nhận được bằng đường biên giới về địa lý, đường biên giới về chính trị hay đường biên giới về kinh tế, có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút và đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch”. [3, trg.342] Phân loại điểm đến du lịch:  Căn cứ vào quy mô điểm đến được phân loại theo 3 quy mô chính: Mega- destination (Quy mô lớn ở cấp độ châu lục), Macto-destination (Điểm đến vĩ mô ở cấp độ quốc gia), Micro-destination (Điểm đến vi mô – cấp độ vùng, tỉnh, thành phố, thị xã, thị trấn…)  Căn cứ vào vị trí: có thể phân loại điểm đến là ở vùng biển hay vùng núi, là thành phố hay nông thôn.  Căn cứ vào giá trị tài nguyên du lịch: có thể phân loại đó là điểm đến có giá trị tài nguyên tự nhiên hay nhân văn.  Căn cứ vào đất nước: có thể phân loại điểm đến là điểm đến du lịch là một đất nước hay một nhóm đất nước, hay có thể là một khu vực.  Căn cứ vào mục đích: có thể phân loại điểm đến sử dụng với mục đích khác nhau.  Căn cứ vào vị trí quy hoạch: đó là điểm đến thuộc trung tâm du lịch của vùng hay là những điểm đến phụ cận. (Theo T.S Nguyễn Văn Đảng [1, trg.4-5]) Thang Long University Library

13. 3 1.2.2. Khái niệm về marketing điểm đến du lịch Tuy đã xuất hiện trên thế giới từ khá lâu, nhưng trong vòng 10 năm trở lại đây, marketing điểm đến du lịch mới nhận được sự quan tâm của các chuyên gia marketing và các nhà hoạch định – phát triển du lịch Việt Nam do sự chuyển hướng ngành công nghiệp mũi nhọn của quốc gia khiến cho du lịch ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong nội bộ ngành du lịch. Về khái niệm marketing điểm đến du lịch: Theo Tiến sĩ Karl Albrecht – nhà hoạch định chiến lược kinh doanh, thành viên của Hiệp hội marketing điểm đến đa quốc gia (Destination Marketing Association International – DMAI), marketing điểm đến du lịch được định nghĩa là “cách thức tiếp cận với sự phát triển kinh tế và văn hóa của một khu vực (vùng miền) một cách chủ động, chiến lược và tập trung vào con người đồng thời giúp cân bằng và hòa nhập những lợi ích của khách du lịch, các nhà cung cấp dịch vụ và cộng đồng tại đó” [11,trg.1]. Định nghĩa này được đánh giá cao tại Hội thảo nghiên cứu về marketing điểm đến trong tương lai của DMAI năm 2008. “Marketing điểm đến du lịch là quá trình liên hệ với những du khách tiềm năng để gây ảnh hưởng tới sự lựa chọn điểm đến,ý định du lịch của họ và hơn hết là địa điểm và sản phẩm du lịch cuối cùng mà họ chọn lựa. Marketing điểm đến là phần chính của quy trình phát triển tổng thể điểm đến, đó là quá trình trao đổi thông tin về giá trị, tầm nhìn và lợi thế cạnh tranh của một điểm đến. Những việc được hoàn thiện trong giai đoạn thực hiện marketing điểm đến nên được củng cố bằng việc tìm ra những quy trình hoạch định điểm đến và những hoạt động phát triển điểm đến tiếp theo đó” – Khái niệm về Marketing điểm đến du lịch của Tổ chức Marketing điểm đến đô thị Canada (Canada’s Municipal Destination Marketing Organizations – [9, trg.1]). Trong cuốn “Xúc tiến điểm đến du lịch”, Tiến sĩ Nguyễn Văn Đảng cũng đã đưa ra khái niệm về marketing điểm đến du lịch: “Marketing điểm đến du lịch là quá trình quản trị cho phép tổ chức marketing, tạo dựng duy trì mối quan hệ giữa điểm đến du lịch và khách du lịch hiện tại cũng như khách du lịch tiềm năng, thông qua việc dự báo và đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch đối với điểm đến và có khả năng dễ dàng giao tiếp liên hệ với điểm du lịch”. [1, trg 20] Tổng hợp từ những khái niệm của các chuyên gia, ta có thể hiểu bản chất của marketing điểm đến du lịch là một tổ hợp những chiến lược nhằm phát triển, khuếch trương những thế mạnh sẵn có của một điểm đến từ đó tạo ra các kênh thông tin đa chiều tác động tích cực đến hình ảnh điểm đến trong tâm trí khách du lịch hiện tại và khách du lịch tiềm năng, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch và

15. 5 Hiện nay, marketing điểm đến du lịch không những là công cụ hữu hiệu thu hút khách du lịch, mà còn là một cơ chế nhằm đạt được các mục tiêu phát triển tổng thể của điểm đến như thu hút sự quan tâm đầu tư từ bên ngoài, thay đổi quan điểm, cách suy nghĩ, của các chủ thể trong điểm đến, đồng bộ hành động hỗ trợ điểm đến phát triển hiệu quả. 1.3.2. Đối với khách du lịch Trong thời đại hiện nay, khi giá trị của thời gian và sự tiện lợi ngày càng được đề cao, khách hàng luôn có xu hướng chủ động tìm kiếm thông tin để đưa ra quyết định một cách sáng suốt. Nhất là đối với thị trường du lịch, khi đưa ra quyết định cho một kỳ nghỉ đồng nghĩa với việc khách hàng cần lựa chọn được một địa điểm phù hợp với nhu cầu nghỉ ngơi, thư giãn, giải trí của họ; phù hợp với khoản chi phí họ dự định bỏ ra; và những điểm thú vị của điểm đến mà họ muốn khám phá. Như vậy, marketing điểm đến sẽ cung cấp cho khách hàng một cái nhìn tổng quan về điểm đến, giới thiệu cho họ một cách khái quát về những đặc điểm nổi bật của điểm đến như văn hóa, phong tục tập quán, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, tín ngưỡng, con người… giúp rút ngắn thời gian và công sức trong việc tìm kiếm thông tin, lựa chọn được điểm đến phù hợp nhất với mong muốn của mình. Bên cạnh đó, marketing điểm đến du lịch là một công cụ cạnh tranh hữu hiệu, không chỉ nhằm phát triển thương hiệu, tăng độ biết đến của địa điểm du lịch với khách hàng, nó còn giúp nâng cao, củng cố chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch tại chính điểm đến đó qua các chương trình tổng thể tác động vào tất cả các đối tượng trong ngành du lịch. Như vậy, khách hàng sẽ là đối tượng hưởng lợi từ các hoạt động marketing thông qua việc được tiếp xúc với những sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao với giá thành cạnh tranh. Và hơn bao giờ hết, việc lựa chọn điểm đến du lịch ngày nay đã trở thành một trong những chỉ số quan trọng để đánh giá lối sống của khách hàng tiềm năng. Vì vậy, điểm du lịch cần có sức hấp dẫn cao, thu hút được sự quan tâm sâu sắc của khách du lịch. Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) thậm chí còn cho rằng: “Thế kỷ tới sẽ đánh dấu sự nổi lên của các điểm đến du lịch như một mặt hàng thời trang. Sự lựa chọn điểm đến du lịch sẽ giúp xác định đặc điểm du khách và trong một thế giới tính đồng nhất ngày càng tăng, đặc trưng của một du khách là một cơ sở để phân biệt anh ta với du khách khác”. Như vậy, điểm đến du lịch ngày nay không chỉ là một địa điểm nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giải trí, khám phá của khách hàng mà còn là một sản phẩm tạo ra phong cách, đẳng cấp của họ. Xu hướng này càng khẳng định vị thế quan trọng của marketing điểm đến trong việc tạo nên đẳng cấp du lịch của điểm đến trong mắt khách hàng.

19. 9 1.4.2. Các bước thực hiện marketing điểm đến Để thiết kế được một chương trình marketing điểm đến du lịch thành công, cần có một kế hoạch thực hiện từng bước chặt chẽ trong đó hoạt động của các NTO và DMO đóng vai trò then chốt, đại diện cho địa điểm du lịch thực hiện các chiến lược tác động trực tiếp vào hiệu quả ngành công nghiệp du lịch tại đó. Do vậy, nghiên cứu này sẽ tập trung vào các bước thực hiện marketing điểm đến do NTOs/DMOs chịu trách nhiệm dựa trên quy trình thực hiện marketing điểm đến của Middleton – 2003 và quy trình tổng quát của Global Tourism And Travel Distribution: Bƣớc 1: Nghiên cứu và nắm bắt nhu cầu thị trƣờng, phân khúc thị trƣờng, lựa chọn thị trƣờng mục tiêu, định vị thị trƣờng du lịch Bước 1.1: Nghiên cứu thị trường Theo Mc Carthy thị trường được hiểu như sau: “Thị trường là nhóm khách hàng tiềm năng với những nhu cầu tương tự (giống nhau) và những người bán đưa ra các sản phẩm khác nhau với cách thức khác nhau để thoả mãn nhu cầu đó. Nghiên cứu thị trường là quá trình đi tìm kiếm thu thập những thông tin cần thiết, phục vụ cho việc ra quyết định về marketing của các nhà quản trị”. Nghiên cứu thị trường là bộ phận quan trọng của nghiên cứu marketing và là yếu tố cốt lõi để tìm ra và phản hồi nhanh chóng những thay đổi của nhu cầu thị trường để hỗ trợ sự phát triển bền vững và quảng bá của ngành du lịch. Việc nắm bắt được thị trường khách du lịch và những điều gây ảnh hưởng tới quyết định và hành vi của khách du lịch khi lên kế hoạch các kỳ nghỉ. Bước 1.2: Phân khúc thị trường Phân khúc thị trường được định nghĩa là quá trình phân chia tổng số thị trường các du khách vào từng nhóm cho các mục đích marketing. Mục đích nhằm tạo thuận lợi hơn, marketing hiệu quả hơn thông qua việc xúc tiến, xây dựng và phân phối các sản phẩm được thiết kế đáp ứng chuẩn xác nhu cầu xác định của các nhóm đối tượng. Nói cách khác, phân khúc là hợp lý hóa trên cơ sở của việc đạt được hiệu quả cao hơn trong việc cung cấp sản phẩm đáp ứng nhu cầu xác định và tăng hiệu quả sử dụng ngân sách trong quá trình marketing. Trong hầu hết các trường hợp, khách du lịch tiềm năng sẽ thuộc nhiều nhóm với nhiều chiến lược được triển khai qua các thời điểm khác nhau trong một năm chứ không nhất thiết đồng thời. Các phương pháp phân khúc thị trường chính của du lịch:  Mục đích của chuyến đi  Nhu cầu, động cơ, mục đích tìm kiếm của khách du lịch  Hành vi của khách du lịch, đặc điểm của việc sử dụng sản phẩm

20. 10  Nhân khẩu học, kinh tế và địa lý  Tâm lý  Đặc điểm địa lý, nhân chủng học.  Giá Bước 1.3: Lựa chọn thị trường mục tiêu Sau khi phân khúc thị trường, đánh giá đặc điểm của các khúc thị trường khác nhau, nhà quản trị phải đưa ra quyết định xem có bao nhiêu khúc thị trường phù hợp được lựa chọn làm thị trường mục tiêu, trong đó phân khúc nào là dễ dàng tiếp cận nhất đối với điểm đến. Khúc thị trường được lựa chọn sẽ trở thành thị trường trọng điểm mà chương trình marketing điểm đến nhắm tới. Thị trường mục tiêu được hiểu là một tập hợp người mua có cùng nhu cầu, đòi hỏi hay những đặc tính giống nhau mà điểm đến du lịch có khả năng đáp ứng, đồng thời tạo ra những lợi thế so sánh cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh và cho phép tối đa hóa các mục tiêu marketing đã đặt ra nhằm phát triển điểm đến. Bước 1.4: Định vị thị trường Một điểm đến muốn tạo được sự nổi trội so với các đối thủ cạnh tranh trong tâm trí khách du lịch tại thị trường mục tiêu, bước tiếp theo cần làm là định vị thị trường – là quá trình thiết kế sản phẩm dịch vụ cung cấp ra thị trường với đặc tính khác biệt so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh và tạo cho nó hình ảnh riêng đối với thị trường mục tiêu. Định vị thị trường đối với điểm đến du lịch là xác định vị trí của các sản phẩm du lịch có tại địa điểm đó trên thị trường so với các sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh, đồng thời là vị trí của sản phẩm dịch vụ đó khắc ghi trong tâm trí khách hàng theo một hoặc vài thuộc tính quan trọng nào đó so với đối thủ cạnh tranh. Để lựa chọn định vị có thể theo hai hướng:  Định vị cạnh tranh trực tiếp với đối thủ cạnh tranh  Định vị bằng cách tìm vào một chỗ trống trên thị trường mà ở đó chưa có đối thủ cạnh tranh Tác giả Burke và Resnick (1991) đưa ra bốn chiến lược định vị:  Định vị trong mối tương quan thị trường mục tiêu: so sánh với các điểm đến có cùng thị trường mục tiêu  Định vị trong mối tương quan giữa giá cả và chất lượng  Định vị trong mối tương quan chủng loại sản phẩm: du lịch biển, du lịch núi, du lịch hội nghị, hội thảo.  Định vị so với đối thủ cạnh tranh. Thang Long University Library

21. 11 Bƣớc 2: Xây dựng và quản trị thƣơng hiệu điểm đến Mỗi quốc gia, mỗi địa phương, mỗi sản phẩm hay chính bản thân mỗi con người đều có những đặc tính nhận dạng riêng. Tuy nhiên, trong thời đại hội nhập và toàn cầu hóa, sự ảnh hưởng và giao thoa giữa các nền văn hóa làm cho mọi thứ trở nên ngày càng giống nhau. Ngày nay, hầu hết các điểm đến du lịch đều được trang bị những giá trị bề nổi như cơ sở vật chất khá tương đồng (các khách sạn 5 sao, tiện nghi, dịch vụ chăm sóc khách hàng…) do đó những tiêu chí về cơ sở vật chất kỹ thuật không còn là yếu tố quá quan trọng để phân biệt các điểm đến nữa, mà thay vào đó là những giá trị cốt lõi, bản sắc riêng của điểm đến đó như văn hóa, phong tục tập quán, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, tín ngưỡng, con người…Như vậy, trở thành một điểm đến được mọi du khách công nhận, hay nói cách khác là trở thành một điểm đến có thương hiệu là một thách thức rất lớn của marketing điểm đến du lịch. Thương hiệu điểm đến là công cụ để giới thiệu những nét đặc trưng của một điểm đến du lịch với du khách, nhà đầu tư và các du khách tiềm năng, và đó cũng là điều giúp phân biệt điểm du lịch này với các điểm du lịch khác. Thương hiệu điểm đến du lịch là những ngôn ngữ, hình ảnh, biểu tượng duy nhất mà chúng ta có thể sử dụng để nhận dạng một điểm du lịch. Nói một cách tổng quát, thương hiệu điểm đến du lịch là “tên, ngôn ngữ, biểu tượng và các yếu tố thiết kế khác, hoặc là sự kết hợp của tất cả các yếu tố đó tạo nên hình ảnh duy nhất, nhất quán, đóng vai trò lả công cụ nhận diện một điểm đến du lịch trong các chiến dịch xúc tiến và quảng bá du lịch” – Giáo trình marketing du lịch – chúng tôi Nguyễn Văn Mạnh. [3, trg.343] Bản chất của của việc xây dựng thương hiệu điểm đến thành công là tạo dựng được sự liên tưởng và liên kết giữa sản phẩm du lịch và tâm trí của du khách. Các điểm du lịch giàu tiềm năng có thể dành được tình cảm và khiến du khách quan tâm đến nó. Theo lẽ tự nhiên, các cá nhân sẽ có ấn tượng tốt về điểm du lịch bởi vì trong tâm trí họ hình ảnh về điểm du lịch đó là sự thân thiện, gần gũi, với sự nghỉ ngơi thư giãn thoải mái, các sản phẩm du lịch thú vị, độc đáo, các kỳ nghỉ dễ chịu, sảng khoái. Giúp cho điểm đến du lịch với các yếu tố cấu thành giành được ấn tượng mạnh mẽ của khách du lịch tiềm năng là cơ sở để xây dựng được thương hiệu điểm đến thành công. Một công cụ để đánh giá vị trí hiện tại của điểm đến trong tâm trí khách hàng được gọi là ma trận điểm đến du lịch. Hai trục của ma trận điểm đến đánh giá sự tương quan giữa liên kết cảm xúc và mức độ nhận thức của khách hàng tiềm năng về điểm đến, trục chỉ sự liên kết cảm xúc phản ánh ấn tượng và cảm nhận của du khách với điểm đến, nó phản ánh mức độ liên tưởng của khách du lịch với điểm đến, biểu hiện đáng kể bằng những cảm xúc tích cực của du khách về con người, thiên nhiên, khí hậu, cảnh quan, và sự đa dạng của điểm đến đó. Trục nhận thức chỉ mức độ thông tin về

22. 12 điểm đến và mức độ hiểu biết của du khách đối với điểm đến và tần suất báo chí viết về điểm đến đó. Tùy thuộc vào số điểm mà điểm đến du lịch đạt được trên hai trục, nó sẽ nằm vào một trong bốn nhóm điểm đến được thể hiện trong biểu đồ sau: Biểu đồ 1.1. Ma trận điểm đến Cao Mức độ liên hệ cảm xúc Thấp Mức độ nhận thức Thấp Cao Nguồn: VNAT & SAFTRON, FUNDESCO & CAECI: Manual for Marketing and Promotion for sustainable Tourism in Vietnam. World publishing 2005 Như vậy, thương hiệu điểm đến du lịch đóng vai trò quyết định trong thành công của các chương trình marketing điểm đến du lịch, là cầu nối giữa hình ảnh của điểm đến trong tâm trí khách hàng và những lợi thế cạnh tranh nổi trội của khu vực mà các nhà quản trị muốn khách hàng biết đến và lưu giữ. Trong thời đại thị trường mở cửa và khuyến khích cạnh tranh, thương hiệu điểm đến chính là điểm nhấn tạo ra sự khác biệt và tác động mạnh mẽ vào quyết định lựa chọn của khách hàng khi cân nhắc giữa các địa điểm có nhiều nét tương đồng. Một thương hiệu điểm đến thành công còn có thể trở thành biểu tượng của phong cách thời thượng, nâng cao giá trị du lịch, giá trị cảm nhận, thỏa mãn nhu cầu thể hiện của khách hàng khi lựa chọn du lịch tại điểm đến đó. Theo T.S Nguyễn Đình Hòa – Đề tài nghiên cứu Thiết lập quy trình xây dựng điểm đến cho Hà Nội, đề tài NCKH cấp cơ sở năm 2005, quy trình xây dựng điểm đến gồm có những bước sau:  Thành lập nhóm nghiên cứu từ 7 – 11 thành viên là các đại diện của NTO/DMO, các doanh nghiệp lữ hành lớn trong khu vực, các đại diện trong các lĩnh vực lịch sử, văn hóa, giáo dục, nghệ thuật và truyền thông. Đây là nhóm chỉ đạo, giám sát quá trình và diễn biến của chương trình.  Tiến hành nghiên cứu: Nghiên cứu thông tin qua các nguồn thứ cấp: Thông tin tổng hợp qua các thời kỳ về sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội, các sản Điểm đến tiềm năng Việt Nam, Trung Quốc… Điểm đến nổi tiếng Thái Lan, Pháp, Tây Ban Nha, Italia… Điểm đến thất bại Bắc Triều Tiên, Albania.. Điểm đến có vấn đề Afghanistan, Iraq… Thang Long University Library

23. 13 phẩm du lịch của điểm đến. Tổ chức thực hiện thu thập dữ liệu sơ cấp qua phỏng vấn, quan sát, thực nghiệm…  Tìm hiểu ý kiến phản hồi từ công chúng: lấy ý kiến đóng góp đa chiều từ các chuyên gia, từ chính người dân sinh sống tại địa điểm du lịch để kiểm tra mức độ cảm nhận, ý tưởng ban đầu và những mong muốn của họ về thương hiệu điểm đến.  Hình thành ý tưởng cốt lõi của thương hiệu, một ý tưởng hiệu quả, cần đảm bảo được 3 yếu tố:  Là sự kết hợp của cảm xúc và trí tuệ, có khả năng tác động vào trái tim và khối óc của những người cảm nhận.  Phải phù hợp với tất cả chủ thể của thương hiệu.  Phải khác biệt, độc đáo, là biểu tượng đại diện tiêu biểu của điểm đến, không trùng lặp với các thương hiệu khác.  Kết nối hình ảnh và biểu tượng, thiết kế thương hiệu: Xây dựng bộ nhận diện thương hiệu của điểm đến như màu sắc, biểu tượng, hình ảnh, logo, slogan…  Truyền tải thông điệp và quảng bá. Bƣớc 3: Quản trị sản phẩm du lịch Dưới góc độ marketing điểm đến du lịch, các sản phẩm du lịch được hiểu là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình. Hầu hết những sản phẩm du lịch là những dịch vụ và những kinh nghiệm. Do sản phẩm du lịch ở xa với khách hàng và cố định, nên các đơn vị cung ứng du lịch phải tìm cách đưa khách hàng đến với sản phẩm. Đặc tính của dịch vụ du lịch khác biệt với sản phẩm vật chất, dịch vụ du lịch có tính tổng hợp, đồng thời, không đồng nhất, không có quyền sở hữu và tính dễ dao động không thể dự trữ hay chuyển dịch. Đó là:  Tính vô hình: Không thể nhìn thấy, cảm giác hay nghe thấy được trước khi mua.  Tính bất khả phân: Người cung cấp dịch vụ và khách hàng không thể tách rời.  Tính khả biến: Chất lượng tùy vào con người, thời gian và địa điểm cung cấp.  Tính dễ phân hủy: Sản phẩm du lịch không thể để dành (tồn kho) cho ngày mai. Đặc điểm của sản phẩm du lịch: Thời gian sử dụng ngắn hơn so với các dịch vụ khác, tạo sự thu hút có tính chất cảm tính, có sự khác biết trong xúc tiến tiêu thụ vào giai đoạn cao điểm và thấp điểm. Sự quản lý các dấu hiệu hữu hình có mức độ quan trọng hơn, hình ảnhvà ấn tượng được nhấn mạnh nhiều hơn cũng như hệ thống phân phối đa dạng hơn nhưng lại phụ thuộc nhiều vào các tổ chức khác và dễ bắt chước.

24. 14 Thành phần của sản phẩm du lịch: Theo quan điểm marketing thì tài nguyên của sản phẩm du lịch bao gồm: Tài nguyên thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, phong tục tập quán văn hóa, tín ngưỡng, di tích lịch sử, các tiện ích du lịch, cơ sở vật chất, giá cả, con người, các yếu tố khác thu hút khách du lịch của điểm đến. Sản phẩm du lịch chuyên biệt Việt Nam chủ yếu thuộc ba nhóm chính là:  Sản phẩm du lịch văn hoá  Sản phẩm du lịch sinh thái  Sản phẩm du lịch biển đảo Mô hình sản phẩm du lịch: Từ các thành phần của sản phẩm du lịch, có thể rút ra những yếu tố cơ bản để lập nên mô hình sản phẩm du lịch. Tùy yếu tố thiên nhiên và quan niệm của mỗi tác giả mà có thể tiếp cận các mô hình khác nhau như:  Mô hình 4S: Sea (biển), Sun (mặt trời), Shop (cửa hàng lưu niệm), Sex (hấp dẫn).  Mô hình 3H: Heritage (di sản), Hospitality (hiếu khách), Honesty (uy tín).  Mô hình 6S (Mô hình kết hợp sản phẩm du lịch của Pháp): Sanitaire (vệ sinh), Santé (sức khỏe), Sécurité (an ninh, trật tự), Sérénité (thanh thản), Services (dịch vụ, cách phục vụ), Satisfaction (thỏa mãn). Như vậy, quản trị các sản phẩm du lịch là tổng hợp các chính sách, kế hoạch, hành động nhằm quản lý tốt các sản phẩm du lịch của khu vực. Hướng tới khai thác tốt những sản phẩm này đưa vào phục vụ khách du lịch nhằm nâng cao sự thỏa mãn của họ nhưng bên cạnh đó vẫn duy trì và bảo tồn được sự nguyên vẹn giá trị cốt lõi của các sản phẩm đó ví dụ như môi trường trong lành của các tài nguyên thiên nhiên, sự toàn vẹn về chất lượng của các di tích lịch sử, sự độc đáo, bản sắc riêng của các sản phẩm du lịch phi vật thể… Đây chính là một trong những nhiệm vụ vô cùng quan trọng của marketing điểm đến trong việc đưa ra những sách lược nhằm nâng cao ý thức của cả người dân, khách du lịch và các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này trong việc bảo vệ giữ gìn và nâng cao giá trị của các sản phẩm du lịch. Tác động tích cực tới việc ra quyết định tu bổ, bảo tồn, gìn giữ các địa điểm du lịch của các cơ quan có thẩm quyền thông qua các tham luận, tư vấn, đề án, đề xuất trong các hội thảo quan trọng về du lịch cấp quốc gia. Cho tới khi nào một địa điểm du lịch quản trị tốt các sản phẩm du lịch của mình, thì các nỗ lực về phát triển thương hiệu, quảng bá hay xúc tiến mới thực sự có hiệu quả và được duy trì lâu dài và bền vững. Thang Long University Library

26. 16  Marketing trực tiếp Đối với phạm trù marketing điểm đến du lịch, các công cụ xúc tiến hỗn hợp phù hợp nhất có thể triển khai bao gồm: Quan hệ công chúng/tuyên truyền (Public Relation/Publicity) Quan hệ công chúng là cách thức hoạt động, tạo dựng, duy trì và phát triển các mối quan hệ với các tầng lớp công chúng khác nhau. Hoạt động này nhằm tạo ra một ấn tượng tốt, một hình ảnh tốt trong công chúng làm cho công chúng yêu thích doanh nghiệp, qua đó để đính chính những thông tin nhiễu và loại bỏ các thông tin sai lệch. Đây là mục đích chính của việc xây dựng quan hệ với công chúng. Quan hệ công chúng được thực hiện thông qua một loạt các công cụ như báo cáo, các bài thuyết trình, các tài liệu, số liệu, hình ảnh, âm thanh và những hoạt động dịch vụ khác. Xúc tiến thƣơng mại (Trade promotion) là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại, Mục đích của các hoạt động xúc tiến thương mại là tìm kiếm, khai thác, khuyến khích các khách hàng tiềm năng quan tâm, tìm hiểu và trải nghiệm sản phẩm. Thúc đẩy sự tiêu dùng mạnh mẽ hơn của khách hàng hiện tại và thu hút các khách hàng đang sử dụng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh về phía mình. Mạng internet/phƣơng tiện truyền thông tƣơng tác (The internet/ Interactive media) là việc sử dụng mạng internet kết hợp với các phương tiện truyền thông tích hợp khác để xúc tiến sản phẩm và dịch vụ đến với khách hàng. Với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, ngày càng có nhiều người sử dụng internet với mục đích tìm kiếm thông tin, lựa chọn sản phẩm dịch vụ, yêu cầu tư vấn, đặt hàng… vì những tiện ích nổi bật mà phương thức này đem lại:  Thuận lợi về không gian và thời gian: bất cứ khi nào, bất cứ ở đâu, miễn là khách hàng có trên tay phương tiện truy cập internet họ đều có thể thực hiện các thao tác phục vụ nhu cầu của bản thân.  Thông tin: Lượng thông tin trên mạng internet ngày càng đa dạng về cả nguồn cung cấp tin, các mảng thông tin, chiều sâu bề rộng của thông tin, khách du lịch có thể tìm hiểu tất cả những thông tin mà họ quan tâm về một điểm đến như: Các sản phẩm du lịch nổi trội, dịch vụ, giá cả, các tour trọn gói…  So sánh: Chỉ cần những thao tác đơn giản, khách hàng có thể so sánh ngay được giá cả, chất lượng của các điểm đến du lịch để đưa ra lựa chọn, hoặc Thang Long University Library

30. 20  Sự tăng trưởng về chi tiêu du lịch của khách du lịch khi tham quan và lưu trú tại điểm đến.  Tỷ lệ khách du lịch quay lại điểm đến. Một kết quả được coi là bền vững khi những xu hướng thay đổi tích cực của các chỉ tiêu được duy trì trong một thời gian dài chứ không chỉ tập trung một khoảng thời gian ngắn trong khi triển khai chương trình marketing. Kết luận: Theo dòng phát triển của lịch sử, marketing vẫn được xem như một ngành khoa học còn khá non trẻ. Tuy nhiên, những đóng góp của nó vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội… là không thể phủ nhận. Theo xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn cầu, cắt giảm tỷ trọng của những ngành công nghiệp nặng, đẩy mạnh phát triển dịch vụ trở thành lĩnh vực chủ lực của kinh tế, du lịch ngày càng đóng vai trò quan trọng và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn thúc đẩy sự phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Cùng với xu hướng đó, thực hiện các chương trình marketing thúc đẩy sự phát triển du lịch ngày nay không chỉ còn là việc của cá nhân từng doanh nghiệp riêng lẻ, mà đã mở rộng ra thành nhiệm vụ của các nhà hoạch định cấp cao của khu vực. Xây dựng và phát triển các chương trình marketing điểm đến trở thành một yêu cầu hiện hữu, không chỉ đem lại những công cụ cạnh tranh hiệu quả trên thị trường du lịch nơi các điểm đến hấp dẫn đang mọc lên trên toàn thế giới, cạnh tranh gay gắt lẫn nhau, mà còn là các chiến lược tổng thể, nhằm phát triển đồng bộ kinh tế, văn hóa, xã hội, chất lượng sản phẩm du lịch của điểm đến một cách bền vững. Bất cứ chương trình nào, để đi đến thành công, đều phải có được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tuân thủ chặt chẽ các bước thực hiện và sự sáng tạo, đột phá trong ý tưởng, đặc biệt là trong các chương trình marketing điểm đến. Vừa là một ngành khoa học của tư duy, sáng tạo, vừa được thực hiện trên phương diện vĩ mô, đòi hỏi các nhà hoạch định cần đưa ra được những chiến lược hợp lý, phù hợp từng thời điểm mà không ngừng thay đổi và phát triển. Thang Long University Library

31. 21 CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG MARKETING ĐIỂM ĐẾN CHO DU LỊCH HÀ NỘI 2.1. Giới thiệu tổng quan về thủ đô Hà Nội 2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Cách đây hơn 1000 năm, đức vua Lý Thái Tổ trong công cuộc đi tìm mảnh đất “địa linh nhân kiệt” để thực hiện ý chí “muốn đóng đô ở trung tâm mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu”, khi đi qua thành Đại La đã nhận ra mảnh đất này “ở trung tâm cõi bờ đất nước, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi, vị trí ở giữa bốn phương nam, bắc, đông, tây, tiện hình thể núi sông sau trước. Ở đó địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ vì ngập lụt, muôn vật rất phong phú và tốt tươi. Xem khắp đất Đại Việt chỗ ấy là nơi hơn cả, thật là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi đô thành bậc nhất của đế vương”. (Chiếu dời đô – Lý Công Uẩn) Và mùa thu năm 1010, nước Đại Việt của triều Lý đã định đô nơi mảnh đất từ bờ con sông Hồng, khi đoàn thuyền ngự cập bến, Lý Thái Tổ đã thấy hiển hiện trong trí tưởng tượng của mình một con rồng huyền thoại vươn mình bay lên. Ngài bèn đặt tên cho kinh đô của quốc gia Đại Việt là “Thăng Long” như đặt niềm tin tưởng vào một thời đại mới của nước nhà từ đây sẽ lớn mạnh hùng cường. Kể từ đó trải dài tám thế kỷ liên tục, Thăng Long dù có lúc mang tên khác như Đông Đô (thời Hồ), Đông Quan (thời giặc Minh tạm chiếm) hay Đông Kinh (thời Hậu Lê)… nhưng vẫn vững chãi là kinh đô của nước Đại Việt. Đầu thế kỷ thứ XVIII, nhà Nguyễn lập triều (1802), Gia Long cho dời đô vào Huế, Minh Mạng đổi tên Thăng Long thành Hà Nội (1831), thành quách bị hạ thấp, vua chúa quan lại bỏ đi… nhưng như nhận xét của một người nước ngoài viết vào cuối thế kỷ XIX: “vua chúa không còn nhưng Hà Nội vẫn là thành phố đứng đầu vương quốc về nghệ thuật, công nghiệp, thương mại và sự giàu có, về số dân đông đúc, về sự lịch duyệt và học vấn… Hà Nội vẫn là trái tim của đất nước này” (Sylvestre – Vương quốc An Nam, Paris 1889). Mùa thu năm 1945, cuộc Cách mạng tháng Tám bùng nổ. Từ chiến khu Việt Bắc, Đại hội Quốc dân Tân Trào được triệu tập thể hiện ý chí của toàn thể dân tộc Việt Nam đã quyết định lấy Hà Nội làm Thủ đô của đất nước. Và ngày 2-9-1945 giữa lòng Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra Nhà nước Dân chủ Cộng hòa. Kể từ đó đến nay, Hà Nội trở thành Thủ đô – Trung tâm văn hóa, chính trị đầu não của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. (Dữ liệu lịch sử – Nguồn “Hà Nội theo năm tháng” – UBND TP Hà Nội – 2012)

32. 22 2.1.2. Đặc điểm địa lý – dân số Nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Thủ đô Hà Nội nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn. Hà Nội có vị trí từ 20°53′ đến 21°23′ vĩ độ Bắc và 105°44′ đến 106°02′ kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nam, Hòa Bình phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên phía Đông, Hòa Bình cùng Phú Thọ phía Tây. Hà Nội cách thành phố cảng Hải Phòng 120 km (Đơn vị hành chính: Thành phố Hà Nội – Tổng cục du lịch Việt Nam – 2013).. Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển. Nhờ phù sa bồi đắp, ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác. Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức, với các đỉnh núi cao như Ba Vì (1.281 m), Gia Dê (707 m), Chân Chim (462 m), Thanh Lanh (427 m), Thiên Trù (378 m)… Khu vực nội thành có một số gò đồi thấp, như gò Đống Đa, núi Nùng (Tổng cục du lịch Việt Nam – 2013) Sau bốn lần điều chỉnh địa giới hành chính từ năm 1954 đến nay, Hà Nội trở thành đô thị có diện tích lớn nhất cả nước, và là một trong 17 thủ đô có quy mô lớn trên thế giới, với diện tích 3.344km2 và dân số 7,3 triệu dân (Tổng cục thống kê – 2013). 2.1.3. Đặc điểm về khí hậu Bảng 2.1. Khí Hậu Hà Nội từ năm 1898 – 2011 Nguồn: Tổ chức Khí tượng Thế giới (LHQ) Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu cận nhiệt đới ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa về đầu mùa và có mưa phùn về nửa cuối mùa. Nằm về phía bắc của vành đai nhiệt đới, thành phố quanh nǎm tiếp nhận lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao. Nằm cách biển không xa và chịu nhiều tác động của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn, trung bình Thang Long University Library

34. 24 Sơn, đền Voi Phục, đền Quán Thánh, đình Bát Tràng, đình Kim Liên, chùa Tĩnh Lâu, phủ Tây Hồ, đền Bạch Mã, chùa Hương. Các di tích văn hóa như: Khu phố cổ Hà Nội, Ô Quan Chưởng, Thăng long tứ trấn, Hoàng thành Thăng Long. Cùng các di tích lịch sử khác: Quảng trường Ba Đình – Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hỏa Lò, nhà 48 Hàng Ngang (nơi Hồ Chí Minh đã viết bản Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam), nhà 5D Hàm Long (nơi thành lập chi bộ đảng Cộng sản đầu tiên), Thành cổ Hà Nội, Thành Cổ Loa, Tượng đài chiến thắng B52… nơi ghi dấu những giai đoạn lịch sử oai hùng của dân tộc Việt Nam nói chung và nhân dân Hà Nội nói riêng. 2.2.1.2. Danh thắng thiên nhiên Không sở hữu những bãi biển dài thơ mộng hay những dãy núi, cao nguyên hùng vĩ, nhưng Hà Nội cũng sở hữu những cảnh đẹp tự nhiên không thua kém gì so với các địa điểm du lịch khác trên cả nước. Hồ Hoàn Kiếm (hay còn gọi là Hồ Gươm) cùng với Tháp Rùa, cầu Thê Húc đã trở thành một biểu tượng của Hà Nội, với truyền thuyết vua Lê Thái Tổ trả gươm cho rùa thần trên hồ, đã thu hút được đông đảo sự quan tâm của khách du lịch trong và ngoài nước. Hồ Tây hay còn gọi là hồ Mù Sương (Dâm Ðàm), hồ Trâu Vàng (Kim Ngưu hồ), đầm Xác Cáo. Mỗi tên lưu giữa một sự tích về nguồn cội của Hồ Tây huyền thoại. Bên cạnh hai địa điểm nổi tiếng kể trên, Hà Nội còn sở hữu một hệ thống gần 80 hồ lớn nhỏ trên toàn địa bàn nội thành và ngoại thành thành phố, đây cũng là một trong những đặc điểm thú vị của cảnh quan Hà Nội, góp phần vào thu hút khách du lịch. Sau ngày 01/08/2008, thành phố Hà Tây cũ được sáp nhập vào Hà Nội, đóng góp cho du lịch Hà Nội thêm nhiều điểm đến hấp dẫn trong đó chủ yếu là những thắng cảnh thiên nhiên vẫn còn giữ được phần nào nét mộc mạc, hoang sơ của vùng ngoại ô như: Vườn quốc gia Ba Vì, Ao Vua, Khoang Xanh, Suối Hai, Đồng Mô, Thiên Sơn – Suối Ngà (Suối Ổi), Suối Ngọc – Vua Bà, Bằng Tạ, Đầm Long, Quan Sơn, Đồng Xương, Văn Sơn… mỗi cảnh quan đều chứa đựng những nét đặc sắc, những câu chuyện, truyền thuyết riêng, vừa khơi gợi sự tò mò khám phá của khách du lịch về lịch sử mỗi vùng đất, vừa đem đến cho họ cảm giác mới mẻ, thích thú khi được gần gũi với thiên nhiên. Tuy nhiên, trái với sự ưu ái của thiên nhiên, chính con người lại đang có những hành động xâm hại làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới cảnh quan và môi trường của những danh thắng du lịch nổi tiếng này. Có một thực trạng đau lòng mà những người sinh sống ở Hà Nội dường như đã quá quen thuộc, đó là sự xuất hiện một cách vô tổ chức, tràn lan của rác. Theo viện Khoa học môi trường và phát triển (VESDEC), hiện nay tất cả các sông hồ trên địa bàn thành phố Hà Nội đều ở trong tình trạng ô nhiễm, Thang Long University Library

36. 26 Qua các đề tài nghiên cứu có thể tổng kết văn hóa của người Hà Nội bằng hai từ “Thanh lịch”. Người Hà Nội xưa, dù công chức hay buôn bán đều có chung một phong thái nhanh nhẹn, khéo ăn khéo nói, cởi mở tươi cười từng câu từng chữ nói ra đều cân nhắc rào trước đón sau, đôi khi hơi khách sáo, chứ không bộc tuệch nông nổi. Là tri thức, trung lưu trưởng giả, thì lại càng chú trọng phong thái, tác phong phải từ tốn, lịch thiệp. Văn hóa Hà Nội còn thể hiện qua trang phục, người Hà Nội xưa thích những trang phục đơn giản, tinh tế, trang nhã, thể hiện đúng địa vị xã hội và nghề nghiệp của mình.. Tuy nhiên, sau một thời gian công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Hà Nội ngày nay là thành phố mơ ước mà rất nhiều người Việt Nam muốn định cư và lập nghiệp. Theo thống kê của Công an Thành Phố Hà Nội, tính đến tháng 6 năm 2013, Hà Nội có khoảng 7,4 triệu dân thường trú, và hơn 1 triệu lao động thời vụ. Tốc độ tăng dân số cơ học hàng năm trung bình khoảng 750.000 người. Với số lượng lớn người nhập cư vào Hà Nội, cùng với sự thay đổi diện tích địa giới hành chính là một trong những nguyên nhân làm văn hóa Hà Nội thay đổi ít nhiều. Thay bằng sự tĩnh mặc, thanh lịch, nhã nhặn, cuộc sống đã xô bồ hơn rất nhiều. Cuối năm 2012 và trong suốt năm 2013 là giai đoạn nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử, xã hội liên tục nói về sự lo ngại trong văn hóa ứng xử của người Hà Nội, đại diện là trào lưu “bún mắng cháo chửi” trong cách hành xử của một bộ phận những người bán hàng đối với khách du lịch. Trào lưu này xuất hiện một cách lạ lùng và để lại những hậu quả đáng lo ngại trong hình ảnh của Hà Nội trong mắt bạn bè quốc tế nói riêng và là một vết nhơ trong văn hóa Hà Nội nói chung. Bên cạnh đó, còn có rất nhiều vấn đề đáng lo ngại khác như phong cách hành xử nơi công cộng và Hà Nội – với vấn nạn rác xuất hiện khắp nơi trong thành phố. 2.2.2.2. Lễ hội Người dân Việt Nam nói chung và người dân Hà Nội nói riêng từ ngàn đời nay đã quen với sự có mặt của các lễ hội trong đời sống hàng ngày, như đại diện cho cuộc sống tâm linh, mong muốn cho hòa bình, an thái, mưa thuận gió hòa, bình an, hành phúc của người Việt. Theo thống kê chính thức mới nhất của Cục văn hóa cơ sở (Bộ văn hóa thể thao và du lịch) thì hiện nay, hàng năm Hà Nội diễn ra 1.070 lễ hội thuộc nhiều thể loại đa dạng: Lễ hội cung đình: Đây là mảng lễ hội rất thú vị mà chỉ có ở Huế và Hà Nội có được. Song nếu như Huế chỉ là thủ đô của một vương triều nhả Nguyễn, thì Hà Nội lại là nơi đóng đô của nhiều triều đại khác nhau, do đó lễ hội cung đình tại Hà Nội mang tính đa dạng về văn hóa và tính dân gian rõ nét so với lễ hội cung đình Huế. Có thể kể đến lễ hội Đồng Cổ, hội đèn Quảng Chiếu, lễ hội của Thăng Long tứ trấn, hội chùa Đế Thích (chùa vua)… Lễ hội tưởng nhớ những người anh hùng: Nổi bật nhất phải kể đến hội Gióng – một lễ hội có tầm vóc quốc gia, có sức cuốn hút kỳ lạ các thế hệ người Việt đến mức Thang Long University Library

Giải Pháp Để Phát Triển Du Lịch Bền Vững

BHG – Sự tăng nhanh cả về lượng khách du lịch (DL) mỗi năm, nguồn thu từ DL, sự phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ… Những năm qua đã khẳng định DL Hà Giang đang có sức hút diệu kỳ; đặc biệt vào các thời điểm “vàng” như Lễ hội Hoa Tam giác mạch, Chợ tình Khâu Vai, mùa lúa chín Hoàng Su Phì… Nhưng để ngành “Công nghiệp không khói” vượt qua giai đoạn phát triển “nóng”, từng bước khẳng định vai trò “mũi nhọn” của mình trong phát triển kinh tế của địa phương thì cần nhiều giải pháp đồng bộ.

Được thiên nhiên ưu đãi với nhiều cảnh quan đẹp, kỳ vĩ, lại là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc với nhiều nét văn hóa đặc sắc, nhiều truyền thuyết mang đậm sự huyền bí, nhiều di tích văn hóa tâm linh…, nên DL tỉnh nhà có tiềm năng lớn để phát triển ở tất cả các loại hình, như: DL khám phá, tham quan, nghiên cứu, hoạt động khoa học, giáo dục tại Công viên Địa chất toàn cầu – Cao nguyên đá Đồng Văn; DL trải nghiệm, sinh thái tại các làng văn hóa cộng đồng; DL văn hóa tâm linh, về nguồn với hệ thống di tích văn hóa, các cơ sở tín ngưỡng chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, kiến trúc; DL thương mại tại cửa khẩu biên giới và hệ thống chợ phiên; DL vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe tại nhiều cơ sở trên địa bàn tỉnh; DL nông nghiệp gắn với lợi thế cảnh quan đặc thù và phương thức canh tác độc đáo trên Cao nguyên đá.

Đông đảo khách du lịch đến Hà Giang trong mùa hoa Tam giác mạch. Ảnh: TƯ LIỆU

Bạn Nguyễn Hà Linh, đến từ Đà Nẵng cho biết: “Điều đặc biệt khi lên Hà Giang là được khám phá, trải nghiệm tại các làng văn hóa du lịch cộng đồng của đồng bào các dân tộc, nhưng tôi hơi hụt hẫng vì các làng văn hóa DL chưa có nhiều hoạt động trải nghiệm để cảm nhận rõ hơn về cuộc sống của người dân; chúng tôi đến chủ yếu chỉ tham quan, chụp ảnh xong ra về”.

Bên cạnh đó, một số lễ hội độc đáo, như: Lễ hội Nhảy lửa của người Pà Thẻn, Lễ hội Chợ tình Khâu Vai, Lễ hội Đua cá (Yên Minh), Lễ Quýnh Héng của người Dao xã Hồ Thầu (Hoàng Su Phì); Lễ Cấp sắc; Lễ cúng Tổ tiên dân tộc Lô Lô…, dường như chỉ mới tái hiện, giới thiệu, quảng bá chứ chưa quan tâm nhiều đến phát triển và bảo tồn một cách bền vững trước sự du nhập của văn hóa ngoại lai không chọn lọc và tốc độ thương mại hóa ngày càng cao hiện nay.

Để phát triển DL chuyên nghiệp và bền vững, cần lắm những giải pháp đồng bộ, thiết thực và nói đi đôi với hành động, như: Tập trung đầu tư phát triển DL có trọng tâm, trọng điểm để hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, các thiết chế văn hóa, đẩy mạnh công tác bảo tồn các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể của đồng bào các dân tộc; xây dựng các làng văn hóa DL có chất lượng, phát triển các làng nghề; đầu tư tôn tạo nâng cấp các điểm DL tâm linh có giá trị; xây dựng hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích phát triển DL; cải cách hành chính thu hút đầu tư, tăng cường quảng bá DL.

Nghiêm cấm mọi hoạt động DL làm ảnh hưởng xấu tới môi trường; đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức của người dân về DL bền vững, hạn chế những việc làm ảnh hưởng đến tính đa dạng sinh học như chặt phá rừng, săn bắn động vật hoang dã; xử lý nghiêm hiện tượng “chặt chém”, lừa gạt du khách; có biện pháp bảo vệ quyền lợi và sự an toàn của du khách khi tham gia khám phá các tour DL mạo hiểm; nâng cao vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý DL; thường xuyên kiểm tra vệ sinh ATTP; tạo mối liên kết vùng và tích cực thu hút đầu tư; đổi mới nâng cao chất lượng dịch vụ; xây dựng cộng đồng làm DL để mỗi người dân đều trở thành một hướng dẫn viên DL và nâng cao chất lượng cuộc sống từ chính sản phẩm DL họ tạo ra.

AN GIANG

Marketing Du Lịch Là Gì? 10 Phương Pháp Marketing Du Lịch Nổi Bật

Đây là website thông tin được chia sẻ bởi Asia Lion – Marketing Agency tiên phong thúc đẩy thị trường du lịch và xuất khẩu quốc tế. Để tham gia vào cộng đồng hỏi đáp, hỗ trợ thương mại quốc tế, vui lòng bấm vào đây

Ngoài ra, lớp học Marketing Du Lịch tháng 12 đã có, các bạn có thể đăng ký bằng cách truy cập vào

1. Marketing du lịch là gì?

Du lịch là một lĩnh vực kinh doanh đa dạng, tổng hợp và khá phức tạp. Chính vì vậy, khái niệm marketing ngành du lịch cũng rất rộng, cho đến nay cũng chưa có bất kỳ một định nghĩa chính thức nào về marketing trong ngành du lịch. Trong khuôn khổ bài viết này, Asia Lion xin chia sẻ một số định nghĩa được sử dụng nhiều nhất:

– “Marketing du lịch là một triết lý quản trị, mà nhờ đó tổ chức du lịch nghiên cứu, dự đoán và lựa chọn dựa trên mong muốn của du khách để từ đó đem sản phẩm du lịch ra thị trường sao cho phù hợp với mong muốn của thị trường mục tiêu, thu nhiều lợi nhuận cho tổ chức du lịch đó” – Định nghĩa của UNWTO – World Tourism Organizations (Tổ chức du lịch thế giới).

– “Marketing du lịch là một quá trình trực tiếp cho các cơ quan, doanh nghiệp du lịch xác định khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng, ảnh hưởng đến ý nguyện và sáng kiện khách hàng ở cấp độ địa phương, khu vực quốc gia và quốc tế để doanh nghiệp có khả năng thiết kế và tạo ra các sản phẩm du lịch nhằm nâng cao sự hài lòng của khách và đạt được mục tiêu đề ra” – Theo “Cẩm nang marketing và xúc tiến du lịch bền vững ở Việt Nam” do Fundesco biên soạn và xuất bản

– “Marketing du lịch là một hệ thống những nghiên cứu và lập kế hoạch nhằm tạo lập cho tổ chức du lịch một triết lý quản trị hoàn chỉnh với các chiến lược và chiến thuật thích hợp để đạt được mục đích” – Theo Michael Coltman (Nhà kinh tế Mỹ).

Ngoài ra, khái niệm marketing của ngành du lịch lữ hành còn được định nghĩa theo 2 góc độ:

– Góc độ quản lý du lịch: Marketing du lịch là ứng dụng các chiến lược marketing trong lĩnh vực du lịch, nhằm thỏa mãn nhu cầu, thị hiếu của khách du lịch trên mỗi giai đoạn phát triển, hướng đến sự phát triển ổn định, bền vững của địa điểm du lịch.

– Góc độ kinh doanh du lịch: Marketing là phương thức đảm bảo doanh nghiệp, công ty du lịch lữ hành sẽ đưa ra các loại hình, sản phẩm cũng như xu hướng du lịch trước đối thủ. Đây là công việc của toàn bộ nhân viên trong công ty du lịch, trong đó bộ phận marketing giữ vai trò chủ đạo.

Bạn có thể nghiên cứu thêm các tài liệu và giáo trình marketing du lịch phổ biến tại Việt Nam để hiểu hơn về Marketing của ngành du lịch.

2. Tại sao cần làm marketing du lịch?

Như đã nói ở trên, du lịch là một lĩnh vực kinh doanh rất rộng, đa dạng và phức tạp. Do đó, sự cạnh tranh giữa các công ty, doanh nghiệp, cá nhân làm du lịch rất lớn và áp lực. Để phát triển, tăng doanh thu cũng như bắt kịp xu hướng du lịch trong và ngoài nước các chiến dịch, chiến lược và kế hoạch marketing là rất cần thiết.

Để xây dựng được một chiến lược marketing cho lĩnh vực du lịch hiệu quả, đầu tiên phải tìm hiểu thị trường đang cần gì, không cần gì, thiếu gì, thừa gì… Theo thống kê của Tổng cục du lịch Việt Nam, tính đến tháng 5/2019 lượng khách du lịch đến Việt Nam đạt 1.326.668 lượt, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm 2018. Còn đối với thị trường du lịch ngoài nước thì Trung Quốc vẫn là điểm đến thu hút nhất, tiếp đến là các thị trường mới nổi ở Tây Âu, Bắc Mỹ Và Châu Phi và Trung Đông.

Chính vì thế, các chiến lược marketing cần tập trung vào việc thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch ở tất cả các mặt từ lưu trú, ăn uống, giải trí, vận chuyển, dịch vụ lữ hành đến tư vấn thông tin, bán tour… Tất nhiên, các chiến lược đều phải dài hơi và ổn định để có thể khai thác dài lâu các “mỏ vàng” béo bở này.

3. Các bước làm kế hoạch Marketing ngành du lịch

Nghiên cứu bối cảnh tổng quan, khách hàng, đối thủ, doanh nghiệp

Xác định mục tiêu Marketing

Chiến lược Marketing

Chiến lược định vị thương hiệu

Chiến lược truyền thông

Kế hoạch truyền thông tổng thể

Đo lường, tối ưu kết quả định kì

4. Các loại chiến lược Marketing ngành du lịch

*Đẩy mạnh hoạt động phân phối trên kênh

*Phát triển sản phẩm mới, đa dạng hóa sản phẩm

*Tập trung đầu tư vào các chương trình marketing trọng điểm tác động hành vi

*Thâu tóm đối thủ *Sản phẩm cũ trên thị trường cũ

*Sản phẩm cũ trên thị trường mới

*Sản phẩm mới trên thị trường cũ

*Sản phẩm mới trên thị trường mới

5. Yêu cầu để làm tốt Marketing ngành du lịch

Ngành du lịch: Hiểu về kiến thức ngành và cách vận hành hệ sinh thái du lịch

Nghề Marketing: Rèn luyện kinh nghiệm và cập nhật kiến thức

Kiến thức chung: Kiến thức vĩ mô, thị trường, khách hàng …

6. Những phương pháp marketing du lịch nổi bật

– Marketing tập trung vào nội dung trải nghiệm

Đối tượng hướng đến của loại hình marketing cho du lịch này là những người ưa trải nghiệm, khám phá văn hóa, phong tục, ẩm thực, di sản,… địa phương tại nơi họ đến. Trong hành trình của mình, họ sẽ ở nhà dân (homestay) để cùng sinh hoạt, cùng ăn, cùng ngủ với người dân, thay vì resort, khách sạn hiện đại, sang chảnh.

Các chiến lược marketing trải nghiệm đòi hỏi các công ty, doanh nghiệp phải mang đến cho nhóm khách hàng mục tiêu tất cả những trải nghiệm tuyệt vời nhất mà họ sẽ được hưởng trong tour du lịch của mình.

Loại hình marketing ngành du lịch cũng thường được các công ty du lịch địa phương dùng để phát triển du lịch bản địa bằng cách hợp tác với các đại lý OTA để vừa giới thiệu được văn hóa, đặc sản bản địa vừa tăng tỉ lệ booking, loại nhuận nhờ đem đến những trải nghiệm tuyệt vời cho du khách.

– Cẩm nang cầm tay​

Loại hình marketing du lịch thường được các cá nhân như khách sạn, homestay,.. bản địa áp dụng. Việc tự soạn thảo những cuốn cẩm nang du lịch cầm tay nhỏ xinh, cập nhật đầy đủ các thông tin bổ ích về điểm đến, món ăn địa phương, quà lưu niệm, những trải nghiệm thú vị, những cung đường hay ho,… mà du khách không thể tìm được trên mạng sẽ khiến họ thích thú và chia sẻ đến nhiều người hơn. Đây chắc chắn sẽ là điểm nhấn độc đáo chỉ bạn mới có.

Đây là một trong những loại hình marketing cho du lịch hiệu quả nhất hiện nay, đặc biệt là với du khách nước ngoài hoặc du khách cao tuổi. Tổ chức các sự kiện trải nghiệm, ăn uống hoặc giải trí để khiến du khách thích thú và có những kỷ niệm khó quên. Ngoài ra, có thể kết hợp với địa phương tổ chức các show diễn đậm chất văn hóa để du khách hiểu thêm về phong thực tập quán bản địa. Chẳng hạn như show diễn “Ký ức Hội An” không chỉ giúp Hội An quảng bá được hình ảnh Hội An xưa đến đông đảo du khách trong và ngoài nước mà còn mở ra cơ hội tăng booking, tăng doanh thu cho các công ty lữ hành.

Du lịch là một ngành đặc thù, muốn bán được tour hoặc giới thiệu các điểm đến, ẩm thực, trải nghiệm,… bắt buộc phải đầu tư cho website du lịch sao cho không chỉ đẹp mắt, thu hút mà còn phải chuyên nghiệp và tiện ích cho du khách. Có thể nói loại hình marketing cho ngành du lịch có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của bất kỳ công ty, doanh nghiệp làm du lịch nào.

Travel blogger đang là một trong những xu hướng khá “hot”. Trong hệ sinh thái “kinh doanh hình ảnh và trải nghiệm du lịch” ngày càng bùng nổ, hầu như ai cũng muốn chia sẻ những kinh nghiệm du lịch, những bức hình “ảo tung chảo”, những video cắt ghép tỉ mỉ, công phu về nơi họ đặt chân đến. Lập một blog du lịch, đầu tư cho nó trở nên khác biệt và độc nhất, sau đó kết hợp với kinh doanh, bán tour hoặc voucher khách sạn là cách để các travel blogger thành công. Một số travel blogger nổi tiếng ở Việt Nam có thể kể đến như Trần Việt Anh, Huyền Chip, Tùng Lâm, Trần Việt Phương, Andy Nguyễn…

Trong mùa cao điểm, loại hình marketing này đem lại hiệu quả rất khả quan đối với ai đang làm du lịch. Chỉ vài email mỗi ngày, bạn sẽ khiến khách hàng không thể quên được mình. Chưa kể đây là một trong những cách tiếp cận khách hàng đơn giản và thành công nhất. Tuy nhiên, hãy làm thật khéo léo, nếu không bạn sẽ bị đưa vào danh sách spam.

– Marketing du lịch bằng cách truyền thống

Sự bùng nổ của công nghệ 4.0 khiến các loại hình marketing ngành du lịch truyền thống như tờ rơi, quầy thông tin du lịch, quầy vé, hội chợ,… bị “yếu thế”. Tuy nhiên, với những cách làm truyền thống bạn sẽ đem lại sự thân thiện, gần gũi hơn với khách hàng. Hãy nhớ, cách cũ mà không lỗi thời, lại được triển khai theo hướng mới sẽ đem lại hiệu quả rất tốt.

– Kết hợp ẩm thực và con người

Loại hình marketing ở ngành du lịch này rất phổ biến hiện nay. Dù đặt chân đến bất kỳ địa điểm du lịch, vùng đất nào bên cạnh các hoạt động trải nghiệm, khám phá văn hóa – lịch sử,… các du khách đều mong muốn được thưởng thức đặc sản bản địa. Vì vậy, hãy kết hợp với các nhà hàng địa phương để giới thiệu đến du khách những món ăn đặc trưng hoặc những món ăn có thể đem về làm quà.

Đến đây chắc hẳn các bạn đã hiểu cơ bản thế nào là marketing du lịch cũng như các loại hình marketing phổ biến nhất hiện nay rồi đúng không? Cùng với sự phát triển “vũ bão” của ngành du lịch, mọi công ty, doanh nghiệp lữ hành đều lên cho mình những kế hoạch, chiến lược, chiến dịch marketing, và tìm cách tuyển dụng nhân viên marketing lĩnh vực du lịch có năng lực để cạnh tranh và sống sót trên thị trường. Còn công ty bạn đã sử dụng loại hình nào để tạo sự độc đáo và tiến xa hơn?

6. Xu hướng Marketing Du lịch trong tương lai

Xu hướng số hóa trải nghiệm khách hàng Du lịch

Số hóa các vận hành và tổ chức tour du lịch

Sử dụng đa dạng các kênh truyền thông

Nội dung đa định dạng

Sự phát triển các Platform du lịch

ĐỢI MỘT CHÚT, BẠN ĐÃ BIẾT CHƯA? ASIA LION MỞ LỚP HỌC TRIỂN KHAI MARKETING DU LỊCH 2020 DÀNH RIÊNG CHO NHỮNG CÁ NHÂN, TỐ CHỨC TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH LỮ HÀNH.