Công Khai Nợ Công Và Giải Pháp Trong Xử Lý Nợ Công

--- Bài mới hơn ---

  • Đề Xuất Các Giải Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Nguồn Nước Sông Cầu
  • Ô Nhiễm Tiếng Ồn Và Giải Pháp Khắc Phục Đến Từ Dragon Rockwool
  • Giải Pháp Nào Cho Ô Nhiễm Tiếng Ồn Tại Các Thành Phố Lớn?
  • Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Tiếng Ồn Và Các Biện Pháp Khắc Phục
  • 3 Biện Pháp Khắc Phục Ô Nhiễm Tiếng Ồn Cực Đơn Giản Và Hiệu Quả
  • Tại văn bản trả lời kiến nghị của cử tri Tỉnh Long An, Bộ Tài chính cho biết: Việc công khai thông tin về nợ công trước năm 2022 được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý nợ công năm 2009. Hiện nay được thực hiện theo quy định tại Điều 60 và Điều 61 Luật Quản lý nợ công số 20/2017/QH14 về việc Báo cáo thông tin về nợ công và Nghị định số 94/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 của Chính phủ về nghiệp vụ quản lý nợ công.

    Theo đó, thông tin về nợ công được công khai bao gồm nợ Chính phủ, trong đó nợ nước ngoài theo từng bên cho vay; công cụ nợ của Chính phủ theo từng hình thức huy động; nợ của chính quyền địa phương bao gồm phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài, vay từ ngân quỹ nhà nước, các khoản vay khác.

    Thực hiện quy định nêu trên, Bộ Tài chính đã triển khai thu thập thông tin, báo cáo và công khai cung cấp thông tin về nợ công thông qua việc xuất bản Bản tin nợ công và đồng thời đăng tải Bản tin nợ công trên trang điện tử của Bộ Tài chính (Bản tin nợ công gần nhất là Bản tin nợ công số 7 được phát hành vào tháng 11/2018).

    Bên cạnh đó, các thông tin về việc phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu Chính quyền địa phương tại thị trường trong nước được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội về chi tiết khối lượng, lãi suất và kỳ hạn phát hành, đồng thời trái phiếu phát hành được đăng ký, lưu ký và giao dịch tập trung trên thị trường trái phiếu Chính phủ tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội.

    Ngoài ra, để phục vụ công tác giám sát của Quốc hội và điều hành của Chính phủ, Bộ Tài chính đã có các báo cáo chuyên đề về tình hình nợ công hằng năm. Năm 2022, đã trình Chính phủ các báo cáo Quốc hội số 195/BC-CP ngày 17/5/2018 của Chính phủ về tình hình huy động, quản lý sử dụng vốn vay và các chỉ tiêu an toàn nợ công năm 2022 và kế hoạch năm 2022 tại kỳ họp thứ 5; số 46/BC-CP ngày 19/10/2018 về tình hình nợ công năm 2022 và dự kiến năm 2022 tại kỳ họp thứ 6; báo cáo Thủ tướng Chính phủ về các chỉ tiêu giám sát nợ năm 2022.v.v..

    Việc công khai thông tin về nợ công theo quy định hiện hành đã tiếp cận dần với thông lệ quốc tế, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đảm bảo thực hiện cam kết của Việt Nam về cung cấp và phổ biến số liệu chung với các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên như IMF,WB và ASEAN.

    Trong thời gian tới, để thực hiện tốt công tác xử lý nợ công, Bộ Tài chính cho rằng cần tiếp tục quán triệt chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quốc hội tại Nghị quyết số 07-NQ/TW về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính an toàn bền vững và Nghị quyết số 25/2016/QH14 về kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia 2022 – 2022, Luật Quản lý nợ công năm 2022, tập trung vào các giải pháp chủ yếu như sau:

    Tiếp tục tái cơ cấu nợ công, đồng thời thúc đẩy sự phát triển thị trường vốn trong nước cả về chiều rộng và chiều sâu, tăng cường huy động nguồn lực trong nước để đáp ứng nhu cầu vay của Chính phủ nhằm giảm rủi ro tỷ giá, có tính đến khả năng huy động nguồn vốn ODA sẽ giảm dần và kết thúc trong thời gian tới; phát triển thị trường vốn trong nước theo hướng đa dạng hóa công cụ nợ và cơ sở nhà đầu tư, ưu tiên phát triển nhà đầu tư dài hạn và thu hút sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường vốn, thị trường trái phiếu.

    Xây dựng tiêu chí về huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay nợ công gắn với nguyên tắc về trách nhiệm hoàn trả nợ, tiết kiệm, hiệu quả.

    Có chế tài xác định rõ mục đích, chủ trương cho các chương trình, dự án đầu tư có sử dụng vốn vay nợ công; từng bước giảm dần tỷ trọng vay nợ công, chỉ tập trung đầu tư vào các dự án lớn về kết cấu hạ tầng; loại bỏ các dự án đầu tư sử dụng vốn vay nợ công không còn phù hợp với điều kiện, tiêu chí về hiệu quả kinh tế và khả năng trả nợ.

    Nâng cao hiệu quả sử dụng đầu tư công, giảm dần sự tham gia từ ngân sách nhà nước (đặc biệt là các khoản vay của Chính phủ) vào các dự án, xã hội hóa các nguồn lực ngoài nhà nước; phấn đấu giảm mạnh chỉ số ICOR của khu vực Nhà nước.

    Kiên quyết không thực hiện chuyển đổi cơ chế từ cho vay lại sang ngân sách nhà nước đầu tư trực tiếp đối với các dự án đầu tư, sử dụng vốn vay kém hiệu quả; đồng thời chuyển dần tư cơ chế cấp phát sang cơ chế cho vay lại, nâng cao trách nhiệm của người sử dụng vốn vay và hiệu quả sử dụng vốn.

    Tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay, bảo đảm hiệu quả đầu tư, chất lượng công trình và theo đúng quy định của pháp luật; hạn chế tối đa việc điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư bằng nguồn vốn vay; tăng cường nhận thức nợ công; chủ động ngăn ngừa và xử lý nghiêm các hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Giải Pháp Kiềm Chế Nợ Công
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Nợ Công Của Việt Nam
  • Luận Văn Đề Tài Phân Tích Vấn Đề Nghèo Đói Ở Việt Nam Và Đề Xuất Các Giải Pháp Giúp Xóa Đói Giảm Nghèo
  • Đề Xuất Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững
  • Luận Văn Đề Tài Một Số Biện Pháp Nhằm Xóa Đói Giảm Nghèo Ở Việt Nam Hiện Nay
  • 7 Giải Pháp Giảm Nợ Công

    --- Bài mới hơn ---

  • Nợ Công Tại Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • 6 Giải Pháp Quản Lý Nợ Công Trong Bối Cảnh Mới
  • Thủ Tướng Chính Phủ: Nợ Công Sẽ Không Vượt Quá 65%/gdp
  • Giải Pháp Giảm Nợ Công Nhật Bản
  • Giải Pháp Nào Giảm Áp Lực Nợ Công?
  • LTS: Theo báo cáo của Chính phủ trình bày tại kỳ họp Quốc hội lần thứ 4 đang diễn ra, dự kiến vào cuối năm 2022, dư nợ công vào khoảng 3,13 triệu tỉ đồng, tương đương 62,6% GDP, tăng mạnh so với mức 54,5% của năm 2013.

    Liên tiếp từ năm 2013 đến nay, tỉ lệ nợ công liên tục tăng nhanh đáng lo ngại. Dự báo năm 2022, nợ công sẽ vào khoảng 63,6% GDP. Vậy giải pháp nào cho vấn đề nợ công hiện nay. Xung quanh vấn đề này, Báo Lao Động xin giới thiệu một phần bài viết của PGS-TS Trần Kim Chung (ảnh) – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế T.Ư, Bộ KHĐT. Bài viết hướng tới phân tích khả năng kiểm soát, giảm nợ công của Việt Nam trong bối cảnh mới và đề xuất một số giải pháp thực hiện.

    Nợ công Việt Nam đang có xu hướng tăng và cao hơn các quốc gia trong khu vực

    Tỉ lệ nợ công/GDP của Việt Nam đang có xu hướng tăng và cao hơn các quốc gia trong khu vực. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), từ năm 2011 đến nay, trong khi tỉ lệ nợ công/GDP của các quốc gia trong khu vực có xu hướng ổn định hoặc giảm xuống, tỉ lệ nợ công/GDP của Việt Nam có xu hướng tăng liên tục. Từ năm 2014, tỉ lệ nợ công/GDP của Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực như: Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines…

    Bên cạnh những thành công như nợ công được kiểm soát trong giới hạn cho phép, từng bước cơ cấu lại nợ công hợp lý và phù hợp hơn với thông lệ tốt của quốc tế; hệ thống thể chế, chính sách về quản lý và kiểm soát nợ công từng bước được hoàn thiện… thì việc điều chỉnh và cắt giảm chi tiêu công dù đã cải thiện nhưng chưa hiệu quả, bộ máy công quyền hiện vẫn cồng kềnh và tốn kém.

    Các chỉ tiêu nợ công đã tiệm cận và có khả năng vượt giới hạn cho phép. Nợ Chính phủ/GDP đã vượt mục tiêu 50% do Quốc hội đề ra. Mặc dù chỉ tiêu nợ công/GDP thấp hơn 65% nhưng liên tục tăng trong giai đoạn 2011-2015, bình quân khoảng 2 điểm phần trăm/năm. Nợ công Việt Nam sẽ đạt trần và có thể vượt trần nếu không có những biện pháp quản lý chặt chẽ, quyết liệt, đặc biệt là đối với chi tiêu công.

    Khả năng kiểm soát, giảm nợ công và kiến nghị giải pháp cho vấn đề nợ công

    Chi tiêu công của Việt Nam nằm trong nhóm các nước cao nhất của khu vực. Theo IMF, chi tiêu công của Việt Nam chỉ thấp hơn Trung Quốc và cao hơn đáng kể so với các quốc gia ASEAN. Đặc biệt, năm 2013, chi tiêu công của Việt Nam cao nhất trong các quốc gia so sánh, vượt 30% GDP. Từ năm 2014, dự báo chi tiêu công của Việt Nam có xu hướng giảm dần, nhưng đến năm 2022 vẫn chiếm trên 25% GDP và cao hơn các nước ASEAN.

    Theo Phạm Thế Anh, đa phần các nhà kinh tế đều cho rằng, quy mô chi tiêu công tối ưu đối với các nền kinh tế đang phát triển nằm trong khoảng 15-20% GDP. Các chỉ tiêu nợ công đã tiệm cận và có khả năng vượt giới hạn cho phép. IMF dự báo, trong giai đoạn 2014-2020, nợ công/GDP của Việt Nam liên tục tăng, Việt Nam vượt Malaysia, trở thành nước có tỉ lệ nợ công/GDP cao nhất trong ASEAN từ năm 2014.

    Trong khó khăn ấy, Việt Nam vẫn có được một số cơ hội: Thứ nhất, Việt Nam tiếp tục tăng cường hội nhập, giúp các nguồn vốn tiếp tục “chảy” vào trong nước, thúc đẩy nguồn vốn tư nhân, giảm sức ép đầu tư nhà nước, nên không nhất thiết phải vay đầu tư, nhất là đầu tư từ ngân sách;

    Thứ hai, Việt Nam đã “tốt nghiệp” ODA. Các nguồn ODA có thể khó khăn hơn, nhưng Việt Nam sẽ chủ động hơn, được quyết định nhiều hơn đối với nguồn vốn này. Hệ quả là, tính hiệu quả sẽ cao hơn và khả năng trả nợ sẽ tốt hơn;

    Thứ ba, các hình thức kêu gọi tư nhân tham gia đầu tư cơ sở hạ tầng (PPP) đem đến nhiều nguồn vốn cho đầu tư cơ sở hạ tầng. Do đó, sức ép đầu tư cơ sở hạ tầng đối với nguồn vốn đầu tư công được giảm tải;

    Thứ tư, trong các giai đoạn trước, đặc biệt là giai đoạn 2011-2015, tính thanh khoản nợ công của Việt Nam được đánh giá khá tốt khi có trên 80% các khoản nợ nước ngoài là dài hạn với lãi suất thấp. Việc tiếp cận các nguồn vốn dài hạn, lãi suất thấp cũng như tiên liệu được các nguồn trả đã và đang phát huy tác động đến nợ công;

    Thứ năm, khả năng Việt Nam rơi vào khủng hoảng nợ công là không cao. Mức nợ công luôn được báo cáo dưới ngưỡng an toàn, các điều chỉnh về pháp luật tương đối hợp lý và phù hợp với hoàn cảnh cũng như điều kiện hiện tại.

    Làm gì trong những năm tới?

    Với thách thức hiện nay là khả năng nợ công vượt ngưỡng 65% vẫn có thể xảy ra. Triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây chưa bền vững, tình hình kinh tế, chính trị tại khu vực và thế giới còn nhiều bất ổn, cùng với năng lực cạnh tranh hạn chế của nền kinh tế Việt Nam dẫn đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam không như kỳ vọng trong những năm tới, kéo theo kế hoạch trung hạn về vay và trả nợ công bị phá vỡ, tỉ lệ nợ công/GDP tăng.

    Đồng thời vẫn còn hàng loạt những rủi ro về cấu trúc nợ công; rủi ro trong chi tiêu công; rủi ro trả nợ công; rủi ro tỉ giá và lãi suất… thì vấn đề nợ công cần có những giải pháp sau:

    Thứ hai, tổng kết, sửa đổi, bổ sung Chiến lược quản lý nợ công, đặc biệt là giai đoạn 2022-2020 theo hướng phù hợp với thực tế nợ công hiện nay. Việc tiếp tục duy trì nợ công trong hạn mức cần được theo dõi, đánh giá, tổng kết và những cảnh báo. Vì vậy, việc cập nhật Chiến lược quản lý nợ để có những chỉ báo định hướng là rất cần thiết trong thời điểm đầu giai đoạn hiện nay.

    Thứ ba, kiểm soát việc tăng vốn vay: Chỉ chi tiêu nếu đã có nguồn thực; gắn trách nhiệm vay – trả nợ trực tiếp với người ra quyết định đầu tư và tiêu dùng; không phát sinh nợ vay nếu không có phương án trả nợ khả thi; không vay cho tiêu dùng.

    Thứ tư, tăng cường trả nợ, cơ cấu lại vốn vay, không để tình trạng quá hạn trả nợ: Tăng cường kiểm soát các khoản vay về cho vay lại; hạn chế tối đa các khoản vay từ nước ngoài, thay bằng vay trong nước; tập trung các nguồn để trả nợ, nhất là nợ nước ngoài đến hạn; kiểm soát việc bảo lãnh tín dụng cho DNNN; tập trung trả nợ đọng xây dựng cơ bản.

    Thứ năm, giảm chi hiệu quả: Giảm chi thường xuyên thông qua việc cơ cấu lại bộ máy, tinh giản biên chế, giảm chi các hoạt động khánh tiết; giảm thiểu khởi công các công trình đầu tư có tính chất tiêu dùng; giảm chi bù lỗ DNNN; nâng cao hiệu quả đầu tư công để giảm tổng mức đầu tư, nâng cao đóng góp của đầu tư công vào tăng trưởng kinh tế, góp phần giảm bội chi.

    Thứ sáu, tăng thu ngân sách bền vững: Rà soát, xem xét, đánh giá, đổi mới hệ thống thu ngân sách hiện hành; cải thiện môi trường kinh doanh, đăng ký kinh doanh nhằm chính thức hóa khu vực kinh tế phi chính thức do khu vực này có quy mô kinh tế lớn, trong khi chỉ chịu mức thuế thấp; tăng thu từ đất đai thông qua tăng thu từ thuế đất và nhà ở; tăng cường hiệu năng của bộ máy thu thuế, thu ngân sách, tránh, giảm thất thoát.

    Thứ bảy, đa dạng hóa nguồn nợ nước ngoài: Không quy nợ nước ngoài về một đồng ngoại tệ; theo sát diễn biến thị trường ngoại hối để có phản ứng thích hợp đối với nợ nước ngoài; từng bước thay thế nợ nước ngoài bằng nợ trong nước.

    Trong giai đoạn 2022-2020, Việt Nam luôn đối mặt với tình trạng có khả năng mất kiểm soát nợ công và không cắt giảm được nợ công bền vững, chủ yếu xuất phát từ những thách thức mang tính hệ thống trong việc cấu trúc nợ công, chi tiêu công, trả nợ công. Một số giải pháp được kiến nghị cho giai đoạn 2022-2020, bao gồm các giải pháp về hoàn thiện thể chế, kiểm soát một số nguồn nợ công có rủi ro cao và đảm bảo khả năng trả nợ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nỗ Lực Giảm Nhẹ Phát Thải Khí Nhà Kính
  • Các Giải Pháp Giảm Nhẹ Phát Thải Khí Nhà Kính Ngành Xây Dựng
  • Yên Sơn Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Giảm Nghèo Đa Chiều
  • Đông Triều: Nhiều Giải Pháp Giảm Nghèo Đa Chiều
  • Giảm Nghèo Đa Chiều Bền Vững: Thực Tiễn Và Định Hướng, Giải Pháp Cho Các Tỉnh Tây Bắc
  • Nguyên Nhân, Giải Pháp Khắc Phục

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Các Giải Pháp Hạn Chế Tình Trạng Ly Hôn
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Giảm Thiểu Tình Trạng Ly Hôn Trên Địa Bàn Tỉnh
  • Ttyt Huyện Ứng Hòa: Giải Pháp Nào Để Giảm Tỷ Lệ Sinh Con Thứ 3
  • Giải Pháp Quan Trọng Trong Giảm Tỷ Lệ Suy Dinh Dưỡng
  • Các Giải Pháp Làm Mát Nhà Xưởng — Sơn Đinh Ngân
  • Ly hôn là hiện tượng xã hội bất bình thường nhưng cần thiết để đảm bảo quyền tự do trong hôn nhân và nó như là biện pháp để củng cố hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Tuy nhiên việc ly hôn có thể làm ảnh hưởng tới cuộc sống của những người xung quanh, đặc biệt là ảnh hưởng đến tâm sinh lý của những đứa trẻ. 

     

    Trong những năm gần đây tình trạng ly hôn ngày một gia tăng. Bài viết này tác giả đề cập đến tình trạng ly hôn tại địa phương và  xác định nguyên nhân, đề xuất giải pháp khắc phục.

    Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng khi cả hai người đang còn sống, do cả hai bên vợ chồng thuận tình và được Tòa án công nhận bằng quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc chỉ do một bên yêu cầu, được Tòa án đưa ra xét xử và phán quyết bằng một bản án cho ly hôn. Ly hôn là hiện tượng xã hội bất bình thường nhưng cần thiết để đảm bảo quyền tự do trong hôn nhân và nó như là biện pháp để củng cố hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.

    Tuy nhiên trong những năm gần đây tình trạng ly hôn ngày một gia tăng, năm sau cao hơn năm trước, trong đó phần lớn là giới trẻ. Họ thường ly hôn trong vòng 5 năm đầu chung sống. Theo số liệu thống kê, trên địa bàn thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh năm 2022 thụ lý 330 vụ án ly hôn; năm 2022 con số này là 398 vụ, tăng 68 vụ = 20,6% so với cùng kỳ năm 2022.

    Phân tích về độ tuổi trong các vụ ly hôn thì thấy: Trong số án “Ly hôn”  năm 2022, có hơn 40% các cặp vợ chồng ở dưới độ tuổi 30 (trong đó số các cặp vợ chồng từ 22 tuổi trở xuống chiếm khoảng 3%); khoảng 36% ở độ tuổi 30 – 40, phần lớn trong số đó (chiếm tới khoảng 90%) là có con nhỏ – đây là đối tượng dễ bị tổn thương và thiệt thòi nhất khi bố và mẹ ly hôn; các cặp vợ chồng ly hôn trong độ tuổi từ 40-50 chiếm khoảng 15%; còn lại là các cặp vợ chồng có độ tuổi khá lớn (trên 50 tuổi) chiếm khoảng 9%, họ đều có con đã thành niên, thậm chí là được lên chức ông, bà.

    Có thể nói, ly hôn là sự lựa chọn của hai người cả vợ và chồng hoặc đơn phương từ một phía chồng hoặc vợ nhưng hệ lụy kèm với nó là cả một vấn đề, Việc ly hôn có thể làm ảnh hưởng tới cuộc sống của những người xung quanh; đặc biệt là ảnh hưởng đến tâm sinh lý của những đứa trẻ; để lại gánh nặng cho xã hội nếu như con cái của họ bị bỏ rơi, không được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục chu đáo; chúng sẽ thiếu đi sự chăm sóc, tình cảm của người cha hoặc người mẹ, thậm chí cả hai. Từ đó sẽ ảnh hưởng tới quá trình phát triển nhân cách của những đứa trẻ, làm chúng dễ sa ngã vào những tệ nạn xã hội… Đây cũng là một trong những lý do vì sao mà trong những năm gần đây tình trạng tội phạm tuổi vị thành niên có xu hướng gia tăng.

    Vậy, nguyên nhân từ đâu mà tình trạng hôn nhân trong giới trẻ ngày càng gia tăng như vậy?

    Qua nghiên cứu trực tiếp các hồ sơ án ly hôn thì thấy: Nguyên nhân phần lớn và sâu xa dẫn tới tình trạng ly hôn ngày càng gia tăng, đặc biệt với các cặp vợ chồng trẻ là do họ thiếu kỹ năng sống. Họ bước vào cuộc sống hôn nhân khi tuổi đời còn quá trẻ, chưa có sự chuẩn bị về tâm lý, kinh tế, sức khỏe và những hiểu biết cần thiết cho cuộc sống gia đình, quá đề cao cái tôi của bản thân, ít quan tâm đến chồng hoặc vợ, khiến phần lớn các cặp vợ chồng trẻ nảy sinh mâu thuẫn ngay từ những tháng đầu, năm đầu của cuộc hôn nhân. Trong khi đó nhận thức về cuộc sống gia đình, ý nghĩa của hôn nhân và tình yêu còn hời hợt đã khiến họ không đủ bản lĩnh và kỹ năng giải quyết, vượt qua các mâu thuẫn, dẫn đến ly hôn. Chiếm một phần trong số các cặp ly hôn là do họ kết hôn ngoài ý muốn khi những hiểu biết về kiến thức giới tính có phần hạn chế.

    Nguyên nhân thứ hai là do kinh tế khó khăn, nghề nghiệp không ổn định, thu nhập bấp bênh, sinh con sớm khiến vợ chồng thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, không tập trung đồng thuận để xây dựng kinh tế gia đình, nuôi dạy con cái. Hầu hết trong các Quyết định công nhận thuận tình ly hôn đều thể hiện các cặp vợ chồng đến xin ly hôn không có tài sản chung.

    Ngoài ra, còn những nguyên nhân khác như: do tư tưởng lạc hậu, người vợ không sinh được con trai nên người chồng ngoại tình hoặc ly hôn để lấy vợ mới với mục đích có con “nối dõi tông đường”; vấn đề về bạo lực gia đình, tệ nạn xã hội; vợ chồng bất hòa, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do nhận thức về xã hội, pháp luật chưa đầy đủ, thậm chí nhiều trường hợp người chồng nghiện ngập ma túy, cờ bạc, rượu chè … dẫn đến người vợ không chịu được phải ly hôn. Nhiều vụ án được Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí đưa ra xét xử là do người chồng đang trong thời gian thụ lý án vì có hành vi vi phạm pháp luật. Có những vụ ly hôn, người vợ là nguyên đơn nhưng phải viết đơn đề nghị Tòa bảo vệ mình khi tham dự phiên tòa vì thường xuyên bị người chồng đe dọa, đánh đập do thường xuyên dùng ma tuý “đá” (một loại ma túy tổng hợp); vấn đề bạo lực gia đình xảy ra cũng xuất phát phần lớn từ người chồng dùng ma túy tổng hợp bị ảo giác, về đánh dọa vợ con.

    Để hạn chế thấp nhất tình trạng ly hôn xảy ra đối với giới trẻ trên cả nước nói chung, tỉnh Quảng Ninh và TP Uông Bí nói riêng, chúng tôi đề xuất một số giải pháp sau:

    Hai là: Nâng cao chất lượng giáo dục trong gia đình cũng như Nhà trường và xã hội đối với giới trẻ, trong đó đặc biệt chú trọng việc giáo dục đạo đức, lối sống, nhân cách để họ nâng cao nhận thức, hiểu biết về Luật Hôn nhân và Gia đình; Tập huấn các kỹ năng theo từng giới (nam, nữ riêng), cùng với đó giúp họ chuẩn bị tốt về mọi mặt trước khi bước vào cuộc sống vợ chồng, nhất là các kỹ năng sống, cách ứng xử, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, khả năng kìm chế cái tôi của bản thân để tránh được việc để xảy ra ly hôn ngay từ những năm đầu chung sống.

    Ba là: Đẩy mạnh vai trò của Hội liên hiệp phụ nữ để làm tốt công tác hòa giải ngay từ cơ sở, giải quyết những mâu thuẫn ngay khi mới phát sinh, từ đó hạn chế việc gửi đơn ra Tòa để xin ly hôn.

    Bốn là: Cần đưa chỉ tiêu nâng cao việc hòa giải thành trong việc giải quyết án ly hôn của ngành Tòa án, để góp phần kìm chế tình trạng ly hôn gia tăng.

    Năm là: Tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật Hôn nhân và gia đình hiện hành thông qua hệ thống truyền thanh tại tổ dân, khu phố để nâng cao nhận thức về pháp luật cho người dân hướng tới mục tiêu xây dựng gia đình Việt Nam bền vững…

                                                                     Nguyễn Mai Thúy

                                                                VKSND TP Uông Bí, tỉnh QN

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • 100+ Giải Pháp Âm Thanh Cho Nhà Xưởng
  • Báo Giá Hệ Thống Loa Truyền Thanh Không Dây Fm, Nội Bộ Chi Tiết
  • Thực Hiện Quyết Liệt Các Giải Pháp Kiềm Chế Và Kéo Giảm Tội Phạm Đến Mức Thấp Nhất
  • Nhiều Giải Pháp Để Kéo Giảm Tội Phạm Vùng Giáp Ranh
  • Đẩy Mạnh Giải Pháp Kéo Giảm Tai Nạn Giao Thông
  • Giải Pháp Giảm Nợ Công Nhật Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nào Giảm Áp Lực Nợ Công?
  • Giải Pháp Giảm Nhiệt Mùa Hè
  • 5 Giải Pháp Giảm Nhiệt Mùa Hè Cho Nhà Phố Hiệu Quả
  • Giải Pháp Giảm Nhiệt Mùa Hè Mới Đang Làm Người Tiêu Dùng Phát Sốt
  • Chọn Mua Quạt Mini Usb, Giải Pháp Giảm Nhiệt Mùa Hè Khi Mất Điện
  • Cập nhật lúc 22:50, Thứ hai, 14/11/2011

    Chính phủ Nhật xác nhận việc can thiệp vào thị trường tiền tệ.

    Ảnh: mubasher.info

    (ĐCSVN)

    Mặc dù nguy cơ vỡ nợ của Nhật Bản thấp hơn nhiều so với các nước khu vực đồng Euro do bởi 95% trái phiếu chính phủ nằm trong tay các nhà đầu tư trong nước, tuy nhiên, áp lực từ cộng đồng quốc tế buộc Chính phủ Nhật Bản phải tìm những giải pháp hiệu quả để giảm nợ công. Những khó khăn cho giải pháp giảm nợ công Nhật Bản

    Thứ nhất, tỉ lệ tiết kiệm giảm sút. Thế mạnh của Nhật Bản là tiết kiệm nội địa vẫn còn đủ sức bù đắp cho những chi tiêu hoang phí. Tuy nhiên, tình trạng lão hóa dân số (hiện Nhật Bản có 36.000 người trên 100 tuổi) đang đe dọa đảo ngược xu hướng tiết kiệm. Lượng tiền tiết kiệm nội địa – nguồn vốn để mua trái phiếu chính phủ Nhật – chắc chắn sẽ giảm dần cùng với sự gia tăng của số người nghỉ hưu và sự giảm sút của số người làm việc. Số người ở độ tuổi về hưu đang tăng khiến họ phải rút tiền tiết kiệm để chi tiêu vào lúc tuổi già. Tình hình tài chính Nhật Bản sẽ bị hạn hẹp đáng kể.

    So với thời kỳ hoàng kim những năm 1980, tỷ lệ tiết kiệm ở Nhật Bản lên tới mức 20% thì hiện nay con số này đã tụt xuống còn có 5% và theo nhà kinh tế Kyle Bass thuộc Cơ quan quản lý vốn Hayman (Hayman Capital Management), tỷ lệ tiết kiệm của Nhật Bản sẽ tụt xuống mức dưới 0% trong những năm tới.

    Thứ hai, lãi suất công trái dài hạn thấp. Mô hình tăng trưởng dựa vào các khoản tín dụng trong nước của Nhật Bản cho thấy những hạn chế của nó. Hiện lãi suất của công trái dài hạn của Nhật Bản chỉ ở mức 1,3% – không một quốc gia công nghiệp phát triển nào trả lãi suất ở mức thấp như vậy. Vì thế các nhà đầu tư nước ngoài không muốn cho Nhật Bản vay tiền với lãi suất thấp.

    Những yếu tố trên đã khiến cho các nhà phân tích tài chính cho rằng Nhật Bản sẽ là một “bản sao” của Hy Lạp, nhưng với hậu quả tiêu cực gấp bội. Khi lãi suất cho vay trên thế giới được đẩy lên do giá nguyên vật liệu leo cao, Nhật Bản có nguy cơ rơi vào “một cuộc khủng hoảng lòng tin”. Trong số các nước công nghiệp phát triển, Nhật Bản là nước dễ bị tổn thương nhất.

    Giải pháp giảm nợ công Nhật Bản

    Thứ nhất, công cụ chính được coi là có hiệu quả để giải quyết vấn đề nợ công của Nhật Bản là tăng thuế. Khoảng 70% dân số Nhật Bản chấp nhận mức tăng thuế cao hơn để khôi phục kinh tế quốc gia. Mức thuế sẽ bắt đầu tăng từ năm 2012. Hiện mức thuế doanh thu Nhật Bản là 5% – mức thấp nhất trong số các nước công nghiệp hoá (so với mức gần 20% của châu Âu). Tăng thuế sẽ giúp sửa chữa thiếu sót hiện tại của Nhật Bản bởi doanh thu thuế của Nhật Bản hiện chỉ đạt 17% GDP – mức thấp nhất trong các thành viên thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế. Trong bối cảnh khủng hoảng nợ leo thang, dân số ngày càng già hóa và chi phí an sinh xã hội tăng cao, việc tăng thuế tiêu dùng sẽ cho phép Nhật Bản có cơ hội giữ được tốc độ tăng trưởng và cắt giảm được mức thâm hụt ngân sách. Cụ thể, tăng thuế tiêu dùng lên 10% trong giai đoạn 2012 -2016 để bảo đảm kinh phí cho các hoạt động phúc lợi khi dân số Nhật Bản đang nhanh chóng lão hoá. Mức thuế sẽ tiếp tục được tăng thêm 15%. Nhật Bản cần ít nhất 23.000 tỷ yên (khoảng 288 tỷ USD) để tái thiết đất nước sau khủng hoảng kép động đất và sóng thần. Theo các nhà kinh tế, cứ tăng 1% thuế tiêu dùng sẽ tăng được 250 tỉ yên tiền thuế thu được. Thảm họa kép sóng thần và động đất đã gây thiệt hại cho Nhật Bản khoảng 2500 tỷ yên, bởi vậy mức thuế tiêu dùng tăng thêm 3% (từ 5% lên 8%) sẽ tăng thu 2250 tỉ yên. Bên cạnh việc tăng thuế, Nhật Bản chỉ thị cắt giảm thêm 10% chi tiêu chính sách trong tài khóa năm 2012 giúp chính phủ Nhật Bản có thêm 1.200 tỉ yên nhằm bảo đảm tài chính để trang trải các chi phí phúc lợi. Động thái này sẽ tạo ra những điều chỉnh cần thiết để giúp giảm bớt nợ công.

    Từ năm 2012, Chính phủ Nhật Bản sẽ tăng các loại thuế cơ bản như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp… Tuy nhiên, việc tăng thuế doanh thu sẽ dẫn đến một loạt hệ lụy kèm theo khi chính phủ Nhật Bản đã nhiều lần hứa rằng sẽ không tăng thuế cho đến năm 2013. Những người phản đối chính sách tăng thuế lo ngại rằng tăng thuế có thể ảnh hưởng mạnh tới chi tiêu tiêu dùng và khiến kinh tế Nhật Bản lâm vào suy thoái. Họ muốn cắt giảm trợ cấp và giảm lương công chức thay vì tăng thuế. Theo họ, tăng thuế giữa bối cảnh suy thoái sẽ chỉ giáng thêm đòn cho nền kinh tế Nhật Bản trong ngắn hạn và Nhật Bản sẽ không thể hồi phục nếu chỉ dựa vào cải cách thuế. Kinh nghiệm thực tế đã chỉ ra rằng, năm 1997, Nhật Bản đã phải lãnh hậu quả sau khi thực hiện chính sách tăng thuế làm cho tiêu dùng sụt giảm mạnh. Tăng thuế được coi là nguyên nhân đẩy nền kinh tế nước này vào suy thoái và giảm phát sau đó.

    Tuy nhiên, theo nhà kinh tế Nhật Bản – Ông Nishibori – việc tăng thuế sẽ không ảnh hưởng gì đến hồi phục kinh tế và Nhật Bản nên tăng thuế để bù đắp vào khoản thâm hụt ngân sách. Tăng thuế là phương sách duy nhất thỏa mãn hai yêu cầu giảm nợ công và chống giảm phát trong thời điểm hiện nay. Tuy nhiên, mức tăng nên chia đều ra trong 10 năm với mức tăng là 1% mỗi năm. Với phương pháp này, sẽ không chỉ tránh được cho người tiêu dùng một cú sốc đột ngột mà còn đảo ngược lại tình trạng giảm phát nhờ tạo ra tâm lý đoán trước lạm phát. Theo ông, phương pháp này không chỉ giảm nhẹ ảnh hưởng đối với người tiêu dùng mà còn hạn chế giảm phát bằng cách tạo ra lạm phát kỳ vọng. Về nguyên tắc, người tiêu dùng sẽ cắt giảm chi tiêu nếu như thuế đột nhiên tăng đến 10%. Nhưng khi nó tăng từ từ và được dự báo sẽ tiếp tục tăng thì người dân vẫn chi tiêu như bình thường.

    Thứ hai, nâng cao năng suất, hiệu quả đầu tư công và cắt giảm chi tiêu công. Việc cắt giảm đầu tư cần được thực hiện song song với việc phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn nhằm tăng cường năng suất và hiệu quả. Chi phí bảo trì các công trình dự án đầu tư hạ tầng hiện đại của Nhật Bản được dự báo là sẽ cao hơn tổng ngân sách đầu tư mới trong năm 2011 và sẽ chiếm toàn bộ kinh phí dành cho cả đầu tư và bảo trì trong năm 2012. Việc nâng cao năng suất và hiệu quả đầu tư công vì vậy có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng và đòi hỏi cần kiên quyết cắt giảm các hạ tầng ít có giá trị sử dụng căn cứ vào các phân tích về chi phí và lợi nhuận và xét trong bối cảnh dân số Nhật Bản đang có xu hướng giảm dần. Bên cạnh đó, Nhật Bản có thể cắt giảm đáng kể chi tiêu công bằng việc giảm lương của khu vực công chức, vốn dĩ đã cao hơn nhiều so với khu vực tư nhân trong hơn thập kỷ qua. Các nỗ lực trong việc cắt giảm lương của khu vực công cũng cần hướng vào các đối tượng có thể cắt giảm nhiều như chính quyền địa phương, các doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức hiệp hội trực thuộc Chính phủ (là những khu vực chiếm tới 90% tổng nhân lực trong khu vực công). Tuy nhiên, mức độ cắt giảm chi tiêu cũng chỉ có tác dụng giới hạn do quy mô của khu vực công của Nhật Bản chiếm một tỷ trọng không cao trong nền kinh tế như là so với các nước khác.

    Thứ ba, tăng nguồn thu ngân sách thông qua cải cách cơ bản hệ thống thuế. Trong khi cơ hội để cắt giảm thâm hụt từ chính sách cắt giảm chi tiêu công gặp nhiều hạn chế thì Chính phủ Nhật Bản cũng hướng vào các biện pháp nhằm làm tăng nguồn thu. Định hướng ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Nhật Bản trong cải thiện cơ cấu thu ngân sách là việc thay đổi một cách cơ bản hệ thống thuế. Những cải cách này được kỳ vọng là sẽ giúp Chính phủ có một nguồn thu ổn định hơn trong khi đó lại góp phần giảm bớt các ảnh hưởng tiêu cực từ tăng trưởng kinh tế như thu nhập bất bình đẳng và cải thiện hệ thống thuế địa phương. Cải cách cơ bản trong hệ thống đổi mới thuế bao gồm: Một là, tăng thuế tiêu dùng nhằm góp phần tăng thu cho Chính phủ; Hai là, mở rộng diện các doanh nghiệp phải chịu thuế với mục tiêu giảm các loại doanh nghiệp được miễn giảm thuế. Mở rộng diện chịu thuế thu nhập cá nhân được coi là một biện pháp nhằm làm tăng nhu nhập quốc dân, mặc dù biện pháp này phần nhiều mang ý nghĩa chính trị chứ không có nhiều ý nghĩa về mặt kinh tế.

    Thứ tư, ổn định tài chính. Mục tiêu bình ổn tài chính được Chính phủ Nhật Bản đưa ra vào tháng 6/2009 nhằm ổn định tỷ trọng tăng trưởng nợ. Chiến lược “ổn định tài chính” sẽ được trợ giúp với cơ chế chia sẻ thâm hụt ngân sách giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương từ năm 2013. Kế hoạch đặt ra là cắt giảm một nửa thâm hụt ngân sách vào năm 2022 và đạt được mức thặng dư ngân sách từ năm 2022. Về dài hạn, cán cân ngân sách của cả chính quyền trung ương và địa phương của Nhật Bản sẽ trở lại trạng thái thặng dư vào năm tài khóa 2022.

    Tóm lại, tăng thuế tiêu dùng được xem là giải pháp duy nhất vừa thỏa mãn được hai yêu cầu giảm nợ công và chống giảm phát – nguyên nhân dẫn đến 2 thập kỷ trì trệ kinh tế của Nhật Bản./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thủ Tướng Chính Phủ: Nợ Công Sẽ Không Vượt Quá 65%/gdp
  • 6 Giải Pháp Quản Lý Nợ Công Trong Bối Cảnh Mới
  • Nợ Công Tại Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • 7 Giải Pháp Giảm Nợ Công
  • Nỗ Lực Giảm Nhẹ Phát Thải Khí Nhà Kính
  • 5 Giải Pháp Kiềm Chế Nợ Công

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Khai Nợ Công Và Giải Pháp Trong Xử Lý Nợ Công
  • Đề Xuất Các Giải Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Nguồn Nước Sông Cầu
  • Ô Nhiễm Tiếng Ồn Và Giải Pháp Khắc Phục Đến Từ Dragon Rockwool
  • Giải Pháp Nào Cho Ô Nhiễm Tiếng Ồn Tại Các Thành Phố Lớn?
  • Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Tiếng Ồn Và Các Biện Pháp Khắc Phục
  • (ĐTTCO) – Trong cơ cấu nợ Chính phủ, tỷ trọng nợ trong nước đang có xu hướng tăng từ 39% năm 2011 lên 57% năm 2022 và tỷ trọng nợ nước ngoài giảm tương ứng từ 61% năm 2011 xuống còn 43% năm 2022.

    Trả lời phỏng vấn, ông Võ Hữu Hiển, Phó Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại cho biết nợ công trong thời gian gần đây được Đảng, Nhà nước và nhân dân hết sức quan tâm, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng nợ công của một số nước châu Âu hiện nay.

    Ở Việt Nam, cơ cấu nợ công đến cuối năm 2022 bao gồm nợ Chính phủ chiếm 80,8%, nợ được Chính phủ bảo lãnh chiếm 17,8% và nợ chính quyền địa phương chiếm 1,4%.

    Trong cơ cấu nợ Chính phủ, tỷ trọng nợ trong nước đang có xu hướng tăng từ 39% năm 2011 lên 57% năm 2022 và tỷ trọng nợ nước ngoài giảm tương ứng từ 61% năm 2011 xuống còn 43% năm 2022, như vậy là phù hợp với Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011-2020 tầm nhìn đến 2030.

    Về kỳ hạn, với nợ trong nước, chủ yếu phát hành trái phiếu trong nước, nếu trong giai đoạn 2011-2013 phần lớn là kỳ hạn ngắn thì đến năm 2014 là 3 năm; năm 2022 kéo dài lên 4,4 năm và 6 tháng đầu năm 2022 thì kéo dài lên 5 năm. Mức lãi suất phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn trong nước bình quân giảm từ mức 12%/năm vào năm 2011 xuống còn khoảng 6,5% vào năm 2014 và khoảng 6% vào năm 2022.

    Đối với nợ nước ngoài, vay ODA, vay ưu đãi vẫn chiếm tỷ trọng cao (trên 94%) với kỳ hạn còn lại bình quân trên 10 năm, lãi suất bình quân tính đến cuối năm 2022 khoảng 2%/năm.

    Bộ Tài chính đã phân tích về bền vững nợ công với Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và có nhận định rằng: Cơ cấu nợ công của Việt Nam hiện đang từng bước được điều chỉnh theo hướng bền vững hơn.

    Lý giải về tốc độ tăng nợ công giai đoạn 2011-2015 tăng 12,2% GDP so với mức tăng 9% GDP của giai đoạn 2006-2010, ông Võ Hữu Hiển cho rằng nguyên nhân trước tiên là áp lực huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội.

    Trong giai đoạn 2001-2005, đầu tư toàn xã hội bình quân là 39% GDP. Sang giai đoạn 2006-2010, tỷ lệ này đạt 42,9%GDP. Trong 5 năm 2011-2015, mặc dù mức vốn đầu tư toàn xã hội giảm nhưng vẫn duy trì khoảng 32% GDP. Đầu tư ở mức tương đối cao trong khi tỷ lệ tiết kiệm của nền kinh tế cho đầu tư chỉ khoảng 25% GDP dẫn đến sự thiếu hụt về nguồn vốn cho đầu tư, đồng nghĩa với việc phải đi vay. Việt Nam là một nước đang trong giai đoạn phát triển, cũng như rất nhiều các nước phát triển khác, buộc phải tăng vay nợ cho đầu tư, đặc biệt là các công trình kết cấu hạ tầng đồng bộ… từ đó khiến quy mô nợ công tăng lên.

    “Xét trên khía cạnh khác, đó là bối cảnh kinh tế giai đoạn 2011-2015 không thuận lợi, đặc biệt là việc điều chỉnh giảm mục tiêu tăng trưởng kinh tế cả giai đoạn từ mức bình quân 7-7,5%/năm xuống 6,5-7,0%/năm cũng là một nguyên nhân quan trọng. Tăng trưởng thì giảm trong khi nhu cầu vay và các chỉ tiêu khác vẫn được giữ nguyên do phải tăng cường nguồn lực để thúc đẩy, duy trì, ổn định phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Hệ quả tất yếu là tỷ lệ nợ công so với GDP tăng lên”, ông Hiển phân tích.

    Ngoài ra, việc mất giá của đồng Việt Nam biến động khó lường của các đồng tiền vay khác như USD, JPY, CNY cũng làm quy mô nợ của Chính phủ tăng khi quy đổi sang đồng Việt Nam.

    Để giảm áp lực nợ công, đảm bảo an toàn, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 02/CT-TTg về tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công. Bộ Tài chính cũng đã nghiên cứu và trình Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII về Kế hoạch vay trả nợ công 2022-2020 tại kỳ họp tháng 3/2016 với nhiều giải pháp theo lộ trình cụ thể.

    Thứ hai, việc thực hiện các chương trình, dự án sử dụng nợ công phải tuân thủ đúng dự toán được giao; tránh hiện tượng điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư, đặc biệt là tăng từ nguồn vốn vay do triển khai chậm trễ, không đúng tiến độ dẫn đến khối lượng tăng lên. Chú trọng nâng cao hiệu quả sự dụng đầu tư công, sử dụng nợ công.

    Thứ ba, kiên quyết cắt giảm bội chi ngân sách Nhà nước theo lộ trình đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội Đảng XII và Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm giai đoạn 2022-2020 về bội chi ngân sách đến năm 2022 về dưới 4% GDP; tiếp tục giảm bảo lãnh Chính phủ, ưu tiên bố trí nguồn ngân sách Nhà nước để trả nợ.

    Thứ tư, thực hiện đồng bộ các giải pháp thúc đẩy phát triển thị trường vốn trong nước nhằm tăng nguồn vay trung và dài hạn cho đầu tư phát triển.

    Thứ năm, hằng năm, cập nhật diễn biến kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế, sự thay đổi thị trường trong và ngoài nước… để chủ động xây dựng phương án điều chỉnh tổng mức vay và hạn mức nợ tương ứng để đảm bảo an toàn nợ công và an ninh tài chính quốc gia.

    (Chinhphu.vn)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Nợ Công Của Việt Nam
  • Luận Văn Đề Tài Phân Tích Vấn Đề Nghèo Đói Ở Việt Nam Và Đề Xuất Các Giải Pháp Giúp Xóa Đói Giảm Nghèo
  • Đề Xuất Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững
  • Luận Văn Đề Tài Một Số Biện Pháp Nhằm Xóa Đói Giảm Nghèo Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Tiểu Luận Xóa Đói Giảm Nghèo Ở Việt Nam Thực Trạng Và Những Vấn Đề Đặt
  • Các Giải Pháp Khắc Phục Lạm Phát

    --- Bài mới hơn ---

  • Dự Báo Lạm Phát Và Giải Pháp Quản Lý, Điều Hành Giá Năm 2022
  • Lạm Phát Là Gì? Các Nguyên Nhân Gây Ra Lạm Phát
  • Luận Văn Chuyên Đề Ảnh Hưởng Của Lạm Phát Đến Thị Trường Chứng Khoán Và Các Giải Pháp Khắc Phục
  • Thực Trạng Lạm Phát Và Các Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát Ở Việt Nam Thời Gian Vừa Qua
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Của Chính Phủ Về Vấn Đề Thất Nghiệp Ở Việt Nam
  • Những biện pháp này được áp dụng với mục tiêu giạm tức thời “cơn sốt lạm phát ” trên cơ sở đó sẽ áp dụng các biện pháp ổn định tiền tệ lâu dài . Các biện pháp này thường được áp dụng khi nền kinh tế lâm vào tình trạng siêu lạm phát .

    Thứ nhất :các biện pháp tình thế thường được chính phủ các nước áp dụng , trước hết là giảm lượng tiền giấy trong nền kinh tế như ngừng phát hành tiền vào lưu thông . Biện pháp này còn gọi là chính sách đóng băng tiền tệ . Tỷ lệ lạm phát tăng cao ngay lập tức ngân hàng trung ương phải dừng các biện pháp có thể đưa đến tăng cung ứng tiền tệ như ngừng thực hiện các nghiệp vụ triết khấu và tái triết khấu đối với các tổ chức tín dụng , dừng việc mua vào các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ , không phát hành tiền bù đắp bội chi ngân sách. Nhà nước áp dụng các biện pháp làm giảm lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế như: ngân hàng trung ương bán ra các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ , bán ngoại tệ vàvay , phát hành các công cụ nợ của chính phủ để vay tiền trong nền kinh tế bù đắp cho bội chi ngân sách nhà nước , tăng lãi suất tiền gửi đặc biệt là tăng lãi suất tiền gửi tiét kiệm dân cư . các biện pháp này rất có hiệu lực vì trong một thời gian ngắn nó có thể giảm bớt được một khối lươngj khá lớn tiền nhàn rỗi trong dân cư do đó giảm được sức ép lên giá cả hàng hoá vầ dịch vụ trên thị trường . ở việt nam các biện pháp này đã dược áp dụng thành công vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 .

    Thứ hai :thi hành chính sách tài chính thắt chặt như tạm hoãn những khoản chi chưa cần thiết trong nền kinh tế , cân đối lại ngân sách và cắt giảm chi tiêu đến mức có thể được .

    Thứ ba : tăng quỹ hàng hoá tiêu dùng để cân đối với số lượng tiền có trong lưu thông bằng cách khuyến khichs tự do mậu dịch , giảm nhẹ thuế quan và các biện pháp cần thiết khác để thu hút hàng hoá từ ngoài vào.

    Thứ tư : đi vay và xin viện trợ từ nước ngoài .

    Thứ năm : cải cách tiền tệ , đây là biện pháp cuối cùng khi các biện pháp trên chưa đem lại hiệu quả mong muốn .

    II. Những biện pháp chiến lược

    Đây là những biện pháp có tác động lâu dài đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân . Tổng hợp các biện pháp này sẽ tạo ra sức mạnh kinh tế lâu dài cho đất nước

    Thứ nhất : thúc đẩy sự phát triển sản xuất hàng hoá và mở rộng lưu thông hàng hoá. Đây là biện pháp chiến lược hàng đầu để hạn chế lạm phát , duy trì sự ổn định tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân . Sản xuất trong nước càng phát triển thì càng tạo tiền đề vững chắc cho sự ổn định tiền tệ . Chú trọng thu hút ngoại tệ qua việc xuất khẩu hàng hoá , phát triển ngành du lịch …

    Thứ hai : kiện toàn bộ máy hành chính , cắt giảm biên chế quản lý hành chính . Thực hiện tốt biện pháp này sẽ góp phần to lớn vào việc giảm chi tiêu thường xuyên của ngân sách do đó giảm bội chi ngân sách nhà nước .

    Thứ ba : tăng cường công tác quản lý điều hành ngân sách nhà nước trên cơ sở tăng các khoản thu cho ngân sách một các hợp lý , chống thất thu , đặc biệt là thất thu về thuế , nâng cao hiệu quả của các khoản chi ngân sách nhà nước .

    III. Một số biện pháp chủ yếu để kiềm chế lạm phát ở nước ta hiện nay

    Tình hình kinh tế tài chính của nước ta trong những năm vừa qua đạt được sự ổn định và có chiều hướng tốt, nạn lạm phát đã được kiềm chế và đẩy lùi từ 67.5% năm 1991 xuống còn 17,5% năm 1992, 5,2% (1993), 14.2% (1994), trong khi đó vẫn đảm bảo mức tăng trưởng kinh tế 8,6% (!992), 8,1% (1993), 8,7% (1994). Tỷ giá VNĐ so với đôla Mỹ từ cuối năm 1991 là 14,194 VNĐ đã lên giá dần và giữ ở mức trên dưới 10.800 VNĐ/USD từ tháng 11.1992 cho đến nay. Đồng thời cán cân thanh toán được cải thiện rõ rệt. Mặt khác xuất nhập khẩu có xu hướng tăng lên.

    Để khắc phục và kiềm chế lạm phát trong giai đoạn hiện nay cần phải thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ như sau :

    – Trước hết phải khống chế tỷ lệ bội chi ngân sách ở dưới mức 5% GDP. Bởi và bội chi ngân sách là một nhân tố quan trọng gâỵ ra sự mất cân đối giữa cung và cầu.

    – Phải nâng cao sản lượng hàng hoá trên cơ sở đẩy mạnh phát triển sản xuất công, nông nghiệp, cụ thể là tạo ra nhiều lương thực, thực phẩm, một số hàng hoá là tư liệu sản xuất và các loại hàng hoá là nhiên liệu, năng lượng. Mặt khác cần tiếp tục đổi mới cơ cấu kinh tế và cải tiến công nghệ, cải tiến kỹ thuật đảm bảo từng bước giảm chi phí sản xuất.

    – Về lĩnh vực ngân hàng với trách nhiệm là một ngành đóng vai trò quan trọng nhất trong việc kiềm chế lạm phát, cần tiến hành các bước sau :

    + Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng trên cơ sở tích cực huy động vốn và cho vay hiệu quả các dự án

    + Kiểm soát chặt chẽ cung ứng tiền tệ của ngân hàng nhà nước cho mục tiêu ngoại tệ, ổn định thị trường ngoại tệ và tỷ giá đồng Việt Nam.

    + Nâng cao hiệu quả sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc.

    + Tăng cường hiệu lực của công tác thanh tra đối với ngân hàng thương mại.

    + Xử lý tôt mối quan hệ với ngân sách nhà nước, phát triển thị trường vốn, đồng thời xúc tiến nhanh việc thiết lập thị trường chứng khoán ở Việt Nam và sự hoà nhập của thị trường này vào cộng đồng kinh tế quốc tế, nhất là từ khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của khối ASEAN để thuhútnhanh chóng hơn nữa nguồn vốn nước ngoài góp phần phát triển kinh tế đất nước.

    Ngoài ra cần tổ chức quản lý nợ nước ngoài có kế hoạch và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn vào Việt Nam dưới nhiều hình thức khác nhau như vay vốn của IMF, WB, ADB,..

    Tóm lạ, trong tình hình hiện nay cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp trong việc thực hiện có hiệu quả về chính sách kinh tế vi mô và vĩ mô của nhà nước (giải quyết tốt vấn đề thâm hụt ngân sách, chấn chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu, điều hành tốt giá cả và lưu thông hàng hoá,..) để đảm bảo vừa tăng trưởng kinh tế vừa kiềm chế lạm phát ở mức tốt nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Các Giải Pháp Chống Lạm Phát Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Biện Pháp Khắc Phục Lạm Phát
  • Luận Văn Lạm Phát Mục Tiêu: Kinh Nghiệm Thế Giới Và Giải Pháp Cho Việt Nam
  • Lạm Phát Và Những Biện Pháp Ngăn Ngừa Lạm Phát Trong Điều Hành Nền Kinh Tế Quốc Dân_Nhận Làm Luận Văn Miss Mai 0988.377.480
  • Giải Pháp Nào Kiểm Soát Lạm Phát?
  • Bài 2: Những Giải Pháp Khắc Phục

    --- Bài mới hơn ---

  • Còn Nhiều Hạn Chế Trong Cải Cách Hành Chính
  • Công Tác Cải Cách Hành Chính: Khắc Phục Dần Những Hạn Chế
  • Khắc Phục Tình Trạng Trễ Hẹn Trong Giải Quyết Thủ Tục Hành Chính
  • Tìm Kiếm Sáng Kiến Cải Cách Hành Chính
  • Sáng Kiến Cải Cách Thủ Tục Hành Chính
  • Tiếp nhận hồ sơ TTHC qua dịch vụ bưu điện công ích tại Bưu điện thành phố Tuyên Quang.

    CCHC là quá trình khắc phục mọi lực cản trong hệ thống tổ chức bộ máy, trong cơ chế vận hành và những hạn chế, yếu kém về năng lực quản lý điều hành của bộ máy nhà nước. Những lực cản đó bắt nguồn từ cơ chế, chính sách chồng chéo, không phù hợp và đặc biệt là từ chính bản thân những con người nằm trong bộ máy đó. Cái đích của CCHC là xây dựng một nền hành chính phục vụ nhân dân, giữ gìn trật tự, kỷ cương của xã hội, của chế độ. Thông qua đó, nền hành chính tác động tích cực đối với đời sống kinh tế và đời sống xã hội.

    Ông Nguyễn Hữu Thập, Chủ tịch Hiệp Hội Doanh nghiệp tỉnh cho rằng, bất kỳ cơ quan, đơn vị nào cũng cần đến những người làm tốt công việc của mình với kiến thức, kỹ năng, thái độ đáp ứng yêu cầu của vị trí công việc. Vì thế, để CCHC hiệu quả việc đầu tiên và quan trọng nhất chính là công tác cán bộ mà điều này đòi hỏi có vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị. Qua kết quả khảo sát chỉ số DCI của tỉnh cũng đã chỉ ra những vấn đề còn tồn tại, hạn chế mà nguyên nhân hàng đầu chính là nhận thức về công tác CCHC của người đứng đầu cùng với đó là việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức còn hạn chế về nghiệp vụ, tinh thần, thái độ phục vụ.

    Đại diện các cơ quan, đơn vị tham gia thực hành

    đánh giá điểm Chỉ số CCHC trên phần mềm

    do Sở Nội vụ tổ chức.

    Trong báo cáo tổng kết 3 năm thực hiện công tác CCHC (2016 – 2022) của tỉnh cũng đã nêu rõ, nguyên nhân hàng đầu của những tồn tại, hạn chế chính là công tác chỉ đạo, điều hành của người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị chưa sâu sát và quyết liệt; cán bộ, công chức tham mưu về CCHC chưa thực sự đáp ứng yêu cầu về trình độ, chuyên môn, tính chuyên nghiệp trong thực thi công vụ. Bên cạnh đó, báo cáo cũng đã chỉ ra một nguyên nhân khác đó là chưa có hình thức tuyên truyền, hỗ trợ, vận động người dân, tổ chức, doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng các dịch vụ công một cách hiệu quả.

    Ở góc độ người dân, ông Hoàng Văn Bình, tổ dân phố 16, phường Tân Quang (TP Tuyên Quang) cho rằng, người dân khi đến các cơ quan nhà nước chưa cần biết cán bộ ở đây làm việc có hiệu quả hay không, nhưng chỉ cần nhìn qua cách thức bố trí phòng, ban làm việc, tinh thần thái độ của cán bộ cũng đã thể hiện được mức hài lòng của người dân. Một cơ quan mà bước vào đã thấy sự lộn xộn, bẩn thỉu, nhà vệ sinh hôi hám cho thấy đến bản thân nơi làm việc của mình đã không được gọn gàng, sạch sẽ thì làm sao có được sự hài lòng của người dân. Điều này thể hiện ở sự nền nếp, văn hóa, ý thức, trách nhiệm của những cán bộ ở đây, thực tế vẫn có nhiều cơ quan, đơn vị như vậy.

    Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước

    Để đẩy mạnh công cuộc CCHC, vấn đề ưu tiên hàng đầu là nâng cao chất lượng phục vụ của đội ngũ công chức, bởi cốt lõi của CCHC là cải cách về tinh thần trách nhiệm, ý thức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức. Kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Minh Huấn tại Hội nghị sơ kết công tác CCHC giai đoạn 2022 – 2022 đã dành phần lớn nội dung nói về trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong công tác CCHC. Đồng chí đã chỉ ra 7 nội dung mà người đứng đầu các cơ quan, đơn vị cần phải triển khai thực hiện ngay các giải pháp CCHC trong thời gian tới, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là phải tiếp tục tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành của người đứng đầu đối với công tác CCHC; đẩy mạnh việc đổi mới, sắp xếp và kiện toàn các đơn vị hành chính và đơn vị sự nghiệp theo hướng tinh gọn, hiệu quả, đẩy mạnh phân cấp và gắn kết chặt chẽ với các chính sách tinh giản biên chế; tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức, xử lý nghiêm những trường hợp sai phạm.

    Cũng tại Hội nghị trên, nhiều đại biểu cho rằng, đối với người đứng đầu của từng sở, ngành, địa phương và mỗi cán bộ, công chức, viên chức trong chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện CCHC có trách nhiệm rất lớn. Qua công bố kết quả chỉ số CCHC của tỉnh, lãnh đạo một số sở, ngành, địa phương đã thẳng thắn nhìn nhận những mặt hạn chế trong CCHC ở cơ quan, đơn vị mình và bày tỏ quyết tâm khắc phục bằng được.

    Công nhân làm việc tại Công ty TNHH MSA – YB thuộc Khu Công nghiệp – Dịch vụ – Đô thị

    Long Bình An. Ảnh: Lý Thịnh

    Sở Công Thương là đơn vị có điểm số Chỉ số CCHC thấp nhất trong các cơ quan chuyên môn, cơ quan quản lý nhà nước thuộc UBND tỉnh năm 2022. Sau khi có kết quả công bố, Sở đã tiến hành họp đánh giá, phân tích những chỉ số thấp điểm để tìm ra nguyên nhân cũng như giải pháp khắc phục. Bên cạnh đó, Sở Công Thương cũng đã có báo cáo giải trình về những điểm trừ trong Bộ Chỉ số CCHC của tỉnh; chấn chỉnh nâng cao ý thức, trách nhiệm kịp thời đối với cán bộ, công chức, viên chức. Cũng trong vị trí thấp nhất về điểm Chỉ số CCHC đối với cấp huyện, huyện Chiêm Hóa ngay lập tức họp bàn để khắc phục những tồn tại, hạn chế.

    Đồng chí Nguyễn Tiến Dũng, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Chiêm Hóa đã thẳng thắn nêu ra những điểm hạn chế trong công tác CCHC của huyện cụ thể như chưa có hình thức tuyên truyền cải cách hành chính phong phú, chưa có sáng kiến, giải pháp, cách làm mới trong triển khai thực hiện CCHC; còn tình trạng cán bộ, công chức, viên chức vi phạm phải xử lý kỷ luật, tỷ lệ TTHC được cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 có phát sinh hồ sơ trong năm chưa đạt yêu cầu quy định. Đồng chí đã yêu cầu Chủ tịch UBND các xã, thị trấn xây dựng kế hoạch khắc phục tồn tại, hạn chế và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả. Kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính là một trong những tiêu chí đánh giá, xếp loại hàng năm đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Đồng thời huyện cũng tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền để người dân, tổ chức, doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ bưu chính, phấn đấu từ nay đến năm 2022 huyện sẽ có 30% số xã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001.

    Đồng chí Vũ Tuấn, Phó Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông cho biết, thực tế hiện nay vẫn còn yếu về hạ tầng CNTT, khung kiến trúc Chính quyền điện tử vẫn đang trong quá trình triển khai. Việc thực hiện kết nối, liên thông các phần mềm quản lý văn bản, văn bản trao đổi giữa các cơ quan hành chính Nhà nước dưới dạng điện tử còn thấp. Việc triển khai tiếp nhận và giải quyết hồ sơ trực tuyến mức độ 3, 4 còn nhiều bất cập do hệ thống hạ tầng CNTT của tỉnh chưa đảm bảo, tổ chức và cá nhân có nhu cầu giao dịch khó tiếp cận. Hiện tỉnh đang đẩy nhanh tiến độ xây dựng Chính phủ điện tử hình thành trục kết nối từ cơ sở tới Trung ương, tích hợp tất cả các phần mềm quản lý, các dịch vụ công trực tuyến của các cơ quan, đơn vị, dự kiến đến năm 2022 sẽ hoàn thành. Đây sẽ là bước tiến mạnh trong công tác CCHC của tỉnh trong thời gian tới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghiên Cứu, Đề Xuất Sáng Kiến, Giải Pháp Đẩy Mạnh Cải Cách Hành Chính
  • Thủ Tục Nhập Hộ Khẩu Cho Con Mới Sinh
  • Trao Giải Cuộc Thi Viết Tìm Hiểu Sáng Kiến, Giải Pháp Về Cải Cách Hành Chính Của Ủy Ban Dân Tộc
  • Thông Báo Cuộc Thi “tìm Hiểu Sáng Kiến, Giải Pháp Cải Cách Thủ Tục Hành Chính” Năm 2022
  • Huyện Mỹ Xuyên Thực Hiện Nhiều Giải Pháp, Mô Hình Mới Về Cải Cách Hành Chính
  • Giải Pháp Khắc Phục Những Hạn Chế Trong Hoạt Động Công Chứng

    --- Bài mới hơn ---

  • 4 Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Nghề Công Chứng
  • Tìm Giải Pháp Kiểm Soát Chất Lượng Hoạt Động Công Chứng
  • Một Số Nhận Xét, Đánh Giá, Giải Pháp Về Sự Hình Thành Và Phát Triển Công Chứng Ở Việt Nam.
  • Chính Sách Phát Triển Nghề Công Chứng
  • Chính Phủ Ban Hành Nghị Quyết 172/nq
  • Để khắc phục những tồn hại, hạn chế và vướng mắc của hoạt động công chứng; tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động công chứng với các dịch vụ công chứng tại nhà, công chứng ngoài giờ, công chứng lấy nhanh…; phát huy vai trò của công chứng trong phát triển kinh tế – xã hội, Bộ chính trị đã đề xuất một số giải pháp như sau:

    Một là, cần tiếp tục đẩy mạnh chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng. Tuy nhiên, hoạt động công chứng là một loại hình dịch vụ công, công chứng viên do Nhà nước bổ nhiệm để thực hiện dịch vụ này; thực hiện công việc đòi hỏi tính chuyên môn và trách nhiệm pháp lý cao. Do vậy, việc xã hội hóa hoạt động này cần có lộ trình thích hợp. Trong khi trình độ xã hội còn nhiều hạn chế cộng với tính phức tạp, thiếu ổn định của hệ thống pháp luật đã khiến cho nhận thức cũng như thực tiễn thực hiện hoạt động này còn nhiều bất cập. Do vậy, không nên nóng vội chuyển đổi các Phòng Công chứng (đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Tư pháp) thành Văn phòng Công chứng (hoạt động theo Luật doanh nghiệp) như một số quan điểm hiện nay.

    Hai là, sớm ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật công chứng, tập trung vào một số nội dung sau:

    – Về công chứng viên: Để nâng cao chất lượng, bảo đảm sự phát triển bền vững của đội ngũ công chứng viên cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện bổ nhiệm công chứng viên. Theo đó, xác định rõ hơn địa vị pháp lý của công chứng viên; quy định rõ công chứng viên chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên; nâng thời gian đào tạo nghề công chứng từ 6 tháng lên 12 tháng; bổ sung quy định người miễn đào tạo phải tham gia khóa bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng trước khi đề nghị bổ nhiệm công chứng. Sửa đổi quy định về tập sự hành nghề công chứng theo hướng không miễn đào tạo nghề công chứng mà chỉ giảm thời gian tập sự đối với đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng trước đây; bổ sung quy định về kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng, quy định công chứng viên chỉ được hành nghề đến 65 tuổi; bổ sung quy định về kiểm tra và tổ chức kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng, bồi dưỡng thường xuyên.

    – Về tổ chức hành nghề công chứng: Sửa đổi, bổ sung các quy định về Văn phòng công chứng nhằm cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho Văn phòng công chứng trong việc thay đổi loại hình hoạt động, thúc đẩy phát triển các Văn phòng công chứng quy mô lớn, hoạt động chuyên nghiệp và hiệu quả. Quy định việc thành lập tổ chức hành nghề công chứng phải phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đã được Thủ tướng phê duyệt; Phòng Công chứng chỉ được thành lập ở những địa bàn chưa có điều kiện phát triển Văn phòng công chứng để đáp ứng yêu cầu của người dân.

    Ba là, triển khai thực hiện có hiệu quả Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2022, bảo đảm phát triển các tổ chức hành nghề công chứng rộng khắp và phân bổ hợp lý gắn với địa bàn dân cư trên toàn quốc, đáp ứng đầy đủ nhu cầu công chứng các hợp đồng, giao dịch của cá nhân, tổ chức trong xã hội, tăng cường tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, khắc phục tình trạng phát triển tổ chức hành nghề công chứng không đồng đều giữa khu vực đô thị với khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.

    Bốn là, đổi mới chương trình, nội dung đào tạo nghề công chứng; tăng cường công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề, đạo đức hành nghề công chứng. Xây dựng quy hoạch công chứng viên căn cứ theo nhu cầu thực tế của địa phương.

    Năm là, tăng cường thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh những sai phạm và những biểu hiện tiêu cực trong hoạt động công chứng; hướng dẫn định hướng các công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Luật công chứng và văn bản hướng dẫn thi hành để phát triển lành mạnh các hoạt động công chứng.

    Sáu là, xây dựng được cơ sở dữ liệu thông tin về bất động sản, tạo nền tảng kết nối, chia sẻ thông tin giữa các tổ chức hành nghề công chứng và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để khắc phục rủi ro trong hoạt động hành nghề của công chứng viên.

    Nguồn: Sưu tầm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hệ Thống Quản Lý Chung Cư Thông Minh
  • Phần Mềm Smartland Building Trở Thành Giải Pháp Công Nghệ Nâng Tầm Quản Lý Chung Cư Như Thế Nào?
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Chất Lượng Dịch Vụ Quản Lý Nhà Chung Cư Tại Hải Phòng
  • Luci Building Phần Mềm Quản Lý Tòa Nhà Chung Cư, Khu Đô Thị Thông Minh
  • Hệ Thống Quản Lý Xe Toà Nhà Chung Cư Thông Minh, Hiện Đại
  • Giải Pháp Nào Giảm Áp Lực Nợ Công?

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Giảm Nhiệt Mùa Hè
  • 5 Giải Pháp Giảm Nhiệt Mùa Hè Cho Nhà Phố Hiệu Quả
  • Giải Pháp Giảm Nhiệt Mùa Hè Mới Đang Làm Người Tiêu Dùng Phát Sốt
  • Chọn Mua Quạt Mini Usb, Giải Pháp Giảm Nhiệt Mùa Hè Khi Mất Điện
  • Tuyệt Chiêu Giảm Nhiệt Giúp Nhà Luôn Mát Rượi Như Bật Điều Hòa
  • (BĐT) – Nhóm nghiên cứu của Công ty CP Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) dự báo, nợ công đến cuối năm 2022 sẽ lên đến gần 3 triệu tỷ đồng.

    Chuyên gia của BVSC khẳng định, đang có nhiều áp lực lớn lên nợ công, và giải pháp quan trọng là giảm chi, trong đó thu hút tư nhân đầu tư kết cấu hạ tầng sẽ góp phần giảm áp lực chi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước.

    Nợ công gánh nhiều áp lực

    Tổng hợp của Nhóm nghiên cứu BVSC cho thấy, năm nay nợ công có thể tăng thêm 385.375 tỷ đồng và không chỉ đến từ thâm hụt ngân sách. Theo TS. Bạch Ngọc Thắng, Chuyên gia kinh tế trưởng Bộ phận Kinh tế vĩ mô và Chiến lược thị trường của BVSC, trên thực tế, ngoài phần phát sinh do thâm hụt ngân sách, áp lực gia tăng nợ công còn có thể đến từ các khoản trái phiếu đầu tư trực tiếp của Chính phủ, các khoản Chính phủ đi vay để cho vay lại, và các khoản bảo lãnh của Chính phủ.

    BVSC dự báo, nợ công có thể đạt mức 64,4% GDP vào cuối năm 2022, áp sát mức trần nợ công Quốc hội cho phép cho đến năm 2022. Theo tính toán của BVSC, năm 2022, với tỷ lệ nợ công như cập nhật của Bộ Tài chính là 62,2% GDP, con số nợ công tuyệt đối của Việt Nam vào cuối năm 2022 là 2.607.960 tỷ đồng. Giả định tổng nợ công sẽ tăng thêm 385.375 tỷ đồng, tổng nợ công của Việt Nam vào cuối năm 2022 sẽ đạt mức 2.993.335 tỷ đồng, bằng 64,4% GDP.

    Ông Bạch Ngọc Thắng cho biết, tỷ lệ nợ công/GDP vào cuối năm 2022 có thể thấp hơn con số dự báo ở trên nếu tăng trưởng được cải thiện, nhưng áp lực gia tăng bội chi ngân sách trên thực tế sẽ là thách thức lớn nhất đối với Chính phủ trong quản trị nợ công. Theo thông báo kết quả phiên họp thường kỳ của Chính phủ vào tháng 7/2016, tăng trưởng GDP có thể đạt 6,3% hoặc 6,5% trong năm 2022. Nếu ước tính này thành hiện thực, tỷ lệ nợ công/GDP có thể thấp hơn, bằng 64,1% (với tăng trưởng 6,3%) hoặc 63,9% (với tăng trưởng 6,5%) vào cuối năm 2022. Tuy nhiên theo tính quy luật các năm trước, nếu giả định thâm hụt ngân sách trên thực tế cao hơn 10% so với dự toán, tỷ lệ nợ công/GDP có thể tăng lên 64,9% theo kịch bản tăng trưởng cẩn trọng của BVSC; 64,6% và 64,5% theo hai kịch bản của Chính phủ.

    Nợ nhiều thì phải giảm chi tiêu

    Theo Nhóm nghiên cứu của BVSC, Nghị định số 15/2015/NĐ-CP là nền tảng pháp lý quan trọng nhằm thu hút các nguồn lực tài chính ngoài nhà nước tham gia đầu tư vào các lĩnh vực trước đây dường như là “lãnh địa” của khu vực nhà nước. Trong bối cảnh ngân sách nhà nước đang thâm hụt mạnh trong 5 năm trở lại đây, Nghị định đã tạo cơ hội cho khu vực tư nhân và các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào những dự án kết cấu hạ tầng quan trọng của quốc gia.

    Theo những số liệu đã được Bộ Tài chính công bố, những năm gần đây, thâm hụt ngân sách luôn ở mức cao hơn so với dự toán. Cuối tháng 7/2016, Quốc hội đã thông qua quyết toán ngân sách nhà nước 2014 với bội chi 249.362 tỷ đồng, so với dự toán, mức bội chi này cao hơn 11%. Số liệu quyết toán năm 2013 cho thấy, mức thâm hụt ngân sách trên thực tế còn cao hơn nhiều so với dự toán, lên tới 46%. Gần đây nhất, số liệu cập nhật ngân sách lần hai vào tháng 4/2016 của Bộ Tài chính cũng cho thấy mức thâm hụt ngân sách năm 2022 dự kiến cao hơn 13% so với dự toán.

    Tổng hợp của Nhóm nghiên cứu của BVSC cho thấy, tỷ lệ thâm hụt ngân sách/GDP của Việt Nam là 6,6% trong năm 2013, 6,3% năm 2014, năm 2022 là 6,1%. Theo TS. Bạch Ngọc Thắng, tỷ lệ thâm hụt ngân sách này có thể không phù hợp với thông lệ quốc tế khi nó bao gồm cả khoản chi trả nợ gốc của Việt Nam. Tuy nhiên, ngay cả khi loại trừ khoản chi trả nợ gốc thì mức thâm hụt của Việt Nam vẫn ở mức rất cao, từ 4,2 đến 5% GDP, cao hơn nhiều so với giới hạn cảnh báo của IMF là 3%.

    TS. Bạch Ngọc Thắng khuyến nghị, giải pháp chính giúp kiểm soát thâm hụt ngân sách nhà nước và nợ công trong thời gian tới là kiểm soát chi vì tỷ trọng chi thường xuyên trong ngân sách nhà nước đang ở mức rất cao, chiếm đến 82% tổng chi trong năm 2022, tăng mạnh so với tỷ lệ 69% trong năm 2010.Trong đó, TS. Bạch Ngọc Thắng nhấn mạnh, sự tham gia của khu vực tư nhân và các nhà đầu tư nước ngoài trong đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và cung cấp dịch vụ công có thể là một giải pháp cần đẩy mạnh hơn nữa khi nguồn vốn đầu tư phát triển từ ngân sách có thể bị hạn chế từ năm 2022 do tỷ lệ nợ công đã tiến sát trần.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Giảm Nợ Công Nhật Bản
  • Thủ Tướng Chính Phủ: Nợ Công Sẽ Không Vượt Quá 65%/gdp
  • 6 Giải Pháp Quản Lý Nợ Công Trong Bối Cảnh Mới
  • Nợ Công Tại Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • 7 Giải Pháp Giảm Nợ Công
  • Các Giải Pháp Đảm Bảo An Toàn Nợ Công

    --- Bài mới hơn ---

  • Cơ Cấu Lại Ngân Sách Nhà Nước Để Đảm Bảo An Toàn Nợ Công
  • Một Số Giải Pháp Thu Hồi Công Nợ Phải Thu Trong Các Doanh Nghiệp Xây Dựng Giao Thông
  • 8 Tác Động Của Ô Nhiễm Tiếng Ồn Lên Sức Khỏe
  • Giải Pháp Cách Âm Cửa Giúp Giảm Thiểu Tiếng Ồn Hiệu Quả
  • Tiêu Chí Xếp Loại 1 Chiếc Cửa Gỗ Cách Âm Phòng Ngủ Tốt Là Gì?
  • Để giám sát và quản lý nợ công hiệu quả cần tổ chức thực hiện tốt các nhóm giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nợ công, bao gồm:

    Một là, tập trung quản lý chặt chẽ nợ công, nhất là các khoản vay mới (gồm vay của Chính phủ, vay được Chính phủ bảo lãnh và vay của chính quyền địa phương), đảm bảo trong giới hạn cho phép và an toàn tài chính quốc gia; tập trung cho đầu tư phát triển, xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế – xã hội quan trọng, thiết yếu theo quy hoạch. – Khắc phục ngay tình trạng chỉ tập vào huy động vốn vay, mở rộng diện sử dụng, đầu tư dàn trải. Cần chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay theo hướng: rà soát lại các dự án đang triển khai, cơ cấu lại nguồn vốn, loại bỏ dự án không hiệu quả, phân kỳ đầu tư để tập trung vốn cho các dự án cần đẩy nhanh tiến độ, sớm đưa vào khai thác nhằm phát huy hiệu quả đầu tư.

    – Tổ chức thực hiện tốt quy trình của dự án đầu tư, nhất là các khâu chuẩn bị, thẩm định và phê duyệt quy hoạch, kế hoạch, quyết định đầu tư, thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán, dự toán công trình, lựa chọn nhà thầu, quản lý tiến độ và chất lượng công trình; hạn chế tối đa việc điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư bằng nguồn vốn vay để đảm bảo khả năng trả nợ, tính bền vững của dự án và hạn chế sự gia tăng nợ công.

    Hai là, tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay, đảm bảo hiệu quả và theo đúng quy định. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình sử dụng vốn vay của các chủ dự án, doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý của các Bộ, ngành, địa phương. Chú trọng hơn nữa công tác thanh tra, kiểm toán việc lập, thẩm định, phê duyệt, phân bổ và sử dụng nguồn vốn vay nợ công, đặc biệt là việc điều chỉnh tổng mức đầu tư, bố trí vốn chủ sở hữu, tình hình sử dụng vốn vay, thu hồi và trả nợ công. Ngoài ra, các đơn vị sử dụng nợ công phải thực hiện báo cáo đúng thời gian quy định về tình hình thực hiện, rút vốn, trả nợ và dư nợ vay; cung cấp số liệu và trao đổi thông tin kịp thời để có kế hoạch phối hợp chặt chẽ trong việc xử lý vướng mắc, kiến nghị giải pháp tăng cường hiệu quả đầu tư.

    Ba là, khẩn trương cơ cấu lại nợ công theo hướng tăng nhanh tỷ trọng vay dài hạn với lãi suất thấp. Tiếp tục thực hiện tái cơ cấu nợ công, giảm áp lực trả nợ trong ngắn hạn và chi phí vay vốn. Tập trung triển khai thực hiện các phương án tái cơ cấu nợ chính phủ, các khoản vay lại/bảo lãnh chính phủ đang gặp khó khăn. Nghiên cứu, xây dựng và triển khai các phương án xử lý rủi ro về nợ công, tái cơ cấu nợ Chính phủ, để đảm bảo an toàn về nợ và an ninh tài chính quốc gia. Rà soát các khoản chi ngân sách, nhất là các khoản chi đầu tư, tiền lương, phụ cấp, an sinh xã hội, chương trình mục tiêu quốc gia để loại bỏ trùng lặp nhằm nâng cao hiệu quả chi ngân sách nhà nước; chủ động, ưu tiên bố trí trong cân đối ngân sách nhà nước và phần vượt thu theo dự toán hàng năm để trả nợ; triển khai xây dựng kế hoạch tài chính – ngân sách trung hạn để phân bổ, sử dụng có hiệu quả nguồn lực của ngân sách nhà nước.

    Bốn là, kiểm soát chặt chẽ việc bảo đảm trả nợ đối với các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh và thu đủ nợ đối với các khoản vay về cho vay lại.

    – Thực hiện điều chỉnh giảm bảo lãnh Chính phủ, thắt chặt điều kiện cấp bảo lãnh, không mở rộng diện, chọn lọc có mục tiêu ưu tiên và tiến tới thu hẹp, chuyển dần sang kênh bảo lãnh của các ngân hàng thương mại theo cơ chế thị trường.

    – Tăng cường cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và doanh nghiệp/nhà đầu tư, giữa Chính phủ và chính quyền địa phương; tăng cơ chế cho vay lại và giảm dần cơ chế ngân sách nhà nước cấp phát, kể cả trường hợp cho vay lại chính quyền địa phương; đẩy mạnh phương thức cho vay lại theo hạn mức tín dụng thông qua các ngân hàng thương mại nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan cho vay lại và người vay lại, qua đó các ngân hàng thương mại được chủ động thẩm định, quyết định cho vay và tự chịu rủi ro tín dụng đối với các dự án cụ thể từ nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ.

    – Sử dụng nguồn vốn cho vay lại có chọn lọc, tránh dàn trải, tập trung cho các công trình, chương trình, dự án ưu tiên cao; tiếp tục chú trọng vào tiêu chí hiệu quả, quy mô, thời điểm đầu tư phù hợp tiến độ dự án, khả năng huy động vốn và trả nợ của chủ đầu tư.

    – Nâng cao trách nhiệm của các chủ dự án vay lại trong quản lý nguồn vốn, sử dụng có hiệu quả tài sản hình thành từ vốn vay; các chủ dự án là các Tập đoàn, Tổng công ty lớn đang có tình trạng đầu tư dàn trải cần sớm thực hiện dứt điểm việc tái cơ cấu tài chính, thoái vốn khỏi các hoạt động ngoài ngành nghề kinh doanh chính, ưu tiên sử dụng nguồn thu hồi từ thoái vốn để xử lý nợ.

    Năm là, bố trí từ nguồn ngân sách nhà nước trong giới hạn theo quy định và sử dụng quỹ tích lũy trả nợ để trả nợ đúng hạn.

    – Bố trí hợp lý từ nguồn ngân sách nhà nước để trả nợ theo hướng thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách phải đạt yêu cầu của Quốc hội, phấn đấu tăng thu 12%-14%/năm, dành khoảng 20% tổng thu ngân sách nhà nước để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, các khoản vay bù đắp bội chi cơ bản chỉ sử dụng cho đầu tư phát triển và thực hiện quản lý, sử dụng hiệu quả, giải ngân đúng tiến độ, đúng quy định.

    – Cơ bản không vay thương mại nước ngoài, lãi suất cao, thời gian ngắn để sử dụng cho cân đối ngân sách nhà nước. Bội chi ngân sách nhà nước giảm dần, trong đó đến năm 2022 giảm xuống 4% GDP (tính cả TPCP). Trong quá trình thực hiện, trường hợp có tăng thu ngân sách, cố gắng ưu tiên bố trí ngân sách để trả nợ nhằm giảm bội chi, qua đó giảm dư nợ Chính phủ, dư nợ công. Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, bố trí dự toán và điều hành quản lý chi ngân sách chặt chẽ, triệt để tiết kiệm, chống lãng phí, tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính.

    – Tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, quyết liệt chống thất thu NSNN để thúc đẩy phục hồi tăng trưởng, tạo nguồn thu ngân sách nhà nước ổn định và bền vững.

    Sáu là, rà soát, hoàn thiện thể chế, sửa đổi bổ sung Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Quản lý nợ công, Chiến lược và chương trình quản lý nợ trung hạn trên cơ sở đó xây dựng, triển khai và giám sát nợ công theo các chương trình quản lý nợ trung hạn, có tính đến xu hướng giảm dần huy động vốn ODA, tiến tới tăng vay ưu đãi và vay thương mại nhằm thực hiện tốt các mục tiêu quản lý nợ công, đó là: huy động vốn vay với chi phí và mức độ rủi ro phù hợp, đáp ứng nhu cầu cân đối ngân sách nhà nước và đầu tư phát triển triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ; phân bổ, sử dụng vốn vay phải đúng mục đích, có hiệu quả, đảm bảo khả năng trả nợ; và duy trì các chỉ số nợ công, nợ Chính phủ và nợ nước ngoài của quốc gia ở mức an toàn, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bỏ Túi Quy Trình Thu Hồi Công Nợ Hiệu Quả Nhất Từ Trước Đến Nay!
  • Từng Bước Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo
  • Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo Mục Tiêu Của Việt Nam Trong Chặng Đường Phát Triển Mới
  • Biện Pháp Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo
  • Giải Pháp Xoá Đói Giảm Nghèo Ở Tỉnh Hà Tĩnh Đến Năm 2010
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100