Giải Pháp Giảm Bớt Chênh Lệch Giàu Nghèo

--- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Để Giảm Khoảng Cách Giàu
  • Toàn Cầu Hóa Chênh Lệch Giàu Nghèo
  • Cần Chuyển Dịch Lao Động Nông Thôn Ra Thành Thị
  • Giải Pháp Hỗ Trợ Giảm Cân Cao Cấp Enzylim
  • Giảm Cân Cao Cấp Enzylim Đột Phá Công Nghệ Mới Giảm Nhanh 7Kg
  • Tư bản trong thế kỷ XXI (Le capital au XXIème siècle) của Thomas Piketty là cuốn sách gây tiếng vang trong giới học giả, các nhà kinh tế, nhà chính trị Âu, Mỹ suốt 2 năm nay.

    Trong tác phẩm dày hơn 1 ngàn trang này, nhà kinh tế Pháp Thomas Piketty (45 tuổi) nghiên cứu về những bất bình đẳng về kinh tế, thu nhập trong các nền chính trị – kinh tế khác nhau, từ đầu thế kỷ thứ I đến nay. Cuốn sách trình bày những nhận định sâu sắc về kinh tế xã hội dưới các chế độ chính trị khác nhau trong nhiều thời kỳ khác nhau, nhất là vào các thế kỷ XIX, XX và XXI.

    Sách do Nhà xuất bản Seuil của Pháp phát hành giữa năm 2013, chỉ trong vòng 3 tháng đã bán được hơn 150.000 cuốn và hiện đang tiếp tục được tái bản. Đầu năm 2014, sách được dịch ra tiếng Anh, trong 3 tháng bán được 450.000 cuốn.

    Năm 2014, Thomas Piketty được nhận giải thưởng Nhà kinh tế tài năng trẻ nhất nước Pháp, được giao sáng lập Trường Kinh tế của nước Pháp (École d’Économie de France). Tạp chí Foreign Policy (Chính sách đối ngoại) ở Hoa Kỳ năm 2022 nhận định ông là một trong số “100 trí thức có ảnh hưởng lớn nhất thế giới trong năm qua”.

    Cuốn sách chỉ ra rằng trong những thế kỷ cổ sơ, sản xuất còn tự nhiên, giao thông còn hạn chế, mỗi cộng đồng có phương thức sản xuất riêng, phân chia của cải xã hội còn ít ỏi theo kiểu đồng loạt, cùng làm, cùng ăn, cùng hưởng theo xã hội cộng sản nguyên thủy.

    Sang thế kỷ XIX, sự nghiệp công nghiệp hóa được đẩy mạnh với điện khí hóa, cơ giới hóa, giao lưu rộng khắp, buôn bán toàn cầu… giai cấp tư bản từ sơ khai trở thành tư bản lũng đoạn, chênh lệch thu nhập, giàu nghèo ngày càng mở rộng, bất công xã hội ngày càng lớn, người giàu ngày càng giàu thêm, kẻ nghèo ngày càng thêm nghèo khổ. Do đó mà sinh ra xung đột, dẫn đến chiến tranh, di tản, bất ổn xã hội.

    Thomas Piketty cảnh báo rằng sang thế kỷ XXI, bi kịch lớn nhất, căn nguyên cơ bản của các xung đột trong nội bộ và trong quan hệ quốc tế chính là bất công xã hội, chênh lệch thu nhập ngày càng mở rộng. Vì vậy các chính phủ, các đảng chính trị cần xem việc chấn chỉnh phân phối hợp lý của cải xã hội là trách nhiệm hàng đầu, để phát triển đất nước trong an ninh xã hội.

    Việc thu thuế, chống tham nhũng và chống lãng phí cũng như thu nhập bất minh, việc công khai và minh bạch tài chính quốc gia trở thành những vấn đề sinh tử của mọi nước, mọi chế độ.

    Đáng chú ý nhất trong cuốn Tư bản trong thế kỷ XXI là những đoạn nói về chênh lệch thu nhập trong các nước tư bản phát triển ở châu Âu và Bắc Mỹ hiện nay. Tác giả đã lập nên hàng trăm biểu đồ, hàng trăm bảng thống kê, tính theo tỷ lệ số dân và tỷ lệ thu nhập, trong một xã hội thu nhập trung bình, tính theo đầu người là bao nhiêu.

    Có nước chậm phát triển ở châu Phi, mức thu nhập này hằng năm chỉ chừng 600 đến 800 USD. Có nước phát triển trung bình đạt 1.500 đến 2.500 USD (như ở Việt Nam, năm 2022 là 2.000 USD). Có nước phát triển cao như Đức, Anh, Hoa Kỳ là 30.000 đến 45.000 USD.

    Nhưng đây chỉ là thu nhập bình quân đầu người.

    Dựa vào thống kê, nghiên cứu của Thomas Piketty cho biết nhóm 85 tỷ phú giàu nhất hành tinh hiện nắm giữ 50% giá trị tài sản toàn thế giới. Tất nhiên trong số đó những người giàu nhất có tài sản trị giá gấp hàng chục lần người giàu thứ 85.

    Tình hình đó đặt ra cho mọi nhà nước, chính phủ, chính đảng, nhà hoạt động xã hội nghĩa vụ phải tìm biện pháp để giảm bớt sự chênh lệch, giảm bớt thu nhập của người rất giàu và tương đối giàu để bù đắp cho những người nghèo và quá nghèo.

    Nhiều tỷ phú hàng đầu của Hoa Kỳ như Bill Gates, Mark Zuckerberg… đã tự nguyện san sẻ tài sản riêng cho các tổ chức từ thiện quốc tế, cấp học bổng rộng rãi, đóng góp hàng tỷ USD cho các cơ quan nghiên cứu chữa bệnh hiểm nghèo. Đánh dấu ngày sinh con gái đầu lòng, vợ chồng Zuckerberg đã tặng 95% tài sản hiện có (trên 4 tỷ USD) cho sự nghiệp nuôi dưỡng trẻ em và giáo dục tuổi trẻ trên thế giới.

    Rất nhiều nhà tỷ phú nghĩ rằng để lại gia tài quá lớn cho con cháu mình không chắc đã là điều hay, có khi còn có hại, nuôi dưỡng tinh thần ỷ lại, lười biếng, không lao động mà giàu to, sinh ra lêu lổng, ăn chơi, mất tính tự lập và tự trọng.

    Nhiều nhà tỷ phú, triệu phú trước khi chết đã để lại di chúc hiến tặng toàn bộ hay một phần lớn tài sản của mình cho xã hội, các hội từ thiện, các cơ quan nghiên cứu tìm tòi thuốc men chữa bệnh, cho các cháu nhỏ mồ côi, cho các giáo hội, hội Chữ thập đỏ…

    Nhưng việc giải quyết tốt đẹp, bền vững hiện tượng bất công này trước hết thuộc về trách nhiệm của các chính phủ, nhà hoạt động chính trị, chính đảng cầm quyền, các cơ quan lập pháp và hành pháp… của mỗi nước.

    Có hai kết luận rút ra từ cuốn Tư bản trong thế kỷ XXI là:

    – Chỉ có kiện toàn chế độ dân chủ, xóa bỏ mọi chế độ độc tài mới làm cho của cải dồi dào, phân chia thu nhập tương đối hợp lý, giảm bớt bất công xã hội. Tất cả các nước giàu có nhất, phân chia của cải hợp lý nhất đều thuộc về các nước dân chủ thuần thục, xã hội ổn định, hòa hợp, không trừ một nước nào.

    – Muốn giảm bớt bất công xã hội, chênh lệch giàu nghèo quá đáng cần có một chế độ công khai, trong sáng, minh bạch về tài chính, ngân sách, có kiểm toán chặt chẽ, bài trừ tham nhũng và lãng phí đến mức cao nhất, theo chế độ pháp trị thật nghiêm minh.

    Mới đây, nhiều học giả và sinh viên Pháp tỏ ý mong muốn Thomas Piketty ra ứng cử tổng thống Pháp năm 2022, nhưng ông đã từ chối vì tự cho mình chỉ là nhà khoa học. Ông cũng không nhận huân chương Bắc đẩu bội tinh của Chính phủ Pháp và xác định rằng một tác phẩm khoa học nên để cho giới khoa học và công luận thẩm định chân giá trị là đủ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Chi Phí Vận Chuyển Và Giải Pháp Giảm Chi Phí Vận Chuyển
  • 05 Giải Pháp Tiết Kiệm Chi Phí Vận Chuyển Tốt Nhất
  • Các Giải Pháp Giúp Tiết Kiệm Chi Phí Vận Chuyển
  • Những Giải Pháp Nhằm Giảm Chi Phí Vận Tải
  • Những Cách Thức Giảm Chi Phí Khi Vận Chuyển Hàng Hóa
  • Phát Triển Bền Vững Vùng Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi

    --- Bài mới hơn ---

  • Thúc Đẩy Phát Triển Kinh Tế
  • Tp.hcm Cần Tận Dụng Lịch Sử, Văn Hóa Để ‘móc Hầu Bao’ Khách Du Lịch
  • Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Ổn Định Phát Triển Kinh Tế
  • Sớm Có Kế Hoạch Phục Hồi, Phát Triển Kinh Tế Sau Dịch Covid
  • Thảo Luận Về Các Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Ngày 30/10, thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Kết luận số 65-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác dân tộc trong tình hình mới.

    Đẩy mạnh công tác tuyên truyền ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tăng cường đồng thuận xã hội; củng cố lòng tin của đồng bào với Đảng và Nhà nước, phát huy nội lực, vượt qua khó khăn, thách thức, hoà nhập phát triển cùng với đất nước.

    Khai thác tiềm năng, lợi thế để phát triển

    Phát huy mọi nguồn lực, khai thác tiềm năng, lợi thế để phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; bảo đảm quốc phòng – an ninh; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá tốt đẹp của các dân tộc. Tập trung giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức thiết. Rà soát, lồng ghép, sửa đổi, bổ sung chính sách; nâng cao hiệu quả các chương trình, dự án; tăng cường hợp tác quốc tế, đa dạng hoá và xã hội hoá nguồn lực để đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Thúc đẩy đào tạo nghề, tạo việc làm, nâng cao hiệu quả và mở rộng vốn tín dụng ưu đãi đối với các dự án phát triển sản xuất, kinh doanh.

    Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá, phát huy thế mạnh của địa phương, phù hợp với văn hoá, tập quán từng dân tộc. Hình thành và phát triển các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao; nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả, tạo sản phẩm đặc sản, giá trị cao. Chú trọng phát triển liên vùng, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng. Quan tâm phát triển du lịch, nhất là du lịch sinh thái, gắn kết du lịch với giữ gìn, phát huy giá trị văn hoá các dân tộc thiểu số.

    Tập trung giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt và tranh chấp, khiếu kiện về đất đai; đẩy nhanh việc hoàn thành các dự án định canh, định cư mới gắn với quy hoạch sắp xếp, ổn định dân cư, hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng di cư tự phát. Đến năm 2025, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở cho đồng bào. Điều chỉnh cơ chế, chính sách, định mức khoán bảo vệ rừng, tạo sinh kế cho người dân sống gần rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, không gian sinh sống của đồng bào.

    Ưu tiên nguồn lực nhà nước để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, nhất là đường giao thông, công trình thuỷ lợi, chợ, trường học, trạm y tế, nhà văn hoá phải được kiên cố hoá; bảo đảm các hộ gia đình dân tộc thiểu số được sử dụng điện lưới quốc gia, dịch vụ phát thanh, truyền hình, viễn thông, tiếp cận công nghệ thông tin phục vụ nhu cầu sản xuất, sinh hoạt. Ban hành tiêu chí nông thôn mới phù hợp với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Phấn đấu đến năm 2030 không còn địa bàn khó khăn.

    Nâng cao chất lượng cuộc sống đồng bào dân tộc thiểu số

    Phát triển đồng bộ các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nâng cao chất lượng công tác giáo dục và đào tạo đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Giữ vững và phát huy thành quả xoá mù chữ, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Nâng cao chất lượng và mở rộng hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú; hỗ trợ việc ăn, ở cho học sinh, sinh viên vùng địa bàn đặc biệt khó khăn.

    Đổi mới phương thức tuyển sinh theo hướng cử tuyển, chế độ dự bị đại học, đào tạo nghề cho đối tượng người dân tộc thiểu số. Có chính sách giải quyết việc làm đối với thanh niên dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp đại học, cao đẳng và đào tạo nghề; có cơ chế chăm lo đời sống cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

    Nâng cao tỉ lệ khám, chữa bệnh và chất lượng các dịch vụ y tế, nhất là khám, chữa bệnh ban đầu ở tuyến cơ sở; phát triển y học dân tộc kết hợp với y học hiện đại; đẩy mạnh phát triển y tế dự phòng; thực hiện các giải pháp đồng bộ. Tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận dịch vụ y tế, khám, chữa bệnh ở tuyến Trung ương thông qua chính sách bảo hiểm y tế.

    Có biện pháp triển khai đầy đủ, kịp thời các chương trình tiêm chủng mở rộng, dinh dưỡng và an toàn thực phẩm. Xây dựng và thực hiện chiến lược về phòng, chống suy dinh dưỡng ở trẻ em, nâng cao sức khoẻ, tầm vóc thanh, thiếu niên dân tộc thiểu số. Quan tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế, có cơ chế đào tạo cán bộ có trình độ chuyên sâu là đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương.

    Nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của người dân. Đầu tư xây dựng hệ thống thiết chế văn hoá cơ sở ở từng vùng, từng địa phương; quan tâm tu bổ, bảo tồn các công trình di tích lịch sử, văn hoá; sưu tầm, bảo tồn và phát huy có hiệu quả giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể của các dân tộc thiểu số. Phát huy vai trò làm chủ của đồng bào trong xây dựng đời sống văn hoá, xoá bỏ các hủ tục lạc hậu. Có biện pháp quyết liệt để xoá bỏ tình trạng tảo hôn, chấm dứt sớm hôn nhân cận huyết thống.

    Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và thực hiện nghiêm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Phát huy vai trò tích cực của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

    Cán bộ nữ người dân tộc thiểu số tỉnh Hòa Bình tại Hội thảo “Thách thức và giải pháp để phụ nữ DTTS không bị bỏ lại phía sau”. (Ảnh: Minh Châu)

    Phát triển nguồn nhân lực và xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số

    Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân vững chắc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân, đội ngũ cán bộ cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tăng cường phát triển đảng viên là người dân tộc thiểu số và khắc phục tình trạng không có tổ chức đảng và đảng viên ở các thôn, bản, nhất là đảng viên là người dân tộc thiểu số ở những vùng trọng điểm, vùng đặc biệt khó khăn, vùng biên giới…

    Tập trung phát triển nguồn nhân lực và xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số. Người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; có giải pháp cụ thể, hiệu quả để bảo đảm tỉ lệ cán bộ dân tộc thiểu số trong cấp uỷ và các cơ quan dân cử các cấp. Có chính sách đặc thù tuyển dụng công chức, viên chức đối với dân tộc thiểu số rất ít người, nhóm dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. Chú trọng phát hiện, quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và thực hiện tốt chính sách tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ là người dân tộc thiểu số.

    Có cơ chế để phụ nữ dân tộc thiểu số tiếp cận tốt hơn dịch vụ công, dịch vụ xã hội thiết yếu. Quan tâm tạo nguồn cán bộ nữ dân tộc thiểu số; hỗ trợ nâng cao năng lực để tham gia vị trí quản lý lãnh đạo trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị…../.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Xây Dựng Chính Sách Tổng Thể Phát Triển Kinh Tế
  • Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Phát Triển Vùng Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Cao Bằng: Nhiều Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Sau Dịch Covid
  • Combo Giải Pháp Phục Hồi Kinh Tế Sau Covid
  • Một Số Giải Pháp Xóa Đói Giảm Nghèo Bền Vững Trong Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Ở Các Huyện Miền Núi Tỉnh Quảng Ngãi

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nhằm Triển Khai Hiệu Quả Chương Trình Mục Tiêu Quốc Gia Giảm Nghèo Bền Vững
  • Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững Cho Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Tỉnh Thái Nguyên
  • Luận Văn:thực Hiện Chính Sách Giảm Nghèo Bền Vững Ở Quảng Bình
  • Tiểu Luận Về Một Số Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững Trên Địa Bàn Tỉnh Hà Giang
  • Báo Cáo Tốt Nghiệp: Thực Trạng Và Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững Ở Xã Trà Tân Huyện Đức Linh Tỉnh Bình Thuận
  • Thứ hai, 15 Tháng 5 2022 10:45

    (LLCT) – Xóa đói giảm nghèo là một trong nhữngvấn đề xã hội được đặt vào vị trí ưu tiên giải quyết trong phát triển xã hội và là một trong những chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của quốc gia, luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, xác định là một mục tiêu quan trọng phát triển đất nước.

    Quảng Ngãi là tỉnh thuộc duyên hải miền Trung, có 14 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố và 13 huyện (6 huyện miền núi, 1 huyện trung du, 5 huyện đồng bằng, 1 huyện đảo); dân số hơn 1,2 triệu người, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Được sự quan tâm của Chính phủ, bộ, ngành nên công tác xóa đói giảm nghèo đã đạt được những kết quả đáng khích lệ:

    Năng lực tổ chức, ý thức thực hiện XĐGN được nâng lên cả trong cán bộ, đảng viên và cộng đồng dân cư. Hầu hết các hộ nghèo DTTS, hộ ở các huyện miền núi đều được tiếp cận và thụ hưởng các chính sách giảm nghèo của Nhà nước, các dịch vụ sản xuất và dịch vụ xã hội cơ bản.

    Các chính sách XĐGN mới có tính đặc thù (Nghị quyết 30a,…), được triển khai đã tạo điều kiện phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS. Tỉnh ưu tiên bố trí các nguồn vốn hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập, đầu tư xây dựng các công trình đã có tác động trực tiếp đến đời sống và sản xuất của người nghèo.

    Nông thôn miền núi tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều thay đổi, cải thiện về nhà ở, các công trình trường học, trạm y tế, điện, giao thông, thủy lợi,… nâng cao mức độ hưởng thụ, trình độ dân trí cho người dân.

    Hộ nghèo được hỗ trợ trực tiếp trong sản xuất, như: giống, cây trồng, vật nuôi, phân bón; chuồng trại; được tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất; kiến thức sản xuất của người dân được nâng lên rõ rệt, giúp cho người dân dần thay đổi tập quán canh tác và chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm.

    Việc giao khoán chăm sóc, bảo vệ rừng tạo điều kiện cho một bộ phận hộ nghèo có thêm việc làm, tăng thu nhập, ổn định đời sống, xây dựng nông nghiệp, nông thôn. Chính sách tăng cường cán bộ về xã và đảm nhiệm vị trí lãnh đạo theo đề án 600 trí thức trẻ đã góp phần ổn định công tác cán bộ ở các xã nghèo, giúp xã tổ chức triển khai, thực hiện tốt hơn các chương trình mục tiêu, chính sách, dự án phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn.

    Nguyên nhân của vấn đề này là do nhận thức của người DTTS về chính sách XĐGN chưa đầy đủ, bản thân người nghèo chưa nỗ lực vươn lên tự thoát nghèo, hạn chế về ngôn ngữ, còn tâm lý tự ti, mặc cảm. Do nhiều chính sách hỗ trợ dẫn đến một số gia đình dân tộc ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Tâm lý bảo thủ, thích giữ một số phong tục tập quán lạc hậu, nạn tảo hôn, sinh nhiều con, mê tín… vẫn còn diễn ra. Mặt khác, các chính sách, dự án giảm nghèo chưa thật sự phù hợp với từng nhóm đối tượng đặc thù. Công tác kiểm tra, rà soát, đánh giá chính sách chưa được thực hiện thường xuyên. Để công tác xóa đói giảm nghèo được thực hiện một cách hiệu quả đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi cần quán triệt một số giải pháp cơ bản sau đây:

    Một là, nhóm giải pháp chung giảm nghèo bền vững:

    – Chú trọng tiếp cận địa bàn. Đảng uỷ, chính quyền các huyện cần tập trung chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể, các xã, thôn xây dựng kế hoạch cụ thể, phân công cán bộ, đảng viên phụ trách từng hộ nghèo để tư vấn, giúp đỡ về mọi mặt, đến từng hộ để khảo sát, tìm hiểu kỹ về gia cảnh, động viên, thuyết phục họ nỗ lực phấn đấu vươn lên. Với xã có hộ nghèo chủ yếu là người đồng bào dân tộc thì cán bộ làm công tác giảm nghèo biết tiếng dân tộc là rất quan trọng, đây là điều kiện để cán bộ trực tiếp vận động các hộ nghèo, thuyết phục, động viên hiệu quả hơn. Đối với những xã không có đủ nguồn lực tài chính và xây dựng nội dung, chương trình trình cho cán bộ học tiếng dân tộc, huyện, tỉnh và Trung ương cần ban hành chính sách đào tạo phù hợp. Hơn nữa, cần tăng cường kiểm tra, giám sát, nắm bắt thông tin đối với các hộ mới thoát nghèo là rất quan trọng để giảm thiểu tái nghèo.

    – Nâng cao ý thức, ý chí phấn đấu thoát nghèo.Việc này không chỉ thực hiện bằng các biện pháp tuyên truyền, thuyết phục thông thường. Thực tế, một bộ phận người dân khi còn được hưởng nhiều lợi ích của hộ nghèo vẫn muốn được ở diện hộ nghèo để tiếp tục thụ hưởng các hỗ trợ của Nhà nước. Ngoài ra, có tình trạng hộ nghèo muốn tách hộ để trở thành nhiều hộ nghèo và được hưởng lợi nhiều hơn từ các chương trình giảm nghèo. Để người dân thực sự muốn thoát nghèo, đặc biệt đối với những hộ mới thoát nghèo, Nhà nước cần duy trì một số chính sách để họ được hưởng các lợi ích có được của hộ nghèo trong một thời gian nhất định để họ có điều kiện phát triển kinh tế giúp thoát nghèo bền vững. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, vận động, nhân rộng các mô hình, tấm gương thoát nghèo để các hộ nghèo khác phấn đấu và thấy được việc thoát nghèo là đáng tự hào. Nếu thực hiện tốt vấn đề này sẽ góp phần nâng cao ý thức của người dân và tạo động lực cả về vật chất và tinh thần để họ phấn đấu đi lên.

    – Đánh giá, rà soát phân loại hộ nghèo để có giải pháp cụ thể cho từng loại. Cụ thể:

    Loại 1: đối với các gia đình già yếu, bệnh tật, thiếu lao động, không có khả năng thoát nghèo, cần vận động xã hội hỗ trợ và thực hiện chính sách xã hội để bảo đảm an sinh xã hội. Về lâu dài, xếp những đối tượng này vào diện bảo trợ xã hội thường xuyên.

    Loại 2: Có nhân lực, có nhu cầu lao động nhưng thiếu tư liệu sản xuất, thiếu việc làm. Đây là nhóm có khả năng thoát nghèo cao. Đối với đối tượng này cần tập trung cho vay vốn, hỗ trợ tư liệu sản xuất, tạo việc làm để thoát nghèo. Tùy vào điều kiện từng xã của huyện có thể thực hiện các mô hình “2 hộ giàu giúp 1 hộ nghèo”, hay mỗi chi bộ, mỗi đoàn thể giúp 1 hộ thoát nghèo,…

    Loại 3: Không chịu lao động, không biết tổ chức cuộc sống, sa vào các tệ nạn, nghiện ngập, ỷ lại, trông chờ. Đây là nhóm khó chuyển biến nhất. Do vậy, cần tuyên truyền vận động chuyển hoá thành hộ nghèo loại 2 trước khi hỗ trợ vốn, tư liệu sản xuất. Nếu không, các khoản hỗ trợ sẽ không có tác dụng, hiệu quả. Vì khi được hỗ trợ họ lại bán để lấy tiền tiêu dùng. Như vậy, họ vẫn nghèo.

    Với những hộ có quá ít đất sản xuất, không có thu nhập thêm ngoài làm nông nghiệp đơn giản, cần nghiên cứu, hướng dẫn để họ chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, đưa các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, phù hợp với thổ nhưỡng và điều kiện sản xuất dược liệu,… Trong chuyển đổi cây trồng, cần phải có sự quan tâm của huyện, tỉnh với các đề án tổng thể và tầm nhìn dài hạn, phối hợp trên toàn địa bàn và thậm chí là phối hợp liên vùng.

    Đối với những hộ nghèo, có lao động, nhưng không biết tiếng Kinh và không thể tự tìm việc, cần xây dựng kế hoạch dạy tiếng Kinh. Hơn nữa, chính quyền cần có kế hoạch hỗ trợ tìm kiếm, giới thiệu việc làm cho lao động nghèo. Tuyên truyền, vận động lao động trẻ sẵn sàng đi xuất khẩu lao động.

    – Chú trọng công tác cán bộ. Cốt lõi cho mọi kế hoạch giảm nghèo là đội ngũ cán bộ trực tiếp tổ chức thực hiện. Thực tế ở cơ sở cho thấy, năng lực của cán bộ còn yếu, sự nhiệt tình, quan tâm tới đời sống của người dân chưa cao; không nhiều cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo thông thạo tiếng dân tộc là rào cản lớn trong công tác tuyên truyền, vận động. Do vậy, cần có kế hoạch cụ thể về công tác cán bộ. Một trong những giải pháp quan trọng là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc để thuyết phục, hướng dẫn đồng bào thoát nghèo.

    – Xây dựng một số chính sách đặc thù. Trong thời gian tới, việc XĐGN đối với các huyện miền núi phải thực hiện rà soát lại những nét đặc thù, xây dựng một số chính sách riêng cho từng địa phương trên cơ sở chính sách của Chính phủ.

    Các chính sách hỗ trợ người nghèo vùng DTTS cần chuyển dần từ việc hỗ trợ trực tiếp thành việc hỗ trợ sinh kế là chủ yếu. Gắn trách nhiệm của người được hưởng lợi vào hiệu quả của các chương trình hỗ trợ. Việc xây dựng các chính sách, các chương trình mới cần quan tâm hơn đến vấn đề phối hợp ngay từ khâu thiết kế chính sách để tạo cơ sở phối kết hợp, lồng ghép trong tổ chức thực hiện, nhưng không làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện cũng như khả năng gọi vốn đầu tư nước ngoài của mỗi chương trình.

    Hai là, nhóm giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

    – Phát triển giáo dục, nâng cao dân trí; nâng cao thể chất lực lượng lao động; đào tạo nghề, việc làm, hỗ trợ sinh kế cho người nghèo. Thực tiễn cho thấy, nguyên nhân nghèo đói không chỉ do môi trường, điều kiện địa lý mà còn do hoàn cảnh và đặc điểm cá nhân, từng hộ gia đình, trong đó mấu chốt là vấn đề tri thức. Do vậy, cần xây dựng chương trình “xóa nghèo tri thức đối với người nghèo dân tộc thiểu sô”. Thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở đối với 100% trẻ em. Áp dụng giáo dục bắt buộc 9 năm miễn phí cho học sinh nghèo, được phát sách giáo khoa, tập vở miễn phí, được phụ cấp gạo mỗi tháng, miễn phí toàn bộ học phí. Sẽ hiệu quả hơn rất nhiều khi trình độ học vấn, tư duy nhận thức của trẻ em được nâng lên, các em sẽ cùng với cộng đồng tác động làm thay đổi tư duy những người trưởng thành là ông, bà, cha mẹ.

    – Chăm sóc sức khỏe cho người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số: Củng cố mạng lưới y tế cơ sở, không để các trạm y tế quá xa khu dân sinh sống, người dân đến cấp cứu, thăm khám được kịp thời, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, điều trị nội trú của nhân dân cũng như của người nghèo. Đa dạng hóa các hình thức khám chữa bệnh miễn phí, giảm phí, dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cho người nghèo, đặc biệt quan tâm đến phụ nữ, trẻ em như xây dựng chương trình dinh dưỡng đối với trẻ em, chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho phụ nữ… Tiếp tục thực hiện kéo dài thời hạn điều động luân chuyển cán bộ y tế các tuyến trên về công tác có thời hạn ở cơ sở. Có chính sách thỏa đáng để khuyến khích các bác sĩ đến công tác tại vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc.

    các giải pháp hỗ trợ sinh kế, nâng cao thu nhập cho người nghèo:

    – Thực hiện các biện pháp phát triển rừng, nghề rừng, nông – lâm kết hợp và các hoạt động kinh tế khác để thực hiện đanh canh, định cư, ngăn chặn nạn đốt phá rừng.

    – Thực hiện hỗ trợ người nghèo dân tộc biết cách tự thoát nghèo và tránh tái nghèo khi gặp rủi ro, như: hỗ trợ vật chất trực tiếp cho người nghèo trong những rủi ro đột xuất do thiên tai, dịch bệnh…, hỗ trợ một phần giúp người nghèo tham gia các hoạt động kinh tế: giống cây trồng, giống con nuôi, vật tư, phân bón, thuốc trừ sâu… cùng với những hỗ trợ về vật chất cho người nghèo trên cơ sở hướng dẫn người nghèo sản xuất, kinh doanh phát triển kinh tế tùy theo điều kiện gia đình.

    – Bố trí cán bộ khuyến nông cơ sở để giúp người dân áp dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuật và lựa chọn được giống cây, con và mô hình sản xuất thích hợp. Từng bước hướng dẫn người nghèo sản xuất được hàng hóa tập trung và tiếp cận thị trường để có những sản phẩm có giá trị cao trên thị trường.

    Bốn là, nhóm giải pháp nâng cao nhận thức, phối hợp tổ chức thực hiện chính sách của các cấp, các ngành và người dân.

    Đẩy mạnh tuyên truyền để người nghèo chủ động vượt khó, có ý thức thoát nghèo. Nội dung tuyên truyền phải thiết thực, cụ thể để người dân hiểu được vì sao phải xóa đói giảm nghèo và trách nhiệm mỗi người.

    Tăng cường khả năng tiếp cận thông tin và truyền thông bằng tiếng DTTS

    Nâng cao năng lực cho đài phát thanh – phát lại truyền hình huyện và đài truyền thanh của các xã: Tìm hiểu nhu cầu thông tin của người DTTS, cải thiện các chương trình phát thành, làm hấp dẫn, phù hợp với nhu cầu thông tin của người dân. Tập huấn thực hiện các chương trình phát thanh DTTS hiện đại; Tập huấn, tham quan học tập việc thực hiện các chương trình phát thanh tương tác.

    Năm là, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chính sách

    Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm kịp thời phát hiện những sai sót, bất cập để có sự điều chỉnh kịp thời hoặc có các biện pháp xử lý, chỉnh đốn thực hiện nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả của các chính sách để phù hợp với thực tế; có cơ chế khuyến khích các tổ chức đoàn thể, hộ nghèo là người đồng bào dân tộc tham gia vào quá trình giám sát thực hiện chính sách.

    Thường xuyên đánh giá chính sách để tìm ra những mô hình tốt nhất. Từ đó đưa ra các chính sách linh hoạt, phát huy được tính chủ động, sáng tạo và nâng cao trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương ở các địa bàn khó khăn, vùng đồng bào dân tộcvới những đặc điểm, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, tập quán và dân trí rất khác nhau.

    Với truyền thống cần cù, chịu khó cùng với sự quan tâm của các cấp, các ngành, sự triển khai đồng bộ các giải pháp cơ bản nêu trên sẽ nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, thực hiện tốt chính sách xóa đói giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

    ThS Đào Văn Quang

    Trường Chính trị Quảng Ngãi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tp Cần Thơ Triển Khai Đồng Bộ Các Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững
  • Các Giải Pháp Chủ Yếu Thực Hiện Của Chương Trình Giảm Nghèo Bền Vững Giai Đoạn 2022
  • Những Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững Ở Ðạ Tẻh
  • Giải Pháp Nào Để Giảm Nghèo Bền Vững
  • Nỗ Lực Giảm Nghèo Bền Vững
  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Bình Đẳng Giới Trong Vùng Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Thực Hiện Bình Đẳng Giới Và Trao Quyền Cho Phụ Nữ Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Thúc Đẩy Bình Đẳng Giới: Cần Thêm Giải Pháp, Cơ Hội Cho Phụ Nữ, Trẻ Em Gái
  • Bình Đẳng Giới Ở Việt Nam, Thành Tựu Và Thách Thức Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Giải Pháp Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa
  • Bảo Tồn, Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa Và Một Số Giải Pháp Thực Hiện Bảo Tồn Di Sản Ở Ninh Bình
  • Qua thực trạng bình đẳng giới cũng như sự phát triển kinh tế – xã hội ở các quốc gia, Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) cũng thấy rằng, bất bình đẳng giới thực sự vừa là một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng đói nghèo, vừa là rào cản lớn đối với sự phát triển bền vững và tác động tiêu cực không chỉ đến phụ nữ mà đến tất cả các thành viên trong xã hội.

    Sự nghiệp giải phóng phụ nữ ở Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm ngay từ buổi đầu cách mạng. Khẩu hiệu “nam nữ bình quyền” được khẳng định từ Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1946). Cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Việc chăm lo phát triển nguồn lực con người là một nhân tố quyết định thành công của công cuộc đổi mới, trong đó, các tiêu chí phát triển được hướng vào cả nam giới và nữ giới.

    Trong khi đó, việc định kiến giới là một trong những nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng về giới, đặc biệt trong đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS). Đồng bào các dân tộc thiểu số thường tập trung cư trú ở những vùng sâu, vùng xa, vùng địa bàn đặc biệt khó khăn, đại bộ phận đời sống của các gia đình dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, sự tồn tại của những phong tục tập quán, tín ngưỡng, hủ tục lâu đời trong đời sống đồng bào các dân tộc cũng làm cho phụ nữ trở thành nhóm xã hội cực khổ nhất. Họ là một lực lượng xã hội quan trọng có ảnh hưởng toàn diện đến sự phát triển của vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Để góp phần cải thiện đời sống, nâng cao trình độ, dân trí, đảm bảo trật tự an ninh xã hội và chủ quyền quốc gia, việc thực hiện bình đẳng giới trong cộng đồng các dân tộc thiểu số là công tác xã hội quan trọng cần ưu tiên, đặt lên hàng đầu. Vấn đề bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số là vấn đề cần đặc biệt quan tâm cả trong mục tiêu phát triển và cả trong quá trình hoạch định chính sách quan hệ tộc người ở nước ta trong bối cảnh hội nhập sâu rộng nền kinh tế toàn cầu.

    Trong những năm qua, đã có nhiều văn bản (Nghị định, Thông tư) cụ thể, thể chế hóa, hướng dẫn Luật Bình đẳng giới gồm: Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 4/6/2008 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới về trách nhiệm quản lý nhà nước về bình đẳng giới và phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới, với 4 chương, 18 điều. Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 của Chính phủ về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới với 6 chương, 23 điều. Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 của Chính phủ xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới với 5 chương, 29 điều.

    Chương trình hành động của chính phủ đến năm 2022 thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Ban hành kèm theo Nghị định số 57/NQ-CP ngày 1/12/2009 của Chính phủ) với mục tiêu nâng cao nhận thức, trách nhiệm và hiệu quả quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và địa phương đối với công tác phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới nhằm phấn đấu đến năm 2022, phụ nữ được nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; có việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần; tham gia ngày càng nhiều hơn vào công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; đóng góp ngày càng lớn hơn cho xã hội và gia đình. Phấn đấu để nước ta là một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất khu vực.

    Trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 (được phê duyệt tại Quyết định số 2351/QĐ-Ttg ngày 24/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ) với mục tiêu tổng quát là đến năm 2022, về cơ bản, bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước và các mục tiêu cụ thể, gồm: Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị; Giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm; Tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ người dân tộc thiểu số đối với các nguồn lực kinh tế, thị trường lao động; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, từng bước bảo đảm sự tham gia bình đẳng nam và nữ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo; Bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe; Bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa và thông tin; Bảo đảm bình đẳng giới trong đời sống gia đình, từng bước xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới; Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng;…

    Tình hình thực hiện Luật Bình đẳng giới và một số kết quả đạt được trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

    Sau khi Luật Bình đẳng giới được ban hành, Uỷ ban Dân tộc đã chủ động trong việc tuyên truyền đến toàn thể cán bộ, công chức. Trong đó, đặc biệt chú trọng tới công tác phổ biến giáo dục pháp luật, phổ biến Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới cho đồng bào dân tộc thiểu số. Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong quá trình xây dựng chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội tạo tiền đề để thực thi bình đẳng giới. Chú trọng lồng ghép trong các chương trình, chính sách, dự án, đề án lớn do Ủy ban Dân tộc đề xuất xây dựng và triển khai thực hiện. Trong đó, Chương trình phát triển kinh tế – xã hội cho các xã đặc biệt khó khăn (Chương trình 135); Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số (Quyết định 34/2006/QĐ-TTg); Chính sách vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn (Quyết định 32/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ). Chính sách này dựa trên thực trạng đời sống của hộ gia đình người dân tộc thiểu số, trong đó có cả chủ hộ gia đình là nam và nữ đều được bình đẳng như nhau. Kết quả thực hiện chính sách này đã tác động rất lớn đến đời sống kinh tế hộ gia đình và góp phần tích cực trong việc thực hiện quyền bình đẳng trong hộ gia đình dân tộc thiểu số.

    Cùng với sự nỗ lực của Đảng, Nhà nước và toàn thể xã hội trong những năm qua, thực hiện mục tiêu bình đẳng giới và công tác phụ nữ, cán bộ nữ đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, rất đáng tự hào và được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Xếp hạng năm 2012 của Liên hợp quốc về chỉ số bất bình đẳng giới Việt Nam xếp thứ 47/187 quốc gia, so với vị trí 58/136 quốc gia năm 2010 (thứ hạng càng gần 0 càng thể hiện sự bình đẳng cao). Việt Nam cũng được Liên hợp quốc đánh giá là nước có nhiều tiến bộ trong cải thiện công bằng giới. Đạt được kết quả như trên, bên cạnh những thành quả chung của cả nước, công tác bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số góp phần quan trọng trong thực hiện thành công mục tiêu, chỉ tiêu quốc gia về bình đẳng giới.

    Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ta có dân số chiếm 14,3% dân số cả nước, trong những năm qua, công tác bình đẳng giới vùng dân tộc thiểu số có nhiều chuyển biến tích cực: Tỷ lệ cán bộ, công chức nữ trong đó có cán bộ, công chức nữ là người dân tộc thiểu số tham gia trong khu vực công ngày càng tăng, như: tỉnh Điện Biên tỷ lệ cán bộ, công chức trong khu vực công chiếm 36%, trong đó cán bộ, công chức nữ dân tộc thiểu số chiếm 18,7%. Tỉnh Lào Cai, tỷ lệ này là 62,2% và 15%; Tỉnh Kom Tum tỷ lệ này là 56,84% và 12,50%. Điều đó cho thấy, đời sống vật chất, văn hoá tinh thần phụ nữ dân tộc thiểu số từng bước được cải thiện rõ rệt.

    Tuy nhiên, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, công tác bình đẳng giới và công tác cán bộ nữ còn hạn chế. Tỷ lệ phụ nữ tham gia giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt còn khiêm tốn. Ở một số tỉnh cán bộ, công chức nữ chiếm tỷ lệ trên 50%, nhưng tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo cấp tỉnh nhiệm kỳ 2011 – 2022 (Phó Giám đốc sở, ngành và tương đương trở lên) còn chưa tương xứng với lực lượng cán bộ công chức nữ, như: Lai Châu: 25,94%; Lào Cai: 23,26%, Hòa Bình: 39,83%, Điện Biên: 28,05%. Trong lao động, việc làm thì phụ nữ dân tộc thiểu số có thời gian làm việc nhiều hơn nam giới, ngoài lao động kiếm sống hàng ngày, còn phải làm việc nhà và chăm sóc con cái. Mặc dù pháp luật quy định trong gia đình vợ chồng đều bình đẳng với nhau về mọi mặt, cùng nhau bàn bạc, quyết định mọi vấn đề chung, cùng chia sẻ mọi công việc cũng như chăm lo cho con cái, cha mẹ… nhưng trên thực tế, nam giới vẫn được coi là trụ cột gia đình, có quyền quyết định các vấn đề lớn và là người đại diện ngoài cộng đồng. Vì vậy, phụ nữ dân tộc thiểu số ít có cơ hội để học tập nâng cao trình độ, nghỉ ngơi giải trí hay tham gia các hoạt động xã hội. Ở một số vùng theo chế độ mẫu hệ, phụ nữ không chỉ gánh vác mọi công việc, chăm sóc con cái, mà đồng thời còn là lao động chính trong gia đình.

    Một số vấn đề mới về bình đẳng giới và quan hệ tộc người trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

    Đến nay, mối quan hệ giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh được coi là mối quan hệ lớn nhất, chủ đạo nhất trong quan hệ dân tộc. Mối quan hệ này ngày càng trở nên gần gũi và gắn bó hơn, sự gắn bó đó thể hiện trong quan hệ hôn nhân giữa các dân tộc thiểu số với người Kinh. Trước đây theo quan niệm, tư duy và phong tục tập quán, người dân tộc thiểu số chủ yếu kết hôn trong tộc người của mình, nhưng đến nay đã có những quan hệ hôn nhân được thiết lập giữa người dân tộc thiểu số và người Kinh, tạo nên những gia đình hỗn hợp dân tộc.

    Theo ông Lưu Xuân Thủy, Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc thiểu số (Ủy ban Dân tộc) cho biết, với những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta quan tâm đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi cùng với thực hiện Luật Bình đẳng giới, phần nào đã đem đến những quyền lợi và cơ hội mới cho người phụ nữ DTTS, Phụ nữ DTTS được đi học, đã hiểu biết, mở mang nhận thức và mối quan hệ xã hội, nâng cao vị thế, chuyển biến từ hôn nhân mang tính chất gả ép họ nhận thức được tự do hôn nhân, từ đó có một phần các phụ nữ DTTS kết hôn với nam giới người Kinh, đồng thời cũng có một bộ phận phụ nữ người Kinh kết hôn với nam giới người DTTS. Không chỉ giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số khác, sự giao thoa trong lĩnh vực hôn nhân còn diễn ra giữa các dân tộc thiểu số với nhau, như ở khu vực miền núi Quảng Bình hôn nhân khác tộc ngày càng diễn ra phổ biến, như chồng người Sách, Rục, Mã Liềng, Arem, vợ người Nguồn hoặc người Việt… Điều đó tạo nên mối quan hệ giữa các dân tộc biểu hiện trong quan hệ hôn nhân – quan hệ được coi là tổng hợp vì nó bao hàm cả văn hóa, tình cảm, nguồn gốc… Xu thế tích cực từ giao thoa hôn nhân giữa các tộc người góp phần hòa hợp dân tộc tốt hơn, dẫn tới đại đoàn kết dân tộc.

    Khả năng tiếp cận thị trường giúp phụ nữ DTTS đóng góp vào kinh tế gia đình cũng là một trong những yếu tố tác động tích cực đến việc nâng cao vị thế của người phụ nữ DTTS trong gia đình và xã hội. Thực tế này đang dần thay đổi nếp nghĩ về người phụ nữ. Về một phương diện nào đó có thể kết luận rằng, vị thế của người phụ nữ DTTS có sự liên hệ mật thiết với mức độ phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản và tiếp cận thị trường ở từng địa phương cụ thể. Việc đáp ứng những nhu cầu thực tế của phụ nữ là cần thiết để làm nền tảng cho việc đáp ứng những nhu cầu chiến lược và vị thế của người phụ nữ DTTS. Những cộng đồng nào có điều kiện cơ sở hạ tầng tốt hơn cũng có nghĩa người phụ nữ có điều kiện được quan tâm đầy đủ hơn cả về vật chất và tinh thần. Vì vậy, cần làm tốt mục tiêu bình đẳng giới để góp phần thúc đẩy sự phát triển đồng đều giữa các dân tộc là vấn đề hết sức cần thiết hiện nay.

    Bên cạnh đó, thực hiện bình đẳng giới trong cộng đồng người DTTS cũng còn những tồn. Các nhóm dân tộc vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn không những bị tách biệt về không gian địa lý, mà còn bị tách biệt về không gian xã hội. Chính sự tách biệt này đã và đang ảnh hưởng đến khả năng ứng phó với những thay đổi không lường trước trong môi trường sống của họ. Điều đó cho thấy, có rất nhiều đặc điểm chung trong bất bình đẳng giới nói chung và bất bình đẳng giới trong các nhóm DTTS nói riêng.

    Một số giải pháp đối với thực hiện bình đẳng giới trong đồng bào dân tộc thiểu số

    Thứ nhất, trong công tác giáo dục, vấn đề dạy chữ viết cho phụ nữ DTTS là ưu tiên hàng đầu. Đối với nhóm đối tượng này, những chương trình dạy chữ cần thiết thực, kết hợp phát triển kinh tế và học chữ, để khuyến khích phụ nữ tham gia. Đối với những nhóm đối tượng như học sinh tiểu học và trung học, cần đầu tư thêm để các em có thể theo đến hết bậc trung học và học cao lên và tránh không bị rơi vào vòng tái mù như các thế hệ phụ nữ đi trước. Thực hiện nghiên cứu toàn diện hơn về tỷ lệ mù chữ trong phụ nữ DTTS để có thể đưa ra những giải pháp xóa mù phù hợp và tăng cường sự tham gia của phụ nữ DTTS trong việc tiếp cận các cơ hội cho bản thân, gia đình và cộng đồng. Thực hiện nghiên cứu tổng thể hơn về bối cảnh dễ bị tổn thương của phụ nữ DTTS để có thể đưa ra những khuyến nghị và thiết kế những chính sách phù hợp với nhu cầu của phụ nữ DTTS, tăng cường khả năng chống đỡ của họ trước các vấn đề toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu, những hiện tượng xã hội như nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em… Đây là những vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay, cần có giải pháp cơ bản đồng bộ trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay.

    Thứ hai, tăng cường mở các lớp tập huấn giảng dạy về kiến thức, kỹ năng cho phụ nữ về chăm sóc sức khoẻ, nuôi dạy con, dân số và có từ đó và kế hoạch hoá gia đình, kỹ năng sống và tổ chức cuộc sống gia đình hạnh phúc. Đồng thời, xây dựng hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế “có sức khoẻ, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hoá, có lòng nhân hậu, tích cực lao động sản xuất, sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”.

    Thứ ba, hiện nay lao động nữ thanh niên DTTS vẫn bị tụt hậu so với mặt bằng chung của xã hội do rào cản ngôn ngữ và hạn chế về trình độ học vấn. Các lớp đào tạo dạy nghề cho phụ nữ DTTS cần quan tâm đến những đặc thù này và khả năng tham gia vào thị trường lao động cụ thể. Trong công tác đào tạo nghề thì cần có sự hài hòa về vai trò sản xuất và tái sản xuất của người phụ nữ.

    Thứ tư, cần tiếp tục đầu tư và củng cố cơ sở hạ tầng ở một số vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để giúp phụ nữ DTTS tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ giáo dục và y tế. Đầu tư cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành, tạo điều kiện cho phụ nữ và nam giới vùng DTTS có việc làm tại chỗ, có điều kiện phát triển kinh tế gia đình không phải đi làm ăn xa, có điều kiện chia sẻ lẫn nhau trong thực hiện vai trò sản xuất, sinh sản nuôi dưỡng, cộng đồng.

    Bình đẳng giới, bình đẳng các dân tộc trở thành mục tiêu phát triển của Việt Nam nói riêng, của cộng đồng quốc tế nói chung. Để đạt được mục tiêu này cần sự vào cuộc của chính quyền, sự tham gia của toàn dân.

    Nguyễn Duy Dũng, ThS, Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc

    Nguồn: http://tapchimattran.vn

    1. Lê Ngọc Lân , Thực trạng đời sống và khả năng tham gia phát triển kinh tế của gia đình phụ nữ nghèo, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.

    2. Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng, Phụ nữ, giới và phát triển, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, 1996.

    3. Quốc hội, Luật Bình đẳng giới, Hà Nội, 2007.

    4. Báo cáo hiện trạng bất bình đẳng giới trong cộng đồng người dân tộc thiểu số của Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (ISEE, 2010).

    5. Chính phủ, Dự thảo báo cáo việc thực hiện Mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2022 và 6 tháng đầu năm 2022.

    6. Chương trình hợp tác chung giữa Chính phủ Việt Nam và Liên hợp quốc về bình đẳng giới, Hệ thống các văn bản quy định hiện hành về bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình, Nxb. Thời đại, Hà Nội, 2011.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 9 Giải Pháp Trọng Tâm Về Thực Hiện Bình Đẳng Giới
  • Bóng Đá Việt: Nhìn Thẳng Thực Trạng Để Tìm Giải Pháp
  • Bóng Đá Việt Nam Năm 2022: 7 Mục Tiêu, 5 Giải Pháp Để Nâng Tầm Chất Lượng
  • Bạo Lực Gia Đình: Nguyên Nhân Và Giải Pháp
  • Bạo Lực Gia Đình Và Một Số Giải Pháp Phòng Tránh Bạo Lực Gia Đình
  • Giải Pháp Giảm Tỷ Lệ Sinh Con Thứ Ba Trở Lên Và Chênh Lệch Giới Tính Khi Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Giải Pháp Nhằm Duy Trì Và Giảm Tỷ Lệ Sinh Con Thứ 3
  • Cần Có Biện Pháp Mạnh Giảm Tỷ Lệ Sinh Con Thứ Ba
  • Cần Có Giải Pháp Giảm Tỷ Lệ Sinh Con Thứ 3
  • Giải Pháp Thiết Thực Giảm Tỷ Lệ Sinh Con Thứ Ba Ở Trà Bồng
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Giảm Tỷ Lệ Sinh Con Thứ 3 Ở Kon Tum
  • Giải pháp giảm tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên và chênh lệch giới tính khi sinh

    “Năm 2022 giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên xuống còn 7,5%, đến năm 2022 giảm còn 6% và giảm chênh lệch giới tính khi sinh xuống còn 115 nam/100 nữ vào năm 2022, đến 2022 tỷ số này là 113 nam/100 nữ” là mục tiêu trong Chiến lược Dân số – Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 – 2022 của tỉnh ta. Tuy nhiên, đến năm 2022 cả 2 mục tiêu trên đã không đạt được và đến nay, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên có xu hướng tăng, tỷ số chênh lệch giới tính khi sinh đang ở mức “báo động đỏ” với mức trên 118 nam/100 nữ. Vậy giải pháp nào để đến năm 2022 tỉnh ta đạt được kết quả như mục tiêu Chiến lược đã đề ra, góp phần ổn định quy mô dân số?

    Bài 1: Gia tăng tình trạng sinh con thứ 3

    Theo số liệu thống kê của Chi cục Dân số – KHHGĐ tỉnh, những năm gần đây, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên có chiều hướng gia tăng, nhất là từ năm 2022 trở lại đây. Nếu như năm 2010, năm trước khi tỉnh ta ban hành Chiến lược Dân số – Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 – 2022, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của Hưng Yên là 8,4% thì năm 2022, tỷ lệ này tăng lên 14,2% và đến năm 2022, tỷ lệ trên tiếp tục tăng cao, lên 18,2%. Còn trong 4 tháng đầu năm nay, số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên chiếm khoảng 19% so với tổng số trẻ mới sinh.

    Một giờ học của học sinh Trường mầm non 19.5 (thành phố Hưng Yên)

    Nhìn nhận về vấn đề này, ông Dương Văn Dũng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình tỉnh cho biết: “Đã nhiều năm gắn bó với công tác dân số, qua những buổi công tác thực tế tại cơ sở, tôi nhận thấy hiện có không ít trường hợp kinh tế gia đình khá giả, họ muốn đông con, đông cháu nên sinh con thứ ba, thứ tư, một số ít cặp vợ chồng do nhỡ kế hoạch nên quyết định để sinh. Nhưng nguyên nhân gốc rễ dẫn đến tình trạng sinh con thứ 3 ngày một gia tăng ở tỉnh ta vẫn do tư tưởng trọng nam hơn nữ, tâm lý phải có bằng được con trai để nối dõi tông đường. Gia đình anh Nguyễn Văn P. ở xã Dị Chế (Tiên Lữ) vì “khát” con trai nên đã sinh tới 7 đứa con. Khi được hỏi lý do khiến gia đình sinh nhiều con, anh P. tâm sự: “Cũng vì sự trọng nam khinh nữ của không ít người trong gia đình, họ hàng, làng xóm nên vợ chồng tôi phải cố để sinh bằng được đứa con trai. Giờ thì tôi thấm thía rõ sự khó khăn, cơ cực khi nhà đông con…”.

    Tìm hiểu chúng tôi nhận thấy, tình trạng sinh con thứ 3 diễn ra tại hầu hết các địa phương trong tỉnh. Đối tượng sinh con thứ 3 ở đủ các thành phần như nông dân, công nhân lao động, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Có không ít đảng viên chưa gương mẫu, đã vi phạm chính sách dân số trong việc sinh con thứ 3, thậm chí có đảng viên sinh tới 4 con…

    Theo số liệu tổng hợp của Chi cục Dân số – KHHGĐ, năm 2022, trong tổng số 17.098 trẻ mới sinh của toàn tỉnh thì có tới 3.106 trường hợp sinh con thứ ba trở lên, chiếm tỷ lệ 18,2%, trong đó có 154 trường hợp sinh con thứ 3 trở lên là đảng viên. Tình trạng này cho thấy sự chấp hành chủ trương, chính sách dân số của Đảng và Nhà nước đối với một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thực sự nghiêm túc. Theo số liệu tổng hợp của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, trong tổng số 373 đảng viên vi phạm bị cấp ủy các cấp và chi bộ thi hành kỷ luật trong năm 2022 thì có tới 203 trường hợp bị kỷ luật vì vi phạm chính sách dân số – KHHGĐ.

    Có thể khẳng định, việc gia tăng tình trạng sinh con thứ 3 trên địa bàn tỉnh đã tạo áp lực lớn đến đời sống xã hội. Bởi qua số liệu cho thấy số trẻ sinh ra là con thứ 3 phần đông là bé trai, chính vì vậy đã trực tiếp làm gia tăng tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Do đó rất cần sự vào cuộc tích cực của không chỉ riêng ngành dân số mà cần sự chung tay, góp sức của các cấp, các ngành để nâng cao nhận thức cho mọi người dân chấp hành tốt các quy định về chính sách dân số – KHHGĐ. Bên cạnh đó, cần có sự cam kết mạnh mẽ của các cơ quan, ban, ngành trong hệ thống chính trị, đặc biệt là vai trò gương mẫu tự giác chấp hành của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Các cơ quan, đơn vị có đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức sinh con thứ 3 trở lên cần xử lý nghiêm theo quy định. Qua đó góp phần giảm dần tình trạng sinh con thứ 3 trở lên, để phấn đấu đến năm 2022 đạt được mục tiêu giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên còn 6% như Chiến lược dân số sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 – 2022 của tỉnh đã đề ra.

    Nhiều năm gần đây, tỷ số chênh lệch giới tính khi sinh ở tỉnh ta thuộc nhóm cao trong cả nước với sự dao động từ 118 nam đến trên 120 nam/100 nữ. Thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh này cũng được đánh giá rõ trong Kế hoạch số 90-KH/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về “Thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25.10.2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới”. Điều đó thực sự đang gióng lên hồi chuông cảnh báo vì sự mất cân bằng giới tính nghiêm trọng khi lứa tuổi này bước vào tuổi trưởng thành ở tỉnh ta.

    Bài 2: Mất cân bằng giới tính – thực trạng và những hệ lụy

    Nhiều năm gần đây, tỷ số chênh lệch giới tính khi sinh ở tỉnh ta thuộc nhóm cao trong cả nước với sự dao động từ 118 nam đến trên 120 nam/100 nữ. Thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh này cũng được đánh giá rõ trong Kế hoạch số 90-KH/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về “Thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25.10.2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới”. Điều đó thực sự đang gióng lên hồi chuông cảnh báo vì sự mất cân bằng giới tính nghiêm trọng khi lứa tuổi này bước vào tuổi trưởng thành ở tỉnh ta.

    “Báo động đỏ” tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

    Năm 2009, tỷ số chênh lệch giới tính khi sinh ở tỉnh ta là 133 nam/100 nữ. Thời điểm đó, tỉnh ta có mức chênh lệch giới tính khi sinh cao nhất cả nước và bị cảnh báo ở mức rất nghiêm trọng. Với nhiều giải pháp được triển khai như đẩy mạnh công tác truyền thông, triển khai đề án, thành lập các câu lạc bộ về dân số nhằm lồng ghép tuyên truyền về hệ lụy khi chênh lệch giới tính giữa nam và nữ… Nhờ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện nên tỷ số đó dần giảm về mức 116 nam/100 nữ vào năm 2013. Tuy nhiên, từ năm 2014 trở lại đây, sự chênh lệch giới tính giữa nam và nữ khi sinh lại tiếp tục tăng. Cụ thể, năm 2014 tổng số trẻ sinh trong toàn tỉnh là 17.772, trong đó có trên 9.600 trẻ là nam giới, nữ giới là trên 8.100 trẻ, tỷ số giới tính khi sinh là 118 nam/100 nữ. Năm 2022, tỷ số giới tính khi sinh tăng lên mức trên 120 nam/100 nữ; năm 2022, tỷ số đó là 118,6 nam/100 nữ. 3 tháng đầu năm nay, toàn tỉnh có 3.080 trẻ được sinh ra thì có tới 1.718 trẻ em nam, số trẻ em nữ là 1.362, tỷ số giới tính là 126 nam/100 nữ. Một số huyện như Văn Lâm, Yên Mỹ, Văn Giang, thành phố Hưng Yên… không chỉ có tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên tăng cao mà nhiều năm nay tỷ số giới tính khi sinh đều vượt trên 120 nam/100 nữ.

    Tư vấn, tuyên truyền các chính sách dân số cho người dân ở xã Minh Tân (Phù Cừ)

    Năm 2022, huyện Khoái Châu là địa phương có sự chênh lệch giới tính khi sinh cao nhất tỉnh với mức 126 nam/100 nữ. Một số xã có sự chênh lệch giới tính khi sinh ở mức “báo động đỏ” như: Tân Châu với mức 180 nam/100 nữ; Đại Hưng 179 nam/100 nữ; các xã Dân Tiến; Đông Tảo, Việt Hòa đều vượt trên 150 nam/100 nữ. Một số huyện khác như Yên Mỹ, Văn Giang tỷ số giới tính khi sinh đều vượt mức 123 nam/100 nữ, 5 tháng đầu năm tỷ số này là 141 nam/100 nữ…

    Những hệ lụy khi mất cân bằng giới tính

    Theo Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam (UNFPA), tỷ số giới tính khi sinh được tính bằng số trẻ em sinh là trai/100 bé gái. Chỉ số này được coi bình thường khi dao động trong khoảng từ 103 đến 107 nam/100 nữ. Duy trì chỉ số này trong giới hạn trên sẽ bảo đảm sự cân bằng trong phát triển tự nhiên và xã hội của một quốc gia, địa phương. Còn khi nhiều bé trai được sinh ra so với bé gái (cao hơn tỷ số bình thường trong một thời gian dài) thì đó là dấu hiệu của lựa chọn giới tính.

    So sánh chỉ số nghiên cứu của các nhà khoa học đã chỉ ra thì tỉnh ta đang ở ngưỡng “báo động đỏ” về mất cân bằng giới tính khi sinh. Bởi từ năm 2009 đến nay, sự chênh lệch giới tính của tỉnh ta luôn cao hơn nhiều so với tỷ số được cho là phù hợp với tự nhiên.

    Những hệ lụy mà các nhà khoa học cảnh báo là tình trạng thiếu hụt số trẻ em gái gần đây sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt phụ nữ ở tất cả các nhóm tuổi trong tương lai. Tác động chính của hiện tượng thừa nam, thiếu nữ sẽ làm biến đổi chỉ số nhân khẩu học, do đó tác động tới cấu trúc gia đình, một tỷ lệ nam giới khá lớn ở tuổi trưởng thành đối mặt với những khó khăn nghiêm trọng khi tìm kiếm bạn đời. Điều đó có thể dẫn tới gia tăng tệ nạn xã hội về buôn bán trẻ em nữ, bất bình đẳng giữa nam và nữ; việc lựa chọn giới tính thai nhi dẫn đến bỏ thai sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe, khả năng sinh sản của phụ nữ… Những điều đó sẽ trở thành gánh nặng lớn cho các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

    Cũng giống như nguyên nhân dẫn đến tình trạng sinh con thứ ba trở lên, quan niệm phải có con trai để “nối dõi tông đường” đã gây áp lực cho các cặp vợ chồng phải dùng mọi biện pháp để có con trai. Không ít cặp vợ chồng đã nhờ bác sỹ tư vấn, hướng dẫn về chế độ ăn uống, sinh hoạt, uống thuốc… Có trường hợp tiếp tục đẻ đến con thứ ba, thứ tư. Nhưng theo tìm hiểu thì việc lựa chọn giới tính qua phương pháp siêu âm để loại bỏ thai nhi nếu biết đó là giới tính nữ còn diễn ra phổ biến.

    Theo quy định, hành vi siêu âm chẩn đoán giới tính thai nhi bị cấm nhưng hầu như thai phụ khi được hỏi đều biết giới tính con mình trước khi sinh. Biết giới tính thai nhi từ trong bụng mẹ sẽ là bình thường, nhưng với gia đình “khát” con trai, việc biết trước giới tính sẽ kéo theo nhiều hệ lụy. Nếu thai nhi là gái, người phụ nữ sẽ chịu áp lực từ gia đình trong việc bỏ thai nhi để đợi cơ hội đẻ bằng được con trai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thành Phố Phúc Yên Nỗ Lực Thực Hiện Các Giải Pháp Giảm Tỷ Lệ Sinh Con Thứ 3 Trở Lên
  • Tìm Giải Pháp Giảm Sinh Con Thứ Ba
  • Thực Trạng Và Phương Pháp Giảm Thất Nghiệp Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Thực Trạng Ly Hôn Và Một Số Giải Pháp Hạn Chế Ly Hôn Tại Địa Phương Nơi Thực Tập
  • Thực Trạng Ly Hôn Và Đề Xuất Một Số Giải Pháp Nhằm Hạn Chế Ly Hôn Trên Địa Bàn Thành Phố Bắc Giang
  • Chênh Lệch Chỉ 500 Nghìn Đồng, Iphone 11 Hay Iphone Xs Max Mới Là

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Tìm Iphone Trên Web
  • 9 Tính Năng Đỉnh Trên Iphone X Đáng Giá Cả “nghìn Đô”
  • Nên Mua Iphone 11 Pro, Iphone 11 Pro Max Bộ Nhớ Trong Bao Nhiêu?
  • Thả Rơi Galaxy Note20 Ultra Và Iphone 11 Pro Max: ‘bom Tấn’ Của Samsung Hay Apple Bền Hơn?
  • Cách Chụp Ảnh Đẹp Trên Iphone 11, Iphone 11 Pro, Và Iphone 11 Pro Max
  • và đều là những siêu phẩm đến từ Apple được nhiều người dùng quan tâm. Hai thiết bị này thuộc 2 phân khúc khác nhau, nếu Xs Max là biến thể cao cấp nhất của “nhà Táo” trong năm 2022 thì iPhone 11 chỉ là chiếc smartphone “giá rẻ” của hãng vào năm ngoái.

    Thiết kế: Đều rất thời thượng, sang trọng

    Cùng một nhà cung cấp và thời điểm ra mắt chỉ cách nhau 1 năm nên cả 2 model này sở hữu ngôn ngữ thiết kế gần như giống hệt nhau, chỉ khác biệt ở một vài chi tiết nhỏ. Phần khung kim loại cao cấp và mặt kính cường lực là trang bị không thể thiếu. Tuy nhiên, nếu Xs Max được hoàn thiện với khung thép sang trọng, đẳng cấp thì iPhone 11 chính hãng sở hữu khung nhôm. Chất liệu nhôm mang đến vẻ ngoài không quá hào nhoáng, bóng bẩy nhưng có độ bền cao, chắc chắn và hạn chế tình trạng trầy xước khi sử dụng.

    Tiếp theo, về các phiên bản màu sắc, iPhone 11 chiếm lợi thế vượt trội với bảng màu phong phú bao gồm: Trắng, Đen, Xanh, Vàng, Tím, Đỏ. Đặc biệt, Xanh Mint và Tím Pastel đang là hai bản màu “mơ mộng” được nhiều “cô nàng” ưa chuộng nhất hiện nay. Sự đa dạng trong màu sắc giúp iPhone 11 tiếp cận với sở thích khác nhau của nhiều đối tượng người dùng.

    Ngược lại, sản xuất với mục đích hướng đến đối tượng người dùng cao cấp hơn nên ngoài 2 màu Đen, Trắng truyền thống, Apple chỉ bổ sung thêm màu Vàng Gold cho Xs Max. Và thực tế đã chứng minh quyết định của hãng là hoàn toàn đúng đắn, Xs Max Vàng Gold đang là biến thể có doanh số bán ra cao nhất trên thị trường hiện nay, phù hợp với cả các đối tượng người dùng nam và nữ.

    Nói tóm lại, về phương diện thiết kế, iPhone 11 và Xs Max đều có những ưu nhược điểm riêng nhưng nhìn chung đều rất hoàn hảo. Nếu Xs thiên về sự sang trọng, thanh lịch thì iPhone 11 lại mang đến cảm giác năng động, trẻ trung và cá tính hơn.

    Màn hình: Cuộc chiến giữa OLED và LCD

    Kích thước hiển thị cũng có sự chênh lệch lớn. 6.5 inch là màn hình lớn nhất của Apple tính đến thời điểm hiện tại và chúng được trang bị cho Xs Max. Chúng lớn hơn hẳn so với màn hình 6.1 inch trên iPhone 11.

    Chênh lệch kích thước màn hình giữa iPhone Xs Max (trái) và iPhone 11 (phải)

    Nếu bạn có thể dễ dàng thực hiện mọi tác vụ trên một màn hình lớn, Xs Max là lựa chọn mang đến không gian trải nghiệm rất tốt. Ngược lại, màn hình 6.1 inch trên iPhone 11 cũng rất lớn, nó đủ khả năng đáp ứng được những nhu cầu sử dụng thường ngày.

    Màn hình LCD không tệ nhưng nếu so sánh với những biến thể cao cấp sở hữu màn hình OLED, chúng lại trở thành điểm yếu lớn nhất của iPhone 11. Nếu bạn chú trọng đến chất lượng hiển thị màn hình, Xs Max tất nhiên là lựa chọn hoản hảo. Ngược lại, nếu muốn hình ảnh hiển thị dịu mắt và dễ nhìn hơn, iPhone 11 sẽ đảm bảo sức khỏe thị giác cho bạn khi sử dụng trong thời gian dài.

    Camera: Đều là ống kính kép, lợi thế đến từ chức năng

    Ống kính tele trên Xs Max được sử dụng trong những tấm ảnh chụp chân dung, mang đến hiệu ứng xóa phông rất tốt. Ngược lại, ống kính góc siêu rộng trên iPhone 11 không những có thể chụp được những tấm ảnh với góc nhìn cực lớn, ngang ngửa với tầm mắt của con người, mà còn được sử dụng để quay video đạt tiêu chuẩn cinematic với chất lượng thu âm tốt hơn.

    Nhu cầu chụp ảnh thường ngày của bạn sẽ quyết định sự lựa chọn trên phương diện này. Nếu thường xuyên đi du lịch, chụp ảnh phong cảnh thiên nhiên, chụp ảnh tập thể hoặc làm những công việc sáng tạo nội dung như Vlogger, Youtuber, iPhone 11 sẽ làm hai lòng bạn. Ngược lại, chế độ chụp chân dung kèm tính năng xóa phông sẽ giúp bạn có những tấm ảnh chụp cận cảnh nổi bật hơn.

    Bên cạnh đó, tối ưu phần mềm và chế độ chụp đêm Night Mode cũng là lợi thế của iPhone 11. Night Mode là chế độ chụp ảnh mới của iPhone 11. Nó sử dụng nhiều thuật toán và thời gian phơi sáng nhiều hơn để có được những tấm ảnh ấn tượng trong điều kiện thiếu sáng.

    So sánh ảnh chụp tối giữa iPhone 11 và iPhone Xs Max

    Hiệu năng: Cuộc chiến giữa bộ chip 2022 và 2022

    Chỉ vừa ra mắt năm ngoái nên iPhone 11 là chiếc điện thoại vượt trội hơn về mặt hiệu năng. Thiết bị được tích hợp bộ chip A13 Bionic trong khi Xs Max là A12 Bionic. Cả hai máy đều mang đến tốc độ xử lý mạnh mẽ và iPhone 11 có phần nhỉnh hơn.

    Chênh lệch hiệu năng giữa 2 thiết bị đến từ bộ chip A12 và A13 Bionic

    Thử nghiệm thực tế cho thấy, chip A13 Bionic có thể hoạt động nhanh hơn A12 Bionic khoảng 20%. Do đó, nếu bạn muốn chọn một chiếc điện thoại đủ mạnh mẽ để chơi game và sử dụng các phần mềm, ứng dụng nặng, iPhone 11 là lựa chọn đáng tiền hơn.

    Bên cạnh đó, iPhone 11 cũng là thiết bị được hỗ trợ cập nhật phần mềm dài hạn hơn. Xs Max có thể kết thúc chu kỳ ở iOS 16 nhưng iPhone 11 có thể hỗ trợ đến iOS 17 hoặc thậm chí là iOS 18.

    Chênh lệch chỉ từ 500.000 đồng, nên chọn iPhone Xs Max hay iPhone 11?

    iPhone 11 thích hợp với người dùng trẻ tuổi năng động, yêu thích khám phá, phiêu lưu và sự nổi bật. Bên cạnh đó, bạn có thể chọn phiên bản iPhone 11 2 sim để sử dụng được nhiều nhà mạng hơn. Trong khi đó, Xs Max là lựa chọn đẳng cấp cho người trưởng thành. Bên cạnh đó, nếu bạn muốn sử dụng lâu dài, tất nhiên, iPhone 11 là lựa chọn đáng giá hơn. Tuy nhiên, màn hình rực rỡ trên Xs Max sẽ mang đến những trải nghiệm trọn vẹn hơn khi sử dụng.

    Hiện tại, iPhone 11 và iPhone Xs Max đều đang có sẵn hàng tại Di Động Mới. Bạn có thể liên hệ trực tiếp vào Hotline 0931.391.333 hoặc đến trực tiếp cửa hàng tại 399 Hoàng Văn Thụ phường 2 quận Tân Bình để trải nghiệm các tính năng trên cả 2 máy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 10 Tính Năng Ẩn Cực Hay Trên Iphone Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Chức Năng Tuyệt Hay Trên Iphone 6
  • Iphone 11 Pro Max Có Mấy Màu? Màu Nào Yêu Thích Nhất Hiện Nay?
  • Hộp Iphone 11 Mới, Không Kèm Củ Sạc Về Việt Nam
  • Tính Năng Sạc Nhanh Của Iphone Thế Hệ Mới “bá Đạo” Ra Sao?
  • Hiến Kế Phát Triển Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Viên Vùng Cao Chia Sẻ Thực Trạng Công Tác Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Phát Triển Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Chương 3 Đề Xuất Một Số Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Song Ngữ Vùng Dân Tộc Thiểu Số Tỉnh Quảng Bình
  • Bàn Về Giải Pháp Đẩy Mạnh Phát Triển Kinh Tế
  • Nâng Chất Lượng Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Nhờ có các chính sách hỗ trợ giáo dục, trẻ em DTTS và miền núi đến tuổi đi học đều được đến trường (Ảnh: chúng tôi

    Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm khuyến khích, hỗ trợ GD&ĐT ở vùng DTTS. Với sự quan tâm này, giáo dục không chỉ góp phần nâng cao mặt bằng dân trí, mà còn tạo dựng lên nhiều thế hệ thanh niên DTTS có tri thức, tự tin trong lao động, sản xuất; là những nhân tố tích cực trong tạo việc làm xóa đói, giảm nghèo…

    Tuy nhiên, chính sách không thiếu, nhưng đến nay, GD&ĐT vùng DTTS và miền núi vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế như: Mạng lưới trường lớp, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, đặc biệt ở một số trường chuyên biệt. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục nhiều nơi còn thiếu và yếu… Đến nay, mặc dù đã thực hiện được nhiều năm nhưng một số chế độ, chính sách đối với học sinh trường phổ thông DTNT, trường Dự bị Đại học và sinh viên DTTS đã lạc hậu chưa được sửa đổi hoặc ban hành mới. Ví dụ: Các chế độ trợ cấp xã hội, cấp kinh phí hỗ trợ học tập cho học sinh người DTTS ở miền núi, vùng sâu, vùng xa; học sinh DTTS thuộc hộ nghèo.

    Trước những tồn tại trên, các đại biểu tham dự hội thảo đã đóng góp ý kiến với mong muốn hoạt động GD&ĐT vùng DTTS và miền núi sẽ được quan tâm hơn và đạt hiệu quả cao hơn. Ông Lô Thanh Nhất – Phó Chủ tịch UBND huyện Tương Dương (Nghệ An) cho biết: “Từ khi có mô hình bán trú cấp mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, chất lượng giáo dục được nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên, ở bậc THPT lại không có trường nội trú, nhiều học sinh phải thuê nhà trọ bên ngoài. Điều này dẫn đến nhiều hệ lụy: Khó khăn trong cuộc sống, bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội, bỏ học, một số học sinh phải bỏ học do lỡ mang thai…”. Từ thực tiễn đó, ông Lô Thanh Nhất kiến nghị tổ chức lại hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú cấp huyện.

    Ông Ma Ly Phước – Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Bình Phước thì cho rằng, cần quan tâm đào tạo hệ sư phạm mầm non ở các vùng DTTS và miền núi vì đây là nền tảng cho các em học tiếng Việt. Ngoài ra, chính sách cử tuyển nên tiếp tục thực hiện nhưng điều chỉnh lại điều kiện được cử tuyển và không nên quy định quá cứng nhắc, bắt buộc các em ra trường phải bố trí việc làm tại địa phương.

    Bên cạnh đó, một số đại biểu cũng kiến nghị xem xét lại chính sách hỗ trợ gạo cho học sinh miền núi, vì số gạo hỗ trợ chỉ về đến trung tâm huyện, từ huyện học sinh phải thuê xe vận chuyển về nhà rất tốn kém, đường sá đi lại khó khăn, nguy hiểm trong mùa mưa. Nhiều học sinh khi vận chuyển gạo về đến nơi thì không dùng được nữa do hư hỏng, ẩm mốc. Học sinh một số dân tộc thường ăn lúa nếp không quen ăn cơm tẻ, nên có tình trạng một số em mang gạo đi bán rẻ.

    Về vấn đề có nên duy trì mô hình trường PTDT nội trú, bán trú hay không? Đa phần các đại biểu cho rằng, cần duy trì nhưng cần đặt các trường ở trung tâm các tỉnh, thành phố để tạo điều kiện cho học sinh DTTS có cơ hội hòa nhập với đời sống xã hội tốt hơn.

    Trên cơ sở các ý kiến, kiến nghị, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cho biết, trong thời gian tới, ngành giáo dục sẽ tập trung thực hiện 3 nhóm giải pháp cụ thể: Một là các chính sách chung đối với giáo dục, đào tạo vùng DTTS và miền núi. Hai là duy trì và thực hiện có hiệu quả mô hình giáo dục trường bán trú và nội trú, trong đó chú trọng củng cố điều kiện tốt hơn về sinh hoạt, chế độ và phương thức giáo dục. Ba là duy trì chế độ cử tuyển nhưng phải trên cơ sở điều chỉnh lại tiêu chí tuyển chọn, phương thức đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực sau đào tạo.

    Nguồn: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Công Tác Phát Triển Giáo Dục Ở Vùng Dân Tộc Thiểu Số Hiện Nay
  • Các Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Giáo Viên Tiểu Học Ở Quận 5 Tp Hồ Chí Minh Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học Giáo Dục
  • Báo Cáo Kết Quả Công Tác Đấu Tranh Phòng, Chống Âm Mưu “diễn Biến Hòa Bình” Trên Lĩnh Vực Tư Tưởng Văn Hóa 9 Tháng Đầu Năm 2014
  • Quân Đội Đẩy Mạnh Phòng, Chống “diễn Biến Hòa Bình” Trên Không Gian Mạng
  • Đấu Tranh Phòng, Chống Âm Mưu “diễn Biến Hòa Bình” Và Những Biểu Hiện “tự Diễn Biến”, “tự Chuyển Hóa” Trên Lĩnh Vực Văn Hóa Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Thúc Đẩy Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Gắn Với Giảm Nghèo Bền Vững Vùng Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi Tỉnh Yên Bái

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Các Giải Pháp Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Bền Vững
  • Tại Sao Phải Bảo Vệ Rừng? Dùng Các Biện Pháp Nào Để Bảo Vệ Rừng?
  • Một Số Giải Pháp Bảo Vệ Rừng
  • Chủ Động Triển Khai Các Biện Pháp Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng
  • Trình Bày Sự Suy Giảm Tài Nguyên Rừng?trình Bày Sự Suy Giảm Tài Nguyên Rừng Và Hiện Trang Rừng Cùng Với Các Biện Pháp Bảo Vệ Tài Nguyên Rừng Ở Nước Ta ?
  • Người dân xã Bản Mù, huyện Trạm Tấu phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2022

    Hiện nay, hầu hết hộ gia đình và cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng dân tộc và miền núi gặp rất nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao vẫn sống dựa vào rừng, một số nơi rừng vẫn tiếp tục bị tàn phá để lấy đất sản xuất nông nghiệp. Cơ chế, chính sách hỗ trợ bảo vệ và phát triển rừng và xóa đói, giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc còn hạn chế, nguồn lực phân tán và chưa đủ mạnh để tạo nguồn thu nhập ổn định giúp người dân yên tâm bảo vệ và phát triển rừng và sống được bằng nghề rừng.

    Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng nhiều nơi còn mang tính hình thức, thiếu hiệu quả, nhất là các vùng sâu, vùng xa, vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Do trình độ dân trí thấp, tình trạng người dân không biết chữ, không thông thạo tiếng phổ thông ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn khá phổ biến, do ảnh hưởng của phong tục tập quán lạc hậu của đồng bào, mặt khác đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền trong vùng dân tộc còn thiếu và còn yếu cả về kiến thức và kỹ năng truyền đạt, chưa am hiểu phong tục của đồng bào và do bất đồng ngôn ngữ… các hình thức tổ chức tuyên truyền nhiều khi còn cứng nhắc, không thu hút được sự quan tâm của đồng bào. Chỉ một bộ phận nhỏ đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là đàn ông và thanh niên trẻ có thể hiểu được các điều quy định về quyền lợi và trách nhiệm của người được nhận sổ đỏ đối với diện tích đất, rừng được giao.Vì vậy, dẫn tới nhận thức chưa đầy đủ về chính sách, pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, gặp khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.

    Định mức hỗ trợ người dân bảo vệ rừng hiện nay vẫn đang ở mức thấp thấp. Mức chi trả tiền khoán bảo vệ rừng trung bình là 400 nghìn đồng/ha/năm. Bắt đầu từ năm 2010, bên cạnh khoản tiền hỗ trợ khoán bảo vệ rừng, những người tham gia khoán bảo vệ rừng được nhận thêm tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. Ngoài khoản tiền mặt hỗ trợ khoán bảo vệ rừng, người dân được phép thu hái một số lâm sản phụ, lâm sản ngoài gỗ và lâm sản tỉa thưa trong giới hạn quy định. Với mức hỗ trợ từ 200.000 – 400.000 đồng/ha/năm, mỗi hộ gia đình khi nhận khoán rừng có thể thu được tối đa 12 triệu đồng từ khoán bảo vệ rừng, chưa kể nguồn thu từ lâm sản phụ và lâm sản ngoài gỗ. Trong khi đó, theo thống kê tại Quyết định số 3322/QĐ-BNN-TCLN ngày 28/7/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hiện trạng rừng toàn quốc, hiện quỹ đất lâm nghiệp do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý là gần 2,3 triệu ha, nếu chia cho 22 triệu người dân tộc thiểu số đang sinh sống thì được khoảng 1,2 ha/người. Với mức khoán như hiện nay mỗi năm mức hưởng lợi từ rừng của người dân cao nhất cũng chỉ đạt khoảng ba đến bốn triệu đồng.

    Nguyên nhân chủ yếu là cơ chế, chính sách hỗ trợ bảo vệ và phát triển rừng và xóa đói, giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc còn hạn chế, nguồn lực phân tán và chưa đủ mạnh để tạo nguồn thu nhập ổn định giúp người dân yên tâm bảo vệ và phát triển rừng và sống được bằng nghề rừng. Luật vẫn đang thiếu quy định về vai trò bảo vệ rừng của đồng bào dân tộc thiểu số. Điều này có ảnh hưởng không nhỏ trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Công tác quản lý rừng dựa vào cộng đồng chưa hiệu quả. Chưa có quy ước quản lý, bảo vệ rừng và mức chi trả tiền công cho người dân bảo vệ rừng thấp nên chưa thu hút được sự tham gia của người dân vào công tác bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa được triển khai rộng rãi, thường xuyên đến người dân nên họ chưa thực sự có ý thức trong việc bảo vệ và phát triển rừng nói chung.

    Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng gắn với giảm nghèo bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi, việc xác định những nguyên nhân, khó khăn và đề xuất các giải pháp chi tiết, cụ thể sẽ giúp tỉnh Yên Bái tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo cho khu vực nông thôn miền núi, vùng đồng bào dân tộc và thúc đẩy sản xuất lâm nghiệp hiệu quả:

    Trong công tác bảo vệ rừng, phục hồi rừng cũng có vai trò không nhỏ của đồng bào dân tộc thiểu số, những người trực tiếp tham gia trồng rừng, sản xuất lâm nghiệp. Những chủ rừng, người dân, hộ dân, những tổ chức, đơn vị được nhà nước giao đất trồng rừng phải có trách nhiệm, gắn với đó là chính sách bảo vệ, phát triển. Hàng năm, cần có kế hoạch trồng bao nhiêu hecta rừng, xác định cụ thể, trồng chỗ nào, giao cho chính quyền địa phương phải có trách nhiệm trồng rừng, giám sát. Việc cần thiết là chính sách của Nhà nước để bảo vệ, phát triển rừng gắn với giảm nghèo bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải cụ thể, rõ ràng để người dân ở rừng sống được nhờ rừng, không phá rừng thì công tác bảo vệ rừng và phát triển rừng mới thực sự đạt hiệu quả.

    Giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng:

    Xây dựng lực lượng kiểm lâm đủ mạnh để thực thi hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Cần rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, khắc phục sự chồng chéo, bảo đảm tính đồng bộ, hiệu quả, khả thi; thực hiện các chính sách về chi trả dịch vụ môi trường rừng. Gắn mục tiêu bảo vệ, phát triển rừng với hỗ trợ phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập, bảo đảm đời sống, việc làm, an sinh xã hội cho người dân địa phương, đồng bào dân tộc miền núi, biên giới, nhất là cho người dân làm nghề rừng. Đẩy mạnh xã hội hoá, có cơ chế, khuyến khích, tạo thuận lợi cho người dân và các thành phần kinh tế cùng tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.

    Tăng cường sự phối hợp hiệu quả giữa các bộ, ngành trung ương và địa phương để thực hiện quyết liệt, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, thiết lập trật tự, kỷ cương trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Chủ động, nâng cao năng lực, xử lý kịp thời, hiệu quả công tác phòng, chống cháy, chữa cháy và sạt lở đất rừng để hạn chế thấp nhất số vụ cháy rừng và thiệt hại do cháy rừng. Quản lý chặt chẽ tình trạng dân di cư tự do tại cả nơi đi và nơi đến.

    Giải pháp trong tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật:

    Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, quản lý của cấp uỷ đảng, chính quyền đối với các loại hình tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật. Đây vừa là vấn đề nguyên tắc vừa là khâu then chốt để nâng cao chất lượng, hiệu quả các hình thức phổ biến giáo dục pháp luật về công tác bảo vệ rừng. Cấp uỷ Đảng, chính quyền cần xây dựng kế hoạch cho công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật trong mỗi hoạt động của địa phương, hình thành hệ thống chân rết tại các cụm dân cư, thôn, bản.

    Thứ hai, trong công tác thực hiện tuyên truyền, phổ biến pháp luật quản lý bảo vệ rừng nói riêng, cán bộ kiểm lâm phải thường xuyên bám sát cơ sở chính quyền để lồng ghép đăng ký thời lượng cho mình tuyên truyền phổ biến pháp luật bảo vệ rừng ở cơ sở, tuyên truyền phổ biến pháp luật phải gắn với phong tục tập quán thôn, bản, với đời sống của nhân dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tây Nguyên: Giải Pháp Phát Triển Và Tạo Sinh Kế Bền Vững Từ Rừng
  • Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Bền Vững
  • Triển Khai Đồng Bộ Các Giải Pháp Bảo Vệ, Phát Triển Rừng Bền Vững
  • Giải Bài Tập Sinh Học 9 Bài 60. Bảo Vệ Đa Dạng Các Hệ Sinh Thái
  • Bài 60. Bảo Vệ Đa Dạng Các Hệ Sinh Thái
  • Toàn Cầu Hóa Chênh Lệch Giàu Nghèo

    --- Bài mới hơn ---

  • Cần Chuyển Dịch Lao Động Nông Thôn Ra Thành Thị
  • Giải Pháp Hỗ Trợ Giảm Cân Cao Cấp Enzylim
  • Giảm Cân Cao Cấp Enzylim Đột Phá Công Nghệ Mới Giảm Nhanh 7Kg
  • Review Giảm Cân Enzylim Là Gì? Giảm Cân Enzylim Có Tốt Không?
  • Cắt Giảm, Kiểm Soát Chi Phí Trong Doanh Nghiệp: Yếu Tố Quyết Định Đến Hiệu Quả Sản Xuất Kinh Doanh
  • Trên các phương tiện thông tin đại chúng, không chỉ ở Việt Nam mà hầu như trên toàn thế giới, người ta nói rất nhiều về sự nghèo đói và hiện tượng chênh lệch giàu nghèo. Tuy nhiên, ở đây có một điểm cần làm rõ, đó là phải phân biệt sự nghèo đối với khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, sự nghèo đói và chênh lệch giàu nghèo với nhận thức về chúng. Cần phải khẳng định rằng toàn cầu hóa chỉ làm cho sự nghèo đói xuất hiện và được chú ý hơn, chứ không phải làm cho người ta nghèo đói hơn. Trước đây, khi tất cả mọi người đều nghèo đói, nhất là trong một thế giới ít thông tin, sự nghèo đói bị chìm đi. Thế nhưng, toàn cầu hóa, với luồng thông tin thông thoáng, đã khiến người ta cảm nhận rõ ràng hơn sự nghèo đói của mình trong mối tương phản với sự giàu có của những dân tộc khác. Cũng bởi thế mà một số người vội vã đổ lỗi cho toàn cầu hóa, quên mất rằng chính nó đã, đang và sẽ đem đến cho dân tộc mình rất nhiều cơ hội phát triển.

    Toàn cầu hóa đã thổi vào các quốc gia một luồng sinh khí mới, hay ít ra, buộc các quốc gia, thêm một lần nữa, phải nhìn lại chính mình, phải xác định những mặt mạnh, mặt yếu của chính mình để tận dụng các cơ hội và đối mặt với những hiểm họa mà nó mang lại.

    Hãy nhìn lại những diễn biến gần đây của thế giới để thấy rằng, sự luân chuyển mạnh mẽ dòng vốn giữa các quốc gia, quá trình chuyển giao công nghệ sôi động cùng với sự phổ biến các tiêu chuẩn về lao động và môi trường đã giúp và buộc các quốc gia, nhất là những nước thuộc thế giới thứ ba, cải thiện bức tranh kinh tế xã hội của mình như thế nào. Toàn cầu hóa có tác động quan trọng nhất là khai thác việc sử dụng một cách hiệu quả lợi thế so sánh của các quốc gia, và hơn thế nữa, nó giúp các quốc gia phát huy những lợi thế ấy. Dường như, lý thuyết về việc khai thác chi phí nhân công rẻ đã không còn tuyệt đối đúng và giữ nguyên màu sắc nguyên thủy của nó nữa. Trước đây, khi toàn cầu hóa còn ở mức thấp, các nước giàu chỉ khai thác lao động về mặt số lượng, hay nói khác đi, họ chỉ tận dụng những lao động cơ học, thay vì tạo điều kiện để tăng cường hàm lượng chất xám của nhưng lao động ấy. Ngày nay, toàn cầu hóa buộc các quốc gia phải tăng cường chất lượng lao động cũng như tiêu chuẩn hóa lao động của mình, phải đặt vấn đề về việc sử dụng lao động tù nhân lao động trẻ em… thay vì khai thác theo kiểu bóc lột như trước đây.

    Toàn cầu hóa cũng đã làm thay đổi tư duy của mọi người về hoạt động đầu tư của các nước giàu. Trước đây, người ta nhìn nhận nó đơn thuần như một quá trình khai thác tài nguyên, mà kẻ hưởng lợi duy nhất là những nước đi đầu tư. Ngày nay, hoạt động này được công nhận như một quá trình hợp tác “win-win”, đôi bên đều có lợi. Các nước đầu tư đã, đang và sẽ tái phân phối sự giàu có của mình, giúp các nước nghèo đói khai thác và chỉ cho họ cách thức để tạo ra sự giàu có cho riêng mình. Bên cạnh đó, các nước đầu tư cũng có thể mở rộng thị trường của mình qua việc làm cho một bộ phận dân cư ở các nước nhận đầu tư trở nên giàu có hơn, và do đó, có điều kiện tiêu dùng sản phẩm của mình. Cũng nhờ thế, quá trình này phần nào giúp các nước đang phát triển giải quyết vấn đề việc làm và gia tăng những điều kiện thuận lợi để thực hiện các chương trình xoá đói giảm nghèo.

    Tuy nhiên, chúng ta cũng nên ý thức về những ảnh hưởng tiêu cực mà toàn cầu hóa mang đến. Thứ nhất, toàn cầu hóa buộc các quốc gia phải đối mặt với những nguy cơ tụt hậu, nó cũng buộc các quốc gia phải chấp nhận thay đổi, mà đôi khi là những thay đổi đau đớn. Toàn cầu hóa sẽ chỉ ra những hạn chế về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, sẽ khiến các doanh nghiệp phải tham gia vào một cuộc chơi với những luật chơi khắc nghiệt, để hoặc tận hưởng những cơ hội mà nó mang lại, hoặc chấp nhận bị phá sản. Vì thế, nó sẽ kéo theo hệ quả thất nghiệp như là nguyên nhân của sự lan tràn các tệ nạn xã hội.

    Thứ hai, toàn cầu hóa chỉ ra một cách rõ ràng sự lạc hậu của năng lực một dân tộc, năng lực doanh nghiệp và năng lực cá nhân. Hơn bất kỳ lúc nào, người ta sẽ phải đánh giá một cách sâu sắc về “tính có thể mua bán được” của những giá trị lao động của mình. Thứ ba, toàn cầu hóa cũng sẽ yêu cầu các quốc gia phải giải bài toán đánh đổi tăng trưởng về kinh tế với tính ổn định của chính trị và xã hội. Bởi nó thổi vào các quốc gia những luồng tư duy mới rất có thể gây ra những xáo trộn tạm thời. Ô nhiễm môi trường cũng là vấn đề nan giải của các quốc gia và của cả thế giới trước nhịp điệu phát triển vũ bão của khoa học công nghệ. Nhưng trên hết, dân chủ hóa đóng vai trò then chốt, bởi lẽ chỉ có dân chủ hóa mới cho phép chúng ta huy động tiềm năng sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội, hợp lý hóa đời sống kinh tế chính trị, tăng sức cạnh tranh và cuối cùng là sự phát triển bền vững.

    Cũng tương tự như vậy, chúng ta phải nhận thức lại vấn đề chênh lệch giàu nghèo. Xét về mặt xã hội học, sự chênh lệch giàu nghèo trở thành vấn đề xã hội thực sự và làm nảy sinh những vấn đề mang tính tâm lý tác động không tốt tới nhiều mặt của đời sống xã hội. Điều này thể hiện qua việc xuất hiện và tồn tại tâm lý hằn học với sự giàu có, đố kỵ với những nhà kinh doanh, ác cảm với những người thành đạt không theo quan niệm truyền thống cũ. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, người ta đổ lỗi cho kinh tế thị trường, cho toàn cầu hóa hoặc tự do thương mại, coi đó như là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng, buôn lậu, và các hành vi trục lợi hoặc tạo ra ưu thế và lợi ích cho người giàu, hạn chế và làm thiệt hại đến quyền lợi của người nghèo và là nguyên nhân khiến khoảng cách giàu nghèo ngày càng mở rộng. Tâm lý tiêu cực này nảy sinh trên cơ sở nhận thức không đúng đắn về sự chênh lệch giàu nghèo. Nhận thức lại vấn đề sẽ giúp chúng ta hình thành tâm lý xã hội đúng đắn và chỉ có như vậy mới đưa ra được những biện pháp phù hợp để xoá đói giảm nghèo tiến tới thu hẹp khoảng cách phát triển vốn là hố sâu ngăn cách giữa nhiều quốc gia, nhiều cộng đồng đang cùng sống chung dưới một mái nhà thế giới.

    Chúng ta cần nhận thức chênh lệch giàu nghèo là hiện tượng tất yếu của xã hội. Chúng ta không thể xoá bỏ được chênh lệch giàu nghèo bởi nó thể hiện kết quả của chênh lệch năng lực tự nhiên giữa các cá thể. Điều chúng ta có thể làm được là nâng cao mức sông của người nghèo thông qua việc nâng cao năng lực của chính họ. Chỉ có trên cơ sở đổi mới quan điểm như vậy chúng ta mới xây dựng được một tâm lý xã hội tích cực đối với vấn đề chênh lệch giàu nghèo. Đây cũng chính là tiền đề để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo.

    Có người đã trả lời rằng có thể. Câu chuyện này cho thấy tâm lý nóng vội muốn đốt cháy nhiều thứ để phát triển, nhưng cũng cho thấy cả sự phiến diện trong cách tư duy của chúng ta về một sự phát triển thực sự. Giàu có thịnh vượng không phải là một toà lâu đài đẹp được xây dựng chỉ sau một đêm như ước mơ của anh bạn trẻ nêu trên. Chúng ta không thể tư duy hời hợt như vậy bởi vấn đề phải được giải quyết trên quy mô quốc gia và quốc tế, trên cơ sở phối hợp các chính sách đã được phân tích và nghiên cứu thấu đáo

    Một số người chủ trương rằng để giải quyết vấn đề nghèo đói tạo lập sự bình đẳng xã hội phải thực hiện nhiều hơn nữa các giải pháp ưu đãi người nghèo thông qua các biện pháp điều tiết thu nhập của nhà nước. Những giải pháp này còn có thể áp dụng trong điều kiện hiện nay, khi Việt Nam chưa bị ràng buộc quá khắt khe bởi những hiệp ước kinh tế song phương hoặc đa phương, tức là, khi nhà nước còn có không gian đủ tự do để sử dụng nhiều biện pháp hỗ trợ sản xuất thông qua các hình thức ưu đãi cho người nghèo. Nhưng các hình thức ưu đãi như vậy không thể là giải pháp dài hạn. Về thực chất, đó chỉ là sự bố thí trên quy mô xã hội và sẽ không bao giờ cho phép chúng ta giải quyết dược cơ bản vấn đề nghèo đói. Hơn thế nữa, trong tương lai, khi tiến trình hội nhập kinh tế đạt đến quy mô và trình độ cao, nhiều hình thức ưu đãi sẽ không còn có thể áp dụng, bởi sẽ bị coi là trợ cấp thương mại, điều cấm kỵ trong xu thế tự do hóa thương mại.

    Rõ ràng, chúng ta phải đi con đường khác để tìm ra những giải pháp cơ bản có thể xoá đói giảm nghèo phù hợp với các chuẩn mực quốc tế cũng như xu hướng phát triển của thời đại.

    Theo chúng tôi, trên phương diện vĩ mô, chúng ta có thể tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau đây:

    Thứ nhất, nâng cao năng lực cho người lao động đê họ có thể cạnh tranh thắng lợi, hoặc chí ít, giúp người lao động không bị thua thiệt trong quá trình toàn cầu hóa. Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập thương mại, cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt hơn, trong khi năng lực tự nhiên của người lao động tại các nước nghèo lại nhanh chóng trở nên lạc hậu với yêu cầu của thị trường và rất dễ bị gạt ra bên lề của sự phát triển. Ngư lao động tại các nước nghèo như Việt Nam cần được nâng cao năng lực để tham gia vào quá trình hội nhập, đó mới là hạt nhân của chính sách xoá đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển. Để làm được như vậy, đổi mới giáo dục – đào tạo phải là bước đi đầu tiên và tất yếu trong chiến lược xoá đói giảm nghèo. Vấn đề không chỉ ở chỗ nhiều người nghèo không có điều kiện tiếp cận hệ thống giáo dục – đào tạo, mà còn ở chỗ hệ thống giáo dục – đào tạo hiện nay quá xa rời thực tế thị trường lao động, không đảm bảo trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Vì thế, năng lực cạnh tranh cá nhân của họ vẫn rất yếu kém, khiến họ là những người đầu tiên thua thiệt trong cạnh tranh khi quá trình hội nhập ngày càng sâu sắc.

    Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu một cách linh hoạt và thích hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong quá trình hội nhập. Cần phải nói rằng chuyển dịch cơ cấu là quá trình tất yếu xảy ra trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, chuyển dịch đến đâu, chuyển dịch như thế nào, chuyển dịch chất lượng lao động theo hướng nào là chuẩn mực quốc tế cũng như xu hướng phát triển của thời đại.

    Theo chúng tôi, trên phương diện vĩ mô, chúng ta có thể tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau đây:

    Thứ nhất, nâng cao năng lực cho người lao động để họ có thể cạnh tranh thắng lợi, hoặc chí ít, giúp người lao động không bị thua thiệt trong quá trình toàn cầu hóa. Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập thương mại, cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt hơn, trong khi năng lực tự nhiên của người lao động tại các nước nghèo lại nhanh chóng trở nên lạc hậu với yêu cầu của thị trường và rất dễ bị gạt ra bên lề của sự phát triển. Ngư lao động tại các nước nghèo như Việt Nam cần được nâng cao năng lực để tham gia vào quá trình hội nhập, đó mới là hạt nhân của chính sách xoá đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển. Để làm được như vậy, đổi mới giáo dục – đào tạo phải là bước đi đầu tiên và tất yếu trong chiến lược xoá đói giảm nghèo. Vấn đề không chỉ ở chỗ nhiều người nghèo không có điều kiện tiếp cận hệ thống giáo dục – đào tạo, mà còn ở chỗ hệ thống giáo dục – đào tạo hiện nay quá xa rời thực tế thị trường lao động, không đảm bảo trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Vì thế, năng lực cạnh tranh cá nhân của họ vẫn rất yếu kém, khiến họ là những người đầu tiên thua thiệt trong cạnh tranh khi quá trình hội nhập ngày càng sâu sắc.

    Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu một cách linh hoạt và thích hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong quá trình hội nhập. Cần phải nói rằng chuyển dịch cơ cấu là quá trình tất yếu xảy ra trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, chuyển dịch đến đâu, chuyển dịch như thế nào, chuyển dịch chất lượng lao động theo hướng nào là một vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn và nghiêm túc hơn.

    Chẳng hạn, chúng ta luôn nói về việc phát triển các làng nghề mà quên mất rằng nghề ấy, hay làng nghề ấy cho ra những sản phẩm không còn những giá trị thị trường như trước nữa, và do đó, thị trường lao động ấy cũng không nên khuyến khích nữa. Chúng ta đã bàn nhiều về chuyển dịch lĩnh vực sản xuất, nhưng do những nghiên cứu nửa vời, chúng ta lại rơi vào tình trạng chuyển từ một lĩnh vực kém hiệu quả này sang một lĩnh vực kém hiệu quả khác. Kết quả là chúng ta đã nghèo lại còn nghèo hơn, vì việc đầu tư sai hướng đã gây lãng phí cả năng lực vật chất cũng như thời gian. Bởi vậy, vấn đề chuyển dịch cơ cấu không thể thực hiện bằng mọi giá mà cần được nghiên cứu một cách khoa học để tạo ra những thay đổi tích cực và phù hợp với nhu cầu của thị trường. Trong mọi trường hợp, chúng ta không được quy quá trình chuyển dịch cơ cấu đơn thuần về các đối tượng sản xuất, mà cần phải chuyển địch cơ cấu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu quản lý và cả cơ cấu thị trường lao động. Nếu không, chuyển dịch cơ cấu có thể lại là sự thua thiệt của người nghèo và rốt cục, khoảng cách giàu nghèo không những không bị thu hẹp mà còn có nguy cơ mở rộng hơn.

    Thứ ba, phát triển nông thôn như là hạt nhân của chiến lược xoá đói giảm nghèo. Với một quốc gia mà đa số người dân sống ở nông thôn như Việt Nam, khu vực nông thôn là lĩnh vực đặc biệt quan trọng trong chiến lược xoá đói giảm nghèo. Theo những số liệu chính thức, hiện còn quá nhiều người nông dân Việt Nam có mức sống dưới đô la/ ngày. Vì thế, nông thôn là địa bàn chính, phát triển nông thôn là một giải pháp cốt lõi, để xoá đói giảm nghèo. Nếu được đào tạo kỹ năng để chủ động tham gia vào quá trình hội nhập, người lao động nông thôn sẽ không phải ra thành thị chỉ để làm các nghề nặng nhọc. Họ có thể xây dựng cuộc sống mới và hưởng thụ thành quả ngay trên mảnh đất quê hương bởi cuộc sống ở đây cũng cần phát triển để không bị tụt hậu so với nhịp phát triển chung trong một thế giới đang toàn cầu hóa mạnh mẽ.

    Cuối cùng xây dựng đô thị giàu có và thịnh vượng, tạo động lực thúc đẩy cả nền kinh tê. Xoá đói giảm nghèo phải được đặt trong bối cảnh phát triển kinh tế chung của một quốc gia. Các nước đang phát triển muốn cho nền kinh tế cất cánh, muốn đất nước phồn vinh, muốn xoá đói giảm nghèo phải có động lực đủ mạnh. Trên phương diện thị trường, khu vực đô thị giàu có với sức mua lớn sẽ kích thích sản xuất ở nông thôn, tạo lối ra cho sản phẩm và dịch vụ từ khu vực nông thôn, và do đó, có thể đẩy nhanh quá trình giảm nghèo cho nông dân hiện chiếm đại bộ phận cư dân cả nước. Chính vì thế, nếu chúng ta thành công trong việc giải bài toán tăng cường sức mua đô thị, bộ mặt của nông thôn sẽ được cải thiện hơn rất nhiều. Tuy nhiên, để tăng cường sức mua đô thị, chúng ta cũng nên có những thay đổi về chính sách thuế thu nhập. Hiện nay, chính sách thuế thu nhập của chúng ta ít nhiều mang tính chất “cào bằng”, bỏ qua sự khác nhau giữa các khu vực địa lý, tức là bỏ qua những yếu tố địa kinh tế, mà quên mất rằng tiền cũng như nước, nó sẽ chảy từ nơi có cột nước cao đến nơi có cột nước thấp. Do đó, nếu chúng ta làm cho mức nước ở các đô thị thấp, thì sức nén đẩy tới những vùng xa xôi khác cũng sẽ thấp. Thành công của một số nước trong việc phát triển đô thị chỉ ra rằng, việc phát triển các đô thị lớn thành các trung tâm kinh tế giàu có và thịnh vượng sẽ đóng vai trò các đầu tầu tạo động lực thúc đẩy cả nền kinh tế cất cánh.

    Qua tất cả những gì đã trình bày ở trên, chúng tôi muốn khẳng định rằng xoá đói giảm nghèo không phải là vấn đề của riêng người nghèo mà là của toàn xã hội. Tuy nhiên, giải pháp cho vấn đề không nằm ở chỗ tiếp tục khoét sâu khía cạnh tâm lý của việc phân biệt giàu nghèo, chia rẽ các lực lượng trong xã hội và đổ lỗi cho những lực lượng này hoặc lực lượng khác, mà ở chỗ nhận thức một cách khách quan và khoa học các quy luật và hiện tượng nhằm xây dựng những chiến lược phát triển phù hợp. Một chính sách thực tế và sáng suốt hơn để xoá đói giảm nghèo, trong bối cảnh hiện nay khi toàn cầu hóa đang ngày càng trở thành xu thế áp đảo trong mọi lĩnh vực đời sống phát triển phải là tăng cường hợp tác giữa các lực lượng, giữa các quốc gia, không kể giàu nghèo, đồng thời nâng cao mức sống tối thiểu cho người dân thông qua việc cải thiện năng lực phát triển của chính họ.

    Mọi chương trình xoá đói giảm nghèo chỉ có thể thành công khi chính người nghèo trở thành chủ thể trong cuộc chiến chống đói nghèo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Để Giảm Khoảng Cách Giàu
  • Giải Pháp Giảm Bớt Chênh Lệch Giàu Nghèo
  • Tìm Hiểu Chi Phí Vận Chuyển Và Giải Pháp Giảm Chi Phí Vận Chuyển
  • 05 Giải Pháp Tiết Kiệm Chi Phí Vận Chuyển Tốt Nhất
  • Các Giải Pháp Giúp Tiết Kiệm Chi Phí Vận Chuyển
  • Một Số Định Hướng Phát Triển Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số Miền Núi

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Trình Chỉ Tiết Thực Hiện Gói Thầu Mua Sắm Trực Tiếp
  • Hướng Dẫn Cách Thức Áp Dụng Mức Chỉ Định Thầu Mua Sắm Hàng Hóa ? Quy Trình Chỉ Định Thầu Rút Gọn ?
  • Đề Xuất Nhân Sự Chủ Chốt Giống Nhau Trong 2 Hồ Sơ Dự Thầu
  • Điều Kiện Áp Dụng, Quy Trình Mua Sắm Trực Tiếp Trong Đấu Thầu
  • Hệ Quả Pháp Lý Của Việc Không Ký Hợp Đồng Thực Hiện Gói Thầu
  • Nhờ đó, sự nghiệp giáo dục và đào tạo vùng DTTS, MN đã có những chuyển biến đáng kể: hệ thống trường, lớp học được quan tâm đầu tư xây dựng ngày càng khang trang, đảm bảo đủ điều kiện để từng bước nâng cao chất lượng dạy và học. Tỷ lệ học sinh (HS) đến trường tăng cao, HS lưu ban, bỏ học ngày càng giảm. Tỷ lệ HS tốt nghiệp THCS và THPT hằng năm tăng rõ rệt. Hệ thống giáo dục chuyên biệt (trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học) ngày càng phát huy hiệu quả tích cực. Chế độ cử tuyển đã góp phần đáng kể trong việc đào tạo cán bộ người DTTS có trình độ ở địa phương. Các chế độ, chính sách đối với cán bộ quản lý, giáo viên và người học là người DTTS được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Qua đó đã khuyến khích công tác dạy và học, tạo sư bình đẳng trong giáo dục, góp phần phát triển kinh tế – xã hội.

    Tuy nhiên, giáo dục và đào tạo vùng DTTS, MN còn một số hạn chế. Mạng lưới trường lớp, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học đã được tăng cường đầu tư, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt ở một số trường chuyên biệt vùng DTTS, MN. Chất lượng giáo dục đào tạo ở vùng DTTS, MN nhìn chung còn thấp so với yêu cầu. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục nhiều nơi còn bất cập, năng lực sư phạm, khả năng tổ chức các hoạt động giáo dục của một bộ phận giáo viên còn hạn chế. Chính sách cho người dạy, người học ở vùng DTTS, MN, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn vẫn còn một số bất cập,…

    Để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo vùng DTTS, NM, cần có những định hướng và giải pháp cụ thể trong thời gian tới.

    Về định hướng phát triển giáo dục dân tộc:

    Hoàn thiện cơ cấu hệ thống và mạng lưới cơ sở giáo dục, đa dạng hoá hình thức tổ chức dạy học. Từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, thực hiện linh hoạt các chương trình giáo dục phù hợp với điều kiện học tập của người học; gắn giáo dục với thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội, đặc điểm văn hoá của địa phương. Phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD đảm bảo đủ về số lượng, chuẩn về nghề nghiệp, hợp lí về cơ cấu. Thực hiện đầy đủ chính sách cho người dạy và người học. Tăng cường đầu tư ngân sách, cơ sở vật chất cho giáo dục dân tộc. Thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục, huy động các nguồn lực xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục.

    Phổ cập giáo dục mầm non: Đến năm 2022, có ít nhất 25% trẻ em người DTTS trong độ tuổi nhà trẻ và 75% trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non.

    Phổ cập giáo dục tiểu học: Tỷ lệ trẻ em nhập học đúng độ tuổi cấp tiểu học của từng DTTS trên 94%; Tỷ lệ trẻ em hoàn thành chương trình tiểu học của từng DTTS trên 94%. Từng bước nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục.

    Phổ cập giáo dục trung học cơ sở: Tỷ lệ học sinh người DTTS đi học đúng tuổi cấp trung học cơ sở 93%.

    Về xóa mù chữ đối với các DTTS: Tỷ lệ người từ 15 tuổi đến 60 tuổi biết chữ của từng DTTS trên 92%. Tỷ lệ học sinh người DTTS trong độ tuổi đạt trình độ học vấn trung học phổ thông và tương đương 50%.

    Phấn đấu đến năm 2022, số sinh viên người DTTS (đại học, cao đẳng) đạt từ 130 đến 150 sinh viên/vạn dân (người DTTS), nhóm dân tộc có chất lượng nguồn nhân lực rất thấp đạt tối thiểu 130 sinh viên/vạn dân; năm 2030 đạt từ 200 – 250 sinh viên/vạn dân;

    Tỷ lệ người DTTS trong độ tuổi lao động được đào tạo các chương trình giáo dục nghề nghiệp đến năm 2022 đạt trên 30%, nhóm dân tộc có chất lượng nguồn nhân lực thấp đạt tối thiểu 25%.

    Phổ cập giáo dục tiểu học: Tỷ lệ trẻ em nhập học đúng độ tuổi cấp tiểu học của từng DTTS trên 97%; Tỷ lệ trẻ em hoàn thành chương trình tiểu học của từng DTTS trên 97%. Duy trì ổn định chất lượng phổ cập giáo dục.

    Về xóa mù chữ đối với các DTTS: Tỷ lệ người từ 15 tuổi đến 60 tuổi biết chữ của từng DTTS trên 98%. Đảm bảo xóa mù chữ bền vững.

    Tăng cường bình đẳng giới trong giáo dục đối với các DTTS: Tỷ lệ mù chữ của phụ nữ của từng DTTS dưới 10%; Tỷ lệ học sinh nữ DTTS (trong tổng số học sinh DTTS) ở cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đạt 50%; Phấn đấu bình quân các chỉ tiêu tăng hoặc giảm từ 0,5 đến 1%/năm.

    * Định hướng đến năm 2030:

    Phấn đấu đến năm 2030, tỷ lệ học sinh DTTS đi học đúng tuổi gần với mức bình quân của cả nước ở tất cả các cấp học.

    Phấn đấu đến năm 2030, số sinh viên người DTTS (đại học, cao đẳng) đạt từ 200 – 250 sinh viên/vạn dân.

    Đào tạo sau đại học cho người DTTS, phấn đấu đến năm 2030 là 0,7% trong tổng số lao động DTTS đã qua đào tạo, ưu tiên các dân tộc chưa có người ở trình độ sau đại học.

    Tỷ lệ người DTTS trong độ tuổi lao động được đào tạo các chương trình giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030 đạt trên 50%, nhóm dân tộc có chất lượng nguồn nhân lực thấp đạt tối thiểu trên 45%.

    Để đạt được các mục tiêu trên, cần thực hiện tối một số nhiệm vụ và giải pháp sau:

    Tiếp tục chỉ đạo rà soát, quy hoạch hệ thống mạng lưới trường, lớp, cơ sở giáo dục phù hợp với điều kiện của vùng DTTS, miền núi. Củng cố, phát triển hệ thống trường PTDTNT theo hướng trường chuẩn quốc gia. Mở rộng các trường PTDTBT ở các huyện nghèo. Củng cố, mở rộng các trường (khoa) dự bị đại học, nâng cao chất lượng đào tạo hệ dự bị đại học cho học sinh DTTS.

    Nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục của các trường chuyên biệt. Thực hiện linh hoạt các chương trình giáo dục phù hợp với điều kiện học tập của người học; gắn giáo dục với thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội, đặc điểm văn hoá của địa phương.

    Phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, CBQLGD đảm bảo đủ về số lượng, chuẩn về nghề nghiệp, hợp lí về cơ cấu, tăng cường giáo viên là người DTTS.

    Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2022-2020. Đề xuất các chương trình, dự án giáo dục cho vùng khó khăn, vùng DTTS, miền núi.

    Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục dân tộc và việc thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ về giáo dục đối với đồng bào DTTS gắn với mục tiêu phát triển bền vững sau năm 2022./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kế Hoạch Tổ Chức Hội Thảo Khoa Học Toàn Quốc Năm 2022
  • Hội Thảo Toàn Quốc Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Phát Triển Toàn Diện
  • Hội Thảo Toàn Quốc Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Toàn Diện
  • Thực Hiện Chính Sách Giáo Dục Đối Với Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số Ở Tây Nguyên
  • Viện Quy Hoạch Xây Dựng Đà Nẵng Quyết Tâm Thực Hiện Tốt “5 Xây, 3 Chống”
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100