Thực Trạng Giới Trẻ Hiện Nay Trước Căn Bệnh Sống Vô Cảm

--- Bài mới hơn ---

  • Khắc Phục Bệnh Vô Cảm Trong Học Sinh
  • Nghị Luận Xã Hội 200 Chữ Về Hiện Tượng Vô Cảm
  • Trình Bày Suy Nghĩ Của Em Về Bệnh Vô Cảm
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Đạo Đức Cách Mạng Cho Cán Bộ, Đảng Viên
  • Tuyên Truyền, Giáo Dục Đạo Đức Cách Mạng Cho Cán Bộ, Đảng Viên
  • 1. Thực trạng căn bệnh vô cảm

    Vô cảm là một trạng thái cảm xúc của con người. Đây là một trạng thái, mà khi đó, con người không có một tình cảm nào đối với những sự vật, sự việc diễn ra xung quanh. Họ thờ ơ, thản nhiên trước nỗi đau, nỗi bất hạnh của những người khác.

    Mới đây nhất, cư dân mạng lại phải giật mình vì hành động như côn đồ của nhóm nữ sinh ở Hà Nội, Hải Phòng,… với màn đánh đập, lột quần áo, cắt tóc bạn học. Và chú ý hơn đó là những hình ảnh này được quay lại bởi một nam sinh. Kèm theo những tiếng chửi bới kém văn minh của các nữ sinh hành hung thì còn có tiếng cổ vũ của những chàng trai đứng gần đó như “cởi áo đi, cắt tóc đi,…”. Khi xem những clip này nhiều người còn ngỡ ngàng vì sự thờ ơ của giới trẻ 8x, 9x ngày nay. Mặc dù các bạn ấy hoàn toàn có thể vào can ngăn nhưng lại không sẵn lòng để giúp đỡ những người gặp khó khăn, hoạn nạn, rất nhiều bạn khi nhìn thấy những người nghèo khó, ăn xin thì xua đuổi, dè bỉu. Trên đường đi gặp người bị tai nạn thì thay vì dừng lại giúp đỡ, hỏi han lại bỏ đi xem như không có chuyện gì xảy ra, thậm chí còn tệ hơn nữa khi có những thành phần không những không giúp đỡ nạn nhân mà còn lợi dụng lúc người ta có sự cố để lấy cắp tiền, tài sản của người bị tai nạn.

    Thêm nữa trong thời gian gần đây, thực trạng giết người đang diễn ra ngày càng nhiều với mức độ nghiêm trọng., rất nhiều tội phạm đang ở thế hệ 8x, 9x. Ví dụ như cách đây chưa lâu dư luận xôn xao vụ thảm sát giết nước cướp của ở tiệm vàng Ngọc Bích do kẻ vô cảm Lê Văn Luyện ( 17 tuổi lúc đó) gây ra. Hành vi giết người của hắn ta là đặc biệt nghiêm trọng,tàn bạo, vô cảm nhất tính đến thời điểm lúc bấy giờ. Ngoài ra còn phải kể đến vụ việc Hồ Nhật Linh (18 tuổi) đã đâm 95 nhát dao vào thai phụ có bầu 8 tháng tuổi sau đó vứt xác nạn nhân xuống một cái mương,…Thực trạng bệnh vô cảm này đang diễn ra ngày càng “phổ biến ” và phức tạp. Quả thật không thể dung thứ mãi cho những hành động vô cảm ấy, nếu cứ thờ ơ với những hành động đó tức là chúng ta đang vứt bỏ truyền thống của dân tộc cũng như vứt bỏ chính bản thân mình.

    2. Nguyên nhân

    Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng vô cảm của giới trẻ hiện nay nhưng nhìn chung là do cách sống, cách giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội còn quá thờ ơ, hời hợt.

    2.1. Nguyên nhân xuất phát từ bản thân

    Bản thân mỗi chúng ta vô cảm trước cuộc đời là do thiếu thốn tình yêu thương, thiếu đi lòng bao dung, sống bằng lý trí sắt đá, bằng tình cảm khô cằn của mình. Bên cạnh đó khi một con người bị chính cái xấu hãm hại, những điều tốt đẹp không đến với mình thì bản thân họ sẽ cảm thấy hận đời, dần dần vô cảm với tất cả mọi thứ, họ dần mất đi niềm tin vào những điều tốt đẹp , họ trở nên vô cảm trước mọi thứ trên cuộc đời này.

    Đối với bản thân họ khi hàng xóm gặp hoạn nạn, khó khăn, có người thân mắc phải tệ nạn xã hội họ cũng vờ như không biết, không một lời hỏi han cũng như không một lời an ủi, trên đường gặp người bị tai nạn họ bỏ đi mặc kệ người ta còn sống hay đã chết, hoặc có dừng chân lại cũng chỉ để thỏa mãn mãn sự hiếu kỳ của bản thân, không dám lại gần giúp đỡ vì sợ phải gánh trách nhiệm. Những người bất hạnh, có hoàn cảnh đáng thương nằm bên vệ đường họ cũng chẳng buồn quan tâm hay xót thương cho số phận của họ mà ngược lại còn khinh bỉ những con người kém may mắn đó, thêm vào đó, sự vô cảm còn bắt nguồn từ lối sống ích kỷ, thực dụng, thích hưởng thụ của giới trẻ ngày nay.

    2.2. Nguyên nhân xuất phát từ gia đình

    Gia đình chính là tế bào của xã hội, gia đình có tốt đẹp thì xã hội mới phát triển được, thế mà ngày nay các bậc phụ huynh ít khi dạy con đồng cảm với người khác. Cách ứng xử, hành vi của giới trẻ một phần là do học hỏi từ ở ngoài xã hội và một phần là do ảnh hưởng từ gia đình tạo nên,thói quen ít giao tiếp với mọi người, thích giao lưu với những người ảo qua mạng xã hội rồi thường xuyên xem những cảnh đấm đá, giết người man rợ ở trên tivi, phim ảnh dẫn tới sự thờ ơ, lãnh đạm với mọi người xung quanh của giới trẻ, đó là một hệ quả không thể tránh khỏi.

    Chúng ta biết rằng dạy con là phải dạy lúc con còn nhỏ cũng như uốn cây tre phải uốn từ lúc trẻ còn non, nhưng dường như nhiều hộ gia đình ngày nay không hề quan trọng chuyện này, không quan tâm đến việc dạy con phải có sự cảm thông, yêu thương, giúp đỡ người khác. Nhiều bậc phụ huynh thiếu gương mẫu về đạo đức, về cách sống , không quan tâm đến việc dạy dỗ con cái, ngày nay có bao nhiêu phụ huynh bỏ thời gian ra dạy con biết cách đối nhân xử thế, biết tôn trọng người khác, dạy con biết yêu thương ?

    Bên cạnh đó, nhiều phụ huynh vì quá cưng chiều con mà đáp ứng hết tất cả những yêu cầu của con một cách vô điều kiện, thế nhưng họ lại không dạy con biết cách chia sẻ, có trách nhiệm với người thân. Một đứa bé chỉ biết nhận mà không biết cho sẽ rất “nghèo” về cảm xúc dẫn đến những vô cảm trước tất cả mọi thứ.

    2.3. Nguyên nhân xuất phát từ nhà trường

    Thầy cô được xem như là bố mẹ thứ hai của học sinh, nếu họ vô cảm thì sẽ đào tạo ra những “đứa con” vô cảm như họ, đây sẽ là một mối tai họa lớn cho xã hội. Quả thật, môi trường giáo dục đang trở nên báo động hơn bao giờ hết, đó thực sự là một mối lo ngại đối với ngành giáo dục và cả xã hội của Việt Nam.

    2.4. Nguyên nhân từ xã hội

    Do ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, những ứng dụng công nghệ hiện đại đã ảnh hưởng đặc biệt đến thế hệ trẻ, làm thay đổi phong cách làm việc, cách giao tiếp, cách tư duy dẫn đến giới trẻ sống rất vô cảm không quan tâm đến những việc xung quanh, khi các bạn trẻ càng sử dụng internet nhiều thì càng lơ là với những gì xay ra xung quanh họ. Khi các trang blog, mạng xã hội xuất hiện các bạn trẻ được tự do thể hiện bản thân mình. Nhưng một khi các bạn giam cầm mình quá lâu trong thế giới ảo của mình các bạn sẽ bị trầm cảm và vô cảm.

    Đồng thời do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường nên một mặt nó làm cho những giá trị truyền thống được phát huy, những giá trị mới được hình thành và phát triển, một mặt nữa nó làm nảy sinh tư tưởng ích kỷ, không có trách nhiệm với cộng đồng, đề cao cái tôi cá nhân. Hơn nữa căn bệnh vô cảm là kết quả của lối sống thực dụng đang ngày càng ăn sâu vào văn hóa của giới trẻ Việt Nam khi mà các giá trị sống, giá trị đạo đức và giá trị tinh thần đang dần bị thế chỗ cho chủ nghĩa vật chất và chủ nghĩa cá nhân, con người không còn cảm xúc trước nỗi đau của người khác. Bên cạnh đó sự bất công xã hội, tham nhũng, quan liêu đang ngày một gia tăng , người lớn không còn là tấm gương cho giới trẻ noi theo.

    3. Tác hại

    Căn bệnh vô cảm có tác hại vô cùng ghê gớm, không chỉ làm suy giảm đạo đức trong giới trẻ mà còn đẩy đất nước đến bờ tụt hậu.

    3.1. Bệnh vô cảm có thể dẫn đến chết người

    Nếu một bác sĩ “vô cảm” sẽ không có đủ tình thương dành cho bệnh nhân của mình, sẽ đánh mất đi lương tâm của một người bác sĩ, chẳng hạn trước một ca cấp cứu nguy kịch nhưng vì bệnh nhân có hoàn cảnh nghèo khó không có tiền để đóng tiền viện phí hay không có tiền để “cảm ơn” bác sĩ thì lúc ấy bệnh vô cảm khiến cho người bác sĩ chậm trễ, thờ ơ , không nhiệt tình thăm khám cho bệnh nhân cuối cùng để bệnh nhân chết một cách oan uổng. Sẽ càng đau xót hơn nếu người bệnh nhân đang nằm đó là trụ cột chính của gia đình, họ ra đi để lại những đứa con thơ dại, bố mẹ già ốm yếu không ai phụng dưỡng, cách đây mấy năm tại bệnh viện Bưu Điện Hà Nội, chỉ vì sự vô cảm của đội ngũ bác sĩ và y tá đã dẫn đến cái chết oan uổng của một đứa bé chưa kịp chào đời.

    Còn một người giữ mạng sống của nhiều người như tài xế chẳng hạn mà mắc bệnh vô cảm thì thực sự rất nguy hiểm, một người tài xế vô cảm sẽ coi mạng sống của hành khách chẳng ra gì, phóng nhanh, vượt ẩu gây những hậu quả khôn lường.

    3.2. Bệnh vô cảm có thể để lại tai hại lớn cho xã hội

    Thầy cô giáo là người truyền cảm hứng cho học sinh và cũng là cha mẹ thứ hai của chúng nhưng nếu họ vô cảm thì sẽ thiếu đi tình thương dành cho những “đứa con” của mình, thiếu sự nhiệt huyết trong bài giảng, không có trách nhiệm với học sinh, hờ hững trong cách truyền đạt kiến thức, không quan tâm đến chất lượng giảng dạy. Vì sự vô cảm của họ mà họ sẽ đào tạo ra những con người thiếu trình độ và vô cảm giống như giáo viên của mình, quả thật đó sẽ là một mối tai họa vô cùng lớn cho xã hội.

    3.3. Bệnh vô cảm đưa đất nước đến suy vong

    Cán bộ nhà nước chính là “nô lệ” của nhân dân, phục vụ hết lòng cho công ích, điều hành tất cả hoạt động của đất nước. Thế nhưng họ lại “vô cảm” trước những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, họ không nhìn thấy được những khốn khổ của người dân. Thậm chí không giải quyết những tranh chấp, khiếu nại về tài sản, đất đai cho người dân, gây khó dễ, dùng vũ lực để giúp đỡ các thế lực có điều kiện hơn để mình được “phong bì” dắt túi riêng. Tất cả cũng chỉ vì tính tham lam, ích kỷ mà làm mất đi phẩm chất đạo đức của một người cán bộ, từ đó nhân dân sẽ không còn tin vào chính quyền, sẽ sống “vô cảm” như cán bộ và chẳng còn ai lo cho lợi ích chung của cộng đồng dân tộc, chính những “cán bộ vô cảm ” thiếu trách nhiệm sẽ gián tiếp đẩy đất nước đến bờ vực của suy vong.

    4. Giải pháp

    “Bệnh vô cảm” không phải là tội ác, nhưng nó chính là con đường dẫn đến những tội ác, hơn nữa còn có tốc độ “lây lan” đến chóng mặt, khi một người vô cảm thì mọi người xung quanh sẽ vô cảm theo cuối cùng là cả một xã hội vô cảm. Nếu nói đến căn bệnh ở thể xác thì con người sợ nhất là căn bệnh ung thư còn nếu nói đến căn bệnh tâm hồn thì đáng sợ nhất có lẽ là vô cảm, bởi vì nó có sức công phá vô cùng ghê gớm đến nhân cách và đạo đức của con người. Từ đó nó trực tiếp ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, chính trị của cả một dân tộc. Vậy ngay từ bây giờ chúng ta cần tích cực đẩy lùi căn bệnh vô cảm ra khỏi đất nước Việt Nam của chúng ta.

    4.1. Về phía bản thân

    Mỗi chúng ta cần phải biết đồng cảm với mọi người, biết trau dồi, học hỏi những bài học trong cuộc sống, biết yêu thương mọi người xung quanh, ngoài ra, cần phải học hỏi những tấm gương đạo đức trong xã hội chẳng hạn như các nữ tu đang phục vụ tại trung tâm Sida giai đoạn cuối – Mai Hòa – Củ Chi. Các nữ tu đã đồng cảm với những số phận kém may mắn trong cuộc sống .

    4.2. Về phía gia đình

    Gia đình chính là nơi hình thành nhân cách con người vì thế muốn con cái trở nên tốt, gia đình phải là nơi yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, mọi thành viên trong gia đình sống phải quan tâm, san sẻ với nhau. Khi con còn nhỏ dạy con cách nhận biết cảm xúc của người khác, hướng dẫn trẻ hiểu được nguồn gốc của những cảm xúc đó cũng như ảnh hưởng của nó đến mọi người từ đó điều chỉnh cảm xúc, hành vi của mình, các nhà tâm lý học cũng đưa ra khuyến cáo rằng gia đình phải thay đổi thói quen dạy con. Phụ huynh thường chỉ ra lệnh mà không quan tâm đến suy nghĩ của con, học cách lắng nghe, thấu hiểu con cái là việc mà những người làm bố và làm mẹ phải làm đầu tiên, con cái chỉ là có thể hiểu được một cách rõ ràng nhất khi được cha mẹ hướng dẫn một cách cụ thể.

    4.3. Về phía nhà trường

    Môi trường giáo dục ở trường học không chỉ là nơi trang bị cho con người những kiến thức ở trong sách vở mà còn trang bị cả về nhân cách, đạo đức làm người, một khi nhà trường biết quan tâm đúng mực đến giới trẻ thì kết quả sẽ rất khả quan. Mặt khác nhà trường nên dạy học sinh biết cách ứng xử, biết cách quan tâm đến mọi người, giáo dục kỹ năng sống bằng cách khơi dậy tinh thần dám đấu tranh trong mọi học sinh, đây cũng là nơi xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam giàu tình nghĩa nhưng hết sức mạnh mẽ, không khoan nhượng trước cái xấu, cái ác.

    4.4. Về phía xã hội

    Xã hội nên quan tâm nhiều đến giới trẻ, tạo ra nhiều cơ hội giúp các em được sống theo chuẩn mực đạo đức của xã hội, giúp họ biết cách quan tâm, yêu thương, giúp đỡ đỡ mọi người, giới trẻ ngày nay không phải là họ không muốn sống cho ra người mà còn muốn sống tốt hơn thế nữa chính vì vậy các bạn trẻ cần được xã hội giúp đỡ.

    Để nói tình cảm con người với con người thì chúng ta không thể đánh đổi bằng những thứ vốn dĩ tầm thường được mà chỉ có sự chân thành mới có thể duy trì một mối quan hệ bền vững, trao đi yêu thương thì sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ nhận được sự yêu thương của người khác. Mong rằng bài chia sẻ trên sẽ giúp các bạn có những kiến thức hữu ích xung quanh căn bệnh vô cảm để từ đó tiêu diệt căn bệnh vô cảm trong chính bản thân mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Luận Xã Hội Về Bệnh Vô Cảm Hiện Nay
  • Cách “chữa Bệnh” Vô Cảm Cho Học Sinh
  • Anh Chị Hãy Trình Bày Suy Nghĩ Của Mình Về Bệnh Vô Cảm Trong Xã Hội Hiện Nay
  • Nghị Luận Bàn Về Bệnh Vô Cảm Và Chống Lại Căn Bệnh Vô Cảm
  • 5 Cách Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt
  • Giải Pháp Nào Để Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ?

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Giải Pháp Khắc Phục Những Hạn Chế Và “bệnh Thành Tích” Của Giáo Dục Tiểu Học
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Giáo Dục Pháp Luật Trong Nhà Trường Trên Địa Bàn Thành Phố Hải Phòng
  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công Tác Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật
  • Đề Tài Biện Pháp Nâng Cao Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Tại Trường Tiểu Học Võ Thị Sáu
  • Tổng Quan Về Giáo Dục Thông Minh Và Đại Học Thông Minh
  • Trước hết, đừng nên là “ô sin” của con.

    Có những bà mẹ khi con ăn xong, lẽ ra phải nhắc con dọn dẹp bát đũa thì đã làm thay con việc ấy. Lâu dần trẻ thành ỉ lại, lười lao động. Cần phải ý thức được cho trẻ rằng mọi nhu cầu cá nhân như tắm giặt, ăn uống, gấp chăn màn, xếp dọn phòng ở của mình phải do các em tự làm. Trẻ phải tự biết phục vụ chăm sóc bản thân. Thậm chí học hỏi ở người giúp việc những công việc bếp núc, nữ công gia chánh hay thu vén sắp xếp trong nhà. Để sau này khi lớn lên, sẽ không gặp khó khăn trong việc tự lập kế hoạch cuộc đời của mình.

    Dạy con kỹ năng tự phục vụ bản thân.

    Nói thì nghe có vẻ nghịch lý nhưng đó lại là sự thật. Trẻ em ngày nay hầu như không biết tự phục vụ bản thân trong sinh hoạt đời thường. Mỗi gia đình chỉ có 1 hoặc 2 con, mà thường thì bố mẹ ngày xưa đã từng sống vất vả nên muốn cho con sung sướng hơn mình, vì vậy thường thuê người giúp việc. Thế là các em không những không phải làm việc nhà, mà còn không phải làm cả việc tự phục vụ bản thân như giặt giũ, tắm rửa, thậm chí tự xúc cơm ăn…

    Thế hệ bố mẹ ngày trước đi học về còn phải nấu cơm, trông em, làm các việc vặt, thậm chí còn giúp bố mẹ làm thêm những việc nhỏ để tăng phần nào thu nhập cho gia đình. Tất nhiên các em sẽ nghĩ rằng bây giờ chỉ học và phấn đấu sao cho vào được đại học, còn những việc khác “đã có người giúp việc lo”. Bố mẹ nào đã tạo cho các em suy nghĩ như vậy, thật là sai lầm.

    Rèn luyện ý thức tự giác lao động

    Cần rèn luyện con kỹ năng sống: ý thức tự giác lao động mà trước hết là ý thức giúp đỡ người lớn làm việc nhà. Trẻ cần biết làm các việc vặt như quét nhà, rửa ấm chén, nấu cơm và chế biến một số món đơn giản dễ làm. Cốt sao khi bố mẹ vắng nhà, trẻ có thể tự cơm nước, phục vụ được bản thân. Nên cho trẻ biết rằng học trong sách vở chưa đủ mà còn phải biết “hành”. Muốn vậy phải bắt đầu từ những việc nhỏ nhất, mà bước đầu tiên là tự phục vụ mình khi không có người lớn ở bên.

    Ngoài ra, bố mẹ cần giáo dục cho con về đường ăn ý ở, cách tiếp khách khi người lớn vắng nhà; cách thưa gửi với người hơn tuổi, cách trả lời điện thoại, cách pha trà, cắm hoa, trang trí nhà cửa…Trẻ cũng cần học cách bảo vệ mình và em nhỏ, người thân, ứng xử thế nào khi có sự cố xảy ra  (như chập điện, cháy nổ, kể cả khi bị bắt nạt…)

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiệm Vụ, Giải Pháp Năm Học 2022
  • Phát Huy Chủ Nghĩa Yêu Nước Hồ Chí Minh Trong Hội Nhập Và Phát Triển Bền Vững
  • Giáo Dục Chủ Nghĩa Yêu Nước Việt Nam Trong Bối Cảnh Hội Nhập
  • Một Số Giải Pháp Đảm Bảo Chất Lượng Giáo Dục Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Liên Kết Chuỗi Giá Trị: Kinh Nghiệm Của Thế Giới Và Giải Pháp Cho Việt Nam
  • Vai Trò Của Vitamin Trong Cuộc Sống Con Người

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 15: Cơ Sở Của Ăn Uống Hợp Lí
  • Nêu Chức Năng Của Các Loại Vitamin
  • Gửi Các Loại Vitamin, Thực Phẩm Chức Năng Đi Hàn Quốc An Toàn
  • Tìm Hiểu Về Các Loại Vitamin
  • Chức Năng Của Các Vitamin Nhóm B
  • Vitamin là những chất hữu cơ rất cần thiết cho sự phát triển, của cơ thể, duy trì sức khỏe và có vai trò trong việc điều hành chức năng của các cơ quan của con người. Với vai trò là chất xúc tác, vitamin giúp đồng hoá và biến đổi thức ăn, tạo năng lượng cần cho hoạt động sống của các tế bào trong cơ thể. Ngoài ra, vitamin còn bảo vệ tế bào khỏi bị tấn công nhờ đặc tính chống lại quá trình oxy hoá và tham gia bảo vệ cơ thể chống nhiễm trùng, khử độc và sửa chữa các cấu trúc bị hư tổn.

    Tuy nhiên, cơ thể không có khả năng tổng hợp được vitamin nên trong chế độ ăn hàng ngày phải bổ sung đầy đủ các loại vitamin thông qua các thực phẩm thiết yếu.

    Khi cơ thể thiếu hụt một loại vitamin lâu ngày sẽ phát sinh bệnh tật. Vậy, những dấu hiệu nào để nhận biết cơ thể thiếu vitamin?

    Các loại vitamin (13 loại vitamin) bao gồm: Vitamin A, C, D, E, K, B1, B2, B3 (PP), B5, B6, B12, Folacin (B9) và biotin (B8); được chia làm hai nhóm: 1) Nhóm hòa tan trong chất béo gồm các vitamin A, D, E, và K. 2) Nhóm hòa tan trong nước gồm vitamin C và các vitamin nhóm B.

    Phần lớn vitamin rất dễ bị huỷ hoại bởi nhiệt độ và ánh sáng, vì vậy cần bảo quản thực phẩm bằng ướp lạnh, tránh nhiệt độ cao và ánh sáng.

    Tác dụng của vitamin đối với cơ thể: Tham gia cấu tạo tế bào; Điều hòa hoạt động của tim và hệ thần kinh; tăng cường thị lực của mắt; tham gia chuyển hóa thức ăn thành năng lượng…

    Dấu hiệu nhận biết khi cơ thể thiếu vitamin A: Triệu chứng quáng gà, khô mắt, đục thủy tinh thể, có thể gây mù mắt do bệnh khô mắt; răng yếu mau hỏng, da khô có vẩy, tóc khô giòn; cơ thể dễ bị nhiễm khuẩn, xương chậm phát triển.

    Giải pháp: Bổ sung vitamin bằng các loại thực phẩm: gan, tim, sữa, lòng đỏ trứng, các loại trái cây có vỏ màu vàng, đỏ như đu đủ, cà rốt, gấc, táo…

    Thiếu vitamin D: Trẻ em sẽ bị bệnh còi xương, xương sọ chậm khép kín, xương sống cong, răng sữa chậm mọc, men răng dễ thương tổn; giảm sự hấp thụ canxi và phôtpho ở ruột làm cho xương và răng mềm dễ bị gãy.

    Giải pháp: Tắm nắng là biện pháp tổng hợp vitamin D nhờ tác dụng của ánh nắng mặt trời lên da; phơi nắng 10 phút mỗi ngày, 2-3 lần/một tuần; bổ sung vitamin D bằng các loại thực phẩm: cá thu, cá trích, cá ngừ, gan, lòng đỏ trứng, bơ, sữa…

    Thiếu vitamin E: Trẻ sơ sinh thiếu tháng: phù nề, có vết thương trên da, tế bào máu bất bình thường.

    Giải pháp: Bổ sung vitamin E qua chế độ ăn: các loại rau, dầu thực vật, mầm lúa mì, bắp, hạt dưa, hạt bí, hạt lạc…

    Thiếu vitamin K: Máu khó đông, làm cho vết thương chảy máu liên tục.

    Giải pháp: Bổ sung các loại thực phẩm có chứa vitamin K: gan, lòng đỏ trứng, trà xanh, củ cải, đậu nành, dầu thực vật.

    Thiếu vitamin B1 (thiamin): Cơ thể thường xuyên mệt mỏi, chán ăn; tổn thương thần kinh, mất cảm giác vì viêm dây thần kinh ngoại vi; rối loạn tâm thần, kém tập trung, đầu ngón tay tê dại, nhịp tim nhanh, sưng phù cơ thể…

    Giải pháp: Bổ sung vitamin B1 có trong: mầm lúa mì, mầm đậu nành, gạo lức, lòng đỏ trứng, gan, thịt nạc, cá…

    Thiếu vitamin B2(riboflavin): Cơ thể mệt mỏi, chậm lành vết thương; đục thủy tinh thể, mắt cay, kém chịu đựng với ánh sáng mạnh; lưỡi đau, môi nứt nẻ, da khô, tóc dễ gãy, móng tay, móng tay, chân giòn…

    Giải pháp: Bổ sung vitamin B2 có trong: sữa, pho mát, thịt nạc, tim, gan, thận, trứng, hạt ngũ cốc, rau có lá màu xanh đậm …

    Thiếu vitamin B3 (PP, niacin): Giảm sinh lực, mất ngủ, tinh thần căng thẳng, lo âu; chảy máu ở nướu răng, viêm ngứa trên da.

    Giải pháp: Bổ sung vitamin B3 có trong các thực phẩm: gan, thận, thịt nạc, cá, trứng, sữa, nấm, các loại hạt, ngũ cốc, rau…

    Thiếu vitamin B6 (pyridoxin): Tổn thương dây thần kinh ngoại biên, có khi gây cơn co giật; tổn thương da, buồn nôn, nôn, chóng mặt; tiếu máu, giảm sinh lực, ăn không ngon, sút cân; tinh thần dễ bị kích động, cơ co rút và yếu, tê đầu ngón tay, da khô, thiếu hồng cầu; trẻ em hay lên cơn động kinh, bẳn tính…

    Giải pháp: Bổ sung vitamin B6 có nhiều trong: nấm, mầm ngũ cốc, cám gạo, hạt hướng dương, chuối, cá, thận, gan, thịt gà, đậu nành…

    Thiếu vitamin B12 (cobalamin): Rối loạn cảm giác, kích thích thần kinh hoặc trầm uất; viêm da, lưỡi viêm đỏ, ăn không ngon, giảm cân; tính khí thất thường, buồn rầu…

    Giải pháp: Bổ sung các thực phẩm có nhiều vitamin B12: gan, thận, tim, thịt bò, cá, lòng đỏ trứng, sữa, sữa chua, pho mát, sò, cua…

    Thiếu vitamin C: Xuất huyết dưới da và ở lợi răng, sưng và chảy máu nướu; giảm cân, mệt mỏi, đau nhức khớp và cơ; vết thương lâu lành, kém tập trung, bệnh nặng gây rụng răng, mềm xương, mạch máu dễ vỡ, thiếu máu, suy tim, tử vong…

    Giải pháp: Bổ sung vitamin C có nhiều trong các loại trái chua như chanh, cam, bưởi, dâu, cà chua, rau ngót, súp lơ, bắp cải, gan, thận, táo, lê, nho…

    Hiện nay, ô nhiễm môi trường, thói quen dùng đồ ăn nhanh (fastfood) và các phương pháp chế biến thực phẩm hiện nay đã dẫn tới tình trạng giảm hàm lượng vitamin và khoáng chất cũng như giá trị dinh dưỡng của thực phẩm. Hậu quả của tình trạng thiếu hụt vitamin và khoáng chất: mệt mỏi, biếng ăn, kém ngủ, trí tuệ giảm sút, chậm lớn, cơ thể hay bị bệnh do giảm sức đề kháng với bệnh tật… Do đó, việc bổ sung vitamin và khoáng chất vào chế độ ăn hàng ngày với đẩy đủ các nhóm chất đạm, chất béo, chất khoáng, rau xanh, hoa quả…

    NAM ANH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vitamin B6 Có Tác Dụng Gì Với Sức Khỏe? Bổ Sung Thế Nào Cho Đúng Cách?
  • Vitamin B6 (Pyridoxine): Công Dụng, Liều Dùng, Tác Dụng Phụ
  • 13 Vai Tro Cua Vitamin & Khoang Chat
  • Thực Phẩm Chức Năng Hỗ Trợ Tăng Cường Chức Năng Đông Máu Gnc Vitamin K
  • Vitamin K2 Trong Thực Phẩm Chức Năng Hỗ Trợ Tim Mạch
  • Giáo Dục Tình Cảm Đạo Đức Cho Trẻ 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục “tấm Gương Đạo Đức Hồ Chí Minh” Cho Trẻ Mẫu Giáo 4
  • Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ 3 4 Tuổi Học Tốt Môn Toán Trường Mầm Non
  • Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ 5 6 Tuổi Học Tốt Môn Toán
  • Luận Văn Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp 5
  • Tp Hồ Chí Minh: Nhiều Biện Pháp Giảm Tai Nạn Giao Thông
  • BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

    NGUYỄN NGỌC BÍCH

    GIÁO DỤC TÌNH CẢM ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI

    TRƯỜNG MẦM NON HOA QUỲNH CHIỀNG BÔM –

    THUẬN CHÂU – SƠN LA THÔNG QUA VIỆC

    GIÚP TRẺ LÀM QUEN VỚI TRUYỆN CỔ TÍCH

    KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    SƠN LA, NĂM 2013

    BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

    NGUYỄN NGỌC BÍCH

    GIÁO DỤC TÌNH CẢM ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI

    TRƯỜNG MẦM NON HOA QUỲNH CHIỀNG BÔM –

    THUẬN CHÂU – SƠN LA THÔNG QUA VIỆC

    GIÚP TRẺ LÀM QUEN VỚI TRUYỆN CỔ TÍCH

    CHUYÊN NGÀNH: PHƯƠNG PHÁP CHO TRẺ

    LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC

    KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    Người hướng dẫn: Th.S Trịnh Thị Hồng

    SƠN LA, NĂM 2013

    LỜI CẢM ƠN

    Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành dựa trên sự hướng dẫn khoa học

    của cô giáo, Thạc Sĩ Trịnh Thị Hồng. Nhân dịp khóa luận được công bố, em

    xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo, Thạc Sĩ Trịnh Thị Hồng – người đã

    trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tận tình cho em trong quá trình thực hiện

    đề tài này.

    Em xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Phòng Đào Tạo, các thầy,

    cô giáo khoa Tiểu học – Mầm non, thư viện trường Đại học Tây Bắc, các ban

    ngành chức năng và tập thể lớp K50 Đại học giáo dục Mầm non.

    Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban giám hiệu trường

    Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm – Thuận Châu – Sơn La đã tận tình giúp

    đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận này.

    Với nội dung khóa luận này em rất mong nhận được những ý kiến đóng

    góp của thầy cô và các bạn!

    Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô và các bạn!

    Sơn La, tháng 5 năm 2013

    Người thực hiện

    Nguyễn Ngọc Bích

    DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

    GDĐĐ

    : Giáo dục đạo đức

    MGB

    : Mẫu giáo bé

    MGL

    : Mẫu giáo lớn

    MGN

    : Mẫu giáo nhỡ

    NXB

    : Nhà xuất bản

    STT

    : Số thứ tự

    %

    : Phần trăm

    MỤC LỤC

    PHẦN MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………….. 1

    1. Lí do chọn đề tài ………………………………………………………………………………… 1

    2. Lịch sử vấn đề …………………………………………………………………………………… 3

    3. Mục đích nghiên cứu ………………………………………………………………………….. 5

    4. Nhiệm vụ nghiên cứu …………………………………………………………………………. 5

    5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu …………………………………………………………… 5

    6. Phương pháp nghiên cứu …………………………………………………………………….. 5

    6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận ………………………………………………………… 6

    6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn …………………………………………………….. 6

    6.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm ……………………………………………………. 6

    7. Đóng góp của khóa luận ……………………………………………………………………… 6

    8. Giả thuyết khoa học ……………………………………………………………………………. 6

    9. Cấu trúc của khóa luận ……………………………………………………………………….. 7

    PHẦN NỘI DUNG ………………………………………………………………………………. 8

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN …………………………………………………………….. 8

    1.1. Đặc điểm tâm lí của trẻ mầm non ………………………………………………………. 8

    1.2. Nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non ……………………………………….. 9

    1.2.1. Khái niệm đạo đức………………………………………………………………………… 9

    1.2.2. Khái niệm giáo dục……………………………………………………………………….. 9

    1.2.3. Khái niệm giáo dục đạo đức …………………………………………………………. 10

    1.2.4. Nhiệm vụ, nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo ……………………. 10

    1.2.5. Phương pháp giáo dục đạo đức ……………………………………………………… 11

    1.3. Truyện cổ tích với trẻ mẫu giáo ……………………………………………………….. 14

    1.4. Đặc điểm tâm lí trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đối với việc lựa chọn truyện cổ tích

    để giáo dục đạo đức ……………………………………………………………………………… 18

    TIỂU KẾT………………………………………………………………………………………….. 22

    3.7. Một số giáo án ………………………………………………………………………………. 42

    TIỂU KẾT………………………………………………………………………………………….. 52

    KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……………………………………………………………… 53

    1. Kết luận ………………………………………………………………………………………….. 53

    2. Kiến nghị………………………………………………………………………………………… 54

    TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………………… 55

    PHỤ LỤC

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lí do chọn đề tài

    Tại điều 22 luật giáo dục (2005) của nước ta xác định: “Mục tiêu giáo dục

    mầm non là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành

    những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một”. Trong

    tương lai trẻ em tuổi mầm non của ngày hôm nay sẽ trở thành người lao động,

    người công dân thực sự của đất nước nhưng việc đào tạo con người mới lại phải

    bắt đầu ngay từ thuở lọt lòng. Khi bàn về bản chất con người, đứng trên quan

    điểm xã hội học, Mạnh Tử nói: “Nhân chi sơ tính bản thiện, tính tương cận tập

    tương viễn”, nghĩa là con người sinh ra ban đầu vốn dĩ lương thiện, tính tình khá

    đồng nhất, nhưng do môi trường và sự tiếp cận học hỏi khác nhau mà tính tình

    đâm ra khác biệt nhau. Còn Tuân Tử nói: “Nhân chi sơ tính bản ác, lý tính hậu

    lai tập đắc”, nghĩa là con người sinh ra ban đầu vốn dĩ là ác, nhưng sau này do

    học tập mà có lý trí, biết cái đúng cái sai. Mạnh Tử và Tuân Tử đều là bậc thầy

    của Nho giáo thời Chiến quốc, dù có những đánh giá khác nhau về tính con

    người, nhưng đều thống nhất rằng môi trường và sự giáo dục sẽ làm con người

    thay đổi, nghĩa là giáo dục đóng vai trò quyết định cho bản tính của con người

    trong tương lai.

    Mục tiêu của giáo dục thật sự rất rõ ràng là dạy làm người, nghĩa là rèn

    luyện đạo đức và nhân cách con người. Giáo dục đồng thời cung cấp kiến thức,

    kỹ năng để con người xây dựng cuộc sống hạnh phúc, văn minh. Giáo dục

    không chỉ là việc cung cấp, bồi dưỡng tri thức, kĩ năng hay nâng cao năng lực

    con người, mà hơn hết mục tiêu chính và quan trọng nhất của giáo dục không gì

    khác chính là “dạy cách làm người”. Giúp con người bồi dưỡng tâm hồn và rèn

    giũa nhân cách, hoàn thiện bản thân, có như vậy con người mới có thể phát triển

    toàn diện được. Mục tiêu ấy của giáo dục không phải có thể hoàn thành một

    cách nhanh chóng trong một sớm một chiều, mà nó là cả một quá trình dài thực

    hiện theo những cấp độ khác nhau, từ khi trẻ được sinh ra cho đến hết bậc học

    phổ thông hoặc cao hơn nữa. Trong đó tập trung chủ yếu ở các cấp học mầm

    non, tiểu học và phổ thông cơ sở và tất nhiên là khâu quan trọng nhất, cũng là

    nền tảng cho việc hình thành những kĩ năng đầu tiên với cuộc sống. Tạo dựng

    những nền tảng căn sơ cho nhân cách sau này của trẻ chính là ở trường mầm

    non. Bởi lẽ, đây là thời kỳ quan trọng nhất của trẻ khi các em mới chập chững

    làm quen với xã hội bên ngoài sự bao bọc của gia đình. Đây cũng là thời kỳ tiên

    quyết, giúp trẻ chuẩn bị những hành trang đầu tiên để bước vào đời sau này.

    Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Trẻ em như búp trên cành, biết

    1

    ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”. Đó như một lời khẳng định cho sự ngây

    thơ, hồn nhiên, trong sáng của trẻ. Khi mới sinh ra trẻ em như một tờ giấy trắng

    tinh khôi không hề tì vết, không vấy bẩn và trong sáng vô cùng. Sự trong sáng

    ngây thơ ấy mang lại cho trẻ sự hồn nhiên nhưng cũng khiến trẻ không đủ khả

    năng để có thể vững vàng trong cuộc sống. Bởi vậy, trẻ rất dễ bị ảnh hưởng bởi

    những tác động của xã hội xung quanh.

    Đặc biệt, ở lứa tuổi mầm non, trẻ chủ yếu nhận biết xã hội bằng việc quan

    sát và bắt chước những gì quan sát được, chứ chưa thể có những chủ kiến của

    bản thân cũng như có được sự đánh giá đúng sai để xem xét có nên học tập hay

    không. Bởi vậy mà tâm hồn trong sáng ngây thơ của trẻ rất có khả năng sẽ bị

    biến đổi nhanh chóng, trở thành những đứa trẻ hư, những học sinh kém…

    Chúng ta cũng từng khẳng định trẻ em là mầm non tương lai của đất nước. Có lẽ

    nào ta lại để những mầm non ấy chưa kịp lớn lên đã dần thui chột và lụi tàn. Vì

    vậy, giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ là nhiệm vụ rất quan trọng trong các cơ

    sở giáo dục mầm non và trong môi trường gia đình của trẻ. Khoa học tâm lý đã

    khẳng định rằng khi hết tuổi mầm non, ở đứa trẻ đặt xong nền móng đầu tiên

    của nhân cách, sự phát triển về mặt đạo đức cho trẻ sau này đều mang rõ dấu ấn

    của thời ấu thơ. Vì thế, từ lứa tuổi này chúng ta phải chăm lo phát triển toàn diện

    cho trẻ, trên cơ sở đó mà từng bước hình thành tình cảm đạo đức cho trẻ theo

    phương hướng, yêu cầu mà xã hội mới đặt ra.

    Môn “Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học” có vai trò rất

    quan trọng đối với sự hình thành và phát triển đạo đức cho trẻ. Từ lâu người ta

    đã nhận thấy văn học là nguồn không cạn của tri thức, là kinh nghiệm sống mà

    con người cần tiếp thu và phát triển. Người ta cũng thấy rõ vị trí sức mạnh riêng

    của tác phẩm văn học trong sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục trẻ mầm

    non nói riêng. Trong các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi có một thể loại

    văn học được trẻ em trên khắp thế giới yêu thích và được nhân dân lao động từ

    ngàn xưa coi là một công cụ hữu hiệu để giáo dục đạo đức cho trẻ đó là truyện

    cổ tích. Ngay từ khi ra đời truyện cổ tích đã mang trong mình sứ mệnh vẻ vang,

    là một phương tiện để giáo dục, đặc biệt là giáo dục đạo đức cho trẻ. Truyện cổ

    tích mang nội dung luân lí, đạo đức, triết học rất rõ ràng. Vì vậy những bài học

    đạo đức ở đây trở nên sâu sắc. Mọi sự vật, hiện tượng đều có quan hệ nhân quả:

    gieo gió gặp bão, ở hiền gặp lành. Qua những hiện tượng trong cổ tích, trẻ em

    nhận thức được những khái niệm đầu tiên về sự công bằng và bất công, về nền

    văn hóa của dân tộc mình… Như vậy việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn

    học đặc biệt là thông qua truyện cổ tích có ý nghĩa to lớn đối với việc giáo dục

    đạo đức, bồi dưỡng phẩm chất tâm hồn, phát triển nhân cách trẻ mẫu giáo. Có

    2

    thể nói trẻ rất nhạy cảm với nội dung đạo đức trong tác phẩm văn học. Giáo dục

    đạo đức là một trong những mặt quan trọng nhất của sự phát triển nhân cách.

    Hiện nay, ở trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm – Thuận Châu –

    Sơn La, vấn đề giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo thông qua giờ kể chuyện cổ

    tích còn ít được đề cập đến hoặc có được đề cập đến nhưng chưa được áp dụng

    rộng rãi. Vì vậy để trẻ phát huy được tối đa những tình cảm đạo đức, tính tích

    cực, sáng tạo, tư duy tưởng tượng các nhà giáo dục cần có biện pháp và phương

    pháp giúp trẻ phát triển tình cảm đạo đức thông qua việc giúp trẻ làm quen với

    truyện cổ tích. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, mức độ biểu hiện tình cảm đạo

    đức của trẻ chưa cao, một trong những nguyên nhân đó là ở trường mầm non

    còn mang nặng tính hình thức, trong quá trình tổ chức hoạt động giáo viên chưa

    chú trọng phát huy vai trò của truyện cổ tích đối với sự phát triển tình cảm đạo

    đức của trẻ. Một trở ngại lớn đối với việc giáo dục đạo đức cho trẻ thông qua

    truyện cổ tích đó là việc sử dụng ngôn ngữ của trẻ. Mác nói: “Ngôn ngữ là vỏ

    hiện thực của lời nói và tư duy”. Không đủ vốn từ hay vốn từ không được tích

    cực hóa thì không thể hiểu được ý của người khác nói, không thể diễn đạt được

    điều mình muốn nói cho người khác hiểu được. Bên cạnh đó cơ sở vật chất còn

    hạn hẹp, phụ huynh thiếu quan tâm đến sự phát triển đạo đức của trẻ, trẻ chủ yếu

    sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình để giao tiếp. Mà đặc biệt là giáo viên chưa

    biết khai thác thế mạnh của truyện cổ tích trong việc giáo dục toàn diện nhân

    cách nói chung và tình cảm đạo đức nói riêng cho trẻ mẫu giáo.

    Với những lý do trình bày ở trên chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài:

    “Giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi trường Mầm non Hoa Quỳnh

    Chiềng Bôm – Thuận Châu – Sơn La thông qua việc giúp trẻ làm quen với

    truyện cổ tích”.

    2. Lịch sử vấn đề

    Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tác động của văn học và truyện cổ

    tích với sự phát triển toàn diện của trẻ. Qua quá trình tìm hiểu về sự tác động

    của truyện cổ tích trong việc giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi chúng

    tôi đã tiếp cận với một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước.

    Có lẽ đối với trẻ thơ không món quà nào hấp dẫn bằng truyện cổ tích. Vai

    trò của truyện cổ tích từ lâu đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan

    tâm nghiên cứu. Có thể kể đến các tác giả như:

    M.K Bogoliup Xkaia và V.v septsenk với tác phẩm: “Đọc và kể truyện văn

    học ở vườn trẻ” (Liên Xô cũ, 1967). Các tác giả tập trung nhấn mạnh đến các

    vấn đề cơ bản của người giáo viên trong việc đọc và kể truyện văn học ở trường

    3

    mẫu giáo. Tuy chưa có ý thức rõ ràng về thi pháp của thể loại truyện cổ tích

    nhưng các tác giả đã lưu ý giáo viên cần chú ý vào giá trị nội dung và hình thức

    nghệ thuật của truyện dân gian như những biện pháp tự sự với âm điệu lạc quan,

    tính duyên dáng mà giản dị của ngôn ngữ, với sự xuất hiện những câu văn vần,

    ca khúc và những câu đối thoại đơn giản. Công trình cũng nhấn mạnh không khí

    cổ tích, môi trường diễn xướng dân gian, thể hiện trên nét mặt, cử chỉ và sự giao

    cảm trực tiếp của người đọc và sự đáp lại của người nghe.

    Tập thể giáo viên mẫu giáo Hans Joachim, Horst, Cholothauer tác phẩm:

    “Về văn học cho trẻ mẫu giáo” (Cộng hòa dân chủ Đức, 1976). Công trình này

    đã trở thành cuốn sách giáo khoa nổi tiếng được tái bản lại nhiều lần. Cuốn sách

    đã quán triệt tư tưởng giáo dục cơ bản là: đề cao vai trò to lớn của môi trường

    văn hóa nghệ thuật và những ấn phẩm góp phần phát triển nhân cách trẻ mẫu

    giáo. Vai trò to lớn và tác dụng lâu dài của truyện cổ tích trong việc giáo dục trẻ

    thông qua chức năng xã hội, thẩm mỹ trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai

    được nhấn mạnh đặc biệt trong công trình này. Trong công trình tác giả xem

    trọng đặc trưng ngôn ngữ cổ tích và việc khai thác và phát triển năng lực ngôn

    ngữ trẻ.

    Tập thể tác giả Stanislawa Fryciego, I Zabeli – Lewanskie tác phẩm: “Văn

    hóa văn học ở trường mẫu giáo” (Ba Lan). Các tác giả đã nhìn thấy rõ sự cần

    thiết phải tạo không khí văn học kết hợp với các hình thức giao tiếp với trẻ, cổ

    vũ trẻ tập trung nhìn nhận, đánh giá về nhân vật văn học góp phần hình thành và

    hoàn thiện nhân cách trẻ.

    Tác giả Nguyễn Thu Thủy tác phẩm: “Giáo dục trẻ mẫu giáo qua truyện

    và thơ” (1986). Cuốn sách chưa đi sâu vào nội dung giáo dục của truyện cổ tích.

    Phạm Thị Việt – Lê Ánh Tuyết – Cao Đức Tiến, “Văn học và phương pháp

    cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học”, NXB giáo dục. Cuốn sách đã đề cập đến

    mục đích, nội dung và phương pháp cho trẻ làm quen với văn học. Đồng thời đã

    lựa chọn và mang đến cho trẻ những truyện kể dân gian phù hợp và hấp dẫn.

    Một số cuốn sách sưu tầm truyện cổ tích như:

    “100 truyện cổ tích nổi tiếng thế giới”, NXB Văn hóa thông tin

    “100 truyện cổ tích thế giới Ngọc Ánh sưu tầm và biên soạn”, NXB Dân trí

    “100 truyện cổ tích Việt Nam hay nhất”, NXB nhà văn, do tác giả Thái

    Đắc Xuân sưu tầm…

    Qua tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu chúng tôi nhận thấy đó đều là những

    công trình nghiên cứu vĩ đại trên cả lĩnh vực lí luận và thực tiễn. Tuy nhiên chưa

    4

    giáo 5 – 6 tuổi. Tuy nhiên, khi sử dụng truyện cổ tích vào việc giáo dục trẻ còn

    gặp nhiều vấn đề khó khăn, mức độ phát triển đạo đức thông qua truyện cổ tích

    cho trẻ mầm non từ 5 – 6 tuổi ở trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm –

    Thuận Châu – Sơn La còn có những hạn chế do đó tình cảm đạo đức mà trẻ thể

    hiện còn chưa cao. Nếu khóa luận đề xuất được những biện pháp phù hợp sẽ góp

    phần nâng cao hiệu quả giáo dục của truyện cổ tích trong việc hình thành tình

    cảm đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm –

    Thuận Châu – Sơn La nói riêng và phát triển nhân cách cho trẻ nói chung.

    9. Cấu trúc của khóa luận

    Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo nội dung khóa luận gồm

    ba chương:

    Chương 1: Cơ sở lí luận. Trong chương này chúng tôi đề cập đến cơ sở lí

    luận về việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học nói chung và việc thông qua

    truyện cổ tích nhằm phát triển tình cảm đạo đức cho trẻ nói riêng.

    Chương 2: Cơ sở thực tiễn vấn đề nghiên cứu. Trong chương này chúng tôi

    đề cập đến cơ sở thực tiễn về việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học và

    việc giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi trường Mầm non Hoa Quỳnh

    Chiềng Bôm – Thuận Châu – Sơn La thông qua việc giúp trẻ làm quen với

    truyện cổ tích.

    Chương 3: Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục tình cảm

    đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi trường Mầm non Hoa Quỳnh Chiềng Bôm – Thuận

    Châu – Sơn La thông qua việc giúp trẻ làm quen với truyện cổ tích. Thiết kế một

    số giáo án mẫu.

    7

    nhanh, đây là giai đoạn trẻ cần được sự giáo dục – xã hội hóa một cách tích cực.

    Trạng thái của trẻ lúc này đã tương đối phong phú, đồng thời cũng rất dễ biểu

    hiện ra ngoài, không ổn định, thiếu kiềm chế, thường có tâm lý sợ bóng tối, ma

    quỷ… Lúc này trẻ đã có những biểu đạt cao hơn như: đạo đức, lý trí… Có thể

    tuân thủ theo những quy phạm hành vi thông thường.

    Ngoài ra, trẻ sau 5 tuổi đã bắt đầu biết phân biệt giới tính, ý thức bản thân

    mình có sự phát triển. Khi trẻ luôn nhận được sự đánh giá tích cực, sự khẳng

    định của người xung quanh thường sẽ rất tự tin. Ngược lại có những trẻ luôn

    nhận được sự đánh giá tiêu cực, phủ định của người khác sẽ rất dễ nảy sinh cảm

    giác cô độc, tự ti. Biểu hiện của tính khí, tính cách, tâm trạng, hành vi… thường

    là hạt nhân của cá tính một con người. Thời điểm lúc trẻ tròn 6 tuổi là một bước

    ngoặt quan trọng của trẻ em. Ở độ tuổi mẫu giáo 5 – 6 tuổi là thời kỳ trẻ đang

    tiến vào bước ngoặt đó với sự biến đổi của hoạt động chủ đạo. Vì vậy, ở giai

    đoạn này, việc nâng cao khả năng nhận thức cho con trẻ là vô cùng quan trọng.

    Điều này bao gồm cả việc bồi dưỡng năng lực cho trẻ như khả năng quan sát, trí

    nhớ, tưởng tượng, lí giải sự vật hiện tượng… Giai đoạn này cũng là giai đoạn

    các kỹ năng học tập về nhận thức và ngôn ngữ của trẻ đạt hiệu quả cao nhất. Vì

    vậy, mọi sự can thiệp sớm trong việc cải thiện các khả năng giao tiếp, ngôn ngữ

    và ứng xử của trẻ cần phải đưa vào trong giai đoạn này. Truyện cổ tích là một

    thể loại văn học dân gian có khả năng đáp ứng nhu cầu này của trẻ. Tuy nhiên,

    khác với người lớn, trẻ em lứa tuổi mầm non chỉ có thể tiếp xúc với truyện cổ

    tích một cách gián tiếp. Sự tiếp nhận truyện cổ tích của trẻ bị chi phối bởi các

    quá trình tâm lý. Chính vì vậy, các cô giáo mầm non đều cần phải hiểu những

    đặc điểm tâm lý rất cơ bản của trẻ, có như thế thì mới có thể phát huy được sức

    mạnh của văn học nói chung, truyện cổ tích nói riêng trong việc giáo dục trẻ thơ.

    1.2. Nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non

    1.2.1. Khái niệm đạo đức

    Đạo đức là một hệ thống những quy tắc, chuẩn mực, một hình thái ý thức

    xã hội, chế định xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con

    người với con người, con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên và với

    chính bản thân mình.

    1.2.2. Khái niệm giáo dục

    Giáo dục theo nghĩa rộng là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức,

    có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới

    người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách

    cho họ.

    9

    Giáo dục học theo nghĩa hẹp là quá trình hình thành cho người được giáo

    dục: lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách,

    những hành vi thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho

    họ các hoạt động và giao lưu.

    1.2.3. Khái niệm giáo dục đạo đức

    Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch nhằm

    trang bị cho trẻ những hiểu biết về những nguyên tắc, qui tắc chuẩn mực đạo

    đức, rèn cho trẻ những tình cảm, hành vi đạo đức phù hợp với yêu cầu xã hội mà

    trẻ đang sống. Trên cơ sở đó hình thành cho trẻ những phẩm chất đạo đức,

    những nét tính cách của con người Việt Nam mới.

    1.2.4. Nhiệm vụ, nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo

    * Nhiệm vụ

    Trong quá trình giáo dục đạo đức, việc hình thành những tình cảm đạo đức

    có vị trí quan trọng hàng đầu. Bởi lẽ ở lứa tuổi này mọi hành động của trẻ đều bị

    chi phối bởi tình cảm. Khi trẻ yêu mến ai thì trẻ luôn nghe theo lời người đó và

    sẵn sàng làm mọi việc để người đó vui lòng và yêu quý trẻ. Mặt khác, tình cảm

    đạo đức là cơ sở, động lực thúc đẩy trẻ có những hành vi, việc làm tốt.

    Việc hình thành các thói quen đạo đức cho trẻ mẫu giáo là nhiệm vụ quan

    trọng thứ hai trong quá trình giáo dục đạo đức. Đặc điểm đặc trưng của trẻ mẫu

    giáo là khả năng bắt chước. Khi bắt chước hành vi của người khác, nhiều trẻ

    chưa hiểu được nội dung đạo đức hành vi của mình, do vậy dễ dẫn đến hành vi

    sai. Bởi vậy, cần hình thành ở trẻ những thói quen hành vi khác nhau trong quan

    hệ ứng xử với người lớn, bạn bè, nơi công cộng, với chính bản thân mình.

    Nhiệm vụ cơ bản thứ ba là hình thành ở trẻ những biểu tượng về chuẩn

    mực hành vi đạo đức và động cơ đạo đức đúng đắn. Trên cơ sở có tình cảm đạo

    đức đúng đắn, đứa trẻ tích cực, tự giác thực hiện những hành vi phù hợp với các

    yêu cầu của chuẩn mực hành vi đạo đức, dần dần nhận ra được các yêu cầu của

    chuẩn mực hành vi (thế nào là ngoan, thế nào là hư, là xấu…).

    Các nhiệm vụ giáo dục tình cảm đạo đức, hình thành thói quen đạo đức

    được thực hiện thống nhất trong quá trình giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo.

    * Nội dung giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo bao gồm những hệ thống

    thái độ và hành vi ứng xử với con người và cuộc sống xung quanh.

    Đối với người lớn: trẻ biết kính trọng, vâng lời, lễ phép, yêu quý ông bà,

    cha mẹ, cô giáo… thật thà, lễ phép. Biết vâng lời người lớn và làm theo những

    10

    lời dạy bảo của người lớn. Trẻ biết giúp đỡ ông bà, cha mẹ, anh chị… tự nguyện

    làm những việc tốt dù là rất nhỏ cho người thân vui lòng. Không quấy rầy người

    lớn. Lễ phép chào hỏi khi khách đến nhà. Trẻ biết “vâng”, “dạ”, biết cảm ơn

    khi người lớn cho quà hay giúp đỡ, biết xin lỗi khi làm sai, làm phiền người

    khác dù là vô tình. Biết quan tâm đến ông bà, cha mẹ, anh chị khi ốm đau hay

    bận việc (thể hiện ở cử chỉ, việc làm phù hợp với khả năng). Không la hét ồn ào

    khi người lớn ốm đau hay giờ nghỉ ngơi.

    Đối với bạn cùng tuổi: trẻ thân ái, đoàn kết với bạn bè khi chơi hay cùng

    hợp tác trong công việc, nhất là trong trò chơi. Sẵn sàng nhường đồ chơi hay quà

    bánh cho bạn khi bạn cần và thiếu. Giúp đỡ, thông cảm khi bạn gặp khó khăn

    hay có chuyện buồn; không trêu chọc, gây gổ với bạn; biết bênh vực bạn khi bị

    người khác bắt nạt.

    Đối với em bé hơn mình: biết chơi hòa thuận và bày trò cho em bé chơi

    cùng, biết nhường nhịn, dỗ dành em bé…

    Đối với người tàn tật hay những người gặp hoàn cảnh khó khăn: biết yêu

    thương, tôn trọng, thông cảm với những người tàn tật hay những người gặp hoàn

    cảnh khó khăn; không trêu chọc hay nhại tật của họ, biết giúp đỡ họ phù hợp với

    khả năng của bản thân.

    Quan tâm đến người lao động: biết yêu thương, tôn trọng, lễ phép với mọi

    người lao động như bác sĩ, chú công nhân, cô cấp dưỡng…

    Giáo dục tình cảm với trường, lớp, với thầy cô giáo: trẻ yêu ngôi trường

    của mình, thích được đến trường, yêu quý và thoải mái khi tới lớp. Trẻ yêu

    thương, kính trọng, lễ phép, biết ơn và nghe lời thầy cô giáo.

    Giáo dục tình yêu quê hương đất nước, Bác Hồ: trẻ yêu quý, kính trọng

    Bác Hồ, biết lá cờ Tổ quốc. Biết quan tâm đến những ngày lễ lớn, những sự kiện

    quan trọng, những truyền thuyết lịch sử trong nước hoặc ở địa phương, biết

    những biến đổi tích cực trong đời sống địa phương.

    Giáo dục tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, có ý thức bảo vệ thiên nhiên:

    đối với thế giới đồ vật (có thái độ nâng niu, giữ gìn, không làm bẩn đồ dùng đồ

    chơi, biết thu dọn, cất đồ dùng đồ chơi gọn gàng, ngăn nắp sau khi chơi). Đối với

    vật nuôi (trẻ thương yêu, chăm sóc). Đối với cây trồng (trẻ nâng niu, chăm sóc cây

    cối trong vườn, không hái hoa bẻ cành, trẻ yêu thích ngắm cảnh thiên nhiên đẹp…).

    1.2.5. Phương pháp giáo dục đạo đức

    Phương pháp GDĐĐ là những cách thức tác động tới trẻ nhằm hình thành

    ở trẻ những phẩm chất đạo đức theo mục đích giáo dục.

    11

    * Phương pháp dùng tình cảm

    Một trong những đặc điểm nổi bật trong đời sống tâm lí của trẻ nhỏ là sự

    phát triển mãnh liệt của những xúc cảm và chính những xúc cảm này lại có sức

    mạnh chi phối lớn đối với các hoạt động tâm lí của chúng. Trẻ có nhu cầu được

    yêu thương và cũng dễ yêu thương lại mọi người. Chính vì vậy những tác động

    giáo dục đạo đức đến với trẻ trước hết bằng con đường tình cảm. Thông qua tình

    cảm, người lớn có thể gợi lên ở trẻ những điều tốt lành. Đối với trẻ nhỏ, trong

    việc GDĐĐ, dùng mệnh lệnh hay lí lẽ sẽ không có tác dụng tích cực.

    Phương pháp dùng tình cảm trong GDĐĐ cần được hiểu theo hai chiều:

    chiều thứ nhất là bằng tình yêu thương của mình, người lớn hết lòng dạy dỗ bảo

    ban trẻ, chiều ngược lại là tạo ra những tình huống để trẻ có cơ hội đáp lại tình

    cảm của người lớn bằng những hành vi đạo đức tốt đẹp của chúng. Trong việc

    GDĐĐ cho trẻ mầm non, phương pháp dùng tình cảm là phương pháp chủ đạo

    xuyên suốt quá trình hình thành hệ thống thái độ và hành vi ứng xử có đạo đức

    cho trẻ. Vì ngay trong bản thân phương pháp này đã chứa đựng cả một nội dung

    sâu sắc của GDĐĐ đó là lòng nhân ái.

    * Phương pháp dùng nghệ thuật

    Những tác phẩm nghệ thuật được sáng tạo ra chủ yếu theo quy luật của tình

    cảm. Đặc điểm của các tác phẩm nghệ thuật là giàu hình tượng sinh động, dễ gợi

    cảm, được con người cảm thụ một cách trực tiếp. Vì vậy mà nghệ thuật rất gần

    với tuổi thơ, có thể nói nghệ thuật và tuổi thơ là hai người bạn đồng hành.

    Những bài thơ, câu chuyện, điệu hát bằng sức truyền cảm mãnh liệt của mình đã

    để lại những dấu ấn đẹp đẽ, sâu đậm trong tâm hồn tuổi thơ. Nghệ thuật sáng tạo

    theo quy luật của tình cảm nên nghệ thuật chứa trong đó những nội dung GDĐĐ

    sâu sắc. Phải kể đến những tác phẩm nghệ thuật gần gũi với trẻ thơ như tác

    phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm tạo hình… Tại trường mầm non,

    hàng tuần trẻ luôn được tiếp xúc với các tác phẩm nghệ thuật. Đây là điều kiện

    tốt để GDĐĐ cho trẻ. Thông qua việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học,

    thông qua hoạt động tạo hình và hoạt động âm nhạc trẻ lĩnh hội được những tình

    cảm, thói quen, hành vi đạo đức đúng đắn. Do vậy phương pháp dùng nghệ thuật

    là phương pháp GDĐĐ cho trẻ một cách nhẹ nhàng mà đạt hiệu quả rất cao.

    * Phương pháp dùng trò chơi

    Chơi đối với trẻ, nhất là trẻ mẫu giáo thường gây nhiều hứng thú và say mê

    nhất. Trò chơi tác động mạnh vào đời sống tình cảm của trẻ. Chơi là người bạn

    đồng hành của trẻ thơ, chơi là cuộc sống của trẻ, không chơi trẻ không thể phát

    triển được. Khi tham gia vào trò chơi trẻ học được cách nhường nhịn, giúp đỡ hỗ

    12

    trợ hợp tác với nhau một cách tích cực, trẻ được trải nghiệm những thái độ đạo

    đức và tập dượt được những hành vi ứng xử đối với mọi người xung quanh.

    * Phương pháp luyện tập hành vi ứng xử thường xuyên trong sinh hoạt

    hàng ngày

    Đây là những phương pháp chủ đạo để thực hiện các nhiệm vụ của công tác

    giáo dục đạo đức, nhằm biến những khái niệm đạo đức thành những hành vi,

    thói quen đạo đức. Chỉ trong hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ với mọi

    người trẻ mới lĩnh hội được qui tắc hành vi trong cuộc sống, mới tập hành động

    theo các tiêu chuẩn đạo đức, hình thành các kĩ năng, kĩ xảo, thói quen đạo đức,

    trên cơ sở đó trẻ tích lũy được những kinh nghiệm thực tế phong phú cho bản

    thân, nhờ vậy mà có những thái độ, những hành vi đúng đắn trong cuộc sống

    hàng ngày như lễ phép, tôn trọng người lớn, đoàn kết với bạn bè, nhường nhịn,

    giúp đỡ bạn bè, em nhỏ, giữ gìn đồ dùng đồ chơi…

    * Phương pháp nêu gương, giải thích

    Phương pháp nêu gương và giải thích rất thường xuyên được sử dụng trong

    việc giáo dục đạo đức cho trẻ. Trong đó, giải thích là phương pháp giáo viên

    dùng lời nói giúp trẻ hiểu được ý nghĩa hoặc lý do của một hành vi đạo đức, qui

    tắc đạo đức, phân biệt được điều tốt, điều xấu nhằm hướng trẻ vào thực hiện một

    cách tự giác những yêu cầu đạo đức. Còn nêu gương là dùng những tấm gương

    tốt, điển hình về những hành vi, phẩm chất đạo đức để giáo dục trẻ noi theo.

    * Phương pháp dùng khen, chê đúng lúc, đúng mực

    Trong việc giáo dục đạo đức, người lớn cần biết khen chê đúng lúc và đúng

    mực. Trong đó, khen ngợi là phương pháp tác động đến trẻ nhằm xác nhận, đánh

    giá biểu dương những tiến bộ mà trẻ đã đạt được đồng thời cũng là động lực

    thúc đẩy và khích lệ trẻ cố gắng nhiều hơn nữa. Ngược lại, chê trách là một hình

    thức đánh giá hành vi giúp trẻ tránh được những hành động xấu. Dùng phương

    pháp chê trách nhằm gây cho trẻ phạm sai lầm một cảm xúc hối hận, từ đó giúp

    trẻ ngăn ngừa được những hành động xấu.

    * Phương pháp thống nhất tác động giáo dục

    Trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ nhỏ, khi mà mọi nét tính cách đang ở

    thời điểm ban đầu của sự hình thành nhân cách thì những tác động cần tập trung

    về một hướng. Những tác động không chỉ thống nhất trong trường mầm non mà

    phải thống nhất tư tưởng và hành động giáo dục giữa trường mầm non với gia

    đình, giữa cô giáo với cha mẹ trẻ. Đây là một đảm bảo bằng vàng cho việc hun

    13

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 5 Tuổi
  • Đề Tài Một Vài Biện Pháp Quản Lý Công Tác Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Trong Trường Tiểu Học
  • Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Từ Đề Tài Nckh Giải Nhất Quốc Gia
  • Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt
  • Giải Pháp Về Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt
  • Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài : Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo
  • Một Số Giải Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Giải Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực Học Sinh Trong Lớp Học
  • Phương Pháp Kỷ Luật Tích Cực Trong Dạy Học Và Giáo Dục Học Sinh
  • KẾT THÚC VẤN ĐỀ

    Vậy để giúp trẻ hình thành kỹ năng sống tốt cho trẻ chúng ta cần tìm hiểu thật kỹ đặc điểm tâm lý của trẻ theo từng độ tuổi . Để từ đó giúp trẻ có kỹ năng sống thật tốt. Có nhiều người cho nó là một cái gì đó trừu tượng và mới mẻ nhưng thực chất trong cuộc sống hàng ngày khi trẻ ở nhà hay ở trường trẻ đều được rèn luyện ” Kỹ năng sống ” cơ bản. Để dạy trẻ kỹ năng sống, chính người lớn chúng ta hãy chứng tỏ mình là người sống có kỹ năng và hình thành kỹ năng sống cho trẻ thông qua mọi hoạt động. Kỹ năng sống bắt đầu từ việc nhỏ nhất, gần gũi với cuộc sống hàng ngày của trẻ và tạo dần cho trẻ các thói quen tốt. Đứa trẻ thích nghi được kỹ năng sống nhanh hay chậm, hình thành được lâu dài hay không sẽ phụ thuộc vào mức độ trẻ được thực hiện các kỹ năng sống đó.

    Việc dạy trẻ kỹ năng sống có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển toàn diện của trẻ, việc đứa trẻ thích nghi nhanh hay chậm, hình thành những kỹ năng sống phụ thuộc rất nhiều vào mức độ đúng đắn trong việc dạy trẻ của mỗi chúng ta. Vì trình độ nhận thức và tiếp thu của mỗi cháu khác nhau, hoàn cảnh sống từng gia đình mỗi cháu không đồng đều. Vì vậy qua quá trình thực hiện bản thân nhận thấy muốn thực hiện tốt việc này thì cha mẹ trẻ và giáo viên cần có lòng quyết tâm, sự bền bỉ, thường xuyên nỗ lực cố gắng, phải tận tâm, tận lực. Và phải luôn cố gắng là tấm gương để trẻ học theo.

    Vì vậy , giáo dục kỹ năng sống cho trẻ được hiểu là giáo dục những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằm giúp trẻ có thể chuyển tải những gì mình biết, những gì mình cảm nhận và những gì mình quan tâm thành những khả năng thực thụ giúp trẻ biết phải làm gì và làm như thế nào trong những tình huống khác nhau của cuộc sống. Để thế giới ngày mai được tốt đẹp hơn, con người sống có trách nhiệm, có sự tự tin, tự lập, người với người sống với nhau có tình, có nghĩa hơn… Chúng ta hãy bắt đầu dạy trẻ kỹ năng sống ngay từ bây giờ, ngay từ lúc này.

    Với kết quả đạt được của lớp C3 trường mầm non Duyên Hà được thể hiện ở sáng kiến cho thấy nếu biết phối hợp rèn các kỹ năng sống cho trẻ nói chung, cho trẻ 3 – 4 tuổi nói riêng sẽ đạt được kết quả cao.

    Từ những kết quả đã đạt được như trên bản thân tôi đã rút ra một số bài học kinh nghiệm trong việc dạy trẻ kỹ năng sống như sau:

    Người lớn luôn là tấm gương sáng mẫu mực cho trẻ noi theo, luôn yêu thương, tôn trọng, đối xử công bằng với trẻ và đảm bảo an toàn cho trẻ.

    Giáo viên cần nắm vững các nội dung rèn kỹ năng sống cho trẻ

    Giáo viên cần nắm bắt được đặc diểm tâm sinh lí, năng lực của trẻ, cần linh hoạt sáng tạo trong quá trình tổ chức các hoạt động rèn kỹ năng sống cho trẻ.

    Khuyến khích, chia sẻ với trẻ mọi lúc mọi nơi, động viên, khen ngợi trẻ kịp thời.

    Giáo viên cần tạo cơ hội để trẻ chơi, từ đó giúp trẻ tìm ra nhiều cách học khác nhau, những kinh nghiệm trẻ nhận được trong các trò chơi là nền tảng tạo nên sự hăng hái học tập lâu dài ở trẻ. Đồng thời, khi trẻ tham gia vào trò chơi, trẻ cần biết lập kế hoạch chơi, sáng tạo với các cách chơi và cố gắng đạt mục đích đây chính là những kỹ năng cơ bản để sống và làm việc sau này.

    Hình thành và phát triển ở trẻ những thói quen, nghi thức văn hóa trong ăn uống.

    Không ngừng học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp để phát huy những mặt tốt, rút kinh nghiệm những việc chưa làm được.

    Bên cạnh đó, cần phải có sự phối – kết hợp giữa giáo viên cùng lớp và sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu thì việc dạy trẻ sẽ đạt kết quả cao hơn.

    Cần phối kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ nhất là dạy trẻ kỹ năng sống. Để đạt được điều đó, đòi hỏi phải làm tốt công tác tuyên truyền – vận động tới toàn thể các bậc phụ huynh để họ nhận thức đúng đắn về việc dạy trẻ kỹ năng sống quan trọng như thế nào?. Từ đó giúp họ thấy rõ vai trò và trách nhiệm của gia đình trong việc chăm sóc – giáo dục trẻ.

    III. KHUYẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT:

    Kính mong Phòng giáo dục huyện , ban giám hiệu nhà trường tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm về vấn đề giáo dục những kỹ năng sống cho trẻ mầm non để chúng tôi được học tập, trao đổi kinh nghiệm

    Rất mong được sự đóng góp ý kiến của Ban giám hiệu, các chị em đồng nghiệp để bản sáng kiến của tôi hoàn thiện hơn.

    Tôi xin chân thành cảm ơn!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Trẻ 5
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Thẩm Mỹ
  • Giáo Dục Giúp Trẻ Tự Kỷ Hòa Nhập Xã Hội
  • Biện Pháp Giáo Dục Hòa Nhập Cho Trẻ Tự Kỷ Tuổi Mầm Non Tại Thành Phố Thái Nguyên
  • Một Số Biện Pháp Rèn Học Sinh Yếu Kém
  • Skkn Một Số Giải Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo Nhỡ
  • Giải Pháp Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực Để Thu Hút Học Sinh Và Đảm Bảo Duy Trì Sĩ Số Ở Trường Thcs Quang Trung
  • Sự Cần Thiết Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ Nhà Trẻ
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 3 Tại Lớp 3 Tuổi A Trường Mầm Non Minh Tiến” Xã Minh Tiến
  • Trường mầm non là nơi chăm sóc giáo dục các cháu từ những bước khởi đầu trong cuộc đời, vì thế tạo môi trường trong lành cho các cháu vui chơi, học tập là điều quan trọng, đó là điều kiện tốt để trẻ phát triển cả về thể chất và tinh thần, trong đó rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này của các trẻ. Chính vì vậy ngay từ giai đoạn mầm non, trẻ cần được trang bị kỹ năng sống để định hướng phát triển cá nhân một cách tốt nhất.

    Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý xã hội và giao tiếp mà mỗi cá nhân cần có để tương tác với những người khác một cách hiệu quả hoặc ứng phó với những vấn đề hay những thách thức của cuộc sống hàng ngày. Theo UNICEFF, kỹ năng sống là tập hợp rất nhiều kỹ năng tâm lý xã hội và giao tiếp cá nhân giúp cho con người đưa ra những quyết định có cơ sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển các kỹ năng tự xử lý và quản lý bản thân nhằm giúp họ có một cuộc sống lành mạnh và có hiệu quả. Như vậy, kỹ năng sống hướng vào việc giúp con người thay đổi nhận thức thái độ và giá trị trong những hành động theo xu hướng tích cực và mang tính chất xây dựng. Chính vì vậy mà ngay từ giai đoạn mầm non, trẻ cần được trang bị kỹ năng sống để định hướng phát triển một cách tốt nhất. Ngay từ khi mới sinh ra, con người đã được học kỹ năng sống. Từ lúc biết nói, cha mẹ đã dạy cho trẻ ngôn ngữ giao tiếp như "chào ông, chào bà, ạ cô, ạ chú,". Đó chính là kỹ năng giao tiếp đầu đời mà các em được rèn luyện. Lớn lên khi trẻ đến trường đến lớp, mối quan hệ xã hội được mở rộng bởi ngoài gia đình các em còn được làm quen, tiếp xúc với bạn bè, thầy cô. Đây là giai đoạn mà trẻ cần được rèn luyện các kỹ năng cơ bản để đối phó với thực tế và môi trường xung quanh. Các em cần được trang bị các kỹ năng cần thiết khác như rèn luyện và phát triển thể chất, tự nhận thức bản thân, xác định điểm mạnh, điểm yếu của bản thân để hoàn thiện nhân cách, hay các kỹ năng xã hội khác như: giao tiếp, hợp tác, làm việc nhóm, Do đó, nếu không có sự trang bị tốt về kỹ năng sống cho trẻ hay có sự định hướng không đúng đắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của các em. Rèn luyện kỹ năng sống sẽ giúp trẻ nhanh chóng hoà nhập và khẳng định vị trí của mình trong tập thể, mà xa hơn là một cộng đồng, xã hội. Chính vì vậy, việc rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ là điều rất cần thiết. Việc hình thành các kỹ năng cơ bản trong học tập và sinh hoạt là yếu tố quyết định đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này của trẻ. Khi xảy ra vấn đề nào đó, nếu không được trang bị kỹ năng sống, trẻ sẽ không đủ kiến thức để xử lý các tình huống bất ngờ. Vì thế, rèn luyện kỹ năng sống sẽ giúp trẻ sớm có ý thức làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho chính mình cũng như xã hội. Hiểu rõ được tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng sống cho trẻ, tôi mạnh dạn chia sẻ này với các bạn đồng nghiệp qua đề tài sáng kiến kinh nghiệm: "Một số giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại trường mầm non Thị trấn Vạn Hà, Thiệu Hóa, Thanh Hóa." 1.2. Mục đích nghiên cứu: Để tài nghiên cứu nhằm tìm ra những giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại truờng mầm non Thị trấn Vạn Hà, huyện Thiệu Hóa Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng: Trẻ lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi trường mầm non Thị trấn Vạn Hà huyện Thiệu Hóa Phạm vi: 35/35 Trẻ 5 - 6 tuổi ở lớp mẫu giáo lớn trường mầm non Thị trấn Vạn Hà huyện Thiệu Hóa 1.4. Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp thống kê số liệu - Phương pháp thực hành trải nghiệm - Phương pháp trò chuyện - Phương pháp dùng trò chơi - Phương pháp logic học. - Nghiên cứu qua tài liệu, tập san, mạng intenet. 2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm: Vấn đề bộc lộ kỹ năng sống ở mỗi đứa trẻ là khác nhau tùy theo hoàn cảnh và độ tuổi. Tuy nhiên, để trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần, khi ở độ tuổi quan trọng như mẫu giáo 5 - 6 tuổi, đặc biệt là giai đoạn chuẩn bị bước vào lớp 1, trẻ cần được trang bị kỹ năng sống. Gia đình và nhà trường cần có sự phối hợp chặt chẽ để giáo dục kỹ năng sống cơ bản cho trẻ một cách khoa học và có chiến lược. Hiện nay, việc tổ chức các hoạt động ngoại khoá luôn được các trường học quan tâm, chú trọng để rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh. Các buổi hoạt động ngoại khoá đóng vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục trẻ, mang đến cho các em một môi trường học tập năng động, tích cực. Thông qua các hoạt động ngoại khoá trẻ em sẽ được phát triển trí tưởng tượng, khả năng sáng tạo, đồng thời phát huy sự nhanh nhạy, khéo léo. Ngoài ra, hoạt động ngoại khoá còn giúp trẻ sống hoà đồng gắn bó, đồng thời phát triển tư duy một cách tích cực. Tham gia các hoạt động thực tế này, trẻ được tận mắt nhìn thấy và trải nghiệm thực tế, từ đó tạo nên vốn sống, là nền tảng cho sự phát triển nhân cách của trẻ.Trong thời buổi trẻ tiếp xúc với xã hội sớm như ngày nay giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thực sự rất cần thiết. Việc hình thành các kỹ năng cơ bản trong chăm sóc - giáo dục trẻ không chỉ mang lại lợi ích về mặt sức khoẻ mà còn giúp trẻ sớm có ý thức để làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho chính mình cũng như xã hội, giúp các em phát triển một cách tốt nhất. 2.2. Thực trạng: Năm học 2022 - 2022 tôi được nhà trường phân công phụ trách lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi với tổng số 35 trẻ trong đó: nam 20, nữ 15. Trong quá trình giảng dạy tôi thấy có những thuận lợi và khó khăn như sau: * Thuận lợi: Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo, giám sát việc giáo viên tổ chức hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ. Nhà trường luôn tạo điều kiện về cơ sở vật chất, đầu tư mua sắm trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho hoạt động học tập và vui chơi của trẻ mang tính đồng bộ và hiện đại. Giáo viên được tham gia đầy đủ các lớp tập huấn chuyên đề do Phòng Giáo dục và nhà trường tổ chức tiếp thu, bồi dưỡng nội dung kế hoạch chuyên đề một cách đầy đủ, sử dụng nguyên vật liệu sẵn có của địa phương,. Bản thân luôn nhiệt tình, tâm huyết với nghề, học hỏi nâng cao tình độ về chuyên môn nghiệp vụ. Đa số phụ huynh đều ý thức được tầm quan trọng của bậc học mầm non đối với sự phát triển của trẻ. Vì thế có sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường, giữa giáo viên chủ nhiệm lớp với phụ huynh chặt chẽ, thường xuyên. * Khó khăn: Nhiều phụ huynh chưa hiểu và quan tâm đến việc giáo dục rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ. Phụ huynh còn nuông chiều trẻ thường làm thay cho trẻ những công việc mà trẻ yêu cầu. Nhiều phụ huynh chưa có hành vi đúng đắn và lời nói mẫu mực. Không gian lớp còn chật hẹp chưa đảm bảo cho các hoạt động. Trẻ bị ảnh hưởng bởi cuộc sống hiện đại như: Internet, tivi, các trò chơi điện tử... Một số trẻ được sống trong môi trường quá bao bọc khiến trẻ quen dựa dẫm, không có tính tự lập, ích kỷ, lãnh cảm với môi trường xung quanh. c. Khảo sát chất lượng đầu năm (tháng 9) Ngay từ đầu năm học, tôi tiến hành khảo sát phân loại kỹ năng sống của trẻ thể hiện qua số liệu sau: Mức độ nội dung khảo sát Đạt Chưa đạt Số Lượng Tỷ lệ % Số Lượng Tỷ lệ % 1. Kỹ năng giao tiếp, chào hỏi 16 45,7% 19 54,3% 2. Kỹ năng tự lập, tự phục vụ 20 57,2% 19 42,8% 3. Kỹ năng hợp tác, hoạt động cùng nhóm 19 54,3% 16 45,7% 4. Trẻ mạnh dạn tự tin 15 42,9% 20 57,1% 5. Kỹ năng nhận thức 15 42,9% 20 57,1% 6. Kỹ năng vận động 18 51,4% 17 48,6% 7. Kỹ năng thích nghi 14 40% 21 60% 8. Kỹ năng vệ sinh 16 45,7% 19 54,3% Từ kết quả điều tra cho thấy đa số trẻ chưa có kỹ năng sống, đối với thực trạng trên của lớp và được sự giúp đỡ của ban giám hiệu nhà trường và các đồng nghiệp, tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp sau đây nhằm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ: 2.3. Các giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại trường mầm non Thị trấn Vạn Hà, huyện Thiệu Hóa. * Giải pháp 1: Giáo viên phải tự tìm tòi nghiên cứu và tham gia các lớp bồi dưỡng về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Xã hội ngày càng phát triển, giáo dục kỹ năng sống là việc hết sức quan trọng. Giáo dục kỹ năng sống cần bắt đầu ở tuổi mầm non. Ở lứa tuổi này đã hình thành những hành vi cá nhân, tính cách và nhân cách. Trước tiên, để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi giáo viên phải hiểu về tâm lý lứa tuổi của trẻ. Đây là vấn đề cốt lõi để giáo viên đưa ra phương pháp giáo dục phù hợp với độ tuổi. Tuy nhiên, trong thực tế bản thân giáo viên cũng không có đủ kỹ năng giảng dạy kỹ năng sống để thay đổi nhận thức, hành vi của trẻ theo hướng tích cực. Do đó, được trang bị kiến thức về kỹ năng sống là điều rất cần thiết đối với các giáo viên để giáo viên trực tiếp truyền tải đến trẻ nhằm giúp các em có những hành động tích cực thay vì giải quyết vấn đề trong cuộc sống hằng ngày. Bồi dưỡng, tự học, tìm hiểu để có kiến thức về kỹ năng sống nhằm giúp giáo viên phân tích được một số nội dung kỹ năng sống cho trẻ lứa tuổi mầm non; giải thích được các nguyên tắc dạy học tích cực trong giảng dạy kỹ năng sống; bước đầu hình thành được các kỹ năng cơ bản để tiến hành giờ dạy kỹ năng sống cho trẻ như kỹ năng tổ chức trò chơi, kỹ năng tạo động lực, điều khiển nhóm, kỹ năng giao tiếp thuyết trình, kỹ năng đánh giá và khích lệ học sinh Người giáo viên cần có kĩ năng tự học, tự nghiên cứu, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin, kĩ năng hợp tác trong dạy học Việc bồi dưỡng được xem là một nhu cầu tự thân của mỗi giáo viên, được diễn ra thường xuyên liên tục trong suốt cả quá trình công tác của mỗi người. Bản thân được tham gia các lớp chuyên đề hè hàng năm do Phòng giáo dục và đào tạo huyện Thiệu Hóa tổ chức, trong đó nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ luôn được ưu tiên hàng đầu. Sau khi tham gia khóa bồi dưỡng, giáo viên sẽ có những kiến thức cơ bản về nội dung giáo dục kỹ năng sống, các phương pháp giáo dục kỹ năng sống, phương tiện giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng thiết kế bài giảng và tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non. Ngoài ra, tôi còn nghiên cứu việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các tài liệu do Phòng cung cấp, tập báo giáo dục do nhà trường phát, các phương tiện thông tin đại chúng như mạng internet, học hỏi kinh nghiệm của chị em đồng nghiệp. Thông qua giải pháp này giúp tôi có thêm kiên thức để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. * Giải pháp 2: Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động trải nghiệm. Hoạt động trải nghiệm là một cách học thông qua thực hành, với quan niệm việc học là quá trình tạo ra tri thức mới trên cơ sở trải nghiệm thực tế, dựa trên những đánh giá, phân tích trên những kinh nghiệm, kiến thức sẵn có. Như vậy thông qua các hoạt động trải nghiệm, trẻ được cung cấp các kiến thức, kĩ năng từ đó hình thành những năng lực, phẩm chất và kinh nghiệm, góp phần hình thành cho trẻ không chỉ về kiến thức khoa học, kỹ năng thực hành mà còn tư duy bậc cao. Trong các hoạt động trải nghiệm, giáo viên mầm non có vai trò định hướng, hỗ trợ, đánh giá, uốn nắn, sửa sai cho trẻ. Hoạt động trải nghiệm đối với trẻ mầm non nói chung và lứa tuổi 5 - 6 tuổi nói riêng là một hoạt động mang nhiều ý nghĩa thiết thực, mỗi nhà trường tổ chức theo cách khác nhau nhưng đã tạo cho trẻ có 1 sân chơi vui vẻ, thoải mái, trẻ được hóa thân làm những công việc bắt chước người lớn, được rèn luyện và củng cố những kĩ năng, năng lực cần thiết khi bước vào trường Tiểu học, giúp trẻ phát triển một cách toàn diện về các mặt Đức - Trí - Thể - Mĩ. Hoạt động trải nghiệm là một cách học thông qua thực hành, với quan niệm việc học là quá trình tạo ra tri thức mới trên cơ sở trải nghiệm thực tế, dựa trên những đánh giá, phân tích trên những kinh nghiệm, kiến thức sẵn có. Như vậy, thông qua các hoạt động trải nghiệm, trẻ được cung cấp các kiến thức, kĩ năng từ đó hình thành những năng lực, phẩm chất và kinh nghiệm, góp phần hình thành cho trẻ không chỉ về kiến thức khoa học, kỹ năng thực hành mà còn tư duy bậc cao. Trong các hoạt động trải nghiệm, giáo viên mầm non có vai trò định hướng, hỗ trợ, đánh giá, uốn nắn, sửa sai cho trẻ. Với Chủ đề "Tết nguyên đán " nhằm cung cấp cho trẻ những hiểu biết ban đầu về phong tục, tập quán của cha ông về ngày tết cổ truyền của dân tộc, biết được mùa Xuân là mùa đẹp nhất trong năm, mùa của nhiều lễ hội lớn của quê hương, đất nước. Trường mầm Thị trấn Vạn Hà đã tổ chức cho trẻ thi hát, múa, hội chợ về Tết và mùa xuân. Ví dụ: Hoạt động tham gia tiệc buffet: Nhà trường tổ chức tiệc buffet: trước khi tham gia hoạt động này giáo viên phải cung cấp những kiến thức cơ bản và trẻ được trải nghiệm như: + Trẻ được ăn những món mình thích. + Có ý thức giữ trật tự, nhường và chờ đợi người đến trước lấy xong mới đến lượt mình. + Cầm đĩa thức ăn trên tay, di chuyển chậm và cẩn trọng, không va chạm vào người khác.. + Thử trước một ít với món lạ, nếu nếm thử thấy được thì hãy ăn thật, bởi nếu không hợp khẩu vị sẽ rất lãng phí. + Với mỗi món ăn ưa thích cũng không nên lấy nhiều, để ăn được nhiều món. Các hoạt động cho trẻ được trải nghiệm dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu của trẻ theo phương châm "chơi mà học, học bằng chơi" cũng được nhà trường tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau thông qua tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi dựa vào cộng đồng tại địa phương. Qua hoạt động mà trẻ được trải nghiệm trẻ đã lĩnh hội được kĩ năng sống cần thiết trong cuộc sống như: Kĩ năng lao động, kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác trong nhóm bạn bè..., trẻ vui tươi, sảng khoái, phấn khởi với sản phẩm do chính bàn tay mình tạo ra. * Giải pháp 3: Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các giờ học. Hình thành thói quen là một trong những điều đầu tiên cần chú trọng trong việc rèn kỹ năng sống cho mẫu giáo 5 - 6 tuổi. Ngay từ đầu năm học, tôi đã tập cho trẻ ý thức tự cất đồ dùng gọn gàng, ngăn nắp lúc vào lớp cũng như lúc ra về; phân công bạn nhóm trưởng kiểm tra xem bạn nào thực hiện chưa đạt để cuối ngày đánh giá, nêu gương, khích lệ động viên cá nhân có cố gắng. Có thể đưa ra hình thức khen thưởng như cắm cờ, tặng quà, để trẻ thực hiện tốt hơn. Từ đó việc cất đồ dùng không còn là hành động mà trở thành ý thức, trẻ tự thực hiện không cần phải đợi nhắc nhở hay kiểm tra. Thông qua các tiết học tôi đã lồng ghép việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ dưới hình thức này sẽ giúp trẻ hình thành những thói quen, hành vi có văn hoá là rất cần thiết. Ngoài ra trẻ vừa được cung cấp kiến thức vừa được giáo dục kỹ năng cần thiết. Ví dụ: * Hoạt động làm quen với toán: "Sắp xếp quy tắc theo quy tắc". Giáo viên dạy trẻ kỹ năng s¾p xÕp ®èi t­îng theo qui t¾c 1-2-1 và củng cố kỹ năng suy luận, phán đoán cho trẻ. Qua tiết học tạo cho trẻ sự hứng thú, tích cực mạnh dạn, tự tin trong giờ học. * Hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học: "Truyện Tích chu" Thông qua câu chuyện trẻ biết yêu thương, chăm sóc, bảo vệ người thân của mình và mọi người xung quanh. Hình thành ở trẻ những kỹ năng xử lý tình huống khi người thân bị ốm, hình thành cho trẻ những thói quen, hành vi có văn hoá. * Hoạt động tạo hình: "Xé dán ngôi nhà của bé" Cô giáo dục trẻ biết yêu quý ngôi nhà của mình ở, biết quét dọn ngôi nhà của mình sạch sẽ, sắp xếp đồ dùng trong gia đình ngăn nắp. Với hoạt động này kỹ năng xé dán khéo léo sẽ được hình thành cho trẻ. * Hoạt động khám phá khoa học: Với hoạt động khám phá khoa học sẽ hình thành ở trẻ những kỹ năng quan trọng như: Tự bảo vệ bản thân, phán đoán, quan sát, so sánh, phân loại, thử nghiệm dự đoán, giao tiếp * Hoạt động cho trẻ làm quen với chữ cái: Tôi dạy trẻ phát âm đúng, nói rõ ràng, biết sắp xếp đồ dùng học tập gọn gàng ngăn nắp. * Hoạt động giáo dục âm nhạc: Thông qua bài hát : " Thật đáng yêu" giáo dục trẻ thói quen đi ngủ và dạy đúng giờ, tự vệ sinh thân thể sạch sẽ như đánh răng để có hàm răng trắng và khỏe mạnh.[2] Bên cạnh đó, ở các giờ "Buổi diễn văn nghệ cuối tuần" tôi đã giáo dục cho trẻ kỹ năng mạnh dạn, tự tin thể hiện bản thân trước đám đông. Ngoài ra, trong giờ học này tôi còn cho động viên cho trẻ tập làm MC. Dưới hình thức này sẽ giúp trẻ hình thành kỹ năng thuyết trình. Như vậy, ta thấy trẻ đã biết cách hoạt động theo nhóm, có tinh thần hợp tác với nhau và cùng nhau biểu diễn bằng các dụng cụ âm nhạc, cùng nhau hát lại bài hát. Thông qua hoạt động này, ta thấy trong hoạt động giáo dục âm nhạc nhưng trẻ vừa được hoạt động nhóm, vừa có được sự mạnh dạn tự tin biểu diễn hát cùng nhau. Tóm lại: việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ trong việc lồng ghép ở các tiết học đòi hỏi mỗi một giáo viên phải suy nghĩ sáng tạo trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học theo chương trình giáo dục mầm non mới. Đặc biệt, chú trọng phát triển năng lực cá nhân của trẻ. Lấy trẻ và năng lực cá nhân của trẻ làm trung tâm. * Giải pháp 4: Giáo dục kỹ năng sống thông qua các hoạt động vui chơi. Vui chơi là hoạt động tạo cho trẻ nhiều hứng thú và cũng cho trẻ cơ hội được vận dụng nhiều kiến thức kĩ năng khác nhau vào giải quyết nhiệm vụ chơi. Trẻ được thử nghiệm nhiều vai trò khác nhau qua các vai chơi; được phát huy trí tưởng tượng, sáng tạo; học hỏi và hợp tác với các bạn cùng chơi... Thông qua xem phim, nghe kể truyện: Nội dung các bộ phim, câu chuyện phù hợp sẽ là gợi ý cho trẻ về cách cư xử đúng, cách giải quyết vấn đề hiệu quả. Thông qua hoạt động sáng tạo: Với trò chơi đóng vai, trẻ "nhập vai" và giải quyết tình huống giả định, giúp trẻ tập các kĩ năng sống một cách nhẹ nhàng, thú vị. Ví dụ: Đi siêu thị mà bị lạc thì trẻ làm gì?, làm hỏng đồ chơi của bạn trẻ sẽ làm thế nào?... Như vậy, việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ là việc làm cần thiết và có ý nghĩa thiết thực. Mỗi đứa trẻ có những yếu tố cá nhân khác nhau và sự ảnh hưởng của các quan hệ xã hội cũng như hoàn cảnh sống, môi trường trải nghiệm khác nhau nên nhà giáo dục cần có những hình thức, biện pháp linh hoạt hợp lý dựa trên quan điểm then chốt của giáo dục mầm non là "Lấy trẻ làm trung tâm" và tận dụng các điều kiện để tạo ra nhiều cơ hội cho đứa trẻ được tự trải nghiệm. Với kĩ năng sống phong phú trẻ sẽ biết cách khai thác kiến thức từ cuộc sống xung quanh, tạo lập các mối quan hệ với tự nhiên và con người để sống an toàn, hòa bình và phát triển. * Giải pháp 5: Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng. Giáo dục mầm non giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ. Hình thành những yếu tố đầu tiên về nhân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỷ Năng Sống Cho Trẻ 4 5 Tuổi
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Lớp 5 Thông Qua Môn Tiếng Việt
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Lớp 5 Thông Qua Công Tác Chủ Nhiệm
  • Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Lớp 5
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Lớp 5 Thông Qua Môn Tiếng Việt
  • Giải Pháp Sống Còn Cho Nông Sản

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Tế Việt Nam Năm 2022: Từ Giữ Thăng Bằng Đến Phát Triển Bền Vững
  • Bài 5 – Tiết 1. Một Số Vấn Đề Châu Phi (Địa Lý 11)
  • Việt Nam Và Các Nước Nói Tiếng Pháp Ở Châu Phi Mở Rộng Hợp Tác
  • Chính Phủ Ban Hành Loạt Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế 2022
  • Các Giải Pháp Công Nghệ Nhằm Ứng Phó Với Covid
  • Cơ giới hóa để phát triển nông nghiệp.

    Không chấp nhận nhìn thành quả khó nhọc của người nông dân bị đổ xuống sông xuống biển, nhiều cá nhân, tổ chức ở các địa phương thực hiện chiến dịch kêu gọi “giải cứu” nông sản như là động thái chia sẻ với người nông dân trong hoàn cảnh khó khăn này. Điều này là cần thiết và phù hợp trong thời điểm khó khăn hiện nay, giúp người nông dân giảm phần nào thiệt hại trong sản xuất, kinh doanh.

    Tuy nhiên, phương án này chỉ mang tính tình thế. Thực tế cho thấy, không phải chỉ đến khi những ảnh hưởng của dịch Covid-19 mới dẫn đến ùn ứ, dư thừa hàng nông sản mà trong nhiều năm qua, việc “giải cứu” nông sản đã diễn ra ở nhiều nơi, nhiều thời điểm khác nhau khiến biện pháp giải quyết đầu ra cho nông sản thông qua “giải cứu” đã trở nên quen thuộc. Điệp khúc được mùa rớt giá đến hẹn lại tái diễn khiến nông dân ngao ngán vì dẫu sản phẩm có bán được cũng không bù đắp nổi chi phí sản xuất họ đã bỏ ra.

    Tất nhiên, dịch Covid-19 cũng là một trong những tác nhân tác động xấu đến ngành nông nghiệp. Nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc ùn ứ nông sản, không tiêu thụ được là do công tác nghiên cứu, dự báo, cung cấp thông tin thị trường trong lĩnh vực nông nghiệp của nước ta còn nhiều hạn chế. Người sản xuất thiếu thông tin hoặc không được cung cấp thông tin kịp thời, thiếu sự hướng dẫn, tư vấn, khuyến cáo của các cơ quan chức năng trong quá trình sản xuất, dẫn đến tại nhiều địa phương, nông dân vẫn sản xuất hàng hóa theo kiểu “tù mù”, theo phong trào mà không có định hướng, chiến lược cụ thể.

    Theo đó, thay vì tìm hiểu thông tin thị trường, địa chỉ tiêu thụ sản phẩm rồi mới đầu tư sản xuất, thì hiện nay thấy một loại nông sản nào đó được giá bà con nông dân đổ xô vào sản xuất, dẫn đến dư thừa và thường xuyên bị các tiểu thương ép giá, buộc phải bán tống bán tháo, thậm chí đổ bỏ.

    Có rất nhiều nguyên nhân khiến nông sản Việt dù đã có nhiều cố gắng nhưng chưa xứng với tiềm năng, lợi thế trong đó không thể không kể đến lý do vẫn coi nhẹ khâu chế biến, vẫn chỉ đơn thuần là xuất khẩu nông sản tươi vì vậy, câu chuyện nông sản cần giải cứu vẫn cứ tái diễn. Theo Bộ NNPTNT, hiện nhiều doanh nghiệp chưa chủ động được nguồn cung nguyên liệu đảm bảo về số lượng, chất lượng; khả năng chế biến đối với một số ngành hàng còn yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu, nhất là vào cao điểm mùa vụ như rau quả, gây tổn thất sau thu hoạch. Ngoài ra, trình độ công nghệ chế biến nhìn chung ở mức độ trung bình của thế giới; sản phẩm chế biến chủ yếu vẫn là sơ chế có giá trị gia tăng thấp, chiếm khoảng 70-85%.  Do vậy, Bộ NNPTNT đã đặt mục tiêu “Việt Nam phải đẩy mạnh nâng cao năng lực công nghiệp chế biến nông sản và thúc đẩy cơ giới hóa trong nông nghiệp” được xác định là nội dung căn bản góp phần nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững cho nông sản.

    Trong 2 tháng liên tiếp, tháng 2 và tháng 3, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì 2 hội nghị để tìm hướng đi cho nông sản. Cùng đó, để gỡ khó cho nông sản Việt trước tác động tiêu cực từ bệnh dịch thời gian qua, Bộ Công thương đã yêu cầu toàn bộ Thương vụ ở nước ngoài tổ chức ngay các hoạt động tìm kiếm, kết nối với các khách hàng mới để góp phần chuyển hướng xuất khẩu mặt hàng nông sản sang một số thị trường khác, đặc biệt là trái cây.  Bộ Công thương đã lập tổ công tác đánh giá lại quy mô khối lượng ách tắc, xác định địa bàn thị trường có tiềm năng, dư địa để tìm kiếm đầu mối thúc đẩy tiêu thụ.

    Điều đáng mừng là những giải pháp gỡ khó cho nông sản Việt đã phát huy hiệu quả bước đầu. Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) cho biết, tính đến hết 17/3 đã có 2.084 xe hàng hóa, trái cây, nông sản được thông quan qua các cửa khẩu biên giới phía Bắc.

    Cùng đó, Bộ trưởng Bộ NNPTNT Nguyễn Xuân Cường cũng cho biết, đã cử nhiều đoàn đi các nước như Mỹ, Nga, Brazil, Các tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE), Nhật Bản,… để tìm kiếm thị trường cho nông sản Việt Nam. Ngành nông nghiệp đang tích cực tái cơ cấu, đẩy mạnh việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới, tránh phụ thuộc quá vào một thị trường nào đó.

    Các chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp cho rằng, để nâng cao năng suất, hiệu quả lao động và đời sống của nông dân, nhất là tìm giải pháp hữu hiệu trong việc tìm đầu ra cho nông sản một cách bền vững, đòi hỏi các bộ, ngành chức năng và các cấp chính quyền địa phương phải phối hợp khắc phục những nguyên nhân đang kìm hãm sự phát triển của ngành nông nghiệp. Trên cơ sở đó xây dựng giải pháp căn cơ, có tính khả thi để tìm đầu ra vững chắc cho nông sản kể cả thị trường trong và ngoài nước. 

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Ty Tnhh Giải Pháp Prentow Việt Nam
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Cà Phê Ở Việt Nam
  • Giải Pháp Nâng Giá Trị Cà Phê Việt Nam Xuất Khẩu
  • Giải Pháp Dành Cho Doanh Nghiệp – Teseco
  • Tác Động Của Đại Dịch Covid
  • Những Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Trẻ 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ 3
  • Đề Tài : Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo
  • Một Số Giải Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Giải Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỷ Luật Tích Cực Học Sinh Trong Lớp Học
  • Đầu năm học, tôi tham gia lơp tập huấn chuyên đề giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Qua đó giúp tôi hiểu được rằng chương trình học tập thường cho trẻ tiếp xúc từ từ với các kiến thức văn hoá trong suốt năm học, còn thực tế trẻ sẽ học tốt nhất khi có được cách tiếp cận một cách cân bằng, biết cách phát triển các kỹ năng nhận thức, cảm xúc và xã hội. Vì thế, khi trẻ tiếp thu được những kỹ năng giao tiếp xã hội và các hành vi ứng xử cơ bản trong nhóm bạn, thì trẻ sẽ nhanh chóng sẵn sàng và có khả năng tập trung vào việc học tập một cách tốt nhất.

    2. Biện pháp giúp tôi xác định những kỹ năng sống cơ bản cần dạy trẻ ở lứa tuổi mầm non:

    Đối với tâm sinh lý trẻ em tuổi mẫu giáo thì có nhiều kỹ năng quan trọng mà trẻ cần phải biết trước khi tập trung vào học tập và vui chơi. Thực tế kết quả của nhiều nghiên cứu đều cho thấy các kỹ năng quan trọng nhất trẻ phải học vào thời gian đầu của năm học chính là những kỹ năng sống như: sự hợp tác, tự kiểm soát, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giao tiếp. Việc xác định được các kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi sẽ giúp giáo viên lựa chọn đúng những nội dung trọng tâm để dạy trẻ .

    3. Biệp pháp cụ thể hóa nội dung của những kỹ năng cơ bản mà giáo viên cần dạy trẻ:

    + Kỹ năng sống tự tin : Một trong những kỹ năng đầu tiên mà giáo viên cần chú tâm là phát triển sự tự tin, lòng tự trọng của trẻ. Nghĩa là giúp trẻ cảm nhận được mình là ai, cả về cá nhân cũng như trong mối quan hệ với những người khác. Kỹ năng sống này giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin trong mọi tình huống ở mọi nơi.

    + Kỹ năng sống hợp tác: Bằng các trò chơi, câu chuyện, bài hát giáo viên giúp trẻ học cách cùng làm việc với bạn, đây là một công việc không nhỏ đối với trẻ lứa tuổi này. Khả năng hợp tác sẽ giúp trẻ biết cảm thông và cùng làm việc với các bạn.

    + Kỹ năng thích tò mò, ham học hỏi, khả năng thấu hiểu: Đây là một trong những kỹ năng quan trọng nhất cần có ở trẻ vào giai đoạn này là sự khát khao được học. Tôi sử dụng nhiều tư liệu và ý tưởng khác nhau để khêu gợi tính tò mò tự nhiên của trẻ. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, các câu chuyện hoặc các hoạt động và tư liệu mang tính chất khác lạ thường khêu gợi trí não nhiều hơn là những thứ có thể đoán trước được.

    + Kỹ năng giao tiếp: Giáo viên cần dạy trẻ biết thể hiện bản thân và diễn đạt ý tưởng của mình cho người khác hiểu, trẻ cần cảm nhận được vị trí, kiến thức của mình trong thế giới xung quanh nó. Đây là một kỹ năng cơ bản và khá quan trọng đối với trẻ. Nó có vị trí chính yếu khi so với tất cả các kỹ năng khác như đọc, viết, làm toán và nghiên cứu khoa học. Nếu trẻ cảm thấy thoải mái khi nói về một ý tưởng hay chính kiến nào đó, trẻ sẽ trở nên dễ dàng học và sẽ sẵn sàng tiếp nhận những suy nghĩ mới. Đây chính là yếu tố cần thiết để giúp trẻ sẳn sàng học mọi thứ.

    Ngoài ra, cần dạy trẻ nghi thức văn hóa trong ăn uống qua đó dạy trẻ kỹ năng lao động tự phục vụ, rèn tính tự lập như: Biết tự rửa tay sạch sẽ trước khi ăn, chỉ ăn uống tại bàn ăn, biết cách sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống một cách đúng đắn, ăn uống gọn gàng, không rơi vãi, nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn, ngậm miệng khi nhai thức ăn, biết mời trước khi ăn, cảm ơn sau khi ăn, biết tự dọn, cất đúng chỗ bát, chén, thìa … hoặc biết giúp người lớn dọn dẹp, ngồi ngay ngắn, ăn hết suất. không làm ảnh hưởng đến người xung quanh.

    4. Biện pháp dạy trẻ kỹ năng sống.

    – Tôi thường trao đổi với BGH nhà trường để xác định mục tiêu của lớp học, kết quả mong đợi phù hợp với tiềm năng phát triển của trẻ và xây dựng kế hoạch nghiên cứu cho phù hợp với đặc điểm của từng cá nhân trẻ.

    – Tạo điều kiện cho trẻ được tham gia vào các họat động giáo dục mà trẻ thích, theo thời gian biểu của nhà trường đã đưa ra.

    – Tập trẻ các kỹ năng làm việc với bạn bè, cô giáo, cha mẹ, tạo cơ hội, tổ chức nhiều hoạt động nhằm giúp trẻ tăng cường phối hợp bạn bè, cô giáo, cha mẹ để dạy trẻ kỹ năng sống đạt hiệu quả.

    – Tôi luôn luôn đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm khuyến khích sự chuyên cần, tích cực của trẻ, và khai thác, phát huy năng khiếu, tiềm năng sáng tạo ở mỗi trẻ. Vì mỗi đứa trẻ là một nhân vật đặc biệt, phải giáo dục trẻ như thế nào để trẻ cảm thấy thoải mái trong mọi tình huống của cuộc sống.

    -Tôi thường xuyên tổ chức các họat động giáo dục chăm sóc giáo dục trẻ một cách thích hợp tuân theo một số quan điểm: Giúp trẻ phát triển đồng đều năm lĩnh vực: thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm- xã hội và thẩm mỹ. Phát huy tính tích cực của trẻ, giúp trẻ hứng thú, chủ động khám phá tim tòi, biết vận dụng vốn kiến thức, kỹ năng vào việc giải quyết các tinh huống khác nhau.

    -Thường xuyên liên hệ với phụ huynh để kịp thời nắm tình hình của trẻ, trao đổi với phụ huyng những nội dung và biện pháp chăm sóc và giáo dục trẻ tại nhà, bàn bạc cách giải quyết những khó khăn gặp phải.

    5. Biện pháp tuyên truyền các bậc cha mẹ cách dạy trẻ kỹ năng sống trong gia đình:

    – Có thể thấy, trẻ thường dễ dàng kết bạn khi chơi theo đôi bạn trong môi trường của riêng chúng hơn là chơi trong một nhóm bạn tại trường. Nhiều giáo viên thấy rằng, một số trẻ có khó khăn trong việc kết bạn hoặc chia sẻ với bạn theo nhóm lớn, lại có thể hình thành mối liên kết thân thiết với bạn mới trong môi trường gia đình của trẻ. Cha mẹ có thể giúp trẻ phát triển kỹ năng cảm xúc và xã hội bằng cách tạo ra các mối liên kết bạn bè tại gia đình. Cha mẹ hãy hỏi trẻ muốn mời ai về nhà chơi? Mối quan hệ này được trẻ duy trì khi đến trường, khi có được mối liên kết với một trẻ nào đó trong lớp, các mối quan hệ khác sẽ hình thành tiếp theo một cách dễ dàng hơn.

    – Tuyên truyền để cha mẹ trẻ không nên bực bội khi trẻ về đến nhà hoặc cho rằng trẻ chỉ biết chơi suốt ngày. Cha mẹ cần có niềm tin với sự hướng dẫn của giáo viên và năng khiếu tò mò bẩm sinh của trẻ, trẻ có thể lĩnh hội kinh nghiệm nhằm giải quyết các vấn đề quan trọng, đọc, làm toán, thử nghiệm một số kỹ năng khoa học khi chơi với nhau.

    – Phụ huynh phối hợp với tôi một cách chặt chẽ và hợp lý bằng việc tham gia các cuộc họp, vào các buổi trao đổi với giáo viên, thường xuyên trao đổi với giáo viên về con của mình, chỉ bằng cách đó thôi cha mẹ đã giúp trẻ hiểu rằng học là phải học cả đời.

    – Cần giáo dục để trẻ cảm thấy thoải mái tự tin trong mọi tình huống của cuộc sống. Nếu cha mẹ múôn giáo dục trẻ biết tự giữ kỷ luật, trứơc hết cần đánh thức sự tự ý thức của trẻ, cố gắng khơi gợi để trẻ luôn nghĩ về bản thân mình một cách tích cực và đừng bao giờ phá vở suy nghĩ tích cực về bản thân trẻ.

    – Trong gia đình, việc dạy trẻ những nghi thức văn hóa trong ăn uống rất cần thiết. Để trẻ có được những kỹ xảo, thói quen sử dụng đồ dùng một cách chính xác và thuần thục và khéo léo, không chỉ đòi hỏi trẻ phải thường xuyên luyện tập, mà còn phải đáp ứng được những nhu cầu của trẻ, đó là cung cấp cho trẻ những mẫu hành vi văn hóa, những hành vi đúng, đẹp, văn minh của chính cha mẹ và những người xung quanh trẻ.

    6. Biện pháp tuyên truyền các bậc cha mẹ thực hiện dạy trẻ các kỷ năng sống cơ bản:

    – Trứơc hết, người lớn phải gương mẫu, yêu thương, tôn trọng, đối xử công bằng với trẻ và đảm bảo an tòan cho trẻ.

    – Tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ vui chơi

    – Giáo viên cần tạo các tình huống chơi trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ. Vì đối với trẻ chơi trò chơi có một vai trò rất quan trọng trong việc rèn kỷ năng sống cho trẻ. Trẻ lớn lên, học hành và khám phá thông qua trò chơi. Các hành động chơi đòi hỏi trẻ phải suy nghĩ, giải quyết các vấn đề, thực hành các ý tưởng.

    Ví dụ: Giáo viên có thể giới thiệu với trẻ về chữ cái và các con số thông qua các trò chơi đóng vai, các trò chơi xây dựng, các trãi nghiệm văn học và âm nhạc.

    – Liên tục đọc sách, trò chuyện, kể chuyện cho trẻ nghe.

    – Tôi luôn tranh thủ đọc sách, mở đĩa cho trẻ nghe những câu truyện trong mọi tình huống như những giờ hoạt động góc ở một nhóm nhỏ, hoặc đọc sách trẻ nghe trong giờ trưa đối với những trẻ khó ngủ.

    – Tăng cường kể cho trẻ nghe các câu chuyện cổ tích qua đó rèn luyện đạo đức cho trẻ, giúp trẻ hoàn thiện mình, biết đọc sách, dạy trẻ yêu thương bạn bè, yêu thương con người. Tạo hứng thú cho trẻ nhỏ qua các truyện bằng tranh tùy theo lứa tuổi, gợi mở tính tò mò, ham học hỏi, phát triển khả năng thấu hiểu ở trẻ.

    Ví dụ: Khi kể chuyện ” Ba cô gái” tôi đặt những câu hỏi gợi mở như: Nếu là con khi hay tin mẹ bị ốm, con sẽ làm gì? gợi mở tính tò mò thay đổi đoạn kết của truyện có hậu hơn, đặt tên khác cho câu chuyện v,v….

    – Trong gia đình, cha mẹ luân phiên cùng anh chị lớn đọc sách cho trẻ nghe, hoặc thống nhất giờ đọc sách của gia đình, vào giờ đó các thành viên trong gia đình đều đọc sách, báo hoặc đọc một thứ gì đó của mình.

    – Cô giáo, cha mẹ giúp trẻ phát triển sở thích, ý thích của mình và đảm bảo rằng ngừơi lớn có thể cung cấp thêm phương tiện để trẻ thực hiện ý thích đó.

    Ví dụ: Trẻ thích vẽ, ngoài việc cho trẻ học năng khiếu vẽ thì cô giáo, cha mẹ có thể cho trẻ thêm bút màu, giấy vẽ và hãy chỉ cho trẻ cách lưu giữ các bức tranh để tạo thành một bộ sưu tập tranh vẽ của chính trẻ hoặc triển lãm tranh của trẻ ở góc nhỏ trong nhà.

    – Cô giáo, cha mẹ cần dạy trẻ những nghi thức văn hóa trong ăn uống, biết cách sử dụng các đồ dùng ăn uống; hơn nữa trẻ sẽ được dạy cách sử dụng các đồ dung đúng chức năng một cách chính xác và thuần thục.Việc này được thực hiện trong giờ học, giờ sinh hoạt hàng ngày của trẻ tại lớp và trong bửa cơm gia đình.

    Cụ thể: Trẻ được làm quen với những đồ dùng, vật dụng khác nhau, (bộ đồ bếp, bộ đồ ăn, bộ đồ uống). Sự sạch sẽ, gọn gàng, một thói quen nề nếp, sự sắp đặt ngăn nắp, ngay ngắn những bộ đồ dùng, vật dụng, thái độ, ăn uống từ tốn, không vội vã, không khí cởi mở, thoải mái và đầm ấm, những cuộc trao đổi nhẹ nhàng, dễ chịu… tất cả những yếu tố trên sẽ giúp trẻ có thói quen tốt để hình thành kỷ năng tự phục vụ và ý nghĩa hơn là kỹ năng sống tự lập sau này.

    7. Biện pháp giúp trẻ phát triển các kỹ năng sống qua việc tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh trong nhà trừơng:

    – Nội dung phong trào” Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, trong đó có nội dung: Nhà trường cần tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao một cách thiết thực, khuyến khích sự tham gia chủ động, tự giác của trẻ. Tổ chức các trò chơi dân gian và các hoạt động vui chơi giải trí tích cực khác phù hợp với lứa tuổi của trẻ.

    – Căn cứ vào nội dung trên, tôi đã thực hiện nhiều hoạt động một cách thiết thực, khuyến khích sự tham gia chủ động, tự giác của trẻ. Cụ thể như sau:

    – Năm học 2012-2013, tôi đã thống nhất lịch sinh hoạt nhà trường đưa ra cho trẻ chơi các trò chơi dân gian..

    – Năm học 2012-2013, nhà trường tổ chức các hoạt động văn nghệ, vui chơi giải trí tích cực khác phù hợp với lứa tuổi của trẻ mầm non.

    – Duy trì biện pháp tăng cừơng cho trẻ chơi các trò chơi dân gian trong giờ hoạt động ngoài trời vào các ngày thứ hai,tư, sáu.

    – Tổ chức các hoạt động văn nghệ, vui chơi giải trí tích cực khác phù hợp với lứa tuổi của trẻ mầm non.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Thẩm Mỹ
  • Giáo Dục Giúp Trẻ Tự Kỷ Hòa Nhập Xã Hội
  • Biện Pháp Giáo Dục Hòa Nhập Cho Trẻ Tự Kỷ Tuổi Mầm Non Tại Thành Phố Thái Nguyên
  • Một Số Biện Pháp Rèn Học Sinh Yếu Kém
  • Công Tác Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Có Hiệu Quả
  • Phương Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ 5
  • Một Số Biện Pháp Rèn Kỹ Năng Tự Phục Vụ Bản Thân Cho Trẻ Lớp Mẫu Giáo 5
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục An Toàn Giao Thông Cho Trẻ Mẫu Giáo Dân Tộc Thiểu Số
  • Skkn Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Giáo Viên Lồng Ghép Tích Hợp Nội Dung Giáo Dục An Toàn Giao Thông Cho Trẻ Ở Trường Mầm Non Họa Mi.
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ, Sáng Kiến Kinh Nghiệm Mầm Non
  • Trong nền giáo dục hiện đại, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ nhỏ được đánh giá là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Việc dạy cho trẻ, đặc biệt là trẻ mầm non những kỹ năng sống cơ bản sẽ giúp trẻ tự tin làm chủ cuộc sống, sống an toàn, lành mạnh và chất lượng hơn.

    ♦ Giáo dục sớm là gì? Có nên giáo dục sớm cho trẻ không?

    ♦ 3 Bí quyết vàng giúp kích thích khả năng vận động ở trẻ

    ♦ Bật mí 7 cách hay dạy con theo nguyên tắc giáo dục sớm từ 1 tuổi

    Mời quý phụ huynh và bạn đọc cùng theo dõi nội dung bài viết hôm nay.

    Kỹ năng sống là gì?

    Kỹ năng sống được hiểu là một tập hợp các kỹ năng mà con người có được thông qua giảng dạy và được sử dụng để xử lý những vấn đề thường gặp trong cuộc sống hàng ngày.

    Đối với trẻ ở lứa tuổi mầm non, kỹ năng sống chính là những thao tác hành động, tình cảm các con sử dụng hàng ngày để xử lý các tình huống phát sinh trong cuộc sống và đáp ứng nhu cầu bản thân.

    Giáo dục kỹ năng sống một quá trình tác động sư phạm có kế hoạch, có mục đích nhằm hình thành năng lực hành động tích cực. Điều này giúp cá nhân có ý thức về bản thân, giao tiếp, quan hệ xã hội, ứng phó tốt nhất với các yêu cầu thách thức của cuộc sống hàng ngày…

    Trong việc nuôi day trẻ, bên cạnh rèn luyện trong học tập, cư xử thì các bậc phụ huynh cũng nên dạy kỹ năng sống cho trẻ. Đặc biệt là trong điều kiện xã hội phức tạp như hiện nay thì việc giáo dục kỹ năng sông cho trẻ càng ngày càng trở nên cần thiết.

    Phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ – Phương pháp động não

    Trong việc nuôi dạy trẻ, phương pháp động não luôn có vai trò vô cùng quan trọng và cần thiết. Trong những hoạt động hàng ngày, bố mẹ nên yêu cầu con phải động não bằng nhiều câu hỏi gợi mở để trẻ có thể đưa ra các câu trả lời khác nhau.

    – Phương pháp trò chơi:

    Phương pháp tiếp theo chúng tôi muốn giới thiệu đó là phương pháp trò chơi. Đây cũng là một phương pháp giúp trẻ có cơ hội tìm hiểu được vấn đề rõ ràng hơn, hiểu được những thái độ, hành động, việc làm thông qua một trò chơi cụ thể nào đó.

    Thông qua những trò chơi mà con tham gia sẽ giúp con không chỉ được phát triển tốt về trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ mà còn được hình thành nhiều hành vi và phẩm chất tích cực.

    Biện pháp dạy kỹ năng sống cho trẻ tại nhà

    Bên cạnh việc được rèn luyện ở trường học, việc giáo dục kỹ năng sống cho con tại gia đình cũng là điều quan trọng không kém. Bố mẹ có thể lựa chọn và áp dụng các phương pháp phù hợp, tuy nhiên có một số điều mà bố mẹ cần lưu ý như:

    – Dạy cho bé thói quen tự phục vụ

    Tình trạng các trẻ hiện nay được bao bọc thái quá, khiến chúng không biết tự phục vụ bản thân trong sinh hoạt đời thường là khá phổ biến. Đây là việc làm có hại với con.

    Bố mẹ nào đang trong tình huống này thì lời khuyên của chúng tôi là nên thay đổi nhanh chóng. Hãy để cho con tự thực hiện những sinh hoạt hàng ngày như: dọn dẹp cùng bố mẹ, tự xúc ăn, gấp quần áo, dọn đồ chơi… Điều này sẽ giúp con trưởng thành và tự lập tốt hơn rất nhiều.

    – Đừng nên phục vụ con thái quá

    Hãy cho trẻ ý thức được rằng mọi nhu cầu cá nhân như tắm giặt, ăn uống, dọn phòng mình đều phải do các trẻ tự làm. Để sau này, sẽ không gặp khó khăn trong việc tự lập kế hoạch cuộc đời mình.

    – Rèn luyện ý thức tự giác lao động: Cần rèn luyện con về ý thức tự giác lao động mà trước hết là ý thức giúp đỡ người lớn làm việc nhà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Vài Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non
  • Tâm Sinh Lý Giai Đoạn Tuổi Thiếu Niên ( 11
  • Đặc Điểm Tâm Lý Của Tuổi Thiếu Niên Phật Tử Và Biện Pháp Tác Động
  • Đối Tượng Áp Dụng Biện Pháp Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • Biện Pháp Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn Trong Dự Án Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Phương Pháp Giáo Dục Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Lớp 4
  • Thâm Hụt Ngân Sách Và Biện Pháp Tài Trợ
  • Giảm Thâm Hụt Ngân Sách Để Khôi Phục Sự Ổn Định Vĩ Mô
  • Hy Lạp Công Bố Các Biện Pháp Cắt Giảm Thâm Hụt Ngân Sách Mới
  • Các Biện Pháp Xử Lí Thâm Hụt Ngân Sách Nhà Nước Cac Bp Xu Li Tham Hut Ngan Sach Nha Nuoc Doc
  • LỜI CÁM ƠN

    Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự

    hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của quý thầy cô, bạn bè, người thân.

    Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân

    thành tới Ban Giám Hiệu, các giáo viên cùng các cháu Trường Mầm Non Nam Lý đã

    hợp tác và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài.

    Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Ths.Phạm Thị Yến, người đã “truyền

    lửa” cho tôi trên con đường nghiên cứu khoa học.

    Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám Hiệu, Khoa Sư phạm Tiểu học – Mầm non

    Trường Đại học Quảng Bình đã động viên, khích lệ tôi không ngừng nổ lực phấn đấu

    hoàn thành công việc của một sinh viên.

    Cuối cùng, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến bố mẹ, ông bà và

    những người thân trong gia đình đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cũng như đặt sự kỳ vọng

    và tôi.

    Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất

    định. Kính mong nhận được ý kiến đóng góp của Hội đồng thẩm định để khóa luận

    ngày càng hoàn thiện hơn.

    Xin chân thành cảm ơn!

    Đồng Hới, tháng 05/ 2022

    Tác giả

    Nguyễn Thị Thu Hiền

    KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

    TT

    CHỮ VIẾT TẮT

    CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

    1

    GD

    Giáo dục

    2

    KNS

    Kĩ năng sống

    3

    GDKN

    Giáo dục kĩ năng

    4

    GDKNS

    Giáo dục kĩ năng sống

    5

    GDMN

    Giáo dục mầm non

    6

    Hoạt động

    7

    KPKH

    Khám phá khoa học

    8

    MTXQ

    Môi trường xung quanh

    9

    ĐC

    Đối chứng

    10

    TN

    Thử nghiệm

    1

    đặc biệt là HĐ KPMTXQ (Hoạt động khám phá môi trường xung quanh). Mặt khác,

    điều kiện giáo dục kĩ năng sống cho trẻ còn hạn chế, do đó việc tổ chức giáo dục kĩ

    năng sống cho trẻ thông qua HĐ KPMTXQ để góp phần giúp trẻ hình thành được

    những kĩ năng sống là việc làm hết sức cần thiết. Xuất phát từ những lý do trên, chúng

    tôi chọn nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo

    5 – 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh” làm

    hướng nghiên cứu.

    2. Mục đích nghiên cứu

    Nghiên cứu một số biện pháp nhằm giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

    thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh.

    3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

    3.1. Khách thể nghiên cứu

    Qúa trình giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non

    thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh.

    3.2. Đối tượng nghiên cứu

    Nghiên cứu các biện pháp nhằm giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6

    tuổi ở trường mầm non.

    4. Giả thuyết khoa học

    Trong quá trình giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm

    non, nếu giáo viên sử dụng các biện pháp một cách linh hoạt sáng tạo nhằm tổ chức

    các hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh một cách có hiệu quả thì

    sẽ phát triển được kĩ năng sống cho trẻ, đáp ứng mục tiêu giáo dục hiện nay.

    5. Nhiệm vụ nghiên cứu

    Đề tài tập trung nghiên cứu các nhiệm vụ sau:

    – Xây dựng cơ sở lý luận của việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6

    tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh.

    – Khảo sát, đánh giá thực trạng của việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo

    5-6 tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh ở trường

    mầm non.

    – Đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục kĩ

    năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi

    trường xung quanh ở trường mầm non và thử nghiệm biện pháp phù hợp nhằm nâng

    cao kĩ năng sống cho trẻ.

    6. Phạm vi nghiên cứu

    6.1. Giới hạn về khách thể nghiên cứu

    2

    Nghiên cứu trên 60 trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi và 20 giáo viên ở trường Mầm non

    Nam Lý, Đồng Hới, Quảng Bình.

    6.2. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu

    – Nghiên cứu việc giáo dục kĩ năng sống của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi và biểu hiện

    của các kĩ năng đó thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh

    ở Trường Mầm non Nam Lý, Đồng Hới, Quảng Bình.

    6.3. Giới hạn về thời gian nghiên cứu

    Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 12/ 2014 – 05/ 2022.

    7. Phương pháp nghiên cứu khoa học

    Để nghiên cứu đề tài này tôi sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp sau:

    7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

    Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phân hóa lý thuyết về vấn đề giáo

    dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học về

    môi trường xung quanh, để làm cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.

    7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

    7.2.1. Sử dụng phương pháp quan sát

    – Quan sát biểu hiện bên ngoài của các kĩ năng sống khi trẻ tham gia vào các

    hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh.

    – Dự giờ, quan sát và đánh giá các kĩ năng mà giáo viên Mầm non cho trẻ

    thực hiện.

    7.2.2. Phương pháp đàm thoại

    – Trao đổi với giáo viên về các hoạt động nhằm giáo dục kĩ năng sống cho trẻ

    mẫu giáo trong hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh.

    – Trò chuyện với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua các hoạt động hàng ngày để tìm hiểu

    mức độ giáo dục kĩ năng sống cho trẻ trong các hoạt động giáo dục nói chung và trong

    hoạt động khám phá khoa học nói riêng.

    7.2.3. Phương pháp điều tra anket

    – Nhằm thu thập các thông tin về thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ trong

    hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh ở trường Mầm non, từ đó

    đánh giá thực trạng và làm cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu, lựa chọn các biện pháp

    để giáo dục kĩ năng sống cho trẻ.

    7.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

    3

    – Dự giờ, trao đổi với các giáo viên nhằm thu thập những kinh nghiệm quý báu

    của các nhà chuyên môn về các biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ để đưa ra kết

    luận chính xác và khoa học, rút ra bài học cho bản thân.

    7.2.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

    – Nghiên cứu giáo án và giờ dạy của giáo viên nhằm tìm hiểu việc tổ chức giáo

    dục kĩ năng sống cho trẻ ở các trường mầm non hiện nay.

    – Nghiên cứu các sản phẩm của trẻ (các bài tập, các hạt động khác nhau) nhằm

    biết được mức độ hình thành kĩ năng sống của trẻ.

    7.2.6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

    – Bước đầu thử nghiệm các biện pháp đã lựa chọn, nhằm đánh giá hiệu quả thực

    tiễn của các biện pháp đó đối với việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

    thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh.

    7.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

    – Chúng tôi sử dụng phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học để kiểm

    tra độ tin cậy của đề tài.

    8. Những đóng góp của đề tài

    – Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận về việc giáo dục kĩ năng sống

    cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh.

    – Xác định được thực trạng của việc tổ chức giáo dục nhằm hình thành kĩ năng

    sống cho trẻ.

    – Nghiên cứu và lựa chọn các biện pháp nhằm giáo dục các kĩ năng sống

    cho trẻ.

    9. Cấu trúc của một khóa luận

    Khóa luận gồm có 3 phần:

    Phần 1: Mở đầu

    Phần 2: Nội dung

    Chương 1: Cơ sở lý luận của việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi thông

    qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh

    Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt

    động khám phá môi trường xung quanh

    4

    Chương 3: Xây dựng các biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi

    thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh và bước đầu thử nghiệm sư

    phạm

    Phần 3: Kết luận và kiến nghị

    NỘI DUNG

    Chương 1

    CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG

    CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG

    KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH

    1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

    1.1.1. Trên thế giới

    Ở nhiều nước trên thế giới, việc GDKNS được thực hiện bằng sự kết hợp giữa giáo

    dục nhà trường và các tổ chức xã hội. Trong nhà trường, GDKNS được coi là nhiệm vụ

    quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước.

    – Ở các nước châu Âu:

    Tiêu biểu là chương trình giáo dục kĩ năng sống ở Nga:

    Ở Nga việc GDKNS cho trẻ được thực hiện thông qua: các trò chơi đóng vai,

    hoạt động thực tiễn, hoạt động sáng tạo, lời nói, … nhằm hình thành cho trẻ những kĩ

    năng cơ bản như: Kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng tự học, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ

    năng giao tiếp ứng xử và tạo lập mối quan hệ…

    Vấn đề giáo dục KNS là vấn đề mới trong đào tạo giáo viên mầm non ở Nga,

    cho nên việc GDKNS cho trẻ vẫn chưa được chú trọng quan tâm, việc tổ chức các hoạt

    động để giáo dục KNS cho trẻ chưa được thường xuyên và còn mang tính chất loa qua,

    cách tổ chức các tiết học còn mang tính chất lý thuyết. Phần giáo dục trẻ kĩ năng sống

    để ứng xử trong các tình huống, các mối quan hệ, các hoạt động cũng chưa được chú

    trọng.

    5

    6

    Nam. Đại diện của các tổ chức này cũng được tập huấn về kĩ năng sống với nội dung như

    trên. Trên cơ sở đó quan niệm về kĩ năng sống cơ bản đối với từng nhóm đối tượng được

    vận dụng đa dạng hơn.

    – Tình hình GDKNS trong hệ thống giáo dục quốc dân:

    Theo chuyên viên tâm lý Huỳnh Văn Sơn, cố vấn Trung tâm chăm sóc tinh thần

    ý tưởng Việt : “Hiện nay, thuật ngữ KNS được sử dụng phổ biến nhưng có phần bị lạm

    dụng khi chính những người huấn luyện hay tổ chức cũng chưa hiểu gì về nó”.

    Thực tế, trong hệ thống giáo dục quốc dân, việc GDKNS cho trẻ cũng đang

    được quan tâm. Tuy nhiên, trong nhà trường chủ yếu học sinh chỉ được dạy kĩ năng

    học tập và chính trị, còn việc GDKNS chưa được quan tâm nhiều. Nhận thức được tầm

    quan trọng của các KNS là điều kiện cần thiết để tiến hành bất cứ một hoạt động nào

    đó trong xã hội. Tổng hợp từ các nghiên cứu của các nước và thực tế Việt Nam, đã

    triển khai GDKNS cho trẻ với các nội dung:

    – Giáo dục kĩ năng tư duy sáng tạo

    – Kĩ năng giao tiếp có hiệu quả

    – Kĩ năng giải quyết vấn đề

    – Kĩ năng hợp tác

    – Kĩ năng chia sẻ

    Các nhà giáo dục từ trước đến nay đã khẳng định: Kĩ năng sống là những kĩ

    năng cần có cho hành vi lành mạnh, tích cực cho phép mỗi cá nhân đối mặt với những

    thách thức của cuộc sống hàng ngày. Nếu con người có các kĩ năng sống thì sẻ có khả

    năng là chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với người khác và với xã hội, khả

    năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. Do đó, cần thiết phải

    GDKNS cho học sinh.

    – Tình hình nghiên cứu khoa học về GDKNS cho trẻ lứa tuổi mầm non ở

    trong nước:

    Việc GDKNS cho trẻ ở các trường mầm non cũng đang được quan tâm, tiêu

    biểu có các công trình nghiên cứu như:

    – Đề tài “Xây dựng nội dung GDKNS cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi trong trường

    mầm non” (Trung tâm nghiên cứu GDMN – Viện KHGD, 1998 – 2000).

    – Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ Mầm non tại trường Mầm non Sao

    Mai, Đông Anh, Hà Nội ( Trần Lệ Thùy, năm 2012)

    7

    – Th.S Mai Hiền Lê đã nghiên cứu “Kĩ năng sống của trẻ lớp mẫu giáo lớn ở

    trường mầm non Thực Hành, TP. Hồ Chí Minh” vào năm 2010, nhằm khảo sát thực

    trạng kĩ năng sống của trẻ lớp mẫu giáo lớn và xây dựng một số biện pháp tác động sư

    phạm, nhằm hình thành và hoàn thiện một số kĩ năng sống phù hợp với trẻ mẫu giáo lớn.

    Kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống rất được xã hội quan tâm. Tuy nhiên,

    việc nghiên cứu giáo dục kĩ năng sống cho trẻ trong hoạt động KPKH về MTXQ vẫn

    còn đang bỏ ngõ, chưa có nhà nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu về nó. Do đó, tôi quyết

    định đi sâu nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu

    giáo 5-6 tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh”.

    1.2. Những vấn đề chung về giáo dục kĩ năng sống

    1.2.1. Các khái niệm cơ bản

    1.2.1.1. Khái niệm “Kĩ năng”

    Kĩ năng là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu tâm lý học và giáo dục học quan

    tâm. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về kĩ năng. Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu

    nhiều tài liệu khác nhau chúng tôi quy về hai quan điểm chính sau:

    + Quan điểm thứ nhất

    Quan điểm thứ nhất xem xét kĩ năng từ gốc độ kỹ thuật của hành động, của thao

    tác mà ít quan tâm đến kết quả của hành động.

    – V.A. Kruchetxki cho rằng: “Kĩ năng là sự thực hiện một hành động hay một hoạt

    động nào đó nhờ sử dụng những kĩ thuật, những phương thức đúng đắn”.

    – A.G.Covaliop: “Kĩ năng là phương thức thực hiện hành động thích hợp với

    mục đích và điều kiện hành động”. Ở đây ông không đề cập đến kết quả của hành

    động. Theo ông kết quả hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng

    hơn cả là năng lực của con người chứ không đơn giản là cứ nắm vững cách thức hành

    động thì đem lại kết quả tương ứng.

    – PGS Trần Trọng Thủy cho rằng: “Kĩ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con

    người nắm được hành động tức là kỹ thuật hành động có kĩ năng”.

    – chúng tôi Hà Nhật Thăng cho rằng: “Kĩ năng là kỹ thuật của hành động thể

    hiện các thao tác của hành động”.

    Như vậy, theo quan điểm này kĩ năng là phương tiện thực hiện hành động phù

    hợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm vững. Theo các tác giả

    trên, người có kĩ năng hoạt động nào đó là người nắm được các tri thức về hoạt động

    8

    9

    * Quan niệm về KNS

    – Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), KNS là khả năng để có hành vi thích ứng

    (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các

    nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày.

    – Theo Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), KNS là cách tiếp cận giúp thay

    đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu

    kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng.

    – Theo UNESCO, KNS gắn với 4 trụ cột của GD, đó là:

    + Học để biết, gồm các KN tư duy như: Giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, ra

    quyết định, nhận thức được hậu quả,…

    + Học làm người gồm các KN cá nhân như: Ứng phó với căng thẳng, cảm xúc,

    tự nhận thức, tự tin,…

    + Học để sống với người khác, gồm các KN xã hội như; Giao tiếp, thương

    lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông…

    + Học để làm, gồm KN thực hiện công việc và các nhiệm vụ như KN đặt mục

    tiêu, đảm nhận trách nhiệm,…

    * Bản chất của KNS

    Bản chất của KNS là kĩ năng tự quản bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá

    nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả.

    Kĩ năng sống là:

    – Khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với

    những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của

    cuộc sống.

    Như vậy, có nhiều quan niệm khác nhau về KNS. Trong nội hàm kết luận này,

    trên cơ sở tiếp thu, kế thừa quan điểm của các tác giả trên, chúng tôi tiếp nhận khái

    niệm kĩ năng sống như sau:

    Kĩ năng sống là tập hợp các kĩ năng mà con người sử dụng để liên lạc và giao

    tiếp với những cá nhân khác xung quanh họ, được hình thành và liên tục phát triển

    trong môi trường sống trên cơ sở các giá trị và quy định xã hội nhất định.

    Nói cách khác đi, kĩ năng sống là cách một cá thể “sống” giữa các cá thể khác:

    Cách bạn hành xử, cách bạn nói năng, thậm chí là cách bạn cảm nhận và nhìn nhận về

    một sự vật hay hiện tượng diễn ra trong cuộc sống …

    10

    1.2.1.3. Khái niệm “Giáo dục kĩ năng sống”

    Giáo dục “Kĩ năng sống” cho trẻ là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội

    hiện đại. Giáo dục cho trẻ những kĩ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằm giúp trẻ có

    thể chuyển kiến thức, thái độ, cảm nhận thành những khả năng thực thụ, giúp trẻ biết

    xử lý hành vi của mình trong các tình huống khác nhau trong cuộc sống .

    Một cá nhân nếu có đầy đủ kiến thức trong cuộc sống nhưng lại chưa có kĩ năng

    cuộc sống (Bao gồm rất nhiều kĩ năng) và biết sử dụng linh hoạt kĩ năng này thì không

    đảm bảo cá nhân đó có thể đưa ra các quyết định hợp lý, giao tiếp có hiệu quả và có

    mối quan hệ tốt với mọi người. Kĩ năng sống chính là năng lực tâm lý xã hội để đáp

    ứng và đối phó những yêu cầu và thách thức trong cuộc sống hàng ngày.

    Kĩ năng sống của trẻ bao gồm rất nhiều kĩ năng: Kĩ năng giao tiếp ứng xử, kĩ năng

    vệ sinh, kĩ năng thích nghi với môi trường sống, kĩ năng hợp tác chia sẻ…

    1.2.2. Phân loại kĩ năng sống

    * Theo UNESCO, WHO và UNICEF, có thể xem KNS gồm các kĩ năng cốt lõi sau:

    11

    – Nhóm các KN nhận biết và sống với chính mình: Tự nhận thức, xác định giá

    trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ, tự trọng, tự tin, …

    – Nhóm các KN nhận biết và sống với người khác: Giao tiếp có hiệu quả, giải

    quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác,…

    – Nhóm các KN ra quyết định một cách có hiệu quả: Tìm kiếm và xử lí thông

    tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề,…

    Kĩ năng sống thay đổi theo nền văn hoá và hoàn cảnh xã hội. Vì vậy, trong quá

    trình dạy kĩ năng sống, cần xem xét các yếu tố văn hoá và xã hội có ảnh hưởng đến

    việc ra quyết định hay lựa chọn hành động. Trong GDKN ở Việt Nam đã đưa ra một

    số kĩ năng sống cốt lõi như sau:

    – Kĩ năng tự nhận thức

    – Tự trọng

    – Thể hiện cảm thông

    – Có trách nhiệm

    – Ứng phó với sự căng thẳng

    – Kiểm soát cảm xúc

    – Giao tiếp hiệu quả

    – Quan hệ của cá nhân với người khác

    – Suy nghĩ sáng tạo

    – Ra quyết định

    – Giải quyết vấn đề

    1.2.3. Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non

    1.2.3.1. Ý nghĩa của việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non

    Kĩ năng sống là cách ứng xử tích cực, cần thiết để có cuộc sống an toàn, khỏe

    mạnh và hiệu quả. Giáo dục kĩ năng sống nhằm giúp trẻ nâng cao nhận thức, trang bị

    thái độ sống và hành vi tích cực, lành mạnh trong mọi hành động.

    Kĩ năng sống cần thiết cho mọi người, đặc biệt là đối với trẻ em. Nó giúp trẻ thể

    hiện kiến thức, thái độ và các giá trị, hành vi lành mạnh nhằm giảm thiểu các nguy cơ

    có hại cho sức khỏe và cải thiện cuộc sống của mình.

    Thông qua việc GDKNS trẻ biết mình là ai, mình muốn gì, có mục đích gì trong

    cuộc sống, biết dung hòa giữa cái tôi, cái chúng ta, có những chọn lựa và quyết định

    đúng trước những biến cố do cuộc sống đưa đến. Để có năng lực tâm lý xã hội này, trẻ

    12

    13

    – Kĩ năng ứng xử phù hợp với những người gần gũi xung quanh

    – Kĩ năng hợp tác

    Kĩ năng sống là một yếu tố quan trọng tác động rất lớn đến hành vi và ý thức

    của con người. Vì vậy, việc đẩy mạnh giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non sẽ đóng

    vai trò nền tảng trong việc mang lại cho các cháu rất nhiều lợi ích cả về mặt sức khỏe,

    giáo dục lẫn văn hóa xã hội. Có kĩ năng sống sẽ giúp các trẻ sớm có một cơ thể cường

    tráng, lành mạnh về trí tuệ cũng như thể lực, sớm có ý thức và khả năng thích nghi với

    cuộc sống, làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho

    chính mình cũng như cho cộng đồng.

    Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ có thể chú ý đến những nội dung sau:

    – Sự hợp tác, tự kiểm tra, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và

    giao tiếp.

    – Nhận biết các ưu khuyết điểm của bản thân.

    – Nhận biết những hoàn cảnh không an toàn, cách giữ an toàn cho mình nơi công

    cộng (trong sân trường, công viên, siêu thị, ngoài phố, khi gặp người lạ,…)

    Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu hình thành

    một số kĩ năng sau:

    + Kĩ năng tự phục vụ

    + Kĩ năng tự bảo vệ bản thân

    1.2.3.4. Phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non

    Giáo dục kĩ năng sống không phải là nói cho trẻ biết thế nào là đúng, thế nào là

    sai, cũng không phải là truyền cho trẻ những lời hay ý đẹp mà sáo rỗng. Mà phương

    pháp GDKNS cho trẻ mầm non cần phải tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, tìm

    tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú, đáp

    ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm “học mà chơi, chơi mà học”, chú

    trọng đổi mới phương pháp giáo dục nhằm kích thích và tạo cơ hội cho trẻ tích cực

    khám phá, trải nghiệm và sáng tạo ở các khu vực hoạt động một cách vui vẻ. Cần giúp

    trẻ nâng cao năng lực để tự lựa chọn giữa những giải pháp khác nhau. Quyết định phải

    tự xuất phát từ nhận thức của trẻ.

    * Phương pháp tác động não

    Đây là một phương pháp giúp trẻ trong một thời gian ngắn có thể nãy sinh

    nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề gì đó.

    14

    15

    16

    1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng GDKNS

    Để đảm bảo chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng GDKNS nói riêng cần

    phải xem xét các yếu tố sau:

    * Yếu tố chủ quan

    – Đặc điểm nhân cách trẻ: Trẻ 5-6 tuổi đã hình thành nhân cách, cho nên trẻ có

    khả năng khám phá và hiểu được khả năng của mình, hiểu được thái độ của những

    người xung quanh, có phản xạ vui, buồn về thành công và thất bại của mình. Tuy

    nhiên, kĩ năng, kiến thức của trẻ chỉ mới ở mức độ đơn giản.

    Trong giai đoạn cuối tuổi mẫu giáo, trẻ bắt đầu biết hành động theo mục đích,

    biết lập kế hoạch để thực hiện, tuy nhiên trẻ chưa biết đánh giá kết quả.

    Tư duy lôgic cũng xuất hiện ở độ tuổi này, trẻ có khả năng lĩnh hội một số khái

    niệm khoa học đơn giản, vì vậy khi dạy trẻ thì người lớn cần kết hợp với lời giải thích.

    – Sự hình thành ý thức và tự ý thức: Ở lứa tuổi này trẻ đã tự ý thức được về bản

    thân, về những ưu, khuyết điểm của mình mà không cần sự đánh giá của người lớn,

    trẻ tự điều chỉnh hành vi của mình phu hợp với những chuẩn mực, quy tắc của xã hội.

    – Đặc điểm nhận thức của trẻ 5-6 tuổi: Nhận thức của trẻ còn mang nặng cảm

    tính và tính trực quan hành động nên trẻ chỉ tập trung, chú ý, ghi nhớ và tái tạo những

    sự vật hiện tượng mới lạ, hấp dẫn ngộ nghĩnh… Vì vậy, trong giáo dục trẻ cần có

    những đồ dùng trực quan đẹp mắt, những tình huống cụ thể…có như vậy những kĩ

    năng, kiến thức mới ăn sâu vào tâm trí trẻ.

    Trẻ có khả năng tổng hợp, phân tích và khái quát hóa những dấu hiệu bên

    ngoài, khả năng vận dụng những điều đã biết vào thực tế cuộc sống được nâng lên sâu

    và rộng hơn.

    * Yếu tố khách quan

    – Qúa trình và môi trường học tập: Môi trường học tập cần phải lành mạnh, an

    toàn và có khả năng bảo vệ. Tiếp cận KNS là cách tiếp cận dựa trên cá nhân và khả

    năng hành động của người đó. Để cách tiếp cận đó hiệu quả thì cần phải coi trọng môi

    trường giáo dục không chỉ trong nhà trường mà còn ở gia đình và trong cộng đồng.

    Cần phải kết hợp đào tạo KNS với các điều kiện bổ sung như: chính sách phát triển

    một môi trường tâm lý xã hội thuận lợi và gắn với các dịch vụ của cộng đồng.

    17

    – Gia đình: Gia đình là người đặt nền móng cho mọi sự phát triển của trẻ, chính

    vì vậy chúng ta cần phải tạo mọi điều kiện cho trẻ được tham gia vào các hoạt động

    cùng mọi người xung quanh trẻ, và phải tạo mọi điều kiện để trẻ có thể trải nghiệm.

    – Nhà trường: Điều kiện giáo dục tốt, thì hiệu quả mới cao. Do vậy, nhà trường

    cần phải cung cấp đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết cho quá trình giáo dục

    trẻ. Như chúng ta biết, trung tâm của mọi việc giáo dục là sự tương tác giữa người dạy

    và người học, điều đó có nghĩa là chất lượng được tạo ra trong quá trình này, để việc

    GDKNS cho trẻ có hiệu quả thì người giáo viên cần phải có năng lực, hiểu biết và

    phải thường xuyên thay đổi cách dạy, phong cách học, các phương pháp khác nhau để

    thu hút sự tham gia của trẻ vào các hoạt động do cô giáo tổ chức.

    Bên cạnh đó nhà trường cần chủ động phối hợp với gia đình trẻ, để có sự giáo

    dục thống nhất.

    – Xã hội: Sự phát triển của trẻ cũng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi sự phát triển

    của xã hội, xã hội có phát triển thì mới tạo điều kiện cho con người phát triển, các

    hoạt động trong xã hội, hay những mối quan hệ với cộng đồng, với mọi người xung

    quanh…cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của trẻ. Do đó, chúng ta cần phải tạo

    điều kiện cho trẻ được tham gia vào các hoạt động của xã hội và thể hiện khả năng

    của mình, qua đó trẻ có thêm nhiều kiến thức và kĩ năng hơn để tham gia hiệu quả vào

    các hoạt động của xã hội.

    1.3. Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động khám phá khoa

    học về môi trường xung quanh

    1.3.1. Nguyên tắc GDKNS cho trẻ thông qua hoạt động KPKH về MTXQ

    * Đối với trẻ mầm non khi GDKNS cho trẻ cần:

    – GDKNS phải xuất phát từ tình cảm

    – GDKNS không được rập khuôn mà phải hình thành kĩ năng trong các tình

    huống cụ thể

    – Thay đổi trạng thái của các em từ bị động sang chủ động.

    – Gắn liền kĩ năng với tình huống thực hành.

    – Đưa ra gợi ý nhưng để trẻ được lựa chọn các giải pháp khác nhau.

    – Gắn liền các nhóm kĩ năng cá nhân và kĩ năng xã hội.

    – Luôn đặt cá nhân trẻ trong cộng đồng khi xử lý tình huống.

    – Củng cố duy trì các kĩ năng thông qua suy nghĩ và hành vi.

    18

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Những Biện Pháp Giáo Dục Hiệu Quả Học Sinh Cá Biệt
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Trường Mn Đạt Chuẩn Quốc Gia
  • Một Số Giải Pháp Quản Lý Nhằm Tăng Cường Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh Ở Trường Thpt Quảng Xương 4
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Trường Trung Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Người Học
  • Một Số Giải Pháp Quản Lý Việc Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Skkn Hoa1415 Doc
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100