Top 9 # Xem Nhiều Nhất Giải Pháp Của Việt Nam Khi Gia Nhập Asean Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Thời Cơ Và Thách Thức Của Việt Nam Khi Gia Nhập Asean

Bước vào thời kì hội nhập chưa bao giờ là dễ dàng với một quốc gia. Đặt chân vào thời kì đổi mới, Việt Nam luôn có những khó khăn và thuận lợi riêng. Trong đó, một sự kiện nổi bật đã diễn ra. Đó là khi Việt Nam gia nhập Asean năm 1995. Việc gia nhập tổ chức này đã đem đến nhiều biến đổi rõ rệt. Thời cơ, cơ hội và thách thức của Việt Nam gia nhập Asean từ đó cũng xuất hiện.

Tạo thời cơ phát triển mọi mặt

+ Thu hút vốn đầu tư từ các quốc gia trong khu vực. Góp phần tạo công ăn việc làm cho nhân dân. Chất lượng cuộc sống được nâng cao.

+ Góp phần thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển, chênh lệch giàu nghèo

+ Dịch vụ, du lịch có bước tiến đáng mừng

+ Giúp đỡ, hỗ trợ nhau phát triển kinh tế, tháo gỡ khó khăn

+ Cơ hội có được một thị trường rộng lớn hơn

+ Tự do dịch chuyển lao động

+ Mở rộng xuất khẩu

An ninh – chính trị:

+ Chính trị của khu vực được đảm bảo

+ Chung tay giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu

Văn hóa – giáo dục:

+ Tăng cường giao lưu với các nền văn hóa

+ Học hỏi những thành quả tốt đẹp từ nước bạn

Cạnh tranh với các nền kinh tế toàn cầu, đòi hỏi đất nước phải nổ lực. Bản thân luôn luôn cải tiến và đổi mới. Tuy nhiên, thực trạng cho thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu kém.

Năng suất và chất lượng lao động của Việt Nam thấp, thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao. Do đó, khó để cạnh tranh với các nước lớn mạnh hơn.

Dễ mất đi bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc, nếu không giữ vững sẽ dễ bị “lai căng”, biến chất.

Có nguy cơ tụt hậu nếu không bắt kịp bước tiến phát triển…

Tham khảo tài liệu hay

Nói tóm tại Việt Nam gia nhập Asean là một bước ngoặt lớn, tạo tiền đề cho những cú hích xa hơn. Bên cạnh những thuận lợi, nếu phải đối mặt với nhiều khó khăn thì cũng phải chấp nhận. Bởi, chỉ có sự nỗ lực, học hỏi và đặt vào thế cạnh tranh, đất nước mới phát triển, tiến bộ.

Tính đến nay Việt Nam đã gia nhập nhiều tổ chức trên thế giới. Ví dụ như Tổ chức thương mại thế giới – WTO (2007), UNESCO, ASEM… Quá trình hội nhập thế giới đã giúp nước ta đạt được nhiều thành tựu lớn. Dần dần khẳng định được vị thế của mình.

Để học tốt Lịch Sử cũng như có kết quả cao, em cần có một quá trình kiên nhẫn. Đọc sách, nghe kĩ lời giảng, tìm kiếm tài liệu chất lượng là những bước giúp em học hiệu quả. Tham khảo tài liệu bên dưới và trên website: giaovienvietnam sẽ trang bị cho học sinh kiến thức hữu ích. Chúc các em gặt hái được nhiều thành công trên con đường học vấn!

Tải tài liệu miễn phí ở đây

Dấu Ấn Việt Nam Sau 22 Năm Gia Nhập Asean

Biên phòng – Ngày 28-7-1995, Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (viết tắt là ASEAN), và trở thành thành viên thứ 7 của tổ chức này. Từ đó đến nay, Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực hợp tác của ASEAN và đóng góp tích cực trong việc duy trì đoàn kết nội khối, tăng cường hợp tác giữa các nước thành viên cũng như giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài, góp phần không nhỏ vào sự phát triển và thành công của ASEAN.

Việt Nam đã đồng hành cùng ASEAN trong chặng đường nửa thế kỷ qua và sẽ còn tiếp tục đi trên con đường phát triển mới của khối này. Ảnh: The Manila Times

Tháng 8 tới đây, ASEAN chính thức kỷ niệm sinh nhật lần thứ 50. Nửa thế kỷ qua, vượt qua những rào cản về thế chế chính trị, khoảng cách về kinh tế, khác biệt văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ… ASEAN đã đạt được những thành tựu ấn tượng, trở thành Cộng đồng chung ASEAN vào cuối năm 2015. Trong sự phát triển chung đó, Việt Nam được đánh giá là một trong những thành viên tích cực nhất, đóng góp chủ động vào các hoạt động chung của khu vực.

Tuy không phải thành viên sáng lập Hiệp hội, nhưng kể từ khi gia nhập tổ chức khu vực này, Việt Nam luôn thể hiện tinh thần trách nhiệm, tham gia tích cực và có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng và phát triển ASEAN. Trước hết, Việt Nam đã đóng góp tích cực vào quá trình xây dựng tổ chức ASEAN. Từ một nước đến sau trong sân chơi ASEAN, Việt Nam trở thành một trong những quốc gia đi đầu đóng góp vào sự phát triển của Hiệp hội. Năm 1998, chỉ 3 năm sau khi gia nhập, Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 6 tại Hà Nội. Năm 2001, Việt Nam là nước chủ trì xây dựng và góp phần trong Tuyên bố Hà Nội về Thu hẹp khoảng cách phát triển.

Việt Nam đã tích cực thúc đẩy ASEAN kết nạp các nước Campuchia, Lào và Myanmar, đã trở thành cây cầu nối Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải đảo, để đến năm 1999, giấc mơ về một đại gia đình ASEAN gồm 10 quốc gia thành viên đã trở thành hiện thực. Bỏ lại sau lưng quá khứ đối đầu và nghi kỵ, Việt Nam đã cùng ASEAN chứng minh rằng tương lai của khu vực sẽ được định hình tốt hơn bằng con đường hội nhập, đối thoại và hợp tác.

Khi ASEAN đánh dấu chặng đường 50 năm hình thành, xây dựng và phát triển, Việt Nam có thể tự hào đã trở thành một mắt xích quan trọng, đóng góp không nhỏ vào việc thúc đẩy hợp tác nhiều mặt, từ chính trị, an ninh, kinh tế đến văn hóa, xã hội, con người trong khu vực. Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc vai trò Chủ tịch ASEAN 2010 đúng vào giai đoạn có ý nghĩa quan trọng đối với tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN. Việt Nam là một trong 5 nước đầu tiên phê chuẩn sau khi Hiến chương ASEAN được ký kết và luôn tích cực trong quá trình triển khai, và được đánh giá là một trong những nước đi đầu trong việc triển khai các biện pháp hướng tới hình thành Cộng đồng vào cuối năm 2015.

ASEAN đã trở thành một trong những động lực quan trọng giúp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng bền vững thời gian qua. Ảnh đồ họa: VGP

Thứ hai, Việt Nam là một trong những nước tích cực trong việc thúc đẩy duy trì đoàn kết nội khối, đề cao tự cường khu vực, các giá trị, chuẩn mực ứng xử chung của ASEAN và phát huy vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực. Việt Nam đã nỗ lực cùng các nước ASEAN vượt qua những giai đoạn khó khăn như cơn bão khủng hoảng tài chính 1997-1998. Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy mở rộng các khuôn khổ hợp tác của ASEAN với các đối tác, trong đó có cơ chế hợp tác cấp cao Đông Á (EAS) với sự tham gia của Nga và Mỹ, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), và vận động để ASEAN có đại diện dự Hội nghị thượng đỉnh G20. Hiện Việt Nam cũng là thành viên tích cực tham gia xây dựng Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025, với mục tiêu làm cho liên kết ASEAN sâu rộng hơn, hoạt động trên cơ sở pháp luật và lấy người dân làm trung tâm.

Thứ ba, Việt Nam đã có những đóng quan trọng trong việc duy trì môi trường hòa bình, an ninh ở khu vực, trong đó có đảm bảo hòa bình, an ninh, an toàn hàng hải ở Biển Đông. Việt Nam luôn đề cao vai trò của việc tuân thủ Hiến chương ASEAN và Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC) như bộ quy tắc ứng xử điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia, dù lớn hay nhỏ, ở khu vực, nhất là các nguyên tắc không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Đánh giá về những đóng góp và vai trò của Việt Nam trong quá trình phát triển và hợp tác của ASEAN, cựu Đại sứ Singapore tại Việt Nam Teck Hean nhận định: “Việt Nam là một trong những thành viên rất quan trọng của ASEAN, có những đóng góp rất tích cực vào sự phát triển chung của Hiệp hội…. Cộng đồng ASEAN không thể hình thành và phát triển toàn diện nếu không có Việt Nam”.

Việt Nam đang cùng ASEAN bước sang một giai đoạn phát triển mới, xây dựng một tầm nhìn, tạo ra một sân chơi khu vực toàn diện từ nay đến 2025. Sự chuyển dịch địa chính trị ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, những căng thẳng xung quanh các tranh chấp trên Biển Đông đang đặt ra cho ASEAN không ít thử thách. Tham gia vào ASEAN cũng có nghĩa là Việt Nam sẽ cùng chung vai gánh vác những thách thức chung (cả truyền thống và phi truyền thống) đó. Thực tiễn hơn 20 năm gia nhập ASEAN sẽ giúp Việt Nam có được những bài học để đón đầu những cơ hội mới và mạnh mẽ đối phó với những thách thức trong tương lai.

Thanh Huyền

Thực Hiện Các Chức Năng Của Công Đoàn Khi Việt Nam Gia Nhập Cptpp

Thứ tư, 24 Tháng 7 2019 10:01

(LLCT) – Ngày 8-3-2018, Việt Nam đã ký Hiệp định Đối tác Toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cùng đại diện 10 quốc gia thành viên khác. Ngày 14-1-2019, CPTPP có hiệu lực tại Việt Nam. Việc ký kết Hiệp định này mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức cho tổ chức công đoàn. Với việc làm rõ chức năng của công đoàn, chỉ ra những khó khăn, thách thức, bài viết cũng đề cập một số giải pháp để phát huy hơn nữa vai trò của công đoàn trong việc tập hợp, bảo vệ lợi ích của đoàn viên trong thời gian tới.

1. Địa vị chính trị, pháp lý của Công đoàn Việt Nam

Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn nhất của giai cấp công nhân và người lao động Việt Nam; là thành viên trong hệ thống chính trị, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức và những người lao động. Công đoàn do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là cầu nối giữa Đảng với quần chúng, vận động và tổ chức quần chúng thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng cũng như phản ánh tâm tư, nguyện vọng của quần chúng tới Đảng nhằm thắt chặt mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng nhân dân. Trong bối cảnh hiện nay, nhiều vấn đề của giai cấp công nhân như: đời sống, việc làm, tiền lương, trình độ, kinh nghiệm… đặt ra yêu cầu mới đối với Công đoàn. V.I.Lênin khẳng định: “Đối với giai cấp vô sản công nghiệp, Công đoàn không phải chỉ là một tổ chức tất yếu về mặt lịch sử, mà còn là một tổ chức không thể không có được về mặt lịch sử, và trong điều kiện chuyên chính vô sản tổ chức đó bao gồm hầu hết giai cấp vô sản công nghiệp”(1). V.I.Lênin nhấn mạnh: “Tôi đi đến kết luận rằng, vai trò ấy là hết sức đặc biệt. Một mặt Công đoàn tập hợp, bao gồm trong hàng ngũ tổ chức của mình toàn thể công nhân công nghiệp, nó là một tổ chức của giai cấp đang cầm quyền, đang thống trị, đang chấp chính, là tổ chức của giai cấp đang thực hiện chuyên chính, giai cấp đang thực hành sự cưỡng bức nhà nước”(2).

Yêu cầu đặt ra là xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh, thực sự trở thành trung tâm tập hợp, đoàn kết, giáo dục giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng. Tổ chức Công đoàn vững mạnh mới thực hiện tốt vai trò kiểm tra, giám sát và kịp thời ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng. Đó cũng là biện pháp nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với giai cấp công nhân và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Xây dựng Công đoàn vững mạnh là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội, trong đó sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố đóng vai trò quyết định.

Ý thức được vấn đề này, Công đoàn Việt Nam luôn xác định trách nhiệm của mình trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng giai cấp công nhân thực sự vững mạnh trong thời kỳ mới. Với vị trí của mình, Công đoàn đã tổ chức cho đoàn viên tham gia góp ý xây dựng và bảo vệ Đảng; Công đoàn cũng là nơi giáo dục, rèn luyện những quần chúng ưu tú để giới thiệu họ với Đảng, đồng thời chủ động đề xuất với cấp ủy Đảng các cấp đổi mới phương thức lãnh đạo, đổi mới hệ thống chính trị, tham gia vào cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Bước vào thế kỷ XXI, việc xây dựng, phát triển và tăng cường bản chất giai cấp công nhân không chỉ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước mà còn để giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện vai trò và chức năng quản lý của Nhà nước. Đối với giai cấp công nhân, việc xây dựng và phát triển giai cấp mình, trước hết và chủ yếu là nhiệm vụ, là yêu cầu nội tại của chính giai cấp công nhân, phong trào công nhân thông qua tổ chức Công đoàn và cao hơn là tổ chức Đảng. Giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn chủ động xây dựng lực lượng và tiềm lực phát triển của mình cùng với huy động mọi nỗ lực và trách nhiệm của toàn xã hội. Tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng không thể tách rời với xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh với Nhà nước pháp quyền XHCN và hệ thống chính trị đổi mới năng động. Muốn vậy, cần phải có những chuyển biến quan trọng trong nhận thức của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội làm cơ sở cho những chuyển biến thực sự trong hành động thực tế để giai cấp công nhân cùng tổ chức Công đoàn có được sức mạnh, ảnh hưởng và uy tín trong xã hội, xứng đáng với vai trò và vị trí của giai cấp công nhân hiện nay. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Đảng không thể giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng nếu tổ chức Công đoàn yếu kém, không được đầu tư đúng mức, đúng tầm.

Trong cơ chế mới của nền kinh tế, khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, Công đoàn không chỉ là cầu nối của Đảng đến giai cấp công nhân mà còn là đại diện thực sự của công nhân, là “đệm giảm sóc” cho những va chạm, xung đột phát sinh trong quan hệ xã hội giữa một bên là giai cấp công nhân với một bên là giới chủ – người sử dụng lao động. Theo quy định hiện nay, Công đoàn Việt Nam có các chức năng cơ bản sau: đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa(3).

Chức năng của Công đoàn là một chỉnh thể, trong đó, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động là trung tâm – mục tiêu hoạt động công đoàn. Từ các chức năng này sẽ định ra các nhiệm vụ cụ thể của Công đoàn.

Luật Công đoàn năm 2012 ghi rõ:

Điều 10. Đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động

1. Hướng dẫn, tư vấn cho người lao động về quyền, nghĩa vụ của người lao động khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với đơn vị sử dụng lao động.

2. Đại diện cho tập thể người lao động thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể.

3. Tham gia với đơn vị sử dụng lao động xây dựng và giám sát việc thực hiện thang, bảng lương, định mức lao động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động.

5. Tổ chức hoạt động tư vấn pháp luật cho người lao động.

6. Tham gia với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động.

7. Kiến nghị với tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể người lao động hoặc của người lao động bị xâm phạm.

8. Đại diện cho tập thể người lao động khởi kiện tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể người lao động bị xâm phạm; đại diện cho người lao động khởi kiện tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động bị xâm phạm và được người lao động ủy quyền.

9. Đại diện cho tập thể người lao động tham gia tố tụng trong vụ án lao động, hành chính, phá sản doanh nghiệp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể người lao động và người lao động.

10. Tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định của pháp luật(4).

2. Những vấn đề đặt ra đối với Công đoàn Việt Nam khi CPTPP có hiệu lực

Thứ nhất, sự cạnh tranh từ các tổ chức bảo vệ quyền lợi của người lao động không trực thuộc Công đoàn Việt Nam.

Công đoàn Việt Nam không còn là tổ chức duy nhất đại diện cho người lao động khi gia nhập CPTPP, vấn đề cạnh tranh và thu hút mới đoàn viên công đoàn là điều tất yếu. Việc phát triển đoàn viên và công đoàn cơ sở sẽ gặp khó khăn. Nguồn lực bảo đảm cho hoạt động công đoàn, nhất là nguồn lực tài chính sẽ bị chia sẻ và giảm sút. Môi trường hoạt động công đoàn thay đổi lớn do quan hệ lao động sẽ có những diễn biến phức tạp. Người lao động và cả người sử dụng lao động sẽ đứng trước nhiều lựa chọn tổ chức để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình.

Thứ hai, tăng cường các hoạt động của Công đoàn trong thực hiện các chức năng, nhất là chức năng bảo vệ người lao động.

Trên thực tế, Công đoàn trở nên “hành chính hóa” và suy giảm uy tín mạnh mẽ trong công nhân. Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội nên vẫn dùng kinh phí ngân sách và như vậy, mối quan hệ giữa công nhân, người lao động với công đoàn nhiều khi không gắn kết bởi cán bộ chuyên trách công đoàn hưởng lương thực chất chủ yếu là từ ngân sách chứ không phải từ hội phí như công đoàn của một số nước theo kinh tế thị trường. Chính vì vậy, nhiều cán bộ công đoàn tự coi mình là công chức nhà nước chứ không phải là người đại diện cho người lao động, có nhiệm vụ chính yếu là bảo vệ người lao động. Điều này tạo ra khoảng cách giữa người lao động và Công đoàn. Do đó, mối quan hệ giữa hai phía nhiều khi mang tính hình thức.

Thứ ba, niềm tin của người lao động và việc gia nhập công đoàn.

Trong các chức năng của Công đoàn, chức năng bảo vệ quyền, lợi ích người lao động là quan trọng nhất. Tuy nhiên, khi tình hình đình công đang diễn ra phức tạp tại các khu công nghiệp, khu chế xuất thì vai trò của Công đoàn ở đó luôn mờ nhạt, khiến nhiều công nhân giảm tin tưởng vào Công đoàn và cho rằng Công đoàn không đứng về phía họ. Ở nhiều nơi, tổ chức Công đoàn thụ động và hầu như không nắm được công nhân. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho phần lớn các cuộc đình công thời gian qua rơi vào bất hợp pháp theo Luật hiện hành.

Thứ tư, sự e ngại của người sử dụng lao động đối với hoạt động của tổ chức Công đoàn trong doanh nghiệp.

Hầu hết các doanh nghiệp ngoài Nhà nước (kể cả các doanh nghiệp có phần vốn góp của Việt Nam) có rất ít các tổ chức đảng và đảng viên do tâm lý e ngại từ phía giới chủ. Họ tìm cách cản trở hoạt động của tổ chức Đảng nên tác động, ảnh hưởng của Đảng đến công nhân là rất hạn chế. Công đoàn là tổ chức có khả năng và có thể góp phần quan trọng để khắc phục tình trạng này thông qua các hoạt động của mình để đưa các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng đến với giai cấp công nhân. Hoạt động của Công đoàn cũng gặp nhiều khó khăn khi người sử dụng lao động cũng không muốn hoạt động của doanh nghiệp bị giám sát bởi Công đoàn, thậm chí còn có tư tưởng cho rằng hoạt động của Công đoàn là gây trở ngại cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Mặt khác, vai trò của Công đoàn trong các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài Nhà nước rất mờ nhạt. Công nhân mất lòng tin vào Công đoàn với tâm lý cho rằng Công đoàn ăn lương của giới chủ và đứng về giới chủ, không bảo vệ quyền lợi của công nhân. Hệ quả là công nhân có tư tưởng bị bỏ rơi trong cuộc đấu tranh vì quyền lợi của mình, cho dù có nhiều trường hợp sự đấu tranh đó đã đi quá giới hạn.

Thứ năm, các quy định của pháp luật còn một số bất cập.

Thực tế, hầu hết Chủ tịch công đoàn trong các doanh nghiệp có tổ chức đảng là đảng viên. Vấn đề đặt ra là, nếu họ đứng ra lãnh đạo đình công thì có vi phạm Điều lệ Đảng hay không, hướng giải quyết ra sao?

Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập CPTPP, rõ ràng Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cần chỉ đạo, hướng dẫn cho các cấp Công đoàn thấy được việc bảo vệ lợi ích của người lao động là nhiệm vụ thiết yếu của tổ chức Công đoàn. Cần thống nhất nhận thức là phải xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa chủ doanh nghiệp đối với khách hàng, giữa chủ doanh nghiệp với mọi thành viên trong doanh nghiệp, giữa công nhân viên chức, lao động với nhau và đặc biệt là mối quan hệ lãnh đạo giữa Đảng, Công đoàn và Giám đốc doanh nghiệp. Nếu xây dựng tốt các mối quan hệ này, doanh nghiệp sẽ ổn định, phát triển bền vững. Ngược lại, thống nhất, tin tưởng, phấn khởi, toàn tâm toàn ý của công nhân viên chức lao động ra sức xây dựng doanh nghiệp. Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, giai cấp công nhân không còn bị áp bức, bóc lột nữa, mà trở thành giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Cần lưu ý rằng, một bộ phận công nhân làm thuê trong các doanh nghiệp tư nhân, vừa tham gia làm chủ cùng toàn bộ giai cấp công nhân, vừa làm thuê xét về mặt cá nhân. Điều này lý giải vì sao khi xem xét biểu hiện ý thức chính trị của giai cấp công nhân trong giai đoạn hiện nay lại xét cả thái độ của giai cấp công nhân đối với giới chủ. Giới chủ là những người tổ chức, quản lý sản xuất trong các doanh nghiệp ngoài thành phần kinh tế nhà nước và tập thể. Người sử dụng lao động ở đây là nói đến người tổ chức, quản lý sản xuất trong những doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà nước và tập thể. Để hạn chế ngay từ đầu những hậu quả tiêu cực của các cuộc đình công, Công đoàn cần giáo dục người lao động có ý thức chính trị, thái độ đối với người sử dụng lao động, trong đó có giới chủ, phải trên cơ sở quy định của pháp luật, đặc biệt là Bộ luật Lao động. Hiểu được những điều khoản cơ bản trong Bộ luật Lao động là người lao động đã hiểu được những quyền lợi và nghĩa vụ lao động của mình. Từ đó, có cơ sở để xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa và ổn định cùng nhau hợp tác vì sự phát triển của doanh nghiệp và của đất nước. Công đoàn phải làm cho người lao động hiểu được bản chất của mối quan hệ giữa mình và người sử dụng lao động, đặc biệt là với giới chủ. Phải thấy rằng sự hợp tác với giới chủ là cần thiết nhưng phải vừa hợp tác vừa đấu tranh trên cơ sở thấu tình, đạt lý. Công đoàn phải làm cho người lao động có lập trường kiên định, vững vàng trước mọi cám dỗ của lợi ích vật chất tầm thường, có thái độ rõ ràng, dứt khoát với những việc làm sai trái của giới chủ, không vì lợi ích trước mắt của mình mà đánh mất danh dự, nhân phẩm, phản bội lợi ích của giai cấp và của toàn thể nhân dân lao động. Hơn nữa, người lao động có ý thức chính trị cao phải động viên mọi người thực hiện tốt các quy định của pháp luật, đồng thời đấu tranh không khoan nhượng đối với những biểu hiện vi phạm mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động, trong đó có giới chủ, trên cơ sở tuân thủ pháp luật nhằm kết hợp hài hòa các lợi ích.

Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, số lượng doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, số lượng công nhân ngày càng nhiều nhưng sự hiểu biết của một bộ phận không nhỏ về tổ chức Công đoàn lại không nhiều. Đa số công nhân trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn bị ảnh hưởng của nền sản xuất nhỏ, với lối làm ăn, suy nghĩ manh mún, tùy tiện, tự do, trình độ văn hóa còn hạn chế, chưa đủ ý thức về tổ chức Công đoàn và tự bảo vệ mình. Nhiều người lo lắng tham gia Công đoàn sẽ mất lòng giới chủ và bị đuổi việc. Ngược lại, không ít chủ doanh nghiệp lại lo lắng công đoàn sẽ đối lập với doanh nghiệp, lo sợ hoạt động của Công đoàn sẽ chiếm mất nhiều thời gian, ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh. Vì vậy, khi gia nhập CPTPP và có sự cạnh tranh cả về tổ chức, hoạt động thu hút đoàn viên thì trách nhiệm của cán bộ công đoàn là phải tuyên truyền, vận động công nhân gia nhập tổ chức Công đoàn và thành lập công đoàn cơ sở. Bên cạnh đó, Công đoàn phải đưa cán bộ công đoàn chuyên trách có năng lực đến các doanh nghiệp chưa có tổ chức Công đoàn làm nòng cốt, vận động cả những người sử dụng lao động để họ thành lập tổ chức Công đoàn tại doanh nghiệp khi có đủ điều kiện.

Trong nền kinh tế thị trường, lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp quan trọng nhất để phát triển xã hội. Công nhân trước khi quyết định gia nhập tổ chức Công đoàn nào thường đặt câu hỏi: vào công đoàn để làm gì? được lợi gì? Các cán bộ công đoàn phải trả lời câu hỏi này cho công nhân. Không chỉ trả lời trên lý thuyết mà còn trả lời bằng thực tế việc làm, những nội dung hoạt động của công đoàn cơ sở, những quyền lợi dễ thấy mà công nhân có được khi vào tổ chức Công đoàn. Vì vậy, Công đoàn luôn luôn phải đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của mình để công nhân thấy được công đoàn thực sự là chỗ dựa của mình khi gặp khó khăn.

Công đoàn phải nắm được đoàn viên, tổ chức cho đoàn viên hoạt động, căn cứ vào từng điều kiện cụ thể của cơ sở mà phân công đoàn viên phù hợp với điều kiện, năng lực của mỗi người. Cán bộ công đoàn cần định kỳ nhận xét đánh giá ưu khuyết điểm của đoàn viên, đề xuất khen thưởng động viên các đoàn viên tích cực, uốn nắn kịp thời những khuyết điểm của đoàn viên. Cổ vũ lôi cuốn công nhân tham gia hoạt động công đoàn, có niềm tin về hoạt động công đoàn, về quyền lợi và mục đích sẽ đạt được nhờ có tổ chức Công đoàn. Từ đó, làm cho công nhân tự nguyện gia nhập và tham gia các hoạt động do công đoàn tổ chức.

(1), (2) V.I.Lênin: Toàn tập, t.42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, tr.253, 253.

(3), (4) Điều 1 Luật Công đoàn, Luật số 12/2012/QH13

PGS, TS Lê Văn Cường

Viện Xây dựng Đảng,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Giải Pháp Thúc Đẩy Hợp Tác Giữa Việt Nam Và Asean

AEC ra đời sẽ là một bước ngoặt đánh dấu sự hội nhập khu vực một cách toàn diện của các kinh tế Đông Nam Á. Nguồn: internet

Giới thiệu khái quát về cộng đồng kinh tế ASEAN

AEC ra đời sẽ là một bước ngoặt đánh dấu sự hội nhập khu vực một cách toàn diện của các kinh tế Đông Nam Á, hướng tới mô hình một cộng động kinh tế-an ninh-xã hôi theo mô hình EU. Đồng thời, AEC ra đời cũng sẽ hòa trộn nền kinh của 10 quốc gia thành viên thành một khối sản xuất, thương mại và đầu tư, tạo ra thị trường chung của một khu vực có dân số 600 triệu người và GDP hàng năm khoảng 2.000 tỉ đô la Mỹ.

AEC là một trong 3 trụ cột quan trọng của Cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu đè ra trong tầm nhìn ASEAN 2020, đồng thời AEC có sứ mệnh nhằm tạo dựng: Một thị trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất; Một khu vực có sức cạnh tranh; Một khu vực có sức cạnh tranh; Phát triển đồng đều ; Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập nhằm mục đích tạo dựng một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất cho các quốc gia thành viên ASEAN, thúc đẩy sự di chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động có tay nghề trong ASEAN.

Mục tiêu của AEC là thúc đẩy phát triển kinh tế một cách công bằng, thiết lập khu vực kinh tế có năng lực cạnh tranh cao mà với năng lực cạnh tranh này, ASEAN có thể hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu.

Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC sẽ là một thị trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất bao gồm : dỡ bỏ thuế quan và các hàng rào phi thuế quan; thuận lợi hóa thương mại, hài hòa hóa các tiêu chuẩn sản phẩm và quy chế, giải quyết nhanh chóng hơn các thủ tục hải quan và xuất nhập khẩu, hoàn chỉnh các quy tắc về xuất xứ, tạo thuận lợi cho dịch vụ, đầu tư, tăng cường phát triển thị trường vốn ASEAN và tự do lưu chuyên hơn của dòng vốn, thuận lợi hóa việc di chuyển của các công dân, người lao động trong khu vực…, song song với củng cố mạng lưới sản xuất khu vực thông qua đẩy mạnh kết nối về cơ sở hạ tầng, đặc biệt trong các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, công nghệ thông tin và viễn thông cũng như phát triển các kỹ năng thích hợp.

Nhằm xây dựng một khu vực cạnh tranh về kinh tế, ASEAN thúc đẩy chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ sở hữu trí tuệ, phát triển thương mại điện tử… Hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế đồng đều, ASEAN thông qua và đang phát triển khuôn khổ ASEAN về phát triển kinh tế đồng đều (AFEED) trong đó đáng chú ý là hỗ trợ các nước thành viên mới, khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển.

Mở rộng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, ASEAN đẩy mạnh triển khai các FTA với các đối tác lơn như Hàn Quốc, Nhật Bản … đồng thời tích cực đàm phán xây dựng hiệp định Đối tác Toàn diện Khu vực (RCEP) nhằm tạo ra một không gian kinh tế mở ở Đông Á.

Đề xuất những giải pháp thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam và ASEAN

Năm 2015 sẽ là mốc thời gian quan trọng đối với Việt Nam mà AEC ra đời . Về thương mại hàng hóa, Việt Nam sẽ phải hoàn thành việc đưa thuế nhập khẩu về 0% đối với gần 93% biểu thuế và chỉ còn được duy trì mức thuế 0%-5% đối với 7% biểu thuế đến năm 2018. Về thương mại dịch vụ và đầu tư, Việt Nam cùng với các nước ASEAN khác sẽ phải hoàn thành lộ trình tự do hóa thương mại trong khuôn khổ Hiệp định khung về dịch vụ (AFAS) theo 10 Gói cam kết dịch vụ chính và các Gói cam kết về dịch vụ tài chính, vận tải hàng không và tự do hóa đầu tư theo Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA).

Trong những năm qua, Việt Nam đã tham gia xây dựng AEC với tinh thần chủ động, tích cực và có trách nhiệm. Cùng với ASEAN, Việt Nam quyết tâm và dành nỗ lực cao nhất để triển khai các cam kết, chương trình, sáng kiến đề ra. Trong thời gian qua, dù trình độ phát triển chưa bằng một số nước trong khu vực nhưng Việt Nam là một trong số các thành viên ASEAN có tỷ lệ hoàn thành tốt các cam kết trong Lộ trình tổng thể thực hiện AEC. Hiện nay, ASEAN đã thực hiện được 78,1% tổng số các biện pháp xây dựng AEC.

Do vậy, tác giả kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao, thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam và ASEAN:

Cộng đồng chung kinh tế ASEAN là một cơ hội mang đến nhiều lợi ích cho Việt Nam nói chung và cho doanh nghiệp Việt Nam nói riêng. Vì vậy, để các nỗ lực hội nhập đem lại lợi ích thực sự thì vai trò của các doanh nghiệp là yếu tố quyết định. Các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động tìm hiểu, đổi mới phương thức kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh để tận dụng tối đa các cơ hội về thị trường, vốn, công nghệ mà AEC mang lại;

Chính phủ cần tăng cường hoạt động tuyên truyền, phổ biến để các doanh nghiệp tận dụng tối đa các điều kiện thuận lợi về tiếp cận thị trường và cắt giảm thuế quan cũng như phối hợp với các doanh nghiệp xử lý các vướng mắc, khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện để đảm bảo lợi ích cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam để đẩy mạnh xuất khẩu và nâng cao hiệu quả xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang các thị trường ASEAN, tận dụng các cam kết trong AEC;

Tăng cường công tác dự báo, bám sát tình hình thị trường, nâng cao hiệu quả công tác thông tin, kịp thời thông báo, tuyên truyền nâng cao nhận thức của các nhà sản xuất, xuất khẩu về các loại rào cản của các thị trường này nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, cải thiện chất lượng hàng hoá tránh rủi ro cho doanh nghiệp khi thực hiện các hợp đồng xuất khẩu;

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách trong nước phù hợp với những định hướng lớn của Đảng và nhà nước trong vấn đề phát triển thương mại, phù hợp với luật pháp quốc tế và những khung khổ hợp tác nhằm nâng cao hiệu quả của việc tham gia vào AEC;

Tăng cường sự hợp tác và phối hợp hành động với những cơ quan đồng cấp trong đảm bảo việc triển khai các cam kết được thỏa thuận trong khuôn khổ AEC cũng như các cơ chế hợp tác song phương khác nhằm tạo môi trường thương mại thuận lợi, giảm thiểu rào cản thương mại và rủi ro trong quá trình làm ăn với doanh nghiệp của các nước; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp Việt Nam khi có những tranh chấp thương mại xảy ra.

Bên cạnh đó,Chính phủ cần phải khẩn trương đẩy mạnh việc phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ như hóa chất, chất dẻo, cơ khí, …, đặc biệt là công nghiệp phụ trợ đối với các ngành hàng xuất khẩu chủ lực như điện tử, máy móc, dệt may, da giầy … từ đó giảm bớt việc phải nhập khẩu phụ tùng, linh kiện từ nước ngoài, đồng thời tăng hàm lượng giá trị gia tăng cho các sản phẩm của Việt Nam.

Để làm được việc đó, cũng cần phải chú trọng và đẩy mạnh việc chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao cho ngành công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin đồng thời khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nghiên cứu triển khai (R&D) trong nước nâng cao trình độ khoa học công nghệ của Việt Nam.

Thúc đẩy một việc triển khai cơ chế một cửa quốc gia trong khuôn khổ cơ chế một cửa ASEAN. Cơ chế này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu trong việc dịch chuyển hàng hóa tại cửa khẩu biên giới, tiết kiệm được hàng triệu USD cho doanh nghiệp thông qua giảm thời gian làm thủ tục hải quan bởi tính đơn giản, hài hòa và tự động hóa; đồng thời doanh nghiệp thương mại và vận tải quốc tế sẽ có điều kiện áp dụng phương thức quản lý mới, tiết kiệm chi phí cũng như giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính, có cơ hội cạnh tranh cao.

Trên cơ sở phân tích hiệu quả thực tế và đảm bảo tuân thủ các qui định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nhằm tránh xảy ra các xung đột thương mại, cần khẩn trương xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng, chỉ dẫn, nhãn mác, bao bì, cũng như tiếp tục hoàn thiện chính sách quản lý nhập khẩu để hạn chế nhập khẩu công nghệ, thiết bị lạc hậu, ô nhiễm môi trường, hàng hoá chất lượng thấp. Đồng thời, áp dụng linh hoạt các biện pháp thương mại tạm thời như biện pháp chống bán phá giá, biện pháp chống trợ cấp, biện pháp tự vệ cũng như các biện pháp khác để bảo vệ sản xuất trong nước.