Top 14 # Xem Nhiều Nhất Giải Pháp Chủ Yếu Để Nâng Cao Giá Trị Sản Xuất Cây Công Nghiệp Lâu Năm Ở Tây Nguyên Là / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Biện Pháp Quan Trọng Hàng Đầu Để Phát Triển Cây Công Nghiệp Lâu Năm Ở Tây Nguyên Của Nước Ta Là / 2023

Hướng dẫn Trắc nghiệm Online và Tích lũy điểm thưởng

CÂU HỎI KHÁC

Địa danh nào sau đây không phải tên của một huyện đảo ở nước ta:

Trong việc phát triển cây công nghiệp lâu năm ở Đông Nam Bộ của nước ta, ngoài thủy lợi thì biện pháp quan trọng ti�

Phải đặt ra vấn đề chuyển dịch cơ cấu theo ngành của vùng Đồng bằng sông Hồng ở nước ta là vì?

Cho biểu đồ: CƠ CẤU SẢN LƯỢNG THỦY SẢN KHAI THÁC PHÂN THEO VÙNGGIAI ĐOẠN 2000 – 2014.

Ở nước ta, khó khăn về tự nhiên đối với sự phát triển kinh tế- xã hội ở Đồng bằng sông Cửu Long không phải là

Ở nước ta, loại khoáng sản đáng kể ở Đồng bằng sông Cửu Long là

Ở nước ta, Đồng bằng sông Hồng không tiếp giáp với vùng nào sau đây?

Cho biểu đồ:Biểu đồ đã cho biểu hiện nội dung nào sau đây?

Cho bảng số liệu:DIỆN TÍCH GIEO TRỒNG CÂY CÔNG NGHIỆP LÂU NĂM CỦA TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI BẮC BỘ, TÂY NGUYÊN Ở NƯỚC T

Ở nước ta, việc phát triển thủy điện ở Trung du và miền núi Bắc Bộ không có ý nghĩa nào sau đây:

Ở nước ta, Duyên hải Nam Trung Bộ có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng các cảng nước sâu, trong đó chủ yế

Ở nước ta, vùng kinh tế trọng điểm không có đặc điểm đặc trưng nào sau đây?

Ở nước ta, điều kiện tự nhiên thuận lợi hàng đầu để Tây Nguyên trở thành vùng chuyên canh cây công nghiệp là:

Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 29, hãy cho biết trung tâm công nghiệp có quy mô trên 120 nghìn tỉ đồng của Đông

Ở nước ta, đặc điểm không đúng về vị trí địa lí của Duyên hải Nam Trung Bộ là

Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 27, hãy cho biết trong cơ cấu GDP phân theo khu vực kinh tế của vùng Bắc Trung Bộ,

Phương hướng quan trọng nhất để khai thác nguồn lợi hải sản vừa hiệu quả, vừa góp phần bảo vệ vùng trời – vùng

Biện pháp quan trọng hàng đầu để phát triển cây công nghiệp lâu năm ở Tây Nguyên của nước ta là

Ở nước ta, việc hình thành cơ cấu nông-lâm-ngư nghiệp có ý nghĩa lớn đối với sự hình thành cơ cấu kinh tế chung c�

Ở nước ta, ranh giới tự nhiên giữa Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ là:

Ở nước ta, tỉnh/thành phố phát triển mạnh loại hình du lịch biển- đảo của vùng Đồng bằng sông Hồng là:

Ở nước ta, thế mạnh về tự nhiên tạo cho Đồng bằng sông Hồng có khả năng phát triển mạnh cây vụ đông là: &

Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 28, hãy cho biết trong tỉnh nào của vùng Tây Nguyên trồng nhiều cà phê nhất?

Ở nước ta, vấn đề được quan tâm nhất khi khai thác lãnh thổ theo chiều sâu trong công nghiệp của Đông Nam Bộ là:

Phương hướng chủ yếu hiện nay đối với vấn đề lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long của nước ta là:

Ở nước ta, tỉnh thuộc Tây Nguyên mà giáp với cả Lào và Campuchia là:

Ở nước ta, những huyện đảo nào sau đây thuộc thành phố Hải Phòng:

Dựa vào bảng số liệu:SẢN LƯỢNG THỦY SẢN CỦA VÙNG BẮC TRUNG BỘ VÀ DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ Ở NƯỚC TA NĂM 2010 VÀ

Ở nước ta, tỉnh duy nhất của vùng trung du và miền núi Bắc Bộ có biển là:

Dựa vào bảng số liệu:DÂN SỐ VÀ SẢN LƯỢNG LÚA CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Ở NƯỚC TA

Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang 30, hãy cho biết nhận định nào sau đây không đúng về GDP và cơ cấu GDP phân theo

Giải Pháp Nâng Cao Giá Trị Các Sản Phẩm Nông Sản Hàng Hóa Chủ Lực / 2023

BHG – Nhằm nâng cao uy tín, giá trị sản phẩm một số nông sản hàng hóa chủ lực của tỉnh giai đoạn 2019 – 2020, góp phần thực hiện mục tiêu tái cơ cấu nông nghiệp; thời gian qua, các cấp, ngành đã tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, hướng đến nền nông nghiệp an toàn, bền vững và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Lãnh đạo Chi cục Chăn nuôi và thú y kiểm tra việc phát triển đàn ong mật tại Đồng Văn.

Hiện nay, tỉnh ta có 3 sản phẩm nông sản hàng hóa đặc thù là: Cam Sành, mật ong Bạc hà, gạo Già Dui Xín Mần được xác định là sản phẩm chủ lực, đã đăng ký chứng nhận Chỉ dẫn địa lý và xây dựng kế hoạch phát triển chuỗi giá trị, tạo tiền đề phát triển thương hiệu, góp phần nâng cao giá trị, tăng sức cạnh tranh.

Hiện nay, diện tích cam Sành toàn tỉnh 8.732,8 ha, chiếm 92,67% tổng diện tích cây ăn quả có múi, tập trung chủ yếu ở huyện Bắc Quang, Quang Bình và Vị Xuyên; trong đó, cam trồng theo tiêu chuẩn VietGAP 3.527,71 ha, chiếm 79,87% diện tích đang cho thu hoạch. Năng suất bình quân đạt 119,6 tạ/ha; sản lượng đạt 52.830 tấn; 80% sản lượng cam Sành đáp ứng được yêu cầu về mẫu mã và chất lượng. Đối với nghề nuôi ong, trên địa bàn tỉnh có 47.379 tổ ong, sản lượng mật đạt 270,53 tấn/năm. Diện tích sản xuất lúa chất lượng cao là 7.368,3ha, sản lượng 38.088,1 tấn, tập trung chủ yếu ở các huyện: Bắc Quang, Vị Xuyên, Quang Bình, Xín Mần, Hoàng Su Phì, Bắc Mê và Yên Minh.

Sản phẩm mật ong Bạc hà được đóng chai, có tem, nhãn.

Hiện toàn tỉnh chỉ có 1 doanh nghiệp (DN) là Công ty Cổ phần Xuất, nhập khẩu Dược Bảo Châu đóng tại Vị Xuyên, sản xuất chế biến nước ép cam; sản lượng cam thu mua, chế biến hàng năm ít. Do vậy, sản phẩm cam được tiêu thụ chủ yếu là bán quả tươi khoảng 98% sản lượng; cam được dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc và sử dụng hộp bao bì còn hạn chế chỉ đạt khoảng 20% sản lượng. Toàn tỉnh có 16 cơ sở, DN, hợp tác xã (HTX) kinh doanh mật ong; bước đầu đã có liên kết với các hộ nuôi ong tại địa phương. Tuy nhiên, sản phẩm bán ra thị trường chủ yếu ở dạng nguyên chất; sản phẩm đóng chai, hộp, gắn nhãn mác và tem điện tử truy xuất nguồn gốc số lượng chưa nhiều, chiếm khoảng 2-3%. Giá bán mật ong tại các huyện vùng cao phía Bắc trung bình từ 350-400 nghìn đồng/lít; sản phẩm mật ong Bạc hà gắn tem, nhãn mác có giá bán 700-800 nghìn đồng/lít.

Bên cạnh đó, một số sản phẩm gạo chất lượng cao, như: Gạo Già Dui Xín Mần đã xây dựng được thương hiệu và dần khẳng định vị thế trên thị trường. Song hầu hết diện tích sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ; chưa có lúa gạo chất lượng cao theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ hoặc ứng dụng công nghệ cao; số lượng còn hạn chế, chủ yếu phục vụ khách du lịch và nhu cầu thị trường tại chỗ; đa số sản phẩm chưa có nhãn mác, tem điện tử truy xuất nguồn gốc; giá bán dao động từ 15-35 nghìn đồng/kg.

Chi cục Trưởng, Chi cục Quản lý chất lượng Nông-Lâm sản và Thủy sản (Sở NN&PTNT), Nguyễn Trường Thành cho biết. Mặc dù các sản phẩm nông sản chủ lực của tỉnh có chất lượng tốt song quy mô sản xuất còn nhỏ, lẻ, phân tán. Trong khi diện tích cam Sành lại quá lớn, cung vượt cầu. Bên cạnh đó, quy mô chăn nuôi ong chủ yếu là ở gia đình; liên kết giữa DN, HTX sơ chế, chế biến – kinh doanh với người sản xuất còn hạn chế. Người sản xuất, cơ sở sản xuất – kinh doanh chưa thực sự quan tâm đúng mức đến khâu quảng bá, xây dựng thương hiệu sản phẩm, còn nặng tư tưởng trông chờ vào Nhà nước. Một số nông sản chủ lực của tỉnh đã được cấp Chỉ dẫn địa lý, nhưng số tổ chức, cá nhân nằm trong vùng Chỉ dẫn địa lý, đăng ký cấp quyền sử dụng còn rất hạn chế: Cam Sành có 3 tổ sản xuất, HTX; mật ong Bạc hà có 7 DN, HTX. Do đó, chưa phát huy được lợi thế; phần lớn sản phẩm chưa kết nối tiêu thụ với các DN đầu mối lớn, mà phải qua thương lái dẫn đến giá thành sản phẩm thấp, thị trường tiêu thụ không ổn định.

Bài, ảnh:  LÊ HẢI

Bốn Giải Pháp Nâng Cao Chuỗi Giá Trị Nông Sản / 2023

(DĐDN) Hơn 20 năm qua, ngành nông nghiệp VN đã đạt được những thành tựu nổi bật, trở thành cường quốc xuất khẩu với nhiều ngành hàng đứng vị trí đầu trên thế giới như: gạo, cà phê cao su, hồ tiêu, hạt điều, chè, thủy sản…

Người tiêu dùng chọn mua sản phẩm chế biến cà phê công nghệ ướt của DN Đắk Lắk sản xuất

Tuy nhiên, cũng trong suốt thời gian qua, chúng ta luôn đứng trước các thử thách: “được mùa mất giá, mất mùa được giá”; trồng – chặt “…. Nhiều nông sản tăng sản lượng hàng năm, song gần như không tăng lợi nhuận cho người nông dân, đến mức Thủ tướng Chính phủ phải can thiệp để đảm bảo nông dân có lời, trước mắt ít nhất 30% trong sản xuất lúa gạo. Nguyên nhân chính là chúng ta đã không tạo dựng, làm chủ được công đoạn chế biến và xây dựng thương hiệu quốc gia. và để làm được điều này cũng như trong thời gian tới, tăng trưởng trong nông nghiệp sẽ phải chủ yếu dựa vào chính sách, phát triển DN và KHCN, trong đó phát triển DN giữ vai trò chủ đạo.

Chuỗi giá trị nông sản

Chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động, trong đó sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động đó theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm thu được một số giá trị nào đó. Hiện nay, chuỗi giá trị hình thành theo sản phẩm trong suốt quá trình từ sản xuất đến thương mại, không bị giới hạn bởi ranh giới quốc gia. Trong trường hợp sản phẩm được tạo ra bởi sự liên kết của nhiều DN thì chuỗi giá trị sẽ được gói lại trong một khái niệm rộng hơn “Giá trị hệ thống”

Như vậy, về tổng thể có thể chia Chuỗi giá trị của nông sản thành 3 công đoạn như sau: Sản xuất; thu mua, sơ chế/chế biến và bảo quản và cuối cùng là thương mại/tiêu thụ. Trong đó, lợi nhuận thu được ở công đoạn sản xuất là thấp nhất và khâu tiêu thụ là cao nhất. Đây chính là nguyên nhân mà rất ít nhà đầu tư bỏ vốn vào sản xuất mà chỉ tập trung cho thu mua và thương mại. Những nghiên cứu về chuỗi giá trị ở VN phần lớn mới chỉ dừng ở khâu sản xuất mà chưa có số liệu về giá trị hình thành ở các công đoạn khác như chế biến, thương mại. Người nông dân được hưởng lợi ít nhất trong chuỗi giá trị. Trong sản xuất lúa gạo, việc sản xuất nhỏ, nhiều giống, thương lái thu mua nhỏ không có điều kiện phân loại giống làm cho chất lượng gạo không đồng đều, không thể xây dựng thương hiệu, ngoài tên gọi chung “Gạo trắng VN”. Trong sản xuất cà phê, nông dân thậm chí còn chịu thiệt thòi hơn. Các nhà khoa học ước tính, nông dân chỉ được hưởng lợi khoảng 10% trong tổng giá trị gia tăng của sản phẩm cà phê cuối cùng. Mặc dù nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng công nghiệp chế biến và bảo quản chưa được đầu tư.

Yếu kém trong ứng dụng

Điều này được thể hiện qua các yếu tố:

Thứ nhất là trong công đoạn sản xuất với việc chọn tạo giống cây trồng. Trong đó, các công nghệ cần ưu tiên áp dụng là công nghệ gen và công nghệ tế bào. Tiếp theo là vấn đề phân bón (Chiếm tỉ lệ chủ yếu trong cơ cấu giá thành). Do vậy, để giảm giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh cần tập trung vào các công đoạn sản xuất chiếm chi phí cao này bằng việc nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón công nghệ cao; khai thác hiệu quả lượng phế phụ phẩm (hàng năm VN sản xuất trên 40 triệu tấn lúa, 5 triệu tấn ngô… và có ít nhất một lượng phế phụ phẩm như vậy không được sử dụng hiệu quả)… Ngoài ra, còn nhiều vấn đề như quản lý cây trồng tổng hợp; chuyển đổi hệ thống canh tác; cơ giới hóa canh tác (việc sản xuất hàng hóa qui mô lớn đòi hỏi phải tích tụ ruộng đất theo chủ trương “Hộ nhỏ – Cánh đồng lớn” để tăng khả năng cơ giới hóa.

Thứ hai là trong công đoạn bảo quản, chế biến. Có thể nói, với phần lớn sản phẩm nông nghiệp chưa được bảo quản chế biến một cách khoa học nên tổn thất rất cao cả về số lượng (11-13% với lúa, 13-15% với ngô, 25-30% với rau) và về chất lượng (nhiễm aflatoxin, mốc, mọt…). Trong cà phê, khâu chế biến, bảo quản đều rất kém, tỉ lệ lỗi cao, tiêu chuẩn thấp. Tỉ lệ cà phê chế biến sâu quá thấp, chưa đạt 10%, trong khi giá trị gia tăng phần lớn nằm ở công đoạn này. Với các cây trồng khác cũng có tình trạng tương tự.

Thứ ba là trong công đoạn thương mại sản phẩm. VN là nước xuất khẩu nhiều loại nông sản có độ mở thị trường rất cao: Cà phê, hồ tiêu trên 90%; Lúa gạo xấp xỉ 25%, các mặt hàng khác như cao su, hạt điều, chè, sắn cũng trên 50-60%…. Như vậy, về lý thuyết, VN phải là nước điều tiết hoặc tham gia điều tiết giá thị trường. Tuy nhiên, hầu hết nông sản xuất khẩu của VN lại không có thương hiệu, những sản phẩm có thương hiệu thì qui mô quá nhỏ. Do vậy, giá trị gia tăng nhờ thương hiệu chúng ta không có.

Ngay với gạo, cho dù công đoạn chế biến của VN rất tốt, song do nhiều nguyên nhân, gạo VN vì thế chỉ có một tên chung là gạo trắng VN, trong khi cạnh chúng ta có Jasmine, Khaodakmali của Thái lan hay Basmati của Ấn độ, Pakistan..

Đồng bộ bốn giải pháp

Trước hết là giải pháp về thị trường. Cụ thể cần thay đổi tư duy từ sản xuất theo khả năng sang sản xuất theo nhu cầu thị trường. Do vậy, Chính phủ hỗ trợ xác định thị trường chiến lược cho cho từng ngành hàng và ký các cam kết quốc gia để đảm bảo rủi ro thấp nhất. Hệ thống thông tin và dự báo, phân tích thị trường, tiêu chuẩn chất lượng cần được cập nhật, xây dựng cơ sở dữ liệu cho từng chủng loại sản phẩm và từng thị trường cụ thể. Tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa thương vụ và DN.

Nhằm tránh rủi ro do giá xuống thấp khi vào vụ thu hoạch, nhà nước nên tổ chức thu gom nông sản và khi giá lên đến mức có lợi cho người dân thì tổ chức đấu giá, thậm chí cả đấu giá xuất khẩu. Thái Lan hiện đang thực hiện thu mua lúa cho nông dân và tổ chức đấu thầu bán lại cho DN chế biến, xuất khẩu.

Giải pháp về xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia. Mỗi nước khi tham gia thị trường đều phải xây dựng được thương hiệu của từng sản phẩm để bảo hộ và nâng cao giá trị gia tăng. Chúng ta đã và đang xây dựng chỉ dẫn địa lý cho một số sản phẩm đặc sản, bản địa. Tuy nhiên qui mô sản xuất các sản phẩm này lại quá nhỏ bé. Do vậy, Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ DN, Hiệp hội xây dựng thương hiệu thông qua: a) Qui hoạch và xây dựng vùng sản xuất; b) Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn sản phẩm hoặc hài hòa tiêu chuẩn quốc tế; c) Quảng bá thương hiệu trên các phương tiện truyền thông; d) Huy động tối đa sự tham gia của các hãng vận tài để sử dụng và giới thiệu sản phẩm và; e) hỗ trợ tham gia xúc tiến thương mại, hội chợ triển lãm.

Giải pháp về hỗ trợ DN. DN hiện nay rất đắn đo khi tham gia đầu tư vào nông nghiệp, nhất là công đoạn sản xuất mà họ chủ yếu tham gia vào khâu thu gom, sơ chế và tiêu thụ. Chính vì vậy, họ không quan tâm đến toàn chuỗi sản xuất. Do vậy, nhà nước cần có chính sách ưu đãi hơn về hạn điền và thời gian thuê đất, hỗ trợ tích tụ đất đai, thuế, vốn vay, bảo hiểm rủi ro, đào tạo nguồn lực … Tạo điều kiện để nông dân góp quyền sử dụng đất vào DN như mua cổ phiếu để họ yên tâm giao đất. Với đầu tư thiết bị, máy móc cần có chính sách ưu đãi về lãi suất, không tính theo năm mà chỉ tính theo mùa vụ sản xuất. Khi DN đầu tư vào sản xuất, họ sẽ là pháp nhân quan trọng trong việc định hướng thị trường, lựa chọn công nghệ và tìm nguồn vốn đầu tư.

Giải pháp về hỗ trợ xây dựng Hiệp hội ngành hàng. Nông dân, thậm chí DN hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp đều có qui mô nhỏ, vốn ít, do vậy khả năng vươn ra thị trường trực tiếp là khó khăn. Do vậy, nhà nước cần hỗ trợ để hình thành nhóm sở thích, Hiệp hội theo từng ngành hàng cụ thể. Như vậy, hoạt động sản xuất nông nghiệp, nhất là hoạt động trong lĩnh vực chế biến, xuất khẩu phải là các hoạt động có điều kiện và cần có chế tài để giám sát DN. Hiện nay, chính chúng ta đang tự cạnh tranh nhau nên đã làm tổn hại uy tín quốc gia và gây tổn thất cho người sản xuất.

Viện trưởng Viện khoa học Nông nghiệp VN



Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sản Xuất Kinh Doanh Ở Các Cơ Quan, Doanh Nghiệp / 2023

Sáng kiến cải tiến cơ cấu vận chuyển tấm dương cực từ khuôn đúc vào bể nguội đã giúp Nhà máy luyện đồng Lào Cai tiết kiệm được thời gian và kinh tế.

Phân xưởng đúc tấm dương cực được xem là trái tim của Nhà máy luyện đồng Lào Cai, quyết định tới việc thành công của cả chuỗi quá trình sản xuất từ tinh quặng đồng ra đồng katot 99,95%. Hiện, Nhà máy luyện đồng Lào Cai đang sử dụng máy đúc mâm tròn và điều khiển tự động hóa dưới sự giám sát của người chuyên trách. Trong quá trình sản xuất nếu gặp trục trặc tại một cụm thì toàn bộ hệ thống phải tạm dừng quá trình đúc hoặc điều chỉnh tốc độ đúc để sửa chữa, khắc phục tạm thời. Điều này dẫn tới tỉ lệ phế phẩm cao, tăng chi phí năng lượng, phải điều khiển từng cụm tốn nhân lực. Để khắc phục vấn đề này, sáng kiến cải tiến cơ cấu vận chuyển tấm dương cực từ khuôn đúc vào bể nguội đã ra đời. Giúp khắc phục toàn bộ hạn chế vốn có trước đây, đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng sản xuất. Đơn vị tiết kiệm chi phí khoảng trên 530 triệu đồng/năm. Anh Lê Hải Anh, Chi nhánh Luyện đồng Lào Cai cho biết: “Đối với thao tác này thì chúng tôi đã loại bỏ rất nhiều thao tác thừa như gắp, quay… đảm bảo an toàn hơn. Khi áp dụng sản phẩm mới này thao tác đơn giản, hiệu quả hơn, thời gian đúc nhanh hơn ít có sản phẩm thừa”.

Hưởng ứng phong trào nghiên cứu, sáng tạo khoa học kỹ thuật, hằng năm Công ty cổ phần Môi trường đô thị tỉnh đều có từ 15 đến 20 sáng kiến được áp dụng vào sản xuất và góp phần cùng với toàn công ty nâng cao chất lượng sản xuất, kinh doanh. Sáng kiến Máy xe bao của ông Phạm Văn Tân và các cộng sự đang được đánh giá là đặc biệt hiệu quả trong việc xử lý rác thải sinh hoạt của Nhà máy Rác thải thuộc Xí nghiệp Xử lý rác thải thành phố Lào Cai. Việc nghiên cứu, lắp đặt thành công Máy xe bao đã giúp cho việc thu gom rác hữu cơ của nhà máy gần như triệt để, chỉ còn khoảng 5 đến 10% rác tính cá biệt, không thu hồi. Điều này rất có ý nghĩa trong công tác đảm bảo môi trường, giảm tối đa lượng rác thải phải thực hiện chôn lấp. Ông Phạm Văn Tân, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Môi trường đô thị tỉnh Lào Cai cho biết: “Từ chỗ tăng được tỉ lệ rác hữu cơ thì sẽ tăng lượng rác đem đi ủ làm phân bón, việc sản xuất phân hữu cơ sẽ tăng thêm. Theo tính toán thì lượng rác hữu cơ tăng khoảng 15% tương đương thì lượng phân sản xuất sẽ tăng thêm 15% và giảm tỉ lệ rác thải phải đem đi chôn lấp”.

Sáng kiến Máy xe bao đang được đánh giá là đặc biệt hiệu quả trong việc xử lý rác thải sinh hoạt.

Hiệu quả của phong trào nghiên cứu, ứng dụng khoa học và kỹ thuật tại các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh là rất rõ ràng. Hy vọng rằng trong thời gian tới đây, phong trào sẽ tiếp tục được lan tỏa mạnh mẽ, trở thành hoạt động thường xuyên tại tất cả các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh.

Vinh Quang – Xuân Anh