Top 10 # Xem Nhiều Nhất Giải Pháp Cho Xuất Khẩu Gạo Việt Nam Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Aec Và Giải Pháp Cho Xuất Khẩu Gạo Việt Nam

(VLR) (Vietnam Logistics Review) AEC đã hình thành và chính thức đi vào hoạt động đặt Việt Nam và các nước trong khu vực trước những cơ hội và thách thức to lớn, đòi hỏi ngành gạo xuất khẩu Việt Nam cần có sự quan tâm, chuẩn bị kỹ, phối hợp, tự hoàn thiện để cạnh tranh được dưới sức ép của hội nhập sâu rộng để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức trong thời gian tới.

(Vietnam Logistics Review) AEC đã hình thành và chính thức đi vào hoạt động đặt Việt Nam và các nước trong khu vực trước những cơ hội và thách thức to lớn, đòi hỏi ngành gạo xuất khẩu Việt Nam cần có sự quan tâm, chuẩn bị kỹ, phối hợp, tự hoàn thiện để cạnh tranh được dưới sức ép của hội nhập sâu rộng để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức trong thời gian tới. Xuất khẩu gạo Việt Nam trong ASEAN

Nhiều năm qua, thị trường ASEAN luôn chiếm tỷ trọng lớn trong khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, thời gian gần đây, tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam sang các nước trong khối có phần sụt giảm do nhu cầu giảm từ các khách hàng chính như Indonesia, Philippines và Malaysia. Lượng xuất khẩu giảm nhiều nhất vào năm 2013 – chỉ với 1,5 triệu tấn so với 3,8 triệu tấn của năm 2012. Giai đoạn 2014-2015, tình hình được cải thiện đáng kể song khối lượng gạo xuất khẩu vào thị trường này vẫn chưa đạt mức trên 3 triệu tấn như trước đây.

Về cơ cấu gạo xuất khẩu: Việt Nam chủ yếu xuất khẩu loại gạo đã xát hay là gạo trắng (chiếm khoảng 98%), bao gồm gạo trắng cấp thấp (25% tấm), gạo cấp trung bình (15-20% tấm), gạo cao cấp (3-10% tấm). Kim ngạch xuất khẩu các loại gạo khác như gạo thơm các loại, gạo nếp, gạo lứt không nhiều. Hiện nay, gạo xuất khẩu chủ yếu là gạo tẻ hạt dài, chất lượng trung bình được sản xuất hầu hết từ ĐBSCL.

Về cơ cấu thị trường xuất khẩu: Trong số các thị trường nhập khẩu, Philippines luôn chiếm tỷ trọng lớn trong khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Malaysia và Indonesia là thị trường lớn thứ 2 và thứ 3 do thời tiết và điều kiện thổ nhưỡng không thuận lợi cho phát triển trồng lúa. Là một nước công nghiệp ít chú trọng nông nghiệp nên nhu cầu nhập khẩu của Singapore về lương thực rất lớn. Thị trường này đứng ở vị trí thứ 4 trong số các nước nhập khẩu gạo ASEAN từ Việt Nam.

AEC và cơ hội cho xuất khẩu gạo

AEC được thành lập dự kiến là sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các DN trong khu vực ASEAN nói chung và các DN Việt Nam nói riêng. Đối với mặt hàng gạo xuất khẩu, Việt Nam có khá nhiều thuận lợi, cụ thể:

Gạo xuất khẩu của Việt Nam có lợi thế về giá cả: Nhờ ưu thế giá rẻ, gạo thơm của Việt Nam đã chiếm lĩnh được nhiều thị trường quan trọng. Ví dụ như nhờ vào những chính sách, cam kết khi hội nhập khu vực, cuối năm 2015, thị trường gạo Việt Nam đã thu hút thêm thị trường Singapore – một thị trường có nhiều tiềm năng.

Thị trường gạo xuất khẩu được mở rộng: Hiện nay, gạo Việt Nam chiếm lĩnh 77% thị trường gạo tại Philippines, và chiếm lĩnh 30% ở Malaysia. Vì vậy, mặt hàng gạo Việt Nam sẽ có nhiều ưu thế phát triển khi khu vực AEC hình thành bởi sự tự do hóa dịch chuyển hàng hóa, dịch vụ trong khu vực ASEAN sẽ khuyến khích các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và đầu tư lớn hơn.

Cải thiện môi trường kinh doanh cho các DN xuất khẩu gạo: Việc kết nối và xây dựng một ASEAN thống nhất, bớt chia cắt hơn sẽ khiến các nhà đầu tư lớn nhìn ASEAN như một sân chơi chung, một công xưởng chung. AEC cũng sẽ giúp Việt Nam cải thiện tốt hơn môi trường kinh doanh từ thủ tục hải quan, hành chính cho tới việc tạo ra ưu đãi đầu tư, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nói chung và xuất khẩu gạo nói riêng.

AEC và thách thức cho xuất khẩu gạo

Chất lượng gạo xuất khẩu còn thấp, cơ cấu sản phẩm chưa đa dạng: Đã từ lâu, gạo Việt Nam bị đánh giá thấp về chất lượng so với đối thủ cạnh tranh. Không chỉ ở thị trường xuất khẩu mà ngay thị trường nội địa, các loại gạo Việt cũng khó cạnh tranh với nhiều loại sản phẩm gạo khác; nhất là khi mở cửa thị trường, hàng hóa có thể di chuyển dễ dàng hơn giữa các nước trong cộng đồng ASEAN.

Sức ép cạnh tranh lớn đối với thị trường gạo trong nước: Một trong những thách thức lớn nhất của Việt Nam khi tham gia vào AEC là sự chênh lệch về trình độ phát triển so với các nước ASEAN – 6 ở quy mô vốn của nền kinh tế, trình độ khoa học kỹ thuật, tay nghề lao động… Sau khi AEC có hiệu lực, các DN Việt Nam sẽ phải đối mặt với sức ép cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu, sản phẩm, dịch vụ, đầu tư của các nước ASEAN, nguy cơ mất đi thị trường nội địa là rất lớn.

Chưa có thương hiệu gạo quốc gia: Trong khi Thái Lan có thương hiệu gạo toàn cầu là Thai Hom Mali, thậm chí Campuchia cũng có gạo thơm Romduol, Myanmar có gạo thơm Paw San thì Việt Nam hiện vẫn chủ yếu xuất khẩu gạo chất lượng thấp, giá rẻ và không có thương hiệu.

Giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu gạo Hợp tác với các quốc gia xuất khẩu gạo lớn để chiếm lĩnh thị trường

Việc hợp tác với các quốc gia xuất khẩu gạo lớn trong khối là cần thiết vì đa số các nước trong liên minh xuất khẩu gạo là các nước đang phát triển; cần liên kết lại tạo thành một liên minh vững mạnh trên trường quốc tế. Khi tham gia liên minh này, Việt Nam sẽ cải tạo được hệ thống sản xuất gạo, tiếp thu công nghệ chế biến gạo và học hỏi kinh nghiệm của các thành viên khác trong việc xúc tiến quảng bá gạo.

Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu gạo

Đối với mặt hàng lương thực thực phẩm như gạo, người tiêu dùng có xu hướng chọn sản phẩm có chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và dinh dưỡng cao. Khi đó những thương hiệu gạo nổi tiếng sẽ được tin dùng và tiêu thụ nhiều hơn. Do vậy để phát triển tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu, Việt Nam cần phải xúc tiến quảng bá, xây dựng thương hiệu và nâng cao hơn nữa chất lượng của mặt hàng gạo.

Tổ chức và tái cấu trúc sản xuất nhằm hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu

Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên nên nhiều năm qua, ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu như đảm bảo an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội, tạo thu nhập và việc làm cho nông dân, tăng thu ngoại tệ. Song, ngành lúa gạo còn nhiều hạn chế về chất lượng, sức cạnh tranh thấp, tổ chức sản xuất và xuất khẩu còn nhiều khó khăn, cơ sở vật chất yếu kém, giá trị xuất khẩu không lớn, hiệu quả chưa cao và chưa tương xứng với vị thế xuất khẩu. Vì vậy, việc tái cơ cấu ngành lúa gạo là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững.

Giải Pháp Nào Cho Xuất Khẩu Gạo?

Dự kiến, sáng 20/4, Chính phủ sẽ tổ chức cuộc họp về tháo gỡ khó khăn cho xuất khẩu gạo. Sau cuộc họp ngày 20/4, trên cơ sở ý kiến các bộ, cơ quan, doanh nghiệp, hiệp hội, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng sẽ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định phương án xuất khẩu gạo.

Doanh nghiệp không thể chờ lâu

Xuất khẩu gạo đã bị gián đoạn gần một tháng qua, nhiều doanh nghiệp cho biết đang chịu thiệt hại hàng chục tỷ đồng do phải chịu các chi phí kho bãi, đối tác huỷ và đòi bồi thường hợp đồng…

Ông Phạm Thái Bình, Tổng Giám đốc CTCP Nông nghiệp công nghệ cao Trung An (Cần Thơ) cho biết vừa mới nhận được thư của một đối tác thông báo hủy hợp đồng vì không giao hàng đúng hạn. Khách đòi bồi thường thêm một khoản tiền lên đến hàng tỷ đồng.

“Với khoảng 300.000 tấn gạo nằm ở cảng chờ xuất khẩu hiện nay. Ngành lúa gạo Việt Nam bị thiệt hại khoảng 50 tỷ đồng/ngày cho các chi phí, chưa kể chất lượng gạo bị xuống cấp”, ông Bình nói.

Nếu tình hình thông quan còn khó khăn và kéo dài, chắc chắn sẽ có thêm khách hàng đòi huỷ hợp đồng, đòi bồi thường và chuyển sang mua gạo từ những đối thủ của Việt Nam. Trước những khó khăn trên, CTCP Nông nghiệp công nghệ cao Trung An đã có đơn thư kêu cứu lần thứ 4 tới Thủ tướng Chính phủ và các bộ ngành.

Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu gạo nếp, gạo thơm cũng rơi vào tình cảnh sắp phá sản, cầu cứu tới Thủ tướng. Mới đây, Công ty TNHH Dương Vũ (tỉnh Long An) cho biết việc dừng xuất khẩu từ ngày 24/3/2020 đến nay đã gây thiệt hại rất lớn khiến công ty có nguy cơ đi đến phá sản vì thời gian hàng hóa lưu trong container hơn 23 ngày, nay tiếp tục không thể khai báo hải quan. Nếu kéo dài đến tháng 5, chất lượng hàng hóa xuống cấp, đồng thời khách hàng yêu cầu bồi thường và hủy hợp đồng do không giao hàng kịp trong tháng 4.

Vấn đề của doanh nghiệp là rất cấp bách nhưng cách giải quyết của các bộ ngành đang cho thấy sự rắc rối trong quản lý.

Về xuất khẩu gạo tẻ, vấn đề trách nhiệm thông quan đang được đẩy qua lại giữa các bộ, ngành. Bộ Tài chính cho rằng doanh nghiệp đang bị động trong phương án điều hành của Bộ Công Thương và Bộ Công Thương chưa thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng về kiểm tra nguồn cung lúa gạo.

Trong khi đó, Bộ Công Thương yêu cầu Bộ Tài chính công bố công khai danh sách các thương nhân đã đăng ký tờ khai hải quan xuất khẩu theo hạn ngạch 400.000 tấn trong tháng 4/2020. Danh sách cụ thể gồm có tên, số lượng, thị trường xuất khẩu, cảng/cửa khẩu xuất khẩu… đến thời điểm hiện nay.

Bộ Công Thương đề nghị Bộ Tài chính cung cấp số liệu xuất khẩu gạo, gửi về Bộ Công Thương trước 17 giờ hàng ngày, thực hiện từ nay đến hết ngày 25/4.

Đáng chú ý, Tổng cục Hải quan cho rằng quyết định cho phép xuất khẩu gạo của Thủ tướng có hiệu lực kể từ 0 giờ ngày 11/4/2020. Nhưng đến 9 giờ 30 sáng ngày 11/4/2020, đơn vị này mới nhận được bản chụp do Bộ Công Thương gửi qua thư điện tử. Đến ngày 13/4/2020, Tổng cục Hải quan mới nhận được bản chính thức về quyết định nói trên.

Sự quản lý “rối rắm” trong xuất khẩu gạo có thể đánh mất cơ hội của ngành lúa gạo khi trước đó ngành này được đánh giá là “điểm sáng” trong tình trạng nhiều mặt hàng nông nghiệp chủ lực suy giảm xuất khẩu vì Covid-19, đặc biệt xuất khẩu gạo Việt Nam được dự báo là có cơ hội vượt Thái Lan trong năm 2020.

Nếu như các bộ ngành làm tốt công tác tham mưu, phối hợp nhịp nhàng với nhau, có lẽ thay vì làm đơn kêu cứu, các doanh nghiệp xuất khẩu lúa gạo có thể tìm thêm rất nhiều khách hàng, đưa ngành hàng này phát triển ở một mức độ mới.

Trước thực trạng trên, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương khẩn trương nghiên cứu ý kiến của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam về việc tháo gỡ khó khăn cho xuất khẩu gạo và việc cho phép xuất khẩu gạo nếp; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong ngày 20/4/2020, đồng thời báo cáo Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng tại cuộc họp về tháo gỡ khó khăn cho xuất khẩu gạo sẽ diễn ra vào sáng 20/4 tới.

Trước đó, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng yêu cầu các Bộ Công Thương và Bộ Tài chính phải báo cáo về việc triển khai thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc xuất khẩu gạo. Theo đó, Bộ Tài chính phải báo cáo về trách nhiệm quản lý, kiểm soát số lượng gạo được phép xuất khẩu tháng 4/2020, trong đó nêu cụ thể về quy trình, cách làm, danh sách các doanh nghiệp, thời gian mở tờ khai hải quan và số lượng gạo xuất khẩu của từng doanh nghiệp đã đăng ký thành công trên hệ thống; công tác phối hợp với Bộ Công Thương về việc này. Đồng thời, Bộ Tài chính báo cáo việc mua tạm trữ lương thực theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Bộ Công Thương báo cáo về việc triển khai quyết định xuất khẩu gạo của Thủ tướng và công tác phối hợp với Bộ Tài chính để thực hiện chỉ đạo này.

Luận Văn Đề Án Một Số Giải Pháp Đẩy Mạnh Xuất Khẩu Gạo Ở Việt Nam

Sự nghiệp đổi mới kinh tế Việt Nam đã và đang đạt được những thắng lợi rất khả quan, trước hết phải kể đến thắng lợi của mặt trận nông nghiệp. Trong nông nghiệp, thắng lợi lớn nhất là bước ngoặt phát triển về sản xuất và xuất khẩu lúa gạo. Từ một nước nông nghiệp thiếu đói kéo dài, Việt Nam không chỉ tự túc được lương thực ổn định, mà còn vươn lên đẩy mạnh xuất khẩu và trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Đó là một kỳ tích mà cả thế giới biết đến. Thành tựu đó chứng minh đường lối đổi mới nông nghiệp của Đảng nói chung, định hướng chiến lược sản xuất và xuất khẩu gạo nói riêng là đúng đắn. Tuy nhiên, chuyển sang kinh tế thị trường, trong điều kiện tình hình kinh tế, chính trị thế giới và khu vực có nhiều biến đổi, cuộc chạy đua và cạnh tranh kinh tế toàn cầu diễn ra hết sức gay gắt, thì vấn đề sản xuất và xuất khẩu một sản phẩm nào đó, đòi hỏi phải có một chiến lược phát triển khôn ngoan, có sự tính toán kỹ càng, cẩn trọng trong một tổng thể chiến lựơc phát triển chung mới dành được thắng lợi và đạt được hiệu quả tối ưu. Đối với nước ta xuất khẩu gạo có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, ngoại tệ thu được từ xuất khẩu là nguồn vốn cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tăng thu nhập đặc biệt đối với người nông dân. Cùng với Việt Nam, trên thị trường gạo thế giới còn có nhiều nước khác tham gia như:Thái Lan, Mỹ, Trung Quốc, Pakistan đó là những đối thủ cạnh tranh lớn của nước ta. Mười bốn năm qua xuất khẩu gạo cuả Việt Nam đã thu được những thành tựu nhất định nhưng bên cạnh đó còn nhiều bất cập cần giải quyết như vấn đề thị trường, giá cả, chất lượng gạo, vấn đề đầu ra Nếu những vấn đề trên được giải quyết một cách hợp lý thì xuất khẩu gạo Việt Nam sẽ có bước phát triển cao hơn trong thời gian tới. Với đề tài ” Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gạo ở Việt Nam” em xin được đưa ra một vài đánh giá về thực trạng xuất khẩu gạo và cách giải quyết để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu gạo ở nước ta. Nội dung của đề án gồm 3 chương: Chương I: Lý luận về xuất khẩu gạo. Chương II: Thực trạng về sản xuất và xuất khẩu gạo. Chương III: Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gạo ở Việt Nam.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Tìm Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Xuất Khẩu Gạo Bền Vững

Ngày 17/10, tại chúng tôi Bộ Công Thương tổ chức Hội nghị triển khai Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2017 – 2020, định hướng đến năm 2030. Theo đó, Việt Nam sẽ giảm dần xuất khẩu gạo về số lượng nhưng tăng giá trị xuất khẩu theo hướng bền vững.

Ông Trần Xuân Long, Trưởng Phòng Quản lý Xuất khẩu gạo, Cục Xuất nhập khẩu ( Bộ Công Thương) cho biết, theo Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2017 – 2020, định hướng đến năm 2030, Việt Nam sẽ giảm dần xuất khẩu gạo về số lượng nhưng tăng giá trị xuất khẩu theo hướng bền vững. Cụ thể, giai đoạn 2017-2020, lượng gạo xuất khẩu hằng năm khoảng 4,5 – 5 triệu tấn, trị giá đạt bình quân từ 2,2 – 2,3 tỷ USD/năm. Giai đoạn 2021 – 2030, lượng gạo xuất khẩu hằng năm khoảng bốn triệu tấn, trị giá xuất khẩu gạo tiếp tục được duy trì ổn định và tăng đạt khoảng 2,3 – 2,5 tỷ USD/năm.

Đến năm 2020, cơ cấu gạo xuất khẩu cũng thay đổi. Cụ thể, gạo trắng phẩm cấp thấp và trung bình không vượt quá 20% tổng lượng gạo xuất khẩu; gạo trắng phẩm chất cao chiếm khoảng 25%; tỷ trọng gạo thơm, gạo đặc sản, gạo Japonica chiếm khoảng 30%; gạo nếp là 20%… Đến năm 2030, gạo thơm, gạo đặc sản, gạo Japonica chiếm 40%; gạo nếp 25%; gạo dinh dưỡng khác trên 10%…

Tuy nhiên, theo nhiều đại biểu, hiện tăng trưởng sản xuất, xuất khẩu gạo thiên về bề rộng, chưa chú trọng cải thiện chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm; sản xuất canh tác còn nhiều bất cập, chưa gắn với thị trường; thị trường xuất khẩu gạo còn phụ thuộc cao vào một số nước; quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, hiệu quả thấp; đa phần sản phẩm chưa có thương hiệu, chưa đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường.

Đại diện Cục Trồng Trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng, hoạt động phát triển thương mại, nhất là xuất khẩu còn yếu. Cụ thể, các hoạt động xúc tiến thương mại và nghiên cứu thị trường chưa được quan tâm đúng mức. Hệ thống phân phối gạo trong nước còn nhiều bất cập, chủ yếu do hàng xáo nhỏ lẻ nắm giữ, chất lượng dịch vụ thấp. DN xuất khẩu đóng vai trò là đầu tàu trong chuỗi giá trị, phát triển thị trường và xúc tiến thương mại.

Bàn về giải pháp đẩy mạnh XK gạo,, ông Nguyễn Minh Huệ, Tổng Thư ký Hiệp hội Lương thực Việt Nam cho rằng, cần tận dụng lợi thế cạnh tranh để củng cố và phát triển các thị trường gần và truyền thống, có nhu cầu phù hợp với điều kiện sản xuất trong nước. Khắc phục bất cập, tận dụng ưu đãi theo các thỏa thuận thương mại tự do, mở rộng các thị trường mới có nhu cầu chất lượng cao để nâng cao giá trị và hiệu quả. Nâng cao năng lực cạnh tranh của thương nhân để thực hiện các mục tiêu của Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo.

Theo đó, ông Huệ đề xuất một số giải pháp cụ thể như Chính phủ cần có chính sách thiết thực khuyến khích tăng cường liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, xây dựng vùng chuyên canh nguyên liệu chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu thị trường. Thúc đẩy đàm phán và ký kết thỏa thuận về tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm hợp lý với các nước nhập khẩu, làm cơ sở định hướng sản xuất và xuất khẩu gạo phù hợp với yêu cầu. Các thương nhân xuất khẩu cần tăng cường liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo với nông dân, để đảm bảo nguồn cung cấp phù hợp với yêu cầu thị trường, đảm bảo hiệu quả sản xuất, xuất khẩu.

Mặt khác, theo một số đại biểu, cần tăng cường năng lực nghiên cứu phân tích, dự báo và cung cấp minh bạch thông tin thị trường để các tác nhân trong ngành lúa gạo chủ động ra quyết định sản xuất kinh doanh. Khuyến khích và tạo điều kiện để các khách hàng nhập khẩu gạo tham gia đầu tư sản xuất, chế biến gạo, góp phần đảm bảo đầu ra cho các vùng chuyên canh chính.

Tập trung phát triển sản xuất các nhóm sản phẩm theo phân khúc thị trường như tăng tỷ trọng loại gạo trắng, hạt dài, gạo chất lượng cao (5-10% tấm), giảm tỷ trọng loại gạo trên 15% tấm, tăng tỷ trọng các loại gạo thơm, gạo đồ; đa dạng các sản phẩm chế biến.

Nâng cao năng lực DN và hiệp hội bằng việc thu hút đầu tư của các DN trong việc xây dựng vùng nguyên liệu, hình thành liên kết và lâu dài giữa các tổ chức liên kết sản xuất của nông dân, hợp tác xã với các DN nòng cốt và tạo điều kiện cho các DN này tham gia xuất khẩu. Thu hút đầu tư, liên doanh liên kết lâu dài với DN từ các quốc gia khác có tiềm lực về vốn, công nghệ, thiết bị và kinh nghiệm kinh doanh để phát triển và hiện đại hóa ngành lúa gạo…/.

Thu Dịu-LM