Sự Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu

--- Bài mới hơn ---

  • Bảo Vệ Môi Trường, Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Và Hành Động Của Chúng Ta
  • Các Giải Pháp Phòng Ngừa, Giảm Thiểu Tác Động Tiêu Cực Đến Môi Trường Và Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Trong Quá Trình Thực Hiện Quy Hoạch
  • Thực Trạng Biến Đối Khí Hậu Và Giải Pháp Chống Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam
  • Một Số Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam
  • Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam: Những Vấn Đề Lớn Cần Giải Quyết
  • 1. Biến đổi khí hậu được hiểu như thế nào?

    Trong lịch sử của chúng ta, sự biến đổi khí hậu đã từng nhiều lần xảy ra với những thời khì lạnh và nóng kéo dài hàng vạn năm mà chúng ta gọi là thời kỳ băng hà hay thời kỳ gian băng, thời kỳ băng hà cuối cùng đã xảy ra cách đây 10.000 năm và tính đến hiện nay là giai đoạn ấm lên của thời kỳ gian băng.

    Chung quy lại, biến đổi khí hậu Trái Đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ hay hàng triệu hoặc hiểu theo một cách khác là biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và dao động của khí hậu duy trì trong một thời gian dài thường là vài thập kỷ hoặc có thể dài hơn.

    Việc biến đổi khí hậu này là do hoạt động của con người làm thay đổi một số hệ thống của nó, biến đổi khí hậu gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến các thành phần khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên, ảnh hưởng tới các hoạt động của các hệ thống kinh tế-xã hội và ảnh hưởng tới sức khỏe, phúc lợi của con người.

    2. Những hiểu hiện của biến đổi khí hậu

    – Thứ nhất là sự nóng lên của khí quyển và trái đất là nhiều khu vực bị hạn hán quanh năm, các sinh thực vật chết hết ví dụ như dòng sông Danube, dòng sông dài thứ hai châu Âu được bắt đầu từ Đức chảy theo hướng Đông đến Biển Đen ở Romania, đây là một trong những cửa ngõ quan trọng trong việc giao thương, công nghiệp tàu biển. Nhưng do sự biến đổi khí hậu, hạn hán kéo dài xảy ra vào năm 2011 – 2012 đã khiến mực nước sông Danube xuống thấp kỷ lục đã làm cho tàu thuyền ở đây bị mắc cạn và khu vực đường thủy vốn đông đúc trở nên tê liệt.

    – Thứ hai là sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất ví dụ như những rạn san hô tại Dibba vào năm 2004, dải san hô nằm trên bờ biển phía Đông của các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) vẫn đang rực rỡ sắc màu nhưng đến nay thì các rạn san hô đầy màu sắc đã bị phá hủy bởi các loại tảo có hại có tên là thủy triều đỏ, loại tảo này có khả năng liên kết với nhau làm tăng khí nhà kính, tăng nhiệt độ đại dương và giết nhiều sinh vật biển bằng cách giảm lượng oxy hòa tan trong nước.

    – Thứ ba là băng tan làm cho mực nước biển dâng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển như các đảo San Blas ở Panama là quê hương của ngươi Guna, họ sống và cư trú trên các nhà bè trôi nổi trên các mặt biển, tuy nhiên do biến đổi khí hậu mà cứ đến mùa mưa bão thì người dân phải sống chung với cảnh ngập lụt kéo dài.

    – Thứ tư là sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người, điển hình là hình ảnh Vườn quốc gia Rocky Mountain trước đây là những cây thông khỏe mạnh, vươn cao, trải dài hàng chục triệu m2 ở vùng Tây Bắc Hoa Kỳ và phía tây Canada nhưng cũng do sự biến đổi khí hậu mà ngày nay khi người ta nhìn vào Vườn quốc gia này thì chỉ thấy được sự xác sơ hơn của các cây thông do bị sâu bọ xâm hại, được biết rằng là do nhiệt độ ấm lên nên khiến các côn trùng phát triển mạnh mẽ và tấn công tàn phá rừng một cách nặng nề.

    3. Những nguyên nhân gây ra việc biến đổi khí hậu?

    Nhiều phản ứng khác nhau của môi trường về biến đổi khí hậu có thể tăng cường hoặc giảm bớt các biến đổi ban đầu, một số thành phần của hệ thống khí hậu như các đại dương và các chỏm băng cao chót vót, phản ứng chậm với biến đổi bức xạ mặt trời vì khối lượng lớn do đó, hệ thống khí hậu có thể mất hàng thế kỷ hoặc lâu hơn để phản ứng hoàn toàn với những biến đổi từ bên ngoài.

    Tuy nhiên, nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính của con người.

    – Biến đổi khí hậu trong thời đại địa chất

    Khí hậu trái đất đã trải qua nhiều lần biến đổi, khoảng 50 triệu năm về trước một thiên thạch khổng lồ va vào Trái Đất làm bề mặt Trái Đất bị bao phủ một lượng khói bụi dày đặc và Trái Đất bị chìm trong bóng tối một thời gian dài do không có ánh sáng mặt trời khiến cho Trái Đất bị lạnh đi và loài khủng long bị tiêu diệt.

    Cũng trong tình trạng do biến đổi khí hậu, vào khoảng 2 triệu năm trước công nguyên, Trái Đất cũng trải qua nhiều lần thời kỳ băng hà lạnh lẽo và thời kỳ gian băng ấm áp với chu kỳ mỗi lần khoảng 100 nghìn năm. Thời kỳ băng hà cuối cùng kết thúc cách đây khoảng 10-15 nghìn năm, sau cuộc biến đổi khí hậu này Trái Đất ấm dần lên và các sinh vật mới dần dần phát triển.

    Đầu thế kỷ XIV, châu Âu lại phải trải qua một kỷ băng hà nhỏ kéo dài khoảng vài trăm năm, những khối băng khổng lồ hình thành và những mùa đông khắc nghiệt làm cho mùa màng thất bát, dẫn đến nạn đói, nhiều gia đình phải di cư đi nơi khác.

    Những biến đổi khí hậu xảy ra này trong thời kỳ địa chất đều do các nguyên nhân tự nhiên, đặc biệt là sự chuyển động của trái đất, các vụ phun trào của núi lửa và hoạt động của mặt trời.

    – Nguyên nhân của biến đổi khí hậu trong thời kỳ hiện đại

    Nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu hiện nay, biểu hiện rõ nhất của nó là sự nóng lên toàn cầu đã được khẳng định là do hoạt động của con người, từ những năm thời kỳ tiền công nghiệp con người đã sử dụng nhiều năng lượng chủ yếu là từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch, sau đó thì thải vào khí quyển ngày càng tăng làm cho các chất khí này gây hiệu ứng nhà kính, làm tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất.

    Đánh giá khoa học của IPCC cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng,… đã đóng góp khoảng 46% vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 8%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9% và các ngành sản xuất hóa chất khoảng 24%, còn lại 3% là các hoạt động khác như chôn rác thải,….

    Tính đến nay, tổng lượng phát thải khí CO2 của các nước phát triển chiếm tới 70% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu, trong đó ở Hoa Kỳ và Anh trung bình mỗi người dân phát thải 1100 tấn gấp khoảng 17 lần ở Trung Quốc và 48 lần ở Ấn Độ.

    Tuy nhiên trong khi các nước giàu chỉ chiếm 15% dân số thế giới nhưng tổng lượng phát thải của họ chiếm tới 45% tổng lượng phát thải toàn cầu, các nước châu Phi và cận Sahara với 11% dân số thế giới chỉ phát thải 2% và các nước kém phát triển với 1/3 dân số thế giới chỉ phát thải 7% tổng lượng phát thải toàn cầu, đây là điều mà các nước đang phát triển nêu ra về quyền bình đẳng và nhân quyền tại các cuộc thương lượng về Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto.

    Nguyên tắc đầu tiên được ghi trong Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu là “Các Bên phải bảo vệ hệ thống khí hậu vì lợi ích của các thế hệ hiện nay và mai sau của nhân loại, trên cơ sở công bằng, phù hợp với những trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và bên các nước phát triển phải đi đầu trong việc đấu tranh chống Biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng có hại của chúng”

    Điều 10 trong Nghị định thư Kyoto còn ghi “Tất cả các bên, có xem xét những trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và các tình huống, mục tiêu và những ưu tiên phát triển đặc biệt của quốc gia và khu vực, không đưa thêm bất kỳ cam kết mới nào cho các bên không thuộc”.

    4. Hậu quả của việc biến đổi khí hậu gây ra những năm gần đây

    Hậu quả của biến đổi khí hậu trên toàn cầu là vấn đề nhức nhối trong vài thập kỷ gần đây, bởi hậu quả nặng nề, sự tàn phá khủng khiếp của nó. Các hậu quả của quá khứ, hiện tại và cả lẫn trong tương lai là vấn đề nan giải khi hậu quả của biến đổi khí hậu hiện ra một cách rõ rệt hằng ngày và gây ảnh hưởng đến môi trường sống của mọi sinh vật và ảnh hưởng đến con người.

    Hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu đối với sự sống từ động thực vật và con người rất là nặng nề, cùng chúng tôi điểm qua các hậu quả của biến đổi khí hậu để lại.

    4.1. Thay đổi hệ sinh thái

    Hậu quả của biến đổi khí hậu sẽ tác động đầu tiên đến hệ sinh thái của tự nhiên làm thay đổi tất cả các hệ sinh thái mà nó tác động đến, đầu tiên là biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến nguồn nước, việc biến đổi khí hậu này làm tình trạng xâm nhập mặn ngày càng cao dẫn tới nguồn nước bị ô nhiễm nặng và các hoạt động của con người cần tới lượng nước ngọt và nước sạch ngày càng ít dần đi.

    Thứ hai là việc biến đổi khí hậu làm cho quá trình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và ngành công nghiệp nặng cũng gặp không ít khó khăn, với ngành công nghiệp nặng lượng CO2 trong khí quyển ngày càng tăng gây ô nhiễm không khí vô cùng nặng nề, cùng với đó là những thử thách do nguồn năng lượng và nguyên nhiên liệu trở nên ngày càng khan hiếm do hoạt động khai thác tận diệt của con người trong vài chục năm gần đây, còn với ngành nông, lâm, ngư nghiệp thì việc biến đổi khí hậu đã là chết rất nhiều động thực vật nên nguồn khai thác của các ngành này càng hạn chế và ít đi làm cho việc hoạt động dễ bị đình trệ.

    Một ví dụ điển hình cho sự biến đổi hệ sinh thái do hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu đó là tình trạng san hô bị tẩy trắng: Rạn san hô Great Barrier tuyệt đẹp được trải dài 2.600km ngoài khơi bờ biển của Australia trước đây được coi là một trong những vùng sinh quyển đa dạng nhất thế giới, nó được tạo thành từ khoảng 3.000 rạn san hô và hàng tỷ sinh vật sống nhỏ và có tới 900 hòn đảo.

    Tuy nhiên, hình ảnh thiên nhiên được coi là di sản thế giới này đang bị suy thoái nghiêm trọng bởi sự nóng lên của Trái đất, môi trường axit hóa đại dương và nhiệt độ tăng cao do biến đổi khí hậu là mối đe dọa lớn nhất với các rạn san hô nơi đây.

    Tính tới nay thì một nửa số san hô ở Great Barrier đã biến mất trong 3 thập kỷ qua, sự axit hóa đại dương cũng khiến cho san hô bị tẩy trắng hàng loạt, đặc biệt khi san hô chuyển màu trắng chúng trở nên nhạy cảm và dễ chết hơn, điều này khiến cho môi trường sinh thái dưới đại dương bị ảnh hưởng trầm trọng.

    4.2. Mất đa dạng sinh học

    Khi biến đổi khí hậu tác động nên hệ sinh thái tất nhiên cũng kéo theo sự mất đa dạng sinh học khi môi trường sống của rất nhiều loài bị thay đổi, nhiệt độ tăng cao nên làm cho một số loài động thực vật biến mất thậm chí rất nhiều loài đã và đang có nguy cơ rơi vào thảm họa tuyệt chủng do thiếu môi trường sống.

    Theo tính toán vài năm trước, nếu như nhiệt độ Trái đất tăng thêm từ 1,1 độ đến 6,4 độ nữa thì sẽ có khoảng 50% loài sinh vật đứng trước thách thức bị tuyệt chủng giống nòi, ngay trong thời điểm hiện nay thì đã có một số loài động vật phải di cư do hậu quả của việc biến đổi khí hậu toàn cầu điển hình như loài cáo đỏ, trước đây chúng vẫn thường sống ở Bắc Mỹ thuận lợi nhưng giờ đây đã chuyển dần lên vùng Bắc Cực do nhiệt độ và môi trường ở đó phù hợp, mát mẻ hơn.

    Thậm chí tới cuộc sống con người cũng bị ảnh hưởng,nhất là những người dân ven biển do tình trạng nước biển dâng cũng bị đe dọa về nơi cư trú cũng như diện tích canh tác, mất đi nguồn lương thực và thu nhập cho gia đình

    4.3. Núi băng, sông băng tan chảy và nước biển dâng

    Hậu quả của biến đổi khí hậu làm nhiệt độ tăng cao dẫn tới tình trạng các tảng băng sẽ tan và sự giãn nở nhiệt khiến óc mực nước biển dâng cao, de dạo các vùng đất thấp và đông dân cư ven biển trong đó có Việt Nam. Hiện tượng băng tan này có thể kể tới khu vực Nam Cực, năm 2022 một tảng băng với diện tích khoảng 260 Km2 đã tạc rời khỏi nên bán đảo và trôi nổi trên biển và tan dần sau đó điều này là tăng mực nước biển lên. Nếu việc này mà không được giải quyết triệt để thì thiệt hại sẽ không giới hạn ở một lục địa mà còn xuất hiện các khu vực ven biển trên thế giới.

    Khi phần lớn lượng băng bị tan chảy sẽ khiến nước biển dâng cao kỷ lục sẽ nhấn chìm đất liền, xâm nhập mặn, sạt lở ven bờ mà Việt Nam là khu vực có diện tích lớn nằm ven biển nên cũng bị ảnh hưởng lớn, điều này khiến diện tích đất liền ngày càng thu hẹp dẫn đến xóa sổ nhiều thành phố, mất đất canh tác, đất sống cho con người và các loài sinh vật ở Việt Nam

    4.4. Chiến tranh và xung đột

    Hậu quả của biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến nguồn nước cũng như gây nên sự khan hiếm về lương thực, đất đai canh tác, nơi trú ngụ, đây chính là những nguyên nhân gây nên tình trạng xung đột và chiến tranh giữa các vùng lãnh thổ, điển hình là cuộc xung đột do tác hại của biến đổi khí hậu ở Darfur, cuộc xung đột này đã kéo dài tới 20 năm do nhiệt độ tăng cao mà lượng nước mưa lại quá thấp.

    4.5. Tác hại đối với nền kinh tế

    Nền kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề cũng là một trong những hậu quả biến đổi khí hậu, do sự xuất hiện của những cơn bão lớn, thời tiết thì thất thường nên mùa màng thất bát, đó là còn chưa kể đến việc phải phát sinh chi phí để khắc phục những hậu quả của bão lũ, sạt lở đất, cung cấp nguồn lương thực, nguồn nước sạch cho cư dân chịu những hậu quả của biến đổi khí hậu.

    4.6. Dịch bệnh

    Sau một mùa bão lũ sẽ kéo thêm nhiều loại dịch bệnh nơi khác kéo tới làm cho cả người và động thực vật dễ mắc phải, những dịch bệnh này một khi lan rộng khắp nơi thì các nước phải bỏ ra một chi phí lớn để phòng chống bệnh này ngay lập tức.

    Bùng phát dịch bệnh cũng là một trong những hậu quả biến đổi khí hậu toàn cầu mà con người phải đối mặt, hiện nay,tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra cảnh báo rằng hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu mà những loại bệnh trước đây chỉ xuất hiện ở vùng nhiệt đới thì giờ đây đã xuất hiện cả ở những khu vực ôn đới, con số thống kê cho thấy hàng năm có tới 150.000 người chết do mắc các bệnh về tim, đường hô hấp.

    4.7. Hạn hán và những đợt nắng nóng

    Một tác hại của biến đổi khí hậu nữa mà hiện nay những vùng như Ấn Độ, Pakistan và Châu Phi đang phải đối mặt hàng ngày đó là tình trạng hạn hán, thiếu nước sinh hoạt cũng như lương thực, theo như nghiên cứu thì lượng mưa ở những khu vực này ngày càng thấp và sẽ còn kéo dài trong nhiều thập kỷ tiếp theo.

    Những đợt nắng nóng kéo dài dẫn tới những nguy cơ hỏa hoạn, cháy rừng cũng là hậu quả biến đổi khí hậu toàn cầu mà chúng ta đang ngày càng thấy rõ, theo ước tính những đợt nắng nóng trên thế giới đang diễn ra với tần suất gấp 4 lần so với trước đây thậm chí, nếu biến đổi khí hậu tiếp tục diễn ra như hiện nay thì trong 40 năm mới, tần suất này có thể sẽ tăng lên gấp 100 lần so với hiện nay.

    4.8. Bão lụt

    Trong khi những khu vực trên chịu cảnh hạn hán thì nhiều khu vực khác trên thế giới lại liên tục hứng chịu tác động của những đợt bão lũ, nhiệt độ nước biển tăng càng làm cho sự xuất hiện của những cơn bão ngày càng dày đặc, không chỉ vậy mức độ nguy hiểm của chúng cũng ngày càng tăng cao.

    ***Hậu quả của biến đổi khí hậu ở Việt Nam

    Hậu quả của sự biến đổi khí hậu làm ảnh hưởng trực tiếp tới các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nước ta đã và đang bị tác động trực tiếp bởi sự biến đổi của khí hậu, theo báo cáo gần đây Việt Nam đang là nước chịu ảnh hưởng bởi khí hậu đang trở nên khắc nghiệt với nhiều thiên tai xảy ra.

    – Tác động tới tài nguyên nước

    Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến Việt Nam làm lượng mưa thay đổi nên dòng chảy của những con sông cũng không còn tự nhiên như trước, thất thường trong lượng nước, dòng chảy ngay cả lượng nước ngầm cũng thay đổi như ít dần, ô nhiễm.

    – Tác động tới tài nguyên rừng

    Hệ sinh thái cũng như diện tích rừng của nước ta đang ngày càng bị suy giảm do biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến Việt Nam, đặc biệt là diện tích rừng ngập mặn ven biển giảm tới 80%, bên cạnh đó, các khu rừng của nước ta đã và đang bị đe dọa lớn bị cháy rừng do nhiệt độ tăng cao, những đợt nắng nóng kéo dài. Điển hình là tại Nghệ An, Hà Tĩnh trong đợt tháng 6/2019 vừa đây có tới tận 4 vụ cháy rừng do đợt nắng nóng tăng tới 41-43 độ, việc này đã được các nhà chức trách can thiệp rất mạnh trong việc bảo vệ và phát triển rừng cho thấy lá phổi xanh của Trái Đất đang bị tổn thất nghiêm trọng.

    – Tác động tới sâu tới nền nông nghiệp

    Biến đổi khí hậu ở Việt Nam cũng không tránh khỏi những tác động xấu tới lĩnh vực nông nghiệp, biến đổi khí hậu toàn cầu đã thay đổi hoàn toàn thời tiết, mưa bão, hạn hán thất thường làm cho mùa màng thất bát, gia tăng dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi.

    – Tác động tới tài nguyên đất

    Trong những hậu quả của biến đổi khí hậu ở Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc tới vấn đề tài nguyên đất, sự biến đổi khí hậu làm cho diện tích đất nông nghiệp bị hạn hẹp, tốc độ đô thị hóa kết hợp với tình trạng xói mòn, rửa trôi, xâm nhập mặn đã làm cho tình trạng này ngày càng trở nên cấp thiết hơn.

    – Tác động tới sức khỏe

    Việt Nam hiện nay cũng giống nhiều quốc gia khác thậm chí còn tồi tệ hơn khi phải đối đầu với những dịch bệnh trên người và động thực vật do thời tiết khí hậu và các nguyên nhân xung quanh làm phát sinh nhiều loại vi khuẩn và làm cho hệ miễn dịch của cơ thể từ người tới động vật cũng bị suy giảm đáng kể, có thể kể tới một số loại dịch bệnh đã làm cho ngành y tế nước ta phải hoang mang như dịch tả, cúm gia cầm, bệnh tai xanh, bệnh sốt xuất huyết.

    Thời tiết trong một ngày có 3 mùa làm cho sức khỏe của người già và trẻ nhỏ dễ bị mắc bệnh nhất.

    – Ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng

    Do tác động của biến đổi khí hậu dẫn theo nhiều điều kiện thời tiết bất lợi như nắng nóng, bão lũ lớn, sạt lở đã hủy hoại rất nhiều cơ sở hạ tầng cũng như các cơ sở vật chất, trang thiết bị và làm đình trệ các hoạt động xây dựng các công trình

    – Tác động tới môi trường

    Sự kiện nổi nên nhiều trong những mùa nắng nóng là cháy rừng, nhiều đợt nắng khô kỉ lục đã làm cho các khu rừng dễ cháy hơn bao giờ hết nhất là ý thức kém trong việc sử dụng lửa tại các khu rừng của người dân, gây những thiệt hại rất lớn.

    Do tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam mà hiện nay chúng ta phải đối mặt với những vấn đề như việc mâu thuẫn giữa nhu cầu sử dụng nguồn nước sạch với việc đáp ứng nhu cầu nước sạch, khi sử dụng chung nguồn nước cho nhiều mục đích khác nhau có thể dẫn tới sự xung đột, mâu thuẫn giữa các địa phương, đơn vị doanh nghiệp.

    Một số khu vực bị ảnh hưởng do xâm nhập mặn, do xói mòn đất do vậy mà cư dân không có nơi cư trú, nếu không giải quyết được vấn đề này thì an sinh xã hội có nguy cơ bất ổn.

    5. Các biện pháp khắc phục tình trạng biến đổi khí hậu?

    – Để giảm thiểu được những sự biến đổi khí hậu thì con người cần hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch

    – Cần phải sử dụng các thiết bị công nghệ hiện đại, sử dụng các ứng dụng các công nghệ mới trong việc bảo vệ Trái đất một cách tự nhiên không nên tạo ra nhiều khí quyển làm nóng trái đất

    – Hạn chế khai thác rừng để làm nương rẫy và hạn chế sử dụng sách vở làm từ gỗ

    – Tiết kiệm điện, sử dụng biết cách

    – Hạn chế khai phá những nguồn năng lượng mới

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu Ở Đbscl
  • Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Ở Đbscl
  • Tình Hình Biến Đổi Khí Hậu Trên Thế Giới Và Những Tác Hại
  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu: Mối Quan Tâm Chung Của Toàn Thế Giới
  • Trẻ Em Và Biến Đổi Khí Hậu
  • Cần Giải Pháp Khẩn Cấp Toàn Cầu Về Biến Đổi Khí Hậu

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Về Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Biến Đổi Khí Hậu Không Phải Là ‘chuyện Nhà Hàng Xóm’
  • Hội Thảo Công Nghệ Về Giải Pháp Ai Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu
  • Nghị Luận Xã Hội Về Hiện Tượng Biến Đổi Khí Hậu
  • Nghị Luận Về Vấn Đề Biến Đổi Khí Hậu
  • Ngày 16/1, Hội nghị cấp cao các nhà đầu tư toàn cầu về biến đổi khí hậu và các giải pháp năng lượng, diễn ra tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York.

    Hội nghị khẳng định thách thức về biến đổi khí hậu cần có những giải pháp khẩn cấp mang tính toàn cầu bởi hiện tượng này đã trở thành nhân tố lớn nhất trong các tính toán đầu tư trong tương lai gần.

    Thế giới cần một cuộc chạy đua nước rút chứ không chỉ chạy đua marathon về chống biến đổi khí hậu.

    Hơn 450 nhà đầu tư toàn cầu hiện đang kiểm soát nguồn vốn hàng chục nghìn tỷ USD nhấn mạnh chưa bao giờ thế giới cần những hành động khẩn cấp để đối phó với biến đổi khí hậu cũng như những hiểm họa của nó như hiện nay.

    Mặc dù tổng đầu tư vào năng lượng sạch đã tăng gấp hơn 5 lần kể từ năm 2005 và lên tới 260 tỷ USD năm 2011, nhưng khuôn khổ chính sách trên toàn cầu cần phải thực sự thay đổi về phương thức điều hành nền kinh tế để nâng cao sự chú ý của các nhà hoạch định chính sách và các nhà đầu tư về tính khẩn cấp của giải pháp chống biến đổi khí hậu.

    Các nhà đầu tư cần thay đổi phương thức đầu tư và kinh doanh nhằm thúc đẩy các giải pháp năng lượng mới. Công nghệ năng lượng Mặt Trời hiện đang dẫn đầu về tăng vốn đầu tư và đã đạt gần 138 tỷ USD, tăng 36% trong năm 2011.

    Bên cạnh đó, Liên hợp quốc cũng cảnh báo nguy cơ “lựa chọn giả” giữa đầu tư kinh tế mạnh và đầu tư môi trường mạnh.

    Đầu tư tăng cường sự bền vững không còn là nhân tố ngoại vi của bức tranh hoạt động của các công ty. Công ty nào phớt lờ nguy cơ cao về biến đổi khí hậu đồng nghĩa với bỏ lỡ các tín hiệu thị trường rất hấp dẫn, đồng thời sẽ không tuyển được những tài năng kinh doanh trẻ.

    Liên hợp quốc kêu gọi các nhà đầu tư toàn cầu thúc đẩy kế hoạch hành động mới phát triển các công nghệ ít thải khí gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời giám sát chặt chẽ hơn nữa các nguy cơ gây biến đổi khí hậu.

    Các chuyên gia Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu nhấn mạnh nhu cầu phải có những chuyển đổi quan trọng thông qua các nỗ lực cụ thể để chống tình trạng biến đổi khí hậu vào thời điểm mang tính bước ngoặt là năm 2022.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cam Kết Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Giáo Dục Atgt Cho Học Sinh: Các Trường Thực Hiện Thế Nào?
  • Bài Làm Văn Mẫu Nghị Luận Về An Toàn Giao Thông Hay Nhất
  • Nghị Luận Tìm Giải Pháp Đảm Bảo An Toàn Giao Thông
  • Nghị Luận Xã Hội Về Vấn Đề An Toàn Giao Thông Hiện Nay
  • Tổng Quan Về Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Không Phải Là ‘chuyện Nhà Hàng Xóm’
  • Hội Thảo Công Nghệ Về Giải Pháp Ai Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu
  • Nghị Luận Xã Hội Về Hiện Tượng Biến Đổi Khí Hậu
  • Nghị Luận Về Vấn Đề Biến Đổi Khí Hậu
  • Giải Pháp Wifi Diện Rộng Tại Hcm
  • – Thời tiết là trạng thái khí quyển ở một thời điểm tại một nơi nhất định được xác định bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa,…

    – Khí hậu làtổng hợp của thời tiết được đặc trưng bởi các trị số thống kê (trung bình, xác suất các cực trị v.v..) của các yếu tố khí tượng biến động trong một khu vực địa lý. Thời kỳ trung bình thường là vài thập kỷ. Định nghĩa chính thức của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) “Tổng hợp các điều kiện thời tiết ở một khu vực nhất định đặc trưng bởi thống kê dài hạn các biến số của trạng thái khí quyển ở khu vực đó”.

    Aerosols là tập hợp các phân tử rắn và lỏng trên không với kích thước từ 0,01 đến 10 nanomet tồn tại trong khí quyển ít nhất hàng giờ. Aerosols có thể là tự nhiên hoặc nhân tạo, ảnh hưởng đến khí hậu bằng nhiều cách khác nhau: trực tiếp thông qua tán xạ hoặc bức xạ hấp thụ hoặc gián tiếp qua vai trò hạt nhân ngưng kết mây hoặc điều tiết đặc tính quang học hoặc thời gian tồn tại của mây.

    Biến đổi khí hậu(BĐKH) là sự biến đổi trạng thái của khí hậuso với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất.

    Vào những khoảng thời gian không đều đặn, nhưng nhìn chung vào khoảng bốn năm một lần, nhiệt độ bề mặt nước biển phía đông và trung tâm xích đạo Thái Bình Dương lại nóng lên trên diện rộng. Sự nóng lên đó thường kéo dài khoảng một năm, được gọi là hiện tượng – El Nino, La Nina, ENSO: El Nino (tên này có nghĩa là ” Đứa con của Chúa”, do hiện tượng này thường xảy ra vào mùa Giáng sinh ngoài khơi Nam Mỹ, kéo dài và mạnh lên khi hiện tượng El Nino trên toàn Thái Bình Dương xảy ra).El Nino có thể được coi như pha nóng lên của dao động khí hậu. Trong pha lạnh đi, gọi là LaNina, nhiệt độ bề mặt biển Thái Bình Dương xích đạo lạnh đi so với bình thường. Nhiệt độ bề mặt biển đi đôi với sự dịch chuyển lan rộng trong khí quyển về gió, mưa v.v… Dao động nam là để chỉ những biến đổi áp suất bề mặt vùng nhiệt đới đi kèm chu trình EL Nino/La Nina. Các hiện tượng này bao gồm sự tương tác mạnh giữa đại dương và khí quyển, và thuật ngữ ENSO (El Nino/Shouthem Osciliation) thường được dùng để chỉ một hiện tượng tổng thể. Ở khu vực Thái Bình Dương, chu trình ENSO sinh ra những biến đổi lớn, rõ ràng trong các dòng hải lưu vùng nhiệt đới, nhiệt độ, gió tín phong, các khu vực mưa v.v.. Thông qua các mối liên hệ xa trong khí quyển, ENSO cũng ảnh hưởng đến khí hậu theo mùa ở nhiều khu vực khác trên toàn cầu.

    – Khả năng dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH, kể cả biến đổi tự nhiên và cực trị. Tổn thương là hàm của tính chất, mức độ và tốc độ của biến đổi và biến động khí hậu mà một hệ thống phát lộ ra cùng với độ mẫn cảm và năng lực thích ứng của nó.

    – Kịch bản biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa kinh tế-xã hội, phát thải khí nhà kính, BĐKH và nước biển dâng. Lưu ý rằng kịch bản BĐKH khác với dự báo thời tiết và dự báo khí hậu là nó chỉ đưa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển kinh tế-xã hội và hệ thống khí hậu.

    Kịch bản phát thải là một cách trình diễn hợp lý sự phát triển tương lai về lượng phát thải của các thực thể có hoạt động bức xạ tiềm năng, tức các khí nhà kính (KNK), aerosols, dựa trên một loạt giả định nội tại nhất quán và chặt chẽ về động lực (chẳng hạn phát triển dân số, kinh tế xã hội, thay đổi kỹ thuật) và quan hệ giữa chúng.

    Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão,…Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác.

    Ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ các tác nhân gây ra BĐKH.

    Thích ứng vời biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoăc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do BĐKH và tận dụng các cơ hội do nó mang lại.

    – Giảm nhẹ biến đổi khí hậug là các hoạt dộng nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí nhà kính.

    là những hoạt động cấp bách mà nếu trì hoãn thực hiện sẽ làm gia tăng tính dễ bị tổn thương hoặc sẽ tiêu tốn nhiều chi phí hơn về sau này– Hoạt động ưu tiên .

    1.1.2.Nhận thức

    Ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) đã tổ chức 4 lần báo cáo đánh giá tình hình BĐKH toàn cầu:

    – Báo cáo đánh giá lần thứ nhất (1990) là cơ sở để Liên Hợp Quốc quyết định thành lập Ủy ban Hiệp thương liên Chính phủ về một Công ước khí hậu tiến tới Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu, được ký kết vào tháng 6 năm 1992.

    -Báo cáo đánh giá lần thứ ba (2001), sau 10 năm thông qua Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu.

    -Báo cáo đánh giá lần thứ tư (2007), sau 10 năm thông qua Nghị định thư Kyoto và một năm trước khi bước vào thời kỳ cam kết đầu tiên theo Nghị định thư (2008 – 2012), để chuẩn bị cho việc thương lượng về thời kỳ cam kết tiếp theo.

    Mỗi lần đánh giá đều có những tiến bộ mới về nguồn số liệu và phương pháp, làm giảm đáng kể những điều chưa chắc chắn tồn tại trước đây, do đó, nâng cao rõ rệt mức độ tin cậy của những kết luận về biến đổi khí hậu trong quá khứ cũng như tương lai.

    -Sự nóng lên toàn cầu của hệ thống khí hậu hiện nay là chưa từng có và rất rõ ràng từ những quan trắc nhiệt độ và đại dương trung bình toàn cầu, sự tan chảy của băng và tuyết trên phạm vi rộng lớn và sự dâng lên của mực nước biển trung bình toàn cầu:

    -Xu thế tăng nhiệt độ trong chuỗi số liệu 100 năm (1906 – 2005) là 0,74 0C; Xu thế tăng nhiệt độ trong 50 năm gần đây là 0,13 0 C/1 thập kỷ, gấp 2 lần xu thế tăng của 100 năm qua.

    -Nhiệt độ trung bình ở Bắc cực đã tăng với tỷ lệ 1,5 0 C/100 năm, gấp 2 lần tỷ lệ tăng trung bình toàn cầu, nhiệt độ trung bình ở Bắc cực trong 50 năm cuối thế kỷ XX cao hơn bất kỳ nhiệt độ trung bình của 50 năm nào khác trong 500 năm gần đây và có thể là cao nhất, ít nhất là trong 1300 năm qua.

    -Nhiệt độ trung bình ở đỉnh lớp băng vĩnh cửu ở Bắc bán cầu đã tăng 3 0 C kể từ năm 1980.

    -11 trong số 12 năm gần đây (1995 – 2006) nằm trong số 12 năm nóng nhất trong chuỗi quan trắc bằng máy kể từ năm 1850.

    -Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng với tỷ lệ trung bình 1,8 mm/năm trong thời kỳ 1961 – 2003 và tăng nhanh hơn với tỷ lệ 3,1 mm/năm trong thời kỳ 1993 – 2003. Tổng cộng, mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng lên 0,31 m trong 100 năm gần đây.

    Chính sự tan băng ở Greenland, Bắc cực và Nam cực đã làm cho mực nước biển tăng nhanh hơn trong thời kỳ 1993 – 2003. Ngoài ra, nhiệt độ trung bình của đại dương toàn cầu tăng lên (ít nhất là tới độ sâu 3000 m) cũng góp phần vào sự tăng lên của mực nước biển.

    Số liệu vệ tinh cho thấy, diện tích biển băng trung bình năm ở Bắc Cực đã thu hẹp 2,7%/thập kỷ. Riêng mùa hè giảm 7,4%/thập kỷ. Diện tích cực đại của lớp phủ băng theo mùa ở Bắc bán cầu đã giảm 7% kể từ năm 1990, riêng trong mùa xuân giảm tới 15%.

    Mới đây, tại Hội nghị quốc tế về biến đổi khí hậu họp tại Bruxen (Bỉ), các báo cáo khoa học cho biết, ở Bắc cực, khối băng dày 2 dặm (khoảng trên 3 km) đang mỏng dần và đã mỏng đi 66 cm. Ở Nam Cực, băng cũng đang tan với tốc độ chậm hơn và những núi băng ở Tây Nam cực đổ sụp. Những lớp băng vĩnh cửu ở Greenland tan chảy. Ở Alaska (Bắc Mỹ, trong những năm gần đây nhiệt độ đã tăng 1,5 0 C so với trung bình nhiều năm, làm tan băng và lớp băng vĩnh cửu đã giảm 40%, những lớp băng hàng năm dày khoảng 1,2 m đã giảm 4 lần, chỉ còn 0,3 m. Báo cáo cũng cho biết, các núi băng trên cao nguyên Thanh Hải (Trung Quốc) ở độ cao 5000 m mỗi năm giảm trung bình 7% khối lượng và 50 – 60 m độ cao, uy hiếp nguồn nước của các sông lớn ở Trung Quốc. Trong 30 năm qua, trung bình mỗi năm, diện tích lớp băng trên cao nguyên Tây Tạng bị tan chảy khoảng 131 km2, chu vi vùng băng tuyết bên sườn cao nguyên mỗi năm giảm 100 – 150 m, có nơi tới 350 m. Diện tích các đầm lầy trong khu vực này cũng giảm 10%. Tất cả đang làm cạn kiệt hồ nước Thanh Hải, một hồ lớn nhất Trung Quốc, đe dọa hồ sẽ bị biến mất trong vòng 200 năm tới. Nếu nhiệt độ trái đất tiếp tục tăng, khối lượng băng tuyết ở khu vực cao nguyên sẽ giảm 1/3 vào năm 2050 và chỉ còn 1/2 vào năm 2090.

    Biến đổi khí hậu có thể do 2 nguyên nhân: do những quá trình tự nhiên và do ảnh hưởng của con người.

    Phần lớn các nhà khoa học đều khẳng định rằng hoạt động của con người đã và đang làm BĐKH toàn cầu. Nguyên nhân chủ yếu của sự biến đổi đó là sự tăng nồng độ khí nhà kính trong khí quyển dẫn đến tăng hiệu ứng nhà kính. Đặc biệt quan trọng là khí CO 2 được tạo thành do sử dụng năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch (như dầu mỏ, than đá, khí tự nhiên…), phá rừng và chuyển đổi sử dụng đất. Để đánh giá vai trò của khí nhà kính đến BĐKH cần xét 4 đặc trưng sau:

    -Thay đổi nồng độ khí nhà kính;

    -Đặc tính hấp thụ bức xạ của khí nhà kính;

    -Thời gian tồn tại(tuổi thọ) của khí nhà kính;

    -Tác động qua lại giữa các khí nhà kính.

    Khí quyển hiện nay có khoảng 750 tỷ tấn cacbon. Đại dương chứa lượng cacbon gấp khoảng 50 lần, sinh quyển trái đất khoảng 3 lần và lục địa khoảng 5 lần nhiều hơn trong khí quyển. Số liệu về sản xuất năng lượng cho thấy nồng độ CO 2 tăng hàng năm khoảng 4,4% cho tới khi có cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1975. Sau đó, mức tăng giảm dần vào khoảng năm 1980 mặc dù có biến động hàng năm. Theo những đánh giá mới nhất, than và dầu hỏa góp phần thải CO 2 gần tương đương nhau (khoảng 40%), khí đốt khoảng 20%, tuy mức thải CO 2 cho mỗi đơn vị khối lượng của từng loại nhiên liệu có khác nhau.

    Nhu cầu về năng lượng của nhân loại ngày càng nhiều, trong đó năng lượng hóa thạch chiếm phần lớn. Mặc dù năng lượng hạt nhân hoặc một số dạng năng lượng sạch khác có xu hướng tăng lên nhưng vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ so với nhu cầu năng lượng nói chung. Sử dụng nhiều năng lượng hóa thạch là nguyên nhân làm tăng đáng kể nồng độ khí CO 2 trong khí quyển, trong đó các nước phát triển đóng góp phần lớn.Trong việc đánh giá hiệu ứng của các khí nhà kính, có 2 vấn đề rất đáng lưu ý là:

    -Các khí nhà kính tồn tại lâu trong khí quyển, từ vài tháng đến vài trăm năm, được xáo trộn nhanh chóng và làm thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu.

    – Do sự xáo trộn như vậy, phát thải khí nhà kính từ bất kỳ nguồn nào, ở đâu cũng đều ảnh hưởng đến mọi nơi trên thế giới.

    Như vậy, phát thải khí nhà kính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến BĐKH hiện nay, một sự thay đổi môi trường lớn lao nhất mà con người phải chịu đựng. Đây cũng là lý do vì sao BĐKH là một vấn đề mang tính toàn cầu.

    Tăng nồng độ khí nhà kính dẫn đến tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển và kết quả là tăng nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất. Trên phạm vi khu vực, sự phát ra những chất khí và những phần tử gây ô nhiễm khác dẫn đến những tác động lớn, mặc dù một số trong các khí đó có thể có tác động ngược lại. Ví dụ, chất muội mồ hóng (sooty aerosols) có khuynh hướng làm khí hậu khu vực ấm lên, trong khi chất sunfat làm lạnh đi bởi phản xạ ánh sáng mặt trời nhiều hơn. Trong khi ta có cảm giác chịu tác động trực tiếp ở các vùng công nghiệp, các chất sol khí này còn có thể tác động gián tiếp lên nhiệt độ trung bình toàn cầu.

    Từ trước thời kỳ tiền công nghiệp (1750), hàm lượng khí CO 2 trong khí quyển vốn rất ổn định tồn tại trong khoảng 10.000 năm, tương ứng với khoảng 280ppm (phần triệu) vào thời kỳ 1000 – 1750, đã tăng lên 370ppm vào năm 2000, tương ứng với 31 (±4)%. Trong khi đó, lượng mêtan đã tăng từ 700ppb (phần tỷ) vào thời kỳ 1000 – 1750 lên đến 1750ppb vào năm 2000, tương ứng với 151 (±25)%; khí ôxit nitơ tăng từ 270ppb thời kỳ 1000 – 1750 đến 316ppb vào năm 2000, tướng ứng với 17 (±5)%, lượng ôzôn tầng đối lưu tiếp tục tăng với tỷ lệ 35(±15)% so với thời kỳ tiền công nghiệp và thay đổi theo vùng. Các chất khí cacbon thuộc nhóm halogen không có trong khí quyển thời kỳ tiền công nghiệp, đã tăng rõ rệt trong khoảng năm chục năm gần đây. Từ 1995, nồng độ các khí này đã giảm dần nhờ được kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal.

    Mỗi năm con người thải vào khí quyển 22 tỷ tấn CO 2 do đốt năng lượng hóa thạch, trong đó việc đốt, phá rừng và sản xuất nông nghiệp đóng góp khoảng 2 đến 9 tỷ tấn.

    Cũng như khí mêtan, N 2O phát sinh do 2 nguyên nhân: nguồn gốc tự nhiên và hoạt động con người. Việc đốt các nhiên liệu hóa thạch, hoạt động công nghiệp và nông nghiệp, sử dụng các hóa chất, phân bón hóa học đã làm tăng lượng N 2O trong khí quyển. Phần lớn lượng phát thải khí N 2 O hàng năm (3 – 4,5 triệu tấn) bắt nguồn từ nông nghiệp.

    Các chất CFC và các halôcácbon khác được sử dụng trong máy lạnh, điều hòa không khí, đã bổ sung lượng khí nhà kính, tuy phần lớn trong số đó được loại trừ theo thỏa thuận quốc tế, bởi các loại khí đó làm suy giảm lượng ôzôn trên tầng bình lưu. Ôzôn trong tầng đối lưu là khí nhà kính quan trọng được hình thành do hoạt động công nghiệp.

    Tóm lại, tiêu thụ năng lượng do đốt các nhiên liệu hóa thạch đóng góp khoảng một nửa (46%) vào tiềm năng nóng lên toàn cầu. Phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18% và hoạt động nông nghiệp tạo ra khoảng 9% tổng số các khí thải gây ra lượng bức xạ cưỡng bức làm nóng lên toàn cầu. Sản phẩm hóa học (CFC, Halon…): 24% và các nguồn khác như chôn rác dưới đất, nhà máy xi măng…: 3%.

    1.1.3. Các biểu hiện chính của biến đổi khí hậu toàn cầu

    Theo đánh giá lần thứ 4 của Ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC, 2007) đã nhận định rằng sự nóng lên của hệ thống khí hậu trái đất hiện nay là chưa từng có, điều đó đã được minh chứng từ những quan trắc về sự tăng lên của nhiệt độ không khí và đại dương trung bình toàn cầu, sự tan chảy băng và tuyết trên phạm vi rộng lớn, sự dâng lên của mực nước biển trung bình toàn cầu.

    – Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng khoảng 0,74 O C trong thời kỳ 1906 – 2005, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đây. Hai năm được công nhận có nhiệt độ trung bình toàn cầu cao nhất từ trước đến nay là 1998, 2005; 11/12 năm gần đây (1995 – 2006) nằm trong số 12 năm nóng nhất trong chuỗi số liệu quan trắc. Nhiệt độ trên lục địa tăng rõ rệt và nhanh hơn hẳn so với nhiệt độ trên đại dương với thời kỳ tăng nhanh nhất là mùa đông (tháng XII, I, II) và mùa xuân (tháng III, IV, V). Nhiệt độ cực trị cũng có chiều hướng biến đổi tương tự như nhiệt độ trung bình;

    Hình 1. 1 : Thay đổi nhiệt độ toàn cầu giai đoạn 1860 – 1999

    – Lượng mưa có chiều hướng tăng lên trong thời kỳ 1900 – 2005 ở phía Bắc vĩ độ 30ºN, tuy nhiên lại có xu hướng giảm đáng kể từ năm 1970 ở vùng nhiệt đới. Lượng mưa ở khu vực từ 10ºN đến 30ºN tăng lên từ năm 1900 đến 1950 ở vùng nhiệt đới và giảm trong thời kỳ sau đó. Nhìn chung, lượng mưa có xu hướng biến đổi theo mùa và theo không gian rõ rệt hơn hẳn so với nhiệt độ. Hiện tượng mưa lớn có dấu hiệu tăng lên trong thời gian gần đây;

    – Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng với tỷ lệ trung bình 1,8mm/năm trong thời kỳ 1961 – 2003 và với tỷ lệ 3,1mm/năm trong thời kỳ từ năm 1993 – 2003. Trong những năm gần đây, tổng cộng mực nước biển đã dâng 0,31m (± 0,07m).

    Diện tích băng biển trung bình năm ở Bắc cực đã thu hẹp với tỷ lệ 2,7%/1 thập kỷ. Diện tích cực đại của lớp phủ băng theo mùa ở bán cầu Bắc đã giảm 7% kể từ 1990, riêng trong mùa xuân giảm tới 15%.

    Các báo cáo tại Hội nghị Quốc tế về BĐKH tại Brucxen (Bỉ) cho biết trung bình mỗi năm, các núi băng trên cao nguyên Thanh Hải (Trung Quốc) bị giảm 7% khối lượng và 50 – 60 m độ cao. Trong 30 năm qua, trung bình mỗi năm cao nguyên Tây Tạng bị tan chảy khoảng 131km 2 , chu vi vùng băng tuyết bên sườn cao nguyên mỗi năm giảm 100 – 150m có nơi tới 350m;

    – Hạn hán xuất hiện thường xuyên hơn ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới từ năm 1970. Nguyên nhân chính của sự gia tăng này là lượng mưa giảm và nhiệt độ tăng dẫn đến bốc hơi tăng. Khu vực thường xuyên xảy ra hạn hán là phía Tây Hoa Kỳ, Úc, Châu Âu;

    – Hoạt động của xoáy thuận nhiệt đới, đặc biệt là các cơn bão mạnh gia tăng từ những năm 1970 và ngày càng có xu hướng xuất hiện nhiều hơn các cơn bão có quỹ đạo bất thường. Điều này có thể thấy trên cả Ấn Độ Dư ơ ng, Bắc và Tây Bắc Thái Bình Dương, số cơn bão ở Đại Tây Dương ở mức trung bình trong khoảng 10 năm gần đây;

    – Có sự biến đổi trong chế độ hoàn lưu quy mô lớn trên cả lục địa và đại dương, biểu hiện rõ rệt nhất là sự gia tăng về số lượng và cường độ của hiện tượng El Nino và biến động mạnh mẽ của hệ thống gió mùa.

    Như vậy BĐKH đã và đang diễn ra trên quy mô toàn cầu, biểu hiện của chúng có thể khác nhau giữa các khu vực nhưng có thể kết luận một số đặc điểm chung là nhiệt độ tăng lên, lượng mưa biến động mạnh mẽ và có dấu hiệu tăng lên vào mùa mưa, giảm vào mùa ít mưa, hiện tượng mưa lớn gia tăng, hạn hán xuất hiện thường xuyên hơn, hoạt động của bão và áp thấp nhiệt đới phức tạp hơn, hiện tượng El Nino xuất hiện thường xuyên hơn và có biến động mạnh.

    1.1.4 Nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu hiện nay

    (1) Biến đổi khí hậu trong thời đại địa chất

    Khí hậu trái đất đã trải qua nhiều lần biến đổi. Khoảng 45 triệu năm về trước, một thiên thạch khổng lồ va vào trái đất làm bề mặt trái đất bị bao phủ một lượng khói bụi dày đặc, và trái đất bị chìm trong bóng tối một thời gian dài do không có ánh sáng mặt trời. Trái đất bị lạnh đi và loài khủng long bị tiêu diệt.

    Khoảng 2 triệu năm trước công nguyên, trái đất cũng trải qua nhiều lần băng hà lạnh lẽo và gian băng ấm áp, với chu kỳ mỗi lần khoảng 100 nghìn năm. Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa kỳ băng hà và gian băng khoảng 5 – 7 0C, riêng ở vùng cực khoảng 10 – 15 0 C.

    Thời kỳ gian băng khoảng 125 nghìn đến 130 nghìn năm trước công nguyên, nhiệt độ trung bình của bề mặt trái đất cao hơn thời kỳ tiền công nghiệp (1750) khoảng 2 0 C và mực nước biển trung bình cao hơn trong thế kỷ XX từ 4 đến 6 m.

    Thời kỳ băng hà cuối cùng kết thúc cách đây khoảng 10 -15 nghìn năm. Sau thời kỳ này, trái đất ấm dần lên, các sinh vật mới dần dần phát triển. Sa mạc Sahara trong khoảng 12 nghìn đến 4 nghìn năm trước công nguyên có cây cỏ và chim muông. Khoảng 5 – 6 nghìn năm trước công nguyên, nhiệt độ trái đất cao hơn hiện nay.

    Đầu thế kỷ XIV, châu Âu trải qua một kỷ băng hà nhỏ kéo dài khoảng vài trăm năm. Những khối băng khổng lồ hình thành và những mùa đông khắc nghiệt làm cho mùa màng thất bát, dẫn đến nạn đói, nhiều gia đình phải di cư đi nơi khác.

    Những biến đổi khí hậu xảy ra trong thời kỳ địa chất đều do các nguyên nhân tự nhiên, trong đó chủ yếu là sự chuyển động của trái đất, các vụ phun trào của núi lửa và hoạt động của mặt trời.

    (2) Nguyên nhân của biến đổi khí hậu trong thời kỳ hiện đại

    Nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu hiện nay, tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu đã được khẳng định là do hoạt động của con người. Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà kính, làm tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất.

    Những số liệu về hàm lượng khí CO 2 trong khí quyển được xác định từ các lõi băng được khoan ở Greenland và Nam cực cho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà và gian băng (khoảng 18 nghìn năm trước), hàm lượng khí CO 2 trong khí quyển chỉ khoảng 180 – 200 ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ bằng khoảng 70% so với thời kỳ tiền công nghiệp (280 ppm). Từ khoảng năm 1800, hàm lượng khí CO 2 bắt đầu tăng lên, vượt con số 300 ppm và đạt 379 ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng khoảng 31% so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa mức khí CO 2 tự nhiên trong khoảng 650 nghìn năm qua.

    Đánh giá khoa học của IPCC cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng v.v… đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9%, các ngành sản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%) là các hoạt động khác (chôn rác thải v.v…).

    Riêng năm 2004, lượng phát thải khí CO 2­­ của Hoa Kỳ là 6 tỷ tấn (lấy tròn), bằng khoảng 20% tổng lượng phát thải khí CO 2 toàn cầu. Trung Quốc là nước phát thải lớn thứ 2 với 5 tỷ tấn CO2( ). Như vậy, phát thải các khí CO2 ­­ của Việt Nam tăng khá nhanh trong 15 năm qua, song vẫn ở mức rất thấp so với trung bình toàn cầu và nhiều nước trong khu vực. Dự tính tổng lượng phát thải các khí nhà kính của nước ta sẽ đạt 233,3 triệu tấn CO­ tương đương vào năm 2022, tăng 93% so với năm 1998(.

    Trong Nghị định thư Kyoto (Điều 10) còn ghi “Tất cả các Bên, có xem xét những trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và các tình huống, mục tiêu và những ưu tiên phát triển đặc biệt của quốc gia và khu vực, không đưa thêm bất kỳ cam kết mới nào cho các Bên không thuộc Phụ lục 1” (tức Bên các nước đang phát triển).

    1.1.5. Khí nhà kính và hiệu ứng nhà kính

    Trong thành phần của khí quyển trái đất, khí nitơ chiếm tới 78% khối lượng khí quyển, khí oxy chiếm 21%, còn lại khoảng 1% là các khí khác như acgon, đioxit cacbon, mêtan, ôxit nitơ, nêôn, hêli, hydro, ôzôn v.v… và hơi nước. Tuy chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, các khí vết này, đặc biệt là khí điôxit cacbon, mêtan, ôxit nitơ và CFCs, một loại khí chỉ mới có trong khí quyển từ khi công nghệ làm lạnh phát triển, là những khí có vai trò rất quan trọng đối với sự sống trên trái đất. Trước hết, đó là vì các chất khí nói trên có khả năng hấp thụ bức xạ hồng ngoại do mặt đất phát ra, sau đó, một phần lượng bức xạ này lại được các chất khí đó phát xạ trở lại mặt đất, qua đó hạn chế lượng bức xạ hồng ngoại của mặt đất thoát ra ngoài khoảng không vũ trụ và giữ cho mặt đất khỏi bị lạnh đi quá nhiều, nhất là về ban đêm khi không có bức xạ mặt trời chiếu tới mặt đất.

    Các chất khí nói trên, (trừ CFCs), đã tồn tại từ lâu trong khí quyển và được gọi là các khí nhà kính tự nhiên. Nếu không có các chất khí nhà kính tự nhiên, trái đất sẽ lạnh hơn hiện nay khoảng 33 0C, tức là nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất sẽ khoảng -18 0 C. Hiệu ứng giữ cho bề mặt trái đất ấm hơn so với trường hợp không có các khí nhà kính được gọi là “hiệu ứng nhà kính”. Ngoài ra, khí ôzôn tập trung thành 1 lớp mỏng trên tầng bình lưu của khí quyển có tác dụng hấp thụ các bức xạ tử ngoại từ mặt trời chiếu tới trái đất và qua đó bảo vệ sự sống trên trái đất.

    Sự tăng lên của các khí nhà kính dẫn đến gia tăng hiệu ứng nhà kính của lớp khí quyển đã tạo ra một lượng bức xạ cưỡng bức với độ lớn trung bình là 2,3 w/m 2, làm cho trái đất nóng lên.

    Các nhân tố khác, trong đó có các sol khí (bụi, cacbon hữu cơ, sulphat, nitrat…) gây ra hiệu ứng âm (lạnh đi) với lượng bức xạ cưỡng bức tổng cộng trực tiếp là -0,5 w/m 2 và gián tiếp qua phản xạ của mây là -0,7 w/m 2; thay đổi sử dụng đất làm thay đổi suất phản xạ bề mặt, tạo ra lượng bức xạ cưỡng bức tổng cộng được xác định bằng -0,02 w/m 2; trái lại, sự tăng khí ôzôn trong tầng đối lưu do sản xuất và phát thải các hóa chất và sự thay đổi trong hoạt động của mặt trời trong thời kỳ từ 1750 đến nay được xác định là tạo ra hiệu ứng dương với tổng lượng bức xạ cưỡng bức lần lượt là 0,35 w/m 2 và 0,12 w/m 2.

    Như vậy, tác động tổng cộng của các nhân tố khác, ngoài khí nhà kính, đã tạo ra lượng bức xạ cưỡng bức âm. Vì thế, trên thực tế, sự tăng lên của nhiệt độ trung bình toàn cầu quan trắc được trong thời gian qua đã bị triệt tiêu một phần, nói cách khác, sự tăng lên của riêng hàm lượng khí nhà kính nhân tạo trong khí quyển làm trái đất nóng lên nhiều hơn so với những gì đã quan trắc được, và điều đó càng khẳng định sự biến đổi khí hậu hiện nay là do các hoạt động của con người mà không thể được giải thích là do các quá trình tự nhiên.

    1.1.6. Biến đổi khí hậu và nước biển dâng trên thế giới trong thế kỷ XX I

    Theo báo cáo đánh giá lần thứ 4 của Ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu, đến cuối thế kỷ XXI, hàm lượng khí CO 6,4 2 trong khí quyển sẽ đạt 540 – 970 ppm theo các kịch bản khác nhau về phát thải khí nhà kính, nghĩa là tăng ít nhất gấp đôi so với thời kỳ tiền công nghiệp, và như vậy, nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ tăng lên tương ứng là 2,0 – 4,5 0C (1,1 ¸ 0 C), mực nước biển trung bình toàn cầu sẽ tăng lên từ 0,18 đến 0,59 m so với cuối thế kỷ XX.

    Tuy kịch bản mực nước biển dâng còn chưa chắc chắn, vì có nhiều điều không biết rõ về sự đóng góp của băng Greenland và Nam cực. Nhưng thực tế, các nghiên cứu gần đây đưa ra tốc độ tăng mực nước biển cao hơn, từ 0,5 đến 1,4 m vào cuối thế kỷ XXI.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Giải Pháp Khẩn Cấp Toàn Cầu Về Biến Đổi Khí Hậu
  • Cam Kết Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Giáo Dục Atgt Cho Học Sinh: Các Trường Thực Hiện Thế Nào?
  • Bài Làm Văn Mẫu Nghị Luận Về An Toàn Giao Thông Hay Nhất
  • Nghị Luận Tìm Giải Pháp Đảm Bảo An Toàn Giao Thông
  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Và Suy Giảm Tầng Odon

    --- Bài mới hơn ---

  • Dựa Vào Sách Giáo Khoa, Kiến Thức Của Bản Thân Và Các Hình Ảnh Trình Bày Hiện Trạng, Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Các Giải Pháp Của Vấn Đề Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Và Suy Giảm Tầng Ozon
  • Nguyên Nhân Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam Và Giải Pháp Ứng Phó
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì? Tác Hại, Biểu Hiện Và Nguyên Nhân Biến Đổi Khí Hậu
  • Bài 3. Một Số Vấn Đề Mang Tính Toàn Cầu Bien Doi Khi Hau Va Suy Giam Tang Ozon Pptx
  • Biện Pháp Thích Ứng Với Biến Đổi Khí Hậu Trên Thế Giới Và Việt Nam
  • Bài 3

    Một số vấn đề mang tính toàn cầu

    Biến đổi khí hậu toàn cầu và suy giảm tầng ôdôn

    a)Biến đổi khí hậu

    + Biến đổi khí hậu Trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm: khí quyển, sinh quyển, thuỷ quyển và thạch quyển ở hiện tại và tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỉ hay hàng triệu năm

    Biểu hiện của biến đổi khí hậu

    + Sự nóng lên của khí quyển nói riêng và Trái đất nói chung.

    + Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển.

    + Sự dâng cao mực nước biển do băng tan.

    + Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng ngàn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất.

    + Sự thay đổi cường độ hoạt động của các quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác.

    + Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển…

    a)Biến đổi khí hậu

    Nguyên nhân

    + Hoạt động của con người

    + Hiện tượng núi lửa

    + Hiệu ứng nhà kính

    + Gây nên thiên tai như: lũ lụt, hạn hán, bão…

    +Gây hại cho sức khỏe cho con người và sinh vật

    Hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu

    b)Suy giảm tầng Ozon

    Hoạt động công nghiệp

    Phá rừng

    Hoạt động GTVT

    Hoạt động nông nghiệp

    Sinh hoạt của con người

    Các khí nhà kính: CO2, NH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6

    Nguyên nhân

    Tầng ozon bị mỏng và thủng dần, không còn đủ khả năng thực hiện chức năng của một tấm bảo vệ tất cả các sinh vật trên Trái đất khỏi bức xạ UV, dẫn đến những tác động nghiêm trọng:

    – Đối với động thực vật: làm giảm số lượng các sinh vật, phá hủy chuỗi thức ăn của các sinh vật, gây một số loài có nguy cơ bị tuyệt chủng.

    – Đối với con người: tia UV gây ung thư da, đục thủy tinh thể, giảm miễn dịch, xáo trộn các kháng thể chống lại bệnh tật nhất là các bệnh truyền nhiễm.

    Hậu quả

    Lỗ thủng tầng Ozon

    Giải pháp

    Chặn đứng nạn phá rừng

    Ứng dụng các công nghệ mới trong việc bảo vệ trái đất:quá trình can thiệp kỹ thuật địa chất,

    Hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch

    Hãy tham gia trồng cây, bảo vệ rừng và biển

    Hãy tham gia và tổ chức các hoạt động bảo vệ môi trường

    Cảm ơn cô và các bạn đã lắng nghe và theo dõi

    Thanks everybody! Good luck!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Suy Giảm Tầng Ozone Và Biến Đổi Khí Hậu
  • Biến Đổi Khí Hậu Và Suy Giảm Tầng Ozon Dahs Ppt
  • Bệnh “lười Học Lý Luận Chính Trị” Và Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Lý Luận Chính Trị Cho Cán Bộ, Đảng Viên Hiện Nay
  • Một Số Biện Pháp Chủ Yếu Để Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Cá Biệt
  • Hiệu Trưởng Trường Chuẩn Quốc Gia Đề Xuất 6 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Và Giải Pháp Ứng Phó Của Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Đi Tìm Giải Pháp Cho Trẻ Biếng Ăn
  • Giải Pháp Cho Trẻ Biếng Ăn
  • Giải Pháp Cho Tình Trạng Trẻ Biếng Ăn
  • Giúp Mẹ Đi Tìm Giải Pháp Cho Trẻ Biếng Ăn
  • Một Giải Pháp Cho Trẻ Biếng Ăn
  • Phát biểu tại Hội thảo, TS Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch VACNE, cho biết biến đổi khí hậu đã xảy ra cả ngàn năm trước rồi và con người cũng đã thích ứng với hiện tượng này từ xưa đến nay rồi.

    Tuy nhiên, biến đổi khí hậu diễn ra nhanh hơn so với dự báo, tác động tiêu cực ngày càng tăng – TS Lê Minh Nhật, Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Tài nguyên & Môi trường, chia sẻ tại Hội nghị đang diễn ra ở Hà Nội giữa lúc đã và đang hoành hành ở nhiều nơi gây thiệt hại lớn về người và của trong những ngày qua.

    “Các loại hình thiên tai ngày càng gia tăng ở Việt Nam. Mặc dù công tác dự báo của Việt Nam ngày càng có tính chính xác hơn, tuy nhiên số người chết vì thiên tai vẫn gia tăng”, TS Nhật nói.

    Theo báo cáo nhanh của các địa phương (tính đến ngày 12/10), thiệt hại đợt mưa lũ đang diễn ra đã khiến 77 người chết và mất tích; 21 người bị thương. Trong đó số người chết và mất tích nhiều nhất tại Hòa Bình (32 người) Yên Bái 15 người, các trường hợp khác xảy ra ở Sơn La, Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ an và Quảng Trị.

    Về tài sản, ước tính có 217 nhà bị sập, 1059 nhà bị hư hỏng, gần 17.000 nhà bị ngập. Tính tới thời điểm này, các địa phương nằm trong vùng lũ phải di dời khẩn cấp gần 800 nhà.

    Theo chúng tôi Trương Quang Học, VACNE, trong hơn 30 năm qua, tại Việt Nam, bình quân mỗi năm thiên tai đã làm chết và mất tích khoảng 500 người, bị thương hàng nghìn người, thiệt hại về kinh tế vào khoảng 1,5% GDP, cao hơn so với khoảng 1% GDP đối với các nước có thu nhập trung bình, và khoảng 0,3% GDP đối với các nước có mức thu nhập thấp.

    Những biểu hiện chủ yếu của biến đổi khí hậu trong các mốc thời gian quan trọng của thế kỷ 21 bao gồm sự tăng nồng độ CO2 trong khí quyển, sự tăng nhiệt độ và nước biển dâng trên bề mặt Trái đất.

    Để ứng phó với biến đổi khí hậu, đến năm 2030, Việt Nam sẽ cắt giảm 8% phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát triển thông thường, với mục tiêu cắt giảm đến 25% nếu nhận được hỗ trợ của cộng đồng quốc tế. Để thực hiện các nhiệm vụ ứng phó với biến đổi khí hậu từ nay đến năm 2022, Việt Nam sẽ cần khoảng 30 tỷ USD từ nguồn lực nhà nước, hỗ trợ quốc tế và cả các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chia Sẻ Giải Pháp Bảo Tồn Và Phát Huy Di Sản Văn Hóa
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Góp Phần Bảo Tồn, Phát Huy Các Giá Trị Văn Hóa Đặc Sắc Của Các Dân Tộc Tỉnh Cao Bằng
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa Vì Sự Phát Triển Bền Vững
  • Công Tác Quản Lý, Bảo Tồn Và Phát Huy Các Giá Trị Di Sản Văn Hóa Và Thiên Nhiên Thế Giới Quần Thể Danh Thắng Tràng An
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa
  • Cam Kết Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Cần Giải Pháp Khẩn Cấp Toàn Cầu Về Biến Đổi Khí Hậu
  • Tổng Quan Về Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Biến Đổi Khí Hậu Không Phải Là ‘chuyện Nhà Hàng Xóm’
  • Hội Thảo Công Nghệ Về Giải Pháp Ai Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu
  • Nghị Luận Xã Hội Về Hiện Tượng Biến Đổi Khí Hậu
  • Nguyên nhân và giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu

    Cho đến nay, nhiều nghiên cứu đều cho rằng có nhiều nguyên nhân gây biến đổi khí hậu toàn cầu, trong đó có nguyên nhân do tự nhiên (đúng vào chu kỳ nhiệt độ tăng của Trái đất) và nguyên nhân do con người, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do con người đã sử dụng quá mức các loại nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, khí đốt phát thải khí ra CO­2 hoặc phá hủy các bể hấp thụ khí CO­2 từ khí quyển (mất rừng, thảm thực vật) làm gia tăng hiệu ứng nhà kính khí quyển, là nguyên nhân gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu và gây ra biến đổi khí hậu. Quá trình tác động của con người đã làm cho tốc độ nóng lên toàn cầu diễn ra nhanh hơn nhiều so với sự biến đổi một cách tự nhiên. Do đó, để ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, trước tiên phải giải quyết nguyên nhân của vấn đề chính là làm thế nào để giảm phát thải CO2 vào khí quyển và các phương thức thay đổi để sống chung với điều kiện khí hậu bị thay đổi, và câu chuyện đàm phán quốc tế về ứng phó biến đổi khí hậu toàn cầu cũng chỉ tập trung xoay quanh các nội dung này.

    Việc cắt giảm phát thải CO­2 về bản chất là giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch bằng các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, thay đổi công nghệ mới hiệu suất cao, thu giữ và lưu trữ các-bon hoặc tăng cường việc hấp thụ CO­2 thông qua việc trồng rừng. Với hầu hết các nước sẽ luôn lựa chọn các giải pháp có chi phí thấp phù hợp với điều kiện quốc gia như trồng rừng, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả hoặc phát triển năng lượng tái tạo khi có lợi thế. Còn các giải pháp như chuyển đổi công nghệ hiệu suất cao, phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo ở những nơi có tiềm năng thấp, thu giữ và lưu trữ các-bon đều có chi phí cao hơn. Do đó, đây không còn là vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu đơn thuần mà đã trở thành vấn đề kinh tế, chính trị ở quy mô toàn cầu.

    Đàm phán quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu

    Năm 1992, tại Rio Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển đã đưa ra Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) đến nay đã có 197 Bên tham gia với mục tiêu cao cả là giữ cho nhiệt độ khí quyển của Trái Đất tăng không quá 20C vào cuối Thế kỷ 21. Và để cụ thể hóa mục tiêu này, quá trình thực hiện ở quy mô toàn cầu cũng như tại mỗi quốc gia cũng diễn ra khá tích cực nhằm giảm phát thải khí CO­2 từ các hoạt động phát triển vào bầu khí quyển. Việc thực hiện các cam kết giảm phát thải CO2 được thực hiện trong khuôn khổ UNFCCC dựa trên nguyên tắc “Trách nhiệm chung nhưng có sự khác biệt”. Nguyên tắc này nghe thì rất đơn giản nhưng khi đặt trong bối cảnh thực hiện ở quy mô toàn cầu thì đây là lại vấn đề đàm phán dai dẳng và kéo dài.

    “Trách nhiệm chung” được hiểu rằng việc cắt giảm phát thải CO2 cần phải được thực hiện bởi tất cả các nền kinh tế phát triển và đang phát triển và “sự khác biệt” ở đây là sự khác nhau về trách nhiệm thực hiện giảm phát thải của mỗi quốc gia không chỉ dựa trên mức phát thải hiện tại mà còn tính đến cả trách nhiệm phát thải trong lịch sử. Đối với các quốc gia phát triển – là các quốc gia thuộc Phụ lục I của Công ước – đòi hỏi phải có cam kết mạnh mẽ hơn và trách nhiệm lịch sử rõ ràng hơn (vì trong quá khứ họ đã sử dụng rất nhiều nhiên liệu hóa thạch, phát thải nhiều khí nhà kính để có được thành tựu phát triển như hiện nay), còn đối với các quốc gia đang phát triển – Các nước không thuộc Phụ lục I – trên quan điểm Quyền được phát triển phải được đáp ứng giống như các nước phát triển đã trải qua thì trách nhiệm sẽ không có tính chất ràng buộc pháp lý mà chỉ thực hiện các hành động giảm nhẹ phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA) hoặc thông qua các cơ chế của của Nghị định thư Kyoto (Cơ chế CDM, JI, ETS) trong khuôn khổ Công ước. Các cam kết này vẫn đang được các Bên thực hiện từ năm 2008 đến năm 2022.

    Với hiện trạng về phát thải khí nhà kính toàn cầu, các quốc gia đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi,… lại là các quốc gia đang có mức phát thải CO­2 hàng đầu thế giới lại không chịu nhiều áp lực là phải cắt giảm phát thải đã giúp cho quy mô nền kinh tế của các quốc gia này tăng trưởng nhanh chóng (Trung Quốc đã vươn lên thành nền kinh tế thứ 2 của Thế giới), do đó việc thực hiện nguyên tắc “Trách nhiệm chung” lại tiếp tục được đặt lên bàn đàm phán tại các Hội nghị các Bên tham gia Công ước (COP) theo hướng trách nhiệm của các nước đang phát triển phải được ràng buộc hơn và yếu tố “Quyền phát thải dựa theo lịch sử phát triển” đã bị làm mờ đi trước những áp lực về môi trường và sự cam kết hỗ trợ từ các nước phát triển để có thể bỏ qua quá trình tăng trưởng dựa trên nền tảng bắt buộc sử dụng nhiều tài nguyên và phát thải lớn. Năm 2022, COP21 tại Paris đã đạt được một bước tiến mới trong đàm phán về biến đổi khí hậu toàn cầu đó là tất cả các Bên đã thông qua Thỏa thuận Paris với mục tiêu và cam kết cụ thể giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cho giai đoạn từ 2022 – 2030.

    Thỏa thuận Paris sẽ được thực hiện thông qua nhiều cơ chế như tài chính các-bon, cơ chế thị trường, chuyển giao công nghệ, hệ thống minh bạch… Hiện nay các cơ chế này đang tiếp tục được các nhà đàm phán kỹ thuật và các chuyên gia nghiên cứu, hướng dẫn để áp dụng cho tất cả các quốc gia.

    Nguồn ảnh: https://reseauactionclimat.org

    Thách thức và cơ hội với ngành Công Thương

    Như tổng hợp ở trên, ngành Công Thương có thể gặp một số thách thức và cơ hội như sau:

    – Cho đến nay, kinh nghiệm tăng trưởng các nền kinh tế lớn trên Thế giới (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc, Châu Âu, Trung Quốc) đều dựa trên nền tảng phát triển của ngành năng lượng sử dụng các dạng nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, khí đốt… với công nghệ khai thác, chế biến, vận chuyển và sử dụng có chi phí rẻ và hợp lý, phù hợp với hầu hết các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Việc phát triển của ngành năng lượng trên nền tảng công nghệ hiệu suất cao (phát thải thấp), phát triển năng lượng tái tạo (phát thải bằng không) với các thiết bị và công nghệ hiện đại là xu hướng chung của thế giới, tuy nhiên chi phí cho các giải pháp này vẫn còn khá đắt. Ngay tại các quốc gia phát triển có quy mô của nền kinh tế lớn thì việc phổ biến các giải pháp này vẫn vẫn còn gặp nhiều khó khăn, còn đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì đây thực sự là một thách thức.

    – Về bản chất, việc cắt giảm phát thải CO2 đồng nghĩa với việc giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch tại các nền kinh tế, điều này đòi hỏi các quốc gia phải cân nhắc, lựa chọn kịch bản tăng trưởng nâu (duy trì mức tăng trưởng cao, sử dụng nhiều năng lượng, sử dụng nhiều nhiên liệu hóa thạch, phát thải lớn) hay tăng trưởng xanh bền vững (sử dụng công nghệ, thiết bị hiệu suất cao, sử dụng năng lượng tái tạo, giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch…). Trong bối cảnh thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, Việt Nam đã cam kết tự thực hiện giảm 8% mức phát thải khí vào năm 2030 và nếu có thêm nguồn lực quốc tế thì có thể đạt 25%, như vậy có thể thấy việc thực hiện tăng trưởng xanh (ở mức giảm phát thải 25%) vẫn còn là một thách thức và phụ thuộc.

    – Với nhu cầu tăng trưởng xanh, thực hiện mục tiêu giảm phát thải CO2 như đã cam kết của các quốc gia, tất cả các nền kinh tế sẽ có nhu cầu rất lớn về thiết bị và công nghệ xanh, phát thải thấp. Đây là một thị trường rất tiềm năng với Bên cung là các nước phát triển chiếm lợi thế và Bên cầu là các nước đang phát triển không có lợi thế sẽ phải đánh đổi những thứ mà mình sẵn có như tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, tài chính (với số lượng lớn và giá rẻ) để thực hiện cam kết. Như vậy, vấn đề thực hiện cam kết về biến đổi khí hậu không còn là vấn đề môi trường hay biến đổi khí hậu đơn thuần mà bản chất chính là lợi ích về thương mại trong chuyển giao khoa học, công nghệ ở quy mô toàn cầu. Với mục tiêu tăng thêm 17% giảm phát thải khi có thêm nguồn lực hỗ trợ từ quốc tế mà Việt Nam đã cam kết theo Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu thì đây thực sự là một thị trường đầy tiềm năng cho các thiết bị, công nghệ sử dụng hiệu quả năng lượng (bao gồm cả sản xuất năng lượng) và phát triển các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo tại Việt Nam.

    – Trong bối cảnh thực hiện các cam kết về giảm nhẹ biến đổi khí hậu toàn cầu, Thế giới đã xuất hiện các Liên minh không sử dụng than đá (do Anh và Canada khởi xướng), Liên minh năng lượng mặt trời (do Ấn Độ và Pháp khởi xướng),.. nhằm hối thúc Chính phủ các quốc gia tích cực hành động vì mục tiêu khí hậu. Trong bối cảnh đó, ngành năng lượng Việt Nam sẽ gặp nhiều thách thức cũng như sức ép trong quá trình phát triển, đặc biệt là khả năng tiếp cận các nguồn tài chính, vốn đầu tư cho các dự án phát triển năng năng lượng sử dụng nhiên liệu hóa thạch hiệu suất thấp, phát thải lớn sẽ bị hạn chế và rất khó khăn. Hiện nay OECD đang vận động các quốc gia thành viên thông qua chính sách đầu tư không cho vay đối với các dự án sử dụng nhiên liệu hóa thạch, đặc biệt là nhiệt điện than, điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến ngành năng lượng của Việt Nam. Nhưng với xu thế này, đây có thể coi là một cơ hội tốt để ngành năng lượng có bước đi đột phá hướng tới tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

    – “Rò rỉ các-bon xuyên biên giới” là một nguy cơ hiện hữu trong bối cảnh các quốc gia thực hiện các cam kết về giảm phát thải CO­2, các ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng, các công nghệ lạc hậu hiệu suất thấp, tiêu tốn nhiều năng lượng sẽ có xu hướng dịch chuyển các dự án đầu tư sang các nước đang phát triển và các nước cam kết giảm phát thải khí nhà kính ít. Bên cạnh các vấn đề về môi trường của các hoạt động đầu tư này, ngành năng lượng chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng do nhu cầu tăng cao gây mất cân bằng cung cầu, trong khi năng lực đáp ứng và hạ tầng chưa thể theo kịp. Điều này không chỉ dẫn đến nguy cơ về mất an ninh năng lượng mà còn gây mất ổn định xã hội, đồng thời còn làm tăng mức phát thải khí nhà kính của quốc gia đó và gia tăng trách nhiệm giảm phát thải trong tương lai.

    – Trong bối cảnh thương mại toàn cầu, cam kết về giảm nhẹ với biến đổi khí hậu toàn cầu còn được các quốc gia phát triển “ép” các quốc gia đang phát triển phải thực hiện theo bằng các Tiêu chuẩn về định mức và phát thải. Các thiết bị, sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa tham gia thị trường sẽ phải dãn nhãn tiết kiệm năng lượng hoặc nhãn các-bon (carbon footprint – là loại nhãn được tính toán về mức phát thải CO2 trong quá toàn bộ vòng đời sản phẩm gồm khai thác, chế biến nguyên liệu, sản xuất hàng hóa, vận chuyển và phân phối, tiêu dùng và thải bỏ). Đây thực sự là thách thức đối với nền sản xuất trong nước khi mà trình độ công nghệ còn lạc hậu, tiêu tốn nhiều năng lượng và phát thải lớn thì các sản phẩm hàng hóa của Việt Nam sẽ không có cơ hội tiếp cận các thị trường khắt khe bởi các rào cảnh kỹ thuật về biến đổi khí hậu trong tương lai. Tuy nhiên đây không chỉ là thách thức mà còn là cơ hội để nền sản xuất của Việt Nam có thể chủ động thay đổi đáp ứng yêu cầu của thị trường sẽ góp phần giải quyết các mục tiêu về phát triển năng lượng bền vững và giảm phát thải khí nhà kính của quốc gia.

    Như vậy, có thể thấy câu chuyện về ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu và các cam kết quốc tế không chỉ đơn thuần là vấn đề môi trường và khí hậu, đằng sau nó là các vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội và là tương lai bền vững của mỗi quốc gia. Thực hiện các cam kết về giảm nhẹ biến đổi khí hậu toàn cầu là xu hướng chung của thế giới, Việt Nam và nhiều quốc gia khác nói chung, ngành Công Thương nói riêng chắc chắn sẽ gặp phải nhiều khó khăn, thách thức đòi hỏi chúng ta nhận thức rõ về vai trò, trách nhiệm và nắm bắt tốt cơ hội để thúc đẩy quá trình tăng trưởng xanh và phát triển bền vững ngành, quốc gia.

    Th.S Nguyễn Quang Huy Vụ Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Atgt Cho Học Sinh: Các Trường Thực Hiện Thế Nào?
  • Bài Làm Văn Mẫu Nghị Luận Về An Toàn Giao Thông Hay Nhất
  • Nghị Luận Tìm Giải Pháp Đảm Bảo An Toàn Giao Thông
  • Nghị Luận Xã Hội Về Vấn Đề An Toàn Giao Thông Hiện Nay
  • Bàn Về Giải Pháp Cho Vấn Đề Lao Động Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Trình Bày Hiện Trạng, Nguyên Nhân, Hậu Quả Của Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiện Tượng Biến Đổi Khí Hậu Là Gì? Nguyên Nhân, Thực Trạng Và Hậu Quả
  • Cần Thơ: Đẩy Mạnh Thực Hiện Các Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu
  • Thuyết Trình Về Thực Trạng Và Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Biển Nước Ta Hiện Nay Câu Hỏi 335339
  • 5 Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Không Thể Không Làm
  • Bài Luận Tiếng Anh Về Chủ Đề Môi Trường
  • Nguyên nhân gây nên tình trạng biến đổi khí hậu

    Để có thể đưa ra được các biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu. Cần phải nắm được rõ nguyên nhân gây ra tình trạng này. Thực tiễn cho thấy, có 2 nhóm nguyên nhân chính gây nên tình trạng biến đổi khí hậu:

    Nguyên nhân chủ quan:

    Do sự tác động của con người lên môi trường như các hoạt động sử dụng đất, nguồn nước chưa hợp lý. Gia tăng nguồn chất thải khí CO2, nguồn nước thải ô nhiễm…

    biến đổi khí hậu

    Nguyên nhân khách quan:

    Đây là nguyên nhân bắt nguồn từ sự biến đổi của tự nhiên. Như sự thay đổi hoạt động của mặt trời; Quỹ đạo trái đất; Vị trí các châu lục bị thay đổi; Các dạng hải lưu và hệ thống khí quyển bị lưu chuyển.

    Có thể thấy, biến đổi khí hậu là do nhiều nguyên nhân gây nên. Chứ không chỉ là do hậu quả nóng lên của trái đất. Mỗi quốc gia muốn phát triển bền vững thì cần phải nắm được các nguyên nhân. Và xây dựng các biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu thiết thực và kịp thời nhất.

    Các biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu hiệu quả nhất

    Biến đổi khí hậu sẽ càng gia tăng cả về số lượng và mức độ nặng nề khi chúng ta không có biện pháp ứng biến kịp thời. Do đó, có thể thấy rằng việc xây dựng các biện pháp khắc phục tình trạng này là vô cùng quan trọng và cần thiết.

    Cải tạo, nâng cấp hạ tầng

    Các chuyên gia nhận định rằng, cơ sở hạ tầng chiếm gần ⅓ lượng phát tán khí thải gây hiệu ứng nhà kính trên trái đất. Do đó, việc cải tạo cơ sở hạ tầng thân thiện với môi trường sẽ giúp cải thiện tình trạng biến đổi khí hậu.

    Ngoài ra, hệ thống giao thông thuận lợi cũng sẽ góp một phần nhỏ trong việc giảm tải lượng khí thải do xe cộ thải ra môi trường. Các khu công nghiệp cần quy hoạch khoa học, xử lý khí thải để giảm lượng ô nhiễm môi trường.

    Hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch

    Sử dụng nhiên liệu hóa thạch như than, dầu, khí thiên nhiên… Đang gây ra hiệu ứng nhà kính rất lớn. Chính vì vậy, để khắc phục biến đổi khí hậu cần phải tìm ra giải pháp an toàn. Hoặc sử dụng các nguồn nhiên liệu thay thế an toàn như nhiên liệu sinh học,…

    Giảm chi tiêu

    Giảm chi phí chi tiêu sẽ giúp giảm các hoạt động sản xuất. Từ đó lượng khí thải gây nên hiệu ứng nhà kính của các nhà máy cũng bị hạn chế. Chúng ta có thể sử dụng các nguồn nguyên liệu an toàn hoặc tái chế để tiết kiệm sản xuất.

    Bảo vệ tài nguyên rừng

    Hiện nay, nạn chặt phá rừng đang ngày càng gia tăng không chỉ ở nước ta mà còn trên thế giới. Do đó, việc ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng sẽ giúp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Thêm nữa, chúng ta cần phải nâng cao ý thức, trồng cây xanh; Không xả rác thải ra môi trường để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên quý giá này.

    Tiết kiệm điện, nước

    Tiết kiệm điện sẽ giúp giảm sự ô nhiễm môi trường khá hiệu quả. Người dân có thể sử dụng các thiết bị điện tiết kiệm, tắt khi không sử dụng. Thêm nữa, nguồn nước không phải là tài nguyên vô tận. Chúng ta cần phải sử dụng tiết kiệm nguồn nước để không làm suy kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Và Vấn Đề Đặt Ra Đối Với Việt Nam
  • Các Yêu Cầu Cơ Bản Về Lồng Ghép Biến Đổi Khí Hậu Trong Các Chương Trình, Dự Án Giao Thông Nông Thôn
  • Đề Xuất Các Biện Pháp Thích Nghi Với Biến Đổi Khí Hậu Trong Nông Nghiệp
  • Giải Pháp Giảm Thiểu Của Biến Đổi Khí Hậu Tới Ngành Năng Lượng
  • 3 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Nghệ Thuật
  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu: Mối Quan Tâm Chung Của Toàn Thế Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Tình Hình Biến Đổi Khí Hậu Trên Thế Giới Và Những Tác Hại
  • Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Ở Đbscl
  • Giải Pháp Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu Ở Đbscl
  • Sự Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Bảo Vệ Môi Trường, Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Và Hành Động Của Chúng Ta
  • (Moitruong.net.vn)Một vấn đề được mọi người và cả thế giới quan tâm nhất hiện nay là sự biến đổi khí hậu toàn cầu. Sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển,..hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo. Sự biến đổi có thể là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi quanh một mức trung bình, có thể giới hạn trong một vùng nhất định hoặc trên toàn Trái Đất. Một vấn đề thật sự đáng lo ngại, đe dọa đến tính mạng con người. Sự biến đổi khí hậu này có thể gây ra những tác hại không hề nhỏ đối với cuộc sống của chúng ta. Để nhận thức được vấn đề quan trọng này với những thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp để giải quyết vấn đề này cần phải đi vào hành động thực tiễn.

    Môi trường sống của con người là một khái niệm rộng. Nó bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên và nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến cuộc sống, sự tồn tại, phát triển của con người và mọi sinh vật trên Trái Đất. Môi trường có hai loại chính: Môi trường tự nhiên và Môi trường xã hội. Môi trường tự nhiên bao gồm các thành phần tự nhiên là địa hình, đất, khí hậu, nước, sinh vật…Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa người với người, quan hệ cá nhân với cộng đồng, pháp luật, qui định…

    Hiện trạng bây giờ môi trường sống của chúng ta đang bị ô nhiễm không khí nghiêm trọng: các nhà máy đã và đang thải ra môi trường không khí một nguồn khí cacbonic khổng lồ, các loại hóa chất độc hại, khói bụi xe hơi và các loại động cơ khác… đã ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, gây nhiều bệnh về đường hô hấp…

    Ô nhiễm nguồn nước: hiện nay trên thế giới và đặc biệt là ở Việt Nam chúng ta đang bị ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng, nhu cầu về nước uống và trong sinh hoạt ở nhiều vùng đang bị thiếu nghiêm trọng. Số lượng người được sử dụng nước sạch thật sự không nhiều. Không chỉ ô nhiễm không khí và nguồn đất mà còn có cả ô nhiễm nguồn đất: đất đai ngày càng bị thoái hóa, bụi rửa trôi từ rác thải công nghiệp, bệnh viện, rác thải sinh hoạt,…đã làm cho nguồn đất đai bị cạn kiệt, khô cằn, mất chất dinh dưỡng, …Không những vậy hiện nay nhiệt độ Trái Đất ngày một tăng dần đã làm cho các loài sinh vật ở một số nơi không thể tiếp tục sinh tồn hoặc có nguy cơ tuyệt chủng.

    Khi cây cỏ và động vật bị mất đi cũng đồng nghĩa với nguồn lương thực, nhiên liệu, và thu nhập của chúng ta cũng bị mất đi. Và nền kinh tế cũng đang dần bị suy sụp. Các thiệt hại về kinh tế do biến đổi khí hậu gây ra cũng ngày càng tăng theo nhiệt độ Trái Đất

    Những cơn bão lớn đã làm mùa màng thất bát, để khống chế dịch phát tán sau mỗi cơn bão lũ cũng cần một số tiền khá lớn. Các tổn thất về kinh tế đã làm ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống chúng ta hiện nay, Tất cả các người dân phải chịu cảnh giá thực phẩm và nguyên liệu ngày tăng, ngày giảm. Nhu cầu thực phẩm và cung cấp nước sạch của người dân sau mỗi đợt bão lũ là rất cấp thiết, chi phí để dọn dẹp đống đổ nát sau bão lũ là một chi phí không hề nhỏ.

    Nhưng nguyên nhân chính để dẫn đến tình trạng như hiện nay phần lớn là do con người, do ý thức và tính chủ quan chỉ biết lợi ích hiện tại chưa nhận thức và biết hết những tác hại to lớn của tương lai. Trong thời đại thế giới đang phát triển công nghiệp hóa- hiện đại hóa hiện nay thì việc sử dụng những nguồn năng lượng từ hóa chất độc hại, những nguyên liệu hóa thạch ( than, dầu mỏ, khí đốt…) là không thể thiếu. Qua đó đã thải vào khí quyển, bầu không khí mà chúng ta đang hít thở hằng ngày bị ô nhiễm, và ngày càng tăng cao gây hiệu ứng nhà kính và nhiệt độ Trái Đất tăng cao. Không chỉ vậy tình trạng chặt phá cây rừng ở vùng đầu nguồn hay vùng phòng hộ làm diện tích rừng bao phủ bị giảm nghiêm trọng, gây ra biến đổi khí hậu. Luật pháp chưa thực sự nghiêm minh, chưa đủ mạnh để ngăn chặn mọi sự vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Cùng với việc ý thức của con người không tôn trọng pháp luật về vấn đề bảo vệ môi trường. Vì lợi nhuận kinh tế trước mắt mà các công ty, nhà máy, xí nghiệp đã bất chấp pháp luật thải ra môi trường nước thải công nghiệp chưa qua xử lí, rác thải y tế, rác thải sinh hoạt không phân hủy được. Nhận thức của con người về ô nhiễm môi trường còn rất hạn chế.

    Chúng ta cần đưa ra các giải pháp cấp bách và hiệu quả để hạn chế những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Nhằm khắc phục những nguyên nhân trên chúng ta cần phải hiểu, có cái nhìn sâu xa hơn và nhận thức thật sự đúng đắn về lợi ích cũng như những tác hại nó. Và cũng để góp phần ngăn chặn sự biến đổi khí hậu chúng ta nên: Tiết kiệm năng lượng về phương tiện giao thông. Đi bộ, đi xe đạp, sử dụng xe dùng chung hoặc phương tiện giao thông công cộng để tránh gây khói bụi và tiết kiệm được nhiên liệu. Hay ta quản lý và xử lý nước thải hợp vệ sinh và đúng qui định. Các chất thải nông nghiệp, chăn nuôi…tái chế các chất thải này thành nguồn năng lượng có ích cho đời sống. Nên ngăn chăn việc phá rừng mà thay vào đó là trồng thật nhiều cây xanh để ngăn chặn lũ lụt cũng như để ta có một bầu không khí trong lành. Và bằng những hành động thiết thực nhất trong cuộc sống của chúng ta hằng ngày như không xả rác bừa bãi, không vứt rác xuống sông. Cá nhân chúng ta có thể khuyến khích cộng đồng vì sự biến đổi khí hậu tại nơi làm việc và trường học. Khuyến khích những người cùng làm việc và học sinh, sinh viên chấp nhận và thực hiện hành động giảm rác thải, phế thải. Các cơ quan và công ty cùng trao đổi với nhà đầu tư để có các giải pháp tiết kiệm năng lượng, sự dụng năng lượng tái tạo được. Tiến hành các hoạt động nhằm giảm rác thải và lập kế hoạch cho các giải pháp phù hợp. Một số quốc gia như Thụy Điển, Xin-ga-po… là những đất nước có môi trường xanh-sạch-đẹp nhất thế giới. Chúng ta nên học tập và làm mô hình để áp dụng cho những nơi ở Việt Nam bị ô nhiễm.

    Việt Nam và một số nước đang phát triển khác, vấn đề ô nhiễm môi trường đã dẫn đến sự biến đổi khí hậu như hiện nay. Con người chúng ta cần phải nhận thức, thực hiện các giải pháp trên một cách đồng bộ, thường xuyên và ở mọi nơi mọi lúc nhằm khắc phục hậu quả nghiệm trọng của biến đổi khí hậu. Hãy chung tay bảo vệ Trái Đất và cùng hô to khẩu hiệu ” Vì một Trái Đất hoàn toàn không có sự ô nhiễm” . Tạo ra một môi trường sống trong lành xanh-sạch-đẹp lâu dài cho con người và cả mọi sinh vật trên Trái Đất.

    (Theo Tạp chí Môi trường và Cuộc sống)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trẻ Em Và Biến Đổi Khí Hậu
  • Biện Pháp Thích Ứng Với Biến Đổi Khí Hậu Trên Thế Giới Và Việt Nam
  • Bài 3. Một Số Vấn Đề Mang Tính Toàn Cầu Bien Doi Khi Hau Va Suy Giam Tang Ozon Pptx
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì? Tác Hại, Biểu Hiện Và Nguyên Nhân Biến Đổi Khí Hậu
  • Nguyên Nhân Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam Và Giải Pháp Ứng Phó
  • Giải Pháp Chống Biến Đổi Khí Hậu

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Chống Biến Đổi Khí Hậu Cho Vùng Miền Núi
  • 10 Giải Pháp Cấp Bách Chống Biến Đổi Khí Hậu
  • Checklist Giải Pháp Cho Doanh Nghiệp Ứng Biến Với Đại Dịch Covid
  • Giải Pháp Kinh Doanh Thực Chiến Giữa Mùa Dịch Bệnh Cùng Dsto
  • Giải Pháp Kinh Doanh Khách Sạn Tốt Nhất Mùa Thấp Điểm
  • Biến đổi khí hậu gây hậu quả tại nhiều quốc gia. Ảnh: GETTY IMAGES

    Số liệu mới nhất trong Báo cáo khí thải nhà kính hằng năm của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), được đăng trên trang chúng tôi của tổ chức này chỉ ra rằng, khí CO2 trong bầu khí quyển đã tăng lên ngưỡng cao kỷ lục trong năm 2022 và không có dấu hiệu giảm trong thời gian tới. Không chỉ lượng CO2 gia tăng mà cả lượng khí metan, nitrous oxide (NO) và khí CFC-11 phá hủy tầng ozon cũng đang tăng lên. Tổng Thư ký WMO Petteri Taalas cảnh báo, nếu lượng CO2 và các khí thải nhà kính khác không được nhanh chóng cắt giảm, sự sống trên Trái đất sẽ đối mặt các hậu quả nặng nề.

    Các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu sinh vật biển, thuộc Đại học Hawaii (Mỹ) nhấn mạnh, đến cuối thế kỷ 21, nhiều nơi trên thế giới có nguy cơ cao phải hứng chịu cùng lúc một loạt thiên tai, từ những đợt nắng nóng, cháy rừng tới những cơn mưa và bão lớn. Nguyên nhân chính là do các loại khí thải gây hiệu ứng nhà kính tràn ngập trong không khí, kích thích sản sinh ra các tác nhân đe dọa sự sống. Vụ cháy rừng mới đây ở bang California (Mỹ) được xem là vụ hỏa hoạn tồi tệ nhất trong lịch sử bang này, khiến hàng trăm người chết và mất tích, là một thí dụ điển hình.

    Theo Hiệp định Paris ký năm 2022 về chống BĐKH, gần 200 quốc gia đã cam kết giữ nhiệt độ toàn cầu tăng dưới mức 2 độ C so thời kỳ tiền công nghiệp và theo đuổi các nỗ lực để hạn chế ở mức 1,5 độ C. Ông Andrew King, giảng viên về khoa học khí hậu thuộc Đại học Melbourne (Australia) nhận định: “Cánh cửa” để duy trì mức tăng nhiệt độ toàn cầu dưới 1,5 độ C đang khép lại nhanh chóng và các kết quả đạt được từ việc thực hiện các cam kết phát thải hiện nay của các bên ký Hiệp định Paris không bảo đảm cho chúng ta đạt được mục tiêu đó”.

    Báo cáo của IPCC khẳng định, BĐKH là không thể phủ nhận và những gì xảy ra tiếp theo còn tồi tệ hơn. Các rạn san hô sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, với khoảng 70% – 90% diện tích dự báo sẽ chết. Còn theo kết quả một nghiên cứu mới đây do các chuyên gia thuộc Đại học Kỹ thuật Delf (Hà Lan) thực hiện, một diện tích băng lớn, khoảng 300 km2, đang bị nứt và có nguy cơ tách rời khỏi lớp nền của đảo băng Pine tại Nam Cực. Tần suất các vụ nứt ngày càng tăng, cho thấy băng ở Nam Cực đang tan nhanh hơn so dự kiến. Trong một báo cáo mới đây về nguồn nước quốc gia, Bộ Môi trường & Phát triển bền vững Colombia cũng cảnh báo, sông băng Santa Isabel, một trong những dòng sông băng lớn nhất tại miền trung nước này, có nguy cơ biến mất trong vòng 10 năm tới.

    Theo New York Daily News, Chương trình Nghiên cứu biển đổi toàn cầu của Mỹ mới đây công bố, vào cuối thế kỷ 21, BĐKH có thể sẽ khiến Mỹ thiệt hại hàng trăm tỷ USD mỗi năm, cao hơn GDP của nhiều bang ở Mỹ. Trái đất ấm lên, mực nước biển dâng cao, thời tiết khắc nghiệt khiến loài người có nguy cơ đối mặt tình trạng mất an ninh nghiêm trọng. Các chuyên gia cho rằng, người dân tại các khu vực kém phát triển, như châu Phi, dễ bị tổn thương nhất, khi phải vật lộn với hạn hán, lũ lụt, đói nghèo và thiếu nước sạch.

    Chưa quá muộn để hành động

    Báo cáo của IPCC nhận định, để giữ cho nhiệt độ Trái đất chỉ tăng ở mức 1,5 độ C so thời kỳ tiền công nghiệp, lượng khí thải CO2 toàn cầu vào năm 2030 cần giảm là 45% so mức của năm 2010, và xuống mức “không phát thải” vào khoảng năm 2050. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi những thay đổi rộng rãi trong lĩnh vực năng lượng, công nghiệp, xây dựng, giao thông và đô thị. Một số phương pháp để hạn chế thải khí CO2 ra bầu khí quyển đã được đưa ra, trong đó có việc thúc đẩy các quy trình tự nhiên và phát triển công nghệ lưu trữ, sử dụng năng lượng từ nước, gió, thay thế năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch.

    Báo The Jakarta Post dẫn kết quả báo cáo do một liên minh gồm 38 tổ chức phi chính phủ thực hiện được công bố mới đây cho hay, việc khôi phục hệ sinh thái rừng tự nhiên, bảo đảm quyền sử dụng đất của các cộng đồng dân cư bản địa và điều chỉnh hệ thống cung cấp thực phẩm toàn cầu, có thể góp phần giảm tới 40% lượng khí thải nhà kính vào năm 2050. Theo tính toán của giới chuyên gia, tới năm 2050, nếu các nước giàu giảm được 90% lượng thịt tiêu thụ, môi trường sinh sống bền vững cho khoảng 10 tỷ cư dân trên Trái đất có thể được bảo đảm. Việc giảm 30% lượng thực phẩm dư thừa hiện nay cũng sẽ giúp giảm 500 triệu tấn khí CO2, khoảng 1% tổng lượng khí phát thải.

    Tại Hội nghị BĐKH trực tuyến diễn ra ngày 21-11 vừa qua, Tổng Thư ký LHQ Antonio Guterres cho rằng, thế giới vẫn chưa hành động đủ nhanh và mạnh mẽ để ứng phó sự ấm lên của Trái đất, vì thế cần ngay lập tức giải quyết thực trạng này. Chủ tịch Đại Hội đồng LHQ Maria Fernanda Espinosa cho rằng, lượng khí CO2 hiện nay đang ở mức cao nhất trong vòng 800 nghìn năm qua. Riêng trong năm 2022, thiên tai gây ra thiệt hại hơn 500 tỷ USD cho toàn thế giới. Tuy nhiên, bà Espinosa khẳng định vẫn chưa quá muộn để hành động.

    Châu Phi là một trong những khu vực được quan tâm nhất trong việc đối phó BĐKH. Theo báo cáo Chỉ số tổn thương do BĐKH của LHQ năm 2022, có tới 79 thành phố châu Phi nằm trong danh sách 100 thành phố có tốc độ tăng dân số nhanh nhất thế giới đứng trước tác động nghiêm trọng của BĐKH. Các chuyên gia cảnh báo, gần 50% GDP của châu Phi (khoảng 1.400 tỷ USD) có nguy cơ “bốc hơi” vào năm 2023 do tác động của tình trạng nóng lên toàn cầu. Giới khoa học cho rằng, chính quyền các cấp tại châu Phi cần ưu tiên bảo đảm thích nghi với những tác động không thể tránh khỏi của BĐKH. Chính phủ các nước cũng cần tích hợp khả năng thích ứng với BĐKH trong tất cả các chiến lược phát triển; cân bằng tăng trưởng kinh tế với quản lý môi trường thông minh; phổ biến và nâng cao sự hiểu biết của các cộng đồng dân cư về khí hậu…

    BĐKH đang diễn ra nhanh hơn phản ứng của các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ 24 các bên tham gia Công ước khung của LHQ về BĐKH (COP 24), dự kiến khai mạc tại Ba Lan ngày 2-12 tới được kỳ vọng sẽ “hồi sinh” Hiệp định Paris về chống BĐKH, vốn bị giảm hiệu lực sau khi Tổng thống Donald Trump tuyên bố rút Mỹ khỏi văn kiện này vào tháng 6-2017, với lý do thiếu công bằng với Mỹ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Và Các Biện Pháp Khắc Phục
  • Điều Kiện Để Giải Pháp Kỹ Thuật Được Bảo Hộ Dưới Danh Nghĩa Sáng Chế
  • Năm Cách Để Cải Thiện Kỹ Năng Nghe Tiếng Anh
  • Giải Pháp Nhằm Cải Thiện Kỹ Năng Nói Tiếng Anh Cho Sinh Viên Ngành Công Nghệ Thông Tin
  • Dịch Tài Liệu Kỹ Thuật Tiếng Anh
  • Hậu Quả Của Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Đối Với Việt Nam Và Thế Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì? Các Nguyên Nhân Gây Biến Đổi Khí Hậu
  • Giải Pháp Giảm Ảnh Hưởng Của Biến Đổi Khí Hậu Đến Đa Dạng Sinh Học
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì? Nguyên Nhân Và Hậu Quả
  • Đâu Là Nguyên Nhân Gây Biến Đổi Khí Hậu, Hậu Quả Của Chúng Là Gì?
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì ?! Những Nguyên Nhân Và Hiện Tượng Biến Đổi Khí Hậu Chủ Yếu !
  • Biến đổi khí hậu là vấn đề đang được cả thế giới quan tâm hiện nay. Băng tan, thời tiết thay đổi, nước dâng lên, trái đất nóng dần… là những hậu quả của biến đổi khí hậu.

    A. Hậu quả của biến đổi khí hậu ở Việt Nam

    1. Tác động đến môi trường

    Gần đây, các bản tin đang rất xôn xao về tỉ lệ ô nhiễm bụi của các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh đang ở mức đáng báo động, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Bên cạnh đó môi trường ô nhiễm, nguồn cung cấp nước sạch không đủ khiến nhiều hộ gia đình, doanh nghiệp lo lắng không có nước sản xuất.

    Nhiệt độ của cả nước có xu hướng tăng lên. Nhiệt độ trung bình tăng lên 2,6 độ ở Tây Bắc, tăng 2,5 độ ở Đông Bắc, tăng 2,4 độ ở đồng bằng Bắc Bộ, tăng 2,8 độ ở Bắc Trung Bộ, tăng 1,9 độ ở Nam Trung Bộ, tăng 1,6 độ ở Tây Nguyên và tăng 2 độ ở Nam bộ so với nhiệt độ trung bình những năm 1980-1999.

    3. Tác động về lượng mưa

    Lượng mưa ở tất cả các khu vực trong nước có xu hương tăng lên. Lượng mưa trung bình cả nước tăng 5% so với lượng mưa trung bình những năm 1980 -1999. Hiện tượng xạc lở đất, lũ lụt cũng xảy ra nhiều trong nhưng năm gần đây.

    Các nhà nghiên cứu dự báo mực nước biển sẽ tăng lên khoảng 30cm vào năm 2050 và 75cm vào cuối thế kỉ 21. Theo Bộ Tài Nguyên và Môi Trường mực nước biển ở Vịnh Hạ Long, Đồi Sơn tăng khoảng 20cm, Trung bình mực nước biển Việt Nam tăng 12cm.

    Mực nước biển tăng lên ảnh hưởng rõ nhất ở khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, mực nước tăng lên 100cm thì 38,9% đất ỏ ĐBSCL bị ảnh hưởng, Kiên Giang 76,9% và Hậu Giang 80,62%. Diện tích đất giảm, đất nông nghiệp nhiễm mặn, sản lượng lúa kém ảnh hưởng tới kinh tế, lương thực đất nước.

    5. Tác động đến trồng trọt chăn nuôi

    • Trồng trọt: Thời tiết nắng nóng thất thường ảnh hưởng đến sinh trưởng và trồng trọt. Diện tích đất trồng nông nghiệp giảm ảnh hưởng đến năng xuất.
    • Chăn nuôi: Thời tiết thay đổi, sản lượng nông nghiệp thay đổi, nguồn thức ăn giảm, nguồn nước sạch thiếu hụt… Dẫn đến sức đề khán của vật nuôi giảm, năng xuất thấp,chất lượng chăn nuôi kém.

    Môi trường nước bị ô nhiễm, nước biển dâng lên, bão lụt, sóng thần, triền cường, hải lưu… ngày càng biến đổi thất thường. Dẫn đến môi trường sinh thái biến thay đổi, tình trạng nuôi trồng thủy sản giảm, một số loại sinh vật biển có nguy cơ bị tuyệt chủng.

    7. Tác động đến đời sống con người

    1. Tác động đến các loài động vật

    Rất nhiều loài động vật hiện nay đang có nguy cơ tuyệt chủng. cho biết mức tăng trung bình 1,5° C khiến 20 – 30% loài có nguy cơ tuyệt chủng. Biến đổi khí hậu khiến các loài động vật chưa kịp thích nghi, không có khả năng sinh tồn.

    Số lượng hổ giảm còn 3.200 con. Sự nóng lên ở Hy Mã Lạp Sơn nóng lên nhanh gấp 3 lần làm số lượng báo tuyết giảm một cách rõ rệt.

    2. Tác động đến cực Nam và cực Bắc

    a. Hậu quả biến đổi khí hậu ở cực Nam

    Dải băng ở Nam Cực là khối băng lớn nhất thế giới, chiếm 90% tổng nước ngọt trên bề mặt trái đất. Dải băng này dài tầm 14 triệu km vuông, đóng vai trò cực kì quan trọng trong việc điều chỉnh nhiệt độ toàn cầu. Nhưng tấm băng này ngày càng thu hẹp lại khiến khí hậu trái đất ngày càng tăng lên.

    Nhiệt độ trung bình ở khu vực này tăng 5° C trong 100 năm qua. Dữ liệu gần đây cho thấy sẽ không có băng vào mùa hè ở Bắc Cực trong vài thập kỉ tới.

    3. Tác động đến biển và đại dương

    • Đại dương là “bể carbon” hấp thụ lượng carbon dioxide lớn không cho carbon dioxide tiếp cận bầu khí quyển phía trên. Nhiệt độ nước tăng và nồng độ carbon dioxide cao, khiến đại dương có tính axit cao hơn.
    • Điều đó dẫn đến các rặng san hô giảm 70-90% khi nhiệt độ tăng 1,5 ° C, khi nhiệt độ tăng lên 2 ° C khiến các rặn san hô biến mất. Các loại cá, thủy hải sản cũng giảm dần có một số loại đang có nguy cơ tuyệt chủng.

    4. Tác động đến rừng

    • Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc hấp thu carbon dioxide (khí tạo nên hiệu ứng nhà kính, gây hiện tượng nóng lên toàn cầu) và điều hòa khí hậu thế giới.
    • Khí hậu khô hạn, thời tiết thay đổi, nắng mưa thất thường dẫn đến tình trạng khô hạn hoặc ngập lụt kéo dài. Vì thế tình trạng cháy rừng, ngập úng rừng làm giảm diện tích rừng đáng kể.
    • Biến đổi khí hậu tác động nghiêm trọng đến hệ thống kênh, rạch, sông ngòi… trên thế giới. Khí hậu nóng lên khiến không khí giữ mức nước cao hơn, lượng mưa lại giảm đi.
    • Sông ngòi là nơi quan trọng cung cấp nước cho các loại động thực vật, duy trì nền nông nghiệp và công nghiệp. Biến đổi khí hậu khiến nguồn nước trở nên ô nhiễm, hạn hán, lũ lụt thường xuyên sảy ra và kéo dài.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giảm Nhẹ Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Bằng Biện Pháp Thu Giữ, Sử Dụng Và Lưu Trữ Cacbonic
  • 5 Nhóm Giải Pháp Giảm Nhẹ Rủi Ro Thiên Tai Do Biến Đổi Khí Hậu
  • Việt Nam Hành Động Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu
  • Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam: Những Vấn Đề Lớn Cần Giải Quyết
  • Một Số Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100