Thực Trạng Giáo Dục Việt Nam Ta Hiện Nay

--- Bài mới hơn ---

  • Những Thuận Lợi, Khó Khăn Và Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Đại Học Của Việt Nam Hiện Nay.
  • Tìm Giải Pháp Cho Giáo Dục Mầm Non Vn
  • Học Online Có Là Giải Pháp Cho Thời Đại Internet?
  • Giải Pháp Thu Hút Khách Du Lịch Quốc Tế Đến Việt Nam
  • Giải Pháp Nào Giúp Du Lịch Việt ‘vượt Bão’ Thời Covid
  • Giáo dục đào tạo đã từ lâu là một yếu tố rất quan trọng, thiết yếu trong việc phát triển của một đất nước. Các quốc gia trên thế giới, không chỉ riêng đất nước Việt Nam tươi đẹp của chúng ta, họ đều lấy giáo dục làm quốc sách hàng đầu để phát triển đất nước.

    Thực trạng, vấn đề giáo dục hiện nay

    Thế nhưng nền giáo dục của đất nước chúng ta hiện nay vẫn còn chứa đựng những bất cập, chưa vững chắc:

    – Hiện nay giáo dục chú trọng quan tâm đến số lượng nhiều hơn chất lượng

    – Nội dung, chương trình giảng dạy còn lạc hậu, lỗi thời, chưa đổi mới, cải tiến hiệu quả. Chưa áp dụng thực tiễn nhiều, chưa phát huy được tính sáng tạo, năng lực thực hành cho học sinh

    Giáo dục việt nam hiện nay chỉ quan tâm đến việc dạy “chữ” cho học sinh. Thế nhưng việc dạy “nhân” và “nghĩa” thì lại bị buông lỏng, giảm sút, nhất là các mặt đạo đức, lối sống. Việc cho học sinh có thể thực hành được các bài học vẫn chưa được đẩy mạnh, khiến cho kĩ năng thực hành, tư duy sáng tạo của học sinh sinh viên bị hạn chế rõ rệt

    – Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn rất nhiều bất cập, như việc phân phối cán bộ giảng dạy vẫn còn chưa hợp lý về các trường học. Bên cạnh đó còn có nhiều cán bộ giảng dạy không có tâm đối với học trò của mình

    – Việc định hướng và liên kết với nước ngoài trong chương trình giáo dục còn lúng túng, mơ hồ, chưa có mục tiêu, phương hướng rõ ràng

    – Tư duy của nền giáo dục còn chậm đổi mới, chưa theo kịp tốc độ phát triển, đổi mới của đất nước trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, phát triển và hội nhập với thế giới. Việc thực hành cần được áp dụng từ ngay khi còn học phổ thông, để các em có thể phát triển tư duy, sáng tạo, chọn lựa cho mình những ngành nghề phù hợp nhất với bản thân mình

    Nguyên nhân và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục

    Chương trình đào tạo

    Thiết nghĩ chương trình đào tạo cần cải tiến đổi mới, cập nhập hằng năm, kết nối thực tiễn với hàng lâm, đưa các buổi ngoại khóa để học sinh có cơ hội được trải nghiệm cuộc sống bên ngoài một các trực tiếp nhất. Các môn học cần được phân bố lượng thời gian hợp lý, để lượng kiến thức lý thuyết 30% và thực hành 70%

    Chất lượng đầu vào

    Chất lượng đầu vào của nhiều cơ sở giáo dục đào tạo còn quá thấp, khiến cho chất lượng học tập tiếp thu của sinh viên còn chưa tốt. Đa số học sinh còn học tập một cách thụ động, thiếu đóng góp cho bài học của giảng viên.

    Phương pháp giảng dạy

    Nhìn chung, chất lượng và lực lượng của đội ngũ cán bộ giảng dạy ngày càng được nâng cao. Thế nhưng phuong pháp giảng dạy của các thầy cô vẫn mang tính thuyết giảng, làm cho học sinh sinh viên chỉ tiếp thu được một cách thụ động, dạy 1 biết 1, không có hướng cho học sinh tự mày mò, tìm hiểu được.

    Mặc phác, các phương tiện giảng dạy hiện nay còn hạn chế nên các thầy cô chưa thể truyền tải hết phần hồn và nội dung của bài học cho học sinh được

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nợ Công Ở Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp Tăng Cường Quản Lý
  • Luận Văn Tiểu Luận Hậu Quả Và Giải Pháp Cho Nợ Công Ở Việt Nam
  • Hàm Ý Chính Sách Cho Giải Pháp Quản Lý Nợ Công Của Việt Nam
  • Giải Pháp Cho Vấn Đề Nợ Công Của Việt Nam
  • Cổng Từ An Ninh Chống Trộm Dành Cho Shop Mỹ Phẩm
  • Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiến Nghị Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Việt Nam
  • Thực Trạng Chất Lượng Giáo Dục Việt Nam Hiện Nay
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chính Trị Cho Hạ Sĩ Quan, Chiến Sĩ Ở Quân Chủng Phòng Không
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Lý Luận Chính Trị Ở Tỉnh Ta
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chính Trị, Đáp Ứng Tốt Yêu Cầu Nhiệm Vụ
  • Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan phát biểu tại Hội nghị

    Tham dự hội nghị có Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, Ban thường trực Uỷ ban TƯ Mặt trận Tổ quốc VN, đại diện lãnh đạo các ban, đơn vị, Ban chủ nhiệm các Hội dồng tư vấn và một số uỷ viên Hội đồng tư vấn Khoa học – Giáo dục của Uỷ ban TƯ Mặt trận Tổ quốc VN, cùng đại diện Ban tuyên giáo TƯ, Ban dân vận TƯ, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Bộ GD&ĐT, các đoàn thể chính trị – xã hội và các chuyên gia về lĩnh vực GD-ĐT…

    Tại Hội nghị, các đại biểu, nhân sĩ, trí thức, chuyên gia có uy tín trong xã hội , đại diện lãnh đạo các cơ quan, tổ chức đoàn thể, các hội đồng tư của Uỷ ban TW Mặt trận Tổ quốc VN đã phát biểu ý kiến trao đổi về các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo hiện nay.

    Với những lập luận sắc bén, giàu giá trị thực tế, đứng ở nhiều góc cạnh khác nhau để tiếp cận vấn đề, GS Hồ Ngọc Đại, GS Văn Như Cương… đã đưa ra những hiến kế trong “Giải pháp nâng cao chất lượng GD phổ thông”; GS Trần Phương, GS Hoàng Xuân Sính, GS Nguyễn Minh Thuyết, GS Nguyễn Mậu Bành, GS Phạm Minh Hạc tập trung vào các giải pháp “Huy động và sử dụng nguồn lực cho sự nghiệp GD – ĐT”, Nâng cao chất lượng đào tạo nghề, GD trung học chuyên nghiệp, CĐ, ĐH”, “Nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học” và “Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo”…

    Phát biểu tại Hội nghị, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đánh giá cao và bày tỏ sự trân trọng trước những đóng góp, hiến kế tâm huyết, thể hiện trình độ chuyên môn cao và nhiều kinh nghiệm quí báu của các đại biểu.

    Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan khẳng định: Vai trò to lớn của GD – ĐT là tạo ra một nguồn giá trị gia tăng to lớn thúc đẩy xã hội phát triển. Quốc gia nào tạo ra được nguồn giá trị gia tăng nhanh nhất, bền vững nhất chính là nhờ đã tập trung đầu tư cho GD – ĐT. Cách dạy như hiện nay cho hiệu quả thấp, sản phẩm đào tạo không đạt yêu cầu.

    Những nút thắt cản trở GD phát triển có thể gỡ được, nhưng phải gỡ dần, chỉ riêng một mình Bộ GD&ĐT không làm nổi, cần có sự chung tay góp sức của toàn xã hội, của mỗi gia đình…

    Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển phát biểu tại Hội nghị

    Thay mặt Bộ GD&ĐT, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển trân trọng ghi nhận những đề xuất, những giải pháp hiến kế giàu trí tuệ và đầy tinh thần trách nhiệm của những người luôn tâm huyết, cống hiến cho sự nghiệp phát triển nền giáo dục của đất nước.

    Những đóng góp thiết thực này sẽ giúp Bộ GD&ĐT hoàn thiện hơn nữa bản dự thảo Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” trình Hội nghị lần thứ 8 BCH Trung ương Đảng khóa XI xem xét phê duyệt trong thời gian tới.

    Kỳ Vũ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Của Ngành Giáo Dục Và Đào Tạo Gắn Với Thực Hiện Đề Án 25 Của Huyện Giai Đoạn 2022
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Đại Trà
  • Một Vài Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Chữ Viết
  • Kế Hoạch Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Thực Trạng Chất Lượng Giáo Dục Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chính Trị Cho Hạ Sĩ Quan, Chiến Sĩ Ở Quân Chủng Phòng Không
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Lý Luận Chính Trị Ở Tỉnh Ta
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chính Trị, Đáp Ứng Tốt Yêu Cầu Nhiệm Vụ
  • Tăng Lương Giáo Viên Chưa Phải Giải Pháp Triệt Để Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Một Số Giải Pháp Quản Lý Nhằm Xây Dựng Đội Ngũ Giáo Viên, Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Lý luận

    Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng là nhân tố chìa khóa, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, các chính phủ đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Vậy tại sao giáo dục đào tạo lại có tầm quan trọng đến chiến lược phát triển đất nước như vây?

    – Thứ nhất: Giáo dục đào tạo là điều kiện tiên quyết góp phần phát triển kinh tế.

    – Thứ hai: Giáo dục đào tạo góp phần ổn định chính trị xă hội.

    – Thứ ba: Và trên hết giáo dục đào tạo góp phần nâng cao chỉ số phát triển con người.

    Hiểu được điều này, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia rất coi trọng sự phát triển của nền giáo dục, đã và đang củng cố xây dựng nền giáo dục thực sự vững mạnh và có chất lượng. Vì vậy mà trong suốt những năm qua Đảng và nhà nước đã luôn quan tâm và tập trung đầu tư rất nhiều cho nền giáo dục Việt Nam.

    Hơn nửa thế kỷ qua nền giáo dục Việt nam nói chung và giáo dục đại học nói riêng đã đạt được nhiều thành tích to lớn trong sự nghiệp giải phóng, xây dựng và phát triển đất nước. Giáo dục đại học đã đào tạo bài bản và cung cấp cho đất nước một đội ngũ cán bộ đông đảo có trình độ đại học, trên đại học đáp ứng yêu cầu thực tiễn của đất nước, cũng như yêu cầu của sự hội nhập khu vực và thế giới trên mọi lãnh vực. Với quan điểm “Đầu tư cho giáo dục là quốc sách”, Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều nghị quyết về phát triển giáo dục, đào tạo khoa học và công nghệ khẳng định tầm quan trọng, định hướng cũng như xác định mục tiêu, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đại học. Thực hiện nghị quyết của Đảng, Chính phủ và Bộ giáo dục đào tạo đã đưa ra nhiều mô hình đào tạo đại học. Do vậy, tốc độ tăng của giáo dục và đào tạo đại học tăng nhanh. Hiện trên cả nước có khỏang gần 90 cơ sở đào tạo đại học bao gồm các trường đại học quốc gia, đại học vùng, các trường đại học công lập, bán công, dân lập và các học viện. Tới đây sẽ có thêm một số trường đại học tư thục ra đời. Lực lượng giảng viên không ngừng nâng cao về chất lượng và quy mô, số lượng sinh viên tăng đáng kể (tăng khoảng 15 lần so với 20 năm trước) và do đó làm cho trình độ dân trí tăng lên rõ rệt. Thành tích trên là đáng trân trọng và tôn vinh. Mặc dù như vậy, nhưng chất lượng giáo dục của Việt Nam vẫn chưa cao, nói một cách nom na là số lượng thì tăng rất nhanh nhưng chất lượng vẫn không tăng thậm chí là còn tuột dốc, chưa theo kịp với sự đổi mới của thế giới. Như vậy những quan tâm và đầu tư của nhà nước đã thật sự đúng cách và đúng chỗ ?

    Nội dung đề tài này sẽ xoay quanh những bất cập của nền giáo dục Việt Nam về thưc trạng, về những nguyên nhân làm cho nền giáo dục Việt Nam chưa theo kịp với bè bạn quốc tế từ đó đề ra hướng giải quyết cho những khó khăn của ngành giáo dục Việt Nam hiện nay, và những yêu cầu cải cách đổi mới để thực hiện nhiệm vụ của ngành giáo dục.

    Vận dụng

    Thực trạng nền giáo dục Việt Nam hiện hành.

    – Hiện nay có khuynh hướng đề cao khái niệm “đại học quốc tế chất lượng cao”, cơ bản xây dựng đại học tốt là điều kiện”cần có”, nhưng điều kiện “đủ” là chúng ta phải có bản thân sinh viên là những hạt giống tốt, nhân tố tốt. Rõ ràng lâu nay giáo dục Việt Nam cũng chỉ lo đào tạo số lượng sinh viên đầu ra mà quên đi vấn đề quan trọng là thế hệ thanh niên thật sự đóng góp như thế nào vào sự nghiệp phát triển đất nước. Hàng loạt kỹ sư, cử nhân Việt Nam ra trường nhưng thử hỏi có bao nhiêu người đạt được trình độ kỹ thuật của kỹ sư? Bao nhiêu người dùng được? Bao nhiêu người làm việc theo đúng ngành nghề mình đã học, đó là một sự lãng phí lớn. Thậm chí ngày nay học sinh, sinh viên chỉ lo đạt bằng TOEFL này, TOEIC kia nhưng chính tiếng Việt lại sử dụng không chuẩn. Trong khi cha ông ta ngày xưa số lượng ông Cử đếm trên đầu ngón tay nhưng đào tạo người nào ra người nấy. Họ không chỉ thông thạo ngoại ngữ mà còn giỏi thơ văn, rành văn hóa nước nhà. Vì sao lại có nghịch lý như thế? Hiện nay chúng ta cũng không có một ngành thống kê thực tế phục vụ nghiên cứu chính sách. Xây dựng trường đại học mang tầm quốc tế chỉ là điều kiện”cần” nhưng chưa “đủ”. Trên thế giới người ta rất quan tâm đến những thợ giỏi, chuyên viên kỹ thuật cao. Đất nước đang trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa mà sinh viên không chịu học kỹ thuật, chỉ tập trung không cân bằng vào các ngành dễ được xã hội “chấp nhận” thì làm sao phát triển công nghiệp, làm sao hiện đại hoá đất nước? Việt Nam muốn phát triển nền khoa học kỹ thuật thì phải đào tạo khoa học kỹ thuật trên bình diện rộng.

    Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển, có những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước. Nhưng đồng thời nền giáo dục đang ẩn chứa rất nhiều yếu kém, bất cập:

    – Giáo dục-đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập chậm được khắc phục; chất lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng; so với yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt; chưa thực sự là quốc sách hàng đầu.

    – Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp; chưa phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên.

    – Chất lượng giáo dục có mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy “người” và dạy “nghề” vẫn yếu kém; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử dân tộc, tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, kỹ năng sống…

    – Hệ thống giáo dục quốc dân không hợp lý, thiếu đồng bộ, chưa liên thông, mất cân đối.

    – Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, chậm đổi mới, là nguyên nhân chủ yếu của nhiều nguyên nhân khác; cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi mới, còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực khác của đất nước.

    – Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn nhiều bất cập, đạo đức và năng lực của một bộ phận còn thấp.

    – Chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục; định hướng liên kết với nước ngoài trong phát triển giáo dục còn nhiều lúng túng, chưa xác định rõ phương châm.

    – Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới-phát triển đất nước trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; khoa học giáo dục chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục còn nhiều bất cập.

    – Các cơ quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Đảng thành cơ chế, chính sách của Nhà nước; thiếu nhạy bén trong công tác tham mưu, thiếu những quyết sách đồng bộ và hợp lý ở tầm vĩ mô (có khi chính sách được ban hành rồi nhưng chỉ đạo tổ chức thực hiện không đến nơi đến chốn, kém hiệu quả); một số chính sách về giáo dục còn chủ quan, duy ý chí, xa thực tế, thiếu sự đồng thuận của xã hội.

    Những vấn đề, những yếu kém và bất cập nêu trên của giáo dục không thể giải quyết khắc phục được căn bản chỉ bằng các giải pháp cục bộ, đơn lẻ, bề mặt nhất thời, thiếu chiến lược và tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng bộ và hệ thống, chưa đạt tới chiều sâu bản chất của vấn đề. Để giải quyết được căn bản những vấn đề đặt ra, những người lãnh đạo – quản lý, những nhà khoa học, những người làm giáo dục phải có cách nhìn toàn diện, đầy đủ, khách quan, như các văn kiện của Đảng đã nêu, sâu hơn, bản chất hơn những gì nêu trên báo chí và những báo cáo tổng kết thành tích.

    Nguyên nhân

    (1). Về phía người dạy

    Mặc dù chất lượng và số lượng của lực lượng đội ngũ giảng viên ngày một nâng cao nhưng phương pháp giảng dạy vẫn chủ yếu mang tính thuyết giảng, làm người học tiếp thu một cách thụ động, nội dung giảng dạy mang năng lý thuyết, thiếu cập nhật thực tiễn dẫn tới xơ cứng, giáo điều, tính ứng dụng thấp. Mặt khác, việc sử dụng các phương tiện phục vụ cho giảng dạy chưa nhiều do vậy mà không thể truyền tải hết lượng thông tin cần cung cấp cho người học, số thời gian của giảng viên dành cho lên lớp tại các trường quá lớn, cho nên hạn chế thời gian nghiên cứu khoa học và nghiên cứu thực tế. Đời sống của ngưới Thầy còn nhiều khó khăn : Hiện nay giáo viên đang được hưởng mức lương thuộc nhóm cao, nhưng thực tế xã hội ta hiện nay không sống bằng lương , các ngành khác lương thấp nhưng cuộc sống thoải mái hơn nhiều. Đây là vấn đề cần phải xem lại chính sách lương bổng của chúng ta đối với thầy cô giáo. Nếu chúng ta thử tính một gia đình nhà giáo , hai người dạy học, có hai con đúng tiêu chuẩn, nếu họ là nhà giáo chân chính, chuyên tâm dạy học thì với đồng lương của họ nuôi con đi học tới lớp mấy ?

    (2). Về phía người học

    Chất lượng đầu vào của nhiều cơ sở đào tạo đại học quá thấp, thấp đến mức không thể thấp hơn được nữa, chủ yếu tập trung vào các trường xét tuyển, tính chủ động sáng tạo trong học tập và nghiên cứu của sinh viên nhìn chung chưa cao, thiếu tư duy khoa học, đại đa số học thụ động, học theo phong trào, học cho qua “học theo hội chứng bằng cấp” , do vậy khi tốt nghiệp chưa đủ kiến thức để đáp ứng được yêu cầu bức xúc của thực tế và bị thực tiễn chối bỏ. Chỉ số chất lượng đào tạo so với các nước trong khu vực đứng hạng 10 trên 12 nước.

    (3). Về chương trình đào tạo

    Chương trình đào tạo chậm cải tiến đổi mới,̀ thiếu tính cập nhật, lý thuyết chưa gắn với thực tiễn, các môn học quá nhiều và cơ cấu thời lượng chưa hợp lý, dẫn tới sinh viên Việt Nam học quá nhiều nhưng kiến thức lại chưa phù hợp với thực tiễn.

    (4). Giáo dục còn quá yếu kém và lạc hậu, thiếu đồng bộ, thiếu đầu tư nâng cấp

    Những tồn tại trên đã làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo dục đào tạo đại học mà nguyên nhân chính vẫn là tư duy của người dạy, người học và cơ chế quản lý chưa phù hợp đã tạo những “Sản phẩm” chất lượng kém vừa thiếu kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, phương pháp làm việc vừa kém về năng lực nhận thức, tư duy và phương pháp nghiên cứu khoa học, xã hội không thừa nhận và rồi “Sản phẩm” của giáo dục đào tạo đại học không có chỗ đứng trên thị trường, người học xong đại học khó hoặc không tìm được việc làm.

    -Nội dung chương trình và sách giáo khoa chưa phù hợp: Hiện nay đang từng bước thực hiện thay sách giáo khoa, đổi mới chương trình, có định hướng giáo dục toàn diện cho học sinh, khắc phục những thiếu sót trước đây chủ yếu dạy kiến thức, nặng về lý thuyết, chưa quan tâm đến giáo dục tình cảm và hành động cho học sinh .

    – Cơ chế quản lý đối với ngành giáo dục chưa phù hợp : Hiện nay ngành giáo dục các địa phương chịu sự tác động hàng ngang của địa phương nhiều hơn là chịu tác động hàng dọc của Bộ giáo dục – đào tạo. Các trường phổ thông dạy học, thi cử đúng như quy chế của Bộ giáo dục – đào tạo, nhưng nếu học sinh thi rớt nhiều, lưu ban nhiều thì địa phương sẽ có ý kiến , thậm chí có những ý kiến chỉ đạo, “bệnh thành tích”có cơ hội để phát triển trong cơ chế quản lý giáo dục hiện nay.

    Đánh giá – nhận xét

    Việt Nam trên trường quốc tế

    Có lẽ chưa bao giờ đề tài giáo duc được đem ra bàn luận nhiều như thời điểm hiện tại. Nguyên nhân trực tiếp có lẽ là từ giải thưởng toán học Fields của giáo sư Ngô Bảo Châu, một ” hiện tượng ” mới đang chiếm đa số trên các mặt báo của Việt Nam và cả quốc tế. Từ chuyện gốc gác đến giá trị nền tảng mà anh thừa hưởng, từ chuyện riêng, đời tư đến tầm ảnh hưởng chính trị quốc gia…vẫn đang là những đề tài tranh luận sôi nổi của giới chuyên môn. Tuy nó chưa đến hồi kết, nhưng rất nhiều người đã lấy làm tự hào về nền giáo dục Việt Nam từ sự kiện này. Một thái độ cần được xem lại, cần được soi chiếu với một thực trạng mà các chuyên gia nước ngoài gọi là ” khủng hoảng trầm trọng về giáo dục “. Chúng ta sẽ nhìn lại vấn đề này qua các số liệu thống kê từ các diễn đàn, cũng như các báo cáo khoa học chính thức trong thời gian gần đây.

    Trong bảng xếp hạng thứ tự các trường đại học đạt tiêu chuẩn quốc tế từ trước đến nay thì Việt nam chưa có lấy một đơn vị góp tên trong ” top 200 “. Mới đây nhất, năm 2009, người ta công bố 100 trường đại học nổi tiếng trên thế giới, Việt nam vẫn là một ” hành tinh ” chưa ai nghĩ đến, trong khi Nhật bản có đến 4 trường trong các vị trí khác nhau, Singapo, Hàn quốc, Trung Quốc đều là những quốc gia góp mặt ở những vị trí đáng tự hào.

    Hiện nay ở Việt Nam có khoảng hơn 376 trường đại học, với khoảng 6600 giáo sư và phó giáo sư. Tuy nhiên theo ông tổng thư ký hội đồng chức danh giáo sư, nếu đánh giá đúng theo tiêu chuẩn quốc tế, Việt nam chỉ có khoảng từ 15 đến 20% có trình độ tương ứng với chức danh đó. Còn lại không chỉ thấp mà hơn dưới 1/3 rất thấp.

    Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ thi trượt đại học nhiều nhất thế giới. Hiện nay chỉ có 1/10 người ở độ tuổi học đại học được tuyển sinh. Tuy nhiên, quốc gia này đang được xếp vào những nước có tỷ lệ dân số đạt trình độ đại học trở lên thấp nhất của khu vực và trên thế giới. Ngay các nước láng giềng cũng đang phấn đấu để đạt được tỷ lệ tuyển sinh đại học là 60 – 80% hoặc cao hơn nữa, trong khi chúng ta mới chỉ đạt được khoảng 10 – 15%.

    25% chương trình học ở đại học là dành cho các môn bắt buộc và hầu hết là các môn này nhằm mục đích tuyên truyền chính trị.

    Việt Nam là một trong những quốc gia còn sót lại của nền giáo dục đại học dưới sự quản lý chặt chẽ từ trung ương, thiếu sự tự quản đến mức khó hiểu. Sự bất cập này không những ảnh hưởng đến chất lượng chuyên môn của đội ngũ giảng dạy mà còn cả các tiêu chuẩn xây dựng cơ sở vật chất.

    Mỗi năm có khoảng 20000 sinh viên ra trường và chỉ 50% được đáp ứng việc làm, trong đó chỉ 30% đúng nghành nghề. Dĩ nhiên chúng ta chưa nói đến chất lượng và thực tế chuyên môn của tầng lớp mà người ta gọi là tri thức, là bộ mặt của đất nước.

    Trong một cuộc sát hạch, đánh giá của Intel để tuyển dụng 2000 sinh viên công nghệ thông tin, chỉ có 90 ứng sinh, nghĩa là 5% vượt qua kiểm tra, và trong số đó chỉ có 40 người đủ khả năng tiếng anh theo yêu cầu tuyển dụng. Intel xác nhận, đây là kết quả tệ nhất mà họ từng gặp ở những nước mà họ đầu tư.

    Trong 10 năm từ 1996 đến 2005 chỉ có 3456 công trình nghiên cứu khoa học trên các tạp san quốc tế. Nếu đem so sánh với con số giáo sư và phó giáo sư thì trung bình mỗi vị chỉ có 0,58 bài báo cáo trong vòng 10 năm. Không những ít so với quốc tế và so với các nước trong khu vực, Việt Nam cũng đứng vào loại bét nhất : chỉ bằng 1/5 so với Thái lan ; 1/3 Malaysia ; 1/14 Singapo ; thậm chí thấp hơn cả Indonésia và Philippin.

    Chất lượng sinh viên tốt nghiệp ở Việt nam thấp hơn một bậc so với nước ngoài. Theo một giảng trình viên của cuộc hội thảo về toán lý hóa : ” trình độ của sinh viên tốt nghiệp ở Việt nam chỉ bằng chương trình đại cương của đại học nước ngoài, cao học bằng đại học và tiến sĩ bằng cao học “.

    Việt nam là nước có tỉ lệ ” giả tri thức, tiến sĩ giấy, giáo sư dỏm ” nhiều đến mức không dám công khai điều tra vì sợ ” không có người làm việc “. Việc lấy bằng cấp không biết dễ hay khó, nhưng có lẽ Việt nam là nước duy nhất trên thế giới có ý định đòi 100% cán bộ cốt cán phải có bằng tiến sĩ ở thủ đô Hà Nội.

    Có thể nói giáo dục Việt Nam đang thực sự khủng hoảng, mà nói như các chuyên gia của đại học Harvard thì nó đã đến mức trầm trọng. Người ta vẫn thường mượn đến cái danh của những cá nhân kiệt xuất để che đậy cho một thực trạng yếu kém đến mức báo động. Một cách làm chẳng giống ai, khi cứ tâng bốc rồi ” bắt quàng làm họ ” trong lúc công trạng lại là của kẻ khác. Người Việt Nam nên vui khi có những con người làm rạng danh đất nước như nghệ sĩ Piano Đặng Thái Sơn, như bộ trưởng bộ y tế Đức Philipp Roesler, như giáo sư Ngô Bảo Châu…Tuy nhiên, chúng ta không nên đánh đồng họ với nền giáo dục Việt Nam, vì những con người này đều trưởng thành từ một nền giáo dục hiện đại ở nước ngoài. Chúng ta cũng không nên ngủ quên vì những lời tán tụng trong khi nền giáo dục của mình vẫn đang ở bậc thấp, đang mò mẫm trong mờ mịt của những bước đi sai lầm. Có lẽ sẽ sáo rỗng khi nhắc đến hai từ ” cải cách “, nhưng đó vẫn là điệp khúc cần lặp lại để hy vọng vào một tương lai sáng sủa hơn cho giáo dục nước nhà.

    Giáo dục Việt Nam chưa sát với thực tế “Học không đi đôi với hành”

    Những con số “đáng sợ” sau là minh chứng cho những bất cập của Giáo dục Đào tạo Việt Nam:

    Hơn 50% SV được khảo sát không thật tự tin vào các năng lực/ khả năng học của mình.

    Hơn 40% cho rằng mình không có năng lực tự học;

    Gần 70% SV cho rằng mình không có năng lực tự nghiên cứu;

    Gần 55% SV được hỏi cho rằng mình không thực sự hứng thú học tập.

    (Theo một nghiên cứu mới đây về phong cách học của sinh viên của chúng tôi Nguyễn Công Khanh (2008, được trích trong Mai Minh, 2008)

    Như vậy, các trường đại học ở Việt Nam muốn nâng cao chất lượng thì phải chú trọng thay đổi 3 vấn đề chính được đề cập ở trên. Những thay đổi này cần sự nỗ lực từ nhiều phía: Bộ Giáo dục, nhà trường, giảng viên và sinh viên. Biết rằng việc thực hiện rất khó khăn và phải mất một khoảng thời gian dài nhưng phải làm ngay vì nhà nước đã mở cửa cho nước ngoài đầu tư vào giáo dục và khuyến khích các cơ sở giáo dục đào tạo theo nhu cầu xã hội. Điều này tạo ra sự cạnh tranh trong Giáo dục-Đào tạo, các trường đại học phải tự đổi mới nâng cao chất lượng để tạo uy tín và thương hiệu cho mình.

    Trao đổi với GS Nguyễn Minh Thuyết, thầy cho biết:

    – Hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm được nhiều nhà khoa học cho là không phù hợp, cần rút ngắn. Là người tham gia biên soạn sách giáo khoa, giáo sư chia sẻ với quan điểm này như thế nào?

    – Xét hoàn cảnh của đa phần người học và điều kiện kinh tế của đất nước, kéo dài đến 12 năm học phổ thông là không phù hợp, lãng phí. Phần lớn các em học hết 12 năm rồi thì vẫn quay về lao động chân tay bình thường. Để được đào tạo nghề, các em lại phải đi học nghề. Trong khi đó, nếu xác định học nghề từ đầu thì chỉ cần học hết lớp 9, không cần đến hết 12.

    Tất nhiên, đã học thì cái gì cũng bổ, như học toán, nhưng học đến lớp 9 là đã đủ rèn tư duy, không cần đến các kiến thức toán nâng cao. Với một gia đình bình thường, bớt một năm nuôi con đi học là bớt được món tiền cực lớn, đó là chỉ tính đóng góp bình thường chứ chưa kể “tiêu cực phí”.

    – Theo giáo sư, chương trình phổ thông rút ngắn bao nhiêu thì hợp lý?

    – Tôi đã đưa ra đề xuất giảm bớt một năm học, theo cơ cấu “9 + 2”. Hệ thống giáo dục bắt buộc của mình là 9 năm, đây là chương trình phổ cập, ai cũng phải học và dần dần nhà nước phải miễn học phí. Sau 9 năm, thay vì học 3 năm THPT như hiện nay với đầy đủ các môn, thì bậc học này để cho học sinh tự chọn học các môn phù hợp với tương lai. Đây là 2 năm để định hướng, trên thế giới, nhiều nước cũng đã đi theo hướng này.

    Thêm nữa, thanh niên Việt Nam hiện trưởng thành sớm hơn thế hệ trước, học hết 11 năm tức là đã 17 tuổi. Ở tuổi này, thanh niên đã có nhận thức xã hội tốt và làm việc được. Đây cũng là lứa tuổi tâm sinh lý phát triển và phải chịu trách nhiệm về các hành vi.

    Thực tế các trường trung học hiện cũng chỉ dạy đến 11 năm, vì sau lớp 11, học sinh chỉ học các môn thi đại học. Chúng ta cũng cần nhìn nhận lại việc các thế hệ trước đây học 11 năm, thậm chí thế hệ kháng chiến chỉ 10 năm nhưng vẫn sản sinh ra rất nhiều giáo sư, tiến sĩ giỏi.

    Giải pháp

    Mục tiêu giáo dục của ta hiện nay là “Nâng cao dân trí , đào tạo nhân lực , bồi dưỡng nhân tài ” . Theo công bố của chương trình phát triển Liên hiệp quốc ( UNDP ) năm 1993 về chỉ tiêu quy mô phát triển giáo dục thì so với quốc tế ta đều thấp hơn về chỉ tiêu phát triển giáo dục ở các bậc học. Về giáo dục phổ thông, ta chưa đạt mức trung bình, về cao đẳng đại học ta còn thấp hơn nước phát triển chậm. Vì vậy, muốn thực hiện được mục tiêu giáo dục đề ra chúng ta cần tích cực thực hiện các biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục :

    (1)- Tăng cường nguồn lực cho giáo dục đào tạo: Trên thế giới và trong khu vực hiện nay tỷ trọng ngân sách giành cho giáo dục – đào tạo rất cao, chúng ta do điều kiện đất nước còn nghèo , nguồn cung cấp ngân sách cho giáo dục- đào tạo còn hạn chế, đang phấn đấu để đạt con số 15 % và sau đó cần phải tăng hơn nữa . Ngoài ngân sách nhà nước hiện nay chúng ta đang huy động các nguồn lực ngoài ngân sách, xã hội hoá giaó dục để tăng nguồn lực cho giáo dục đào tạo . Hiện nay có nhiều nước trên thế giới coi giáo dục là một ngành kinh doanh, kinh doanh công nghệ dạy học, chúng ta nên tạo điều kiện kêu gọi họ tham gia xây dựng cơ sở vật chất và nội dung chương trình giáo dục cho ta. Ngoài ra ta nên có chủ trương cho các trường chuyên nghiệp, dạy nghề lập cơ sở sản xuất và dịch vụ khoa học đúng với ngành nghề đào tạo.

    Tăng lương giáo viên

    Hiện nay, với thang bảng lương đang áp dụng, ngành GD thật khó để thu hút được đội ngũ giáo viên giỏi. Bởi nhìn vào điểm chuẩn đầu vào của các ngành sư phạm tại các trường ĐH năm 2012, người ta không khỏi giật mình.

    Tại ĐH Đà Nẵng, điểm chuẩn ngành sư phạm Vật lý là 14,5 điểm, ngành sư phạm Tin học là 13 điểm. ĐH Tây Bắc, điểm chuẩn ngành sư phạm Toán là 14 điểm, sư phạm Vât lý là 13 điểm. Như vậy, chỉ cần trung bình mỗi môn thi từ 4,5 đến 5 điểm là các bạn trẻ của chúng ta đủ tiêu chuẩn bước vào giảng đường ĐH. Đầu vào là thế, vậy ta thử nghĩ xem liệu đầu ra (sau 4 năm học tập) của số sinh viên này như thế nào? Phải chăng 4 năm ĐH sẽ giúp các sinh viên này cải thiện rõ rệt về chất để trở thành những giáo viên có đủ tự tin đứng trên bục giảng truyền đạt lại kiến thức cho học sinh?

    Trong khi đó điểm đầu vào của ĐH Ngoại thương Hà Nội năm 2009, đối với ngành Kinh tế đối ngoại (khối A) là 26,5 điểm. Tương tự ngành thấp nhất, điểm trúng tuyển cũng đã là 23,5 điểm. ĐH Kinh tế Quốc dân điểm trúng tuyển thấp nhất của khối A là 22,5 điểm. Tại sao lại có nghịch lý này?

    Đơn giản, bởi khi ra trường một sinh viên học về kỹ thuật, hay thương mại, kinh tế nếu làm cho một doanh nghiệp tư nhân trong nước cũng có thể có mức lương khởi điểm từ 3 – 4 triệu đồng/tháng, và may mắn hơn nếu được làm cho các tổng công ty, tập đoàn lớn hay các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì mỗi tháng bình quân có thể thu nhập từ 6 – 10 triệu đồng, thậm chí hơn nữa. Với mức lương tháng đó, nhìn vào thang bảng lương giáo dục, người thầy không khỏi chạnh lòng.

    Bởi vì, một giảng viên có thâm niên 10 năm kinh nghiệm tại các trường ĐH lớn của Việt Nam cũng không thể có được mức lương ngang bằng một sinh viên vừa tốt nghiệp ĐH, làm cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. So sánh nhỏ này cho thấy chừng nào chúng ta chưa cải cách hệ thống thang bảng lương ngành GD, chừng đó chúng ta vẫn không thể có được đầu vào tốt cho ngành sư phạm.

    Xét về mặt kinh tế, chi phí chúng ta đánh mất trong tương lai cho vấn đề này sẽ còn cao hơn rất nhiều so với việc tăng lương cho giáo viên. Vì một giáo viên kém ảnh hưởng đến hàng trăm người, và thậm chí ảnh hưởng đến cả nhiều thế hệ. Như vậy, phải tăng lương thì ngành GD mới có cơ hội chiêu mộ được người tài.

    (2)- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục: Từng bước đổi mới nội dung sách giáo khoa, loại bỏ những kiến thức không thiết thực, bổ sung những nội dung cần thiết theo hướng bảo đảm kiến thức cơ bản, cập nhật những tiến bộ khoa học, công nghệ, tăng nội dung công nghệ ứng dụng, tăng cường giáo dục kỹ thuật tổng hợp và năng lực thực hành. Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh, coi trọng hơn nữa các môn khoa học xã hội và nhân văn , nhất là tiếng Việt, lịch sử dân tộc, địa lý và văn hoá Việt Nam. Tổ chức cho sinh viên, học sinh tham gia công tác xã hội, tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao phù hợp với yêu cầu giáo dục toàn diện.

    Nhìn rộng ra các quốc gia có nền giáo dục phát triển trên thế giới, họ đặc biệt quan tâm đến việc phát triển tư duy sáng tạo, khả năng làm việc độc lập và khả năng làm việc theo nhóm của người học. Các quốc gia này áp dụng nhiều phương pháp khác nhau nhằm khích lệ và tạo điều kiện tốt nhất để người học phát triển khả năng sáng tạo của mình. Nhiều trong số các phương phương pháp, chúng ta có thể học tập và áp dụng cho Việt Nam ngay cả ở những trường, đơn vị chưa áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ.

    Phương pháp học theo dự án mang đến cho học viên rất nhiều lợi ích, nó tạo cho học viên khả năng kết hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực, tạo nên công cụ hỗ trợ liên ngành để giải quyết vấn đề. Đối với những vấn đề khó, phức tạp, phương pháp này tạo cho học viên khả năng khám phá, đánh giá, giải thích và tổng hợp thông tin một cách khoa học. Thông qua các hoạt động thực tế trên lớp, phương pháp này tạo cho học viên sự thích thú, hứng thú với việc học.

    Vai trò của giáo viên trong phương pháp học theo dự án có rất nhiều thay đổi so với phương pháp truyền thống. Giáo viên không đóng vai trò là người điều khiển tư duy học viên mà là người hướng dẫn, người huấn luyện, người tư vấn và bạn cùng học. Giáo viên phải tập trung vào việc hướng dẫn cho học viên, tạo cơ hội để học viên phát huy hết khả năng học tập và sáng tạo, đẩy mạnh tinh thần đồng đội làm việc theo nhóm của các học viên.

    Phương pháp người học là trung tâm mang đến nhiều lợi ích, trước hết nó loại bỏ cách dạy và học: ” Giáo viên nói, học sinh nghe”, khuyến khích sự sáng tạo từ giáo viên và học viên một cách tối đa, đồng thời tạo nên sự thân thiện giữa giáo viên và người học thông qua việc tăng cường trao đổi, học hỏi qua lại. Phương pháp người học là trung tâm tập trung sự tham gia nhiệt tình, chủ động của người học trong suốt quá trình khám phá tìm tòi, đồng thời tạo điều kiện để người học có cơ hội trình bày, bảo vệ những ý kiến sáng tạo của mình.

    + Các ảnh hưởng đối với việc học: Việc học chịu ảnh hưởng bởi các mối quan hệ giao tiếp với mọi người xung quanh. Việc học có thể nâng cao khi người học có cơ hội tiếp xúc và cộng tác với người khác. Các môi trường học cho phép tạo ra các mối tương tác xã hội, tôn trọng tính đa dạng, khuyến khích lối tư duy linh hoạt. Qua việc tiếp xúc và hợp tác với giáo viên hướng dẫn, cá nhân người học sẽ có cơ hội tiếp thu nhận thức và tư duy phản ánh, từ đó phát triển trình độ hiểu biết và hoàn thiện bản thân.

    + Mục đích của quá trình học: Bản chất chiến lược của việc học là đòi hỏi học viên phải biết định hướng mục tiêu. Để nắm vững các tri thức, kỹ năng và đạt được các chiến lược tư duy cần thiết cho việc học, học viên phải tạo ra các mục tiêu cho bản thân và theo đuổi các mục tiêu đó. Khởi đầu, các mục tiêu ngắn và việc học có thể sơ sài trong một phạm vi nào đó nhưng qua thời gian, mức độ hiểu biết của học viên có thể được xác định thông qua trình tự tìm hiểu, trao đổi và tích luỹ các tri thức cần thiết.

    Phương pháp Kỹ thuật tạo ra ý tưởng (Brainstorming).

    Tác giả của phương pháp Brainstorming (tạm dịch là kỹ thuật tạo ra ý tưởng) là Alex Osborn (Hoa Kỳ). Mục đích chính của phương pháp này là giúp người học thoát ra khỏi tư duy theo lối mòn và tạo ra một loạt các ý tưởng mà sau đó có thể lựa chọn. Phương pháp này áp dụng phù hợp với nhóm học viên.

    Một số nguyên tắc cơ bản của phương pháp kỹ thuật tạo ra ý tưởng:

    + Tôn trọng mọi ý tưởng đưa ra: Khi các ý tưởng được đưa ra, không được phép chỉ trích, phê bình ngay. Tất cả các ý tưởng đều được ghi chép lại và phân tích đánh giá ở các bước sau.

    + Tự do suy nghĩ: Không giới hạn việc đưa ra các ý tưởng bay bổng kể cả những ý tưởng khác thường bởi trên thực tế có những ý tưởng kỳ quặc đã trở thành hiện thực.

    + Kết nối các ý tưởng: Cải thiện, sửa đổi, góp ý xây dựng cho các ý tưởng. Các câu hỏi thường đặt ra: Ý tưởng được đề nghị chất lượng thế nào?. Làm thế nào để ý tưởng đó đem lại hiệu quả? Cần thay đổi gì để ý tưởng trở nên tốt hơn?…

    + Cần quan tâm đến số lượng các ý tưởng: Tập trung suy nghĩ khai thác tạo ra khối lượng lớn các ý tưởng để sau đó có cơ sở sàng lọc. Có hai lý do chính để cần số lượng lớn các ý tưởng. Thứ nhất những ý tưởng lúc đầu học viên đưa ra thông thường là các ý tưởng hiển nhiên, cũ, ít có tính sáng tạo, vì vậy cần có phương pháp để học viên tạo ra nhiều ý tưởng mới.

    Thứ hai các ý tưởng giải pháp càng nhiều, càng có nhiều ý tưởng để lựa chọn.

    Qua việc phân tích một số phương pháp giảng dạy có thể nhận định các phương pháp này có rất nhiều sự khác biệt so với phương pháp truyền thống. Trong đó sự khác biệt cơ bản nhất là vai trò của người học và người dạy đã thay đổi, sự thay đổi này đã biến quá trình học của học viên từ thụ động sang chủ động, từ việc nghe giảng sang hoạt động tư duy, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm và kích thích khả năng sáng tạo của họ.

    Trở lại với hoạt động giáo dục đào tạo ở Việt Nam, vấn đề cốt lõi vẫn là cần tìm giải pháp khắc phục những tồn tại ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo. Để nâng cao chất lượng đào tạo chúng ta cần phải cải tiến đổi mới đồng bộ về nhiều mặt: chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, đội ngũ giáo viên, … Trong đó việc đổi mới phương pháp giảng dạy sẽ là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo một cách bền vững. Đổi mới phương pháp giảng dạy sẽ tạo điều kiện tốt cho người học có thể phát huy hết khả năng tư duy của mình, biến quá trình học của người học thành quá trình phát triển tư duy sáng tạo.

    (3)- Tăng cường cơ sở vật chất cho các trường học, đưa Tin học vào quản lý và đổi mới phương pháp : Thay thế, bổ sung cơ sở vật chất và thiết bị cho các trường phổ thông, trường dạy nghề, trường đại học. Tích cực đưa Tin học vào giảng dạy, thay đổi phương pháp dạy học theo hướng tích cực. Hiện nay trên thế giới đang thực hiện những phương tiện dạy học hiện đại như: học với máy tính, với đèn chiếu overhead, với giáo án điện tử …… Chúng ta từng bước tiếp cận, nhân rộng, từng bước đưa vào sử dụng để thay đổi phương pháp dạy học .

    (4)-Đổi mới công tác quản lý giáo dục : Xây dựng quan hệ chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo với cơ quan quản lý nhân lực và việc làm

    Hiện nay ngành giáo dục đang lệ thuộc nhiều vào các lực lượng khác ngoài ngành, ví dụ tỉ lệ tốt nghiệp, tỉ lệ lên lớp, lưu ban …. “bệnh thành tích” đang làm cho ngành mất đi tính độc lập, chủ động, thậm chí quản lý nhân sự ở các ngành học phổ thông cũng không phải thuộc ngành giáo dục quản lý. Nên có định hướng quản lý ngành giáo dục theo ngành dọc toàn bộ, độc lập chỉ đạo về chuyên môn, nhân sự , ngân sách, thanh tra kiểm tra, kể cả xây dựng cơ bản, cơ sở vật chất thì ngành mới chủ động thay đổi phương pháp giáo dục .

    Tăng cường sắp xếp lại hệ thống các trường phổ thông và đại học, hệ thống trường công, trường tư, trường bán công, trường dân lập. Gắn các trường đại học và trung học chuyên nghiệp với các viện nghiên cứu để tận dụng tối ưu năng lực của đội ngũ và cơ sở vẫt chất hiện có.

    Coi trọng hơn nữa công tác nghiên cứu khoa học giáo dục nhằm giải đáp những vấn đề lý luận và thực tiễn trong giáo dục, các chủ trương, chính sách về giáo dục, những đổi mới về nội dung, quy trình, phương pháp giáo dục, đánh giá, thi …. Đều phải nghiên cứu kỹ lưỡng và trãi qua thực nghiệm, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và đưa vào nhà trường theo đúng quy định . Không tuỳ tiện cải cách, đổi mới, chỉnh lý sách giáo khoa liên tục như những lần vừa qua .

    Khó khăn nhất của chúng ta hiện nay là sự yếu kém của đội ngũ quản lý giáo dục , đây là hậu quả của chế độ quan liêu, bao cấp đã tồn tại trên đất nước ta một thời gian dài. Hiện nay chung ta đang thực hiện công cuộc đổi mới ,nhưng ta chú trọng đổi mới kinh tế, còn chính trị sẽ từng bước đổi mới. Vì vậy hệ thống giáo dục và các ngành khác đều đổi mới sau chính trị. Vì vậy một số vấn đề tiêu cực đang diễn ra trong ngành giáo dục. Mặt khác, giáo dục là ngành có nhiều quan hệ đến nhân dân, nên khi bộc lộ những điểm bất cập, ngành giáo dục sẽ bị ảnh hưởng đầu tiên nếu không khẩn trương thực hiện đổi mới tư duy trong giáo dục .

    Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về giáo dục trên cơ sở tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính giáo dục. Thống nhất một đầu mối quản lý nhà nước về giáo dục; quản lý theo pháp quyền trên cơ sở một hệ thống pháp luật giáo dục đồng bộ với sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, địa phương và triệt để phân cấp quản lý giáo dục; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các cơ sở giáo dục, nhất là các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Tăng hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục trong toàn ngành ở tất cả các cấp quản lý nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra giáo dục; chuyển dần quản lý nhà nước về giáo dục nặng về hành chính sang quản lý chất lượng và từ quản lý nhà nước theo cách kiểm soát sang giám sát mọi hoạt động giáo dục. Nâng cao vai trò các tổ chức xã hội nghề nghiệp giáo dục như Hội Giáo chức, Hội Khuyến học, liên hiệp hội các trường ngoài công lập… trong phát triển giáo dục.

    (5)-Xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy, người học :

    Nguồn lực đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là vốn quý nhất, là động lực, là nhân tố đảm bảo cho lợi thế giáo dục nước ta phát triển và cạnh tranh được với các nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giỏi là chìa khóa, là nhân tố trung tâm cho sự nghiệp giáo dục phát triển.

    Suy đến cùng, chất lượng nền giáo dục nước ta cao hay thấp phần lớn phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ thầy, cô giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Do vậy, phải đặt trọng tâm vào tạo bước chuyển biến chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Thực tiễn 25 năm đổi mới giáo dục đã khẳng định phải mở rộng, phát huy dân chủ và thực hiện đồng bộ các khâu phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, luân chuyển, bố trí sử dụng, thực hiện chính sách đãi ngộ tương xứng.

    Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong toàn ngành là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài bởi vì sự nghiệp giáo dục nước ta luôn phát triển đặt ra yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao về trình độ, chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của nhà giáo và năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ quản lý giáo dục. Trách nhiệm của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục không chỉ là trách nhiệm với hiện trạng giáo dục nước ta hôm nay mà còn là trách nhiệm với quá khứ và tương lai. Ngành Giáo dục nước ta phải là nơi thu hút được những người giỏi nhất, thông minh nhất và yêu nghề nhất để thực sự là đòn bẩy để nâng con người Việt Nam lên vị trí hàng đầu trong khu vực và trên thế giới.

    Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục, phải được xã hội tôn vinh, vì thế giáo viên có đủ đức, đủ tài. Muốn nâng cao chất lượng dạy và học trước hết phải nâng cao chất lượng đào tạo của các trường Sư phạm .

    Cả nước đang thực hiện thay sách, đổi mới chương trình sách giáo khoa khối lớp 8 , có dự án Việt -Bỉ hỗ trợ thực hiện ở các tỉnh phiá Bắc, thiết kế chương trình thay sách bằng cách đổi mới từ trường Cao đẳng sư phạm, là trường đào tạo người dạy học cho trường trung học cơ sở, nhưng dự án vẫn không được nhân rộng trong cả nước. Trong khi cả nước ta vẫn thay sách, vẫn đổi mới sách giáo khoa ở trường trung học cơ sở nhưng không đổi mới ở trường Cao đẳng sư phạm .

    Hiện nay chúng ta đang thực hiện không thu học phí sinh viên các trường sư phạm, đào tạo giáo viên gắn với địa chỉ, thực hiện chương trình bồi dưỡng thường xuyên, chuẩn hoá đội ngũ, xếp lương giáo viên cao và có nhiều chính sách đãi ngộ đội với giáo viên, nhất là giáo viên ở những vùng khó khăn .

    Việc nâng cao chất lượng đội ngũ thì ta đã làm nhiều, nhưng việc đánh giá đội ngũ thì không có một cơ quan thanh tra chuyên nghiệp nào thực hiện, chủ yếu là lực lượng thanh tra nghiệp dư, bán chuyên nghiệp. Hậu quả là không có một thanh tra không chuyên nghiệp nào dám loại trừ một giáo viên không đủ trình độ phẩm chất ra khỏi ngành . Hậu quả của thời kỳ “………sư phạm bỏ qua ” đã để lại không ít tiêu cực.

    Thay đổi cách tuyển chọn cán bộ, đánh giá giáo viên

    Mặc dù gần đây một số địa phương đã đổi mới cách tuyển chọn cán bộ. Nhưng các kỳ thi công chức chưa hẳn đã thực sự khách quan. Đã đến lúc chúng ta cần siết chặt việc thi tuyển công chức, có cơ chế thi tuyển minh bạch hơn. Thanh tra ngành GD đi sâu vào đánh giá chất lượng giờ giảng của từng ứng viên thay vì thông qua các bài viết kiểm tra kiến thức chung chung. Kẽ hở trong thi tuyển công chức sẽ tạo ra cơ hội để những thầy, cô giáo không đủ năng lực lại làm nhiệm vụ “trồng người”.

    Một bác sỹ sai sót có thể gây ra cái chết cho một người, nhưng một giáo viên tồi có thể tạo ra cái “chết” cho cả hàng chục, thậm chí hàng trăm học sinh, sinh viên. Cái “chết” về mặt nhận thức trong một số trường hợp còn nguy hiểm hơn cả cái chết về mặt sinh học.

    Được biết gần đây, ngành GD có chủ trương học sinh, sinh viên được đánh giá thầy cô giáo. Đó là chủ trương cần thiết. Xin đừng sợ học sinh đánh giá thiên lệch. Thiết nghĩ không bao giờ có một thầy giáo kém năng lực mà được học sinh đánh giá tốt. Nếu có như vậy, thì trước hết nên xem lại chính các tiêu chí đánh giá do nhà trường hay do ngành GD đưa ra để cải thiện thang, bảng đánh giá. Tôi có cơ sở để tin rằng học sinh, sinh viên đủ kiến thức cần thiết để đánh giá được thầy cô giáo nào dạy tốt.

    Do vậy, cần đẩy mạnh việc thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý.

    Loại bỏ các tiêu cực không đáng có

    Mặc dù những năm qua, GD và ĐT nước ta đã tạo ra những tiền đề quan trọng để đổi mới cơ bản và toàn diện, đó là sự thay đổi nhận thức và lòng tin của xã hội đối với quyết tâm đổi mới của toàn ngành giáo dục, nhưng căn bệnh thành tích và những tiêu cực, hạn chế trong GD và ĐT vẫn phổ biến. Chất lượng GD và ĐT là yêu cầu về “đầu ra” của học sinh phổ thông và sinh viên các trường đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ). Tuy nhiên, hệ thống GD đại học chưa có một phương pháp khoa học và ổn định trong đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng cho CNH, HĐH đất nước. Đáng chú ý, cơ chế “xin -cho” vẫn còn phổ biến trong hệ thống GD và ĐT và là những kẽ hở cho tiêu cực có thể nảy sinh. TS Bùi Trần Phượng (Trường đại học Hoa Sen) đánh giá, quan hệ “xin – cho” và bản thân cơ chế quản lý quan liêu triệt tiêu nghĩa vụ giải trình và chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục. Thẩm quyền quản lý tập trung thường xuyên bị sử dụng sai mục đích và trái với điều kiện nhằm đạt hiệu quả phân minh, đồng bộ về chất lượng giáo dục. Theo PGS,TS Bùi Ngọc Oánh, Viện trưởng Khoa học phát triển nhân lực và tài năng, hiện nay, việc đào tạo nhân lực trong các trường ĐH, CĐ còn nặng nề, thiếu tính thực tiễn và tính ứng dụng. Trong khi đó, tình trạng bằng “thật” nhưng học “giả” ảnh hưởng không nhỏ đến việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng của đất nước. Bộ GD và ĐT đánh giá, trong đào tạo ĐH, CĐ hệ không chính quy của nhiều trường còn mất cân đối về cơ cấu ngành nghề, trình độ và hình thức đào tạo. Nhiều trường vi phạm các quy định trong tuyển sinh, đào tạo, cấp phát bằng, mở ngành đào tạo. Trong khi đó, việc quản lý của Bộ GD và ĐT cùng các cấp còn hạn chế, chưa kiểm tra, giám sát thường xuyên, việc thanh tra, kiểm tra chưa có hiệu quả.

    KẾT LUẬN

    Nhìn lại đoạn đường phát triển của giáo dục nước nhà, trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển, có những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước. Nhưng đồng thời nền giáo dục đang ẩn chứa rất nhiều yếu kém, bất cập, chính những yếu kém, bất cập này đã làm cho chúng ta đã lùi đi rất nhiều so với các nước trong khu vực và quốc tế. Bài viết này đã nêu lên được phần nào những đánh giá thực trạng khách quan về nền giáo dục Việt Nam hiện nay, và có tham khảo một số ý kiến đóng góp của các Giáo sư, Tiến sĩ, … làm trong ngành giáo dục nhằm cải tạo nền giáo dục. Qua bài viết này mong muốn rằng mọi người sẽ có cái nhìn khách quan hơn về nền giáo dục nước nhà, từ đó mỗi cá nhân sẽ tự vạch ra những con đường riêng, hướng đi riêng, cũng như những giải pháp cho phù hợp với vai trò của mình. Có được như vậy thì tôi tin chắc rằng trong một tương lai không xa Việt Nam của chúng ta sẽ được bè bạn quốc tế biết đến như là một đất nước có nền giáo dục tiến bộ và có chất lượng. Người Việt Nam sẽ ngẩn cao đầu và tự hào vỗ ngực xưng tên ” Tôi là người Việt Nam”.

    Thực trạng chất lượng giáo dục Việt Nam hiện nay

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiến Nghị Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Việt Nam
  • Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Việt Nam Hiện Nay
  • Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Của Ngành Giáo Dục Và Đào Tạo Gắn Với Thực Hiện Đề Án 25 Của Huyện Giai Đoạn 2022
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Đại Trà
  • Thực Trạng Giáo Dục Mầm Non Ở Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Giáo Dục Mầm Non Và Giải Pháp Tháo Gỡ Những Tồn Tại
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Cho Học Sinh Bỏ Học, Nghỉ Học
  • Câu 4. Thực Trạng Đội Ngủ Cán Bộ Và Công Tác Cán Bộ Ở Địa Phương, Đơn Vị Của Đồng Chí? Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng .
  • Một Số Khó Khăn Vướng Mắc Trong Việc Đăng Ký Hộ Tịch Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Thi
  • Đăng Ký Khai Sinh, Đăng Ký Thường Trú, Cấp Thẻ Bảo Hiểm Y Tế Cho Trẻ Em Dưới 6 Tuổi
  • Vài nét về thực trạng giáo dục mầm non hiện nay

    Về chương trình giáo dục mầm non

    Theo tinh thần của chỉ thị 153 của Hội Đồng Bộ Trưởng ngày 12 tháng 08 năm 1966 mục tiêu của giáo dục mầm non nhằm giáo dục trẻ bằng cách tổ chức vui chơi mà giáo dục các cháu đức tính tốt ,chăm sóc sức khỏe cho các cháu ,tập cho các cháu vừa chơi vừa học,chuẩn bị cho các cháu vào trường phổ thông ,giáo dục mẫu giáo tốt sẽ chuẩn bị cho một nền giáo dục tốt.

    Theo điều 22 luật giáo dục năm 2005 :Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất tình cảm trí tuệ ,thẩm mỹ hình thành những yếu tố đầu tiên nhân cách ,chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một.

    Về việc tổ chức thực hiện chương trình GDMN cho trẻ ở trường mầm non

    Hầu hết, các giáo viên được hỏi đều gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện một số hoạt động và giáo dục. Ví dụ về giáo dục thể chất vì số lượng trẻ trong lớp đông, phòng học chật, cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị phục vụ cho lĩnh vực này chưa được đáp ứng như thiếu nhiều sân chơi, phòng tập thể dục, trang phục thể thao cho cô và trẻ, trang thiết bị ngoài trời, một số dụng cụ thể dục trong lớp chưa đầy đủ.

    Một trong những xu hướng không thể bỏ qua trong giáo dục mầm non là xu hướng áp dụng những chương trình linh hoạt. Rất nhiều quốc gia đi đầu trong xu hướng này đang chuyển hướng từ phương thức giáo dục truyền thống với cách giảng dạy theo giáo trình cũ kĩ áp dụng theo quy tắc, sang mô hình giáo dục linh hoạt, trong đó các cô giáo nhận định khả năng riêng của từng học sinh để áp dụng chương trình dạy và học cá thể hoá cho học sinh đó. Phương pháp sư phạm mới này đã được đem lại kết quả tốt hơn trong giáo dục trẻ là yếu tố rất quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Đồng nghĩa với việc các giáo viên mầm non được kỳ vọng phải đat tới các tiêu chuẩn cao hơn, có nhiều chứng chỉ đào tạo hơn với chất lượng như mong muốn! Đáp ứng xu hướng chuyên nghiệp hóa trong giáo dục mầm non.

    Một số giải pháp về giáo dục mầm non ở hiện nay

      Xây dựng đội ngũ GV có trình độ chuyên môn vững vàng
      Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lí các cấp thật sự có trình độ chuyên môn vững vàng và năng lực về quản lí phù hợp với vị trí quản lí
      Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ quản lí hành chính Nhà nước của đội ngũ cán bộ quản lí GDMN
      Xây dựng cơ sở vật chất thích hợp cho GDMN theo hướng phù hợp với điều kiện vùng,miền
      Hợp tác quốc tế về giáo dục mầm non Nhà nước phải tranh thủ vốn đầu tư của nước ngoài, liên kết với 1 số nước, các tổ chức quốc tế đầu tư nghiên cứu phát triển giáo dục mầm non.

    Kết Luận

    Mỗi đứa trẻ là một cá thể riêng biệt, có những năng lực và hoàn cảnh khác nhau. Do đó, Kiddihub cho rằng nếu muốn giáo dục mầm non phát triển thì phải làm cho trường mầm non là ngôi nhà thứ hai của trẻ, nghĩa là trẻ vui khi đến trường và khi về nhà thấy nhớ trường… Giáo dục mầm non đảm bảo phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em; hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc, và giáo dục trẻ; toàn diện về thể chất, tình cảm kỹ năng xã hội, trí tuệ, thẩm mỹ; tôn trọng sự khác biệt; liên thông giữa các độ tuổi và với giáo dục tiểu học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiều Giải Pháp Tập Hợp, Thu Hút Hội Viên Phụ Nữ
  • Thu Hút Hội Viên Phụ Nữ Tham Gia Sinh Hoạt Hội
  • Tìm Giải Pháp, Cách Làm Hay Tập Hợp, Thu Hút Hội Viên
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Xây Dựng, Phát Triển Hội Viên Và Mô Hình Tập Hợp Hội Viên Trên Địa Bàn Tỉnh Bắc Giang Hiện Nay.
  • Các Giải Pháp Tập Hợp, Thu Hút Hội Viên Tham Gia Sinh Hoạt Hội Của Hội Lhpn Xã Sơn Hiệp
  • Giáo Dục Đại Học Ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Nhà Giáo Và Cán Bộ Quản Lý Giáo Dục
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ Trong Ngành Kiểm Sát Tuyên Quang
  • Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ, Công Chức Lãnh Đạo, Quản Lý Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Ở Trung Ương Và Địa Phương
  • Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Đào Tạo, Sát Hạch Lái Xe
  • Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Sát Hạch Cấp Giấy Phép Lái Xe
  • Lê Hữu Ái – Lâm Bá Hòa

    Trong bài viết này, các tác giả đã tập trung phân tích những bất cập, yếu kém của giáo dục đại học ở nước ta hiện nay, đặc biệt là khía cạnh chất lượng giáo dục và đào tạo. Trên cơ sở đó, bài viết luận chứng một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của giáo dục đại học trong phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay.

    1. Mục tiêu phát triển của Việt Nam đến năm 2022 là, về cơ bản, trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để đạt được mục tiêu này, cần huy động và sử dụng một cách có hiệu quả mọi nguồn lực trong và ngoài nước. Theo đó, một trong những yếu tố có ý nghĩa then chốt là chất lượng giáo dục đại học. Bởi trong bất kỳ điều kiện lịch sử nào, trường đại học luôn là môi trường bồi dưỡng, sáng tạo và chuyển giao những thành tựu khoa học – công nghệ mới nhất, là đầu tàu trong việc tạo ra nguồn lao động chất lượng cao phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.

    Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2003 đã khẳng định: “Thu nhập bình quân của 20 nước giàu nhất cao gấp 37 lần so với 20 nước nghèo nhất. Tỷ lệ này đã tăng nhanh gấp hai lần trong vòng 40 năm qua. Lý do chủ yếu là do không có sự tăng trưởng kinh tế đáng kể tại các nước nghèo do thiếu vốn, thiếu các nguồn lực phát triển cần thiết, đặc biệt là tri thức khoa học và công nghệ”(1). Điều này cho thấy, với một nền giáo dục yếu kém, chắc chắn sẽ mất lợi thế cạnh tranh. Thực tế cho thấy, giáo dục – đào tạo là nhân tố quyết định để phát huy tiềm năng trí tuệ, năng lực sáng tạo của con người. Về điều này, GS.Malcom Gilles, Hiệu trưởng Trường Đại học Rice đã từng nói: “Ngày nay, hơn bao giờ hết trong lịch sử nhân loại, sự giàu mạnh hoặc đói nghèo của một quốc gia phụ thuộc vào chất lượng của giáo dục đại học”.

    2. Trong thời đại của kinh tế tri thức, bất kỳ một quốc gia nào, để có thể đi tắt, đón đầu nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì nguồn nhân lực chất lượng cao luôn giữ vai trò quyết định. Trên thực tế, dễ nhận thấy rằng, chất lượng đào tạo của các trường đại học ảnh hưởng trực tiếp tới sự tăng trưởng kinh tế và các chính sách xã hội. Và, đương nhiên, các trường đại học cũng luôn chịu sự tác động mạnh mẽ của môi trường kinh tế – xã hội và các thành tựu khoa học – công nghệ của nhân loại.1)

    Trong thời đại của kinh tế tri thức, bất kỳ một quốc gia nào, để có thể đi tắt, đón đầu nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì nguồn nhân lực chất lượng cao luôn giữ vai trò quyết định. Trên thực tế, dễ nhận thấy rằng, chất lượng đào tạo của các trường đại học ảnh hưởng trực tiếp tới sự tăng trưởng kinh tế và các chính sách xã hội. Và, đương nhiên, các trường đại học cũng luôn chịu sự tác động mạnh mẽ của môi trường kinh tế – xã hội và các thành tựu khoa học – công nghệ của nhân loại. (

    Trong nhiều thập kỷ qua, hệ thống giáo dục nước ta đang chứa đựng nhiều yếu tố bất cập, chất lượng giáo dục đại học còn thấp, chưa đáp ứng được kỳ vọng “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Vẫn biết “nhân tài là nguyên khí quốc gia”, nhưng những điều kiện vật chất nghèo nàn, cơ chế quản lý lạc hậu, đội ngũ giảng viên vừa thiếu, vừa yếu,… không tương ứng với tốc độ phát triển của quy mô đào tạo chính là những nguyên nhân căn bản dẫn tới sự yếu kém của giáo dục đại học. Theo Báo cáo mới nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Số: 760 /BC-BGDĐT) ngày 29 tháng 10 năm 2009, năm 1987 cả nước có 101 trường đại học và cao đẳng (63 trường đại học, chiếm 62%; 38 trường cao đẳng, chiếm 38%), nhưng đến tháng 9 năm 2009 đã có 376 trường đại học và cao đẳng, tăng gấp 3,7 lần (150 trường đại học, chiếm 40%, gấp 2,4 lần và 226 trường cao đẳng chiếm 60%, gấp 6 lần). Việc mở rộng quy mô không chỉ bó hẹp trong các trường công lập mà cả loại hình dân lập. Với 101 trường đại học và cao đẳng năm 1987 chúng ta chưa có trường ngoài công lập, đến năm 1997 cả nước đã có 15 trường đại học ngoài công lập và đến tháng 9 năm 2009 có 81 trường đại học, cao đẳng ngoài công lập, chiếm 21,5% (44 trường đại học và 37 trường cao đẳng). Đến nay, đã có 40/63 tỉnh, thành phố có trường đại học (đạt tỷ lệ 63%); có 60/63 tỉnh, thành có trường cao đẳng (đạt tỷ lệ 95%) và có 62/63 tỉnh, thành có ít nhất 1 trường cao đẳng hoặc đại học (đạt tỷ lệ 98%, trừ tỉnh Đắk Nông chưa có trường đại học, cao đẳng nào). Và, 35/63 tỉnh có thêm trường đại học mới, trong đó: 23 tỉnh có thêm 1 trường; 10 tỉnh có thêm 2 – 3 trường; riêng Thành phố Hồ Chí Minh có thêm 18 trường đại học và Hà Nội (mở rộng) có thêm 23 trường, chiếm tỷ lệ 43% số trường đại học thành lập mới và nâng cấp ( 2).

    Từ quy mô như trên chúng ta có thể khẳng định, công tác xã hội hoá giáo dục ngày càng được đẩy mạnh, nguồn lực trong xã hội đầu tư cho giáo dục được huy động ngày càng nhiều. Sự phân bố các cơ sở giáo dục đại học đã dần rộng khắp trên phạm vi cả nước. Điều này là hết sức quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ có chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của từng địa phương và cả nước. Tuy nhiên, sự phát triển như trên đang chứa đựng nhiều bất ổn:

    Thứ nhất, sự phân bố như thế sẽ khó để có điều kiện xây dựng một trường đại học đạt đẳng cấp khu vực và quốc tế. Hiện nay, ở nước ta các đại học lớn vẫn chưa được đứng trong bảng xếp hạng 200 trường đại học tốp đầu châu Á, trong khi nhiều trường đại học của các nước láng giềng như Philippin, Inđônêsia đã có mặt. Đặc biệt, Trường Đại học Chulalongkorn của Thái Lan còn được xếp trong danh sách 200 đại học hàng đầu thế giới. Chính điều này đặt ra những câu hỏi lớn cho chiến lược giáo dục đại học Việt Nam hiện nay. Sự tụt hậu của chúng ta trong lĩnh vực này là một thực tế đáng buồn. Song, không phải vì thế mà chúng ta nôn nóng đặt ra những mục tiêu không tưởng. Trên thực tế, để đạt đến đỉnh cao trong học thuật cần có một quá trình lâu dài. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: vì lợi ích trăm năm phải trồng người. Nên chăng, chúng ta phải đặt ra mục tiêu trong tương lai gần là xây dựng được mô hình đại học nghiên cứu với yêu cầu cao về nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, cùng với nó là đội ngũ giảng viên phải đạt chuẩn. Theo Giáo sư Hoàng Tụy, trên Tuổi trẻ Online (ngày 25/10/2007): “… Có lẽ chỉ 15 – 20% số tiến sĩ có trình độ thật sự tương xứng với bằng cấp đó trên quốc tế. Tương tự, cũng chỉ 15 – 20% số giáo sư, phó giáo sư có trình độ thật sự tương xứng. Còn lại không chỉ thấp, mà có đến hơn một phần ba thấp đến tệ hại, nhiều người không đứng nổi trong phạm trù “dạy đại học”, dù ở mức thấp. Rất nhiều tiến sĩ của ta trình độ không hơn gì cử nhân ở các nước, rất đông phó giáo sư của ta không so sánh nổi với trợ giảng mới ra trường của họ”.

    Thứ hai, sự phân bố chưa hợp lý đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn cao. Hiện nay, trong số 25 – 30% giáo sư và phó giáo sư trên tổng số đang trực tiếp giảng dạy tại các trường đại học và cao đẳng, thì tập trung chủ yếu vẫn ở một số trường đại học lớn tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Trong tổng số 376 trường đại học và cao đẳng của cả nước, có rất nhiều trường đại học chưa có giáo sư, thậm chí là phó giáo sư cơ hữu, trong khi đó có khoa của một trường đại học ở Hà Nội có tới hơn 10 giáo sư. Đối với tiến sĩ và tiến sĩ khoa học, sự tập trung ở hai vùng Đồng bằng sông Hồng (chủ yếu là Hà Nội) và Đông Nam Bộ (chủ yếu là thành phố Hồ Chí Minh) gần như là tuyệt đối (khoảng 88,7%), trong đó Đồng bằng sông Hồng là 68,1% và Đông Nam Bộ là 20,6%. Chính sự mất cân đối này đã gây nên sự chênh lệch về trình độ đào tạo, sự cục bộ địa phương làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác nghiên cứu khoa học giữa các trường đại học và đội ngũ cán bộ khoa học trong cả nước. Không chỉ có sự bất cập trong phân bố đội ngũ các nhà khoa học có trình độ cao, mà ngay ở sự phát triển đội ngũ giảng viên so với tốc độ gia tăng sinh viên cũng có sự mất cân đối. Chẳng hạn, năm 1987, một giảng viên đại học, cao đẳng đào tạo bình quân 6,6 sinh viên, đến năm 2009 một giảng viên đại học, cao đẳng đào tạo bình quân 28 sinh viên. Sau 22 năm, số sinh viên tăng 13 lần, số trường đại học, cao đẳng tăng 3,7 lần, nhưng số giảng viên chỉ tăng 3 lần. Năm 1987 tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ là 10,09%, năm 2009 là 10,16%. Trong những năm vừa qua, số lượng giảng viên tại các trường đại học và cao đẳng trong cả nước đã tăng lên đáng kể, nhưng vẫn chưa thể tương ứng với sự phát triển về quy mô đào tạo. Số giảng viên đại học, cao đẳng đã tăng từ 20.112 người năm 1997 lên 61.190 người năm 2009 (gấp 3 lần), số giảng viên có trình độ tiến sĩ tăng từ 2.041 người lên 6.217 người (gấp 3 lần), số giảng viên có trình độ thạc sĩ tăng từ 3.802 người lên 24.831 người (gấp 6 lần), số giảng viên là giáo sư, phó giáo sư tăng từ 526 người lên 2.286 người (gấp 4,5 lần) ( 3).

    Thứ ba, chính sự phân bố nêu trên dẫn đến việc quản lý hành chính nhà nước đối với các trường đại học, cao đẳng phân tán, lỏng lẻo, kém hiệu quả. Trong tổng số 376 trường đại học, cao đẳng cả nước hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ quản lý 54 trường (14,4%); còn lại các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố quản lý 241 trường (64,1%); và có 81 trường dân lập, tư thục (21,5%)(4).

    Từ sự bất cập của việc gia tăng quy mô như đã nêu, có một thực tế buộc chúng ta phải thừa nhận là, số lượng sinh viên hàng năm ở nước ta tăng nhưng chất lượng lại có xu hướng giảm, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Năm 2005, tỷ lệ sinh viên vào đại học ở nước ta là 16%, trong khi con số này ở Trung Quốc là 17%, Inđônêsia 19%, Thái Lan 43%. Hiện nay, quy mô đào tạo đại học, cao đẳng tăng dần qua các năm, tỷ lệ sinh viên/1 vạn dân cũng tăng, năm 1997 là 80 sinh viên/1 vạn dân, năm 2006 là 166,5 sinh viên/1 vạn dân, năm 2009 là 195 sinh viên/1 vạn dân, đến năm 2010 có thể đạt 200 sinh viên/1 vạn dân theo đúng định hướng Nghị quyết số 14 của Chính phủ và Quyết định số 121 của Thủ tướng Chính phủ. Nếu so với các nước, thì tỷ lệ sinh viên/1 vạn dân của Việt Nam còn rất thấp: năm 2005 Thái Lan có 374 sinh viên/1vạn dân; Chi Lê có 407 sinh viên/1 vạn dân, Nhật Bản có 316 sinh viên/1 vạn dân, Pháp có 359 sinh viên/1 vạn dân, Anh có 380 sinh viên/1 vạn dân, Úc có 504 sinh viên/1 vạn dân, Mỹ có 576 sinh viên/1 vạn dân và Hàn Quốc có 674 sinh viên/1 vạn dân(5). Căn cứ vào các số liệu hiện có của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) thì vấn đề cơ bản trong tốc độ phát triển của giáo dục Việt Nam là sự trì trệ của tỷ lệ theo học đại học. Theo Global

    Education

    Digest năm 2006 thì sự kỳ vọng đời sống học đường đại học, tức là số năm học trung bình mà một thanh niên tuổi 17 có thể hy vọng theo học trong trường đại học trước khi bước vào lao động trong giai đoạn từ 1999 đến 2004, trên thế giới đã tăng từ 0,9 năm lên 1,1 năm; Đông Á từ 0,7 năm lên 1,0 năm; Trung Quốc từ 0,3 năm lên 1,0 năm; Thái Lan từ 1,6 năm lên 2,1 năm;… riêng Việt Nam vẫn đứng nguyên ở con số 0,5 năm. Như vậy, thực tế là nguồn nhân lực có chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng.

    Thứ tư, chất lượng giáo dục đại học còn nhiều bất cập. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước, các trường đại học Việt Nam chưa đào tạo được lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao tương ứng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế. Nhiều cuộc điều tra, thăm dò gần đây cho thấy, có khoảng 50% sinh viên tốt nghiệp đại học ở Việt Nam không tìm được việc làm đúng chuyên môn, bằng chứng đó phản ánh sự thiếu liên kết nghiêm trọng giữa đào tạo và nhu cầu của thị trường. Chương trình đại học của nước ta còn nặng về lý thuyết. Có thể nêu một dẫn chứng như việc Intel tuyển kỹ sư cho cơ sở sản xuất của họ ở thành phố Hồ Chí Minh. Khi công ty này thực hiện một cuộc kiểm tra đánh giá theo tiêu chuẩn với 2.000 sinh viên Công nghệ thông tin Việt Nam, chỉ có 90 ứng cử viên, nghĩa là 5%, vượt qua cuộc kiểm tra, và trong nhóm này, chỉ có 40 người có đủ trình độ tiếng Anh đạt yêu cầu tuyển dụng. Intel xác nhận rằng đây là kết quả tệ nhất mà họ từng gặp ở những nước mà họ đầu tư ( 6).

    Các nhà đầu tư Việt Nam và quốc tế cũng cho rằng, việc thiếu các công nhân và quản lý có kỹ năng là cản trở lớn nhất đối với việc mở rộng sản xuất. Chất lượng nghèo nàn của giáo dục đại học còn có một ngụ ý khác: đối lập với những người cùng thế hệ ở Ấn Độ và Trung Quốc, người Việt Nam thường không thể cạnh tranh được để lọt qua những khe cửa hẹp của các chương trình đại học cao cấp ở Mỹ và châu Âu. Thực tế cho thấy, hiện nay, thanh niên, sinh viên ở nước ta còn trong tình trạng tụt hậu rất xa so với thanh niên các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học,…. Theo Báo Tuổi trẻ, ngày 02 -10 -2003, chỉ tiêu đánh giá về trí tuệ, trình độ ngoại ngữ, khả năng thích ứng với điều kiện tiếp nhận khoa học và công nghệ của thanh niên Việt Nam, đánh giá theo thang điểm 10 của khu vực khiến chúng ta phải giật mình: trí tuệ 2,3/10; ngoại ngữ 2,5/10; khả năng thích ứng 2/10. Đây là chỉ số đáng buồn. Theo Ngân hàng Thế giới, chỉ số chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam rất thấp, đạt 3,79/10, đứng thứ 11/12 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng ở châu Á. Chính sự bất cập nêu trên của hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng đã làm cho chất lượng giáo dục đại học thấp, hiệu quả sử dụng và năng lực cạnh tranh của nguồn lực không cao.

    Thứ năm, chưa gắn nghiên cứu khoa học của các trường đại học với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cách đây hơn 10 năm, nhận thức được tầm quan trọng của mối quan hệ này, Đảng và Nhà nước ta đã nêu lên chủ trương, “các trường đại học vừa là cơ sở đào tạo vừa là cơ sở nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ” nhưng cho đến nay, dường như quan điểm đó vẫn chỉ được xem là chủ trương chung,chưa được cụ thể hóa thành những chính sách cụ thể, trách nhiệm và quyền lợi giữa các cơ sở đào tạo và đơn vị sử dụng lao động, giữa trường đại học và doanh nghiệp.

    Chúng ta biết rằng, nghiên cứu khoa học là sức sống của một trường đại học. Đó là tiêu chí mà bất kỳ trường đại học nào trên thế giới cũng phải tuân thủ và lấy đó làm phương châm hành động. Gần như tất cả các thành tựu về nghiên cứu khoa học, các tiến bộ công nghệ áp dụng trong sản xuất đều xuất phát từ môi trường này. Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu triển khai của các cơ sở giáo dục đại học phải tính đến hiệu quả kinh tế và xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp. Đồng thời, Nhà nước phải tạo điều kiện để doanh nghiệp nghiên cứu triển khai các thành tựu khoa học vào quá thực tế sản xuất. Trong những năm qua, hiệu quả nghiên cứu của các trường đại học trong cả nước chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp và sự đầu tư của Nhà nước. Theo Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngân sách Nhà nước cấp cho các trường đại học thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ tăng hằng năm (năm 2006: hơn 259,5 tỷ, năm 2008: hơn 264 tỷ đồng). Tuy nhiên, nguồn thu từ hoạt động khoa học và công nghệ của các trường đại học từ năm 2006 đến năm 2008 còn rất thấp, chỉ chiếm 3,92% trong tổng nguồn tài chính của các trường đại học. Thực tế vẫn chưa có một thống kê nào đánh giá cụ thể tỷ lệ các đề tài nghiên cứu được đưa vào áp dụng, nhưng theo các chuyên gia nhận định, có khoảng 60% kết quả nghiên cứu khoa học được đưa vào ứng dụng, nghĩa là còn 40% kết quả nghiên cứu phải “trùm mền”. Các nhà khoa học không biết giới sản xuất đang cần gì ở họ, còn các doanh nghiệp cũng chẳng hiểu công nghệ mình cần trong nước đã có hay chưa và không thể chủ động đưa ra yêu cầu của mình. Hậu quả là doanh nghiệp tìm đến với công nghệ nước ngoài, nhà khoa học nghiên cứu theo sở thích và chuyện kết quả nghiên cứu “trùm mền” chẳng có gì là khó hiểu.

    3. Từ thực trạng trên, chúng tôi mạnh dạn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của giáo dục đại học trong phát triển kinh tế của nước ta hiện nay.

    Thứ nhất, xây dựng một chiến lược và triết lý giáo dục riêng. Hiện nay, trên thế giới có ba mô hình giáo dục đại học lớn cần phải tham khảo trong quá trình xây dựng chiến lược giáo dục đại học ở Việt Nam: một là, mô hình kiểu Đức là nơi tạo dựng và phổ biến tri thức; hai là, mô hình kiểu Pháp là nơi đào tạo người lao động có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của phát triển và sử dụng nguồn nhân lực; ba là, mô hình kiểu Mỹ là tôi luyện bản lĩnh sống cho tầng lớp trẻ, tôn trọng sự phát triển nhân cách cá nhân, trung thực, không ngừng đổi mới. Theo chúng tôi, mỗi một mô hình trên đều có những mặt tích cực có thể áp dụng, nhưng hoàn toàn không thể rập khuôn máy móc khi tạo dựng triết lý cho giáo dục đại học hiện nay. Nên chăng, nền giáo dục đại học ở Việt Nam cần hướng tới việc phổ biến, ứng dụng và hiện thực hóa các tri thức khoa học, rút ngắn khoảng cách “độ chênh về chất lượng”.

    Thứ hai, cơ cấu lại ngành học cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn phát triển của đất nước. Hiện nay, cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền đang có sự mất cân đối. Việc tăng quy mô đào tạo hiện vẫn chủ yếu diễn ra ở bậc đại học; số học sinh, sinh viên theo học các ngành kỹ thuật, công nghệ ở bậc cao đẳng và trung học chuyên nghiệp còn thấp và tăng chậm. Dường như trong những năm qua chúng ta chỉ chú trọng vào những ngành học có vốn đầu tư ít, thu lợi nhuận cao, chẳng hạn Luật, Kinh tế, Ngoại ngữ, Công nghệ thông tin…, mà chưa thực sự đầu tư thích đáng vào nhóm các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật công nghệ cao. Để hướng tới một nền giáo dục bền vững, chúng ta phải có một chiến lược dài hạn, đầu tư có trọng điểm vào những ngành khoa học, công nghệ mũi nhọn, đồng thời phải biết lựa chọn và thu hút được những sinh viên ưu tú, áp dụng những chương trình tiên tiến của thế giới vào giảng dạy để đạt hiệu quả cao. Chỉ có như vậy, chúng ta mới thực sự “đi tắt, đón đầu” và theo kịp được với sự phát triển của khoa học – công nghệ tiên tiến hiện nay.

    Thứ ba, cải cách hành chính và trao quyền tự chủ cho các trường đại học. Đổi mới tư duy giáo dục đại học trong quản lý nhà nước để tiến đến trao quyền tự chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm cao của các trường đại học chính là động lực của phát triển. Đó là yêu cầu tất yếu từ chính các trường đại học trong cả nước hiện nay, như quyền tự chủ tài chính, nhân sự, công tác tuyển sinh và nhất là xây dựng chương trình. Bởi, với chủ trương “đào tạo theo nhu cầu” thì việc xây dựng chương trình phải xuất phát từ nhu cầu của xã hội. Chỉ có như vậy, các trường đại học mới có thể tự quyết định trong đầu tư cơ sở vật chất và chuyên môn hoá sâu về lĩnh vực đào tạo của mình. Chế độ tuyển dụng, đãi ngộ, đề bạt của các cơ sở đào tạo đại học phải dựa trên năng lực và hiệu quả công việc của từng cá nhân. Chất lượng đào tạo của các trường đại học là một tiêu chí đáng tin cậy cho mức độ phát triển của nền kinh tế. Hiện nay, các trường đại học của Việt Nam chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao và chưa có một trường đại học nào được các tổ chức kiểm định quốc tế thừa nhận. Nếu như không có các biện pháp cấp thiết để cải cách giáo dục đại học thì nước ta khó có thể đạt được các mục tiêu đã đề ra cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Thứ tư, thực hiện đồng bộ và nghiêm chỉnh công tác kiểm định chất lượng đại học. Đã gần 3 năm qua, từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo có chủ trương buộc các cơ sở đào tạo bậc đại học, cao đẳng phải công bố chuẩn đầu ra, như người học hiểu biết gì, có kỹ năng gì, có năng lực hành vi như thế nào, có thể đảm đương được công việc gì trong xã hội?… Nhưng cho đến nay vẫn chưa có một trường đại học, cao đẳng nào thỏa mãn được bộ tiêu chí trên. Vì vậy, chúng ta chưa có đủ cơ sở để đánh giá chất lượng giáo dục của các trường một cách khách quan, toàn diện.

    Từ thực tế trên cho thấy, việc thiết lập bộ tiêu chuẩn chất lượng trường đại học và thực hiện nó là một yêu cầu bắt buộc đối với giáo dục đại học Việt Nam hiện nay. Bởi nó chính là cơ sở để đánh giá kiểm định chất lượng của một trường đại học hiện đại. Có được một bộ tiêu chuẩn chất lượng minh bạch để quản lý các trường đại học thực sự là một bước đột phá trong tiến trình phát triển của giáo dục đại học Việt Nam.

    Thứ năm, kiên quyết ngừng các cơ sở đào tạo đại học không đạt chuẩn. Trong những năm gần đây, do xuất phát từ mong muốn chủ quan là phát triển đại học nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, song sự mở rộng quá nhanh quy mô đào tạo lại không đi liền với việc đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực. Có những trường đại học khi có quyết định thành lập và bắt đầu đi vào đào tạo nhưng cơ sở vật chất lại chưa đáp ứng yêu cầu tối thiểu của một cơ sở đào tạo đại học như báo chí đã nêu trong thời gian vừa qua. Như vậy, hiện tượng mở trường tràn lan, những điều kiện vật chất không được đảm bảo, đội ngũ giảng viên vừa thiếu, vừa yếu cũng là một nguyên nhân khiến chất lượng đào tạo đại học ở nước ta ngày càng giảm sút.

    Sự phát triển và thịnh vượng của mỗi quốc gia hiện nay phụ thuộc trực tiếp vào quy mô và chất lượng của giáo dục đại học. Hầu hết các quốc gia có thu nhập thấp và đang phát triển hiện nay đang đứng trước rất nhiều nguy cơ, trong đó có nguy cơ tụt hậu xa hơn về giáo dục đại học so với nhóm các nước phát triển. Trách nhiệm này đặt trên vai các nhà hoạch định chiến lược giáo dục đại học. Giáo dục đại học Việt Nam phải thực sự góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. /.

    Phó giáo sư, tiến sĩ Lê Hữu Ái. Trưởng khoa Lý luận chính trị. Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng.

    Ths Lâm Bá Hòa Giảng viên Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng.

    (1) Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), 2003.

    (2) Theo Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Số: 760 /BC-BGDĐT, ngày 29/10/2009.(3) , (4) Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Số: 760 /BC-BGDĐT, ngày 29/10/2009.

    (6) http://www.tin247.com/, ngày 09-06-2008.

    Share this:

    Like this:

    Like

    Loading…

    Author: hoangthinga

    Giảng viên Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Hà Nội 2.

    Nghiên cứu sinh về Giáo dục lịch sử tại CHLB Đức

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Bảo Vệ Nền Tảng Tư Tưởng Của Đảng
  • Chất Lượng Giáo Dục Đại Trà Không Ngừng Được Nâng Lên, Chất Lượng Mũi Nhọn Có Nhiều Bứt Phá
  • Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xii) Về Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng Gắn Với Việc Học Tập, Làm Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh Trong Đảng Bộ Công An Trung Ương .công An Tra Vinh
  • Cổng Ttđt Bộ Tài Chính
  • Xây Dựng Tính Đoàn Kết Trong Nội Bộ Trường Chính Trị Bến Tre
  • Giải Pháp Cho Thực Trạng Giao Thông Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Giới Thiệu Về Công Ty Tnhh Giải Pháp Và Công Nghệ Việt Hàn
  • Tiếp Tục Thúc Đẩy Quan Hệ Việt Nam
  • Thúc Đẩy Quan Hệ Việt Nam
  • Việt Nam, Trung Quốc Nhấn Mạnh Việc Đưa Quan Hệ Đối Tác Chiến Lược Đi Vào Chiều Sâu
  • 70 Năm Quan Hệ Việt Nam
  • Từ khi nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường thì bức tranh về kinh tế của Việt Nam có nhiều điểm sáng, mức sống của người dân được cải thiện từng bước, kinh tế ngày càng tăng trưởng. Tuy nhiên đi liền với nó là vấn đề về tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, số vụ giao thông không ngừng tăng cả về quy mô và số lượng gây ảnh hưởng vô cùng lớn đến xã hội.

    Thực trạng giao thông Việt Nam hiện nay

    Theo thống kê của Cục CSGT đường bộ- đường sắt và Uỷ ban ATGT Quốc gia, tính đến hết tháng 9, cả nước đã xảy ra tới 10.518 vụ TNGT làm 9.510 người chết và 10.700 người bị thương.

    Cũng theo số liệu thống kê, có tới 50% số người tham gia giao thông không dùng đèn báo khi chuyển hướng, 85% không dùng còi đúng quy định, 70% không dùng phanh tay, 90% không sử dụng đúng đèn chiếu sáng xa, gần và 72% không đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên mô tô trên những tuyến đường bắt buộc. Ngoài ra, tình trạng vượt đèn đỏ, uống rượu bia say, chở quá tải, quá tốc độ, lấn làn đường trong thời gian qua vẫn luôn ở mức báo động và rất khó kiểm soát.

    Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng này

    Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng giao thông như đã nêu trên chính là sự lấn chiếm hành lang an toàn giao thông, sự gia tăng quá nhanh của các phương tiện giao thông cá nhân và ý thức của người tham gia giao thông quá kém và chưa được cải thiện nhiều trong những năm gần đây. Bên cạnh đó cũng phải kể đến đường xá của chúng ta quá nhỏ hẹp, nhiều khúc cua 90 độ trong khi đó có quá nhiều các biển báo cấm và biển báo hiệu trên một đoạn đường, vỉa hè bị lấn chiếm làm nơi kinh doanh bán hàng, để xe ô tô dẫn tới tình trạng người tham gia giao thông bị khuất tầm nhìn, nhiều đoạn đường xuống cấp quá nhanh có nguy cơ tiềm ẩn tai nạn giao thông.

    Ngoài ra, hiện nay các phương tiện giao thông tại Việt Nam chưa được chú trọng trang bị những thiết bị hỗ trợ tài xế lái xe thông minh, hạn chế những pha va chạm không đáng có xảy ra. Đối với những nước phát triển thì việc lắp đặt Các thiết bị hoặc thiết kế những tính năng thông minh trên xe đã được áp dụng và được coi trọng.

    Giải pháp cho thực trạng giao thông Việt Nam hiện nay

    Để đưa ra một giải pháp hợp lý cho tình trạng giao thông ở nước ta hiện nay quả là một việc làm khó. Theo trang thông tin điện tử Bộ Giao Thông Vận Tải thì những giải pháp khắc phục cụ thể có thể thực hiện như sau:

    1) Lập lại trật tự hành lang giao thông đường bộ bị lấn chiếm và mở thêm các bãi đỗ xe công cộng.

    Việc giải toả hành lang bị lấn chiếm là điều cấp thiết tiếp theo là mở thêm các bãi đỗ xe công cộng còn về lâu về dài thì trên cơ sở những bãi đỗ xe này Nhà nước có thể tổ chức cho các cá nhân, tập thể đấu thầu nâng cấp dần dần các bãi đỗ xe này lên và vấn đề quản lý bến bãi.

    2) Xây dựng thêm các chợ xanh quanh khu dân cư để tránh tình trạng bán tràn lan trên vỉa hè.

    Phần lớn các siêu thị ở Việt Nam chưa phát triển và cũng do quỹ thời gian eo hẹp của chị em phụ nữ cho nên đến giờ tan tầm họ không vào các chợ mà tiện đường ghé mua thực phẩm cho nhanh và cũng không mất tiền gửi xe cho nên dẫn tới tình trạng lòng đường vỉa hè trở thành chợ dẫn đến cảnh ùn tắc kéo dài. Cũng cần nói thêm rằng, lúc này các biển cấm các phương tiện để trên vỉa hè hết hiệu lực (Cấm các phương tiện để trên vỉa hè lòng đường từ 7h đến 17h30) Cho nên trên vỉa hè lúc này đã trở thành cái chợ thực sự .

    – Không thu vé vào chợ đối với người mua hàng (thu thông qua người bán vào chợ)

    – Lối vào chợ là lối vào một chiều

    – Nên cấm các phương tiện giao thông để trên vỉa hè, lòng đường từ 7h đến 21h hàng ngày kể cả ngày lễ và chủ nhật.

    3) Tuyên truyền về luật an toàn giao thông.

    Theo một cuộc khảo sát gần đây cho thấy, phần lớn những người sử dụng xe mô tô tại Việt Nam không có kỹ năng điều khiển xe như quan sát khi chuyển hướng, xi nhan, chuyển số, hãm phanh, bấm còi…một phần do Nhà nước quản lý việc cấp bằng không được tốt, một phần do giáo trình dạy về môn học này không còn phù hợp với thực tiễn. Do đó, Sở giao thông công chính nên phối hợp với các xe máy Honda, Yamaha, Suziki, SYM soạn ra một giáo trình mới sát với thực tế hơn. Son với đó là đưa là đưa giáo trình an toàn giao thông vào các trường THCS, THPT xem đây như là một giáo trình bắt buộc giống như môn giáo dục quốc phòng. Nên chăng chấp nhận học sinh THPT đi xe mô tô trên 50 cm3 đến trường, việc này cũng có nghĩa là công nhận cấp GPLX cho các em.

    4) Thành lập đội cảnh sát mô tô lưu động.

    Mục đích của việc này là xử lý các trường hợp cố tình vượt đèn đỏ, xe chạy quá tốc độ, lấn làn đường, chở hàng cồng kềnh nhất là các xe đã quá cũ nát như xe babetta, xe lam… Chính phủ nên dành một phần tiền phạt thu được làm chế độ đãi ngộ thoả đáng cho các cán bộ chiến sỹ, một phần dành để thuê kho bãi có mái che để giữ các phương tiện giao thông vi phạm tránh tình trạng phạt nhưng không biết giữ phương tiện ở đâu, phần còn lại nộp vào Kho bạc Nhà nước.

    5) Khuyến khích lắp đặt các thiết bị hỗ trợ lái xe thông minh.

    Đối với một số nước phát triển thì việc lắp đặt các thiết bị hỗ trợ lái xe như Camera hành trình, gương chiều điểm mù của xe… đã trở thành bắt buộc. Còn đối vớ Việt Nam thì việc này chưa được chú trọng, chỉ là những chủ xe kĩ tính muốn bản thân được đảm bảo an toàn tuyệt đối hoặc một số trường hợp thấy chức năng của nó hữu ích nên lắp đặt.

    Camera hành trình là thiết bị cần thiết nhất lắp đặt trên mỗi xe ô tô. Tại sao tôi lại nói như vậy? Bởi vì, hiện nay thiết bị này không chỉ đơn thuần là ghi lại hành trình mà nó được thiết kế tích hợp rất nhiều tính năng thông minh như: Cảnh báo lấn làn đường, chạy quá tốc độ, cảnh báo nguy cơ va chạm sớm, cảnh báo đường giao nhau… Tất cả các tích năng này đều được thiết kế để hỗ trợ tài xế lái xe an toàn và giảm thiểu tai nạn giao thông cao nhất.

    Lái xe an toàn cùng Camera hành trình Webvision

    --- Bài cũ hơn ---

  • 6 Giải Pháp Cho Vấn Đề Giao Thông Đô Thị Ở Việt Nam
  • Giải Pháp Cho Tình Hình Giao Thông Ở Vn :
  • Thực Trạng Giao Thông Việt Nam Và Giải Pháp
  • Giải Pháp Hiệu Quả Cho Giao Thông Việt Nam
  • Aec Và Giải Pháp Cho Xuất Khẩu Gạo Việt Nam
  • Những Thuận Lợi, Khó Khăn Và Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Đại Học Của Việt Nam Hiện Nay.

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Giải Pháp Cho Giáo Dục Mầm Non Vn
  • Học Online Có Là Giải Pháp Cho Thời Đại Internet?
  • Giải Pháp Thu Hút Khách Du Lịch Quốc Tế Đến Việt Nam
  • Giải Pháp Nào Giúp Du Lịch Việt ‘vượt Bão’ Thời Covid
  • Giải Pháp Thúc Đẩy Ngành Du Lịch Việt Nam Phát Triển Bền Vững
  • Hầu như năm nào Bộ Giáo Dục cũng đều có những sửa đổi, bổ sung hệ thống giáo dục đại học từ việc thi cử cho đến nội dung giảng dạy nhưng đến nay thực sự vẫn chưa hoàn thiện, còn quá nhiều những vấn đề nảy sinh mà hàng ngày người ta phân tích đầy trên các mặt báo. Đây là vấn đề muôn thuở của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đã tồn tại cả chục năm về trước, nguyên nhân của vấn đề này là do thiếu sự liên kết chặt chẽ của nhà trường đối với doanh nghiệp, chưa nắm bắt được nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp thành ra nội dung đào tạo cứ lẩn quẩn bao nhiêu năm cũng chỉ có bấy nhiêu đó, dần dà trở nên lạc hậu vì thế không nắm bắt đúng nhu cầu của doanh nghiệp. Hệ lụy này dẫn đến nạn thất nghiệp tràn lan của sinh viên mới tốt nghiệp, thống kê năm 2013 cho thấy có tới 101.000 sinh viên thất nghiệp có bằng đại học. Từ đó, có thể thấy những thuận, lợi khó của giáo dục Đại học Việt Nam ở một số nội dung sau đây:

    Khó khăn của giáo dục Đại học Việt Nam:

    Một là, một nền giáo dục chú trọng trang bị kiến thức chuyên môn. Không khó nhận ra điều này. Các chương trình đào tạo từ phổ thông đến đại học, sau đại học đều dày đặc các kiến thức cụ thể. Với lượng tri thức mới được sản sinh ngày càng nhiều và liên tục được cập nhật vào chương trình thì tình trạng quá tải là không thể khắc phục, nếu không nói là sẽ ngày càng trầm trọng hơn. Việc nhớ những kiến thức ấy đã khó, vận dụng nó vào cuộc sống lại còn khó hơn. Tri thức cụ thể dù cho mới đến đâu vẫn là cái đã biết nên luôn lạc hậu so với thực tiễn.

    Để phục vụ mục tiêu giáo dục trang bị kiến thức chuyên môn, hệ thống phân loại môn chính, môn phụ cũng được tiến hành một cách giản đơn như đương nhiên phải thế (trong khi đó phương châm của Đảng là giáo dục toàn diện). Đặc biệt nghiêm trọng là hệ thống thi cử, đánh giá. Coi việc nhớ kiến thức chuyên môn là quan trọng nhất nên việc thi cử tuyển đầu vào, kiểm tra trong quá trình học tập và đánh giá đầu ra đều lấy việc hỏi kiến thức cụ thể làm mục tiêu chủ yếu. Phương thức thi cử nhằm đánh giá kiến thức chuyên môn (cụ thể) sinh ra hệ lụy nan giải và những căn bệnh trầm kha khó lòng cứu chữa. Đó là học vẹt, học tủ và quay cóp.

    Hai là, do phải mất quá nhiều thời gian và công sức để “cung cấp và tích lũy kiến thức” cụ thể (luôn quá tải) nên từ chương trình, người dạy, người học đều không còn đủ thời gian và sự quan tâm đúng mức cho việc trau dồi phương pháp, kỹ năng, học để hiểu biết về cuộc sống, về thế giới, dung dưỡng tâm hồn và đạo đức, lối sống…Nói tóm lại là học cách tự học và học làm người. Điều đáng lo ngại là xu thế vị bằng cấp đang trở nên ngày càng phổ biến trong cộng đồng những người đi học. Đi học chỉ cốt để lấy bằng (và tệ hơn là nếu học ít, thậm chí không học mà vẫn có bằng thì càng hay). Nhiều bậc trí giả lo lắng không phải không có cơ sở là xã hội ta ngày càng nhiều những người có học vị, bằng cấp cao, nhưng một đội ngũ trí thức với những nhân cách đáng kính của một tầng lớp dẫn dắt xã hội dường như ngày càng thưa vắng. Hiện tượng này có nhiều nguyên nhân, nhưng căn nguyên chính vẫn là từ chính những hạn chế và yếu kém của giáo dục đào tạo.

    Ba là, một hạn chế lớn của giáo dục và đào tạo nước ta là việc dạy và học không gắn chặt với thực tiễn, nhất là các trường đại học. Đa phần các chương trình đào tạo hiện nay là những gì nhà trường và các thầy cô đem áp đặt cho người học, chứ chưa phải là những cái xã hội cần. Có một nguyên nhân quan trọng là ở nước ta trong một thời gian dài, cung và cầu của giáo dục đại học mất cân đối nghiêm trọng. Việt Nam là nước có truyền thống hiếu học và trọng học nên số người có nguyện vọng đi học (đúng ra là số gia đình mong muốn con vào đại học) thì đông mà số trường đại học (tốt) lại rất ít nên các cơ sở đào tạo đại học không có nhiều động lực để đổi mới. Chương trình cũ, phương pháp dạy không thay đổi, chất lượng đào tạo không nâng cao cũng vẫn có rất đông người tranh nhau vào học. Những tiêu chí đánh giá về chất lượng giáo dục quốc tế dường như ảnh hưởng không nhiều lắm đến các trường đại học nước ta.

    Bốn là, cũng chính vì động lực đổi mới không cao và do một số nguyên nhân khác nữa, nền giáo dục của chúng ta tương đối khép kín. Mặc dù số lượng cán bộ của ngành giáo dục (bao gồm cả quả lý và tham gia giảng dạy) có cơ hội đi thăm quan nước ngoài rất nhiều, nhưng dường như việc học tập nước ngoài chưa có một chương trình thật bài bản với những mục tiêu xác định nên kết quả không như mong muốn. Địa điểm tham quan, vấn đề tìm hiểu trùng lặp, những kinh tiếp thu manh mún, thiếu đồng bộ…Do vậy về cơ bản, hệ thống giáo dục và các chương trình của các cơ sở đào tạo ở nước ta so với các nước tiên tiến trên thế giới còn có khoảng cách khá xa. Và đặc biệt điều đáng nói là tính liên thông quốc tế của hệ thống giáo dục nói chung và của các cơ sở đào tạo nước ta nói riêng còn rất hạn chế. Nếu như ở nước ngoài (kể cả các nước Đông Nam Á), các trường đại học có thể dễ dàng trao đổi sinh viên với nhau vì họ công nhận hệ thống tín chỉ của nhau, thì điều này còn rất khó khăn với các trường đại học nước ta.

    Năm là, điều thấy rõ và thường được nói tới nhiều nhất khi đề cập đến những hạn chế của giáo dục Việt Nam là sự thiếu thốn, nghèo nàn về cơ sở vật chất, là chính sách đãi ngộ chưa thỏa đáng đối với đội ngũ những người làm giáo dục. Có thể nói trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có những cố gắng lớn trong đầu tư cho giáo dục. Riêng năm 2013, mặc dù nền kinh tế đất nước đang trong thời kỳ cực kỳ khó khăn, nhưng kinh phí cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề vẫn chiếm 20% tổng chi ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, tính ra số kinh phí thực thì so ngay với một trường đại học ở Đông Nam Á (như Singapore, Thái Lan, Malaysia…) cũng đã rất thấp. Nguồn kinh phí hạn hẹp lại được sử dụng chưa hợp lý, đầu tư manh mún, giàn trải và hiệu quả thấp (đó là chưa nói tới nguồn lực bị suy hao vì những dự án lãng phí lớn .

    Tuy nhiên, điều đáng nói hơn cả là vấn đề đầu tư cho nguồn lực con người. Nếu như đây là nhân tố quan trọng hàng đầu trong tất cả mọi lĩnh vực, thì trong giáo dục đào tạo con người là nhân tố quyết định sự thành bại. Con người ở đây là nói tới cả đội ngũ quản lý các cấp và những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giảng dạy ở các cơ sở. Chất lượng chưa cao ở cả hai lực lượng này dường như không khó khăn lắm để nhận ra. Tuy nhiên điều quan trọng là phải tìm ra nguyên nhân dẫn tới tình trạng đó. Theo tôi, gốc gác của vấn đề chính là trên thực tế, giáo dục và đào tạo chưa được coi là quốc sách hàng đầu như được nêu trong các văn kiện chính thức. Việc tuyển chọn cán bộ quản lý giáo dục cũng như chính sách đãi ngộ khuyên khích người giỏi làm công tác giáo dục còn nhiều bất cập và chưa được chú ý đúng mức.

    Ngoài ra, đất nước còn thiều về cơ sở, vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại tiên tiến, ứng dụng khoa học công nghệ vào trong tác giáo dục …

    Những điểm khó khăn nêu trên chưa phải là tất cả, đã và đang kim hãm cả nền giáo dục Việt Nam nói riêng và giáo dục Đại học nói riêng. Nhưng nên giáo dục Đại học Việt Nam cũng có nhiều ưu điểm, nếu như đổi mới giáo dục và đào tạo ngay lập tức để khắc phục những điểm khó khăn, hạn chế nêu trên.

    Các điểm thuận lợi của nên giáo dục Việt Nam:

    Một là, Việt Nam đặt chính sách giáo dục lên hang đầu, có sự đầu tư lớn cho nền giáo dục, trong đó có giáo dục Đại học.

    Hai là, xét về mặt lịch sử, nền giáo dục đại học đã xuất hiện ở nước ta cách đây trên cả nghìn năm. Cho đến nay, lịch sử giáo dục đại học Việt Nam đã trải qua các nền giáo dục khác nhau: phong kiến, thuộc địa và chủ nghĩa thực dân mới (ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975). Sự nghiệp giáo dục đại học từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã trải qua gần 70 năm qua và đạt được những thành tựu to lớn, trong đó quan trọng nhất là đã góp phần tạo ra các thế hệ nguồn lực con người Việt Nam, nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Ba là, ở nước ta hiện nay, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức về giáo dục đại học, nhưng qua các văn bản không chính thức, có thể hiểu giáo dục đại học là hình thức tổ chức giáo dục cho các bậc học sau giai đoạn bậc phổ thông với các trình độ đào tạo: gồm trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ. Nhưng chúng ta có các văn bản pháp luật quy định cụ thể cho nền giáo dục nói chung và chủ trương, chính sách giáo dục Đại học nói riêng.

    Bốn là, dân tộc Việt Nam có truyền thống hiếu học, ham học hỏi, biết áp dụng khoa học công nghệ, tiếp thu cái mới, tiến bộ trên thế giới để có thể ứng dụng tốt trong quá trình đào tạo, giáo dục …

    Từ những phân tích về các khó khăn và thuận lợi của nền giáo dục Đại học Việt Nam, một nhu cầu tất yếu trong ngành giáo dục là chúng ta cần đổi mới giáo dục, cần thực hiện các giải pháp phát triển giáo dục Đại học nói chung và giáo dục Đại học công lập nói riêng.

    Thứ nhât, phải thay đổi triết lý để chuyển một nền giáo dục lấy trang bị kiến thức chuyên môn làm mục tiêu chủ yếu sang một nền giáo dục chỉ dạy những kiến thức chuyên môn căn bản ở mức tối thiểu. Dành nhiều thời gian dạy người học về phương pháp, kỹ năng, cách tự học, dạy cách sử dụng, khai thác các thiết bị… và dạy làm người với mục đích người được đào tạo có khả năng thích ứng nhanh với hoàn cảnh, có khả năng học tập suốt đời và có trách nhiệm cao với gia đình, xã hội và Tổ quốc. Đi theo sự đổi mới này sẽ là hàng loạt những thay đổi căn bản. Từ chương trình, giáo trình, sách giáo khoa, người thày và cách thức giảng dạy. Theo triết lý mới này cách dạy và học sẽ chuyển từ học để nhớ sang chuyển sang học để hiểu. Cho đến nay hiện tượng quá tải như một căn bệnh không thể chữa và thay đổi sách giáo khoa diễn ra liên năm chính là do triết lý lấy dạy chuyên môn là mục tiêu quan trọng đẻ ra.

    Thứ hai, phải thay đổi một cách căn bản hệ thống đánh giá từ kiểm tra kiến thức sang đánh giá năng lực. Đầu vào thì đánh giá năng lực có học được (cấp học, chương trình học ấy) không. Trong quá trình thì đánh giá năng lực hiểu và tiếp thu sáng tạo những điều đã học. Đầu ra thì đánh giá năng lực vận dụng những điều đã học tập, rèn luyện vào môi trường sắp tới… Tóm lại phải thay đổi căn bản những gì đang làm hiện nay trong việc thi cử, đánh giá. Sự thay đổi này sẽ mở đường cho một giai đoạn mới, người thi sẽ được sử dụng các thiết bị CNTT (như máy tính chẳng hạn), sử dụng mạng internet…Việc tổ chức thi sẽ nhẹ nhàng, đơn giản và chắc chắn sẽ chấm dứt việc phải nhờ cậy đến lực lượng công an để bảo vệ đề, phải nhốt thầy ra đề trong khách sạn vừa tốn kém, vừa bức xúc…và nhất là sẽ không còn hiện tượng học vẹt, học tủ và quay cóp nữa.

    Thứ ba, việc xây dựng các chương trình giảng dạy phải có chuẩn đầu ra. Chuẩn đầu ra ở đây là phải lấy thực tế khách quan và yêu cầu của xã hội làm căn cứ, chứ không không phải là ” chuẩn” nhưng do nhà trường tự quy định như nhiều cơ sở đào tạo đang làm. Như vậy chuẩn đầu ra phải hiểu là đáp ứng nhu cầu rất đa dạng cả về chủng loại và chất lượng. Giáo dục đại học và chuyên nghiệp là nơi đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực các loại cho xã hội. Sự đa dạng yêu cầu về chủng loại và chất lượng lao động sẽ quy định chủng loại và sự phân tầng của các cơ sở đào tạo. Bên cạnh những yêu cầu chất lượng rất cao của các cơ sở hàng đầu, có yêu cầu vừa phải của các cơ sở không có nhu cầu đến mức ấy. Chẳng hạn, một doanh nghiệp gia đình nhỏ muốn có một kế toán đạt trình độ đại học thì chắc chắn không cần đến những kỹ sư tốt nghiệp những trường đại hàng đầu về kinh tế. Vậy phải có những trường đại học vừa tầm để đào tạo loại nhân lực này. Đây chính là luận lý căn bản để phải có cách nhìn phân tầng đối với giáo dục đại học. Trong ý nghĩa này nhất loạt hô khẩu hiệu ” chất lượng cao” là duy ý chí, không thực tế và cũng không phù hợp với thực tiễn.

    Thứ tư, đổi mới mạnh mẽ nội dung chương trình và phương pháp dạy học theo hướng hội nhập quốc tế. Nội dung chương trình và giáo trình cần được tổ chức xây dựng và triển khai theo hướng mở (cho phép cập nhật thường xuyên về kiến thức trong và ngoài nước, sử dụng giáo trình, học liệu trong nước hoặc ngoài nước một cách linh hoạt để giảng dạy cho người học), nội dung giảng dạy phải gắn chặt và phù hợp với yêu cầu thực tiễn của ngành nghề mà người học đang theo đuổi. Về phương pháp, cho phép sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học theo nguyên tắc “lấy người học là trung tâm”, giảm tải tối đa giờ giảng trên lớp để người học có thời gian tự học và tự nghiên cứu. Tất nhiên, các cơ sở đào tạo cần thường xuyên thực hiện việc kiểm tra, đánh giá khách quan, chặt chẽ để bảo đảm tính hiệu quả của việc dạy và học.

    Đổi mới vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước trong tổ chức giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế. Theo đó, về mặt pháp lý, cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các quy định về pháp luật đối với các hoạt động giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế. Các cơ quan quản lý nhà nước, trực tiếp là Bộ Giáo dục và Đào tạo cần thay đổi cách tư duy về quản lý đối với các hoạt động giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế. Thay vì trực tiếp quản lý toàn diện đối với các cơ sở giáo dục đại học, các cơ quan quản lý nhà nước chỉ nên đóng vai trò là cơ quan “tài phán”, định hướng các hoạt động theo luật pháp, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học được độc lập, tự chủ hơn trong các hoạt động. Cần tránh tư duy quản lý theo cách áp đặt, hoặc “bao cấp” đối với các hoạt động giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.

    Tăng cường các hoạt động nghiên cứu và công bố quốc tế, tiến tới quốc tế hóa các tiêu chuẩn đánh giá khoa học và các hoạt động về chuyên môn tại các cơ sở giáo dục đại học. Trước mắt, Nhà nước và các cơ sở giáo dục đại học cần có các cơ chế chính sách động viên, khuyến khích các nhà khoa học nghiên cứu và tích cực công bố kết quả nghiên cứu trên các ấn phẩm khoa học quốc tế. Về lâu dài, cần đặt ra lộ trình (đối với mỗi cơ sở giáo dục đại học khác nhau cần có những lộ trình khác nhau) tiến tới quốc tế hóa các tiêu chuẩn đánh giá các hoạt động khoa học và các hoạt động về chuyên môn trong tất cả các cơ sở giáo dục đại học, đồng thời cần coi đây là giải pháp quan trọng để đưa giáo dục đại học Việt Nam hội nhập sâu hơn vào môi trường quốc tế./.

    Thứ sáu, việc đổi mới tư duy giáo dục hiện nay cần “gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; hệ thống giáo dục được chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và mang đậm bản sắc dân tộc.

    Thực hiện đầy đủ các giải pháp nêu trên thì nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến ở trong khu vực, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng khẳng định. Các cấp, các ngành, trước hết là Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có sự thay đổi một cách mạnh mẽ về tư duy trong tổ chức giáo dục đại học, như thay đổi cách tuyển sinh, lựa chọn “đầu vào” theo hướng thoáng hơn, cho phép các cơ sở giáo dục đại học tự đặt ra các tiêu chuẩn tuyển sinh và chịu trách nhiệm với người học bằng chính “uy tín” đào tạo của mình, cho phép hình thành nhiều mô hình đào tạo đại học khác nhau, kiểm soát chặt chẽ “đầu ra” của mỗi cơ sở đào tạo để bảo đảm chất lượng chung…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Giáo Dục Việt Nam Ta Hiện Nay
  • Nợ Công Ở Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp Tăng Cường Quản Lý
  • Luận Văn Tiểu Luận Hậu Quả Và Giải Pháp Cho Nợ Công Ở Việt Nam
  • Hàm Ý Chính Sách Cho Giải Pháp Quản Lý Nợ Công Của Việt Nam
  • Giải Pháp Cho Vấn Đề Nợ Công Của Việt Nam
  • Đoàn Kết Tôn Giáo Ở Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Giải Quyết Các Vấn Đề Dân Tộc Và Tôn Giáo Ở Vùng Tây Nam Bộ
  • ​tìm Hiểu Thực Trạng Vấn Đề Tôn Giáo Và Dân Tộc Trong Phát Triển Hiện Nay Ở Gia Lai
  • Mục Tiêu, Giải Pháp Vấn Đề Tôn Giáo
  • Dân Số Già Hóa Có Thực Sự Là Gánh Nặng Cho Nền Kinh Tế?
  • Nghiệm Thu Đề Tài Khoa Học “nghiên Cứu Các Giải Pháp Phòng, Chống Bạo Lực Gia Đình Ở Việt Nam Hiện Nay”
  • Thứ hai, 10 Tháng 7 2022 17:33

    (LLCT) – Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội có một niềm tin vào lực lượng siêu trần thế, là kết quả của sự phản ánh hư ảo đời sống hiện thực của con người nhưng lại có sức mạnh chi phối hoàn toàn cuộc sống hàng ngày của con người.

    Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Với vị trí có đường bờ biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các nước trên thế giới về văn hóa và tôn giáo.

    Về mặt dân cư, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em. Mỗi một dân tộc có tín ngưỡng tôn giáo riêng. Người Việt thờ cúng tổ tiên, thờ Thành Hoàng làng, thờ những người có công với cộng đồng, của cư dân nông nghiệp lúa nước. Đồng bào các dân tộc thiểu số theo Tô tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo.

    Với loại hình đa tôn giáo, ở nước ta hiện nay có 6 tôn giáo ngoại nhập và 6 tôn giáo nội sinh với 33 tổ chức đã được công nhận tư cách pháp nhân, hoạt động hợp pháp dưới sự bảo hộ của pháp luật. Các tôn giáo ngoại nhập vào Việt Nam là Phật giáo, Đạo Công giáo, Đạo Hồi, Đạo Tin lành, Đạo Minh Sư, Đạo Baha’i.

    Đạo Phật ra đời ở Ấn Độ vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên, là tôn giáo chủ trương bình đẳng con người, giải thoát con người khỏi khổ đau thông qua việc con người phải tu học, nâng cao nhận thức về chính mình và thế giới, dần dứt bỏ tiến tới đoạn tuyệt tham lam, ngu dốt, sân hận để thực hiện cuộc sống trong sự ôn hoà, đoàn kết, tương trợ nhau để cùng đạt tới hạnh phúc, an lạc. Phật giáo tới Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ II sau Công nguyên. Hiện nay “Phật giáo ở Việt Nam có trên 10 triệu tín đồ, gần 17 nghìn ngôi chùa, 45 nghìn nhà sư”(1). Có thể nói, Phật giáo là tôn giáo yêu nước đồng hành cùng dân tộc.

    Đạo Công giáo (có nguồn gốc từ Kitô giáo) ra đời ở phía Đông đế quốc La Mã cổ đại vào thế kỷ I Công nguyên, tới thế kỷ XI, Kitô giáo phân chia thành hai phái: Công giáo và Chính thống giáo. Công giáo có tổ chức chặt chẽ, có giáo quyền, đứng đầu là Giáo hoàng ở Rôma và đó cũng là người đứng đầu Giáo triều Rôma chi phối hoạt động của tín đồ Công giáo trên thế giới. “Đạo Công giáo vào Việt Nam từ năm 1533 do các giáo sĩ phương Tây truyền vào. Công giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ xếp thứ hai ở Việt Nam sau Phật giáo, hiện nay với gần 6 triệu tín đồ, 01 Hồng y, 43 Giám mục, 3.462 linh mục cai quản 3.100 giáo xứ”(2). Công giáo ở Việt Nam thực hiện phương châm “kính chúa yêu nước”, tuyệt đại đa số chức sắc, tín đồ là công dân tốt thực hiện sống “tốt đời đẹp đạo” .

    Đạo Hồi ra đời ở Ảrập vào đầu thế kỷ thứ VII. Hồi giáo truyền vào khu vực Đông Nam Á từ thế kỷ thứ XI, XII, theo các nhà buôn, theo con đường hoà bình, khác với thời kỳ thánh chiến trước đó. Đông Nam Á là một trong những khu vực Hồi giáo phát triển, ước tính hơn 60% dân số các quốc gia khu vực này theo Hồi giáo. Tại Việt Nam, tỷ lệ người theo Hồi giáo không nhiều, chỉ có người Chăm theo Hồi giáo, “hiện có 4 tổ chức, với số lượng gần 70 nghìn tín đồ chủ yếu ở: Ninh Thuận, Bình Thuận, An Giang, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai”(3). Hồi giáo ở Việt Nam là tôn giáo hòa nhập với xã hội, trong thời gian gần đây mới có giao lưu với Hồi giáo trong khu vực và quốc tế.

    Đạo Tin lành vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX. “Trước năm 1975, ở miền Bắc, Tin lành có vài nghìn tín đồ với 20 mục sư, miền Nam hơn 200 ngàn tín đồ với 500 mục sư. Tới năm 2009, Việt Nam có 9 tổ chức Tin lành được công nhận tư cách pháp nhân với trên 980 nghìn tín đồ với 749 chức sắc”(4). Xuất phát Tin lành là sản phẩm của xã hội công nghiệp phát triển nhưng hiện tại Tin lành đang rất tích cực phát triển ở vùng sâu, miền núi của Việt Nam.

    Đạo Minh Sư (Giáo hội Phật đường Nam tông Minh sư đạo Việt Nam) là tôn giáo thờ đa thần, có nguồn gốc từ Trung Quốc, truyền vào Việt Nam từ năm 1863, hoạt động theo tôn chỉ “Từ bi – Giác ngộ – giải thoát” hiệp nhất tinh hoa của ba tôn giáo lớn Nho – Phật – Lão. Hiện “Minh Sư đạo có khoảng một vạn tín đồ hoạt động ở 18 tỉnh, thành phố với 52 Phật đường”(5).

    Đạo Baha’i là tôn giáo nhất thần thờ Thượng đế, ra đời năm 1863 tại Ba Tư (nay là I-ran), chủ trương của đạo Baha’i là xoá bỏ hận thù mâu thuẫn, xây dựng sự cảm thông và hợp tác, xoá bỏ đói nghèo và sự tích lũy quá mức. Năm 2010, Baha’i giáo đã có trên 7 triệu tín đồ ở 235 quốc gia và vùng lãnh thổ. Baha’i giáo được truyền vào Việt Nam từ năm 1954 tại Sài Gòn, tới nay có mặt ở 45 tỉnh, thành phố với số lượng khoảng 7.000 tín đồ(6). Cộng đồng Baha’i Việt Nam có quan hệ mật thiết với cộng đồng Baha’i quốc tế.

    Ngoài ra còn có các tôn giáo nội sinh như Đạo Bửu Sơn kỳ hương ra đời năm 1849 tại Tây An cổ tự, Chợ Mới, An Giang; Đạo Tứ ân hiếu nghĩa ra đời tháng 5-1867 tại Cù lao Ba, An Phú, An Giang; Đạo Minh Lý (còn gọi là Minh lý đạo – tam tông miếu) ra đời năm 1924 tại miền Nam; Đạo Cao đài ra đời 15-10-1926 (AL) tại Tây Ninh; Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam ra đời năm 1934 tại Sa Đéc Đồng Tháp; Phật giáo Hoà Hảo có nguồn gốc giáo lý từ đạo Phật nhưng được lược hoá, địa phương hoá cho phù hợp với trình độ lối sống của người dân địa phương. Phật giáo Hoà Hảo ra đời năm 1939 tại làng Hoà Hảo, Tân Phú, An Giang(7).

    Từ phân tích thực trạng tôn giáo hiện nay ở Việt Nam, chúng ta thấy được sự khác biệt từ nguồn gốc, cơ sở đức tin cho tới lịch sử quá trình tồn tại và phát triển,… đã nói lên tính đa dạng và phức tạp trong cộng đồng các tôn giáo ở Việt Nam.

    Hiện nay, công cuộc xây dựng CNXH của nước ta đang đứng trước nhiều thử thách. Các thế lực thù địch chống đối Việt Nam đã công khai ý đồ chuyển hoá chế độ chính trị ở Việt Nam. Chúng triệt để lợi dụng vấn đề tôn giáo và dân tộc để chống phá ta. Mục tiêu cuối cùng của chúng là xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xoá bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

    Để tăng cường đoàn kết tôn giáo ở nước ta hiện nay, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

    Một là, nâng cao nhận thức tư tưởng về vấn đề đoàn kết tôn giáo trong tình hình mới

    Cần nâng cao nhận thức tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng theo tôn giáo về ý nghĩa, vai trò của công tác đoàn kết tôn giáo trong thời kỳ mới. Mặc dù đất nước ta đang trong thời kỳ hoà bình, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và tăng cường giao lưu hợp tác quốc tế, nhưng các thế lực thù địch trong và ngoài nước luôn tìm mọi thủ đoạn để chống phá sự nghiệp đổi mới và cuộc sống hoà bình thống nhất của dân tộc ta. Do vậy, đồng bào các tôn giáo, các dân tộc phải đoàn kết chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng mới tạo ra sức mạnh tổng hợp để đưa nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu, nghèo nàn, vươn lên sánh vai với các quốc gia trong khu vực và cộng đồng quốc tế.

    Cần tăng cường tuyên truyền, quán triệt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, về công tác tôn giáo đến đồng bào tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, trước hết là đối với chức sắc trong các tôn giáo để họ hiểu sâu sắc và toàn diện về tình hình đất nước; trao đổi dân chủ và thẳng thắn, sẵn sàng tiếp thu ý kiến và đáp ứng nguyện vọng chính đáng của họ. Đồng thời, cần tạo điều kiện thuận lợi để họ hoạt động tôn giáo theo khuôn khổ của pháp luật, thực hiện tốt đời, đẹp đạo.

    Phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng nhằm tuyên truyền và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới.

    Hai là, bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

    Văn kiện Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII nêu rõ: Tôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của dân, đảm bảo cho các tôn giáo hoạt động bình thường trên cơ sở tôn trọng pháp luật, nghiêm cấm xâm phạm tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng. Thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc.

    Quan điểm của Đảng về tôn giáo được thể hiện rõ trong Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do, tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”(8).

    Mối quan hệ giữa Nhà nước với các tôn giáo ở Việt Nam đã tìm được sự đồng thuận, gắn bó tôn giáo với xã hội (Đạo – Đời). Phương châm hành đạo của các tôn giáo đã phản ánh rõ điều đó. Phật giáo: Đạo giáo, Dân tộc và CNXH. Công giáo: Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào. Tin Lành: Sống phúc âm, phụng Thiên Chúa, Phục vụ Tổ quốc. Cao Đài: Nước vinh, Đạo sáng. Hòa Hảo: Phụng đạo yêu Nước, gắn bó với Dân tộc.

    Ba là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo và vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước về tôn giáo trong bối cảnh hiện nay.

    Những năm qua, cùng với việc kiện toàn Ban Tôn giáo các cấp, nhiều địa phương đã bổ sung, tăng cường đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo. Song thực tế cho thấy, đa số cán bộ làm công tác tôn giáo chưa được đào tạo cơ bản, hệ thống về công tác tôn giáo. Do vậy, các cấp ủy, chính quyền phải tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo, giúp họ có kiến thức cơ bản về tôn giáo, tín ngưỡng, nắm vững pháp luật về tôn giáo để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

    Thực tiễn cho thấy, trong những năm gần đây, việc tổ chức sinh hoạt tôn giáo, in ấn, xuất nhập, lưu hành kinh sách, sử dụng đất đai làm cơ sở thờ tự còn khá tùy tiện. Vẫn còn tình trạng lợi dụng tôn giáo để tiến hành các hoạt động gây phương hại đến khối đại đoàn kết dân tộc. Như vụ việc Linh mục Nguyễn Văn Khải (giáo xứ Thái Hà) đã lợi dụng tự do tôn giáo kích động giáo dân đòi khu đất ở 178 Nguyễn Lương Bằng…

    Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Các bộ phận của hệ thống chính trị cần phối hợp chặt chẽ, đồng bộ trong đó Đảng nêu chủ trương đường lối đúng, Nhà nước ban hành chính sách pháp luật để thực hiện sự quản lý đối với tôn giáo, các đoàn thể và Mặt trận có trách nhiệm vận dộng quần chúng tín đồ và chức sắc các tôn giáo cùng nhau xây dựng đất nước.

    Bốn là, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các tôn giáo

    Chăm lo đến phần đời của đồng bào có đạo chính là chăm lo đến đời sống vật chất và cả đời sống tinh thần của đồng bào. Hiện tượng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, việc đồng bào Tây nguyên theo đạo Tin lành với số lượng lớn trong thời gian ngắn có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về đời sống kinh tế khó khăn, đời sống tinh thần nghèo nàn. Theo số liệu thống kê năm 1999 (năm có số lượng đồng bào dân tộc miền núi phía Bắc và Tây Nguyên theo đạo Tin lành ồ ạt), “tỷ lệ đói nghèo ở các tỉnh tính theo hộ gia đình, tỉnh Hoà Bình số hộ nghèo đói là: 55,7%; Kon tum: 54,4%; Quảng Bình: 46%; Gia Lai: 44,85%; Lai Châu: 42,4%; Sơn La: 40%, một số huyện thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên có tỷ lệ hộ nghèo đói rất cao từ 60 – 70%”(10).

    Vì vậy, Đảng, Nhà nước cần có sự quan tâm và đầu tư đặc biệt hơn nữa để đồng bào theo đạo có điều kiện phát triển kinh tế, nâng cao đời sống. Các chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước đối với đồng bào tôn giáo nói chung và đồng bào tôn giáo ở các vùng dân tộc và miền núi nói riêng cần phải sát hợp với yêu cầu cụ thể, bức thiết của nhân dân địa phương và phải được quản lý chặt chẽ, tránh thất thoát, hoặc không có hiệu quả.

    Tổ chức thực hiện tốt phong trào thi đua yêu nước và phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu vực đồng bào có đạo. Xây dựng điển hình tiên tiến và các tấm gương tiêu biểu trong phong trào để tuyên truyền, nhân rộng trong nhân dân.

    Tăng cường tổng kết kinh nghiệm thực tiễn ở cơ sở và trao đổi kinh nghiệm giữa các khu dân cư có đạo để tạo thêm hiểu biết và đoàn kết giúp đỡ nhau trong phát triển kinh tế – xã hội.

    Năm là, thực hiện bình đẳng giữa các tôn giáo, giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo đạo

    Coi trọng sự bình đẳng của những người có tín ngưỡng tôn giáo hay không có tín ngưỡng tôn giáo trước pháp luật, lợi ích của tôn giáo phải thống nhất và phục tùng lợi ích của Nhà nước. Cộng đồng tôn giáo nằm trong cộng đồng dân tộc. Tôn trọng sinh hoạt tôn giáo, nhưng cần phê phán kịp thời những hành vi tôn giáo trái pháp luật, đi ngược lại văn hoá, phản đạo đức, có hại đến tính mạng con người, khích bác các tôn giáo khác hoặc chia rẽ nội bộ dân tộc, chống các âm mưu lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng, gây rối an ninh, trật tự xã hội của các lực luợng thù địch trong và ngoài nước. Đồng thời, cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ tham gia quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tôn giáo.

    Để tăng cường đoàn kết tôn giáo, phải làm tốt công tác vận động quần chúng, đưa quần chúng tham gia trực tiếp vào công cuộc xây dựng đời sống mới, xoá bỏ hàng rào ngăn cản giữa người có đạo và không có đạo; làm cho các tín đồ và chức sắc nhận rõ âm mưu và thủ đoạn đen tối của bọn phản động, tự đấu tranh chống lại chúng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng chính đáng của mình, bảo vệ an ninh Tổ quốc.

    Sáu là, kiên quyết đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực trong tôn giáo và đập tan âm mưu lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng của lực lượng thù địch

    Đảng và Nhà nước ta kiên trì thực hiện chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo, mọi hoạt động tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, và đều có nghĩa vụ và trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tự do tín ngưỡng tôn giáo không có nghĩa là hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tự do tín ngưỡng không có nghĩa là ép buộc người khác bỏ đạo hoặc theo đạo. Tự do không theo hoặc theo một tôn giáo là một quyền cơ bản của con người, cần phải được tôn trọng và bảo vệ không chỉ trong Hiến pháp, mà ngay cả trong thực tiễn cuộc sống. Vì vậy, trong khi thực hiện nhất quán chính sách tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng, Đảng, Nhà nước kiên quyết đấu tranh chống mọi sự lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

    Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 12-2016

    (1), (3), (4), (6), (7) Bùi Hữu Dược:Đoàn kết tôn giáo để thực hiện sự nghiệp xây dựng đất nước, (2015), Website Ban Tôn giáo Chính phủ.

    (2) Phương Liên, Website ban Tôn giáo Chính Phủ.

    (5) Wikipedia – Minh sư đạo.

    (8) Hiến pháp 2013, Điều 24, Chương II.

    TS Nguyễn Thị Thu Hường

    Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cổng Điện Tử Kh&cn Quảng Trị
  • Đảng Bộ Công An Tỉnh Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xii): Thực Hiện Tốt Giải Pháp Kiểm Tra, Giám Sát
  • 5 Giải Pháp Để Tăng Cường Công Tác Kiểm Tra Đảng Trong Đảng Bộ Công An Tư
  • Nâng Cao Hiệu Lực, Hiệu Quả Kiểm Tra, Giám Sát, Kỷ Luật Đảng
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát, Kỷ Luật Đảng
  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Xã Hội Việt Nam Trong Bối Cảnh Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Xã Hội Học Giáo Dục
  • Phòng Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Phòng Giáo Dục Đào Tạo Cấp Quận/huyện Đang Có Những Nhiệm Vụ Gì?
  • Chức Năng Của Văn Học Là Gì? Đặc Trưng Và Vai Trò Của Văn Học
  • Giáo Dục Nhân Cách Cho Trẻ Bằng Văn Học Thiếu Nhi
  • Giáo dục là phương tiện để đánh thức và nhận ra khả năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người. Nó ứng dụng phương pháp giáo dục, một phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa dạy và học để đưa đến những rèn luyện….

    1. Khái niệm giáo dục là gì?

    Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực. Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại.

    Giáo dục bao gồm việc dạy và học, và đôi khi nó cũng mang ý nghĩa sâu sắc hơn nhưng ít hữu hình hơn như là quá trình truyền thụ, phổ biến tri thức, truyền thụ sự suy luận đúng đắn, truyền thụ sự hiểu biết. Giáo dục là nền tảng cho việc truyền thụ, phổ biến văn hóa từ thế hệ này đến thế hệ khác.

    Giáo dục là phương tiện để đánh thức và nhận ra khả năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người. Nó ứng dụng phương pháp giáo dục, một phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa dạy và học để đưa đến những rèn luyện về tinh thần, và làm chủ được các mặt như: ngôn ngữ, tâm lý, tình cảm, tâm thần, cách ứng xử trong xã hội.

    Dạy học là một hình thức giáo dục đặc biệt quan trọng và cần thiết cho sự phát triển trí tuệ, hoàn thiện nhân cách học sinh.

    Quá trình dạy học nói riêng và quá trình giáo dục nói chung luôn gồm các thành tố có liên hệ mang tính hệ thống với nhau: mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, phương tiện giáo dục, hình thức tổ chức và đánh giá.

    Sự giáo dục của mỗi cá người bắt đầu từ khi sinh ra và tiếp tục trong suốt cuộc đời. (Một vài người tin rằng, sự giáo dục thậm chí còn bắt đầu trước khi sinh ra, theo đó một số cha mẹ mở nhạc, hoặc đọc cho những đứa trẻ trong bụng mẹ với hy vọng nó sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của đứa trẻ sau này).

    Với một số người quá trình đấu tranh giành giật sự sống, giành giật sự thắng lợi trong cuộc sống cung cấp kiến thức nhiều hơn cả sự truyền thụ kiến thức ở các trường học. Các cá nhân trong gia đình có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả giáo dục, thường có ảnh hưởng nhiều hơn là họ nhận ra, mặc dù việc dạy dỗ trong gia đình có thể không có tính chính thức, chỉ có chức năng giáo dục rất thông thường.

    Vậy vai trò của giáo dục đối với xã hội việt nam trong bối cảnh hiện nay như thế nào?

    2. Vai trò của giáo dục đối với xã hội việt nam trong bối cảnh hiện nay

    Ngày nay, trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, tỷ lệ lao động cơ bắp ngày một giảm, lao động trí tuệ ngày càng gia tăng, lợi thế so sánh dựa trên số lượng lao động và giá nhân công rẻ cũng ngày một giảm và đang chuyển dần về phía những quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao.

    Do đó, chất lượng nguồn nhân lực đang trở thành yếu tố quyết định nhất đối với phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, Đảng ta cũng nhất quán quan điểm khẳng định: “Nguồn lực con người là quý báu, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”.

    Tuy nhiên, để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta phải cần đến một hệ thống giải pháp đồng bộ về giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng dân số, cải thiện môi trường sống, tạo việc làm, tổ chức khai thác lực lượng lao động, phát triển văn hóa tạo ra động lực kích thích tính tích cực ở con người.

    Không chỉ trong điều kiện hiện nay, mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin lúc đương thời đã rất coi trọng vai trò của giáo dục,luôn đặt giáo dục, đào tạo ở vị trí trung tâm trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Trong tác phẩm “Bàn về chế độ hợp tác”, V.I. Lênin viết: “Sự thay đổi căn bản đó là ở chỗ: trước đây chúng ta đã đặt và không thể không đặt trọng tâm công tác của chúng ta vào cuộc đấu tranh chính trị, vào cách mạng, vào việc giành lấy chính quyền… thì trọng tâm công tác của chúng ta hiện nay quả thật là xoáy vào hoạt động giáo dục”.

    Người cũng giải thích rõ tại sao giáo dục, đào tạo lại có tầm quan trọng đặc biệt như vậy. Đó là vì cơ sở vật chất duy nhất của chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp và để có được cơ sở đó, không có cách nào khác là nước Nga phải tiến hành điện khí hóa toàn quốc.

    Nhưng công việc điện khí hóa toàn quốc lại “không thể do những người mù chữ mà thực hiện được, mà chỉ biết chữ thôi thì cũng không đủ. Công việc tiến hành điện khí hóa toàn quốc chỉ có thể thực hiện trên cơ sở một nền học vấn hiện đại, nền học vấn mà thiếu nó thì chủ nghĩa cộng sản vẫn chỉ là một nguyện vọng mà thôi”.

    Và để có được nền học vấn đó thì cũng chỉ có một cách duy nhất là tập trung vào phát triển giáo dục, đào tạo. Từ những chỉ dẫn của các nhà kinh điển và yêu cầu của thực tiễn, Đảng ta đã coi giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu. Bởi lẽ, “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam”.

    Đồng thời, Đảng xác định ba mục tiêu mà sự nghiệp giáo dục, đào tạo phải đạt tới là nâng cao dân trí, phát triển nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, trong đó phát triển nhân lực là mục tiêu có ý nghĩa quan trọng và được ưu tiên hơn.

    Nói đến nguồn nhân lực là nói đến tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm việc, kinh nghiệm sống, đạo đức, lý tưởng, chất lượng văn hóa, năng lực chuyên môn, tính năng động trong công việc mà bản thân con người và xã hội có thể huy động vào cuộc sống lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ của xã hội.

    Phát triển nguồn nhân lực có thể hiểu là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm tạo ra sự tăng trưởng về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực; đồng thời, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng để nguồn lực này đáp ứng ngày càng tốt hơn sự phát triển bền vững của đất nước.

    Từ nội dung của phát triển nguồn nhân lực như vậy, chúng ta có thể thấy vai trò của giáo dục, đào tạo đối với phát triển nguồn nhân lực thực chất là làm gia tăng về chất lượng của nguồn nhân lực và đảm bảo cơ cấu về số lượng lao động một cách hợp lý trong từng ngành, lĩnh vực.

    Những vai trò trên, giáo dục cần phải được coi trọng và đầu tư hơn nữa, vì mục tiên phát triển bền vững, sánh vai với các cường quốc trên thế giới.

    Nguồn:Tri Thức Cộng Ðồng

    --- Bài cũ hơn ---

  • “đánh Giá Trong Giáo Dục Mầm Non” Của Nhà Giáo Dục
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 10
  • Bài 10: Quan Niệm Về Đạo Đức
  • Giáo Dục Gia Đình Góp Phần Quan Trọng Hình Thành Và Phát Triển Nhân Cách Con Người
  • Bài Giảng Giáo Dục Gia Đình
  • Giải Pháp Cho Thực Trạng Giao Thông Việt Nam Hiện Nay – Webvision

    --- Bài mới hơn ---

  • Yên Bình: Giải Pháp Nào Giảm Tai Nạn Giao Thông?
  • Đẩy Mạnh Tuyên Truyền Về An Toàn Giao Thông Giai Đoạn 2022
  • Hiệu Quả Công Tác Tuyên Truyền Pháp Luật Về Trật Tự An Toàn Giao Thông Trên Địa Bàn Bắc Giang
  • An Toàn Điện (Phần 1)
  • Biện Pháp Đảm Bảo An Toàn Trong Vận Hành Điện
  • Từ khi nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường thì bức tranh về kinh tế của Việt Nam có nhiều điểm sáng, mức sống của người dân được cải thiện từng bước, kinh tế ngày càng tăng trưởng. Tuy nhiên đi liền với nó là vấn đề về tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, số vụ giao thông không ngừng tăng cả về quy mô và số lượng gây ảnh hưởng vô cùng lớn đến xã hội.

    Thực trạng giao thông Việt Nam hiện nay

    Theo thống kê của Cục CSGT đường bộ- đường sắt và Uỷ ban ATGT Quốc gia, tính đến hết tháng 9, cả nước đã xảy ra tới 10.518 vụ TNGT làm 9.510 người chết và 10.700 người bị thương.

    Cũng theo số liệu thống kê, có tới 50% số người tham gia giao thông không dùng đèn báo khi chuyển hướng, 85% không dùng còi đúng quy định, 70% không dùng phanh tay, 90% không sử dụng đúng đèn chiếu sáng xa, gần và 72% không đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên mô tô trên những tuyến đường bắt buộc. Ngoài ra, tình trạng vượt đèn đỏ, uống rượu bia say, chở quá tải, quá tốc độ, lấn làn đường trong thời gian qua vẫn luôn ở mức báo động và rất khó kiểm soát.

    Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng này

    Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng giao thông như đã nêu trên chính là sự lấn chiếm hành lang an toàn giao thông, sự gia tăng quá nhanh của các phương tiện giao thông cá nhân và ý thức của người tham gia giao thông quá kém và chưa được cải thiện nhiều trong những năm gần đây. Bên cạnh đó cũng phải kể đến đường xá của chúng ta quá nhỏ hẹp, nhiều khúc cua 90 độ trong khi đó có quá nhiều các biển báo cấm và biển báo hiệu trên một đoạn đường, vỉa hè bị lấn chiếm làm nơi kinh doanh bán hàng, để xe ô tô dẫn tới tình trạng người tham gia giao thông bị khuất tầm nhìn, nhiều đoạn đường xuống cấp quá nhanh có nguy cơ tiềm ẩn tai nạn giao thông.

    Ngoài ra, hiện nay các phương tiện giao thông tại Việt Nam chưa được chú trọng trang bị những thiết bị hỗ trợ tài xế lái xe thông minh, hạn chế những pha va chạm không đáng có xảy ra. Đối với những nước phát triển thì việc lắp đặt Các thiết bị hoặc thiết kế những tính năng thông minh trên xe đã được áp dụng và được coi trọng.

    Lắp thiết bị hỗ trợ lái xe là một trong những giải pháp an toàn và hợp lí.

    Giải pháp cho thực trạng giao thông Việt Nam hiện nay

    Để đưa ra một giải pháp hợp lý cho tình trạng giao thông ở nước ta hiện nay quả là một việc làm khó. Theo trang thông tin điện tử Bộ Giao Thông Vận Tải thì những giải pháp khắc phục cụ thể có thể thực hiện như sau:

    1) Lập lại trật tự hành lang giao thông đường bộ bị lấn chiếm và mở thêm các bãi đỗ xe công cộng.

    Việc giải toả hành lang bị lấn chiếm là điều cấp thiết tiếp theo là mở thêm các bãi đỗ xe công cộng còn về lâu về dài thì trên cơ sở những bãi đỗ xe này Nhà nước có thể tổ chức cho các cá nhân, tập thể đấu thầu nâng cấp dần dần các bãi đỗ xe này lên và vấn đề quản lý bến bãi.

    2) Xây dựng thêm các chợ xanh quanh khu dân cư để tránh tình trạng bán tràn lan trên vỉa hè.

    Phần lớn các siêu thị ở Việt Nam chưa phát triển và cũng do quỹ thời gian eo hẹp của chị em phụ nữ cho nên đến giờ tan tầm họ không vào các chợ mà tiện đường ghé mua thực phẩm cho nhanh và cũng không mất tiền gửi xe cho nên dẫn tới tình trạng lòng đường vỉa hè trở thành chợ dẫn đến cảnh ùn tắc kéo dài. Cũng cần nói thêm rằng, lúc này các biển cấm các phương tiện để trên vỉa hè hết hiệu lực (Cấm các phương tiện để trên vỉa hè lòng đường từ 7h đến 17h30) Cho nên trên vỉa hè lúc này đã trở thành cái chợ thực sự .

    – Không thu vé vào chợ đối với người mua hàng (thu thông qua người bán vào chợ)

    – Lối vào chợ là lối vào một chiều

    – Nên cấm các phương tiện giao thông để trên vỉa hè, lòng đường từ 7h đến 21h hàng ngày kể cả ngày lễ và chủ nhật.

    3) Tuyên truyền về luật an toàn giao thông.

    Theo một cuộc khảo sát gần đây cho thấy, phần lớn những người sử dụng xe mô tô tại Việt Nam không có kỹ năng điều khiển xe như quan sát khi chuyển hướng, xi nhan, chuyển số, hãm phanh, bấm còi…một phần do Nhà nước quản lý việc cấp bằng không được tốt, một phần do giáo trình dạy về môn học này không còn phù hợp với thực tiễn. Do đó, Sở giao thông công chính nên phối hợp với các xe máy Honda, Yamaha, Suziki, SYM soạn ra một giáo trình mới sát với thực tế hơn. Son với đó là đưa là đưa giáo trình an toàn giao thông vào các trường THCS, THPT xem đây như là một giáo trình bắt buộc giống như môn giáo dục quốc phòng. Nên chăng chấp nhận học sinh THPT đi xe mô tô trên 50 cm3 đến trường, việc này cũng có nghĩa là công nhận cấp GPLX cho các em.

    Tuyên truyền luật giao thông cũng là một trong những biện pháp hiệu quả.

    4) Thành lập đội cảnh sát mô tô lưu động.

     Mục đích của việc này là xử lý các trường hợp cố tình vượt đèn đỏ, xe chạy quá tốc độ, lấn làn đường, chở hàng cồng kềnh nhất là các xe đã quá cũ nát như xe babetta, xe lam… Chính phủ nên dành một phần tiền phạt thu được làm chế độ đãi ngộ thoả đáng cho các cán bộ chiến sỹ, một phần dành để thuê kho bãi có mái che để giữ các phương tiện giao thông vi phạm tránh tình trạng phạt nhưng không biết giữ phương tiện ở đâu, phần còn lại nộp vào Kho bạc Nhà nước.

    5) Khuyến khích lắp đặt các thiết bị hỗ trợ lái xe thông minh.

    Đối với một số nước phát triển thì việc lắp đặt các thiết bị hỗ trợ lái xe như Camera hành trình, gương chiều điểm mù của xe… đã trở thành bắt buộc. Còn đối vớ Việt Nam thì việc này chưa được chú trọng, chỉ là những chủ xe kĩ tính muốn bản thân được đảm bảo an toàn tuyệt đối hoặc một số trường hợp thấy chức năng của nó hữu ích nên lắp đặt.

    Camera hành trình là thiết bị cần thiết nhất lắp đặt trên mỗi xe ô tô. Tại sao tôi lại nói như vậy? Bởi vì, hiện nay thiết bị này không chỉ đơn thuần là ghi lại hành trình mà nó được thiết kế tích hợp rất nhiều tính năng thông minh như: Cảnh báo lấn làn đường, chạy quá tốc độ, cảnh báo nguy cơ va chạm sớm, cảnh báo đường giao nhau… Tất cả các tích năng này đều được thiết kế để hỗ trợ tài xế lái xe an toàn và giảm thiểu tai nạn giao thông cao nhất.

    Lái xe an toàn cùng Camera hành trình Webvision

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục An Toàn Giao Thông Cho Học Sinh Lớp 1
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục An Toàn Giao Thông Cho Học Sinh Lớp 4
  • Học Viện Lục Quân Đẩy Mạnh Công Tác Quản Lý, Đảm Bảo Trật Tự An Toàn Giao Thông
  • An Toàn Lao Động Là Trên Hết Trong Nhà Máy, Xưởng Sản Xuất
  • Các Biện Pháp Đảm Bảo An Toàn Trong Lao Động Sản Xuất – Trung Tâm Ứng Phó Sự Cố An Toàn Môi Trường
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100