Top 8 # Xem Nhiều Nhất Giải Pháp Bùng Nổ Dân Số Địa 11 Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Bùng Nổ Dân Số Và Dân Số Già

BÀI NGHIÊN CỨU – THUYẾT TRÌNH CHUYÊN KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ

BỘ MÔN: CÁC VẤN ĐỀ TOÀN CẦU.

ĐỀ TÀI:

BÙNG NỔ DÂN SỐ VÀ DÂN SỐ GIÀ – TÁC ĐỘNG CỦA VẤN ĐỀ TRONG QHQT VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT.

.

.

A-Tác động của dân số ( bùng nổ dân số và dân số già) đến QHQT: 1-Thúc đẩy hợp tác quốc tế và hình thành tư duy toàn cầu: Có thể thấy, bùng nổ dân số và dân số già thật sự là một vấn đề cần nhận được sự quan tâm sâu rộng của toàn thể các quốc gia, tổ chức, đoàn thể cũng như các cá nhân trên thế

1

Trích trong “Những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI” – chúng tôi Nguyễn Trọng Chuẩn.

.

.

.

B-Những giải pháp cho vấn đề bùng nổ dân số và dân số già trên thế giới hiện nay: 1-Đối với vấn đề bùng nổ dân số: Tình trạng bùng nổ dân số thực sự đã gióng lên hồi chuông báo động cho toàn nhân loại. Câu hỏi đặt ra lúc này là “Làm thế nào để ngăn chặn cũng như làm giảm sự gia tăng dân số trong thời gian sắp tới???”. Đây cũng chính là những gì mà toàn nhân loại đang hướng tới. Có nhiều biện pháp được đưa ra, nhiều phương thức được áp dụng đã mang lại hiệu quả cho thực trạng này. Trong hàng loạt biện pháp, có thể kể ra ở đây những biện pháp tối ưu nhất mà các quốc gia cũng như các khu vực có thể áp dụng để làm giảm độ nóng của gia tăng dân số. – Với những khu vực có sự tăng trưởng mạnh mẽ về dân số như châu Phi; một số nước châu Á và một số khu vực khác thì biện pháp nên làm ngay là phối hợp với các tổ chức thế giới (UNFPA, UNICEFT) trong chương trình vận động toàn dân nhận thức rõ tác hại cũng như những mặt trái của việc gia tăng dân số quá nhanh, chỉ rõ những tác động xấu của bùng nổ dân số đến y tế, giáo dục, lương thực, thực phẩm, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh dẫn đến tỷ lệ tử vong tăng cao. Cần phải hướng ý thức của người dân tại các nước này tới những nguy hại của bùng nổ dân số ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của họ. – Tuyên truyền phổ biến rộng rãi tác hại của vấn đề bùng nổ dân số trên các phương tiện thông tin đại chúng. Giáo dục ý thức của người dân thông qua những khẩu hiệu thiết thực. Chỉ rõ những lợi ích cũng như thuận lợi do việc có ít con đem lại. – Hợp tác quốc tế – Hội nghị quốc tế bàn và cùng giúp đỡ nhau vượt qua khủng hoảng về bùng nổ dân số. Kêu gọi những nỗ lực chung từ các quốc gia trong việc làm giảm sự tăng dân số. Xây dựng những chiến lược cho vấn đề giảm dân số nhằm hoạch định chính sách cho các quốc gia dựa trên đặc thù riêng của mình, đồng thời là nền tảng cho các dự án của các tổ chức quốc tế về vấn đề dân số. – Nâng cao khả năng tiếp cận đối với các dịch vụ về sức khỏe, bao gồm kế hoạch hóa gia đình. – Cho các cặp vợ chồng quyền được quyết định số con mà mình muốn.

.

– Mở rộng hơn nữa các cơ hội về giáo dục, nâng cao hiểu biết cho con người, một thực tế chứng minh rằng những người phụ nữ và nam giới được giáo dục có xu hướng muốn một gia đình nhỏ hơn. – Cải thiện tình trạng trẻ em bị chết sau sinh: chỉ khi các cặp vợ chồng cảm thấy yên tâm về những đứa con mà mình sinh ra, về khả năng sống sót của chúng, các cặp vợ chồng mới sẵn sàng sinh ít con hơn. – Đầu tư cho phụ nữ: Mở rộng cơ hội cho những phụ nữ trẻ tuổi trong vấn đề nâng cao nhận thức, phụ nữ có học vấn sẽ có nhiều quyền lựa chọn hơn, có tiếng nói hơn trong gia đình và trong xã hội. Khi vai trò phụ nữ được tăng lên, tình trạng “trọng nam khinh nữ” cũng được khắc phục bởi đây chính là một trong những nguyên nhân của việc sinh nhiều con dẫn đến gia tăng dân số. – Giáo dục cho lứa tuổi vị thành niên ở tất cả các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia có tỷ lệ sinh cao nhận thấy được mối đe dọa do sự bùng nổ dân số đem lại, đề cập đến các biện pháp về quan hệ tình dục an toàn, ngăn chặn vấn đề quan hệ tình dục quá sớm ở lứa tuổi này. Trên thế giới hiện nay, nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên đang là một vấn nạn ở hầu hết các quốc gia.

* Giải pháp cụ thể đối với các quốc gia trên thế giới hiện nay: – Các nhà chức trách phải phối hợp với tổ chức dân số thế giới để điều chỉnh mức tăng dân số các nước về mức cân bằng. – Cần củng cố và kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác Dân số – Kế hoạch hóa gia đình ở các cấp. – Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền với nội dung và hình thức phù hợp với từng vùng, từng nhóm dân cư…nhằm giảm gia tăng dân số. – Mở rộng và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình.

.

– Tạo môi trường tâm lý, xã hội tích cực thúc đẩy phong trài thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. – Cán bộ nhà nước đi đầu, gương mẫu trong công tác dân số. – Bản thân mỗi công dân cần có nhận thức đầy đủ về vấn đề dân số, sự gia tăng dân số chóng mặt và tác hại của nó, để có thể phòng tránh sự bùng nổ dân số, gia tăng chất lượng dân số để hạn chế tác hại của số lượng dân số khổng lồ. 2- Đối với vấn đề dân số già: Tuổi thọ trung bình của dân số toàn cầu đang ngày càng tăng cao, nguy cơ mà nhân loại phải đối mặt với thực trạng này là sự thiếu hụt nguồn lao động. Hiện nay thì tình trạng này đã xảy ra tại châu Âu và những khu vực phát triển, tỷ lệ người thất nghiệp cao nhưng tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động lại rất thấp. Khoa học – công nghệ phát triển đòi hỏi con người tiếp xúc nhiều hơn với quá trình hiện đại hóa trong công nghiệp, và hơn hết, nguồn lao động trẻ mới thực sự là những người làm chủ những trang thiết bị máy móc hiện đại. Đòi hỏi đặt ra lúc này là làm sao để giảm thiểu tối đa tình trạng dân số trên thế giới và tăng cường bổ sung lại nguồn lao động trẻ? Để trả lời câu hỏi này, cần phải đi vào giải pháp cụ thể cho vấn đề đó. Trước hết là việc phải giảm tình trạng dân số già. Sự gia tăng đột biến tỷ lệ dân số già đang là một thách thức với nhân loại. Nhất là tại những quốc gia phát triển thịnh vượng như Nhật Bản (tỷ lệ dân số già cao nhất thế giới), Ý, Anh, Pháp, Mỹ, biện pháp cụ thể với các quốc gia này: -Cần có các chính sách khuyến khích sinh sản ở độ tuổi phù hợp. -Hạn chế việc lập gia đình và sinh con muộn. -Tuyên truyền nâng cao ý thức hệ của người dân về sự đóng góp của sinh sản theo kế hoạch đối với lợi ích quốc gia và thề giới. -Chính phủ có những chính sách thúc đẩy tỷ lệ sinh như: chính phủ Hàn Quốc đã có những hình thức khích lệ về mặt tài chính dành cho những phụ nữ sinh con hay những bà mẹ đang đi làm; Nhật Bản cho phép người nước ngoài nhập cư để giảm dân số già và nâng cao tỷ lệ kết hôn. -Hạn chế tình trạng nạo phá thai.

.

C-Liên hệ với thực tế tại Việt Nam hiện nay: Nước ta là một nước nhỏ, lại vừa trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ trong thế kỷ XX và giành độc lập thống nhất nước nhà mới được hơn 30 năm. Chừng ấy thời gian là chưa đủ để Việt Nam có thể khắc phục hết những di chứng của chiến tranh và vươn lên phát triển. Tuy nhiên nhờ công cuộc đổi mới 1986, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Nhà nước, nước ta đã từng bước vươn lên khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế và trở thành một quốc gia đang trên đà phát triển. Nhưng cũng chính vì điều này mà Việt Nam cũng đã không phải là một ngoại lệ khi trở thành “nạn nhân” của những vấn đề toàn cầu trong

.

đó có dân số. Những năm cuối của thế kỷ XX trở về trước, tốc độ gia tăng dân số ở nước ta thuộc hàng cao nhất thế giới. Sự bùng nổ dân số ở Việt Nam đã tác động rất nhiều đến đời sống xã hội của người dân. Đặc biệt khi nước ta có tới hơn 80% dân số sống bằng nông nghiệp thì sự bùng nổ dân số kéo theo việc ảnh hưởng đến diện tích đất canh tác bình quân trên đầu người ngày một giảm đi. Chính phủ và nhà nước đã rất cố gắng để ổn định sự gia tăng dân số. Và cơ bản cho đến thời điểm này, dân số Việt Nam đã đi vào quỹ đạo ổn định và cũng có dấu hiệu tích cực khi tỷ lệ sinh và tỷ lệ tử đang giảm đi đáng kể. Kết quả đó một phần là nhờ vào chính sách hợp lý của nhà nước, ý thức của người dân trong vấn đề này ngày càng được cải thiện và nâng cao, làm tốt công tác tuyên truyền. Nước ta cũng hết sức tạo điều kiện cho các tổ chức tình nguyện về vấn đề dân số và trẻ em đến hoạt động tại Việt Nam trong đó đáng kể nhất là: Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA)…với hàng loạt những hành động biện pháp giúp đỡ chính phủ ta thông qua các dự án về xóa đói giảm nghèo, về giáo dục…

D-Kết luận: Khi mà nguồn tài nguyên trên trái đất đang ngày một cạn kiệt, việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên này luôn là vấn đề tối quan trọng đối với sự tồn vong của con người. Dân số toàn cầu bùng nổ tạo nển yêu cầu phải kìm hãm đà tăng dân số. Mặt khác, việc kiềm chế tình trạng dân số già ở các nước phát triển cũng là vấn đề cấp bách. Bùng nổ dân số và Dân số già là hai yếu tố có ảnh hưởng lớn tới quan hệ quốc tế trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hoá. Như vậy, việc lựa chọn một giải pháo thích hợp để đạt được hiểu quả mong muốn, đồng thời giảm thiểu tối đa tác dụng phụ đối với cân bằng xã hội, chất lượng dân số là một câu truyện dài kỳ. Giải pháp tối ưu cần có sự đóng góp tích cực của các nhà chuyên môn để có thể áp dụng trên phạm vi toàn cầu, giúp nhân loại hướng tới một kỷ nguyên văn minh.

.

3. Vương Dật Châu (Chủ biên), An ninh Quốc tế trong thời đại toàn cầu hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 2004 4. Smair & Francois Houtart (Chủ biên), Toàn cầu hoá các cuộc phản kháng Hiện trạng các cuộc đấu tranh 2002, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà nội, 2004. 5. http://www.wikipedia.com

Hậu Quả Của Bùng Nổ Dân Số

Dân số tăng kéo theo ba nạn đói: đói ăn, đói việc và đói chữ, khiến người dân phải sống trong cảnh nghèo khó, thiếu việc làm, dốt nát nhanh và theo đó là bất ổn trong xã hội, đó là nạn cướp bóc, khủng bố,….Dễ thấy khi dân số tăng cao, việc kiếm được miếng ăn sẽ ngày càng trở lên khó khăn hơn, và để đảm bảo sinh tồn cho mình người ta có thể sẵn sàng làm mọi việc, kể cả phạm tội. Nghiêm trọng hơn, xuất phát từ vấn đề dân số quá nhiều dẫn tới việc thiếu đất sống, thiếu “không gian sinh tồn” có thể dẫn tới các cuộc xung đột, chiến tranh giữa các nhóm người, gây nên những hậu quả khôn lường.

Có thể thấy vấn đề bùng nổ dân số đối với vấn đề nghèo đói, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, khan hiếm tài nguyên đều có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp. Bản thân các vấn đề đó đã là các vấn đề mang tính toàn cầu, có ảnh hưởng tới sự tồn vong của nhân loại, chính vì vậy, không còn gì nghi ngờ nữa, vấn đề bùng nổ dân số cũng là một vấn đề có tầm ảnh hưởng sâu sắc, rộng lớn tới tương lai của cả nhân loại.

Việc di cư từ nông thôn ra thành thị một mặt thúc đẩy nhanh quá trình đô thị hóa nhưng mặt khác lại gây áp lực rất lớn lên hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội , nhà ở, môi trường… ở các đô thị lớn. Tình trạng kẹt xe, ô nhiễm đã diễn ra ngày càng nhiều ở Thành phố Hồ Chí Minh hay Hà Nội.

Mặc dù nguồn lao động hiện đang dồi dào và được gọi là ‘dân số vàng’ nhưng vấn đề này cũng tạo ra thách thức lớn về việc làm, an sinh xã hội cũng như tỉ lệ lao động qua đào tạo còn thấp. Có nhiều biện pháp được đưa ra, nhiều phương thức được áp dụng đã mang lại hiệu quả cho thực trạng này. Trong hàng loạt biện pháp, có thể kể ra ở đây những biện pháp tối ưu nhất có thể áp dụng để làm giảm độ nóng của gia tăng dân số.

Một trong những biện pháp phổ biến và hiệu quả nhất là tuyên truyền rộng rãi tác hại của vấn đề bùng nổ dân số trên các phương tiện thông tin đại chúng, giáo dục ý thức của người dân thông qua những khẩu hiệu thiết thực, chỉ rõ những lợi ích cũng như thuận lợi do việc có ít con đem lại.

Bên cạnh đó, việc nâng cao khả năng tiếp cận đối với các dịch vụ về y tế, bao gồm kế hoạch hóa gia đình, cải thiện tình trạng trẻ em bị chết sau sinh và các dịch vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe vì chỉ khi các cặp vợ chồng cảm thấy yên tâm về những đứa con mà mình sinh ra, về khả năng sống sót của chúng, các cặp vợ chồng mới sẵn sàng sinh ít con hơn; mở rộng hơn nữa các cơ hội về giáo dục, nâng cao hiểu biết cho con người là những nhân tố đóng góp không nhỏ trong việc cải thiện bùng nổ dân số. Một thực tế chứng minh rằng những người phụ nữ và nam giới được giáo dục có xu hướng muốn một gia đình nhỏ hơn. Khi vai trò phụ nữ được tăng lên, tình trạng “trọng nam khinh nữ” cũng được khắc phục bởi đây chính là một trong những nguyên nhân của việc sinh nhiều con dẫn đến gia tăng dân số. Vì vậy việc đầu tư cho phụ nữ cả về trang bị kiến thức lẫn nâng cao vai trò của người phụ nữ, tạo sự bình đẳng nam – nữ là không thể thiếu nếu muốn tình trạng gia tăng dân số được cải thiện.

Giáo dục cho lứa tuổi vị thành niên về giới tính, về tình dục an toàn là một điều đáng được quan tâm ở tất cả các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia có tỷ lệ sinh cao. Bởi hiện nay tình trạng nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên đang là một vấn nạn ở hầu hết các quốc gia.

Hiện nay, lực lượng dân số trong độ tuổi lao động, đặc biệt lực lượng thanh niên có vai trò và trách nhiệm rất to lớn trong vấn đề bùng nổ dân số vì chính họ là những người trong độ tuổi sinh sản, nhận thức và hành động của họ ảnh hưởng trực tiếp đến sự gia tăng dân số toàn cầu. Trong hàng loạt vấn đề đặt ra đối với thanh niên hiện nay thì vấn đề bùng nổ dân số và các hệ lụy do nó gây ra là một trong những vấn đề quan trọng, cần được quan tâm hàng đầu.

Với sức trẻ và tinh thần xung kích, sẵn sàng đi tiên phong trong những công việc khó khăn, thanh niên chính là lực lượng nòng cốt tham gia giải quyết vấn đề bùng nổ dân số một cách trực tiếp và gián tiếp.

Với vai trò là những người trực tiếp trong độ tuổi sinh sản, lực lượng thanh niên cần nhận thức rõ vai trò của mình trong vấn đề này. Nhiệm vụ hàng đầu của thanh niên là phải học tập, nâng cao hiểu biết của bản thân về thực trạng bùng nổ dân số và những hậu quả to lớn của nó trên qui mô toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, từ đó có nhận thức và hành động đúng đắn góp phần giải quyết vấn đề này; phải thực hiện nghiêm túc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân số cũng như những chính sách xã hội về lao động việc làm, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; không ngừng phấn đấu cải thiện mức sống, kinh tế gia đình từ đó góp phần xây dựng xã hội giàu đẹp, văn minh, cuộc sống ấm no hạnh phúc. Điều này gián tiếp nâng cao chất lượng dân số cũng như đời sống vật chất, tinh thần cho từng người dân.

Ngoài ra, lực lượng thanh niên có thể gián tiếp đóng góp thực hiện mục tiêu chung của quốc gia cũng như thế giới thông qua những việc làm cụ thể như: tham gia tuyên truyền phổ biến rộng rãi tác hại của vấn đề bùng nổ dân số, góp phần giáo dục ý thức người dân và cả cộng đồng về các biện pháp giảm tỷ lệ sinh; chung tay cùng cộng đồng thực hiện bình đẳng giới, nâng cao vai trò của người phụ nữ, giúp họ có nhiều quyền lựa chọn hơn, có tiếng nói hơn trong gia đình và trong xã hội; từng bước xóa bỏ tình trạng “trọng nam khinh nữ” – cũng chính là một trong những nguyên nhân của việc sinh nhiều con dẫn đến gia tăng dân số; góp sức cùng cộng đồng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe trẻ em – thế hệ tương lai, những mầm non của đất nước, nhờ đó các thế hệ mai sau của đất nước ngày một khỏe mạnh.

Trung tâm Dân số – KHHGĐ huyện

Việt Nam Đối Mặt Nguy Cơ Bùng Nổ Dân Số

Theo báo cáo từ Vụ Dân số – Bộ Y tế: Tính từ đầu năm đến tháng 10/2007, có hơn 945.000 trẻ em được sinh ra, tăng gần 27.000 trẻ so với năm ngoái. Trong đó 30/64 tỉnh, thành có có tỷ lệ tăng cao như: Hà Nội, Cao Bằng, Bạc Liêu, Phú Thọ…

Giải thích về vấn đề “vỡ kế hoạch” năm nay, Vụ trưởng Vụ Dân số, ông Phạm Bá Nhất, cho biết: Một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ sinh năm nay tăng cao hơn năm trước là vì quan niệm trẻ sinh năm Đinh Hợi sẽ gặp nhiều may mắn. Suốt cả năm “lợn vàng”, các bệnh viện phụ sản từ tuyến trung ương đến địa phương đều quá tải.

Theo số liệu tổng kết chung của hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành: Toàn quốc có 18 tỉnh/thành có số người sinh con thứ 3. Số người mới đặt vòng tránh thai giảm 2,9%; số người mới triệt sản giảm 12%. Trong khi đó, chiến dịch tăng cường tuyên truyền vận động, lồng gép chăm sóc SKSS/KHHGĐ đến các vùng nông thôn có mức sinh cao lại triển khai chậm hơn so với năm trước, không hoàn thành chỉ tiêu đề ra.

“Không đạt mức giảm sinh như mong muốn còn do một một số lỗ hổng trong công tác quản lý và thực hiện. Một số địa phương vẫn chưa “mặn mà” với công tác dân số; công tác tư vấn tại nhiều địa bàn lại quá yếu và thiếu” – Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Bá Thuỷ nhận định.

Việc thiếu chế tài xử lý những người vi phạm chính sách dân số (sinh con thứ ba) cũng khiến số trẻ sinh ra tăng mạnh. Năm 2007, Hà Nội có gần 11 nghìn trường hợp sinh con thứ ba, trong đó có gần 170 đảng viên, hơn 270 cán bộ công chức, nhưng hầu hết đều không bị xử lý.

Theo tính toán của các chuyên gia dân số, mỗi năm nhu cầu cần 100-150 tỉ đồng mua PTTT nhưng ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 10%. Mới đây, Bộ trưởng Bộ Y tế đã đồng ý chi thêm cho ngân sách này 30 tỉ đồng/năm. Dù vậy, vẫn thiếu từ 70-120 tỉ đồng/năm.

TS Nguyễn Thiện Trưởng – Chủ tịch Hội Kế hoạch hoá gia đình Việt Nam – cảnh báo: Việc xã hội hoá cung cấp PTTT không thu được nhiều kết quả như mong đợi bởi từ nhiều năm nay, nhiều người dân vẫn được cung cấp miễn phí thuốc tránh thai, bao cao su. Sự khủng hoảng này là mối đe doạ cực kỳ nguy hiểm, rất dễ dẫn đến bùng nổ dân số.

Tương lai, đàn ông Việt sẽ khó lấy vợ

Viện Nghiên cứu phát triển xã hội vừa cảnh báo, tại một số tỉnh thuộc khu vực Đông Bắc, Tây Bắc và Duyên hải, tỉ số giới tính khi sinh đã có sự chênh lệch cao và rất cao so với mức bình thường. Có tới 16 tỉnh có tỉ số giới tính khi sinh từ 115-128 nam/100 nữ.

Theo một nghiên cứu được TS Khuất Thu Hồng thuộc Viện Nghiên cứu phát triển xã hội thực hiện thì tại Bắc Ninh, tỉ số giới tính khi sinh đã ở mức báo động với 123 nam/100 nữ. Nguyên nhân vẫn bắt nguồn từ tư tưởng trọng nam khinh nữ. Trong khi đó, các điều kiện để lựa chọn giới tính thai nhi lại ngày càng phát triển, dẫn đến nhiều ca nạo phá thai khi giới tính thai nhi không như mong muốn.

“Tỉ lệ bé trai bé gái mới sinh vài năm gần đây đã chênh lệch đến mức đáng báo động. Sẽ có nhiều bé trai thế hệ này khi trưởng thành sẽ không lấy được vợ, giống tình trạng của Trung Quốc. Nguy cơ này có thể dẫn đến sự bất ổn xã hội như: ẩu đả, cưỡng hiếp, mại dâm, buôn bán phụ nữ qua biên giới… tăng lên” – Ông Phạm Bá Nhất cảnh báo

Thứ trưởng Nguyễn Bá Thuỷ cũng trăn trở: “Tình trạng phụ nữ di cư lấy chồng nước ngoài có xu hướng tăng ở một số địa phương sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề mất cân bằng giới tính theo hướng thừa nam, thiếu nữ ở nước ta”.

P. Thanh

Nguyên Nhân Và Hậu Quả Của Việc Bùng Nổ Dân Số?

1. – Nguyên nhân là:do số dân tăng nhanh,cao,tỉ xuất sinh cao hơn tỉ xuất tử. – Hậu quả:sử dụng nguồn lao động chưa hợp lý(nguồn lao động dồi dào),gây sức ép lên kinh tế xã hội(y tế,giáo dục..), kinh tế bị kìm hãm, thiếu nhà ở, đất , việc làm, xuất hiện nhiều tệ nạn xã hội,…..

2.- Nước ta có 54 dân tộc anh em.

– Nét văn hóa của các dân tộc thể hiện ở: ngôn ngữ, trang phục, quần cư, phong tục, tập quán…

Ví dụ:

+ Ngôn ngữ: Tiếng Việt (tiếng phổ thông của người Kinh), tiếng Tày (dân tộc Tày), tiếng Thái (dân tộc Thái), tiếng Khơme (dân tộc Khơme)….

+ Trang phục: người Kinh có áo dài và nón lá; người HơMông có váy xòe thổ cẩm, con trai dân tộc Êđê đóng khố…

+ Tục cưới hỏi: người Kinh – có lễ dặm ngõ, ăn hỏi và rước dâu; dân tộc ít người có tục bắt vợ.

+ Lễ Tết lớn nhất của người Kinh, người Hoa là Tết Nguyên Đán bắt đầu từ mùng một tháng giêng theo Âm lịch

+ Lễ Tết lớn nhất của người Khơ – me là Lễ mừng năm mới Chol Chnăm Thmáy diễn ra vào tháng 4 Dương lịch.

+ Lễ Tết cơm mới của người Ê Đê (Đắk Lắk) diễn ra vào tháng 10 Dương lịch.

3. + Giao thông vận tải:

– Là ngành sản xuất đặc biệt, vừa mang tính chất sản xuất vừa mang tính chất dịch vụ và có nhiều tác động đến sự phát triển kinh tế – xã hội.

– Thm gia vào hầu hết các khâu trong quá trình sản xuất, nối liền sản xuất – sản xuất, sản xuất – tiêu dùng, phục vụ đắc lực cho nhu cầu đi lại của người dân.

– Tao mối liên hệ kinh tế – xã hội giữa các vùng, các địa phương trong nước và quốc tế.

– Thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội ở những vùng khó khăn miền núi xa xôi.

– Những tiến bộ của giao thông vận tải có tác động to lớn làm thay đổi sự phân bố sản xuất và phân bố dân cư trên thế giới.

– Đảm bảo an ninh quốc phòng và bảo vệ tổ quốc.

+ Thông tin liên lạc:

– Đảm nhận việc vận chuyển tin tức một cách hợp lí, góp phần thực hiện các mối giao lưu xã hội giữa các địa phương trong nước và quốc tế.

– Góp phần phục vụ nhân dân, làm thay đổi cuộc sống của từng cá nhân, xã hội.

– Đảm bảo an ninh quốc phòng.

– Trong xu thế hội nhập hiện nay, thông tin liên lạc có vai trò quan trọng, có thể quyết định đến sự thành đạt trong sản xuất kinh doanh cũng như phát triển kinh tế.

– Thúc đẩy quá tình toàn cầu hóa, làm thay đổi mạnh mẽ đời sống của con người.