Suy Giảm Tầng Ozone Và Biến Đổi Khí Hậu

--- Bài mới hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Và Suy Giảm Tầng Odon
  • Dựa Vào Sách Giáo Khoa, Kiến Thức Của Bản Thân Và Các Hình Ảnh Trình Bày Hiện Trạng, Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Các Giải Pháp Của Vấn Đề Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Và Suy Giảm Tầng Ozon
  • Nguyên Nhân Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam Và Giải Pháp Ứng Phó
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì? Tác Hại, Biểu Hiện Và Nguyên Nhân Biến Đổi Khí Hậu
  • Bài 3. Một Số Vấn Đề Mang Tính Toàn Cầu Bien Doi Khi Hau Va Suy Giam Tang Ozon Pptx
  • Tầng ozone vốn được xem là tấm áo giáp che chắn các tia bức xạ có hại từ mặt trời và bảo vệ sự sống trên trái đất. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, con người đã sử dụng và thải ra khí quyển một lượng lớn gốc Clo làm suy giảm tầng ozone. Hậu quả là tầng ozone bị bào mỏng, khiến xuất hiện lỗ thủng ở tầng ozone tại Nam cực vào năm 1985 và có nguy cơ lan rộng. Bên cạnh đó, việc suy giảm tấm áo giáp này sẽ làm thay đổi nhiệt độ một số khu vực trên trái đất, làm cho hệ sinh thái các khu vực đó bị thay đổi, đồng thời trở thành một trong những nguyên nhân gây nên hiện tượng biến đổi khí hậu.

    Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học ở Trường Khoa học ứng dụng và cơ khí thuộc Đại học Columbia (Mỹ), lỗ thủng tầng ozone khiến Nam cực lạnh thêm, làm gió Nam đổi chiều theo hướng từ Tây sang Đông, khiến vành đai khô hạn ở vùng cận nhiệt đới tiến xuống phía Nam làm lượng mưa tăng lên. Khí hậu toàn cầu cũng có thể bị ảnh hưởng bởi những sự thay đổi của tầng đối lưu. Các nghiên cứu đã cho thấy rằng sự suy giảm gần đây trong tỷ lệ tăng nồng độ khí mê-tan của khí quyển có thể một phần do tăng bức xạ UV-B trong tầng khí quyển thấp.

    HCFC vẫn được dùng trong các hệ thống điều hòa, làm lạnh. Ảnh: KIM NGÂN

    Một số tia cực tím UV-B có thể tác động lên thực vật trên cạn làm giảm hoạt động quang hợp, chậm phát triển và dễ mắc bệnh, thậm chí có thể làm thay đổi cả hệ sinh thái thực vật. Các tia cực tím cũng làm giảm chất lượng không khí và dẫn đến tác động tiêu cực đối với sức khỏe con người.

    Các nhà khoa học đã chứng minh rằng, tầng ozone bị thủng chính là do các chất khí CFC và HCFC, chủ yếu được dùng trong công nghệ làm lạnh gây ra, các hóa chất này là nhân tạo, không tự có trong tự nhiên. Rõ ràng, chính con người là thủ phạm bào mòn tầng ozone. Việc sớm ngừng sản xuất và sử dụng các hóa chất CFC (chlorofluorocacbon) và HCFC (hydrochlorofluorocarbon) là biện pháp hữu hiệu nhất để cứu tầng ozone. Đồng thời, cũng theo nghiên cứu của các nhà khoa học của Trường Đại học Columbia (Mỹ), các chất CFC, HCFC cũng là các loại khí gây hiệu ứng nhà kính, góp phần gây nên sự ấm lên toàn cầu, dẫn đến hiện tượng biến đổi khí hậu.

    Ông Hiếu cũng cho biết, theo Nghị định thư Montreal, năm 2013, Việt Nam chỉ được tiêu thụ HCFC ở mức cơ sở (221,2 tấn). Từ tháng 10-2015 đến hết năm 2022 phải giảm 10% mức cơ sở, từ 2022 phải giảm 35% cơ sở và 2030 loại trừ hoàn toàn. Đối với lĩnh vực sửa chữa bảo dưỡng thiết bị, chúng ta được phép sử dụng HCFC đến năm 2040.

    Trong những năm gần đây, hiện tượng biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng của nó đang ngày một có xu hướng diễn biến tiêu cực và được UNEP (Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc) xếp vào dạng vấn đề an ninh “phi truyền thống” và xem như là một vấn đề mang tính toàn cầu, không của bất kỳ quốc gia đơn lẻ nào, trong đó nỗ lực tiến đến loại bỏ hoàn toàn các chất gây hại cho tầng ozone cần phải được nhiều quốc gia thực hiện đồng bộ, nhất là các nước phát triển.

    HIẾU THƯỢNG

    Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozone được thông qua tại Montreal (Canada) vào tháng 9-1987, áp đặt các biện pháp và nghĩa vụ loại trừ hoàn toàn sản xuất, sử dụng các chất làm suy giảm tầng ozone đối với các nước thành viên. Nghị định thư Montreal với sự tham gia của 191 quốc gia nhằm loại trừ các chất có khả năng làm suy giảm tầng ozone như nhóm CFC (clorofluorocarbon dùng trong lĩnh vực làm lạnh, xốp, dung môi, son khí, dập cháy và khử trùng). Đến năm 1990, chất CFC dần được thay thế bằng HCFC (hydrochlorofluorocarbon, chất làm suy giảm tầng ozone thấp hơn CFC nhưng khả năng làm nóng toàn cầu cao gấp 2.000 lần khí CO2).

    Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozone được đánh giá là một định ước quốc tế về môi trường thành công nhất từ trước đến nay với sự tham gia của tất cả các quốc gia, kiểm soát gần 100 chất làm suy giảm tầng ozone thuộc các nhóm chất CFC, HCFC, halon… Tháng 1-1994 Việt Nam chính thức tham gia Nghị định thư Montreal, và tính từ tháng 1-1994 và đến tháng 1-2010 chúng ta đã loại trừ hoàn toàn 500 tấn CFC và 3,8 tấn halon (là lượng tiêu thụ hàng năm ở nước ta) gây thủng tầng ozone.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Và Suy Giảm Tầng Ozon Dahs Ppt
  • Bệnh “lười Học Lý Luận Chính Trị” Và Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Lý Luận Chính Trị Cho Cán Bộ, Đảng Viên Hiện Nay
  • Một Số Biện Pháp Chủ Yếu Để Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Cá Biệt
  • Hiệu Trưởng Trường Chuẩn Quốc Gia Đề Xuất 6 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Các Trung Tâm Kiểm Định Chất Lượng Giáo Dục
  • Bài. Biến Đổi Khí Hậu Và Suy Giảm Tầng Ozon

    --- Bài mới hơn ---

  • 7 Giải Pháp Để Mạng Xã Hội Có Tính Xã Hội Hơn
  • Làm Thế Nào Để Trẻ Sử Dụng Mạng Xã Hội Một Cách An Toàn?
  • Hãy Sử Dụng Mạng Xã Hội Một Cách Văn Minh!
  • Làm Sao Để Sử Dụng Mạng Xã Hội Hiệu Quả?
  • Sử Dụng Mạng Xã Hội Có Trách Nhiệm
  • Biến đổi khí hậu toàn cầu & Sự suy giảm tần Ozone

    Giới thiệu

    Biến đổi khí hậu toàn cầu và Suy giảm tầng Ôzôn là một trong những vấn đề về môi trường toàn cầu mà mọi người trên thế giới cùng đang quan tâm giải quyết .

    Biến đổi khí hậu toàn cầu

    Biến đổi khí hậu Trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm: khí quyển, sinh quyển, thuỷ quyển và thạch quyển ở hiện tại và tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo.

    Hiện trạng

    Thời tiết ngày càng trở nên khắc nghiệt :

    + Từ 1906 – 2005 nhiệt độ bề mặt Trái đất tăng 0.74oC. Nền nhiệt độ liên tục thay đổi

    Mực nước biển tăng cao, nước biển đang dần ấm lên :

    + Mực nước biển tăng 10 – 25 cm. Độ đày của các khối băng tại Bắc cực đã giảm 40%.

    Hiện tượng băng tan ở hai cực và Greenland:

    Hiện tượng băng tan ở GreenLand đạt tốc độ 65.6 km3 vượt xa mức tái tạo băng 22.6 km3 một năm từ tuyết rơi.

    Nồng độ carbon dioxide trong khí quyển đang tăng lên

    + Đến năm 2005 hàm lượng C02 đo được là 379 ppm tăng khá cao so với mức cân bằng 280 ppm. Hàm lượng C02 trong khí quyển làm cho bề mặt Trái đất nóng lên.

    Mưa axit

    Mưa axit (sự lắng đọng axit) được tạo ra bởi lượng khí thải SO2 và NO từ các nhà máy điện, ô tô và các trung tâm công nghiệp. Mưa axit cũng có thể bắt nguồn từ núi lửa, cháy rừng hay sấm sét khi. Mưa axit có nồng độ pH dưới 5.6.

    Nguyên nhân

    Chu kỳ nóng lên của Trái đất do hoạt động nội tại.

    Khí CO2 và các khí gây hiệu ứng nhà kính khác :

    (Các khí nhà kính: CO2, NH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6)

    Hoạt động công nghiệp

    Hoạt động nông nghiệp

    Hoạt động giao thông vận tải

    Phá rừng

    Sinh hoạt của con người

    Hậu quả

    Môi trường sống bị thay đổi do biến đổi khí hậu làm mở rộng vành đai nhiệt đới. Dẫn đến các hậu quả:

    Giảm đa dạng sinh học: vì Nhiệt độ trái đất tăng  phá vỡ hệ thống khí hậu, gây ra những thay đổi lượng mưa Lũ lụt, hạn hán, bão và các thời tiết cực đoan xảy ra thường xuyên và khó tiên đoán  giảm số lượng loài và đa dạng nguồn gen.

    Nguy cơ thiếu lương thực do đất bị suy thoái và cây trồng thoái hóa, thiếu nước sinh hoạt do băng tan làm nước biển dâng, nhiều vùng trên Trái đất bị mất

    Các cuộc xung đột giữa các nước tăng do tài nguyên cạn kiệt, các luồng di dân tự doKhoảng cách giàu nghèo gia tăng.

    Nhiều căn bệnh mới sẽ xuất hiện, những căn bệnh cũ sẽ phức tạp hơn.

    Giải pháp

    Cắt giảm CO2,SO2,NO2,CH4 trong sản xuất và sinh hoạt :

    Hạn chế sử dụng nhiên liệu hoá thạch

    Tiết kiệm điện, khai phá nguồn năng lượng mới

    Ứng dụng công nghệ trong bảo vệ môi trường

    Giảm mức tiêu thụ bao bì khó phân hủy

    Chặn đứng nạn phá rừng

    Sự suy giảm tầng Ozôn

    Suy giảm tầng ozon là hiện tượng giảm lượng ôzôn trong bầu khí quyển trên Trái Đất. Lớp ôzôn ngăn cản phần lớn các tia cực tím có hại không cho xuyên qua bầu khí quyển Trái Đất

    Hiện trạng

    Tầng Ôzôn bị thủng và lỗ thủng ngày càng lớn

    Hiện nay, tình trạng suy thoái tầng ozon xảy ra mạnh mẽ ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở hai cực của Trái đất, theo số liệu của cơ quan nghiên cứu quốc tế ngày 16/9/2009, kích thước của lỗ thủng ozon là 24 tr. km2

    Nguyên nhân

    Nguyên nhân chính gây ra hiện tượng thủng tầng ozon là khí CFCs (Chlorofluorocarbons – còn gọi là freons, thành phần làm lạnh trong ngành công nghiệp điện lạnh, bình cứu hỏa, bình xịt…) bay hơi, bốc thẳng lên tầng ozon trong khí quyển, phá vỡ kết cấu tầng này, làm giảm nồng độ khí ozon.

    Các nguyên nhân khác: do sự di chuyển của các hoá chất có nguồn gốc nhân tạo đến tầng ozon như NOx, OH, H2O, các chất halon và hợp chất halogen khác giữ một vai trò quan trọng.(Các hóa chất này không có trong tự nhiên mà do con người tạo ra)

    Hậu quả

    Tầng ozon bị mỏng và thủng dần, sẽ không còn đủ khả năng thực hiện chức năng của một tấm bảo vệ tất cả các sinh vật trên Trái đất khỏi bức xạ UV, dẫn đến những tác động nghiêm trọng:

    Đối với động thực vật: làm giảm số lượng các sinh vật phù du, các sinh vật thân mềm… và dẫn đến phá hủy chuỗi thức ăn của các sinh vật, hậu quả là một số loài có nguy cơ bị tuyệt chủng.

    Đối với con người: tia UV gây ung thư da, đục thủy tinh thể, giảm miễn dịch, xáo trộn các kháng thể chống lại bệnh tật nhất là các bệnh truyền nhiễm.

    Giải pháp

    Cắt giảm CFCs trong sinh hoạt và sản xuất

    Thay thế các chất gây ô nhiễm bằng các chất không gây hay ít gây ô nhiễm

    Tổng kết

    Cảm ơn Cô và các bạn đã lắng nghe

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Rèn Luyện Kĩ Năng Sống Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Rèn Luyện Kĩ Năng Sống Cho Lớp 2
  • Bàn Về Giải Pháp Giảm Thiểu Rác Thải Nhựa
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Nề Nếp Học Tập Để Nâng Cao Chất Lượng Cho Học Sinh Lớp
  • Rèn Kỹ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 1
  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Và Suy Giảm Tầng Odon

    --- Bài mới hơn ---

  • Dựa Vào Sách Giáo Khoa, Kiến Thức Của Bản Thân Và Các Hình Ảnh Trình Bày Hiện Trạng, Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Các Giải Pháp Của Vấn Đề Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Và Suy Giảm Tầng Ozon
  • Nguyên Nhân Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam Và Giải Pháp Ứng Phó
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì? Tác Hại, Biểu Hiện Và Nguyên Nhân Biến Đổi Khí Hậu
  • Bài 3. Một Số Vấn Đề Mang Tính Toàn Cầu Bien Doi Khi Hau Va Suy Giam Tang Ozon Pptx
  • Biện Pháp Thích Ứng Với Biến Đổi Khí Hậu Trên Thế Giới Và Việt Nam
  • Bài 3

    Một số vấn đề mang tính toàn cầu

    Biến đổi khí hậu toàn cầu và suy giảm tầng ôdôn

    a)Biến đổi khí hậu

    + Biến đổi khí hậu Trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm: khí quyển, sinh quyển, thuỷ quyển và thạch quyển ở hiện tại và tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỉ hay hàng triệu năm

    Biểu hiện của biến đổi khí hậu

    + Sự nóng lên của khí quyển nói riêng và Trái đất nói chung.

    + Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển.

    + Sự dâng cao mực nước biển do băng tan.

    + Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng ngàn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất.

    + Sự thay đổi cường độ hoạt động của các quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác.

    + Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển…

    a)Biến đổi khí hậu

    Nguyên nhân

    + Hoạt động của con người

    + Hiện tượng núi lửa

    + Hiệu ứng nhà kính

    + Gây nên thiên tai như: lũ lụt, hạn hán, bão…

    +Gây hại cho sức khỏe cho con người và sinh vật

    Hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu

    b)Suy giảm tầng Ozon

    Hoạt động công nghiệp

    Phá rừng

    Hoạt động GTVT

    Hoạt động nông nghiệp

    Sinh hoạt của con người

    Các khí nhà kính: CO2, NH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6

    Nguyên nhân

    Tầng ozon bị mỏng và thủng dần, không còn đủ khả năng thực hiện chức năng của một tấm bảo vệ tất cả các sinh vật trên Trái đất khỏi bức xạ UV, dẫn đến những tác động nghiêm trọng:

    – Đối với động thực vật: làm giảm số lượng các sinh vật, phá hủy chuỗi thức ăn của các sinh vật, gây một số loài có nguy cơ bị tuyệt chủng.

    – Đối với con người: tia UV gây ung thư da, đục thủy tinh thể, giảm miễn dịch, xáo trộn các kháng thể chống lại bệnh tật nhất là các bệnh truyền nhiễm.

    Hậu quả

    Lỗ thủng tầng Ozon

    Giải pháp

    Chặn đứng nạn phá rừng

    Ứng dụng các công nghệ mới trong việc bảo vệ trái đất:quá trình can thiệp kỹ thuật địa chất,

    Hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch

    Hãy tham gia trồng cây, bảo vệ rừng và biển

    Hãy tham gia và tổ chức các hoạt động bảo vệ môi trường

    Cảm ơn cô và các bạn đã lắng nghe và theo dõi

    Thanks everybody! Good luck!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Suy Giảm Tầng Ozone Và Biến Đổi Khí Hậu
  • Biến Đổi Khí Hậu Và Suy Giảm Tầng Ozon Dahs Ppt
  • Bệnh “lười Học Lý Luận Chính Trị” Và Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Lý Luận Chính Trị Cho Cán Bộ, Đảng Viên Hiện Nay
  • Một Số Biện Pháp Chủ Yếu Để Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Cá Biệt
  • Hiệu Trưởng Trường Chuẩn Quốc Gia Đề Xuất 6 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Biến Đổi Khí Hậu Và Suy Giảm Tầng Ozon Dahs Ppt

    --- Bài mới hơn ---

  • Suy Giảm Tầng Ozone Và Biến Đổi Khí Hậu
  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Và Suy Giảm Tầng Odon
  • Dựa Vào Sách Giáo Khoa, Kiến Thức Của Bản Thân Và Các Hình Ảnh Trình Bày Hiện Trạng, Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Các Giải Pháp Của Vấn Đề Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Và Suy Giảm Tầng Ozon
  • Nguyên Nhân Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam Và Giải Pháp Ứng Phó
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì? Tác Hại, Biểu Hiện Và Nguyên Nhân Biến Đổi Khí Hậu
  • TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

    ******* ….. *******

    KHOA ĐỊA LÝ

    Đề Tài:

    BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU & SUY GIẢM TẦNG ÔZÔN

    Hà nội, ngày 24 tháng 11 năm 2010

    Biến đổi khí hậu và suy giảm tầng ozon là gì?

    Tình hình biến đổi khí hậu & suy giảm tầng ôzôn trên toàn thế giới.

    Nguyên nhân dẫn đến tình trạng biến đổi khí hậu và suy giảm tầng ôzôn

    Hậu quả của biến đổi khí hậu và suy giảm tầng ôzôn.

    Biến đổi khí hậu ở Việt Nam

    Giải pháp.

    I. Định nghĩa

    + Biến đổi khí hậu Trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm: khí quyển, sinh quyển, thuỷ quyển và thạch quyển ở hiện tại và tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo

    + Suy giảm tầng ozon là hiện tượng giảm lượng ôzôn trong tầng bình lưu.

    II. Tình hình biến đổi khí hậu & suy giảm tầng ozon

    Biểu hiện của biến đổi khí hậu

    + Sự nóng lên của khí quyển nói riêng và Trái đất nói chung.

    + Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển.

    + Sự dâng cao mực nước biển do băng tan.

    + Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng ngàn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất.

    + Sự thay đổi cường độ hoạt động của các quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác.

    + Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển…

    + Đến năm 2005 hàm lượng C02 đo được là 379 ppm tăng khá cao so với mức cân bằng 280 ppm. Hàm lượng C02 trong khí quyển làm cho bề mặt Trái đất nóng lên.

    + Từ 1906 – 2005 nhiệt độ bề mặt Trái đất tăng 0.74 oC

    + Hiện tượng băng tan ở GreenLand đạt tốc độ 65.6 km3 vượt xa mức tái tạo băng 22.6 km3 một năm từ tuyết rơi.

    Độ đày của các khối băng tại Bắc cực đã giảm 40%.

    + Mực nước biển tăng 10 – 25 cm.

    2. Hiện trạng của biến đổi khí hậu toàn cầu

    3. Hiện tượng suy giảm tầng ozon :

    Hiện nay, tình trạng suy thoái tầng ozon xảy ra mạnh mẽ ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở hai cực của Trái đất, theo số liệu của cơ quan nghiên cứu quốc tế ngày 16/9/2009, kích thước của lỗ thủng ozon là 24 tr. km2

    III. Nguyên nhân

    1. Biến đổi khí hậu

    Nguyên nhân

    Nguyên nhân hành tinh

    Khí C02 và các khí gây hiệu ứng nhà kính khác

    Chu kỳ nóng lên của Trái đất do

    hoạt động nội tại:

    Hiện tượng nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng lên và lạnh đi vốn là hiện tượng tự nhiên xảy ra có tính chu kỳ trong lịch sử hình thành và phát triển của Trái đất.

    Lịch sử Trái đất hàng triệu triệu năm đã trải qua nhiều lần nóng lên rồi lại lạnh đi kéo theo những biến động to lớn trong đời sống sinh vật trên Trái đất, làm thay đổi cả diện mạo địa hình lục địa và đại dương . Tính từ 1,6 triệu năm đến nay đã có 5-6 chu kỳ biến động lớn.

    Đó là các thời kỳ băng hà kéo theo mực nước biển hạ thấp (biển lùi) và các thời kỳ gian băng (băng tan) kéo theo mực nước biển dâng cao (biển tiến).

    Vào các thời kỳ băng hà, nhiệt độ bề mặt Trái đất khô lạnh. Vào thời kỳ gian băng nhiệt độ bề mặt Trái đất đan xen giữa nóng ẩm và khô hạn.

    Tăng lượng khí C02 và các khí nhà kính khác

    Do hoạt động con người gây ra trong bầu khí quyển Trái đất.

    Hoạt động công nghiệp

    Phá rừng

    Hoạt động GTVT

    Hoạt động nông nghiệp

    Sinh hoạt của con người

    Các khí nhà kính: CO2, NH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6

    Nguyên nhân

    Hoạt động công nghiệp: Con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nguyên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất.

    Phá rừng: cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến cho việc biến đổi khí hậu diễn ra nhanh và mạnh.

    Hoạt động giao thông vận tải : Việc sử dụng các phương tiện hiện đại đồng nghĩa với việc sử dụng các nguồn nguyên nhiên liệu hóa thạch nhiều hơn, gây ra nhiều khí gây hiệu ứng nhà kính.

    Hoạt động nông nghiệp : Việc sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật cũng gây những tác hại đến môi trường. Nông nghiệp thế giới thải ra khoảng 15% tổng các khí gây hiệu ứng nhà kính, chủ yếu là C02, CH4, N02.

    Sinh hoạt của con người: Trong cuộc sống sinh hoạt của con người cũng thải ra các chất khí gây hiệu ứng nhà kính. Như việc sử dụng điều hòa, tủ lạnh, lò sưởi…

    Các loại khí gây hiệu ứng nhà kính: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6

    + CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển. CO2 cũng sinh ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép.

    + CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than.

    + N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp.

    + HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ozon (ODS) và HFC-23 là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22.

    + PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm.

    + SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê.

    2. Nguyên nhân suy giảm tầng ozon

    + Lũ lụt, hạn hán, bão và các thời tiết cực đoan xảy ra thường xuyên và khó dữ đoán.

    + Các cuộc xung đột giữa các nhóm người tăng do tài nguyên cạn kiệt, các luồng di dân tự do.

    + Nạn khủng bố lan rộng, tập trung đặc biệt vào những nước mà chúng cho rằng đã gây ra nên tình trạng BĐKH toàn cầu.

    + Khoảng cách giàu nghèo gia tăng do giá lương thực bị đẩy lên cao, các nước nghèo chịu ảnh hưởng của BĐKH sơm nhất.

    Khí CFCs và các hóa chất khác tấn công, tầng ozon bị mỏng và thủng dần, không còn đủ khả năng thực hiện chức năng của một tấm bảo vệ tất cả các sinh vật trên Trái đất khỏi bức xạ UV, dẫn đến những tác động nghiêm trọng.

    – Đối với động thực vật: làm giảm số lượng các sinh vật phù du, các sinh vật thân mềm… và dẫn đến phá hủy chuỗi thức ăn của các sinh vật, hậu quả là một số loài có nguy cơ bị tuyệt chủng.

    – Đối với con người: tia UV gây ung thư da, đục thủy tinh thể, giảm miễn dịch, xáo trộn các kháng thể chống lại bệnh tật nhất là các bệnh truyền nhiễm.

    2. Hậu quả của suy giảm tầng ozon

    + Theo UNEP công bố: Việt Nam là 1 trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Trong đó vùng đồng bằng sông hồng và đồng bằng sông cửu long bị ảnh hưởng nặng nhất .

    Theo dự báo, với tốc độ ấm dần lên của Trái đất như hiện nay thì:

    Mực nước biển ở nước ta có thể dâng lên khoảng 1m, làm cho 1/5 diện tích lãnh thổ bị ngập chìm trong nước, khoảng 22 tr. dân sẽ mất nhà cửa và đất đai canh tác.

    50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm ở Việt nam đã tăng khoảng 0.5 – 0.7 oC ( trong đó nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn mùa hè, nhiệt độ ở phía bắc tăng nhanh hơn phía nam.

    V. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM

    + Theo nghiên cứu của Viện khoa học – khí tượng thuỷ văn và môi trường tại nhiều khu vực trong đó có thành phố Hồ Chí Minh & Vũng Tàu đã cho thấy, từ năm 1960 đến nay, nhiệt độ ở đây đã tăng lên 2 oC, mực nước biển đã dâng lên 20cm so với cách đấy 10 năm. Nhiều khu vực của miền nam trước đây không bao giờ có bão thì nay những cơn bão đã mang đến nhiều thiệt hại về người và tài sản cho vùng này.

    Hiện tượng thiên tai bất thường xảy ra hầu hết ở các địa phương trên cả nước. Cường độ lượng mưa tăng kỷ lục ở nhiều nơi khiến lũ lụt, lở đất, triều cường ở thành phố Hồ Chí Minh cũng đạt đỉnh trong vòng 50 năm qua. Thành phố này cũng nằm trong danh sách 10 thành phố bị đe doạ nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu.

    hậu quả của biến đổi khí hậu đối với việt nam là nghiêm trọng và là nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu thiên niên kỷ và phát triển bền vững của đất nước.

    Biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Việt Nam:

    + Lượng mưa gia tăng vào mùa mưa

    + Lũ đặc biệt lớn xảy ra thường xuyên hơn ở Miền Trung và Miền Nam

    + Lượng mưa giảm vào mùa khô

    + Hạn hán xảy ra hàng năm ở hấu hết các khu vực của cả nước

    + Đường đi của bão có xu hướng dịch chuyển về phía Nam và mùa bão dịch chuyển dần vào các tháng cuối năm.

    + Số ngày mưa phùn giảm đi rõ rệt

    + Tần số hoạt động của khối không khí lạnh ở Bắc Bộ giảm rõ rệt trong 3 thập kỷ qua.

    + Số ngày rét đậm, rét hại trung bình giảm, nhưng có năm lại xảy ra đợt rét đậm kéo dài với cường độ mạnh kỷ lục nhất như đầu năm 2008.

    + Số ngày nắng trong thập kỷ 1991 – 2000 nhiều hơn, nhất là ở trung bộ và nam bộ

    + Mưa trái mùa và mưa lớn dị thường xảy ra nhiều hơn, nổi bật nhất là các đợt mưa tháng 11 ở Hà Nội và lân cận trong các năm 1984, 1996, 2008

    VI. Giải pháp ứng phó với biến đổi

    khí hậu toàn cầu

    Một trong những nhiệm vụ vô cùng quan trọng của nhân loại trong tương lai là: hạn chế nguy cơ biến đổi khí hậu nhằm giảm thiểu thảm họa do thiên tai gây ra như bão lụt, sóng thần, băng tan…

    Bởi vì vậy, sớm hay muộn con người cần phải tìm ra nguồn nhiên liệu khác để thay thế như: nhiên liệu sinh học, điện nguyên tử hay các nguồn năng lượng khác

    Hạn chế sử dụng nhiên liệu hoá thạch

    Một trong những giải pháp kinh tế khả thi nhất nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường là tiết kiệm điện, đặc biệt là sử dụng các thiết bị dân dụng tiết kiệm điện như bóng đèn compact, các loại pin nạp. Theo các Bộ Môi trường Mỹ, ở quốc gia này mỗi gia đình chỉ cần thay một bóng đèn dây tóc chiếu sáng bằng bóng compact thì cả nước sẽ tiết kiệm được lượng điện dùng cho 3 triệu gia đình khác.

    Tiết kiệm điện

    Mỗi cặp vợ chồng chỉ nên sinh một con

    Hiện nay trên thế giới đã có trên 6,8 tỷ người và theo dự báo của LHQ thì đến giữa thế kỷ 21 sẽ tăng lên 9 tỷ và như vậy nhu cầu về thực phẩm, quần áo, các nhu yếu phẩm khác sẽ tăng lên gấp rưỡi so với hiện nay. Với mức tiêu thụ lớn như vậy sẽ tạo ra nguồn phát tán khí thải gây hiệu ứng nhà kính rất lớn, nhất là ở các nước đang phát triển. Áp dụng phương án mỗi cặp vợ chồng chỉ nên sinh 1 con sẽ mang lại nhiều lợi ích thiết thực, được coi là phương án phát triển bền vững và khả thi nhất trong tương lai.

    Khai phá nguồn năng lượng mới

    Việc tìm kiếm nguồn năng lượng mới để thay thế nhiên liệu hóa thạch là thách thức lớn nhất của con người trong thế kỷ 21. Một số nguồn năng lượng ứng viên sáng giá là ethanol từ cây trồng, hydro từ quá trình thủy phân nước, năng lượng nhiệt, năng lượng sóng, năng lượng gió, năng lượng mặt trời và nhiên liệu sinh học…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bệnh “lười Học Lý Luận Chính Trị” Và Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Lý Luận Chính Trị Cho Cán Bộ, Đảng Viên Hiện Nay
  • Một Số Biện Pháp Chủ Yếu Để Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Cá Biệt
  • Hiệu Trưởng Trường Chuẩn Quốc Gia Đề Xuất 6 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Các Trung Tâm Kiểm Định Chất Lượng Giáo Dục
  • Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thường Xuyên Cấp Thpt: Cần Những Giải Pháp Đồng Bộ
  • Sự Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảo Vệ Môi Trường, Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Và Hành Động Của Chúng Ta
  • Các Giải Pháp Phòng Ngừa, Giảm Thiểu Tác Động Tiêu Cực Đến Môi Trường Và Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Trong Quá Trình Thực Hiện Quy Hoạch
  • Thực Trạng Biến Đối Khí Hậu Và Giải Pháp Chống Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam
  • Một Số Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam
  • Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam: Những Vấn Đề Lớn Cần Giải Quyết
  • 1. Biến đổi khí hậu được hiểu như thế nào?

    Trong lịch sử của chúng ta, sự biến đổi khí hậu đã từng nhiều lần xảy ra với những thời khì lạnh và nóng kéo dài hàng vạn năm mà chúng ta gọi là thời kỳ băng hà hay thời kỳ gian băng, thời kỳ băng hà cuối cùng đã xảy ra cách đây 10.000 năm và tính đến hiện nay là giai đoạn ấm lên của thời kỳ gian băng.

    Chung quy lại, biến đổi khí hậu Trái Đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ hay hàng triệu hoặc hiểu theo một cách khác là biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và dao động của khí hậu duy trì trong một thời gian dài thường là vài thập kỷ hoặc có thể dài hơn.

    Việc biến đổi khí hậu này là do hoạt động của con người làm thay đổi một số hệ thống của nó, biến đổi khí hậu gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến các thành phần khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên, ảnh hưởng tới các hoạt động của các hệ thống kinh tế-xã hội và ảnh hưởng tới sức khỏe, phúc lợi của con người.

    2. Những hiểu hiện của biến đổi khí hậu

    – Thứ nhất là sự nóng lên của khí quyển và trái đất là nhiều khu vực bị hạn hán quanh năm, các sinh thực vật chết hết ví dụ như dòng sông Danube, dòng sông dài thứ hai châu Âu được bắt đầu từ Đức chảy theo hướng Đông đến Biển Đen ở Romania, đây là một trong những cửa ngõ quan trọng trong việc giao thương, công nghiệp tàu biển. Nhưng do sự biến đổi khí hậu, hạn hán kéo dài xảy ra vào năm 2011 – 2012 đã khiến mực nước sông Danube xuống thấp kỷ lục đã làm cho tàu thuyền ở đây bị mắc cạn và khu vực đường thủy vốn đông đúc trở nên tê liệt.

    – Thứ hai là sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất ví dụ như những rạn san hô tại Dibba vào năm 2004, dải san hô nằm trên bờ biển phía Đông của các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) vẫn đang rực rỡ sắc màu nhưng đến nay thì các rạn san hô đầy màu sắc đã bị phá hủy bởi các loại tảo có hại có tên là thủy triều đỏ, loại tảo này có khả năng liên kết với nhau làm tăng khí nhà kính, tăng nhiệt độ đại dương và giết nhiều sinh vật biển bằng cách giảm lượng oxy hòa tan trong nước.

    – Thứ ba là băng tan làm cho mực nước biển dâng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển như các đảo San Blas ở Panama là quê hương của ngươi Guna, họ sống và cư trú trên các nhà bè trôi nổi trên các mặt biển, tuy nhiên do biến đổi khí hậu mà cứ đến mùa mưa bão thì người dân phải sống chung với cảnh ngập lụt kéo dài.

    – Thứ tư là sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người, điển hình là hình ảnh Vườn quốc gia Rocky Mountain trước đây là những cây thông khỏe mạnh, vươn cao, trải dài hàng chục triệu m2 ở vùng Tây Bắc Hoa Kỳ và phía tây Canada nhưng cũng do sự biến đổi khí hậu mà ngày nay khi người ta nhìn vào Vườn quốc gia này thì chỉ thấy được sự xác sơ hơn của các cây thông do bị sâu bọ xâm hại, được biết rằng là do nhiệt độ ấm lên nên khiến các côn trùng phát triển mạnh mẽ và tấn công tàn phá rừng một cách nặng nề.

    3. Những nguyên nhân gây ra việc biến đổi khí hậu?

    Nhiều phản ứng khác nhau của môi trường về biến đổi khí hậu có thể tăng cường hoặc giảm bớt các biến đổi ban đầu, một số thành phần của hệ thống khí hậu như các đại dương và các chỏm băng cao chót vót, phản ứng chậm với biến đổi bức xạ mặt trời vì khối lượng lớn do đó, hệ thống khí hậu có thể mất hàng thế kỷ hoặc lâu hơn để phản ứng hoàn toàn với những biến đổi từ bên ngoài.

    Tuy nhiên, nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính của con người.

    – Biến đổi khí hậu trong thời đại địa chất

    Khí hậu trái đất đã trải qua nhiều lần biến đổi, khoảng 50 triệu năm về trước một thiên thạch khổng lồ va vào Trái Đất làm bề mặt Trái Đất bị bao phủ một lượng khói bụi dày đặc và Trái Đất bị chìm trong bóng tối một thời gian dài do không có ánh sáng mặt trời khiến cho Trái Đất bị lạnh đi và loài khủng long bị tiêu diệt.

    Cũng trong tình trạng do biến đổi khí hậu, vào khoảng 2 triệu năm trước công nguyên, Trái Đất cũng trải qua nhiều lần thời kỳ băng hà lạnh lẽo và thời kỳ gian băng ấm áp với chu kỳ mỗi lần khoảng 100 nghìn năm. Thời kỳ băng hà cuối cùng kết thúc cách đây khoảng 10-15 nghìn năm, sau cuộc biến đổi khí hậu này Trái Đất ấm dần lên và các sinh vật mới dần dần phát triển.

    Đầu thế kỷ XIV, châu Âu lại phải trải qua một kỷ băng hà nhỏ kéo dài khoảng vài trăm năm, những khối băng khổng lồ hình thành và những mùa đông khắc nghiệt làm cho mùa màng thất bát, dẫn đến nạn đói, nhiều gia đình phải di cư đi nơi khác.

    Những biến đổi khí hậu xảy ra này trong thời kỳ địa chất đều do các nguyên nhân tự nhiên, đặc biệt là sự chuyển động của trái đất, các vụ phun trào của núi lửa và hoạt động của mặt trời.

    – Nguyên nhân của biến đổi khí hậu trong thời kỳ hiện đại

    Nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu hiện nay, biểu hiện rõ nhất của nó là sự nóng lên toàn cầu đã được khẳng định là do hoạt động của con người, từ những năm thời kỳ tiền công nghiệp con người đã sử dụng nhiều năng lượng chủ yếu là từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch, sau đó thì thải vào khí quyển ngày càng tăng làm cho các chất khí này gây hiệu ứng nhà kính, làm tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất.

    Đánh giá khoa học của IPCC cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng,… đã đóng góp khoảng 46% vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 8%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9% và các ngành sản xuất hóa chất khoảng 24%, còn lại 3% là các hoạt động khác như chôn rác thải,….

    Tính đến nay, tổng lượng phát thải khí CO2 của các nước phát triển chiếm tới 70% tổng lượng phát thải khí CO2 toàn cầu, trong đó ở Hoa Kỳ và Anh trung bình mỗi người dân phát thải 1100 tấn gấp khoảng 17 lần ở Trung Quốc và 48 lần ở Ấn Độ.

    Tuy nhiên trong khi các nước giàu chỉ chiếm 15% dân số thế giới nhưng tổng lượng phát thải của họ chiếm tới 45% tổng lượng phát thải toàn cầu, các nước châu Phi và cận Sahara với 11% dân số thế giới chỉ phát thải 2% và các nước kém phát triển với 1/3 dân số thế giới chỉ phát thải 7% tổng lượng phát thải toàn cầu, đây là điều mà các nước đang phát triển nêu ra về quyền bình đẳng và nhân quyền tại các cuộc thương lượng về Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto.

    Nguyên tắc đầu tiên được ghi trong Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu là “Các Bên phải bảo vệ hệ thống khí hậu vì lợi ích của các thế hệ hiện nay và mai sau của nhân loại, trên cơ sở công bằng, phù hợp với những trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và bên các nước phát triển phải đi đầu trong việc đấu tranh chống Biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng có hại của chúng”

    Điều 10 trong Nghị định thư Kyoto còn ghi “Tất cả các bên, có xem xét những trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và các tình huống, mục tiêu và những ưu tiên phát triển đặc biệt của quốc gia và khu vực, không đưa thêm bất kỳ cam kết mới nào cho các bên không thuộc”.

    4. Hậu quả của việc biến đổi khí hậu gây ra những năm gần đây

    Hậu quả của biến đổi khí hậu trên toàn cầu là vấn đề nhức nhối trong vài thập kỷ gần đây, bởi hậu quả nặng nề, sự tàn phá khủng khiếp của nó. Các hậu quả của quá khứ, hiện tại và cả lẫn trong tương lai là vấn đề nan giải khi hậu quả của biến đổi khí hậu hiện ra một cách rõ rệt hằng ngày và gây ảnh hưởng đến môi trường sống của mọi sinh vật và ảnh hưởng đến con người.

    Hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu đối với sự sống từ động thực vật và con người rất là nặng nề, cùng chúng tôi điểm qua các hậu quả của biến đổi khí hậu để lại.

    4.1. Thay đổi hệ sinh thái

    Hậu quả của biến đổi khí hậu sẽ tác động đầu tiên đến hệ sinh thái của tự nhiên làm thay đổi tất cả các hệ sinh thái mà nó tác động đến, đầu tiên là biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến nguồn nước, việc biến đổi khí hậu này làm tình trạng xâm nhập mặn ngày càng cao dẫn tới nguồn nước bị ô nhiễm nặng và các hoạt động của con người cần tới lượng nước ngọt và nước sạch ngày càng ít dần đi.

    Thứ hai là việc biến đổi khí hậu làm cho quá trình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và ngành công nghiệp nặng cũng gặp không ít khó khăn, với ngành công nghiệp nặng lượng CO2 trong khí quyển ngày càng tăng gây ô nhiễm không khí vô cùng nặng nề, cùng với đó là những thử thách do nguồn năng lượng và nguyên nhiên liệu trở nên ngày càng khan hiếm do hoạt động khai thác tận diệt của con người trong vài chục năm gần đây, còn với ngành nông, lâm, ngư nghiệp thì việc biến đổi khí hậu đã là chết rất nhiều động thực vật nên nguồn khai thác của các ngành này càng hạn chế và ít đi làm cho việc hoạt động dễ bị đình trệ.

    Một ví dụ điển hình cho sự biến đổi hệ sinh thái do hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu đó là tình trạng san hô bị tẩy trắng: Rạn san hô Great Barrier tuyệt đẹp được trải dài 2.600km ngoài khơi bờ biển của Australia trước đây được coi là một trong những vùng sinh quyển đa dạng nhất thế giới, nó được tạo thành từ khoảng 3.000 rạn san hô và hàng tỷ sinh vật sống nhỏ và có tới 900 hòn đảo.

    Tuy nhiên, hình ảnh thiên nhiên được coi là di sản thế giới này đang bị suy thoái nghiêm trọng bởi sự nóng lên của Trái đất, môi trường axit hóa đại dương và nhiệt độ tăng cao do biến đổi khí hậu là mối đe dọa lớn nhất với các rạn san hô nơi đây.

    Tính tới nay thì một nửa số san hô ở Great Barrier đã biến mất trong 3 thập kỷ qua, sự axit hóa đại dương cũng khiến cho san hô bị tẩy trắng hàng loạt, đặc biệt khi san hô chuyển màu trắng chúng trở nên nhạy cảm và dễ chết hơn, điều này khiến cho môi trường sinh thái dưới đại dương bị ảnh hưởng trầm trọng.

    4.2. Mất đa dạng sinh học

    Khi biến đổi khí hậu tác động nên hệ sinh thái tất nhiên cũng kéo theo sự mất đa dạng sinh học khi môi trường sống của rất nhiều loài bị thay đổi, nhiệt độ tăng cao nên làm cho một số loài động thực vật biến mất thậm chí rất nhiều loài đã và đang có nguy cơ rơi vào thảm họa tuyệt chủng do thiếu môi trường sống.

    Theo tính toán vài năm trước, nếu như nhiệt độ Trái đất tăng thêm từ 1,1 độ đến 6,4 độ nữa thì sẽ có khoảng 50% loài sinh vật đứng trước thách thức bị tuyệt chủng giống nòi, ngay trong thời điểm hiện nay thì đã có một số loài động vật phải di cư do hậu quả của việc biến đổi khí hậu toàn cầu điển hình như loài cáo đỏ, trước đây chúng vẫn thường sống ở Bắc Mỹ thuận lợi nhưng giờ đây đã chuyển dần lên vùng Bắc Cực do nhiệt độ và môi trường ở đó phù hợp, mát mẻ hơn.

    Thậm chí tới cuộc sống con người cũng bị ảnh hưởng,nhất là những người dân ven biển do tình trạng nước biển dâng cũng bị đe dọa về nơi cư trú cũng như diện tích canh tác, mất đi nguồn lương thực và thu nhập cho gia đình

    4.3. Núi băng, sông băng tan chảy và nước biển dâng

    Hậu quả của biến đổi khí hậu làm nhiệt độ tăng cao dẫn tới tình trạng các tảng băng sẽ tan và sự giãn nở nhiệt khiến óc mực nước biển dâng cao, de dạo các vùng đất thấp và đông dân cư ven biển trong đó có Việt Nam. Hiện tượng băng tan này có thể kể tới khu vực Nam Cực, năm 2022 một tảng băng với diện tích khoảng 260 Km2 đã tạc rời khỏi nên bán đảo và trôi nổi trên biển và tan dần sau đó điều này là tăng mực nước biển lên. Nếu việc này mà không được giải quyết triệt để thì thiệt hại sẽ không giới hạn ở một lục địa mà còn xuất hiện các khu vực ven biển trên thế giới.

    Khi phần lớn lượng băng bị tan chảy sẽ khiến nước biển dâng cao kỷ lục sẽ nhấn chìm đất liền, xâm nhập mặn, sạt lở ven bờ mà Việt Nam là khu vực có diện tích lớn nằm ven biển nên cũng bị ảnh hưởng lớn, điều này khiến diện tích đất liền ngày càng thu hẹp dẫn đến xóa sổ nhiều thành phố, mất đất canh tác, đất sống cho con người và các loài sinh vật ở Việt Nam

    4.4. Chiến tranh và xung đột

    Hậu quả của biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến nguồn nước cũng như gây nên sự khan hiếm về lương thực, đất đai canh tác, nơi trú ngụ, đây chính là những nguyên nhân gây nên tình trạng xung đột và chiến tranh giữa các vùng lãnh thổ, điển hình là cuộc xung đột do tác hại của biến đổi khí hậu ở Darfur, cuộc xung đột này đã kéo dài tới 20 năm do nhiệt độ tăng cao mà lượng nước mưa lại quá thấp.

    4.5. Tác hại đối với nền kinh tế

    Nền kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề cũng là một trong những hậu quả biến đổi khí hậu, do sự xuất hiện của những cơn bão lớn, thời tiết thì thất thường nên mùa màng thất bát, đó là còn chưa kể đến việc phải phát sinh chi phí để khắc phục những hậu quả của bão lũ, sạt lở đất, cung cấp nguồn lương thực, nguồn nước sạch cho cư dân chịu những hậu quả của biến đổi khí hậu.

    4.6. Dịch bệnh

    Sau một mùa bão lũ sẽ kéo thêm nhiều loại dịch bệnh nơi khác kéo tới làm cho cả người và động thực vật dễ mắc phải, những dịch bệnh này một khi lan rộng khắp nơi thì các nước phải bỏ ra một chi phí lớn để phòng chống bệnh này ngay lập tức.

    Bùng phát dịch bệnh cũng là một trong những hậu quả biến đổi khí hậu toàn cầu mà con người phải đối mặt, hiện nay,tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra cảnh báo rằng hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu mà những loại bệnh trước đây chỉ xuất hiện ở vùng nhiệt đới thì giờ đây đã xuất hiện cả ở những khu vực ôn đới, con số thống kê cho thấy hàng năm có tới 150.000 người chết do mắc các bệnh về tim, đường hô hấp.

    4.7. Hạn hán và những đợt nắng nóng

    Một tác hại của biến đổi khí hậu nữa mà hiện nay những vùng như Ấn Độ, Pakistan và Châu Phi đang phải đối mặt hàng ngày đó là tình trạng hạn hán, thiếu nước sinh hoạt cũng như lương thực, theo như nghiên cứu thì lượng mưa ở những khu vực này ngày càng thấp và sẽ còn kéo dài trong nhiều thập kỷ tiếp theo.

    Những đợt nắng nóng kéo dài dẫn tới những nguy cơ hỏa hoạn, cháy rừng cũng là hậu quả biến đổi khí hậu toàn cầu mà chúng ta đang ngày càng thấy rõ, theo ước tính những đợt nắng nóng trên thế giới đang diễn ra với tần suất gấp 4 lần so với trước đây thậm chí, nếu biến đổi khí hậu tiếp tục diễn ra như hiện nay thì trong 40 năm mới, tần suất này có thể sẽ tăng lên gấp 100 lần so với hiện nay.

    4.8. Bão lụt

    Trong khi những khu vực trên chịu cảnh hạn hán thì nhiều khu vực khác trên thế giới lại liên tục hứng chịu tác động của những đợt bão lũ, nhiệt độ nước biển tăng càng làm cho sự xuất hiện của những cơn bão ngày càng dày đặc, không chỉ vậy mức độ nguy hiểm của chúng cũng ngày càng tăng cao.

    ***Hậu quả của biến đổi khí hậu ở Việt Nam

    Hậu quả của sự biến đổi khí hậu làm ảnh hưởng trực tiếp tới các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nước ta đã và đang bị tác động trực tiếp bởi sự biến đổi của khí hậu, theo báo cáo gần đây Việt Nam đang là nước chịu ảnh hưởng bởi khí hậu đang trở nên khắc nghiệt với nhiều thiên tai xảy ra.

    – Tác động tới tài nguyên nước

    Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến Việt Nam làm lượng mưa thay đổi nên dòng chảy của những con sông cũng không còn tự nhiên như trước, thất thường trong lượng nước, dòng chảy ngay cả lượng nước ngầm cũng thay đổi như ít dần, ô nhiễm.

    – Tác động tới tài nguyên rừng

    Hệ sinh thái cũng như diện tích rừng của nước ta đang ngày càng bị suy giảm do biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến Việt Nam, đặc biệt là diện tích rừng ngập mặn ven biển giảm tới 80%, bên cạnh đó, các khu rừng của nước ta đã và đang bị đe dọa lớn bị cháy rừng do nhiệt độ tăng cao, những đợt nắng nóng kéo dài. Điển hình là tại Nghệ An, Hà Tĩnh trong đợt tháng 6/2019 vừa đây có tới tận 4 vụ cháy rừng do đợt nắng nóng tăng tới 41-43 độ, việc này đã được các nhà chức trách can thiệp rất mạnh trong việc bảo vệ và phát triển rừng cho thấy lá phổi xanh của Trái Đất đang bị tổn thất nghiêm trọng.

    – Tác động tới sâu tới nền nông nghiệp

    Biến đổi khí hậu ở Việt Nam cũng không tránh khỏi những tác động xấu tới lĩnh vực nông nghiệp, biến đổi khí hậu toàn cầu đã thay đổi hoàn toàn thời tiết, mưa bão, hạn hán thất thường làm cho mùa màng thất bát, gia tăng dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi.

    – Tác động tới tài nguyên đất

    Trong những hậu quả của biến đổi khí hậu ở Việt Nam, chúng ta không thể không nhắc tới vấn đề tài nguyên đất, sự biến đổi khí hậu làm cho diện tích đất nông nghiệp bị hạn hẹp, tốc độ đô thị hóa kết hợp với tình trạng xói mòn, rửa trôi, xâm nhập mặn đã làm cho tình trạng này ngày càng trở nên cấp thiết hơn.

    – Tác động tới sức khỏe

    Việt Nam hiện nay cũng giống nhiều quốc gia khác thậm chí còn tồi tệ hơn khi phải đối đầu với những dịch bệnh trên người và động thực vật do thời tiết khí hậu và các nguyên nhân xung quanh làm phát sinh nhiều loại vi khuẩn và làm cho hệ miễn dịch của cơ thể từ người tới động vật cũng bị suy giảm đáng kể, có thể kể tới một số loại dịch bệnh đã làm cho ngành y tế nước ta phải hoang mang như dịch tả, cúm gia cầm, bệnh tai xanh, bệnh sốt xuất huyết.

    Thời tiết trong một ngày có 3 mùa làm cho sức khỏe của người già và trẻ nhỏ dễ bị mắc bệnh nhất.

    – Ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng

    Do tác động của biến đổi khí hậu dẫn theo nhiều điều kiện thời tiết bất lợi như nắng nóng, bão lũ lớn, sạt lở đã hủy hoại rất nhiều cơ sở hạ tầng cũng như các cơ sở vật chất, trang thiết bị và làm đình trệ các hoạt động xây dựng các công trình

    – Tác động tới môi trường

    Sự kiện nổi nên nhiều trong những mùa nắng nóng là cháy rừng, nhiều đợt nắng khô kỉ lục đã làm cho các khu rừng dễ cháy hơn bao giờ hết nhất là ý thức kém trong việc sử dụng lửa tại các khu rừng của người dân, gây những thiệt hại rất lớn.

    Do tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam mà hiện nay chúng ta phải đối mặt với những vấn đề như việc mâu thuẫn giữa nhu cầu sử dụng nguồn nước sạch với việc đáp ứng nhu cầu nước sạch, khi sử dụng chung nguồn nước cho nhiều mục đích khác nhau có thể dẫn tới sự xung đột, mâu thuẫn giữa các địa phương, đơn vị doanh nghiệp.

    Một số khu vực bị ảnh hưởng do xâm nhập mặn, do xói mòn đất do vậy mà cư dân không có nơi cư trú, nếu không giải quyết được vấn đề này thì an sinh xã hội có nguy cơ bất ổn.

    5. Các biện pháp khắc phục tình trạng biến đổi khí hậu?

    – Để giảm thiểu được những sự biến đổi khí hậu thì con người cần hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch

    – Cần phải sử dụng các thiết bị công nghệ hiện đại, sử dụng các ứng dụng các công nghệ mới trong việc bảo vệ Trái đất một cách tự nhiên không nên tạo ra nhiều khí quyển làm nóng trái đất

    – Hạn chế khai thác rừng để làm nương rẫy và hạn chế sử dụng sách vở làm từ gỗ

    – Tiết kiệm điện, sử dụng biết cách

    – Hạn chế khai phá những nguồn năng lượng mới

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu Ở Đbscl
  • Giải Pháp Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Ở Đbscl
  • Tình Hình Biến Đổi Khí Hậu Trên Thế Giới Và Những Tác Hại
  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu: Mối Quan Tâm Chung Của Toàn Thế Giới
  • Trẻ Em Và Biến Đổi Khí Hậu
  • Dựa Vào Sách Giáo Khoa, Kiến Thức Của Bản Thân Và Các Hình Ảnh Trình Bày Hiện Trạng, Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Các Giải Pháp Của Vấn Đề Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Và Suy Giảm Tầng Ozon

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Nhân Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam Và Giải Pháp Ứng Phó
  • Biến Đổi Khí Hậu Là Gì? Tác Hại, Biểu Hiện Và Nguyên Nhân Biến Đổi Khí Hậu
  • Bài 3. Một Số Vấn Đề Mang Tính Toàn Cầu Bien Doi Khi Hau Va Suy Giam Tang Ozon Pptx
  • Biện Pháp Thích Ứng Với Biến Đổi Khí Hậu Trên Thế Giới Và Việt Nam
  • Trẻ Em Và Biến Đổi Khí Hậu
  • – Thực trạng:

    + Sự biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất, là băng tan, nước biển dâng cao; là các hiện tượng thời tiết bất thường, bão lũ, sóng thần, động đất, hạn hán và giá rét kéo dài… dẫn đến thiếu lương thực, thực phẩm và xuất hiện hàng loạt dịch bệnh trên người, gia súc, gia cầm,Nguyên nhân dẫn tới việc biến đổi khí hậu vô cùng đa dạng. Nó có thể là do sự thay đổi của môi trường thiên nhiên, hiệu ứng nhà kính tăng lên trong khí quyển ở mức độ cao… Tuy nhiên nguyên nhân có tác động lớn nhất chính là do con người. Vì mật độ dân số gia tăng nhanh chóng, nhu cầu nhà ở, lương thực tăng cao, các nhà máy xí nghiệp được xây dựng nhiều … Trong khi đó, rừng bị khai thác và phá hủy, nhiều loài động vật hoang dã gần như rơi vào tuyệt chủng… Sự mất cân bằng trong hệ sinh thái đã dẫn đến những thay đổi trong khí hậu trên toàn cầu.

    + Biến đổi khí hậu đang tác động rộng lớn trên toàn thế giới. Từ vài năm trở lại đây nhân loại phải đứng trước những đe dọa của thiên nhiên, thiên tai và dịch bệnh gây nguy hại cho đời sống con người. Băng tan hai cực, sóng thần, … lần lượt các thảm họa thiên tai diễn ra trên diện rộng trên nhiều quốc gia. Ngay như ở Việt Nam, bão lũ cũng xảy ra với tần suất cao và cường độ mạnh, ngày càng có nhiều làng “ung thư” xuất hiện,…

    + Biến đổi khí hậu không phải là vấn đề của riêng ai. Quan tâm và chung tay hành động, chúng ta sẽ giúp cho Trái Đất ngày một xanh tươi, cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.Ở nước ta đã có 12 tỉnh công bố tình trạng thiên tai hạn hán, xâm nhập mặn .

    + Đây là hiện tượng phổ biến trong thời gian qua. Theo thống kê, số cơn bão trên biển Đông ảnh hưởng đến nước ta với cường độ mạnh có chiều hướng tăng lên, mùa bão kết thúc muộn, quỹ đạo của bão trở nên dị thường và số cơn bão ảnh hưởng đến khu vực Nam Trung bộ, Nam bộ ngày càng tăng. Bên cạnh đó, số ngày mưa phùn ở miền Bắc giảm một nửa (từ 30 ngày/năm trong thập kỷ 1961 – 1970 xuống còn 15 ngày/năm trong thập kỉ 1991 – 2000). Lượng mưa biến đổi không nhất quán giữa các vùng, hạn hán có xu hướng mở rộng, không chỉ ở mười tỉnh thuộc nam Trung Bộ ,đồng bằng sông Cửu Long và hai tỉnh Tây Nguyên mà còn có xu hướng mở rộng, đặc biệt là ở khu vực Nam Trung bộ (trong đó có Khánh Hòa), dẫn đến gia tăng hiện tượng hoang mạc hóa.

    – Hậu quả

    + Gây tình trạng hạn hán kéo dài ảnh hưởng tới vấn đề cây trồng vật nuôi.

    + Biến đổi khí hậu còn gây nên tình trạng lũ lụt, thiên tai…

    + Ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, thiếu nước sinh hoạt hoặc ô nhiễm nguồn nước

    + Kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

    + Ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của nông dân

    – Nguyên nhân

    + Do sự tác động của con người.

    + Do sự biến đổi của tự nhiên

    – Giải pháp

    + Cần chủ động nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Và Suy Giảm Tầng Odon
  • Suy Giảm Tầng Ozone Và Biến Đổi Khí Hậu
  • Biến Đổi Khí Hậu Và Suy Giảm Tầng Ozon Dahs Ppt
  • Bệnh “lười Học Lý Luận Chính Trị” Và Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Lý Luận Chính Trị Cho Cán Bộ, Đảng Viên Hiện Nay
  • Một Số Biện Pháp Chủ Yếu Để Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Cá Biệt
  • Cần Giải Pháp Khẩn Cấp Toàn Cầu Về Biến Đổi Khí Hậu

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Về Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Biến Đổi Khí Hậu Không Phải Là ‘chuyện Nhà Hàng Xóm’
  • Hội Thảo Công Nghệ Về Giải Pháp Ai Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu
  • Nghị Luận Xã Hội Về Hiện Tượng Biến Đổi Khí Hậu
  • Nghị Luận Về Vấn Đề Biến Đổi Khí Hậu
  • Ngày 16/1, Hội nghị cấp cao các nhà đầu tư toàn cầu về biến đổi khí hậu và các giải pháp năng lượng, diễn ra tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York.

    Hội nghị khẳng định thách thức về biến đổi khí hậu cần có những giải pháp khẩn cấp mang tính toàn cầu bởi hiện tượng này đã trở thành nhân tố lớn nhất trong các tính toán đầu tư trong tương lai gần.

    Thế giới cần một cuộc chạy đua nước rút chứ không chỉ chạy đua marathon về chống biến đổi khí hậu.

    Hơn 450 nhà đầu tư toàn cầu hiện đang kiểm soát nguồn vốn hàng chục nghìn tỷ USD nhấn mạnh chưa bao giờ thế giới cần những hành động khẩn cấp để đối phó với biến đổi khí hậu cũng như những hiểm họa của nó như hiện nay.

    Mặc dù tổng đầu tư vào năng lượng sạch đã tăng gấp hơn 5 lần kể từ năm 2005 và lên tới 260 tỷ USD năm 2011, nhưng khuôn khổ chính sách trên toàn cầu cần phải thực sự thay đổi về phương thức điều hành nền kinh tế để nâng cao sự chú ý của các nhà hoạch định chính sách và các nhà đầu tư về tính khẩn cấp của giải pháp chống biến đổi khí hậu.

    Các nhà đầu tư cần thay đổi phương thức đầu tư và kinh doanh nhằm thúc đẩy các giải pháp năng lượng mới. Công nghệ năng lượng Mặt Trời hiện đang dẫn đầu về tăng vốn đầu tư và đã đạt gần 138 tỷ USD, tăng 36% trong năm 2011.

    Bên cạnh đó, Liên hợp quốc cũng cảnh báo nguy cơ “lựa chọn giả” giữa đầu tư kinh tế mạnh và đầu tư môi trường mạnh.

    Đầu tư tăng cường sự bền vững không còn là nhân tố ngoại vi của bức tranh hoạt động của các công ty. Công ty nào phớt lờ nguy cơ cao về biến đổi khí hậu đồng nghĩa với bỏ lỡ các tín hiệu thị trường rất hấp dẫn, đồng thời sẽ không tuyển được những tài năng kinh doanh trẻ.

    Liên hợp quốc kêu gọi các nhà đầu tư toàn cầu thúc đẩy kế hoạch hành động mới phát triển các công nghệ ít thải khí gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời giám sát chặt chẽ hơn nữa các nguy cơ gây biến đổi khí hậu.

    Các chuyên gia Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu nhấn mạnh nhu cầu phải có những chuyển đổi quan trọng thông qua các nỗ lực cụ thể để chống tình trạng biến đổi khí hậu vào thời điểm mang tính bước ngoặt là năm 2022.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cam Kết Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Giáo Dục Atgt Cho Học Sinh: Các Trường Thực Hiện Thế Nào?
  • Bài Làm Văn Mẫu Nghị Luận Về An Toàn Giao Thông Hay Nhất
  • Nghị Luận Tìm Giải Pháp Đảm Bảo An Toàn Giao Thông
  • Nghị Luận Xã Hội Về Vấn Đề An Toàn Giao Thông Hiện Nay
  • Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu Và Giải Pháp Ứng Phó Của Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Đi Tìm Giải Pháp Cho Trẻ Biếng Ăn
  • Giải Pháp Cho Trẻ Biếng Ăn
  • Giải Pháp Cho Tình Trạng Trẻ Biếng Ăn
  • Giúp Mẹ Đi Tìm Giải Pháp Cho Trẻ Biếng Ăn
  • Một Giải Pháp Cho Trẻ Biếng Ăn
  • Phát biểu tại Hội thảo, TS Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch VACNE, cho biết biến đổi khí hậu đã xảy ra cả ngàn năm trước rồi và con người cũng đã thích ứng với hiện tượng này từ xưa đến nay rồi.

    Tuy nhiên, biến đổi khí hậu diễn ra nhanh hơn so với dự báo, tác động tiêu cực ngày càng tăng – TS Lê Minh Nhật, Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Tài nguyên & Môi trường, chia sẻ tại Hội nghị đang diễn ra ở Hà Nội giữa lúc đã và đang hoành hành ở nhiều nơi gây thiệt hại lớn về người và của trong những ngày qua.

    “Các loại hình thiên tai ngày càng gia tăng ở Việt Nam. Mặc dù công tác dự báo của Việt Nam ngày càng có tính chính xác hơn, tuy nhiên số người chết vì thiên tai vẫn gia tăng”, TS Nhật nói.

    Theo báo cáo nhanh của các địa phương (tính đến ngày 12/10), thiệt hại đợt mưa lũ đang diễn ra đã khiến 77 người chết và mất tích; 21 người bị thương. Trong đó số người chết và mất tích nhiều nhất tại Hòa Bình (32 người) Yên Bái 15 người, các trường hợp khác xảy ra ở Sơn La, Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ an và Quảng Trị.

    Về tài sản, ước tính có 217 nhà bị sập, 1059 nhà bị hư hỏng, gần 17.000 nhà bị ngập. Tính tới thời điểm này, các địa phương nằm trong vùng lũ phải di dời khẩn cấp gần 800 nhà.

    Theo chúng tôi Trương Quang Học, VACNE, trong hơn 30 năm qua, tại Việt Nam, bình quân mỗi năm thiên tai đã làm chết và mất tích khoảng 500 người, bị thương hàng nghìn người, thiệt hại về kinh tế vào khoảng 1,5% GDP, cao hơn so với khoảng 1% GDP đối với các nước có thu nhập trung bình, và khoảng 0,3% GDP đối với các nước có mức thu nhập thấp.

    Những biểu hiện chủ yếu của biến đổi khí hậu trong các mốc thời gian quan trọng của thế kỷ 21 bao gồm sự tăng nồng độ CO2 trong khí quyển, sự tăng nhiệt độ và nước biển dâng trên bề mặt Trái đất.

    Để ứng phó với biến đổi khí hậu, đến năm 2030, Việt Nam sẽ cắt giảm 8% phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát triển thông thường, với mục tiêu cắt giảm đến 25% nếu nhận được hỗ trợ của cộng đồng quốc tế. Để thực hiện các nhiệm vụ ứng phó với biến đổi khí hậu từ nay đến năm 2022, Việt Nam sẽ cần khoảng 30 tỷ USD từ nguồn lực nhà nước, hỗ trợ quốc tế và cả các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chia Sẻ Giải Pháp Bảo Tồn Và Phát Huy Di Sản Văn Hóa
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Góp Phần Bảo Tồn, Phát Huy Các Giá Trị Văn Hóa Đặc Sắc Của Các Dân Tộc Tỉnh Cao Bằng
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa Vì Sự Phát Triển Bền Vững
  • Công Tác Quản Lý, Bảo Tồn Và Phát Huy Các Giá Trị Di Sản Văn Hóa Và Thiên Nhiên Thế Giới Quần Thể Danh Thắng Tràng An
  • Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Di Sản Văn Hóa
  • Tổng Quan Về Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Biến Đổi Khí Hậu Không Phải Là ‘chuyện Nhà Hàng Xóm’
  • Hội Thảo Công Nghệ Về Giải Pháp Ai Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu
  • Nghị Luận Xã Hội Về Hiện Tượng Biến Đổi Khí Hậu
  • Nghị Luận Về Vấn Đề Biến Đổi Khí Hậu
  • Giải Pháp Wifi Diện Rộng Tại Hcm
  • – Thời tiết là trạng thái khí quyển ở một thời điểm tại một nơi nhất định được xác định bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa,…

    – Khí hậu làtổng hợp của thời tiết được đặc trưng bởi các trị số thống kê (trung bình, xác suất các cực trị v.v..) của các yếu tố khí tượng biến động trong một khu vực địa lý. Thời kỳ trung bình thường là vài thập kỷ. Định nghĩa chính thức của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) “Tổng hợp các điều kiện thời tiết ở một khu vực nhất định đặc trưng bởi thống kê dài hạn các biến số của trạng thái khí quyển ở khu vực đó”.

    Aerosols là tập hợp các phân tử rắn và lỏng trên không với kích thước từ 0,01 đến 10 nanomet tồn tại trong khí quyển ít nhất hàng giờ. Aerosols có thể là tự nhiên hoặc nhân tạo, ảnh hưởng đến khí hậu bằng nhiều cách khác nhau: trực tiếp thông qua tán xạ hoặc bức xạ hấp thụ hoặc gián tiếp qua vai trò hạt nhân ngưng kết mây hoặc điều tiết đặc tính quang học hoặc thời gian tồn tại của mây.

    Biến đổi khí hậu(BĐKH) là sự biến đổi trạng thái của khí hậuso với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất.

    Vào những khoảng thời gian không đều đặn, nhưng nhìn chung vào khoảng bốn năm một lần, nhiệt độ bề mặt nước biển phía đông và trung tâm xích đạo Thái Bình Dương lại nóng lên trên diện rộng. Sự nóng lên đó thường kéo dài khoảng một năm, được gọi là hiện tượng – El Nino, La Nina, ENSO: El Nino (tên này có nghĩa là ” Đứa con của Chúa”, do hiện tượng này thường xảy ra vào mùa Giáng sinh ngoài khơi Nam Mỹ, kéo dài và mạnh lên khi hiện tượng El Nino trên toàn Thái Bình Dương xảy ra).El Nino có thể được coi như pha nóng lên của dao động khí hậu. Trong pha lạnh đi, gọi là LaNina, nhiệt độ bề mặt biển Thái Bình Dương xích đạo lạnh đi so với bình thường. Nhiệt độ bề mặt biển đi đôi với sự dịch chuyển lan rộng trong khí quyển về gió, mưa v.v… Dao động nam là để chỉ những biến đổi áp suất bề mặt vùng nhiệt đới đi kèm chu trình EL Nino/La Nina. Các hiện tượng này bao gồm sự tương tác mạnh giữa đại dương và khí quyển, và thuật ngữ ENSO (El Nino/Shouthem Osciliation) thường được dùng để chỉ một hiện tượng tổng thể. Ở khu vực Thái Bình Dương, chu trình ENSO sinh ra những biến đổi lớn, rõ ràng trong các dòng hải lưu vùng nhiệt đới, nhiệt độ, gió tín phong, các khu vực mưa v.v.. Thông qua các mối liên hệ xa trong khí quyển, ENSO cũng ảnh hưởng đến khí hậu theo mùa ở nhiều khu vực khác trên toàn cầu.

    – Khả năng dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH, kể cả biến đổi tự nhiên và cực trị. Tổn thương là hàm của tính chất, mức độ và tốc độ của biến đổi và biến động khí hậu mà một hệ thống phát lộ ra cùng với độ mẫn cảm và năng lực thích ứng của nó.

    – Kịch bản biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa kinh tế-xã hội, phát thải khí nhà kính, BĐKH và nước biển dâng. Lưu ý rằng kịch bản BĐKH khác với dự báo thời tiết và dự báo khí hậu là nó chỉ đưa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển kinh tế-xã hội và hệ thống khí hậu.

    Kịch bản phát thải là một cách trình diễn hợp lý sự phát triển tương lai về lượng phát thải của các thực thể có hoạt động bức xạ tiềm năng, tức các khí nhà kính (KNK), aerosols, dựa trên một loạt giả định nội tại nhất quán và chặt chẽ về động lực (chẳng hạn phát triển dân số, kinh tế xã hội, thay đổi kỹ thuật) và quan hệ giữa chúng.

    Nước biển dâng là sự dâng mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão,…Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác.

    Ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ các tác nhân gây ra BĐKH.

    Thích ứng vời biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoăc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do BĐKH và tận dụng các cơ hội do nó mang lại.

    – Giảm nhẹ biến đổi khí hậug là các hoạt dộng nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí nhà kính.

    là những hoạt động cấp bách mà nếu trì hoãn thực hiện sẽ làm gia tăng tính dễ bị tổn thương hoặc sẽ tiêu tốn nhiều chi phí hơn về sau này– Hoạt động ưu tiên .

    1.1.2.Nhận thức

    Ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) đã tổ chức 4 lần báo cáo đánh giá tình hình BĐKH toàn cầu:

    – Báo cáo đánh giá lần thứ nhất (1990) là cơ sở để Liên Hợp Quốc quyết định thành lập Ủy ban Hiệp thương liên Chính phủ về một Công ước khí hậu tiến tới Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu, được ký kết vào tháng 6 năm 1992.

    -Báo cáo đánh giá lần thứ ba (2001), sau 10 năm thông qua Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu.

    -Báo cáo đánh giá lần thứ tư (2007), sau 10 năm thông qua Nghị định thư Kyoto và một năm trước khi bước vào thời kỳ cam kết đầu tiên theo Nghị định thư (2008 – 2012), để chuẩn bị cho việc thương lượng về thời kỳ cam kết tiếp theo.

    Mỗi lần đánh giá đều có những tiến bộ mới về nguồn số liệu và phương pháp, làm giảm đáng kể những điều chưa chắc chắn tồn tại trước đây, do đó, nâng cao rõ rệt mức độ tin cậy của những kết luận về biến đổi khí hậu trong quá khứ cũng như tương lai.

    -Sự nóng lên toàn cầu của hệ thống khí hậu hiện nay là chưa từng có và rất rõ ràng từ những quan trắc nhiệt độ và đại dương trung bình toàn cầu, sự tan chảy của băng và tuyết trên phạm vi rộng lớn và sự dâng lên của mực nước biển trung bình toàn cầu:

    -Xu thế tăng nhiệt độ trong chuỗi số liệu 100 năm (1906 – 2005) là 0,74 0C; Xu thế tăng nhiệt độ trong 50 năm gần đây là 0,13 0 C/1 thập kỷ, gấp 2 lần xu thế tăng của 100 năm qua.

    -Nhiệt độ trung bình ở Bắc cực đã tăng với tỷ lệ 1,5 0 C/100 năm, gấp 2 lần tỷ lệ tăng trung bình toàn cầu, nhiệt độ trung bình ở Bắc cực trong 50 năm cuối thế kỷ XX cao hơn bất kỳ nhiệt độ trung bình của 50 năm nào khác trong 500 năm gần đây và có thể là cao nhất, ít nhất là trong 1300 năm qua.

    -Nhiệt độ trung bình ở đỉnh lớp băng vĩnh cửu ở Bắc bán cầu đã tăng 3 0 C kể từ năm 1980.

    -11 trong số 12 năm gần đây (1995 – 2006) nằm trong số 12 năm nóng nhất trong chuỗi quan trắc bằng máy kể từ năm 1850.

    -Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng với tỷ lệ trung bình 1,8 mm/năm trong thời kỳ 1961 – 2003 và tăng nhanh hơn với tỷ lệ 3,1 mm/năm trong thời kỳ 1993 – 2003. Tổng cộng, mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng lên 0,31 m trong 100 năm gần đây.

    Chính sự tan băng ở Greenland, Bắc cực và Nam cực đã làm cho mực nước biển tăng nhanh hơn trong thời kỳ 1993 – 2003. Ngoài ra, nhiệt độ trung bình của đại dương toàn cầu tăng lên (ít nhất là tới độ sâu 3000 m) cũng góp phần vào sự tăng lên của mực nước biển.

    Số liệu vệ tinh cho thấy, diện tích biển băng trung bình năm ở Bắc Cực đã thu hẹp 2,7%/thập kỷ. Riêng mùa hè giảm 7,4%/thập kỷ. Diện tích cực đại của lớp phủ băng theo mùa ở Bắc bán cầu đã giảm 7% kể từ năm 1990, riêng trong mùa xuân giảm tới 15%.

    Mới đây, tại Hội nghị quốc tế về biến đổi khí hậu họp tại Bruxen (Bỉ), các báo cáo khoa học cho biết, ở Bắc cực, khối băng dày 2 dặm (khoảng trên 3 km) đang mỏng dần và đã mỏng đi 66 cm. Ở Nam Cực, băng cũng đang tan với tốc độ chậm hơn và những núi băng ở Tây Nam cực đổ sụp. Những lớp băng vĩnh cửu ở Greenland tan chảy. Ở Alaska (Bắc Mỹ, trong những năm gần đây nhiệt độ đã tăng 1,5 0 C so với trung bình nhiều năm, làm tan băng và lớp băng vĩnh cửu đã giảm 40%, những lớp băng hàng năm dày khoảng 1,2 m đã giảm 4 lần, chỉ còn 0,3 m. Báo cáo cũng cho biết, các núi băng trên cao nguyên Thanh Hải (Trung Quốc) ở độ cao 5000 m mỗi năm giảm trung bình 7% khối lượng và 50 – 60 m độ cao, uy hiếp nguồn nước của các sông lớn ở Trung Quốc. Trong 30 năm qua, trung bình mỗi năm, diện tích lớp băng trên cao nguyên Tây Tạng bị tan chảy khoảng 131 km2, chu vi vùng băng tuyết bên sườn cao nguyên mỗi năm giảm 100 – 150 m, có nơi tới 350 m. Diện tích các đầm lầy trong khu vực này cũng giảm 10%. Tất cả đang làm cạn kiệt hồ nước Thanh Hải, một hồ lớn nhất Trung Quốc, đe dọa hồ sẽ bị biến mất trong vòng 200 năm tới. Nếu nhiệt độ trái đất tiếp tục tăng, khối lượng băng tuyết ở khu vực cao nguyên sẽ giảm 1/3 vào năm 2050 và chỉ còn 1/2 vào năm 2090.

    Biến đổi khí hậu có thể do 2 nguyên nhân: do những quá trình tự nhiên và do ảnh hưởng của con người.

    Phần lớn các nhà khoa học đều khẳng định rằng hoạt động của con người đã và đang làm BĐKH toàn cầu. Nguyên nhân chủ yếu của sự biến đổi đó là sự tăng nồng độ khí nhà kính trong khí quyển dẫn đến tăng hiệu ứng nhà kính. Đặc biệt quan trọng là khí CO 2 được tạo thành do sử dụng năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch (như dầu mỏ, than đá, khí tự nhiên…), phá rừng và chuyển đổi sử dụng đất. Để đánh giá vai trò của khí nhà kính đến BĐKH cần xét 4 đặc trưng sau:

    -Thay đổi nồng độ khí nhà kính;

    -Đặc tính hấp thụ bức xạ của khí nhà kính;

    -Thời gian tồn tại(tuổi thọ) của khí nhà kính;

    -Tác động qua lại giữa các khí nhà kính.

    Khí quyển hiện nay có khoảng 750 tỷ tấn cacbon. Đại dương chứa lượng cacbon gấp khoảng 50 lần, sinh quyển trái đất khoảng 3 lần và lục địa khoảng 5 lần nhiều hơn trong khí quyển. Số liệu về sản xuất năng lượng cho thấy nồng độ CO 2 tăng hàng năm khoảng 4,4% cho tới khi có cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1975. Sau đó, mức tăng giảm dần vào khoảng năm 1980 mặc dù có biến động hàng năm. Theo những đánh giá mới nhất, than và dầu hỏa góp phần thải CO 2 gần tương đương nhau (khoảng 40%), khí đốt khoảng 20%, tuy mức thải CO 2 cho mỗi đơn vị khối lượng của từng loại nhiên liệu có khác nhau.

    Nhu cầu về năng lượng của nhân loại ngày càng nhiều, trong đó năng lượng hóa thạch chiếm phần lớn. Mặc dù năng lượng hạt nhân hoặc một số dạng năng lượng sạch khác có xu hướng tăng lên nhưng vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ so với nhu cầu năng lượng nói chung. Sử dụng nhiều năng lượng hóa thạch là nguyên nhân làm tăng đáng kể nồng độ khí CO 2 trong khí quyển, trong đó các nước phát triển đóng góp phần lớn.Trong việc đánh giá hiệu ứng của các khí nhà kính, có 2 vấn đề rất đáng lưu ý là:

    -Các khí nhà kính tồn tại lâu trong khí quyển, từ vài tháng đến vài trăm năm, được xáo trộn nhanh chóng và làm thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu.

    – Do sự xáo trộn như vậy, phát thải khí nhà kính từ bất kỳ nguồn nào, ở đâu cũng đều ảnh hưởng đến mọi nơi trên thế giới.

    Như vậy, phát thải khí nhà kính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến BĐKH hiện nay, một sự thay đổi môi trường lớn lao nhất mà con người phải chịu đựng. Đây cũng là lý do vì sao BĐKH là một vấn đề mang tính toàn cầu.

    Tăng nồng độ khí nhà kính dẫn đến tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển và kết quả là tăng nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất. Trên phạm vi khu vực, sự phát ra những chất khí và những phần tử gây ô nhiễm khác dẫn đến những tác động lớn, mặc dù một số trong các khí đó có thể có tác động ngược lại. Ví dụ, chất muội mồ hóng (sooty aerosols) có khuynh hướng làm khí hậu khu vực ấm lên, trong khi chất sunfat làm lạnh đi bởi phản xạ ánh sáng mặt trời nhiều hơn. Trong khi ta có cảm giác chịu tác động trực tiếp ở các vùng công nghiệp, các chất sol khí này còn có thể tác động gián tiếp lên nhiệt độ trung bình toàn cầu.

    Từ trước thời kỳ tiền công nghiệp (1750), hàm lượng khí CO 2 trong khí quyển vốn rất ổn định tồn tại trong khoảng 10.000 năm, tương ứng với khoảng 280ppm (phần triệu) vào thời kỳ 1000 – 1750, đã tăng lên 370ppm vào năm 2000, tương ứng với 31 (±4)%. Trong khi đó, lượng mêtan đã tăng từ 700ppb (phần tỷ) vào thời kỳ 1000 – 1750 lên đến 1750ppb vào năm 2000, tương ứng với 151 (±25)%; khí ôxit nitơ tăng từ 270ppb thời kỳ 1000 – 1750 đến 316ppb vào năm 2000, tướng ứng với 17 (±5)%, lượng ôzôn tầng đối lưu tiếp tục tăng với tỷ lệ 35(±15)% so với thời kỳ tiền công nghiệp và thay đổi theo vùng. Các chất khí cacbon thuộc nhóm halogen không có trong khí quyển thời kỳ tiền công nghiệp, đã tăng rõ rệt trong khoảng năm chục năm gần đây. Từ 1995, nồng độ các khí này đã giảm dần nhờ được kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal.

    Mỗi năm con người thải vào khí quyển 22 tỷ tấn CO 2 do đốt năng lượng hóa thạch, trong đó việc đốt, phá rừng và sản xuất nông nghiệp đóng góp khoảng 2 đến 9 tỷ tấn.

    Cũng như khí mêtan, N 2O phát sinh do 2 nguyên nhân: nguồn gốc tự nhiên và hoạt động con người. Việc đốt các nhiên liệu hóa thạch, hoạt động công nghiệp và nông nghiệp, sử dụng các hóa chất, phân bón hóa học đã làm tăng lượng N 2O trong khí quyển. Phần lớn lượng phát thải khí N 2 O hàng năm (3 – 4,5 triệu tấn) bắt nguồn từ nông nghiệp.

    Các chất CFC và các halôcácbon khác được sử dụng trong máy lạnh, điều hòa không khí, đã bổ sung lượng khí nhà kính, tuy phần lớn trong số đó được loại trừ theo thỏa thuận quốc tế, bởi các loại khí đó làm suy giảm lượng ôzôn trên tầng bình lưu. Ôzôn trong tầng đối lưu là khí nhà kính quan trọng được hình thành do hoạt động công nghiệp.

    Tóm lại, tiêu thụ năng lượng do đốt các nhiên liệu hóa thạch đóng góp khoảng một nửa (46%) vào tiềm năng nóng lên toàn cầu. Phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18% và hoạt động nông nghiệp tạo ra khoảng 9% tổng số các khí thải gây ra lượng bức xạ cưỡng bức làm nóng lên toàn cầu. Sản phẩm hóa học (CFC, Halon…): 24% và các nguồn khác như chôn rác dưới đất, nhà máy xi măng…: 3%.

    1.1.3. Các biểu hiện chính của biến đổi khí hậu toàn cầu

    Theo đánh giá lần thứ 4 của Ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC, 2007) đã nhận định rằng sự nóng lên của hệ thống khí hậu trái đất hiện nay là chưa từng có, điều đó đã được minh chứng từ những quan trắc về sự tăng lên của nhiệt độ không khí và đại dương trung bình toàn cầu, sự tan chảy băng và tuyết trên phạm vi rộng lớn, sự dâng lên của mực nước biển trung bình toàn cầu.

    – Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng khoảng 0,74 O C trong thời kỳ 1906 – 2005, tốc độ tăng của nhiệt độ trong 50 năm gần đây gần gấp đôi so với 50 năm trước đây. Hai năm được công nhận có nhiệt độ trung bình toàn cầu cao nhất từ trước đến nay là 1998, 2005; 11/12 năm gần đây (1995 – 2006) nằm trong số 12 năm nóng nhất trong chuỗi số liệu quan trắc. Nhiệt độ trên lục địa tăng rõ rệt và nhanh hơn hẳn so với nhiệt độ trên đại dương với thời kỳ tăng nhanh nhất là mùa đông (tháng XII, I, II) và mùa xuân (tháng III, IV, V). Nhiệt độ cực trị cũng có chiều hướng biến đổi tương tự như nhiệt độ trung bình;

    Hình 1. 1 : Thay đổi nhiệt độ toàn cầu giai đoạn 1860 – 1999

    – Lượng mưa có chiều hướng tăng lên trong thời kỳ 1900 – 2005 ở phía Bắc vĩ độ 30ºN, tuy nhiên lại có xu hướng giảm đáng kể từ năm 1970 ở vùng nhiệt đới. Lượng mưa ở khu vực từ 10ºN đến 30ºN tăng lên từ năm 1900 đến 1950 ở vùng nhiệt đới và giảm trong thời kỳ sau đó. Nhìn chung, lượng mưa có xu hướng biến đổi theo mùa và theo không gian rõ rệt hơn hẳn so với nhiệt độ. Hiện tượng mưa lớn có dấu hiệu tăng lên trong thời gian gần đây;

    – Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng với tỷ lệ trung bình 1,8mm/năm trong thời kỳ 1961 – 2003 và với tỷ lệ 3,1mm/năm trong thời kỳ từ năm 1993 – 2003. Trong những năm gần đây, tổng cộng mực nước biển đã dâng 0,31m (± 0,07m).

    Diện tích băng biển trung bình năm ở Bắc cực đã thu hẹp với tỷ lệ 2,7%/1 thập kỷ. Diện tích cực đại của lớp phủ băng theo mùa ở bán cầu Bắc đã giảm 7% kể từ 1990, riêng trong mùa xuân giảm tới 15%.

    Các báo cáo tại Hội nghị Quốc tế về BĐKH tại Brucxen (Bỉ) cho biết trung bình mỗi năm, các núi băng trên cao nguyên Thanh Hải (Trung Quốc) bị giảm 7% khối lượng và 50 – 60 m độ cao. Trong 30 năm qua, trung bình mỗi năm cao nguyên Tây Tạng bị tan chảy khoảng 131km 2 , chu vi vùng băng tuyết bên sườn cao nguyên mỗi năm giảm 100 – 150m có nơi tới 350m;

    – Hạn hán xuất hiện thường xuyên hơn ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới từ năm 1970. Nguyên nhân chính của sự gia tăng này là lượng mưa giảm và nhiệt độ tăng dẫn đến bốc hơi tăng. Khu vực thường xuyên xảy ra hạn hán là phía Tây Hoa Kỳ, Úc, Châu Âu;

    – Hoạt động của xoáy thuận nhiệt đới, đặc biệt là các cơn bão mạnh gia tăng từ những năm 1970 và ngày càng có xu hướng xuất hiện nhiều hơn các cơn bão có quỹ đạo bất thường. Điều này có thể thấy trên cả Ấn Độ Dư ơ ng, Bắc và Tây Bắc Thái Bình Dương, số cơn bão ở Đại Tây Dương ở mức trung bình trong khoảng 10 năm gần đây;

    – Có sự biến đổi trong chế độ hoàn lưu quy mô lớn trên cả lục địa và đại dương, biểu hiện rõ rệt nhất là sự gia tăng về số lượng và cường độ của hiện tượng El Nino và biến động mạnh mẽ của hệ thống gió mùa.

    Như vậy BĐKH đã và đang diễn ra trên quy mô toàn cầu, biểu hiện của chúng có thể khác nhau giữa các khu vực nhưng có thể kết luận một số đặc điểm chung là nhiệt độ tăng lên, lượng mưa biến động mạnh mẽ và có dấu hiệu tăng lên vào mùa mưa, giảm vào mùa ít mưa, hiện tượng mưa lớn gia tăng, hạn hán xuất hiện thường xuyên hơn, hoạt động của bão và áp thấp nhiệt đới phức tạp hơn, hiện tượng El Nino xuất hiện thường xuyên hơn và có biến động mạnh.

    1.1.4 Nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu hiện nay

    (1) Biến đổi khí hậu trong thời đại địa chất

    Khí hậu trái đất đã trải qua nhiều lần biến đổi. Khoảng 45 triệu năm về trước, một thiên thạch khổng lồ va vào trái đất làm bề mặt trái đất bị bao phủ một lượng khói bụi dày đặc, và trái đất bị chìm trong bóng tối một thời gian dài do không có ánh sáng mặt trời. Trái đất bị lạnh đi và loài khủng long bị tiêu diệt.

    Khoảng 2 triệu năm trước công nguyên, trái đất cũng trải qua nhiều lần băng hà lạnh lẽo và gian băng ấm áp, với chu kỳ mỗi lần khoảng 100 nghìn năm. Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa kỳ băng hà và gian băng khoảng 5 – 7 0C, riêng ở vùng cực khoảng 10 – 15 0 C.

    Thời kỳ gian băng khoảng 125 nghìn đến 130 nghìn năm trước công nguyên, nhiệt độ trung bình của bề mặt trái đất cao hơn thời kỳ tiền công nghiệp (1750) khoảng 2 0 C và mực nước biển trung bình cao hơn trong thế kỷ XX từ 4 đến 6 m.

    Thời kỳ băng hà cuối cùng kết thúc cách đây khoảng 10 -15 nghìn năm. Sau thời kỳ này, trái đất ấm dần lên, các sinh vật mới dần dần phát triển. Sa mạc Sahara trong khoảng 12 nghìn đến 4 nghìn năm trước công nguyên có cây cỏ và chim muông. Khoảng 5 – 6 nghìn năm trước công nguyên, nhiệt độ trái đất cao hơn hiện nay.

    Đầu thế kỷ XIV, châu Âu trải qua một kỷ băng hà nhỏ kéo dài khoảng vài trăm năm. Những khối băng khổng lồ hình thành và những mùa đông khắc nghiệt làm cho mùa màng thất bát, dẫn đến nạn đói, nhiều gia đình phải di cư đi nơi khác.

    Những biến đổi khí hậu xảy ra trong thời kỳ địa chất đều do các nguyên nhân tự nhiên, trong đó chủ yếu là sự chuyển động của trái đất, các vụ phun trào của núi lửa và hoạt động của mặt trời.

    (2) Nguyên nhân của biến đổi khí hậu trong thời kỳ hiện đại

    Nguyên nhân của sự biến đổi khí hậu hiện nay, tiêu biểu là sự nóng lên toàn cầu đã được khẳng định là do hoạt động của con người. Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con người đã sử dụng ngày càng nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà kính, làm tăng hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất.

    Những số liệu về hàm lượng khí CO 2 trong khí quyển được xác định từ các lõi băng được khoan ở Greenland và Nam cực cho thấy, trong suốt chu kỳ băng hà và gian băng (khoảng 18 nghìn năm trước), hàm lượng khí CO 2 trong khí quyển chỉ khoảng 180 – 200 ppm (phần triệu), nghĩa là chỉ bằng khoảng 70% so với thời kỳ tiền công nghiệp (280 ppm). Từ khoảng năm 1800, hàm lượng khí CO 2 bắt đầu tăng lên, vượt con số 300 ppm và đạt 379 ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng khoảng 31% so với thời kỳ tiền công nghiệp, vượt xa mức khí CO 2 tự nhiên trong khoảng 650 nghìn năm qua.

    Đánh giá khoa học của IPCC cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng v.v… đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9%, các ngành sản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%) là các hoạt động khác (chôn rác thải v.v…).

    Riêng năm 2004, lượng phát thải khí CO 2­­ của Hoa Kỳ là 6 tỷ tấn (lấy tròn), bằng khoảng 20% tổng lượng phát thải khí CO 2 toàn cầu. Trung Quốc là nước phát thải lớn thứ 2 với 5 tỷ tấn CO2( ). Như vậy, phát thải các khí CO2 ­­ của Việt Nam tăng khá nhanh trong 15 năm qua, song vẫn ở mức rất thấp so với trung bình toàn cầu và nhiều nước trong khu vực. Dự tính tổng lượng phát thải các khí nhà kính của nước ta sẽ đạt 233,3 triệu tấn CO­ tương đương vào năm 2022, tăng 93% so với năm 1998(.

    Trong Nghị định thư Kyoto (Điều 10) còn ghi “Tất cả các Bên, có xem xét những trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và các tình huống, mục tiêu và những ưu tiên phát triển đặc biệt của quốc gia và khu vực, không đưa thêm bất kỳ cam kết mới nào cho các Bên không thuộc Phụ lục 1” (tức Bên các nước đang phát triển).

    1.1.5. Khí nhà kính và hiệu ứng nhà kính

    Trong thành phần của khí quyển trái đất, khí nitơ chiếm tới 78% khối lượng khí quyển, khí oxy chiếm 21%, còn lại khoảng 1% là các khí khác như acgon, đioxit cacbon, mêtan, ôxit nitơ, nêôn, hêli, hydro, ôzôn v.v… và hơi nước. Tuy chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, các khí vết này, đặc biệt là khí điôxit cacbon, mêtan, ôxit nitơ và CFCs, một loại khí chỉ mới có trong khí quyển từ khi công nghệ làm lạnh phát triển, là những khí có vai trò rất quan trọng đối với sự sống trên trái đất. Trước hết, đó là vì các chất khí nói trên có khả năng hấp thụ bức xạ hồng ngoại do mặt đất phát ra, sau đó, một phần lượng bức xạ này lại được các chất khí đó phát xạ trở lại mặt đất, qua đó hạn chế lượng bức xạ hồng ngoại của mặt đất thoát ra ngoài khoảng không vũ trụ và giữ cho mặt đất khỏi bị lạnh đi quá nhiều, nhất là về ban đêm khi không có bức xạ mặt trời chiếu tới mặt đất.

    Các chất khí nói trên, (trừ CFCs), đã tồn tại từ lâu trong khí quyển và được gọi là các khí nhà kính tự nhiên. Nếu không có các chất khí nhà kính tự nhiên, trái đất sẽ lạnh hơn hiện nay khoảng 33 0C, tức là nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất sẽ khoảng -18 0 C. Hiệu ứng giữ cho bề mặt trái đất ấm hơn so với trường hợp không có các khí nhà kính được gọi là “hiệu ứng nhà kính”. Ngoài ra, khí ôzôn tập trung thành 1 lớp mỏng trên tầng bình lưu của khí quyển có tác dụng hấp thụ các bức xạ tử ngoại từ mặt trời chiếu tới trái đất và qua đó bảo vệ sự sống trên trái đất.

    Sự tăng lên của các khí nhà kính dẫn đến gia tăng hiệu ứng nhà kính của lớp khí quyển đã tạo ra một lượng bức xạ cưỡng bức với độ lớn trung bình là 2,3 w/m 2, làm cho trái đất nóng lên.

    Các nhân tố khác, trong đó có các sol khí (bụi, cacbon hữu cơ, sulphat, nitrat…) gây ra hiệu ứng âm (lạnh đi) với lượng bức xạ cưỡng bức tổng cộng trực tiếp là -0,5 w/m 2 và gián tiếp qua phản xạ của mây là -0,7 w/m 2; thay đổi sử dụng đất làm thay đổi suất phản xạ bề mặt, tạo ra lượng bức xạ cưỡng bức tổng cộng được xác định bằng -0,02 w/m 2; trái lại, sự tăng khí ôzôn trong tầng đối lưu do sản xuất và phát thải các hóa chất và sự thay đổi trong hoạt động của mặt trời trong thời kỳ từ 1750 đến nay được xác định là tạo ra hiệu ứng dương với tổng lượng bức xạ cưỡng bức lần lượt là 0,35 w/m 2 và 0,12 w/m 2.

    Như vậy, tác động tổng cộng của các nhân tố khác, ngoài khí nhà kính, đã tạo ra lượng bức xạ cưỡng bức âm. Vì thế, trên thực tế, sự tăng lên của nhiệt độ trung bình toàn cầu quan trắc được trong thời gian qua đã bị triệt tiêu một phần, nói cách khác, sự tăng lên của riêng hàm lượng khí nhà kính nhân tạo trong khí quyển làm trái đất nóng lên nhiều hơn so với những gì đã quan trắc được, và điều đó càng khẳng định sự biến đổi khí hậu hiện nay là do các hoạt động của con người mà không thể được giải thích là do các quá trình tự nhiên.

    1.1.6. Biến đổi khí hậu và nước biển dâng trên thế giới trong thế kỷ XX I

    Theo báo cáo đánh giá lần thứ 4 của Ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu, đến cuối thế kỷ XXI, hàm lượng khí CO 6,4 2 trong khí quyển sẽ đạt 540 – 970 ppm theo các kịch bản khác nhau về phát thải khí nhà kính, nghĩa là tăng ít nhất gấp đôi so với thời kỳ tiền công nghiệp, và như vậy, nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ tăng lên tương ứng là 2,0 – 4,5 0C (1,1 ¸ 0 C), mực nước biển trung bình toàn cầu sẽ tăng lên từ 0,18 đến 0,59 m so với cuối thế kỷ XX.

    Tuy kịch bản mực nước biển dâng còn chưa chắc chắn, vì có nhiều điều không biết rõ về sự đóng góp của băng Greenland và Nam cực. Nhưng thực tế, các nghiên cứu gần đây đưa ra tốc độ tăng mực nước biển cao hơn, từ 0,5 đến 1,4 m vào cuối thế kỷ XXI.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Giải Pháp Khẩn Cấp Toàn Cầu Về Biến Đổi Khí Hậu
  • Cam Kết Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Toàn Cầu
  • Giáo Dục Atgt Cho Học Sinh: Các Trường Thực Hiện Thế Nào?
  • Bài Làm Văn Mẫu Nghị Luận Về An Toàn Giao Thông Hay Nhất
  • Nghị Luận Tìm Giải Pháp Đảm Bảo An Toàn Giao Thông
  • Sự Suy Giảm Tầng Ozon

    --- Bài mới hơn ---

  • 10 Lời Khuyên Hữu Ích Cho Học Sinh Khi Dùng Mạng Xã Hội
  • Chúng Ta Sử Dụng Mxh Thông Thái?
  • 9 Biện Pháp Tiết Kiệm Nước Hiệu Quả Tại Nhà
  • Tiết Kiệm Nước: 8 Cách Thức Rất Hiệu Quả Mà Thiết Thực
  • Nam Phi: Đối Mặt Với Nguy Cơ Mất An Ninh Nguồn Nước
  • TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

    KHOA NÔNG LÂM

    NHÓM THỰC HIỆN : Nhóm II

    LỚP : Lâm sinh K 07

    TÊN ĐỀ TÀI :

    SỰ SUY GiẢM ÔZÔN

    DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM II

    Huỳnh Thị Kiều Trinh Bùi Hiến Đức

    Nguyễn Huy Bình Phạm Thị Kiều Chi

    Lê Xuân Hiêp Võ Đình Chung

    Bùi Thị Hồng Thủy Nguyễn Phi Long

    Nguyễn Hữu Thìn Trần hoàng Nam

    Nguyễn Văn Lệ Pơ Long Nhiên

    Nguyễn Văn Cường Ngô Hồng Phong

    Nguyễn Mạnh Hà

    1. Sự tạo thành ôzôn

    .Ôzon trong bầu khí quyển được tạo thành khi các tia cực tím chạm phải các phân tử oxy ,tạo thành hai nguyên tử oxy đơn ,được gọi là oxy nguyên tử

    .Ôxy nguyên tử kết hợp cùng một phân tử oxy tạo thành phân tủ ozon .Phân tử ozon có hoạt tính cao,khi bị tia cực tím chạm phải,lại tách ra thành một phân tủ oxy và một oxy phân tủ . Đây là một quá trình liên tục gọi là chu kỳ ôxy-ôzon

    O2 + tia cực tím  O + O

    O + O2  O3

    Hình ảnh tạo thành ôzon

    2 Vai trò của tầng ozone

    Lớp zone ngăn cản phần lớn các tia cực tím có hại không cho xuyên qua bầu khí quyển Trái Đất,

    Hình ảnh tầng ozone bảo vệ trái đất chống các tai cực tím

    Tầng ozon như lớp áo choàng bảo vệ trái đất trước sự xâm nhập và phá hủy của tia tử ngoại .Chiếc áo choàng quý giá ấy bị “rách”cũng có nghĩa là sự sống muôn loài sẽ bị đe dọa.

    Hình ảnh tầng ozone bảo vệ trái đất chống các tai cực tím

    a. Ưu điểm ôzon ở tầng bình lưu khí quyển

    Khi tia cực tím chiếu vào ôzôn, nó chia ôzôn thành phân tử O2 và nguyên tử của ôxy nguyên tử, quá trình liên tục này được gọi là chu trình ôzôn-ôxy. Chu trình này có thể bị phá vỡ bởi sự có mặt của các nguyên tử clo, flo haybrôm trong khí quyển; các nguyên tố này tìm thấy trong những hợp chất bền vững, đặc biệt là CFC là chất có thể thấy ở tầng bình lưu và được giải phóng dưới tác động của tia cực tím

    Nó bảo vệ cư dân trái đất khỏi các tia tử ngoại độc hại, có thể gây ung thư da ở người cùng với những biến đổi trong cơ thể. Tầng ozon này nằm ở phần thấp của tầng bình lưu, tầng khí quyển phía trên tầng đối lưu, nơi diễn ra những ảnh hưởng của khí hậu trái đất. Ozon hấp thu ánh sáng cực tím ở đây trước khi nó có thể di chuyển tới bề mặt của hành tinh

    b. Nhược điểm tầng ôzon ở tầng đối lưu

    NO2 + tia cực tím  NO + O

    O + O2  O3

    Khi tia cực tím chiếu vào ôzôn, nó chia ôzôn thành phân tử O2 và nguyên tử của ôxy nguyên tử .Ôxy nguyên tử kết hợp với N2 để tạo thành các nitơ ôxít; sau đó nó lại bị phá vỡ bởi ánh sáng nhìn thấy để tái tạo ôzôn.

    Chu trình nitơ ôxít để tạo thành ôzôn cũng có thể bị phá vỡ do sự có mặt của hơi nước trong khí quyển vì nó làm biến đổi các nitơ ôxít thành các dạng bền vững hơn

    3. Hiện tượng suy giảm tầng ozone

    3.1 Suy giảm ozone là gì?

    Sự suy giảm tầng ôzon là hiện tượng giảm lượng ozone trong tầng bình lưu

    3.2 Nguyên nhân

    Việc sử dụng và sản xuất các hợp chất cacbon của clo và flo cũng như các chất hóa học gây suy giảm tầng ozone khác như Tetracloit cacbon,các hợp chất của brom và Methuylchloroform.Các nguyên tố này có trong một số hợp chất bền nhất định ,đi vào tầng bình lưu và được giải phóng bởi các tia cực tím

    Toàn bộ các khí CFC đều được sản xuất nhân tạo ,chúng không có trong tự nhiên trước khi được con người tổng hợp ra.Các CFC được dung trong các máy điều hòa nhiệt độ các máy lạnh trước thập kỷ 1980 ,trong các qui trình làm sạch các thiết bị điện tử dễ hỏng và là sản phẩm phụ thuộc của một số quá trình hóa học

    Khi các hóa chất làm giảm sút ozon như vậy đi vào tầng bình lưu chúng bị phân tách ra bởi các tia cực tím,tạo thành các nguyên tử Cl .Các nguyên tử Clo phản ứng như một chất xúc tác ,có thể phá hủy hằng ngày ngàn phân tủ ozon trước khi được mang ra khỏi tầng bình lưu.

    Nếu các CFC phân tử tồn tại lâu ,thời gian tái tạo phải tính bằng thập kỷ.Người ta tính bằng một phân tử CFC mất trung bình là 15 năm để từ mặt đất lên đến các tầng trên của khí quyển và có thể ở đó khoảng một thế kỷ ,phá hủy đến cả trăm ngàn phân tử ôzon trong thời gian này.

    Quan trọng nhất là các nguyên tử Cl được tạo thành như thế sẽ tạo thành chất xúc tác hủy diệt các phân tử ozon,lấy đi một nguyên tử oxy và để lại một phân tử oxy bình thường

    Tiếp theo một nguyên tử tự do sẽ lấy đi oxy từ Cl và kết quả cuối cùng là một phân tử oxy và một nguyên tử Cl,bắt đầu lại chu kỳ.Một nguyên tủ Clo đơn độc sẽ phân hủy ôzon mãi mãi nếu như ko có các phản ứng khác mang nguyên tử Cl ra khỏi chu kỳ này bằng cách tạo nên các nguồn chứa khac như HCl và ClONO2

    Chúng diễn ra theo sơ đồ sau:

    CFCl3 tia bức xạ CFCl2 tia bức xạ, nhiệt độ thấp CF2Cl + Cl

    Cl + O3  ClO + O2

    ClO +O3  Cl +O2

    ClO + O3  ClO2+ O2

    ClO2 + O3  ClO + O2

    Quá trình này diễn ra liên tục

    Ngoài ra các nhà máy và hoạt động của con người đã tạo nên một lượng lớn C02

    Các lò phản ứng hạt nhân đã thải ra một lượng CO2 khá lớn

    .Phản ứng của Cl trong các nguồn chứa này thông thường chậm nhưng được gia tăng khi có các đám mây tầng bình lưu ở địa cực ,xuất hiện trong mùa đông ở Nam cực ,dẫn đến chu kỳ tạo thành lỗ thủng ôzon.

    Lỗ thủng ôzon tại Nam cực lớn lên trong năm năm qua

    Sự suy giảm ôzon thay đổi theo vùng địa lý và tùy theo mùa .Lỗ thũng ôzon dùng để chỉ sự suy giảm ozon nhất thời hằng năm ở hai cực trái đất, những nơi mà ozon bị suy giảm vào mùa xuân cho đến 70 % của Nam cực và cho đến 30 %ở Bắc cực và tái tạo trở lại vào mùa hè

    Tầng ôzon ở mặt đất

    5 Biện pháp khắc phục

    – Sự suy giảm zon đang được quan sát thấy và các dự đoán suy giảm trong tương lai đã trở thành một mối quan tâm toàn cầu

    – Năm 1985 Công ước Viên và Nghị định thư Montreal bắt đầu có hiệu lực nhằm mục đích từng bước ngăn chặn việc sử dụng những loại hóa chất có thể phá hủy tầng ôzon,đánh dấu sự ra đời của Ngày quốc tế bảo vệ tang Ozon .Hiện nay việc triển khai Nghị đihj thư Montreal đã góp phần đáng kể làm giảm hơn 1,5 triệu tấn hóa chất hang năm mà có thể phá hủy tầng ozon

    – Theo qui định của Nghị định về chất suy giảm tầng ozon ,với các nước phát triển phải loại trừ hoàn toàn sản xâuts và sử dụng các chất CFC Và Halon vào ănm 1996 và chất HCFC vào năm 2022

    -Đối với các nước đang phát triển như nước ta sẽ được ưu đâi sử dụng các chất CFC và Halon đến năm 2010 và chất HCFC vào năm 2040. Với mức tiêu thụ dưois 0,004 kg /đầu người/năm ,Viet Nam được coi là một trong nhưng nước có lượng tiêu thụ CFC thấp gần 300 lần so với nhóm nước mà nghị định thư qui định

    – Trong giai đoạn từ nay đến 2010 để có thể laoij trừ được hoàn toàn tiêu thụ các chất CFC và Halon ,các nước đag phát triển như Viet Nam càn được hỗ trợ kĩ thuật tăng cường năng lực và hướng tới sử dụng R-134a( ga lạnh an toàn ) và sử dụng trong hầu hết các loại tủ lạnh và điều hòa không khí ô tô đời mới

    6 Khả năng phục hồi của tầng ôzon

    – Theo nghị định với sự tham gia của 1919 quốc gia các sản phẩm thải CFC đã bị laoij bỏ vào năm 1996 trên toàn thế giới .Quan sát cho thấy sự suy thaois tầng ôzon đã bị ngăn chặn trên diện rộng có khả năng phục hồi hoàn toàn .Theo nghiên cứu mới biến đỏi khí hậu ở Nam bán cầu cũng sẽ có khả năng phục hồi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vn Cần 20 Triệu Usd Để Chống Suy Giảm Tầng Ozon
  • Một Số Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 3
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Các Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 4.
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Rèn Kỹ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 4
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Rèn Kỹ Năng Đọc Diễn Cảm Cho Học Sinh Lớp Bốn
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100