Vấn Đề Bất Bình Đẳng Thu Nhập Ở Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Bất Bình Đẳng Thu Nhập Ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Khuyến Nghị
  • Giảm Bất Bình Đẳng Thu Nhập Để Giảm Nghèo
  • Phân Phối Thu Nhập Ở Việt Nam Hiện Nay
  • 10 Đề Tài Liên Quan Đến Bất Bình Đẳng Được Quan Tâm Tại Việt Nam
  • Quản Lý Phát Triển Xã Hội Về Bất Bình Đẳng, Phân Tầng Xã Hội Ở Nước Ta Trong Điều Kiện Phát Triển Kinh Tế Thị Trường, Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Và Hội Nhập Quốc Tế
  • Kể từ khi cuốn sách Tư bản trong thế kỷ 21 – Capital in the Twenty-First Century của Thomas Piketty gây tiếng vang năm 2014, vấn đề bất bình đẳng thu nhập, sự phân hóa giàu-nghèo thu hút ngày càng nhiều sự quan tâm của xã hội. Đối với những nước có tốc độ tăng trưởng nhanh như nhóm BRICS hay Việt Nam, vấn đề này càng trầm trọng hơn vì thiếu những thiết chế phù hợp để phân phối công bằng các thành quả tăng trưởng.

    Kinh tế tăng trưởng thời gian qua đã tạo ra một tầng lớp người giàu, thậm chí siêu giàu ở Việt Nam khi họ có thể sánh vai cùng thế giới trong danh sách các tỉ phú đô la. Ảnh; THÀNH HOA

    Chênh lệch giàu-nghèo ở Việt Nam đến mức nào?

    Quy mô của nền kinh tế Việt Nam phát triển vượt bậc trong hơn hai thập niên qua. Nếu như GDP của năm 1995 là 20,74 tỉ đô la Mỹ thì năm 2022 đã là 205,28 tỉ đô la Mỹ, tức gấp khoảng 10 lần. Kinh tế tăng trưởng thời gian qua đã tạo ra một tầng lớp người giàu, thậm chí siêu giàu ở Việt Nam khi họ có thể sánh vai cùng thế giới trong danh sách các tỉ phú đô la.

    Một báo cáo của Oxfam năm 2022 cho biết, năm 2014 Việt Nam có 210 người siêu giàu (tài sản ròng trên 30 triệu đô la Mỹ), chiếm 12% GDP cả nước, và con số này sẽ tăng lên 403 vào năm 2025. Báo cáo này cũng ví von rằng người giàu nhất Việt Nam có thu nhập một ngày bằng 10 năm thu nhập của người nghèo nhất, và với tài sản này, có thể đưa toàn bộ 13 triệu người nghèo thoát nghèo ngay tức khắc.

    Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS) cho thấy rằng khoảng cách về thu nhập giữa nhóm giàu với bốn nhóm còn lại (nghèo, cận nghèo, trung bình, cận giàu) đã tăng nhanh trong giai đoạn 2004-2014, tạo ra khoảng cách ngày càng lớn về thu nhập. Thậm chí một khảo sát của Oxfam năm 2022 cho thấy khoảng cách này lên đến 21 lần, so với của VHLSS 2010 là 8,5 lần và VHLSS 2012 là 9,4 lần. Ngoài ra, theo một khảo sát của Tổng liên đoàn Lao động, tỷ lệ người lao động có khả năng tích lũy chỉ là 8%, số chi tiêu tằn tiện và không đủ sống là 51%, mà phần lớn các khoản chi là cho nhu cầu tối thiểu: lương thực, giáo dục, y tế, nhà ở và đi lại.

    Một cách trực quan hơn, khoảng cách giàu – nghèo ngày càng lớn có thể thấy được hàng ngày trong cuộc sống và qua các phương tiện thông tin đại chúng. Trong khi số lượng hộ nghèo và cận nghèo (với thu nhập trung bình 1 triệu đồng/người/tháng) là 3,3 triệu hộ gia đình thì ở những thành phố lớn, có không ít siêu xe trị giá hàng chục tỉ đồng, những túi xách, đồ trang sức trị giá hàng trăm triệu đồng, bằng cả hàng chục năm thu nhập của người nghèo. Ở những vùng sâu, vùng xa, vẫn còn không ít những hộ gia đình sống trong những căn nhà tạm bợ, thiếu thốn các điều kiện sinh hoạt cơ bản của một gia đình, từ vệ sinh đến nước sạch.

    Ở một góc nhìn khác, khoảng cách giàu – nghèo có thể phần nào thấy được trong sự phân bổ thu nhập GDP theo nhóm ngành nghề. Nếu tính toán GDP theo phương pháp thu nhập, tổng GDP của Việt Nam vào khoảng 200 tỉ đô la Mỹ, tương ứng với thu nhập của 55 triệu lao động với bình quân 3.600 đô la Mỹ/năm (khoảng 7 triệu đồng/tháng). Nhưng, trong số lao động này có đến 18 triệu lao động phi chính thức, với mức lương chỉ bằng hai phần ba lao động chính thức. Do đó, phần thu nhập còn lại tương ứng khoảng 21,6 tỉ đô la Mỹ sẽ phân bổ cho ai?

    Không khó để có thể nhìn thấy rằng hiện nay, nhóm người giàu trong xã hội Việt Nam thuộc hai nhóm chính: làm kinh doanh và quan chức. Với số lượng 11.162 đơn vị xã phường như hiện nay, và cơ cấu tổ chức các bộ, sở, phòng, ban, người viết ước tính rằng có khoảng 250.000 quan chức từ cấp phó trở lên, và khoảng 100.000 doanh nhân thành công (trong số 600.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động). Như vậy, khoản thu nhập quốc gia 21,6 tỉ đô la Mỹ chia đều cho 350.000 người này thì thu nhập trung bình của những người này sẽ vào khoảng 61.700 đô la Mỹ/năm, tức khoảng 120 triệu đồng/tháng. Điều này khá gần với thực tế quan sát của người viết.

    Như vậy, ở Việt Nam hiện nay, có một nhóm người trong xã hội với thu nhập trung bình gấp 17 lần những người làm công ăn lương bình thường, và gấp 113 lần người nghèo, thì qua đó chúng ta có thể thấy phần nào khoảng cách chênh lệch giàu – nghèo ở đây.

    Chênh lệnh giàu – nghèo là vấn nạn của các nước tăng trưởng nhanh

    Không chỉ Việt Nam, các nước có tốc độ tăng trưởng nhanh gần đây cũng cho thấy khoảng cách giàu-nghèo đang trở thành một vấn nạn của xã hội. Theo Ngân hàng Thế giới, chỉ số Gini để đo lường sự bình đẳng trong phân phối thu nhập sẽ là nghiêm trọng nếu từ 0,4 trở lên. Chỉ số này của Trung Quốc năm 2022 là 0,46 và Ấn Độ là 0,51.

    Báo cáo bất bình đẳng 2022 (World Inequality Report 2022 – WIR2018), trong đó có Thomas Piketty là đồng tác giả, cho thấy tỷ lệ người giàu càng giàu hơn, và người nghèo càng nghèo hơn không chỉ có ở các nước BRICS (Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi), mà còn ở các nước như Hoa Kỳ, Đức, Pháp, đặc biệt là Trung Đông, nơi mà 10% giàu nhất chiếm hơn 60% tổng thu nhập của quốc gia.

    Trên thế giới kể từ năm 1980, bất bình đẳng tăng nhanh ở Bắc Mỹ và châu Á, vừa phải ở châu Âu và ổn định ở mức chênh lệch nghiêm trọng ở Trung Đông, châu Phi vùng hạ Sahara và Brazil. Mặc dù tăng trưởng chung khiến thu nhập của người nghèo tăng, nhưng chi phí tăng và tốc độ tăng của người giàu nhanh hơn nhiều lần khiến cho khoảng cách giàu nghèo ngày càng nới rộng. Quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế từ tập trung sang nền kinh tế thị trường ở một số nước, cổ phần hóa hay chuyển đổi công sản thành tư sản đã tạo ra một tầng lớp người giàu mới, giàu nhanh ở những quốc gia này.

    Không những thế, chi phí tăng còn khiến cho nhóm trung lưu có nhiều nguy cơ chuyển xuống nhóm thu nhập thấp. Số người giàu tăng nhanh ở các nước đang phát triển, trong khi số người giàu ở các nước đã phát triển sẽ giảm dần, nhưng tài sản ròng của những người giàu nhất sẽ tiếp tục tăng.

    Làm thế nào để tránh tình trạng “bình quân mỗi người một con gà, nhưng một người có chín, chín người có một”

    Vấn đề bất bình đẳng thu nhập dẫn đến bất bình đẳng trong xã hội là mối quan tâm lớn của nhiều nước phát triển. Vì chính phủ các nước nhận thức được rằng, bất bình đẳng thu nhập sẽ dẫn đến các vấn đề của xã hội như tỷ lệ thất nghiệp tăng, tỷ lệ tội phạm tăng, năng suất lao động bình quân giảm vì người có thu nhập thấp thấy được họ chỉ được hưởng một phần rất ít trong thành quả chung, thậm chí không bù đắp được với chi phí ngày càng tăng của cuộc sống.

    Vì vậy, nhiều nước đã cố gắng thực hiện giảm bất bình đẳng qua việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là giáo dục và y tế. Cụ thể, khoảng cách về chất lượng giáo dục và y tế có sự khác biệt nhiều giữa khu vực công và tư. Người nghèo được đảm bảo các điều kiện sống tối thiểu, và luôn có các quỹ an sinh xã hội hỗ trợ khi cần thiết.

    Theo khuyến nghị từ báo cáo WIR2018, một số giải pháp sau có thể giảm bất bình đẳng về thu nhập, từ đó rút ngắn hố ngăn cách giàu – nghèo: thứ nhất, hướng đến nhóm giàu với thuế lũy tiến và thuế tài sản ròng (trên một mức nhất định, như 1,3 triệu euro ở Pháp). Thứ hai, đăng ký thuế toàn cầu để tránh trường hợp né thuế, trốn thuế ở các thiên đường thuế, muốn vậy phải có tiếng nói chung giữa tất cả các nước và vùng lãnh thổ. Thứ ba, là hướng tiếp cận đến nhóm nghèo thông qua giáo dục và tạo công ăn việc làm có thu nhập tốt hơn. Cuối cùng, là tiếng nói của số đông và sự hỗ trợ của truyền thông đại chúng (quyền lực thứ tư). Các nhà tài phiệt có tiềm lực mạnh về tài chính vì thế có thể tác động chính sách để có lợi cho mình nhưng họ chỉ là số ít, trong khi số đông người dân cũng hoàn toàn có thể tác động đến các chính trị gia thông qua lá phiếu của mình.

    (*) Đại học Kinh tế TPHCM, AVSE Global

    --- Bài cũ hơn ---

  • Để Hạn Chế Bội Chi Ngân Sách
  • Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước
  • Ảnh Hưởng Của Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước Đối Với Kinh Tế Xã Hội
  • Xử Lý Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước Nhằm Kiềm Chế Lạm Phát Hiện Nay
  • Luận Văn Đề Tài Phân Tích Tình Hình Thất Nghiệp Ở Việt Nam Trong 4 Năm Gần Đây (2008
  • Bất Bình Đẳng Thu Nhập Ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Khuyến Nghị

    --- Bài mới hơn ---

  • Giảm Bất Bình Đẳng Thu Nhập Để Giảm Nghèo
  • Phân Phối Thu Nhập Ở Việt Nam Hiện Nay
  • 10 Đề Tài Liên Quan Đến Bất Bình Đẳng Được Quan Tâm Tại Việt Nam
  • Quản Lý Phát Triển Xã Hội Về Bất Bình Đẳng, Phân Tầng Xã Hội Ở Nước Ta Trong Điều Kiện Phát Triển Kinh Tế Thị Trường, Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Và Hội Nhập Quốc Tế
  • Việt Nam Đề Xuất Các Biện Pháp Cải Thiện Bất Bình Đẳng Và Đảm Bảo Phẩm Giá Con Người
  • Bài viết phân tích thực trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2022 để có cái nhìn khái quát nhất về tình trạng chênh lệch giàu – nghèo tại Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm hạn chế tình trạng bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam.

    Từ khóa: Bất bình đẳng thu nhập, chênh lệch giàu – nghèo, Việt Nam.

    1. Đặt vấn đề

    Bất bình đẳng thu nhập ( khoảng cách giàu nghèo) là chênh lệch thu nhập và tài sản giữa các cá nhân, nhóm trong xã hội hay giữa các quốc gia gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình tăng trưởng kinh tế .

    Vì vậy, bài viết phân tích thực trạng bất bình đẳng trong thu nhập của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2022, nhằm hạn chế bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

    2. Thực trạng bất bình đẳng thu nhập của Việt Nam

    Mức độ bất bình đẳng thu nhập của quốc gia hiện nay dựa trên các thước đo như hệ số GINI, hệ số chênh lệch giàu nghèo,… Thông qua hệ số GINI của Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2022 cho thấy, bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam biến động không nhiều, nằm trong khoảng 0,424 đến 0,436; trong đó khu vực thành thị có xu hướng giảm, khu vực nông thôn có xu hướng tăng và luôn cao hơn ở thành thị.

    Bảng 1. Bất bình đẳng thu nhập thông qua hệ số GINI tại Việt Nam giai đoạn 2006-2018 Nguồn: Tổng cục Thống kê

    Số liệu Bảng 1 cho thấy, trước năm 2010, hệ số GINI ở thành thị cao hơn ở nông thôn, sau năm 2010 hệ số GINI ở nông thôn cao hơn ở thành thị, cho thấy xu hướng bất bình đẳng thu nhập ở khu vực thành thị có xu hướng giảm còn ở nông thôn có xu hướng tăng. Theo báo cáo “Wealth Distribution and Income Inequality by Country 2022”, hệ số GINI của Việt Nam là 0,424 ở mức trung bình so với các quốc gia khác trong khu vực. Theo Cornia và Court (2001), hệ số GINI trong khoảng 0,30 – 0,45 là nằm trong ngưỡng an toàn và hiệu quả, phù hợp cho tăng trưởng cao. Theo đó, có thể khẳng định bất bình đẳng thu nhập của Việt Nam hiện nay vẫn nằm trong phạm vi an toàn, nhưng trong dài hạn có xu hướng tăng lên nếu Việt Nam không có những biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề này.

    Biểu đồ 1: Hệ số GINI của các vùng kinh tế giai đoạn 2006 -2018 Nguồn: Tổng cục Thống kê

    Biểu đồ 1 cho thấy hệ số GINI tại các vùng kinh tế có những biến động tăng giảm ở các năm khác nhau, nhưng đều có xu hướng giảm dần. So với các khu vực khác, Đông Nam Bộ là khu vực kinh tế phát triển có tốc độ phát triển cao nhất so với các khu vực còn lại, hệ số GINI có tốc độ giảm mạnh nhất so với các khu vực khác, khoảng cách về bất bình đẳng thu nhập ở khu này ngày càng được thu hẹp.

    Mức độ bất bình đẳng thu nhập còn được thể hiện thu nhập của các nhóm và chênh lệch giữa thu nhập của nhóm 1 và nhóm 5.

    Bảng 2. Thu nhập bình quân đầu người/tháng phân theo 5 nhóm thu nhập của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2022 Đơn vị: Nghìn đồng Ghi chú: (1) Khoảng cách thu nhập giữa nhóm 5 và nhóm 1; (2) Số lần chênh lệch thu nhập giữa nhóm 5 (giàu nhất) và nhóm 1 (nghèo nhất) Nguồn: Tổng cục Thống kê và Báo cáo hàng quý của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

    Bảng 2 cho thấy, thu nhập bình quân/tháng ở cả 5 nhóm thu nhập đều tăng qua các năm, trong đó thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 2022 gấp 3,78 lần so với năm 2008. Năm 2008, thu nhập nhóm 5 gấp 8,9 lần so với nhóm 1. Tuy nhiên đến năm 2022 thu nhập nhóm 5 gấp 9,86 lần so với nhóm 1 cho thấy khoảng cách thu nhập giữa các nhóm ngày càng xa, bất bình đẳng thu nhập giai đoạn này có xu hướng gia tăng khá nhanh, chứng tỏ Việt Nam đang dần trở thành nước có chênh lệch giàu nghèo cao. So sánh thu nhập năm 2022 và 2008 cho thấy, nhóm 1 là nhóm có mức độ tăng thu nhập chậm nhất (tăng 3,38 lần) so với các nhóm còn lại. Tốc độ tăng trưởng ở nhóm 1 vẫn thấp hơn nhóm 5 đã khiến cho khoảng cách thu nhập trong xã hội gia tăng. Sự chênh lệch tuyệt đối về thu nhập giữa những người giàu nhất và những người nghèo nhất đang là một thách thức của mục tiêu phát triển theo hướng đảm bảo công bằng xã hội.

    Bảng 3. Thu nhập bình quân/người/tháng khu vực thành thị và nông thôn phân theo 5 nhóm thu nhập của Việt Nam giai đoạn 2008 – 2022 Đơn vị: Nghìn đồng Ghi chú: (1) Khoảng cách nhóm 5 và nhóm 1; (2) Số lần chênh lệch giữa nhóm 5 và nhóm 1 Nguồn: Tổng cục Thống kê và Báo cáo hàng quý của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

    Số liệu Bảng 3 cho thấy, thu nhập ở cả thành thị và nông thôn đều có xu hướng tăng, hệ số chênh lệch giữa hai khu vực này đang có xu hướng giảm xuống.

    Chênh lệch thu nhập giữa nhóm 5 và nhóm 1 ở thành thị thấp nhất là 7,41 lần và cao nhất là 8,28 lần và có xu hướng ngày càng giảm; ở khu vực nông thôn thấp nhất là 6,91 lần và cao nhất là 9 lần và sự chênh lệch này có xu hướng tăng lên. Ở khu vực nông thôn, khi kinh tế ngày càng phát triển, sự thay đổi về cơ cấu lao động trong các ngành nghề ở khu vực này ngày càng lớn dẫn đến khoảng cách thu nhập giữa nhóm 5 và nhóm 1 ngày càng lớn. Số lần chênh lệch thu nhập giữa nhóm 5 và nhóm 1 ở khu vực thành thị có xu hướng giảm, ở nông thôn có xu hướng tăng, cho thấy mức bất bình đẳng thu nhập trong khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị khi nền kinh tế phát triển.

    Bảng 4. Tỷ lệ hộ nghèo phân theo khu vực thành thị, nông thôn giai đoạn 2006 -2018 của Việt Nam Đơn vị tính: % Nguồn: Tổng cục Thống kê và Báo cáo hàng quý của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

    Số liệu Bảng 4 cho thấy, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh qua các năm. Năm 2006 cả nước có 15,5% số hộ nghèo, đến 2022 giảm xuống còn 5,35%. Khu vực thành thị có tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hơn khu vực nông thôn, chứng tỏ bất bình đẳng thu nhập giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị khá lớn.

    3. Ảnh hưởng của dịch bệnh đến cơ hội việc làm của người lao động hiện nay

    Theo Tổng cục Thống kê, do bị ảnh hưởng bởi dịch Covid 19, so sánh quý I/2020 với quý I/2019 thì số doanh nghiệp thành lập mới giảm, số doanh nghiệp xin tạm dừng hoạt động, giải thể tăng lên; các doanh nghiệp đang hoạt động gặp nhiều khó khăn chiếm khoảng 84,8% doanh nghiệp, có gần 67% doanh nghiệp đã thực hiện số giải pháp về lao động, như: cắt giảm lao động, cho lao động giãn việc, nghỉ luân phiên, nghỉ không lương, giảm lương.

    Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I/2020 là gần 1,1 triệu người, tăng 26,1 nghìn người so với quý trước và tăng 26,8 nghìn người so với quý I/2019. Tính đến tháng 4/2020, gần 5 triệu lao động bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Lao động trong các doanh nghiệp và hợp tác xã tạm nghỉ việc chiếm gần 59%; lao động bị giãn việc hoặc nghỉ luân phiên chiếm gần 28% và lao động bị mất việc chiếm gần 13%. Trong đó, lao động tạm nghỉ việc trong ngành Vận tải kho bãi và ngành Giáo dục và đào tạo chiếm cao nhất, chiếm trên 70% tổng số lao động của ngành. Ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ ăn uống có tỷ trọng lao động bị mất việc, bỏ việc cao nhất trong tổng số lao động bị ảnh hưởng so với các ngành khác, chiếm gần 20% tại mỗi ngành.

    4. Khuyến nghị nhằm hạn chế bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam

    Bất bình đẳng thu nhập sẽ dẫn đến bất bình đẳng xã hội, gây ra các vấn đề như tỷ lệ thất nghiệp tăng, tỷ lệ tội phạm tăng, năng suất lao động bình quân giảm, do đó, đây là vấn đề cần giải quyết của nhiều quốc gia. Trong bối cảnh các nước phải xử lý những hậu quả của đại dịch Covid 19, Việt Nam cũng cần có những biện pháp để khắc phục những khó khăn hiện nay, giảm bớt thiệt hại về thu nhập cho người lao động.

    Về phía Chính phủ: đã ban hành nhiều chính sách giúp ngăn ngừa, kiểm soát bệnh dịch, hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động tháo gỡ khó khăn, đảm bảo an sinh xã hội, đưa ra các gói hỗ trợ để giúp cho những người lao động có thêm thu nhập trong giai đoạn bị nghỉ việc, giãn việc do dịch bệnh Covid 19. Tuy nhiên, để các chính sách này phát huy hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ, tích cực giữa các Bộ, ngành, các địa phương nhằm thúc đẩy nhanh các thủ tục hướng dẫn, cải cách thủ tục hành chính nhằm đảm bảo các gói hỗ trợ được triển khai kịp thời, đến đúng đối tượng.

    Về phía các doanh nghiệp: cần phải nghiên cứu đổi mới, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, kinh doanh; tìm thị trường mới cho nguyên liệu đầu vào, nghiên cứu mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ngoài các thị trường truyền thống; sử dụng công nghệ thông tin để dan dạng hóa từ kinh doanh trực tiếp đến kinh doanh trực tuyến; tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng.

    Về phía người lao động: cần nỗ lực nghiên cứu, học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, tự trang bị các kỹ năng mềm để đảm bảo khả năng thích nghi với sự thay đổi không ngừng của thị trường lao động. Người lao động cũng nên hiểu và chia sẻ với doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn này. Trong quá trình thực hiện triển khai các gói hỗ trợ của Chính phủ, người lao động cần thực hiện nghiêm túc, khai báo trung thực theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền; đảm bảo các hỗ trợ đến được đúng và đủ đối tượng.

    Trong dài hạn, Chính phủ cần thực hiện giảm bất bình đẳng thu nhập qua việc giúp người dân ở các khu vực tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục và y tế. Thực tế ở Việt Nam cho thấy, trong khi khoảng cách giàu nghèo ở khu vực thành thị đang có xu hướng giảm dần, thì ở khu vực nông thôn lại đang tăng. Đặc biệt, có chênh lệch cao về thu nhập giữa các vùng, miền có khó khăn về điều kiện tự nhiên, hạ tầng cơ sở, trình độ dân trí, trình độ sản xuất,… với các khu vực khác đã ảnh hưởng đến kết quả phát triển kinh tế – xã hội và chất lượng cuộc sống của người dân. Người lao động là dân tộc thiểu số, hoặc có trình độ học vấn thấp, không được đào tạo, ít có cơ hội hưởng lợi hơn các so với các lao động có trình độ học vấn cao cùng là một nguyên nhân của bất bình đẳng thu nhập. Do đó, Chính phủ cần có chính sách ưu tiên, đầu tư cho giáo dục ở vùng khó khăn; cần có các chính sách hỗ trợ về tài chính cho hộ gia đình nghèo, giảm bớt các chi phí cho giáo dục để đảm bảo cơ hội tiếp cận giáo dục cho người lao động nghèo, miễn hoặc giảm học phí cho các khu vực khó khăn, thực hiện cải cách giáo dục nhằm cân bằng cơ hội và phát triển kỹ năng cho người lao động là vô cùng quan trọng.

    Chính phủ cần xây dựng được một chiến lược tăng đầu tư vào nguồn lực con người và khuyến khích tạo việc làm, khuyến khích hình thành một tầng lớp trung lưu rộng lớn trong xã hội; thiết kế hệ thống thuế sao cho không triệt tiêu động lực làm giàu của những người giàu; tăng đầu tư công vào những khu vực kém phát triển; đồng thời, nâng cao chất lượng quản lý đầu tư công cũng như cải thiện chất lượng các dịch vụ công, để các kết quả đầu tư đến với người dân, đặc biệt là nhóm người dân nghèo.

    Về chính sách hỗ trợ y tế: Chính phủ tiếp tục thực hiện chính sách mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số; hỗ trợ bảo hiểm y tế cho người cận nghèo và học sinh, sinh viên; hỗ trợ cho việc khám, chữa bệnh cho các vùng kinh tế khó khăn.

    Để giải quyết bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam, Chính phủ cần xây dựng được một chiến lược tăng trưởng kinh tế mới cùng với các chính sách phân phối thu nhập thích hợp, tập trung vào cải cách thể chế pháp luật, thị trường cạnh tranh, công bằng và mở, tạo “sân chơi” bình đẳng cho cả các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ; đồng thời đặt ra vấn đề bình đẳng, công bằng xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư dựa trên cơ sở phát triển các loại hình kinh tế, khuyến khích người dân làm giàu và thực hiện phân phối thu nhập theo sự đóng góp của các nguồn lực.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1. Cornia and Court (2001). Inequality, Growth and Poverty in the Era of Liberlization and Globalization. Helsinki, Finland: World Institute for Development Economics Research, United Nations University.
    2. Luca Venta (2019). Wealth Distribution and Income Inequality by Country 2022 Global Finance Magazine.
    3. Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội của các tỉnh giai đoạn 2006 – 2022.
    4. Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Tổng cục Thống kê.
    5. Tổng cục Thống kê (2018), Niên giám thống kê 2007 – 2022.

    THE INCOME INEQUALITY IN VIETNAM: THE CURRENT STATE AND RECOMMENDATIONS

    * Ph.D NGUYEN THI THAI HUNG

    Faculty of Banking, Banking Academy

    ABSTRACT:

    This paper analyzes the current state of income inequality in Vietnam from 2006 to 2022 in order to get an overview on the current rich – poor gap in Vietnam, thereby making recommendations to curb the country’s income inequality.

    Keywords: Income inequality, rich – poor gap, Vietnam.

    [Tạp chí Công Thương – Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 10, tháng 5 năm 2022]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Bất Bình Đẳng Thu Nhập Ở Việt Nam
  • Để Hạn Chế Bội Chi Ngân Sách
  • Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước
  • Ảnh Hưởng Của Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước Đối Với Kinh Tế Xã Hội
  • Xử Lý Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước Nhằm Kiềm Chế Lạm Phát Hiện Nay
  • Bất Bình Đẳng Về Thu Nhập

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Các Giải Pháp Phục Hồi Và Phát Triển Kinh Tế Sau Đại Dịch Covid
  • Việt Nam Nêu 3 Nhóm Giải Pháp Phục Hồi Kinh Tế Sau Đại Dịch Covid
  • Tp Hcm Tìm Giải Pháp Khôi Phục Và Phát Triển Kinh Tế Sau Covid
  • Hà Nội Bàn Giải Pháp Phục Hồi Kinh Tế Sau Dịch Covid
  • Combo Giải Pháp Phục Hồi Kinh Tế Sau Covid
  • Trong một tác phẩm như quyển sách này, thuật ngữ trên tất yếu qui chiếu về những bất bình đẳng kinh tế. Tuy nhiên cần nhắc lại rằng có nhiều hình thức bất bình đẳng khác trong xã hội, gắn liền hay không với những bất bình đẳng về thu nhập. Ví dụ, trong châu Âu ở thế kỉ XVIII, là thành viên của một đẳng cấp là một điều quan trọng hơn thu nhập. Trong một số nước châu Phi, những khác biệt sắc tộc quyết định thứ bậc: người định cư, thường là cựu nô lệ của người chăn nuôi, ít được coi trọng bằng người chăn nuôi cho dù có thu nhập cao hơn. Mặt khác có hai hình thức bất bình đẳng, bất bình đẳng thu nhập hay bất bình đẳng di sản. Trước khi trình bày những bất bình đẳng thu nhập, cần nói vắn tắt về những bất bình đẳng di sản. Những bất bình đẳng di sản bao giờ cũng lớn hơn những bất bình đẳng thu nhập. Những bất bình đẳng này biến đổi nhiều tuỳ theo tuổi tác, cho nên nên so sánh những hộ gia đình thuộc cùng lứa tuổi. Cuối cùng, ở cùng một mức thu nhập, người lao động độc lập hay người sử dụng lao động trung bình có một di sản lớn hơn người làm công ăn lương.

    Hai câu hỏi đầu tiên phải trả lời khi nghiên cứu những bất bình đẳng về thu nhập là: chọn chỉ báo bất bình đẳng nào? chọn đơn vị thu nhập nào?

    Những chỉ báo đơn giản nhất qui chiếu về một sắp xếp các cá thể tuỳ theo thu nhập. Ví dụ, nếu ta so sánh 1.000 cá thể thì ta sẽ phân bố họ thành những điểm thập phân: 100 người nghèo nhất hợp thành điểm thập phân đầu, 100 người giàu nhất hợp thành điểm thập phân thứ 10 (được sắp xếp từ 901 đến 1.000). Sau đó ta tính tỉ phần của mỗi điểm thập phân trong tổng những thu nhập. Nếu tỉ phần của điểm thập phân đầu là 2% của tổng những thu nhập và tỉ phần của điểm thập phân thứ 10 là 30% của tổng những thu nhập, thì ta suy ra là thu nhập trung bình của 100 người giàu nhất lớn hơn gấp 15 lần thu nhập trung bình của 100 người nghèo nhất. Nếu thu nhập trung bình của một điểm thập phân bằng với thu nhập trung bình Y của 1.000 cá thể thì tỉ phần của điểm thập phân trong tổng những thu nhập là 10%. Mặt khác, ta có thể so sánh giới hạn YL của những điểm thập phân: ví dụ YL 1 cho điểm thập phân đầu là thu nhập của cá thể xếp thứ 100 và YL 9 cho điểm thập phân thứ 9 là thu nhập của cá thể xếp thứ 900. Điều này dẫn đến việc tính tỉ số giữa những thu nhập của hai cá thể này hay cho phép nói rằng 100 người nghèo nhất có một thu nhập bằng hay thấp hơn YL 1 (rằng 100 người giàu nhất có một thu nhập lớn hơn YL 9).

    Những chỉ báo này thuần tuý có tính mô tả. Ví dụ, người ta tính đơn giản những tỉ số như những tỉ phần của 20% những người nghèo nhất và của 20% những người giàu nhất: 40/10 = 4. Nhưng những chỉ báo khác gán một tầm quan trọng đặc biệt cho phần này hay phần khác của phân phối khiến cho sự sắp xếp các nước về mặt bất bình đẳng có thể biến đổi tuỳ theo chỉ báo được chọn. Một số chỉ báo coi trọng phần của những điểm thập phần đầu và điểm thập phân 2 trong sự phân bổ thu nhập, như khoảng cách lôga trung bình (tức là trung bình của những logarithm của Y/Y i, với Y i là thu nhập của một cá thể). Bởi thế, một phân phối có thể là bất bình đẳng hơn một phân phối khác theo chỉ báo này, cho dù 10% những nguời giàu nhất là nhỏ hơn chút ít. Trái lại, một số chỉ báo khác nhạy cảm hơn với số của điểm thập phân thứ 10, như chỉ báo T của Theil được tính cho 10 điểm thập phân mà những phần trong tổng thu nhập là Y 1, Y 2, …, Y 9, Y 10: tổng [(ln Y i /0,1 ´ Y i)]/100. Theo biểu thức này, ta thấy là T biến đổi nhiều nếu Y 10 = 0,5 thay vì 0,4 trong lúc T lại biến đổi ít nếu Y 1 = 0,02 thay vì 0,04.

    Tất cả những chỉ báo này đều chỉ phụ thuộc vào phân phối thu nhập quan trắc được. Nhưng ta có thể đưa một đánh giá giá trị vào trong một chỉ báo, để tính đến nỗi ngại bất bình đẳng. Đó là điều Atkinson đã làm, với chỉ báo A = 1 – Y e/Y, Y e là thu nhập trung bình mà, nếu được phân phối một cách bình đẳng, sẽ mang lại cùng một mức phúc lợi cho dân chúng bằng với mức đạt được với phân phối thu nhập hiện nay, Y là thu nhập trung bình. Ví dụ, nếu A = 0,3 thì điều này có nghĩa là một phân phối bình đẳng tương ứng với một mức phúc lợi của một thu nhập trung bình là 0,3 Y, bằng với mức phúc lợi đạt được với Y và phân phối được quan trắc. Nếu ta ngại rủi ro thì A bằng hay lớn hơn 0,3 trong lúc nếu ít ngại rủi ro hơn (ta đánh giá rằng bất bình đẳng không phải là một điều bất tiện) thì A = 0,1. Trong trường hợp này, ta chuộng sự phân phối bất bình đẳng quan trắc được hơn là một phân phối bình đẳng tương ứng với một thu nhập trung bình thấp hơn, với một sụt giảm hơn 10 %. Một chỉ báo có tính chuẩn tắc như thế soi sáng sự lựa chọn giữa hiệu quả và bình đẳng vì sự bình đẳng hoàn toàn, bằng cách làm biến mất mọi kích thích, sẽ kéo theo một sụt giảm ít nhiều quan trọng của sản xuất và do đó của thu nhập trung bình.

    Những bất bình đẳng về thu nhập giữa những người hoạt động không làm công ăn lương (nông dân, nghề tự do, thương nhân hay nghệ nhân độc lập, chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ) bao giờ cũng lớn hơn những bất bình đẳng về thu nhập giữa những người hoạt động làm công ăn lương: khoảng cách thu nhập trung bình giữa điểm thập phân thứ nhất và điểm thập phân thứ 10 rõ ràng vượt quá 1 đến 10. Như thế ở Pháp có một số khá lớn nông dân hay người hành nghề tự do mà thu nhập (trừ đi những chi phí nghề nghiệp rồi) là thấp hơn lương tối thiểu, trong lúc một số khác lại có thu nhập lớn hơn một triệu quan mỗi năm. Bất bình đẳng lớn này được giải thích bằng vai trò của tư bản. Một phần thu nhập của những người hoạt động này được trả cho tư bản, thế mà sự phân phối nhân tố sản xuất này là bất bình đẳng hơn sự phân phối của thu nhập. Mặt khác, những thu nhập này biến động mạnh năm này sang năm khác (đối với nông dân, từ 1 đến 3 hay 4 do khí hậu) trong lúc đó không phải là trường hợp của người làm công ăn lương có việc làm.

    Báo chí thường nói đến những bất bình đẳng về thu nhập hằng năm hay hằng tháng. Nhưng những bất bình đẳng trong dài hạn hay trên cả cuộc đời rõ ràng là thấp hơn nhiều. Giả sử tất cả người làm công ăn lương cùng tuổi đều nhận một lương bằng nhau và lương này biến thiên từ 1 đến 3 giữa thời kì đầu và thời kì cuối cuộc đời hành nghề. Tỉ số giữa những lương trung bình của điểm thập phân thứ nhất và điểm thập phân thứ 10 là gần từ 1 đến 3. Nhưng tổng lương nhận được trong suốt cuộc đời thì giống nhau cho mọi người. Theo những nghiên cứu trên những mẫu không đổi người làm công ăn lương được theo dõi suốt ba mươi chín năm thì bất bình đẳng đo được trên tổng lương là thấp hơn khoảng một nửa bất bình đẳng được tính cho phân phối lương trên một năm.

    Bức tranh những bất bình đẳng về thu nhập giữa những người hoạt động sẽ thay đổi nếu ta đưa số người thất nghiệp vào dân số hoạt động vì ta sẽ có 5 đến 15% người hoạt động mà thu nhập lần đầu bằng 0. Trong trường hợp này, tỉ phần của điểm thập phân đầu có thể rơi xuống 0 và tỉ phần của 20% những người nghèo nhất sẽ là rất nhỏ.

    Những bất bình đẳng về thu nhập lần đầu giữa các gia đình giống với những bất bình đẳng về thu nhập lần đầu giữa những người hoạt động. Ở châu Âu, tỉ phần của 20% những người nghèo nhất và của 20% những nguời giàu nhất trung bình là 5% và 40%, tức là một khoảng cách từ 1 đến 8. Nhưng những bất bình đẳng về thu nhập sử dụng trên đầu người là nhỏ hơn nhiều vì hai lí do. Những gia đình thu nhập thấp có ít thành viên hơn những gia đình có thu nhập cao và Nhà nước cung cấp những chuyển nhượng quan trọng cho những gia đình đầu trong lúc lại thu thuế trên những gia đình sau nếu vượt quá mức những chuyển nhượng mà các gia đình này nhận được. Ví dụ trong bốn nước Bắc Âu, ở Bỉ, Hà Lan và Đức, tỉ phần của 20% những người nghèo nhất và của 20% những nguời giàu nhất trong việc phân phối những thu nhập thuần trên đầu người theo thứ tự trung bình là 10% và 33%. Điều này có nghĩa là khoảng cách mức sống giữa hai nhóm này là từ 1 đến 3,3.

    Những bất bình đẳng về thu nhập giữa những người hoạt động hay giữa các gia đình trong các nước phát triển đã giảm từ một trăm năm mươi năm nay: lúc bấy giờ tỉ phần của 20% những người nghèo nhất và của 20% những nguời giàu nhất trung bình là 5% và 55%, tức là một khoảng cách từ 1 đến 11. Tỉ phần của 20% những nguời giàu nhất đã giảm, có lợi cho các hộ gia đình nằm trong những điểm thập phân vị 5, 6, 7 và 8. Những bất bình đẳng về thu nhập sử dụng giữa các cá thể còn giảm nhiều hơn nữa vì trong thế kỉ XIX Nhà nước không can thiệp còn nay Nhà nước làm giảm nhiều những bất bình đẳng bằng những chuyển nhượng và thuế khoá.

    Những bất bình đẳng về thu nhập trong các nước đang phát triển, ngoại trừ một số nước châu Á (Sri Lanca, Đài Loan, Hàn quốc), lớn hơn những bất bình đẳng về thu nhập trong các nước phát triển. Trong những nước có bất bình đẳng cao nhất (Brazil, Equateur, Peru) tỉ phần của 20% những người giàu nhất vượt quá 60% so với 4% cho 20% những người nghèo nhất, tức là một khoảng cách từ 1 đến 15 giữa những người hoạt động hay giữa những hộ gia đình, và những bất bình đẳng này không được sự can thiệp của Nhà nước thu hẹp, như trong các nước phát triển. Mặt khác, những gia đình nghèo có số thành viên bằng hoặc cao hơn những gia đình giàu. Từ đó, những bất bình đẳng giữa các cá thể cũng cao hơn. Cuối cùng trong những nước này những bất bình đẳng càng không thể chịu nổi vì tính cơ động rất thấp: người nghèo vẫn nghèo cả cuộc đời khiến cho bất bình đẳng trên vòng đời cũng mạnh gần bằng bất bình đẳng trên một năm.

    Giáo sư danh dự Đại học Panthéon-Sorbonne (Paris I)

    Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques, sous la direction de Claude Jessua, Christian Labrousse, Daniel Vitry, PUF, Paris, 2001

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triển Khai Nhiệm Vụ Đột Phá Về Chiến Lược Phát Triển Kinh Tế Biển
  • Chiến Lược Biển Việt Nam: Đặt Trọng Tâm Vào Kinh Tế Để Bứt Phá
  • Luận Văn Một Số Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Trang Trại Tỉnh Bến Tre
  • Bến Tre Bàn Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Giải Pháp Tăng Trưởng Kinh Tế Bền Vững Và Đảm Bảo An Sinh Xã Hội
  • Bất Bình Đẳng Cơ Hội Và Bất Bình Đẳng Thu Nhập

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Bất Bình Đẳng Thu Nhập Tại Việt Nam
  • Chuyên Đề Giải Pháp Cho Vấn Đề Tăng Trưởng Kinh Tế Và Giảm Bất Bình Đẳng Thu Nhập
  • Thư Viện Góp Phần Giảm Thiểu Bất Bình Đẳng Xã Hội
  • Các Giải Pháp Giảm Bội Chi
  • Giảm Bội Chi: Giải Pháp Đã Có, Chờ Quyết Tâm
  • Bất bình đẳng có thể chia thành (1) bất bình đẳng cơ hội (ví dụ như tiếp cận giáo dục); và (2) bất bình đẳng kết quả (ví dụ như mức thu nhập) (UNDP 2013). Để giảm bất bình đẳng, cần chỉ ra những nguyên nhân. Tuy nhiên, giới nghiên cứu cho tới nay vẫn chưa thống nhất được những nguyên nhân chính (Mankiw 2013). Một trong những câu hỏi là, làm thế nào để đo lường và xác định những yếu tố quyết định mức độ bất bình đẳng cơ hội? Mối quan hệ giữa bất bình đẳng cơ hội và bất bình đẳng về kết quả?

    Tổng hợp một số nghiên cứu cho thấy, giảm bất bình đẳng cơ hội, như trong giáo dục, sẽ dẫn tới giảm bất bình đẳng kết quả, đặc biệt là bất bình đẳng thu nhập (Dolton et al. 2009, (Bourguignon et al. 2007). Việc chỉ ra mối quan hệ giữa cơ hội giáo dục và thu nhập cá nhân là một trong những cơ sở quan trọng cho việc ra chính sách giảm bất bình đẳng.

    Giải thích ở đây là, trong mối liên hệ giữa bất bình đẳng cơ hội và mức thu nhập, biến số độc lập là bất bình đẳng cơ hội, biến phụ thuộc là thu nhập cá nhân (ví dụ như thu nhập từ lao động). Trong đó, biến độc lập có thể đo lường qua yếu tố nền tảng gia đình (hoặc môi trường gia đình). Yếu tố này lại có thể gồm một số biến số chính, như nơi sinh, sắc tộc, mức độ giáo dục và nghề nghiệp của cha mẹ. Lý do để chọn những biến số này là nó không bị lệ thuộc vào từng cá nhân. Trong khi biến số kiểm soát như nỗ lực cá nhân, tài năng bẩm sinh, yếu tố di truyền… có thể ảnh hưởng đến thu nhập, nhưng khác nhau ở mỗi cá nhân.

    Như thế, nguyên tắc phân tích là, các yếu tố tác động đến cơ hội của mỗi người là do nền tảng gia đình và nỗ lực cá nhân. Cá nhân có thu nhập cao hơn có thể do những cố gắng của bản thân, hoặc do nền tảng gia đình (Bourguignon et al. 2007). Nếu giả định nỗ lực cá nhân là như nhau (hay được kiểm soát), thì để đạt được sự công bằng về cơ hội, mỗi cá nhân phải không có sự khác nhau về nền tảng gia đình. Ứng dụng chính sách ở đây là, nên giảm mức độ chênh lệch về nền tảng gia đình.

    Mặc dù ít có sự khác nhau về phương pháp tiếp cận, kết quả nghiên cứu ở những nước khác nhau lại có kết quả khác nhau. Một số chỉ ra yếu tố sắc tộc là quan trọng nhất, tác động đến bất bình đẳng cơ hội (Bertocchi & Dimico 2014); số khác cho rằng mức độ giáo dục bố mẹ đạt được có tính chất quyết định đến thu nhập của thế hệ tương lai (Christopher 2003).

    Cùng với đó, một số nghiên cứu khẳng định yếu tố thu nhập của cha mẹ cũng tác động quan trọng đến đầu tư cho ngân sách giáo dục của mỗi gia đình. Đây là một trong những yếu tố mà có thể dẫn tới vòng luẩn quẩn bất bình đẳng cơ hội – bẫy bất bình đẳng. Các gia đình chạy đua về ngân sách giáo dục, dẫn đến những trẻ em nghèo càng ít cơ hội tiếp cận với dịch vụ giáo dục chất lượng cao. Thêm nữa, một số nghiên cứu mới đây cũng quan tâm đến những yếu tố như thời gian bố mẹ dành cho con cái, địa vị xã hội của cha mẹ. Ví dụ, những gia đình có thu nhập cao thì bố mẹ lại có nhiều thời gian dành cho con cái hơn (Putnam 2022). Những yếu tố này cũng có ảnh hưởng tỷ lệ thuận với mức thu nhập đạt được.

    Tổng hợp các cách tiếp cận trên giúp lý giải vì sao, và như thế nào nền tảng gia đình (và một số biến số khác) tác động đến bất bình đẳng cơ hội, và đến lượt nó, bất bình đẳng cơ hội tác động đến bất bình đẳng thu nhập. Tất nhiên, những giả thuyết và phương pháp tiếp cận nghiên cứu này cũng có một số điểm yếu, như bỏ qua những yếu tố quan trọng như tiếp cận thể chế, hay các vấn đề thuộc chính sách lao động tiền lương, hay bất bình đẳng giới (Acemoglu & Robinson 2014, Jacobs 1996).

    Như vậy, bất bình đẳng là một vấn đề chính sách mà các chính phủ ngày càng quan tâm. Giảm bất bình đẳng cơ hội có thể dẫn đến giảm bất bình đẳng thu nhập. Do đó, việc chỉ ra những yếu tố chính tác động tới BBĐ cơ hội, sẽ đóng góp tích cực trong việc cung cấp bằng chứng cho những người làm chính sách ở mỗi quốc gia. Một yếu tố rất quan trọng, ví dụ như đối với chính sách giáo dục, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, là mức độ giáo dục đạt được ở thế hệ trước (tri thức của cha mẹ) có ảnh hưởng đến thu nhập của thế hệ tương lai.

    Gợi ý trích nguồn:

    Nguyễn Anh Phương 2022, Giảm bất bình đẳng cơ hội để giảm bất bình đẳng thu nhập, https://chinhsach.vn/giam-bat-binh-dang-co-hoi-bat-binh-dang-thu-nhap/, truy cập ngày …/…/…

    Acemoglu, D & Robinson, J 2014, The rise and decline of general laws of capitalism.

    Bertocchi, G, Dimico, A 2014, ‘Slavery, education, and inequality’, European Economic Review.

    Bourguignon, F, Ferreira, F & Marta Menendez, M 2007, ‘Inequality of opportunity in Brazil’, Review of Income and Wealth.

    Christopher, D 2003, ‘Intergenerational earnings mobility in Brazil and its determinants’.

    Dolton, P, Asplund, R, Barth, E 2009, Education and inequality across Europe, Cheltenham, UK.

    Green, A, Mason, G & Unwin, L 2011, ‘Education and inequality: introduction’, National Institute Economic Review.

    Hamnett, C & Butler, T 2013, ‘Distance, education and inequality’.

    Jacobs, J 1996, ‘ Gender inequality and higher education’.

    Kuznets, S 1955, ‘Economic Growth and Income Inequality’, American economic Review.

    Piketty, T 2014, Capital in the Twenty-first century, Harvard University Press.

    Roemer, JE 1998, Equality of Opportunity, Harvard University Press.

    Theil, H 1967, Economics and information theory.

    UNDP 2013, Humanity Divided:Confronting Inequality in Developing Countries.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiểm Soát Chặt Chi Tiêu Công, Kéo Giảm Bội Chi Ngân Sách
  • Tiếp Tục ‘kéo’ Giảm Bội Chi Ngân Sách
  • Đồng Bộ Giải Pháp Kiểm Soát Và Giảm Dần Bội Chi Ngân Sách
  • Hàng Loạt Giải Pháp Để Giảm Bội Chi, Kiềm Chế Nợ Công Phình To
  • Cách Thức Xử Lý Khắc Phục Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước
  • Một Số Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Bất Bình Đẳng Thu Nhập Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề Giải Pháp Cho Vấn Đề Tăng Trưởng Kinh Tế Và Giảm Bất Bình Đẳng Thu Nhập
  • Thư Viện Góp Phần Giảm Thiểu Bất Bình Đẳng Xã Hội
  • Các Giải Pháp Giảm Bội Chi
  • Giảm Bội Chi: Giải Pháp Đã Có, Chờ Quyết Tâm
  • Các Giải Pháp Giảm Bội Chi, Kiềm Chế Nợ Công Phình To
  • Bất bình đẳng thu nhập không những gây ra những hệ lụy xã hội mà còn có ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình tăng trưởng kinh tế. Nguồn: internet

    Tổng quan nghiên cứu

    Bất bình đẳng kinh tế (hay còn gọi là bất bình đẳng thu nhập, khoảng cách giàu nghèo) là chênh lệch giữa các cá nhân, các nhóm trong xã hội hay giữa các quốc gia trong việc phân phối lại tài sản hay thu nhập. Bất bình đẳng thu nhập không những gây ra những hệ lụy xã hội mà còn có ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình tăng trưởng kinh tế (Berg, Ostry và Zettelmeyer, 2008).

    Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy, bất bình đẳng thu nhập có ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển nói chung, gây tổn hại đến sự gắn kết xã hội như ảnh hưởng xấu tới chất lượng cuộc sống của người dân, làm tăng tỷ lệ nghèo đói, cản trở tiến bộ y tế – giáo dục nói chung. Riêng đối với những người nghèo, bất bình đẳng còn góp phần làm gia tăng tình trạng tội phạm.

    Trong giai đoạn 2008 – 2022, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng khá cao so với nhiều nước trên thế giới, đạt mức bình quân 6,1% (theo Tổng cục Thống kê, năm 2022 là 6,21%, năm 2022 là 6,81%, năm 2022 là 7,08%). Thu nhập các nhóm dân cư đều tăng lên, đời sống của mọi tầng lớp dân cư được cải thiện. Tuy nhiên, tốc độ tăng thu nhập của nhóm nghèo luôn thấp hơn nhóm giàu, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng.

    Theo kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình của Tổng cục Thống kê năm 2002, thu nhập bình quân đầu người (BQĐN) của nhóm nghèo là 107,7 nghìn đồng, nhóm giàu là 872,9 nghìn đồng. Năm 2022, thu nhập BQĐN tương ứng của 2 nhóm này là 771 nghìn đồng và 7.547 nghìn đồng. Như vậy, qua 14 năm, thu nhập BQĐN của nhóm nghèo tăng 7,159 lần, nhóm giàu tăng lên 8,646 lần. Khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa nhóm giàu và nhóm nghèo năm 2002 là 8,105 lần (tương ứng với số tuyệt đối là 765,2 nghìn đồng), năm 2022 là 9,789 lần (tương ứng với số tuyệt đối là 6.776 nghìn đồng).

    Theo John W. (2003), tăng trưởng kinh tế đạt 10% thì người nghèo chỉ được hưởng lợi khoảng ¼ trong số đó. Trong khi đó, người giàu có cơ hội khai thác nhiều hơn để gia tăng phúc lợi cho mình. Điều đó có nghĩa là, khi tăng trưởng kinh tế góp phần vào xóa đói giảm nghèo thì nó lại làm gia tăng thêm khoảng cách chênh lệch giàu nghèo.

    Những năm qua, tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về bất bình đẳng thu nhập hay phân hóa giàu nghèo nhưng các nghiên cứu này chỉ mang tính chất mô tả về thực trạng giàu nghèo ở một thời điểm hoặc nghiên cứu về bất bình đẳng ở khu vực nông thôn – thành thị. Từ thực trạng trên, nghiên cứu này tập trung làm rõ ảnh hưởng của một số yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam.

    Phương pháp phân tích Nguồn số liệu sử dụng

    Để nghiên cứu những ảnh hưởng tới bất bình đẳng thu nhập, nhóm tác giả sử thu thập số liệu các biến của 63 tỉnh/thành phố trên cả nước trong 7 năm chẵn (từ 2002 đến 2014). Tổng cộng có 63 x 7 = 441 quan sát.

    Số liệu được sử dụng trong nghiên cứu là nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ kết quả điều tra khảo sát của Tổng cục Thống kê Việt Nam và Cục Thống kê các tỉnh. Bao gồm:

    – Khảo sát mức sống dân cư của các tỉnh thành trong các năm 2002, 2004, 2006, 2008, 2010, 2012, 2014 của Tổng cục Thống kê.

    – Niên giám thống kê của các tỉnh thành năm 2002, 2004, 2006, 2008, 2010, 2012, 2014 của 63 tỉnh thành.

    Xuất phát từ mô hình ở các nghiên cứu trước đây, để nghiên cứu ảnh hưởng của bất bình đẳng thu nhập, nhóm tác giả sử dụng mô hình sau:

    Nghiên cứu sẽ thực hiện ước lượng mô hình và kiểm định theo các bước sau:

    Bước 1: Kiểm tra xem các biến độc lập của mô hình có phải biến nội sinh hay không.

    Bước 2: Lựa chọn mô hình.

    – Nếu tất cả các biến độc lập không phải là biến nội sinh, thì ước lượng mô hình REM và mô hình FEM sau đó sử dụng kiểm định Hausman để xem lựa chọn mô hình nào cho phù hợp. Kiểm định khuyết tật ứng với mô hình FEM hoặc REM được lựa chọn.

    – Nếu có ít nhất một biến độc lập là biến nội sinh, tiến hành ước lượng mô hình GMM.

    Hệ số GINI có giá trị trung bình là 0,3750984, độ lệch chuẩn là 0,0310425 cho thấy, các quan sát thực tế dao động khá sát quanh giá trị trung bình. Biến GAP có giá trị trung bình là 6,697763 và độ lệch chuẩn là 1,019449, cho thấy hệ số này có sự biến động đa dạng trong các quan sát. Biến Trade (GTTB là 107,4091 và độ lệch chuẩn 303,6765) nói lên sự biến động lớn độ mở thương mại các tỉnh thành trong cả nước.

    Căn cứ vào kết quả kiểm định ở Bước 1 cho thấy, các biến TRADE và lnGDPBQ là biến nội sinh. Do vậy, việc sử dụng mô hình FEM và REM là không phù hợp. Cần ước lượng mô hình GMM.

    Kết quả hồi quy GMM cho thấy, các biến Trade, LnGDPBQ, NSNN, Ur có tác động đến biến phụ thuộc GINI và GAP.

    Mô hình có biến phụ thuộc là GINI

    Thứ nhất, biến độ mở thương mại (Trade) có ý nghĩa ở mức 1%. Hệ số coef = -0,0000112 cho biết, khi tỷ lệ xuất khẩu trên GDP tăng lên 1% thì GINI giảm đi 0,00000112 lần. Dấu của hệ số này cho biết, khi tỷ lệ xuất khẩu trên GDP tăng thì bất bình đẳng thu nhập sẽ giảm.

    Thứ hai, biến thu nhập bình quân đầu người (LnGDPBQ) có ý nghĩa ở mức 5%. Hệ số coef = -0,001394 cho biết, khi tỷ lệ xuất khẩu trên GDP tăng lên 1% thì GINI giảm đi 0,00001394 lần. Dấu của hệ số này cho biết, khi thu nhập bình quân đầu người tăng thì bất bình đẳng thu nhập sẽ giảm.

    Thứ ba, biến tỷ lệ thu ngân sách nhà nước trên GDP (NSNN) có ý nghĩa ở mức 5%. Hệ số coef = -0,0001552 cho biết khi tỷ lệ thu ngân sách trên GDP tăng lên 1% thì GINI giảm 0,0001552 lần. Dấu của hệ số này cho thấy ngân sách nhà nước tác động ngược chiều với bất bình đẳng thu nhập.

    Thứ tư, biến tỷ lệ dân số thành thị (Ur) có ý nghĩa ở mức 5%. Hệ số coef = 0,0001906 cho biết, khi tỷ lệ dân số thành thị tăng lên 1% thì GINI tăng lên 0,001906 lần. Dấu của hệ số này cho thấy, tỷ lệ dân số thành thị tác động cùng chiều với bất bình đẳng thu nhập.

    Mô hình có biến phụ thuộc là GAP

    Thứ nhất, biến độ mở thương mại (Trade) có ý nghĩa ở mức 1%. Hệ số coef = -0,0002579 cho biết, khi tỷ lệ xuất khẩu trên GDP tăng lên 1% thì GAP giảm đi 0,00002579 lần. Dấu của hệ số này cho biết, khi tỷ lệ xuất khẩu trên GDP tăng thì hệ số chênh lệch giàu nghèo sẽ giảm.

    Thứ hai, biến thu nhập bình quân đầu người (LnGDPBQ) có ý nghĩa ở mức 5%. Hệ số coef = -0,0473456 cho biết, khi tỷ lệ xuất khẩu trên GDP tăng lên 1% thì GAP giảm đi 0,000473456 lần. Dấu của hệ số này cho biết, khi thu nhập bình quân đầu người tăng thì hệ số chênh lệch giàu nghèo sẽ giảm.

    Thứ ba, biến tỷ lệ thu ngân sách nhà nước trên GDP (NSNN) có ý nghĩa ở mức 10%. Hệ số coef = -0,0048756 cho biết, khi tỷ lệ thu ngân sách trên GDP tăng lên 1% thì GAP giảm 0,0048756 lần. Dấu của hệ số này cho thấy, ngân sách nhà nước tác động ngược chiều với hệ số chênh lệch giàu nghèo.

    Thứ tư, biến tỷ lệ dân số thành thị (Ur): có ý nghĩa ở mức 5%. Hệ số coef = 0,0097314 cho biết, khi tỷ lệ dân số thành thị tăng lên 1% thì GAP tăng lên 0,0097314 lần. Dấu của hệ số này cho thấy, tỷ lệ dân số thành thị tác động cùng chiều với hệ số chênh lệch giàu nghèo.

    Kết quả phân tích trên cho thấy, bất bình đẳng thu nhập chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như độ mở thương mại, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ thu ngân sách nhà nước, tỷ lệ dân số thành thị… Trong đó, độ mở thương mai, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ thu ngân sách nhà nước có tác động ngược chiều với bất bình đẳng. Vì vậy, trong thời gian tới, cần có những biện pháp hợp lý nhằm tăng giá trị xuất khẩu, tăng thu nhập bình quân đầu người. Bên cạnh đó, cần phát triển cơ sở hạ tầng, tạo việc làm cho lao động khu vực nông thôn… nhằm giảm bất bình đẳng thu nhập.

    1. Tổng cục Thống kê, Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2002, 2004, 2006, 2008, 2010, 2012, 2014, 2022, 2022, NXB Thống kê, Hà Nội; 2. Nguyễn Thị Huệ, (2016), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chênh lệch giàu nghèo ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; 3. Nguyễn Thị Thanh Huyền, (2012), Tác động của hội nhập quốc tế lên bất bình đẳng thu nhập nông thôn – thành thị tại Việt Nam, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; 4. Duc Hong Vo, Thang Cong Nguyen, Ngoc Phu Tran and Anh The Vo (2019), “What Factors Affect Income Inequality and Economic Growth in Middle-Income Countries”, Journal of Risk and Financial Management; 5. Andrew Berg, Jonathan D.Ostry, Jeromin Zettelmeyer, “What makes growth sustained”, IMF Working Paper, Washington; 6. John W. và các cộng sự (2003), “Kinh tế vĩ mô của giảm nghèo: Nghiên cứu trường hợp Việt Nam – Việt Nam tìm kiếm bình đẳng trong tăng trưởng”, Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP); 7. Lars Peter Hansen (1982), “Large Sample Properties of Generalized Method of Moments Estimators”, The Econometric Society.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bất Bình Đẳng Cơ Hội Và Bất Bình Đẳng Thu Nhập
  • Kiểm Soát Chặt Chi Tiêu Công, Kéo Giảm Bội Chi Ngân Sách
  • Tiếp Tục ‘kéo’ Giảm Bội Chi Ngân Sách
  • Đồng Bộ Giải Pháp Kiểm Soát Và Giảm Dần Bội Chi Ngân Sách
  • Hàng Loạt Giải Pháp Để Giảm Bội Chi, Kiềm Chế Nợ Công Phình To
  • Giảm Bất Bình Đẳng Thu Nhập Để Giảm Nghèo

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Phối Thu Nhập Ở Việt Nam Hiện Nay
  • 10 Đề Tài Liên Quan Đến Bất Bình Đẳng Được Quan Tâm Tại Việt Nam
  • Quản Lý Phát Triển Xã Hội Về Bất Bình Đẳng, Phân Tầng Xã Hội Ở Nước Ta Trong Điều Kiện Phát Triển Kinh Tế Thị Trường, Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Và Hội Nhập Quốc Tế
  • Việt Nam Đề Xuất Các Biện Pháp Cải Thiện Bất Bình Đẳng Và Đảm Bảo Phẩm Giá Con Người
  • Bài 2: Giảm Thiểu Các Yếu Tố Gây Bất Bình Đẳng
  • Chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% dân số giàu nhất và nhóm 20% dân số nghèo nhất vào năm 2014 là 9,7 lần, đến năm 2022 đã tăng lên 10 lần. Hệ số GINI (hệ số phản ánh chênh lệch thu nhập) của Việt Nam giai đoạn 2014 – 2022 ở mức 0,4 (GINI bằng 1,00 là bất bình đẳng tuyệt đối).

    Câu hỏi đặt ra là: Vì sao chúng ta đã có nhiều thành tựu trong xóa đói giảm nghèo, nhưng tình trạng chênh lệch giàu nghèo trong xã hội lại không giảm, mà có xu hướng tăng? Lý do là vì chúng ta giảm nghèo dựa trên chuẩn nghèo do chúng ta đưa ra, và khi người dân có thu nhập vượt qua cái chuẩn nghèo ấy thì xem là đã thoát được nghèo.

    Có nghĩa là thu nhập của tầng lớp thu nhập thấp đã tăng lên qua khỏi chuẩn nghèo và như thế tỷ lệ nghèo đương nhiên sẽ giảm. Thế nhưng, dù tỷ lệ nghèo giảm nhưng chênh lệch giàu nghèo không giảm, vì có thể chuẩn nghèo chúng ta đặt ra quá thấp, và khi nhóm thu nhập thấp tăng thu nhập thì nhóm thu nhập cao cũng tăng chứ không đứng yên. Nếu 2 nhóm đều có tỷ lệ tăng thu nhập bằng nhau thì khoảng cách giàu nghèo cũng tăng, vì khi đó tổng thu nhập của nhóm có thu nhập cao sẽ lớn hơn rất nhiều so với tổng thu nhập của nhóm thu nhập thấp xét về số tuyệt đối.

    Theo chúng tôi, thay vì chú trọng vào việc giảm nghèo, cần có các chính sách tạo sự bình đẳng về thu nhập, tức là các chính sách kéo giảm sự chênh lệch thu nhập trong xã hội. Khi kéo giảm được sự bất bình đẳng trong thu nhập thì đương nhiên cũng giảm được tỷ lệ nghèo, nhưng nếu chỉ chăm chăm giảm tỷ lệ nghèo thì chưa chắc mang lại sự bình đẳng trong thu nhập. Có nghĩa, giảm chênh lệch giàu nghèo quan trọng hơn là giảm tỷ lệ nghèo trong xã hội.

    Vậy làm sao để giảm được chênh lệch giàu nghèo? Nhiều quốc gia trên thế giới xem thuế là một trong những công cụ quan trọng nhất để tái phân phối thu nhập cho các nhóm dân cư mà theo đó, những người càng có thu nhập cao thì càng phải đóng thuế thu nhập nhiều hơn.

    Nhờ có nguồn thu từ việc đánh thuế mà nhà nước có thể thực hiện được các chính sách an sinh xã hội để hỗ trợ cho các tầng lớp thấp nâng cao được mức sống và chất lượng sống của mình, và điều này chắc chắn cũng làm giảm tỷ lệ nghèo đói trong xã hội. Vì vậy, Chính phủ cần chú trọng vào việc giảm chênh lệch giàu nghèo trong xã hội hơn là chỉ chú trọng vào việc giảm nghèo. Giảm chênh lệch giàu nghèo thì chắc chắn sẽ giảm được tỷ lệ nghèo trong xã hội.

    LÊ MINH TIẾN (Giảng viên Đại học Mở TPHCM)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bất Bình Đẳng Thu Nhập Ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Khuyến Nghị
  • Vấn Đề Bất Bình Đẳng Thu Nhập Ở Việt Nam
  • Để Hạn Chế Bội Chi Ngân Sách
  • Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước
  • Ảnh Hưởng Của Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước Đối Với Kinh Tế Xã Hội
  • Bất Bình Đẳng Giới Về Thu Nhập Của Người Lao Động Ở Việt Nam Và Một Số Gợi Ý Giải Pháp Chính Sách

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Vấn Đề Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình: Thực Trạng, Nguyên Nhân Và Giải Pháp (Trường Hợp Nghiên Cứu Ở Thị Trấn Tứ Hạ, Huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế)
  • Bình Đẳng Giới: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Chuyên Đề: Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình
  • Thực Hiện Bình Đẳng Giới
  • Tp.hồ Chí Minh: Đề Xuất Một Số Giải Pháp Về Bình Đẳng Giới
  • BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI VỀ THU NHẬP CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GỢI Ý GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH

    (Tham khảo nội dung tư vấn: Chế độ và thủ tục bảo hiểm thai sản, bảo vệ quyền lợi người lao động nữ )

    Bất bình đẳng giới trong thu nhập vừa là một trong những căn nguyên gây ra nghèo đói vừa là yếu tố cản trở lớn đối với quá trình phát triển. Những xã hội có sự bất bình đẳng giới lớn và kéo dài thường phải trả giá là sự nghèo đói, tình trạng suy dinh dưỡng, đau ốm và những nỗi cực khổ khác ở mức độ lớn hơn. Tăng trưởng kinh tế sẽ mang lại hiệu quả đối với sự giảm mức độ nghèo đói ở những xã hội có sự bình đẳng giới ở mức độ cao hơn. Bất bình đẳng trong thu nhập giữa hai giới ngăn cản sự phát triển bình đẳng gây ra sự không hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực trong xã hội.

    Mục tiêu bình đẳng giới trong thu nhập vừa là vấn đề quyền con người quan trọng vừa là một yêu cầu cơ bản cho sự phát triển công bằng và hiệu quả. Vì vậy việc nghiên cứu về tình trạng bất bình đẳng giới trong thu nhập có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong việc hướng tới sự bình đẳng trong xã hội mà còn góp phần tìm kiếm các biện pháp để nâng cao hiệu quả và hiệu lực của tăng trưởng kinh tế xã hội.

    Ở Việt Nam, bảy mươi phần trăm phụ nữ trong độ tuổi lao động (từ 16 đến 55 tuổi) tham gia vào lực lượng lao động và chiếm 52% so với nam giới. Song phụ nữ chỉ chiếm 40% tổng số lao động được trả lương. Cuộc Khảo sát Mức sống Dân cư Việt Nam 1998 cho thấy rằng phụ nữ ở tất cả các độ tuổi đều phải làm việc trong thời gian dài gấp đôi nam giới (Desai, 2000 ). Phụ nữ ở Việt Nam nhận được thù lao công việc ít hơn, số tiền trung bình mỗi tháng họ nhận được 14% ít hơn so với nam giới. Qua nghiên cứu cho thấy, thực sự có sự bất bình đẳng giới trong thu nhập tại Việt Nam: tỷ số thu nhập nữ/nam là 0,77 năm 1993 và 0,82 năm 1998 .

    Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo với tư tưởng trọng nam khinh nữ nên dễ thấy sự bất bình đẳng giới trong thu nhập có nguyên nhân lớn ở tư tưởng bất bình đẳng giới. Nhưng bên cạnh đó, các quy định luật pháp về lao động theo hướng bảo vệ người phụ nữ và đi sâu vào vấn đề giới tại Việt Nam còn có nhiều vấn đề chưa phù hợp. Trên thực tế, nhà nước ta đã có chính sách nhằm bảo vệ và đảm bảo công bằng giữa lao động nam và nữ về cơ hội nghề nghiệp cũng như hưởng chế độ lao động . Tuy nhiên, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc thi hành các chính sách này đối với lao động nữ. Các cuộc điều tra các doanh nghiệp sử dụng lao động nữ cho thấy quan điểm chung của người sử dụng lao động đều muốn giảm chi phí thuê lao động nữ. (Oaxaca, 1973 ).

    “Những qui định về lao động và tiền lương ở Việt Nam trong chương trình giảm nghèo” (Brassard, 2004). Nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng của những qui định về lao động và tiền lương hiện hành ảnh hưởng đến việc giảm nghèo ở việt Nam thông qua việc sử dụng số liệu cấp xã về lương năm 1998. Nghiên cứu này cũng xác định mức chênh lệch về lương giữa các khu vực và giới, và ảnh hưởng tiềm năng của các qui định về lương và lao động đến người nghèo.

    “Bất bình đẳng giới trong thu nhập theo khu vực ở Việt Nam” Amy chúng tôi (2004) nghiên cứu các nhân tố tác động bất bình đẳng giới về thu nhập theo khu vực ở Việt Nam dựa trên phương pháp tiếp cận của Appleton (1999) và sử dụng số liệu VLSS năm 1992-1993 và 1997-1998.

    Nhìn chung các nghiên cứu này không đánh giá được được các yếu tố tác động đến sự bất bình đẳng giới về thu nhập trong bối cảnh kinh tế hội nhập và tự do hóa thương mại. Đặc biệt việc đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố phi kinh tế đến bất bình đẳng còn yếu. Hơn nữa các nghiên cứu chưa đưa ra được đánh giá so sánh theo các vùng, qui mô, ngành kinh tế để đưa ra được gợi ý giải pháp trọng điểm.

    – Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về bất bình đẳng giới trong thu nhập và các yếu tố ảnh hưởng tới sự bất bình đẳng về giới trong thu nhập .

    – Phân tích định tính và định lượng để tìm ra các nguyên nhân gây ra vấn đề bất bình đẳng giới về thu nhập ở Việt Nam hiện nay.

    – Đưa ra một số kiến nghị giải pháp giảm mức bất bình đẳng giới về thu nhập ở Việt Nam.

    – Thu nhập của người lao động làm công ăn lương của lao động nam và lao động nữ ở Việt Nam (chia theo vùng, ngành), các yếu tố ảnh hưởng đến mức lương, mức chênh lệch giữa thu nhập của lao động nam và nữ.

    – Tác động của các chính sách, qui định đối với vấn đề lao động tiền lương và giới.

    – Tập trung nghiên cứu các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam, bao gồm :

    ii) yếu tố phi kinh tế: quan điểm giới, về điều kiện văn hoá, môi trường, an ninh, ổn định chính trị…

    – Thời gian nghiên cứu: từ năm 2002-2004. Số liệu nghiên cứu điều tra mức sống dân cư qui mô quốc gia VLSS kết hợp số liệu thống kê và các nguồn khác.

    Cấu trúc của đề tài như sau:

    Chương I. Cơ sở lý luận về Bất Bình đẳng giới trong thu nhập.

    Chương II. Thực trạng và Yếu tố ảnh hưởng đến Bất Bình đẳng giới trong thu nhập tại Việt Nam.

    Chương III. Kiểm chứng định lượng về các nhân tố ảnh hưởng đến Bất bình đẳng giới về thu nhập ở Việt Nam giai đoạn 2002 – 2004.

    Chương IV. Một số gợi ý giải pháp chính sách nhằm hạn chế bất bình đẳng giới trong thu nhập .

    Giới là thuật ngữ chỉ những đặc điểm xã hội của phụ nữ và nam giới. Vai trò giới được quyết định bởi các yếu tố văn hóa, xã hội và kinh tế được nam giới và phụ nữ học trong quá trình trưởng thành. Vai trò giới rất năng động và thay đổi theo thời gian +

    dU = (dr_2-dr_1)s_B + [dr_2(s_2-s_B) + dr_1(s_B-s_1)]

    Nếu một trong 2 thời điểm là chuẩn, công thức đơn giản hoá bởi Juhn, Murphy và Pierce (1991) như sau:

    hoặc theo Blau và Kahn (1997) là

    Có thể sử dụng các mẫu thu thập theo thời gian như là mẫu chuẩn, trong trường hợp này việc sử dụng các biến giả theo năm ở mô hình đối với các mẫu chuẩn là phù hợp.

    Các bước tiến hành nghiên cứu: thực hiện 6 hồi qui: 4 hồi qui cho từng giới và từng năm, 2 hồi qui cho số liệu panel cho từng giới trong hai năm. Sau đó đưa ra khoảng cách trong mức lương giữa lao động nam và lao động nữ, phân tách các yếu tố ảnh hưởng theo nhóm và chi tiết.

    Nguồn số liệu được khai thác ở đây là số liệu từ hai cuộc điều tra liên tiếp về mức sống hộ gia đình toàn quốc (Vietnam Living Standard Survey: VLSS) trong hai năm 2002 và 2004. Số mẫu điều tra chung trong hai cuộc điều tra này bao gồm 4.008 hộ, bao gồm 20.209 thành viên. Tuy nhiên trong tổng số thành viên này chỉ có 2.552 là lao động làm công ăn lương có cung cấp thông tin về tiền lương, tiền công. Đây chính là số thành viên sẽ được khai thác trong bài.

    Kết quả hồi qui cho thấy biến tuổi có tác động tích cực đối với mức lương. Tuổi và bình phương của tuổi thể hiện mối quan hệ hình chữ U ngược giữa mức lương và độ tuổi. Có nghĩa là ở một độ tuổi nhất định, ảnh hưởng của tuổi đối với mức lương đạt tối đa, sau đó ảnh hưởng này sẽ giảm dần khi tuổi lao động tăng lên. Ảnh hưởng của độ tuổi đối với mức lương có xu hướng tăng theo thời gian đối với hai giới. Ảnh hưởng của tuổi vẫn mang lại lợi ích lớn hơn cho lao động nam hơn là lao động nữ, có thể hiểu rằng với hai người lao động như nhau về mọi mặt thì cứ mỗi một năm làm việc, anh ta hưởng lợi từ lương tăng mạnh hơn phụ nữ.

    Về tình trạng hôn nhân, việc người lao động lập gia đình mang lại thêm cho lao động nữ khoảng 15% và cao hơn cho lao động nam đạt mức 16% mức lương năm 2002. ảnh hưởng này vào năm 2004 giảm xuống đáng kể, thể hiện yếu tố này không phải là yếu tố lâu dài làm tăng lương. Nhìn chung cả hai năm thì hôn nhân cũng đem lại lợi ích tương đối đáng kể cho người lao động: 11% cho lao động nam và 7% cho lao động nữ.

    Giáo dục không hoàn toàn nâng cao thu nhập cho người lao động mà phụ thuộc vào nỗ lực của họ đạt đến trình độ nhất định nào. Yếu tố giáo dục tiểu học có ảnh hưởng không nhất quán đến thu nhập, tuy nhiên biến này không có ý nghĩa ở mức 10%. Thậm chí trình độ không hơn giáo dục trung học cơ sở là một trở ngại cho người lao động. Yếu tố giáo dục trung học cơ sở có ảnh hưởng nhất quán cho mọi giới tính và thời gian. Điều đó có thể thể hiện việc phân loại công việc, hoặc đòi hỏi trình độ giáo dục cao hơn hẳn hoặc yêú tố công việc chủ yếu dựa vào các tố chất khác của người lao động không nhất thiết là giáo dục ở một cấp độ nhất định. Giáo dục trung học phổ thông chỉ có ý nghĩa tích cực đối với lao động nữ song nhìn chung biến này không có ý nghĩa đối với toàn bộ mẫu trong thời gian hai năm. Trong khi đó, tương tự như phân tích định tính thống kê ở trên, giáo dục đại học, cao đẳng lại thực sự có ý nghĩa đối với thu nhập. Đặc biệt đối với lao động nam năm 2004, việc anh ta có thêm bằng đại học/cao đẳng đem lại thêm cho anh ta 43% lương. Xu hướng này ngày càng cao, và là cao hơn đối với lao động nam, nhìn chung mang lại lợi ích cho nam (36%) gấp rưỡi lợi ích mang lại cho nữ (24%) (xem hồi qui 5, 6). Kết quả hồi qui khẳng định hơn nữa vai trò của giáo dục bậc cao đối với tăng lương ở mức giáo dục cao nhất: từ thạc sỹ trở lên. Việc người lao động nam đạt được trình độ thạc sỹ trở lên: như tiến sỹ, giáo sư… có thể mang lại lợi ích tối đa là 114% mức lương năm 2004. Việc đạt được trình độ này cũng mang lại lợi ích lớn cho nữ giới, song tối đa chỉ bằng khoảng 1/2 lợi ích nam giới thu được. Mức tăng này tăng theo thời gian, và đạt mức chung là 94% cho nam và 25% cho nữ. Xu hướng ngắn hạn này phản ánh quan điểm đầu tư không ngừng cho giáo dục và đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai không những ở Việt Nam và các nước trên thế giới.

    Về yếu tố sức khoẻ, dù việc điều trị nội trú có ảnh hưởng tiêu cực đến mức lương, xong kết quả thực nghiệm cho thấy biến này không có ý nghĩa ở mức 10%. Đối với chi tiêu bình quân đầu người và bình phương giá trị chi tiêu này cũng thể hiện mối quan hệ hình chữ U ngược giữa mức lương và chi tiêu. Kết quả cho thấy, nhu cầu chi tiêu càng lớn thì mức lương phải càng cao. Ảnh hưởng này cao hơn so với nam giới, và mức khác biệt ảnh hưởng của yếu tố này đối với mức lương giữa nam và nữ tăng theo thời gian.

    Đối với yếu tố ngành, chỉ có ngành công nghiệp-dịch vụ và xây dựng mới đem lại mức lương tương đối cao. Ảnh hưởng của ngành công nghiệp dịch vụ có ý nghĩa đối với việc tăng lương cho người lao động, xong chỉ có ý nghĩa đối với lao động nữ: tăng lên 16% trong năm 2002 và 13% trong cả hai năm. Mức lương trong ngành nông nghiệp thấp, mức độ ảnh hưởng của yếu tố ngành tương đương nhau giữa nam và nữ và giữa các năm, vào khoảng -20%.

    Về trình độ chuyên môn, chỉ có trình độ lao động kỹ thuật bậc cao là có ảnh hưởng tích cực thống nhất đối với mức lương. Mức ảnh hưởng này ở nam cao hơn năm 2002 xong lại thấp hơn năm 2004. Và nhìn chung trong hai năm, việc đạt được trình độ kỹ thuật bậc cao này vẫn lớn hơn đối với lao động nữ, 25% trong khi chỉ 21% đối với nam. Vai trò của lao động kỹ thuật bậc thấp không nhất quán theo giới tính nhưng nhất quán theo năm: có ảnh hưởng dương đối với lao động nam, âm đối với nữ song ảnh hưởng đối với nữ lại không có ý nghĩa ở mức 10%. Đối với lao động giản đơn, có tác động tích cực đối với nam, nhưng lại tiêu cực đối với nữ, điều này là hợp lý vì phần lớn công việc lao động giản đơn ở đây là bốc vác, bảo vệ… Đối với lao động trong quân đội, mức lương cao hơn so với làm chuyên môn khác. Ảnh hưởng này cao hơn cho nam giới năm 2002, xong lại thấp hơn trong năm 2004. Song nhìn chung vẫn cao hơn so với nam giới, trước nay vẫn chiếm đa số và có những thế mạnh nhất định so với nữ giới trong ngành này.

    Việc làm trong tổ chức lao động là công ty tư nhân có ảnh hưởng không nhất quán đối với mức lương, song chỉ có ý nghĩa khi nó có ảnh hưởng âm đối với thu nhập. Điều này có thể được lý giải là do mức lương ở đây còn bao gồm các khoản theo lương, những khoản có ý nghĩa nhất định khi người lao động làm việc ở cơ quan nhà nước, hưởng theo đúng chính sách nhà nước, còn đối với người lao động trong công ty nước ngoài thì mức lương của các công ty tư nhân nhìn chung đều thấp hơn. Kinh nghiệm làm việc nhìn chung khiến người chủ lao động trả lương cao hơn, mặc dù ảnh hưởng này không đáng kể: 0,5 %. ảnh hưởng này tăng theo thời gian, cao hơn đối với nam năm 2002, song lại thấp hơn vào năm 2004. Đối với các yếu tố vùng, ảnh hưởng là không nhất quán theo thời gian và giới. Có hai điển hình có ảnh hưởng dương đối với mức lương là mức lương ở hai vùng đông bằng sông Hồng và sông Mê Kông.

    Qua Kết quả tính toán theo phương pháp của Juhn, Murphy and Pierce (1991), một điều đáng lưu ý là sự chênh lệch mức lương giữa nam và nữ có xu hướng tăng từ năm 2002 là 0.094 lên 0.1103 năm 2004. Trong đó phần chênh lệch định lượng, hay phần chênh lệch lương giải thích được qua các yếu tố ảnh hưởng nhìn chung góp phần làm tăng sự chênh lệch lương giữa nam và nữ (nhận giá trị +). Phần chênh lệch số dư làm giảm sự chênh lệch lương (mang dấu -), điều đó thể hiện những yếu tố không định lượng được như: tư tưởng, ý thức phân biệt… giữa nam và nữ đã có dấu hiệu giảm nhẹ.

    Cơ cấu chênh lệch gồm bộ phận chênh lệch dự đoán được (chênh lệch quan sát được) và sự khác biệt trong số dư (chênh lệch không quan sát được).

    Bộ phận chênh lệch quan sát được chủ yếu là do các yếu tố định lượng được tạo ảnh hưởng, đạt mức: 0.017 mang giá trị +, làm tăng mức chênh lệch lương giữa nam và nữ giữa 2 năm. Trong đó sự khác biệt về kỹ năng hay đặc điểm của lao động nam và lao động nữ năm 2004 tăng so với năm 2002, gây ra phần chênh lệch về ảnh hưởng của kỹ năng quan sát được (observed skill effect) mang giá trị dương: 0,0253. Điều đó chứng tỏ nhìn chung về các yếu tố ảnh hưởng, nam giới vẫn có bước tiến bộ nhanh hơn nữ giới. Song lợi ích do những thay đổi về kỹ năng này lại tăng lên dù không đáng kể cho lao động nữ vào năm 2004 so với năm 2002, do đó chênh lệch do tác động của giá tiền công đối với các yếu tố quan sát được (Observed price effect) mang giá trị âm: -0,0083.

    Bộ phận chênh lệch lương do những yếu tố không quan sát được mang giá trị âm: U=-0,0009 thể hiện ảnh hưởng này góp phần làm giảm mức chênh lệch lương trong giới giữa hai năm. Điều đó có thể thể hiện sự phân biệt đối xử của người sử dụng lao động đối với lao động nữ vẫn là vấn đề đáng quan tâm. Song sự chênh lệch lương nam so với nữ do sự thay đổi của yếu tố không quan sát được năm 2004 thấp hơn so với năm 2002 nên làm chênh lệch lương nam và nữ năm 2004 giảm xuống là -0,0693.

    Nhìn chung mức chênh lệch lương giữa nam và nữ có dấu hiệu tăng trong năm 2004, năm có khá nhiều biến động về quá trình mở cửa và hội nhập, có nhiều thách thức và cơ hội đối với người lao động. Nhìn chung nam giới có những bước tiến nhanh hơn nữ giới về các yếu tố ảnh hưởng đến lương được đề cập ở đây.

    D =Chênh lệch lương do sự khác biệt

    E = Chênh lệch dự đoán được (pdicted gap)

    U = Chênh lệch số dư (residual gap)

    Qe = ảnh hưởng kỹ năng (Observed skill) quan sát được

    Pe = ảnh hưởng tiền công (Observed price effect) của các yếu tố quan sát được

    Qu = ảnh hưởng lượng kỹ năng (Unobserved skill=Gap effect) không quan sát được

    Pu = ảnh hưởng giá (Unobserved price effect) không quan sát được

    Kết quả cho thấy, trong ảnh hưởng của sự thay đổi các yếu tố quan sát được (Qe), sự thay đổi nhóm tuổi, chi tiêu, chuyên môn, kinh nghiệm và vùng giữa nam và nữ góp phần làm giảm chênh lệch lương và nữ. Trong đó khoảng cách trình độ chuyên môn giữa nam và nữ đã góp phần lớn nhất vào giảm khoảng cách lương giữa hai năm: khoảng 23%.

    Trong ảnh hưởng của sự thay đổi hệ số của các yếu tố quan sát được này, sự thay đổi hệ số của các yếu tố: hôn nhân, sức khỏe, ngành nghề, cơ quan bù đắp được phần đáng kể cho sự khác biệt lương giữa hai giới. Việc thay đổi hệ số của yếu tố ngành nghề có ý nghĩa tích cực lớn nhất trong bộ phận ảnh hưởng này cũng như trong toàn bộ các bộ phận ảnh hưởng: giảm hơn 157% sự khác biệt lương trong giới. Điều này khuyến khích sự dịch chuyển ngành nghề cũng như đào tạo chuyên môn hợp lý để góp phần giảm sự chênh lệch về lương giữa các giới hơn nữa. Trong khi đó sự khác biệt về mức lương của lao động nam và lao động nữ trong khu vực nhà nước và tư nhân cũng đáng lưu ý: làm tăng 50% mức độ bất bình đẳng giới trong thu nhập. Lao động nữ trong khu vực tư nhân chịu thiệt thòi hơn so với trong khu vực nhà nước, hay có sự phân biệt giới trong mức lương cao hơn trong khu vực tư nhân so với trong hu vực nhà nước. Hy vọng việc chuyển dịch cơ cấu lao động hợp lý cùng luật Doanh nghiệp mới ra đời năm 2005 sẽ khắc phục được điểm này.

    Đối với những ảnh hưởng tiêu cực đối với mức chênh lệch lương giữa nam và nữ là ảnh hưởng của khoảng cách giới (Qu), chiếm 391% mức chênh lệch, điều này là một thách thức cho Việt Nam về việc thay đổi một ý thức hệ về phân biệt đối xử giữa lao động nam và nữ, “thể hiện tầm quan trọng của sự phân biệt như một cản trở trong việc rút ngắn khoảng cách giới tính trong lương” (Liu,2004).

    Tóm lại, mỗi một yếu tố có đóng góp khác nhau đối với sự thay đổi về bất bình đẳng giới trong lương. Sự khác biệt này sẽ có ý nghĩa gợi ý cho các nhà hoạch định chính sách nhằm đạt tới sự bình đẳng và tiến bộ cho con người và xã hội.

    Cần tăng cường nhận thức giới cho các nhà hoạch định giáo dục. Lồng ghép phân tích giới vào quá trình xác định các mục tiêu nhập học. Tăng cường xem xét nhu cầu thị trường lao động tương lai về quy hoạch phát triển nguồn nhân lực và giáo dục mang tính bình đẳng giới.

    Nhà nước nên chú ý phổ cập giáo dục tiểu học, đặc biệt cho lao động nữ vì bậc giáo dục này có tác dụng làm giảm mức bất bình đẳng trong thu nhập. Nhà nước cần hỗ trợ để tạo cơ hội hoàn thành bậc học này cho người lao động bằng nhiều hình thức như mở khóa học ngắn hạn, bổ túc… Bên cạnh đó cũng cần xóa bỏ tư duy ưu tiên cho bé trai đi học hơn là bé gái đặc biệt trong các gia đình nông thôn.

    Đặc biệt tăng cường đầu tư, khuyến khích nâng cao trình độ văn hoá cao, như bậc đại học, cao đẳng. Nên tạo điều kiện cho người lao động có thể hoàn thành bậc học này nhằm tăng mức lương cho lao động nữ, dưới các hình thức như tự học đến thi, học từ xa, buổi tối, ngoài giờ làm việc…Khuyến khích đào tạo ở mức cao không chỉ mở rộng phạm vi lựa chọn kinh tế mà còn tăng khả năng được đề bạt của người phụ nữ và nắm giữ những trách nhiệm quản lý và ra quyết định.

    4.2.2.Cơ cấu ngành nghề hợp lý

    Việc phân chia giới theo ngành nghề có nghĩa là nhà nước đang chỉ dựa vào một bộ phận dân số có trình độ học vấn để cung cấp kỹ năng và tay nghề kỹ thuật cao mà không tận dụng được hết nguồn nhân lực cũng như giải phóng sức lao động (Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000). Đầu tư chuyển đổi cơ cấu ngành nghề hợp lý cũng có thể được xem là một dạng của bảo trợ xã hội hữu ích trong bối cảnh toàn cầu hóa khi mà người lao động có thể được yêu cầu di chuyển từ nơi các lĩnh vực kinh tế đang đi xuống sang các lĩnh vực đang khởi sắc.

    Cần xây dựng các chính sách tích cực nhằm khuyến khích phụ nữ tham gia nhiều hơn vμo các lĩnh vực phi truyền thống vμ khắc phục các trở ngại để thăng tiến trong nghề nghiệp. Ví dụ như khuyến khích lao động nữ tham gia vào ngành xây dựng, công nghiệp sẽ đóng góp tích cực làm giảm sự chênh lệch về tiền công, tiền lương.

    Cần có những thay đổi lớn hơn nữa trong cơ cấu nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi. Cần tăng cường các chính sách khuyến khích lực lượng lao động chuyển sang các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Chính sách này không những phù hợp với xu thế toàn cầu hoá mà còn thúc đẩy bình đẳng giới trong mức lương cho lao động.

    Cũng cần tạo ra một môi tr−ờng bình đẳng cho nam giới vμ phụ nữ trong các công việc thuộc khu vực chính quy đ−ợc trả công nhằm giúp nam giới vμ phụ nữ trở thμnh những đối tác bình đẳng hơn trong thị tr−ờng lao động vμ ở gia đình. Tăng sự tiếp cận của phụ nữ tới việc lμm ở tất cả các khu vực vμ ngμnh nghề.

    Trong khi đóng góp về lực lượng lao động của khu vực công cũng đã giảm xuống so với khu vực tư nhân và tự kinh doanh, mức chênh lệch về mức tiền công ăn lương theo giới ở khu vực tư nhân lại tăng. Để dung hoà hai vấn đề: đóng góp cho nền kinh tế và bình đẳng giới trong thu nhập, một phần sẽ phải được điều chỉnh bằng luật doanh nghiệp 2005. Song phần lớn phải nhờ sự hỗ trợ của nhà nước, một mặt giám sát sự thực thi của luật pháp, mặt khác bổ sung những qui định nhằm bảo về quyền bình đẳng của người lao động.

    Ngoài ra, phụ nữ cần được đào tạo để họ có thể thành công trong một loạt lĩnh vực trong đó có những kỹ năng ít mang tính lý thuyết hơn chẳng hạn như là quản lý công việc kinh doanh, kỹ năng đàm phán, thương lượng tập thể, lãnh đạo và xây dựng lòng tin cho chính mình.

    4.2.3. Nâng cao chuyên môn, tay nghề lao động

    Vấn đề phát triển chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp nếu được chú trọng sẽ giúp cho người lao động có ưu thế ngoài thị trường lao động và có các cơ hội tìm được việc làm với đồng lương cao hơn. Trong đó lao động kỹ thuật cần được quan tâm và đào tạo, đặc biệt lao động kỹ thuật bậc cao. Cần có cơ chế và chế độ khuyến khích lao động nữ tham gia đào tạo lao động kỹ thuật và nâng cao tay nghề.

    Cần tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các lĩnh vực nghiên cứu kỹ thuật thông qua chỉ tiêu và học bổng cũng như là xóa bỏ việc hạn chế phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh vực và cấp giáo dục và đào tạo. Cần khuyến khích nhằm tăng tỷ lệ nữ sinh theo học các ngành kỹ thuật. Xác định tỷ lệ nhập học của phụ nữ trong các ngành kỹ thuật ở các trường dạy nghề và đại học. Trao học bổng và các suất thực tập cho nữ sinh các ngành kỹ thuật và đặc biệt là công nghệ cao. Tăng cường các biện pháp thu hút giáo viên nữ giảng dạy các ngành phi truyền thống trong tất cả các cấp thuộc hệ thống giáo dục và đào tạo.

    Tuy nhiên, sẽ là không đủ nếu chỉ đơn giản là mở rộng việc đào tạo và đảm bảo sự tham gia nhiều hơn của phụ nữ. Cần chú ý nhiều hơn đến nội dung đào tạo cho các nhóm khác nhau khi gia nhập thị trường lao động cũng như là cho những người đang làm việc. Đào tạo kỹ năng khác cho các nữ chủ doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ, khác với cho cán bộ nữ làm chuyên môn trong các khu vực công và tư nhân, cho những người làm công ăn lương bước vào những lĩnh vực mới của nền kinh tế. Tất cả đều sẽ cần các loại kỹ năng và kiến thức hiểu biết khác nhau.

    Các hoạt động hậu đào tạo cũng cần được tiến hành để đảm bảo rằng những khóa học này đạt được mục tiêu đề ra. Một hệ thống giám sát có thể sẽ giúp theo dõi những mẫu thử nam và nữ bước vào thị trường lao động sau khi họ đã hoàn thành những khóa học này.

    Nhìn chung, cần có những mối liên hệ rõ rệt hơn giữa công tác đào tạo cho cả nam và nữ và bản chất thay đổi của nền kinh tế và thị trường lao động. Một giải pháp thay thế có thể là cần có sự tham gia nhiều hơn của khu vực tư nhân trong thiết kế giáo trình và đào tạo. Công tác đào tạo cần chuẩn bị cho cả nam và nữ khả năng quản lý các công nghệ mới và cạnh tranh trong các lĩnh vực ngành nghề kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật bậc cao.

    Đảm bảo phụ nữ đ−ợc tiếp cận bình đẳng với các thông tin về công nghệ vμ các quy trình sản xuất mới. Đảm bảo phụ nữ có đ−ợc các nguồn lực kinh tế cần thiết để tiếp cận công nghệ. Cần phải kết nối các ch−ơng trình chuyển giao công nghệ với các ch−ơng trình tín dụng cho phụ nữ hiện nay.

    4.2.4. Về sức khoẻ và an toàn

    Việc giảm tỷ lệ nữ giới phải vào điều trị nội trú hay tăng cường sức khoẻ y tế cho nữ giới đóng góp phần nào làm giảm mức chênh lệch về thu nhập. Do vậy cần tăng cường khả năng tiếp cận của phụ nữ tới các hoạt động chăm sóc sức khoẻ. Tập trung chăm sóc sức khoẻ miễn phí cho phụ nữ. Tăng ngân sách y tế dành cho công tác phòng ngừa và chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở cấp xã ph−ờng. Các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cần phải phù hợp với nhu cầu đặc thù của phụ nữ, trong đó chú trọng công tác phòng ngừa.

    Truyền thông về phòng ngừa dịch bệnh và về nhu cầu sức khoẻ của phụ nữ. Sự tiếp cận của ng−ời nghèo và phụ nữ tới hoạt động chăm sóc sức khoẻ tăng lên. Tăng ngân sách dành cho các hoạt động phòng ngừa và chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Nâng cao nhận thức xã hội về các vấn đề sức khoẻ đặc thù của phụ nữ. Tăng sự tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhằm giải quyết các vấn đề sức khoẻ đặc thù của phụ nữ.

    Thu thập tài liệu và nâng cao nhận thức xã hội về phân công lao động, bố trí thời gian và hậu quả của làm việc quá tải giữa nữ và nam giới trong gia đình. Nâng cao nhận thức và năng lực của nam giới để họ có trách nhiệm bình đẳng với gia đình và với việc chăm sóc sức khoẻ con cái.

    4.2.5. Các gợi ý về độ tuổi lao động, phân bố lao động theo vùng

    Mặc dù phụ nữ – cũng như nam giới những người lao động chân tay có thể muốn được về hưu sớm, song cả nam và nữ đang làm những công việc nghiên cứu hay trí tuệ đều được coi là đạt đến độ chín về nghề ở lứa tuổi này. Người ta cũng chỉ ra rằng khả năng được đề bạt cũng như các cơ hội đào tạo và nâng cao khả năng chuyên môn của người phụ nữ bị hạn chế do thời gian công tác của họ ngắn hơn, do đó là tuổi nghỉ hưu nên thống nhất.

    Về khu vực địa lý, nhìn chung lao động ở khu vực duyên hải Bắc Trung bộ, Đồng bằng sông Hồng, Tây Bắc có mức thu nhập bình đẳng hơn giữa nam và nữ. Nếu có luồng di chuyển lao động nữ về các khu vực này sẽ có ảnh hưởng tích cực đến mức độ bình đẳng trong mức lương. Tuy nhiên việc thay đổi về phân bố lao động được phối hợp hợp lý với các chính sách khác như chính sách di dân, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng…

    4.2.6. Khuyến nghị nghiên cứu và hợp tác nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong mức lương và địa vị kinh tế

    Một nhu cầu đặc biệt cấp bách ở Việt Nam là điều tra lực lượng lao động được phân tách giới và có chất lượng cao nhằm bổ sung vào các điều tra hộ gia đình và doanh nghiệp. Điều tra lực lượng lao động cần quan tâm đầy đủ tới vấn đề mùa vụ, di cư, lao động trong các ngành không có thống kê và thu nhập. Các mô hình có thể cần được bổ sung để giải quyết những vấn đề cụ thể như là sự sẵn có của dịch vụ chăm sóc trẻ, trả lương tối thiểu và thông tin chi tiết về công việc nhà.

    Cần tiến hành nghiên cứu về tách biệt giới tính trong giáo dục và việc làm và ảnh hưởng của tách biệt giới đối với thị trường lao động. Tìm kiếm các biện pháp tăng sự tham gia của phụ nữ trong các ngành học và việc làm phi truyền thống.

    Tổ chức nghiên cứu về sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ trên thị trường lao động. Hình thành quy định hạn chế sự phân biệt đối xử về giới tính ở nơi làm việc, đặc biệt là trong tuyển dụng, đề bạt cũng như các hình thức thực thi luật pháp về lao động.

    Thiết lập cơ chế (thể chế và quy trình) cho việc hình thành và thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô có nhạy cảm giới: tăng cân bằng giới trong quá trình ra quyết định kinh tế vĩ mô; phân tích giới trong các lĩnh vực kinh tế chủ chốt (lao động, cơ chế khuyến khích, chỉ số thể hiện); tác động giới của các điều chỉnh kinh tế; tác động đến tiêu dùng, công việc không đ−ợc trả công. Thành lập nhóm hợp tác liên bộ và liên ngành (các nhà kinh tế, phân tích giới, chuyên gia các lĩnh vực) để xây dựng và vận động cho các kiến nghị lồng ghép giới vào khung chính sách kinh tế vĩ mô quốc gia.

    Về số liệu nghiên cứu, việc thiếu những dữ liệu phân tách giới đã được đề cập đến trong các cuộc tham vấn như là một hạn chế chính trong công tác nghiên cứu và ra quyết định. Một hoạt động có thể giúp khuyến khích và hướng dẫn công tác nghiên cứu ở Việt Nam là đánh giá những nỗ lực thu thập dữ liệu hiện nay của chính phủ, các nhà nghiên cứu và những đối tượng khác và sự sẵn có của những số liệu phân tách giới. Đánh giá này có thể được xuất bản định kỳ để giúp các nhà nghiên cứu, các nhà lập chính sách và xã hội dân sự và hướng dẫn những nỗ lực thu thập số liệu trong tương lai.

    Cần có sự phối hợp giữa Hội Phụ nữ cần phối hợp với Liên đoàn Lao động để tích cực tham gia giám sát việc thực thi các điều luật lao động. Phối hợp các chuẩn mực lao động mang tính nhạy cảm giới với các n−ớc ASEAN khác vμ vận động thμnh lập một cơ chế kiểm tra giám sát thông qua Tổ chức Th−ơng mại Thế giới.

    Phối hợp với Liên đoμn Lao động ở các n−ớc khác trong việc thúc đẩy ra đời điều luật quốc tế, tác động tới các Bộ Luật Lao động để đảm bảo tính nhạy cảm giới trong điều kiện lao động, sức khoẻ vμ an toμn, giờ lμm việc, quyền tổ chức vμ tham gia vμo các cuộc th−ơng l−ợng tập thể. Đào tạo và xây dựng năng lực cho Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam để làm tốt chức năng giám sát Luật Lao động và bảo vệ quyền của người lao động.

    Bên cạnh đó, cần tăng c−ờng năng lực dự báo thị tr−ờng lao động vμ phát triển nguồn nhân lực mang tính nhạy cảm giới, đảm bảo phụ nữ đ−ợc trang bị năng lực cần thiết để có thể tiếp cận bình đẳng các cơ hội về việc lμm, đặc biệt các lĩnh vực phát triển.

    Tóm lại, để hạn chế bất bình đẳng trong mức lương, cần phải phối hợp nhiều biện pháp cũng như có các chính sách thực hiện đồng bộ, đặc biệt tư tưởng truyền thống cũng cần có những thay đổi hợp lý hơn về vai trò của lao động nam và lao động nữ.

    1.2.Các phương pháp phân tích và đánh giá về bất bình đẳng giới trong thu nhập. 11

    Giáo dục, chuyên môn và đào tạo, những việc đều hướng tới nhu cầu của một nền kinh tế và một xã hội đang ngày một đổi mới, đều rất quan trọng nhưng cũng có một nhu cầu giải quyết những hình thức phân biệt đối xử hiện nay trong hệ thống pháp luật và giải quyết nhu cầu của những nhóm dễ bị tổn thương trong thị trường lao động.

    Bên cạnh đó, nâng cao hiểu biết tiến bộ về giới là một điều kiện tiên quyết quan trọng đối với nhiều ưu tiên chính sách. Bởi các chiến lược để thúc đẩy bình đẳng giới phải giải quyết những ý tưởng và định kiến lâu nay về quan hệ giới và chuẩn mực của nữ tính và nam tính trong xã hội. Những chiến lược nhằm thay đổi thái độ do đó phải đi cùng với những chiến lược thay đổi chính sách và phân bổ nguồn lực. Trong bối cảnh của Việt Nam, sẽ còn cần thời gian để có thể đưa ra những dấu hiệu và sự khích lệ cần thiết để giải quyết một số những thành kiến và định kiến này.

    Ưu điểm của đề tài là không chỉ dừng lại ở đánh giá ảnh hưởng của từng nhóm yếu tố mà còn phân tách ảnh hưởng theo từng yếu tố đối với sự bất bình đẳng trong lương. Đề tài mang lại thông tin cập nhật mới nhất về bức tranh bất bình đẳng trong vấn đề tiền lương tiền công với nhiều cấp bậc trình độ, chuyên môn, vùng miền khác nhau.

    Hạn chế của đề tài là do hạn chế về số liệu, chỉ có thời gian trong hai năm, nên chưa khai thác hết được ưu điểm của số liệu panel, nên chưa đánh giá được xu hướng bất bình đẳng trong dài hạn cũng như tính ổn định của các yếu tố ảnh hưởng. Do hạn chế về số liệu nên đề tài chưa phân tách đánh giá được lao động thuộc và không khu vực công. Không những thế, do bộ số liệu bản thân cũng chưa được xây dựng để làm công cụ phân tích về giới nên khó có thể tiếp cận so sánh đánh giá các yếu tố ảnh hưởng về tiếp cận nguồn lực, khả năng lãnh đạo và tham chính, …

    Hy vọng rằng những nghiên cứu sau sẽ khắc phục được những hạn chế trên để đưa ra những kiến nghị xác đáng hơn, đóng góp hơn nữa cho quá trình phát triển bền vững đặc biệt trong bối cảnh hội nhập đầy biến động đặc biệt khi Việt Nam đã trở thành một thành viên của WTO.

    (MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tuyên Truyền Bình Đẳng Giới Và Phòng Chống Bạo Lực Giới Cần Đồng Bộ Giữa Nhà Trường, Gia Đình Và Xã Hội
  • Bình Đẳng Giới Trong Gia Đình
  • Kính Cận Chơi Đá Bóng Chính Hãng, Giá Tốt. Giao Hàng Toàn Quốc.
  • Tư Vấn Mua Kính Cận Đá Bóng
  • Kính Đá Bóng Cho Người Cận Thị
  • Chuyên Đề Giải Pháp Cho Vấn Đề Tăng Trưởng Kinh Tế Và Giảm Bất Bình Đẳng Thu Nhập

    --- Bài mới hơn ---

  • Thư Viện Góp Phần Giảm Thiểu Bất Bình Đẳng Xã Hội
  • Các Giải Pháp Giảm Bội Chi
  • Giảm Bội Chi: Giải Pháp Đã Có, Chờ Quyết Tâm
  • Các Giải Pháp Giảm Bội Chi, Kiềm Chế Nợ Công Phình To
  • Giải Pháp Nào Cắt Giảm Chi Phí Logistics Tại Việt Nam?
  • 1.1. Tăng trưởng kinh tế 2

    1.1.1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế 2

    1.1.2. Đo lường tăng trưởng kinh tế 2

    1.2. Phân phối thu nhập và cách đo lường phân phối thu nhâp 2

    1.2.1. Khái niệm phân phối thu nhập và bất bình đẳng thu nhập 2

    1.2.2. Nguyên nhân gây nên tình trạng bất bình đẳng thu nhập 3

    1.2.3. Thước đo về bất bình đẳng thu nhập 4

    1.3. Lý thuyết về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng trong phân phối thu nhập 6

    1.3.1. Lý thuyết học thuyết kinh tế cổ điển 6

    1.3.2. Lý thuyết của Mac 7

    1.3.3. Lý thuyết của Keynes 8

    1.3.4. Lý thuyết của trường phái “sau Keynes” và kinh tế vĩ mô hiện đại 9

    1.3.4.1. Lý thuyết của trường phái “sau Keynes” 9

    1.3.4.2. Lý thuyết của A.Lewis 9

    1.3.4.3. Mô hình chữ U ngựơc của Simon Kuznet 10

    1.3.5. Lý thuyết của các nhà kinh tế học hiện đại 11

    1.3.6. Nhận xét chung về mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập. 14

    CHƯƠNG 2: Thực trạng tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập của Việt Nam 16

    2.1. Thực trạng tăng trưởng kinh tế 16

    2.1.1. Thành tựu về tăng trưởng kinh tế 16

    2.1.2. Những mặt hạn chế của tăng trưởng kinh tế 23

    2.2. Thực trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam 24

    2.3. Đánh giá mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam 25

    2.3.1. Tăng trưởng kinh tế góp phần giảm bất bình đẳng thu nhập 25

    2.3.2. Tăng trưởng kinh tế cao kéo theo tình trạng bất bình đẳng thu nhập gia tăng. 32

    2.3.2.1. Tăng trưởng kinh tế cao gây nên bất bình đẳng thu nhập gia tăng. 32

    2.3.2.2. Nguyên nhân 40

    CHƯƠNG 3: Giải pháp cho vấn đề tăng trưởng kinh tế và giảm bất bình đẳng thu nhập 43

    3.1. Quan điểm của Đảng và nhà nước về vấn đề tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập 43

    3.2. Các giải pháp cho tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo 44

    3.3. Khuyến nghị 50

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

    CN 11.24 11.36 13.11 17.9 DV 15.74 17.38 21.8 25.3 Nguồn: Tổng cục thống kê Có thể thấy cơ cấu lao động chia theo ngành kinh tế đã có những chuyển biến tích cực, lao động dần chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ. Cơ cấu lao động (NN-CN-DV) chia theo ngành kinh tế giữa các vùng cũng có sự chuyển biến tích cực. Mặc dù vậy trong số các vùng, Đông Nam bộ vẫn là vùng có cơ cấu lao động tiến bộ nhất (27.8%, 30.9%, 41.3%), lạc hậu nhất là vùng Tây bắc (84.9%, 5.2%%, 9.9%) và Tây Nguyên (72.9%, 8.1%, 19%) Chia theo loại hình kinh tế, nhờ những chính sách khuyến khích phát triển kinh tế nhiều thành phần, phát triển khu vực kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo nên sự dịch chuyển lao động theo thành phần kinh tế. Cho đến năm 2005 cả nước có 4413 nghìn người làm việc ở khu vực Nhà nước, chiếm 10.2%, 38355.7 nghìn người làm việc ở khu vực ngoài Nhà nước, chiếm 88.2% còn lại là số người làm việc ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Có thể thấy cơ cấu lao động chia theo thành phần kinh tế đã có sự chuyển dịch từ khu vực kinh tế Nhà nước sang khu vực kinh tế ngoài nhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. – Về đầu tư Cho đến năm 2008, vốn đầu tư toàn xã hội theo giá thực tế ước tính đạt 673.3 nghìn tỷ đồng, bằng 43.1% GDP và tăng 22.2% so với năm 2007. Khu vực nhà nước có vốn đầu tư là 28.9% và giảm 11.4%, khu vực ngoài nhà nước là 263 nghìn tỷ đồng chiếm 41.3% và tăng 42.7%, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 189.9 nghìn tỷ đồng chiếm 29.8%và tăng 46.9% (so với năm 2007). Có thể thấy vốn đầu tư giữ một vai trò quan trọng trong kết quả tăng trưởng kinh tế của nước ta trong những năm vừa qua. Bảng 4: Cơ cấu vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế tổng số Kinh tế nhà nước Kinh tế ngoài nhà nước Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Tỷ đồng % Tỷ đồng % Tỷ đồng % Tỷ đồng % 1995 72447 100 30447 42 20000 27.6 22000 30.4 2000 151183 100 89417 59.1 34594 22.9 27172 18 2005 343135 100 161635 47.1 130398 38 51102 14.9 2006 404712 100 185102 45.7 154006 38.1 65604 16.2 2007 532093 100 197989 37.2 204705 38.5 129399 24.3 2008 637376 100 184435 28.9 263081 41.3 189960 29.8 Nguồn: Tổng cục thống kê Cơ cấu vốn đầu tư đã có sự dịch chuyển đáng kể. Đầu tư cho khu vực kinh tế nhà nước có xu hướng giảm dần từ 42% năm 1995 xuống còn 28.6% năm 2008, thay vào đó là đầu tư cho khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng lên hơn 40% trong năm 2008 và giữ một vị trí quan trọng trong cơ cấu vốn đầu tư. Nhờ Đảng và nhà nước ta tạo điều kiện thông thoáng, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào những lĩnh vực ưu tiên, sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại nhằm phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; ưu tiên đầu tư vào địa bàn miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, kinh tế tăng trưởng khá ; thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng và đạt kết quả cao. Nếu tính nguồn vốn đăng ký thì năm 2008 đã thu hút được nguồn vốn lên tới 64 tỷ USD, gấp 3 lần so với năm 2007. Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt 11.5 tỷ USD, tăng 43.2% so với năm 2007. Mặc dù khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đang đóng góp ngày càng tăng vào tăng trưởng và kết quả đầu tư đã tạo ra giá trị gia tăng cao hơn, nhưng đầu tư của khu vực này vẫn tập trung trong một số ngành dựa vào khai thác tài nguyên như dầu khí và một số ngành tập trung vốn, được bảo hộ cao như lắp ráp ô tô, xe máy, sản xuất thép, xi măng. – Về xuất nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện cho Việt Nam phát triển, mở rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế, tăng kim ngạch xuất nhập khẩu. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thời kỳ 1991-1995 là 39.88 USD Nhưng hai năm 1996-1997 đã là 38.55 tỷ USD. Và cho đến năm 2008 đã nhanh chóng tăng lên 136.6 tỷ USD, gấp 3.5 lần so với thời kỳ năm 1996-1997. Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu ở Việt Nam Nguồn: Tổng cục thống kê Năm 2000 kim ngạch ngoại thương chỉ đạt 30 tỉ USD trong đó xuất khẩu đạt 14.4 tỉ USD, kim ngạch nhập khẩu là 15.6 tỷ USD thì đến năm 2006 chỉ tiêu này đã tăng lên đến 80 tỉ USD trong đó xuất khẩu đạt 39.6 tỉ USD, năm 2007 là 106.7 tỷ USD trong đó xuất khẩu đạt 45.4 tỷ USD, năm 2008 là 136.6 tỷ, xuất khẩu đạt 58.2 tỷ, nhập khẩu là 78.4 tỷ. Do tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu nhanh hơn tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu nên tỷ lệ nhập siêu giảm xuống. Mặt hàng xuất khẩu đa dạng và chất lượng hàng xuất khẩu được chú ý nâng cao theo yêu cầu của từng thị trường xuất khẩu. Chất lượng hàng xuất khẩu đã nâng lên đáng kể, bước đầu tạo ra sức cạnh tranh sức cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường thế giới đồng thời gây tác động tích cực tới chất lượng sản phẩm sản xuất trong nước. Ngoài các mặt hàng như gạo, cà phê, thuỷ sản vốn là những mặt hàng xuất khẩu chủ đạo, Việt Nam đã xuất khẩu các mặt hàng về may mặc, giày dép, một số mặt hàng điện tử, đồ gia dụng…Và ngày càng cố gắng hơn để đáp ứng được nhu cầu của các nước trên thế giới. Xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực ngoài nhà nước đã có mức tăng trưởng nhanh và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Mở rộng quan hệ quốc tế giúp Việt Nam thu hút được khoản vốn đầu tư nước ngoài lớn lên tới 16 tỉ USD chiếm 20% GDP (năm 2007), tạo nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế, phát triển ngành nghề, tạo công ăn việc làm cho người dân. Từ đó góp phần cải thiện thu nhập của người dân. 2.1.2. Những mặt hạn chế của tăng trưởng kinh tế Mặc dù tăng trưởng Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận nhưng trong đó không phải là không có những thiếu sót đáng lưu tâm. – Chất lượng tăng trưởng còn thấp. Nước ta trong thời gian qua mặc dù đã có nhiều biến chuyển tích cực xong nó vẫn là quá chậm để có thể rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt trong năm 2008 nền kinh tế nước ta đã phải chống đỡ với một cơn khủng hoảng kinh tế mới, lạm phát tăng cao, nền kinh tế có dấu hiệu giảm sút trong năm 2009, điều này chứng tỏ kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều yếu điểm, dễ rơi vào khủng hoảng, suy thoái. Kinh tế tăng trưởng chủ yếu là theo chiều rộng, chủ yếu nhờ vào sự đóng góp của nguồn nhân lực rồi dào và từ nguồn vốn, yếu tố công nghệ còn chiếm một tỷ trọng thấp trong tăng trưởng kinh tế. Bảng 5: Đóng góp của các yếu tố đầu vào trong tăng trưởng GDP theo tỷ lệ % thời kỳ 1993-1997 1998-2002 2003-2006 Vốn 69.3 57.4 52.73 Lao động 15.9 20.0 19.07 TFP 14.8 22.6 28.2 Nguồn: Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương và Thời báo kinh tế Việt Nam Mặc dù chất lượng tăng trưởng đã được cải thiện, mức độ đóng góp của yếu tố tổng hợp TFP trong GDP đã tăng lên từ 14.8% (thời kỳ 1993-1997) lên 28.2% (thời kỳ 2003-2006), tuy nhiên tăng trưởng do yếu tố vốn và lao động vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn, chiếm tới gần 3/4 tỷ trọng đóng góp vào tăng trưởng GDP. So sánh với các nước trong khu vực thì tỷ lệ đóng góp của TFP vào tăng trưởng hàng năm của Việt Nam còn thấp hơn rất nhiều, như Thái Lan tỷ lệ này là 35%, của Philippin là 41%, của Indonesia là 43%. Thu nhập bình quân đầu người của nước ta đã được cải thiện nhiều nhưng nó vẫn ở mức thấp, thấp hơn nhiều so với các nước trên thế giới. Mức lương tối thiểu năm 2008 mới chỉ ở mức 540.000 đồng/tháng. Bên cạnh đó nền kinh tế liên tục gặp những khó khăn và thách thức lớn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới và do tự chính bản thân nền kinh tế trong năm 2008 và 2009 đã khiến cho đời sống nhân dân trở nên bấp bênh, đặc biệt là đối với tầng lớp dân nghèo. – Chất lượng đầu tư còn thấp. Hệ số ICOR của năm 2007 vẫn còn cao, lên tới 4.9. Điều này chứng tỏ chất lượng đầu tư, sử dụng vốn còn thấp, chưa hiệu quả, vẫn gây lãng phí nguồn lực. Tiền tiết kiệm trong dân chưa được huy động hết mức, vẫn còn xảy ra tình trạng người muốn đầu tư sản xuất kinh doanh thì thiếu vốn còn người có vốn thì lại để trong tình trạng đóng băng. – Tăng trưởng cao nhưng sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu. Khả năng cạnh tranh của hầu hết các sản phẩm hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới còn yếu. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặt Việt Nam trước nhiều thách thức. Trong khi năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước vẫn còn thấp, chất lượng hàng hoá còn kém thì lại phải liên tục đáp ứng nhu cầu ngày càng cao từ phía thị trường thế giới và phải cạnh tranh với sản phẩm hàng hoá của nước ngoài với chất lượng tốt đang xâm nhập vào thị trường nội địa. 2.2. Thực trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam – Về hệ số Gini. Mặc dù kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ cao, thu nhập bình quân đầu người đã được cải thiện nhưng cùng với tốc độ tăng trưởng cao là sự gia tăng bất bình đẳng. Đầu tiên ta sẽ đi xem xét sự thay đổi hệ số Gini của Việt Nam trong những năm gần đây. Bảng 6: Hệ số Gini của Việt Nam Năm 1993 1998 2002 2004 2006 Gini theo thu nhập 0.35 0.39 0.42 0.41 0.43 Gini theo chi tiêu 0.34 0.35 0.37 0.37 0.36 Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam Có thể thấy tăng trưởng kinh tế cao nhưng đi cùng với nó là sự gia tăng về hệ số Gini. Hệ số Gini tính theo thu nhập và theo chi tiêu của cả nước luôn ở mức cao, biểu hiện tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở nước ta là khá lớn. – Chênh lệch thu nhập các nhóm giàu nghèo Biểu đồ 3: Mức độ gia tăng hệ số chênh lệch thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất ở Việt Nam. Nguồn: Tổng cục thống kê Thu nhập giữa các nhóm dân cư cũng phát sinh tình trạng chênh lệch. Nếu phân chia dân cư theo mức thu nhập thành 5 nhóm, mỗi nhóm chiếm 20% dân số đất nước theo mức thu nhập bình quân đầu người. Hệ số chênh lệch giàu nghèo ở nước ta qua các năm có xu hướng tăng dần, và đang ở mức đáng lo ngại năm 1990 hệ số này là 4.1 lần, năm 1996 tăng lên 7.3 lần và đến năm 2006 đã là 8.4 lần. Dựa vào những chỉ tiêu trên ta có thể thấy tình trạng bất bình đẳng phân phối thu nhập nước ta ngày càng gia tăng và trở nên nghiêm trọng. Đây là một vấn đề vô cùng bức xúc và cần có biện pháp tháo gỡ để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế, giảm bất bình đẳng thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội. 2.3. Đánh giá mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam 2.3.1. Tăng trưởng kinh tế góp phần giảm bất bình đẳng thu nhập – Gảm tỷ lệ nghèo đói Xoá đói giảm nghèo được coi là một trong những thành công lớn nhất của quá trình phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam. Bảng 7: Tỷ lệ nghèo của Việt Nam theo ngưỡng “1USD/ngày và 2USD/ngày” Năm chi tiêu bình quân đầu người(USDPPP/tháng) tỷ lệ dân số sống dưới mức 1USD/ngày(PPP)% 2USD/ngày(PPP)% 1990 41.7 50.8 87.0 2000 71.3 15.2 63.5 2004 85.5 10.6 53.4 Nguồn: www. Worldbank. chúng tôi Sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người đã giúp cho khoản chi tiêu của người dân được đảm bảo nhiều hơn, và tăng lên đáng kể, góp phần giảm mạnh tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo khổ. Tỷ lệ dân số sống dưới mức 1USD/ngày và dưới mức 2USD/ngày đã giảm từ 50.8% và 87.0% trong năm 1990 xuống còn 10.6% và 53.4% năm 2004. Trong những năm qua tăng trưởng kinh tế cũng đã góp phần làm giảm tỷ lệ nghèo đói. Nếu như tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo khổ (1USD/ngày) năm 1993 là 58% thì đến năm 2006 giảm xuống còn 16% , 34 triệu người thoát khỏi cảnh nghèo, tỷ lệ người nghèo giảm đi rõ rệt. Biểu đồ 4: Tỷ lệ nghèo chung của cả nước Nguồn: Tổng cục thống kê. Nhờ có tăng trưởng kinh tế cao, hàng năm, số tiền đóng góp, hỗ trợ người nghèo từ ngân sách nhà nước và từ đóng góp của các cá nhân, xí nghiệp là khá lớn. Nhờ vậy tỷ lệ người dân nghèo được hỗ trợ vốn để phát triển sản xuất, thoát khỏi cảnh nghèo ngày càng tăng, người nghèo được hỗ trợ, có thể tự lo liệu cho cuộc sống của họ, đời sống dần được cải thiện, tỷ lệ người nghèo giảm đi rõ rệt. Giảm nghèo cả ở khu vực thành thị lẫn nông thôn, khu vực thành thị, tỉ lệ người nghèo giảm xuống còn 4%, khu vực nông thôn nếu năm 1993 2/3 dân số nông thôn được coi là nghèo thì đến năm 2006 chỉ còn 1/5. – Giảm tỷ lệ thất nghiệp. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển các ngành nghề đã giúp giải quyết được một lượng lớn lao động thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp giảm đáng kể. Kể từ năm 2006 đến nay, cả nước đã tạo việc làm cho 4.7 triệu người, năm 2008 là 1.35 triệu người, tỷ lệ thất nghiệp giảm đi rõ rệt nhờ những chính sách tạo việc làm cho người lao động như cho các doanh nghiệp, xí nghiệp kinh doanh vay vốn mở rộng sản xuất, tạo việc làm cho người lao động, chính sách xuất khẩu lao động, chính sách đào tạo nghề, nâng cao trình độ tay nghề, trình độ kĩ thuật cho người lao động, tăng cơ hội tìm kiếm việc làm cho họ… Chính sách xuất khẩu lao động bình quân mỗi năm đưa được 83 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài (chiếm 5% số lao động được giải quyết việc làm của cả nước). Đến nay có khoảng 500 nghìn lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài, hàng năm gửi về nước khoảng 1.6-2 tỷ USD. Chất lượng lao động xuất khẩu được cải thiện. Biểu đồ 5: Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động khu vực thành thị. Nguồn: Tổng cục thống kê Nhờ có tăng trưởng kinh tế cao, sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, sự mở rộng của dịch vụ, đa dạng hoá các ngành nghề trong nông nghiệp đã tạo thêm nhiều chỗ làm mới và tăng thêm việc làm cho người lao động, bình quân hàng năm giải quyết việc làm cho 1.2-1.4 triệu người, tỷ lệ thất nghiệp cả ở thành thị và nông thôn có xu hướng giảm đi. – Cải thiện đời sống dân cư: điện, nước sinh hoạt, đầu tư cơ sở hạ tầng Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới đã đạt được những thành tựu đáng kể, tốc độ tăng trưởng cao và khá ổn định, thu nhập bình quân đầu người đã vượt khỏi ngưỡng của các nước đang phát triển có mức thu nhập thấp, tiến tới là một nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình. Tăng trưởng kinh tế cao, từ đó mức sống hộ gia đình được cải thiện đáng kể. Chi tiêu của các hộ gia đình cũng tăng lên theo các năm, chi tiêu của các hộ gia đình năm 2002 tăng 21.3% so với năm 1999, tăng trung bình 8.6%/năm. Năm 2004 chi tiêu của các hộ gia đình tăng 35.1% so với năm 2002, và tốc độ tăng chi tiêu của năm 2006 so với năm 2004 là 28.8%. Đây là tốc độ tăng khá, và lại trở thành một trong những nguyên nhân góp phần làm kinh tế tăng trưởng cao trong những năm gần đây. Trong cơ cấu chi tiêu; phần chi cho ăn uống giảm từ 63% năm 1999 xuống còn 56.7% năm 2001-2002, chi cho mua xắm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng từ 3.8% lên 8%, chi cho y tế tăng từ 4.6% lên 5.7%, cho giáo dục tăng từ 4.6% lên 6.2%, chi cho đi lại và bưu điện tăng từ 6.7% lên 10%. Và cho đến năm 2006 chi cho ăn uống chỉ còn chiếm 47.5%, chi cho mua xắm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng lên 9.2%, chi cho y tế, giáo dục cũng tăng lên. Điều này chứng tỏ mức sống của người dân đã được cải thiện, chi tiêu không chỉ là chăm lo cho nhu cầu ăn uống đơn thuần mà còn chăm lo đến sức khoẻ và các nhu cầu sinh hoạt khác. Số hộ có nhà kiên cố đạt 17.2%, bán kiên cố là 58.3%, nhà tạm, nhà khác là 24.6%. Năm 2006 tỷ lệ hộ có nhà kiên cố tăng lên 23.7%, bán kiên cố là 60.3%, nhà tạm, nhà khác chỉ còn lại 16%. Hộ có đồ dùng lâu bền đạt 96.9%, rất nhiều hộ có đồ dùng có giá trị như ô tô, xe máy… Các điều kiện cơ sở hạ tầng – điện, nước sạch và vệ sinh- đều đã được cải thiện một cách đáng kể. Nếu trong năm 1993, chỉ có 48% tổng số dân được sử dụng điện làm nguồn chiếu sáng chính tỉ lệ này tăng gần gấp đôi vào năm 2004, 94%. Tỉ lệ dân số được sử dụng nước sạch tăng lên 3 lần so với cùng thời kỳ, tăng từ 26% năm 1994 lên 88% năm 2004. Trong lĩnh vực vệ sinh tình hình cũng được cải thiện một cách tích cực: tỉ lệ dân số có hố xí hợp vệ sinh tăng từ 10% năm 1993 lên 32% năm 2004. Bảng 8: Một số chỉ tiêu phi thu nhập của người dân (1993 – 2004) Các chỉ tiêu phi thu nhập 1993 1998 2002 2004 Cơ sở hạ tầng % dân số nông thôn có trung tâm y tế công cộng 93 97 % dân số được sử dụng nước sạch 26.2 40.6 48.5 58.58 % dấn số có nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn vệ sinh 10.4 17 25.3 31.8 % dân số sử dụng điện là nguồn thắp sáng chính 49 78 87 93 Tỉ lệ sở hữu các mặt hàng tiêu dùng có giá trị % Hộ gia đình có đài 40 47 25.56 19.48 % Hộ gia đình có tivi 22.19 55.71 67.89 78.05 % Hộ gia đình có xe đạp 64.83 72.88 68.66 69.52 % Hộ gia đình có điện thoại – 6.93 13.43 21.32 % Hộ gia đình có xe máy 10.67 20.31 40.36 45.04 Nguồn: TCTK, Điều tra mức sống dân cư 1993 đến 2004 Số liệu về sở hữu của các hộ gia đình đối với các mặt hàng tiêu dùng lâu bền như đài, tivi, xe đạp, xe máy v.v…. cũng khẳng định thêm về những cải thiện quan trọng trong mức sống của người dân. Nếu tỉ lệ các hộ gia đình sở hữu các loại đài giảm từ 40% trong năm 1993 xuống còn 19% năm 2004, thì con số về sở hữu vô tuyến truyền hình trong các hộ gia đình lại tăng đáng kể, từ 22% năm 1993 lên đến 78% năm 2004 hay nói một cách khác tăng lên 3,5 lần. Sở hữu xe máy cũng gia tăng rõ rệt và từ một mặt hàng xa xỉ mà cứ 10 gia đình mới có 1 chiếc trong năm 1993, xe máy đã trở thành mặt hàng bình dân có mặt trong 45% các hộ gia đình vào năm 2004. Nếu trong năm 1998, chỉ có 7% các hộ gia đình có điện thoại, thì sáu năm sau, năm 2004, cứ 5 gia đình thì có 1 gia đình có điện thoại. Những con số này một lần nữa khẳng định rằng tăng trưởng kinh tế cao góp phần cải thiện đời sống của người dân. – Cải thiện phúc lợi xã hội và dịch vụ công Phúc lợi xã hội cho người nghèo được cải thiện, rất nhiều hộ nghèo được hưởng lợi từ các chương trình hỗ trợ, ưu đãi của chính phủ như chương trình ưu đãi tín dụng cho người nghèo, chương trình miễn giảm học phí cho người nghèo, dân tộc thiểu số, v.v… Bảng 9: Tỷ lệ hộ nghèo theo bình chọn của địa phương được hưởng lợi từ các dự án chính sách của chương trình 135 và chương trình 143 năm 2006 chia theo thành thị, nông thôn và vùng Tỷ lệ hộ được hưởng lợi Tổng số chia theo nguồn lợi Tín dụng ưu đãi cho người nghèo Miễn giảm chi phí khám chữa bệnh Miễn giảm học phí cho người nghèo Dạy nghề cho người nghèo Cấp đất cho dân tộc thiểu số Khuyến nông Giúp đỡ nhà ở, đất ở cho người nghèo Nước sạch cho người nghèo Cả nước 90.2 39.5 80.9 49.5 4.1 3.9 18.3 10.8 9.6 Thành thị – Nông thôn Thành thị 89.9 40.6 76.6 40.9 2.9 1.8 6.8 7.9 5.7 Nông thôn 90.3 39.3 81.5 50.6 4.2 4.2 19.8 11.2 10.1 Chia theo vùng ĐBSH 84.9 29.7 75.5 33.3 3.5 1.8 8.1 6.1 2.3 Đông Bắc 89.2 46.9 77.1 51.6 2.0 3.5 33.9 10.1 11.5 Tây Bắc 91.6 37.3 83.9 62.4 2.1 6.2 41.4 16.9 26.9 Bắc Trung bộ 90.4 45.0 80.7 51.8 5.9 4.4 23.1 8.3 7.6 Duyên hải NTB 92.6 30.3 87.5 45.9 3.9 6.7 17.8 12.5 11.7 Tây Nguyên 95.8 39.1 90.6 69.0 2.4 7.2 16.3 12.9 12.7 Đông Nam bộ 89.0 47.4 74.1 42.7 4.2 3.9 9.4 8.6 8.7 ĐBSCL 91.6 35.5 82.1 50.9 4.9 2.0 7.6 15.9 10.5 Nguồn:Tổng cục thống kê Có thể thấy nhờ có tăng trưởng kinh tế cao mà phúc lợi xã hội đã được cải thiện đáng kể, tỷ lệ người nghèo nhận được hỗ trợ từ các chương trình ưu đãi của chính phủ là những con số đáng kể. Các chính sách hỗ trợ được phân bổ nhiều hơn cho khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa. Tỷ lệ người dân nghèo ở khu vực miền núi, khu vực còn khó khăn, chậm phát triển nhận được hỗ trợ từ chính phủ ngày càng tăng. Ngoài những chính sách hỗ trợ trên, vấn đề tăng trưởng kinh tế góp phần làm giảm bất bình đẳng thu nhập còn được thể hiện ở các chỉ tiêu sau: – Đầu tư cho giáo dục Nhờ có tăng trưởng kinh tế cao mà đầu tư cho giáo dục rất được quan tâm. Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục tăng liên tục, trung bình đạt 15,8% so với tổng chi giai đoạn 1996-2000 và đạt 18,25% tổng chi ngân sách giai đoạn 2001-2005, trong đó khoảng 70% là chi thường xuyên ( 2001-2005). Giai đoạn 1996-2000, vốn đầu tư cho giáo dục đã thực hiện là 15,4 nghìn tỉ đồng, trong đó vốn ngân sách chiếm 54,4%. Ngoài ra, Chính phủ cũng thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển giáo dục năm 2001-2005 huy động từ nhiều nguồn vốn khác nhau, trong đó khoảng 30% từ Ngân sách Nhà nước. Để tăng vốn đầu tư cho giáo dục, Chính phủ đã thực hiện chính sách xã hội hoá và huy động đầu tư của khu vực ngoài quốc doanh bằng cách đa dạng hóa người cung cấp dịch vụ, cho phép hình thành khu vực trường ngoài công lập. Trong những năm qua tình hình chất lượng giáo dục – đào tạo của Việt Nam đã được cải thiện và nâng cao rõ rệt. Cho đến năm 2000 đã gần như phổ cập xong giáo dục tiểu học, tiến đến những bước đầu tiên của phổ cập trung học cơ sở. Kết thúc năm học 2007-2008, cả nước có 1356.1 nghìn học sinh hoàn thành cấp tiểu học, 1381.3 nghìn học sinh được cấp bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, 886.7 nghìn học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông, tỷ lệ tốt nghiệp đạt 86.6% và 103.6 nghìn học sinh tốt nghiệp bổ túc trung học, tỷ lệ tốt nghiệp đạt 67.4%. Đặc biệt, sự phát triển nhanh chóng của các cơ sở giáo dục kỹ thuật, đào tạo đại học và cao đẳng cùng với việc tăng chi phí ngân sách giáo dục – đào tạo cũng như chính sách và giải pháp hỗ trợ cho các địa phương nghèo, hộ nghèo, tạo điều kiện cho lao động thành thị và nông thôn, các đối tượng dân tộc thiểu số, cả người giàu và người nghèo đều có thể được tiếp cận các chương trình đào tạo. Nhờ vậy số lượng học sinh, sinh viên và các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp tăng lên nhanh chóng. Trong năm học 2007-2008, số trường đại học trên toàn quốc tăng 15.1% so với năm học trước, số trường cao đẳng tăng 14.2%, số sinh viên đại học và cao đẳng tăng 4.1%, số học sinh trung cấp chuyên nghiệp tăng 19%. Công tác đào tạo nghề cũng đạt kết quả khá, năm 2008, cả nước đã tuyển mới được 1538 nghìn học sinh vào các hệ học nghề, tăng 17% so với năm 2007, trong đó cao đẳng nghề là 60 nghìn học sinh, tăng 103%, trung cấp nghề là 198 nghìn học sinh, tăng 31%. Kết quả đào tạo nghề tăng khá một phần do chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục đào tạo đã giành kinh phí 1 nghìn tỷ đồng cho dự án tăng cường năng lực đào tạo nghề, trong đó 157 tỷ đồng hỗ trợ dạy nghề cho các đối tượng là lao động nông thôn, thanh niên dân tộc thiểu số và người tàn tật. – Về y tế Những kết quả đã đạt được về tăng trưởng kinh tế cũng đã mang lại những thay đổi quan trọng đối với lĩnh vực y tế. Chất lượng dịch vụ y tế cũng đã được cải thiện đáng kể. Hệ thống y tế tạo điều kiện cho tất cả mọi người được hưởng thụ các dịch vụ khám chữa bệnh, số cơ sở khám chữa bệnh, số giường bệnh, số cán bộ y tế cho một vạn dân đã tăng lên. Bảng 10: Một số chỉ tiêu về hệ thống y tế tại Việt Nam 2000 2003 2005 2007 số cơ sở khám chữa bệnh 13117 13162 13243 13438 số giường bệnh (nghìn giường) 192.0 192.2 197.2 210.8 Nhờ đó, những chỉ tiêu về sức khoẻ người dân Việt Nam được nâng cao rõ rệt trong những năm qua. tuổi thọ bình quân được nâng lên, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cũng giảm đi rõ rệt. Nhờ có tăng trưởng kinh tế cao, nguồn thu ngân sách được ổn định mà phần chi ngân sách cho trợ cấp, các dịch vụ công, đảm bảo an sinh xã hội được nhiều hơn. Năm 2008 Nhà nước đã chi 42.3 nghìn tỷ đồng cho trợ giá dầu hoả cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng chưa có điện thắp sáng, trợ giá dầu cho ngư dân đánh bắt cá xa bờ, chi bảo trợ xã hội, giúp người nghèo mua thẻ bảo hiểm y tế…Nhờ đó đời sống của người dân được ổn định hơn rất nhiều. 2.3.2. Tăng trưởng kinh tế cao kéo theo tình trạng bất bình đẳng thu nhập gia tăng. 2.3.2.1. Tăng trưởng kinh tế cao gây nên bất bình đẳng thu nhập gia tăng. Trong quá trình thực hiện đổi mới cơ chế kinh tế, thành tựu tăng trưởng kinh tế, và nỗ lực cải thiện vấn đề bất bình đẳng thu nhập của Việt Nam như ta đã thấy ở trên là đáng ghi nhận. Tuy nhiên, những điều đã nói ở trên vẫn chưa phản ánh đúng, đủ về thực trạng tác động của tăng trưởng kinh tế tới bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam. Cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế thì tình trạng bất bình đẳng thu nhập lại có chiều hướng gia tăng, khoảng cách thu nhập giữa các vùng, các tầng lớp dân cư ngày càng lớn, phân hoá giàu nghèo ngày càng gay gắt. – Về hệ số Gini Tăng trưởng kinh tế cao nhưng bất bình đẳng thu nhập gia tăng. Tình trạng bất bình đẳng thu nhập của cả nước tăng cao. Không những thế tình trạng bất bình đẳng thu nhập còn có sự khác biệt giữa các vùng, giữa khu vực thành thị và nông thôn. Bất bình đẳng xảy ra nghiêm trọng hơn ở khu vực thành thị, hệ số Gini ở thành thị luôn cao hơn so với nông thôn và giữa các vùng mức độ bất bình đẳng thu nhập cũng rất khác nhau. Bảng 11: Hệ số Gini chia theo thành thị – nông thôn và vùng. 2002 2004 Thành thị 0.41 0.41 Nông thôn 0.36 0.37 Vùng ĐB sông Hồng 0.39 0.39 Đông Bắc 0.36 0.39 Tây Bắc 0.37 0.38 Bắc Trung bộ 0.36 0.36 Duyên hải Nam Trung bộ 0.35 0.37 Tây Nguyên 0.37 0.4 Đông Nam bộ 0.42 0.43 ĐB sông Cửu Long 0.39 0.38 Nguồn: Tổng cục thống kê Hệ số Gini ở thành thị cao hơn hệ số Gini ở nông thôn, điều này chứng tỏ có sự chênh lệch mức độ bất bình đẳng thu nhập giữa thành thị và nông thôn. Ở khu vực thành thị, nơi mà kinh tế phát triển hơn rất nhiều so với khu vực nông thôn thì tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở đó cũng lại cao hơn so với ở nông thôn. Tình trạng bất bình đẳng thu nhập giữa các vùng cũng có sự khác bi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Bất Bình Đẳng Thu Nhập Tại Việt Nam
  • Bất Bình Đẳng Cơ Hội Và Bất Bình Đẳng Thu Nhập
  • Kiểm Soát Chặt Chi Tiêu Công, Kéo Giảm Bội Chi Ngân Sách
  • Tiếp Tục ‘kéo’ Giảm Bội Chi Ngân Sách
  • Đồng Bộ Giải Pháp Kiểm Soát Và Giảm Dần Bội Chi Ngân Sách
  • Phân Phối Thu Nhập Ở Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • 10 Đề Tài Liên Quan Đến Bất Bình Đẳng Được Quan Tâm Tại Việt Nam
  • Quản Lý Phát Triển Xã Hội Về Bất Bình Đẳng, Phân Tầng Xã Hội Ở Nước Ta Trong Điều Kiện Phát Triển Kinh Tế Thị Trường, Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Và Hội Nhập Quốc Tế
  • Việt Nam Đề Xuất Các Biện Pháp Cải Thiện Bất Bình Đẳng Và Đảm Bảo Phẩm Giá Con Người
  • Bài 2: Giảm Thiểu Các Yếu Tố Gây Bất Bình Đẳng
  • Giảm Béo Không Phẫu Thuật
  • Published on

    Phân tích phân phối thu nhập ở Việt Nam hiện nay. Những thành tựu đạt được và những khó khăn còn tồn tại. Để giảm bớt bất bình đẳng và xóa đói giảm nghèo Chính phủ cần có những giải pháp nào.

    1. 1. 1
    2. 3. 3 1. Lê Kim Cúc 2. Nguyễn Chí Cường 3. Lê Thanh Đông 4. Huỳnh Tấn Tài 5. Đặng Vi Vinh
    3. 5. NỘI DUNG 5 TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ VẤN ĐỀ ĐÁP ỨNG PHÚC LỢI I NHỮNG MÔ HÌNH PHÂN PHỐI THU NHẬP CHÍNH II CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN PHỐI THU NHẬP Ở VIỆT NAM III
    4. 6. NỘI DUNG NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN CÒN TỒN TẠI TRONG NHỮNG MÔ HÌNH PHÂN PHỐI THU NHẬP IV BẤT BÌNH ĐẲNG VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO V 6
    5. 7. I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ VẤN ĐỀ ĐÁP ỨNG PHÚC LỢI 1. Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội, tổng thu nhập quốc dân hoặc thu nhập quốc dân tính trên đầu người. Tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số (Douglass C. North và Robert Paul Thomas). 7
    6. 8. I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ VẤN ĐỀ ĐÁP ỨNG PHÚC LỢI 2. Vấn đề đáp ứng phúc lợi Trong chiến lược phát triển quốc gia không chỉ đòi hỏi gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn phải quan tâm trực tiếp đến việc cải thiện đời sống vật chất cho người dân, cũng tức là quan tâm đến việc “phân phối thu nhập”. 8
    7. 9. II. NHỮNG MÔ HÌNH PHÂN PHỐI THU NHẬP CHÍNH Phân phối thu nhập là kết quả của sản xuất, do sản xuất quyết định. Tuy là sản vật của sản xuất, song sự phân phối có ảnh hưởng không nhỏ đối với sản xuất: có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với sản xuất. 1. Khái niệm phân phối thu nhập 9
    8. 10. 2.1. Mô hình phân phối thu nhập theo chức năng (phân phối lần đầu) Phân phối lần đầu là phân phối phần thu nhập cơ bản giữa những thành viên tham gia tạo ra của cải vật chất của xã hội. Phân phối lần đầu được thực hiện trước hết và chủ yếu tại khâu cơ sở của hệ thống tài chính. 2. Các mô hình phân phối thu nhập 10
    9. 11. Sản xuất Tiền lương Tiền thuê Lợi nhuận Hộ gia đình 4 Hộ gia đình 3 Hộ gia đình 2 Hộ gia đình 1 11
    10. 12. 2.2. Mô hình phân phối lại thu nhập Phân phối lại thu nhập là sự phân phối phần thu nhập cơ bản đã được hình thành trong phân phối lần đầu và thực hiện các quan hệ điều tiết thu nhập để đáp ứng nhu cầu tích lũy và tiêu dùng cũng như phục vụ các yêu cầu quản lý kinh tế – xã hội của Nhà nước. Phân phối lại thu nhập nhằm mục đích chuyển quyền sở hữu một phần thu nhập từ thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vào trong tay Nhà nước dưới hình thức thuế. 12
    11. 13. 2.3. Mối quan hệ giữa mô hình phân phối thu nhập theo chức năng và mô hình phân phối lại thu nhập. Sự phân phối lại nhằm điều chỉnh hợp lí cho những hạn chế gặp phải ở phân phối lần đầu: Duy trì bộ máy Nhà nước. Điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư trong xã hội. Mở rộng và phát triển nền sản xuất. Đẩy mạnh phúc lợi xã hội. Tăng mức thu nhập và tiêu dùng thực tế của nhân dân. 13
    12. 14. III. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN PHỐI THU NHẬP Ở VIỆT NAM 1. Phân phối theo lao động Phân phối theo lao động là hình thức phân phối thu nhập căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động của từng người đã đóng góp cho xã hội. 14
    13. 17. 2. Phân phối theo vốn, tài sản, cổ phần Phân phối theo vốn, tài sản, cổ phần là sự xác định thu nhập mang lại cho người sở hữu tư liệu sản xuất, vốn tiền tệ, kỹ thuật – công nghệ (sở hữu công nghiệp)…đó tham gia vào sản xuất kinh doanh. 17
    14. 18. 700 796 919 1145 1160 1273 1517 1749 1933 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam từ 2005-2013 (USD) 18
    15. 19. 3. Phân phối thông qua các quỹ phúc lợi, xã hội Phân phối thông qua các quỹ phúc lợi, xã hội là hình thức phân phối nhằm nâng cao mức sống về vật chất và tinh thần của nhân dân, đặc biệt là các tầng lớp nhân dân lao động. Hình thức phân phối này bản thân nó là một biện pháp làm giảm bất bình đẳng nhưng trên thực tế do công tác quản lý và thực hiện yếu kém nên có nhiều nơi để xảy ra hiện tượng sai trái trong công tác phân phối đến từng hộ gia đình. 19
    16. 21. IV. NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN CÒN TỒN TẠI TRONG NHỮNG MÔ HÌNH PHÂN PHỐI THU NHẬP 1. Những thành tựu đạt được Thu nhập bình quân đầu người ngày càng nâng cao trong những năm qua. Những chính sách chi tiêu của Chính phủ cho giáo dục, y tế, công cộng… ngày càng được quan tâm hơn. 21
    17. 22. 11696 12071 12265 12678 13174 Số trường học trong cả nước từ 2007-2011 22
    18. 23. Nhiều chính sách hỗ trợ cho người lao động được chú trọng hơn. Quan hệ phân phối thu nhập thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Tạo động lực cho người lao động sản xuất, làm việc ngày càng nhiều nhằm phục vụ cho lợi ích bản thân, doanh nghiệp và toàn xã hội. 23
    19. 24. 2. Những khó khăn còn tồn tại Phân phối thu nhập chưa đồng đều giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Những người giàu thì càng giàu, người nghèo thì càng khó khăn. Gây ra sự chênh lệch, bất hợp lí giữa các bộ phận, các ngành nghề, các vùng khác nhau. Tình trạng tham ô, lãng phí vẫn còn khá phổ biến trong xã hội. Nhiều dự án đầu tư của Chính phủ còn nhiều bất cập. 24
    20. 26. V. BẤT BÌNH ĐẲNG VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1. Bất bình đẳng và phát triển kinh tế 1.1. Bất bình đẳng là gì? Bất bình đẳng là sự không ngang bằng nhau về các cơ hội hoặc lợi ích đối với các cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm trong xã hội. Bất bình đẳng thu nhập là có sự phân phối thu nhập tạo nên khoảng cách lớn cho các thành viên trong xã hội. 26
    21. 27. 1.2. Thước đo bất bình đẳng về phân phối thu nhập 1.2.1. Đường cong Lorenz 27
    22. 28. 1.2.2. Hệ số GINI Hệ số GINI (G) là thước đo được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm. Dựa vào đường Lorenz có thể tính toán hệ số GINI. Hệ số GINI chính là tỷ số giữa diện tích được giới hạn bởi đường Lorenz và đường 45o với diện tích tam giác nằm bên dưới đường 45o. 28
    23. 31. 1.3. Bất bình đẳng về thu nhập giữa các nước và trong từng nước 31
    24. 35. 2. Nghèo khổ ở các nước đang phát triển 2.1. Khái niệm Đói nghèo được hiểu là sự thiệt hại những điều kiện tối thiểu để đảm bảo mức sống tối thiểu của một cá nhân hay của một cộng đồng dân cư. Xóa đói giảm nghèo: là tổng thể các biện pháp chính sách của nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện nghèo đói , nhằm tạo điều kiện để họ có thể tăng thu nhập, thoát khỏi tình trạng thu nhập không đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu trên cơ sở chuẩn nghèo được qui định theo từng địa phương, khu vực, quốc gia. 35
    25. 36. 2.2. Nghèo khổ về thu nhập Nghèo đói bao gồm Có mức sống thấp hơn mức trung bình của cộng đồng dân cư Không thụ hưởng được những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người Thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng 36
    26. 37. 2.3. Phương pháp đánh giá nghèo khổ về thu nhập Từ giữa năm 1970 và những năm 1980 nghèo khổ được tiếp cận theo 3 nhu cầu cơ bản gồm: Tiêu dùng Dịch vụ xã hội Nguồn lực 37
    27. 38. Từ giữa những năm 1980 đến nay tiếp cận theo năng lực và cơ hội. Gồm: tiêu dùng, dịch vụ xã hội, nguồn lực và tính dễ bị tổn thương. Tình trạng nghèo khổ không chỉ dựa theo tiêu chí thu nhập mà còn bao gồm cả những tiêu chí không gắn với thu nhập. Vì vậy, phương pháp được các nhà kinh tế sử dụng là xác định “giới hạn nghèo khổ” hay còn gọi là “đường nghèo khổ”. 38
    28. 39. Phương pháp của Việt Nam trong việc tiếp cận với ranh giới nghèo đói như sau: Phương pháp dựa vào thu nhập và chi tiêu theo đầu người. Phương pháp dựa trên thu nhập của hộ gia đình. 39
    29. 40. 2.4. Thực trạng nghèo khổ về thu nhập ở các nước đang phát triển “Ngày 15/5, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đưa ra nghiên cứu năm 2012 về thị trường lao động, nhấn mạnh từ nhiều năm qua, tình trạng nghèo khổ gia tăng không còn là vấn đề của riêng các nước đang phát triển mà đã trở thành vấn đề đáng lo ngại ở các nước phát triển. Từ khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu bùng nổ, tỷ lệ nghèo khổ đã giảm mạnh ở 75% các nước đang phát triển, nhưng lại đang tăng lên ở 25 nước trong 36 nước phát triển” 40
    30. 41. Việt Nam Nguồn nhân lực hạn chế và thiếu trình độ là nguyên nhân dẫn tới nghèo nàn. Do nước ta là một nước đang phát triển nên vẫn còn tồn tại một đại bộ phận lao động có trình độ học vấn thấp, thiếu việc làm ổn định. Việt Nam lại có nhiều rủi ro về thiên tai: bão, lũ lụt… nên tình trạng nghèo đói ngày càng tăng. Cơ sở vật chất phục vụ cho việc khám chữa bệnh ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng đủ cho người dân, dẫn đến bệnh tật và sức khỏe yếu kém là yếu tố đẩy con người vào tình trạng nghèo đói. 41
    31. 42. 2.5. Một số giải pháp chiến lược xóa đói giảm nghèo 2.5.1. Giải pháp kinh tế quản lí 2.5.2. Giải pháp cơ sở hạ tầng 2.5.3. Giải pháp vốn 2.5.4. Giải pháp công tác khuyến nông 2.5.5. Giải pháp ở hộ gia đình 42
    32. 43. Kết luận Phát triển kinh tế không chỉ quan tâm đến tăng trưởng kinh tế mà phải quan tâm đến việc cải thiện đời sống cho người dân. Bất bình đẳng và giảm bất bình đẳng là một trong những vấn đề cốt lõi của phát triển kinh tế. Chính phủ đã quan tâm rất nhiều trong việc phân phối thu nhập, giảm bất bình đẳng và xóa đói giảm nghèo. Điều này là một trong những điều kiện cần thiết thúc đẩy nền kinh tế cũng như quá trình hội nhập của Việt Nam. 43

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giảm Bất Bình Đẳng Thu Nhập Để Giảm Nghèo
  • Bất Bình Đẳng Thu Nhập Ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Khuyến Nghị
  • Vấn Đề Bất Bình Đẳng Thu Nhập Ở Việt Nam
  • Để Hạn Chế Bội Chi Ngân Sách
  • Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước
  • 10 Đề Tài Liên Quan Đến Bất Bình Đẳng Được Quan Tâm Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Phát Triển Xã Hội Về Bất Bình Đẳng, Phân Tầng Xã Hội Ở Nước Ta Trong Điều Kiện Phát Triển Kinh Tế Thị Trường, Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Và Hội Nhập Quốc Tế
  • Việt Nam Đề Xuất Các Biện Pháp Cải Thiện Bất Bình Đẳng Và Đảm Bảo Phẩm Giá Con Người
  • Bài 2: Giảm Thiểu Các Yếu Tố Gây Bất Bình Đẳng
  • Giảm Béo Không Phẫu Thuật
  • Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Học Sinh Bỏ Học Ở Trường Thpt Phạm Văn Đồng
  • Khi xã hội đã phát triển, vấn đề bất bình đẳng đã được cải thiện khá nhiều. Tuy nhiên, bất bình đẳng giới luôn tồn tại, đặc biệt là ở những vùng nông thôn.

    Download tài liệu

    Nội dung bài luận văn thạc sĩ bao gồm:

    • Đưa ra những quan điểm về vai trò của người phụ nữ trong gia đình.
    • Thực trạng bất bình đẳng giới đối với phụ nữ trong gia đình nông thôn tại thôn Tân Lập, Sông Lô, Vĩnh Phúc.

    Download tài liệu

    Phân tích và đưa ra những biện pháp, bổ sung kiến thức nhằm thực hiện công cuộc bình đẳng giới trong gia đình.

    Một trong những loại bất bình đẳng ở Việt Nam phải kể đến đó là bất bình đẳng thu nhập. Dẫu biết rằng tùy theo năng lực của từng người mà thu nhập sẽ có sự khác nhau. Tuy nhiên, cần phải có những nghiên cứu, hiểu biết nhất định để cải thiện vấn đề này.

    Download tài liệu

    Đề tài luận văn thạc sĩ tiến hành nghiên cứu và phân tích nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề bất bình đẳng thu nhập của người lao động Việt Nam.

    Bất bình đẳng thu nhập sẽ có những tác động đến sự phát triển, tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Trong luận văn tiến sĩ này, tác giả nêu những nội dung:

    Download tài liệu

    • Cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế: đưa ra các khái niệm, đo lường và những kinh nghiệm quốc tế trong việc giải quyết mối quan hệ giữa phân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế.
    • Thực trạng mối quan hệ tại Việt Nam: thực trạng, nguyên nhân của bất bình đẳng ở Việt Nam, cách đối phó
    • Đề xuất những cách giải quyết hợp lý

    Đề tài phân tích bất bình đẳng trong kinh tế thiếu thốn tương đối cho phát triển bền vững Việt Nam bằng cách sử dụng những phương pháp: nghiên cứu, phân tích…

    Download tài liệu

    Qua những phân tích để phát hiện và kết luận mức độ thiếu thốn tương đối hay ghen tị.

    Download tài liệu

    Đề tài được nghiên cứu trên cả lý thuyết lẫn thực tiễn tại Việt Nam với mục đích nêu ra mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập. Từ đó áp dụng giúp các nhà quản lý đưa ra những chính sách phù hợp nhằm đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của nền kinh tế Việt Nam.

    Nội dung của bài báo cáo thực hiện gồm 3 chương chính:

    Download tài liệu

    Đề tài nghiên cứu thực trạng đồng thời đề ra những giải pháp thiết thực. Những giải pháp mà sinh viên đưa ra hoàn toàn hợp lý và trong khả năng thực hiện. Ví dụ như tạo việc làm với mục tiêu thực hiện xóa đói giảm nghèo.

    Ngay cả bất bình đẳng trong giáo dục vẫn tồn tại do nhiều nguyên nhân khác nhau. Nghiên cứu bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục là việc cần thiết nhằm tìm ra các biện pháp nâng cao bình đẳng giới trong giáo dục, hạn chế tình trạng bất bình đẳng xã hội.

    Download tài liệu

    Trong những bài luận văn thực hiện, sinh viên nêu rõ lý thuyết, cơ sở lý thuyết. Từ đó nêu ra những thực trạng trong giáo dục hiện nay, đề xuất những phương án phù hợp để nâng cao bình đẳng giới.

    Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu trong sự nghiệp giáo dục tại Việt Nam. Để thực hiện phát triển toàn diện, Chính sách đề ra để đảm bảo cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái ở những vùng miền núi, khó khăn được tiếp cận và hoàn thiện giáo dục.

    Download tài liệu 100+ Bài đề tài bất bình đẳng đặc sắc

    Đề tài này thực hiện nhằm so sánh, thấy rõ vấn đề và thực hiện cải thiện tốt nhất.

    Tham khảo 10 mẫu báo cáo thực tập quản lý môi trường hay nhất 10+ Báo cáo thực tập quản trị văn phòng không thể bỏ qua

    Bất bình đẳng ở Việt Nam trong phân phối thu nhập tác động khá lớn đến sự phát triển chung của nền kinh tế quốc dân và đồng đều các vùng miền khác nhau. Chính vì vậy, việc tìm ra các nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó đóng vai trò rất quan trọng để có những biện pháp điều chỉnh phù hợp.

    Từ những cơ sở lý thuyết nghiên cứu và tìm hiểu, sinh viên tiến hành phân tích nguyên nhân của vấn đề. Những biện pháp đưa ra thiết thục, bám sát với vấn đề thực tiễn.

    II. Bất bình đẳng và những điều cần biết

    1. Bất bình đẳng xã hội là gì?

    Bất bình đẳng xã hội là thể hiện sự không ngang bằng về cơ hội, tiếng nó, lợi ích đối với các cá nhân, các nhóm trong xã hội.

    Trong xã hội, con người có khác biệt về giới tính, sức khỏe, sắc đẹp, sự thông minh, quyền lực… Tuy nhiên, những yếu tố này không phải là khác biệt về mặt xã hội.

    Bất bình đẳng xã hội là cụm từ khá rộng chỉ nhiều khái niệm bất công bằng khác nhau, ví dụ như trong giáo dục, trong gia đình…

    Bất bình đẳng thể hiện rất rõ, chúng ta có thể thấy được và cảm nhận được. Ở bất kỳ vùng miền, nghề nghiệp nào cũng tồn tại vấn đề này.

    Biểu hiện để bạn có thể nhận ra như:

    Top 10 luận văn thạc sĩ giáo dục học không thể bỏ qua 10+ Báo cáo thực tập cây trồng hay không thể bỏ qua

    • Sự không công bằng trong cơ hội, đối xử, quyền lợi hay lợi ích nào đó giữa những con người giống nhau
    • Sự ưu tiên của tổ chức với cá thể hay nhóm người nào đó.

    Hệ quả của bất bình đẳng phụ thuộc vào vấn đề, ví dụ như kinh tế, giáo dục, không bình đẳng giới trong gia đình…

    III. Hướng dẫn cách thực hiện đề tài về bất bình đẳng

    1. Lựa chọn đề tài phù hợp

    Các vấn đề đưa ra có thể đã được khai thác trước đó. Chính vì vậy, cần phải tìm hiểu thật kỹ trước khi quyết định nên lựa chọn đề tài, mảng nào, phạm vi như thế nào…

    Không khai thác lại những đề tài đã được thực hiện trong 2 năm gần nhất. Ngoài ra, để đánh giá được đề tài có phù hợp để thực hiện hay không, bạn dựa vào yếu tố: tính khả thi, sự cấp thiết của đề tài như thế nào, vấn đề khai thác có được nhiều người quan tâm hay không…

    Bạn nên tham khảo ý kiến của giáo viên hướng dẫn về đề tài để khi báo cáo, bảo vệ được suôn sẻ nhất.

    2. Lên đề cương cho báo cáo

    Để làm được đề cương tốt nhất, bạn nên thực hiện những công việc như sau:

    3. Chú ý về nội dung

    Khi thực hiện, bạn cần lưu ý:

    10+ Báo cáo thực tập kế toán tiền lương MỚI NHẤT 2022 10+ mẫu báo cáo thực tập du lịch lữ hành đáng tham khảo Hy vọng, với những chia sẻ vừa rồi của chúng tôi về kiến thức cũng như các mẫu đề tài bất bình đẳng, bạn đọc đã hiểu rõ được vấn đề này. Từ đó hoàn thiện tốt bài nghiên cứu của mình.

    Về thực trạng:

    Về đề xuất biện pháp:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Phối Thu Nhập Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Giảm Bất Bình Đẳng Thu Nhập Để Giảm Nghèo
  • Bất Bình Đẳng Thu Nhập Ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Khuyến Nghị
  • Vấn Đề Bất Bình Đẳng Thu Nhập Ở Việt Nam
  • Để Hạn Chế Bội Chi Ngân Sách
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100