Top 7 # Xem Nhiều Nhất Đông Máu Có Chức Năng Gì Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Xét Nghiệm Chức Năng Đông Máu Có Ý Nghĩa Gì Trong Y Học?

Đông máu là một quá trình sinh lý bình thường của cơ thể giúp hạn chế sự chảy máu, mất máu ra bên ngoài. Hiện tượng này xảy ra nhờ sự tham gia của các yếu tố đông máu và có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống. Vì thế, việc xét nghiệm chức năng đông máu cũng là một xét nghiệm quan trọng trong một số trường hợp cụ thể.

1. Cơ chế đông máu

Bản chất của quá trình đông máu chính là sự thay đổi tính chất của máu, máu chuyển từ thể lỏng (khi chảy trong lòng mạch) thành thể rắn (khi thoát ra khỏi lòng mạch) nhờ sự tham gia của nhiều yếu tố.

Nguyên nhân đông máu

Do sự va chạm của các tiểu cầu lên vết xước thành mạch, kích thích chuyển fibrinogen thành fibrin (các sợi tơ huyết). Chúng liên kết lại tạo thành một mạng lưới, ôm các tế bào máu và kết lại một cục tạo thành cục máu đông.

Các yếu tố tham gia vào quá trình đông máu:

Fibrinogen: là tiền chất để tạo thành các sợi tơ huyết Fibrin.

Prothrombin: là một loại protein huyết thanh có tác dụng hình thành nên Thrombin xúc tác cho quá trình chuyển Fibrinogen thành Fibrin.

Phức hợp Prothrombinase xúc tác chuyển Prothrombin thành Thrombin.

Thromboplastin: được sản xuất bởi mô tổn thương, tham gia vào quá trình đông máu ngoại sinh. Chúng có tác dụng thay thế phospholipid tiểu cầu và protein huyết tương.

Ca++ có vai trò tham gia vào quá trình đông máu. Nếu không có ion này thì quá trình đông máu không xảy ra.

Các tế bào máu: tiểu cầu giải phóng nhiều chất tham gia vào quá trình đông máu. Hồng cầu, bạch cầu giúp hình thành cục máu đông.

Cơ chế đông máu:

Cơ chế quá trình đông máu

Ý nghĩa quá trình đông máu:

Bịt kín các lỗ trên thành mạch để tránh máu thoát ra khỏi mạch máu đi vào khoảng gian bào.

Bịt kín các vết thương lớn, cầm máu tránh hiện tượng mất máu cấp tính do tai nạn gây nguy hiểm tính mạng.

Trong các xét nghiệm y học (xét nghiệm kháng thể), người ta ứng dụng quá trình đông máu để tách huyết thanh làm nguyên liệu xét nghiệm.

2. Các xét nghiệm thăm dò chức năng đông máu

Đếm số lượng tiểu cầu nhờ xét nghiệm tổng phân tích máu:

Ở người trưởng thành, sức khỏe bình thường thì có số lượng tiểu cầu khoảng 150 – 450 G/L.

Số lượng tiểu cầu ảnh hưởng mật thiết đến chức năng đông máu vì nó là yếu tố quyết định đến giai đoạn cầm máu ban đầu. Những người có số lượng tiểu cầu ít có thể gặp phải các vấn đề về đông máu (rối loạn đông máu, máu khó đông,…)

Thực hiện:

Lấy máu cho vào ống có chất chống đông EDTA, lắc đều.

Cho vào máy xét nghiệm tổng phân tích máu và ra lệnh máy hoạt động.

Đọc kết quả và đưa ra kết luận.

Xét nghiệm PT – Prothrombin time

Đây là xét nghiệm khảo sát con đường đông máu ngoại sinh. Tức là xét nghiệm kiểm tra thời gian hình thành một cục máu đông trong mẫu máu xét nghiệm. Kết quả xét nghiệm này chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác: fibrinogen, thromboplastin,…

Xét nghiệm PT/INR

Kết quả của xét nghiệm PT được biểu thị dưới các dạng:

PT% : tỷ lệ của phức hệ Prothrombin trong mẫu xét nghiệm so với mẫu chuẩn. Bình thường, giá trị này nằm trong khoảng 70% – 140%. Nếu PT% < 70% thì quá trình đông máu có vấn đề.

PT(s): thời gian hình thành cục máu đông. Trị số bình thường rơi vào khoảng 10 – 14 giây tùy phòng xét nghiệm.

INR (chỉ số bình thường hóa quốc tế): ngoài chỉ định thường quy, chỉ số này còn có vai trò trong theo dõi để chỉnh liều ở các bệnh nhân sử dụng thuốc chống đông kháng vitamin K. Chỉ số này nằm trong khoảng 0,8 – 1,2. Một số trường hợp đặc biệt có thể lên tới 2 – 3 nhưng vẫn được đánh giá là bình thường.

Xét nghiệm APTT – thời gian Thromboplastin từng phần được hoạt hoá

Đây là xét nghiệm khảo sát con đường đông máu nội sinh. Kết quả xét nghiệm APTT – Activated Partial Thromboplastin Time được biểu thị dưới các dạng:

Xét nghiệm APTT

Xét nghiệm TT – Thrombin time

Xét nghiệm Thrombin time giúp đánh giá con đường đông máu chung. Kết quả xét nghiệm TT biểu thị dưới các dạng:

Xét nghiệm định lượng các yếu tố đông máu

Hoạt tính các yếu tố đông máu bình thường khoảng 50 – 150%.

Quá trình đông máu cũng có thể bị ảnh hưởng bởi một số gen nhất định (yếu tố V leiden). Các gen này có khả năng di truyền từ bố mẹ sang con. Điều đặc biệt là gen này nằm trên NST X nên tỷ lệ xuất hiện gen gây rối loạn đông máu ở bé trai sẽ cao hơn bé gái. Vì thế, xét nghiệm gen đông máu cũng là cần thiết khi bố mẹ lo cho sức khỏe con cái.

3. Những lưu ý khi đi xét nghiệm

Các xét nghiệm đông máu kể trên giúp thăm dò, khảo sát chức năng đông máu của người đi xét nghiệm. Dựa vào kết quả mà bác sĩ sẽ có những lời khuyên, hướng điều trị thích hợp cho từng bệnh nhân. Trường hợp kết quả xét nghiệm cho thấy bạn mắc các vấn đề về rối loạn đông máu thì bác sĩ sẽ chỉ định bạn phải điều trị bằng các loại thuốc giúp điều chỉnh chức năng đông máu và thực hiện chế độ sinh hoạt phù hợp để cải thiện sức khỏe.

Tương tự như những xét nghiệm khác, trước khi đi xét nghiệm chức năng đông máu bạn cần lưu ý những điểm sau:

Những lưu ý khi đi xét nghiệm thăm dò chức năng đông máu

Không sử dụng rượu, bia, các chất kích thích trước khi đi xét nghiệm chức năng đông máu bởi vì các chất này làm thay đổi thành phần, tính chất của máu gây ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.

Nếu đang sử dụng thuốc phải dưới sự theo dõi và khuyến cáo của bác sĩ.

Một số thực phẩm như thịt bò, bông cải xanh có thể gây ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm. Do đó, bạn nên hạn chế ăn các thực phẩm này 2 – 3 ngày trước khi đi xét nghiệm.

Nên xét nghiệm vào sáng sớm để cho kết quả chính xác.

Xét nghiệm chức năng đông máu là một trong những xét nghiệm máu quan trọng mà bạn nên hiểu rõ. Mọi thắc mắc cần giải đáp bạn vui lòng liên hệ với MEDLATEC qua hotline 1900 56 56 56 để được tư vấn miễn phí. Ngoài ra, tại bệnh viện chúng tôi còn thực hiện khám bảo lãnh viện phí cho những khách hàng có nhu cầu, nhằm mang đến cho khách hàng một dịch vụ chuyên nghiệp, đầy đủ nhất.

Rối Loạn Đông Máu Là Gì? Các Chỉ Số Rối Loạn Đông Máu

1. Rối loạn đông máu là gì?

Hội chứng máu chảy mà không đông lại như bình thường do sự thiếu hụt các yếu tố đông máu được gọi là rối loạn đông máu. Có thể do sự thiếu hụt protein trong máu hoặc protein có tồn tại nhưng hoạt động không bình thường khiến máu khó đông.

Rối loạn đông máu có thể do nhiều yếu tố đông máu gây nên. Với những người bình thường, khi bị chảy máu, các tiểu cầu sẽ kết dính với nhau bởi các yếu tố đông máu, các cục máu đông được hình thành giúp cầm máu.

Các yếu tố đông máu bị thiếu hoặc hoạt động không bình thường khiến máu chảy liên tục và khó cầm đối với những người bị bệnh rối loạn đông máu. Mọi đối tượng đều có thể mắc bệnh rối loạn đông máu và phải mất rất nhiều thời gian để điều trị.

2. Các thể của rối loạn đông máu

Thể bệnh của rối loạn đông máu có thể được chia thành 2 nhóm thể sau:

Loại yếu tố thiếu hụt:

Hemophilia A: thiếu yếu tố VIII, chiếm gần 85% các đối tượng bị rối loạn đông máu

Hemophilia B: thiếu yếu tố IX, chiến gần 14% các đối tượng mắc bệnh

Hemophilia C thiếu yếu tố tiền thromboplastin huyết tương (XI)

Theo mức độ giảm yếu tố: Nếu yếu tố VIII dưới 30% là cơ thể bạn đang bị rối loạn đông máu, chia thành các thể sau:

Nồng độ yếu tố VIII < 1% ở thể nặng

Nồng độ yếu tố VIII từ 1-5% ở thể trung bình

Nồng độ yếu tố VIII trên 5% và dưới 30% ở thể nhẹ.

3. Dấu hiệu của rối loạn đông máu

Bệnh nhân sau chấn thương hoặc phẫu thuật bị chảy máu quá nhiều

Chảy máu nhiều sau khi nhổ răng

Thường xuyên chảy máu cam và kéo dài

Tình trạng chảy máu bất thường mà không có nguyên nhân cụ thể

Thường xuyên chảy máu răng lợi

Cơ thể xuất hiện những vết bầm tím mà không rõ nguyên nhân

Chảy máu bất thường sau khi tiêm chủng

Máu có trong phân hoặc nước tiểu

Các khớp bị sưng đau

Lưu lượng máu trong thời kỳ kinh nguyệt tăng nếu bạn bị rối loạn đông máu. Thường chảy máu kinh nguyệt sẽ kéo dài khoảng hơn 1 tuần và xuất hiện những cục máu có đường kính lớn hơn 2,5cm

Người bệnh cảm thấy mệt mỏi, khó thở

Tình trạng nôn mửa xảy ra kèm theo máu

Xuất hiện những huyết khối tĩnh mạch gây ra tình trạng suy tĩnh mạch, ở chân, đùi các mạch máu nổi lên chằng chịt

Người bệnh có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ nếu tình trạng rối loạn đông máu xảy ra ở động mạch;

Người bệnh bị chứng đau đầu kéo dài

Các khớp như đầu gối, vai, hông, bắp tay, bắp chân bị đau sưng đột ngột

Bệnh nhân bị rối loạn đông máu ở phổi thường cảm thấy đau ngực, khó thở

4. Nguyên nhân gây nên tình trạng rối loạn đông máu

Rối loạn đông máu là một trong những biểu hiện rất khó chẩn đoán và điều trị bởi nó do nhiều nguyên nhân gây ra:

Do tiểu cẩu bị tổn thương về hình thái và chức năng trong đó chức năng đông máu không thể hoạt động bình thường

Máu có thể sẽ dễ dàng đông hơn bình thường nếu lưu lượng máu chảy chậm

Do yếu tố di truyền: rối loạn đông máu có thể truyền sang con nếu bố mẹ bị rối loạn đông máu. Tuy nhiên, với mỗi thành viên thì tình trạng chảy máu cũng sẽ khác nhau. Bởi vì gen gây rối loạn đông máu nằm ở nhiễm sắc thể X nên bé trai sẽ có nguy cơ bị di truyền cao hơn so với bé gái

Do sự thiếu hụt các yếu tố đông máu VIII, IX, X

Cơ thể thiếu vitamin K khiến các yếu tố đông máu bị suy giảm gây nên tình trạng rối loạn cầm máu

Do thành mạch: các bệnh lý nhiễm trùng, bệnh mãn tính, dị ứng, bệnh tự miễn… gây tổn thương thành mạch. Vì cấu trúc thành mạch bị biến đổi khiến cho thành mạch bị tổn thương gây nên nguy cơ bị chảy máu

Do một số loại thuốc: thuốc chống đông máu, kháng sinh… sẽ ngăn chặn sự tái tạo và tăng trưởng những mạch máu mới. Điều này dẫn đến tình trạng rối loạn đông máu.

Những đối tượng bị khiếm khuyết gen V leiden (loại gen cần thiết trong quá trình đông máu)

Do nhóm máu: những người có nhóm máu O sẽ có nguy cơ cao bị bệnh rối loạn đông máu cao hơn so với những người mang nhóm máu khác.

Gan bị rối loạn bởi gan là cơ quan hình thành các yếu tố ức chế đông máu

5. Các xét nghiệm rối loạn đông máu

Để nắm rõ về các chỉ số rối loạn đông máu cũng như tình trạng bệnh, có thể thực hiện một số xét nghiệm sau đây:

Xét nghiệm công thức máu: xác định được lượng tiểu cầu có trong máu

Xét nghiệm thời gian chảy máu: Đo thời gian máu ngừng chảy

Xét nghiệm đông máu thông thường: Có thể thực hiện xét nghiệm PT hoặc APT để kiểm tra hoạt động của các yếu tố đông máu

Xét nghiệm để theo dõi việc sử dụng thuốc chống đông: Thuốc chống đông máu có thể gây ra một số phản ứng đối với cơ thể trong quá trình sử dụng thuốc. Vấn đề chảy máu có thể xảy ra nếu thuốc được dùng quá nhiều, ngược lại với liều lượng quá ít có thể gây nên việc hình thành các cục máu đông

Xét nghiệm các yếu tố đông máu cụ thể: Số lượng các yếu tố đông máu và ức chế đông máu được xác định bằng các phương pháp khác nhau

Xét nghiệm để đánh giá khả năng ngưng kết của tiểu cầu: xét nghiệm này được sử dụng để kiểm tra chức năng của tiểu cầu

Xét nghiệm để kiểm tra tình trạng máu dễ đông: cần phải thực hiện một số xét nghiệm nếu cơ thể bạn xuất hiện cục máu đông bất thường trong mạch máu. Khi các cục máu đông dễ hình thành, có thể thực hiện xét nghiệm máu để kiểm tra yếu tố V leiden.

Rối loạn đông máu rất khó để chẩn đoán được nguyên nhân gây bệnh. Chính vì vậy đòi hỏi bác sĩ phải thực hiện rất nhiều xét nghiệm đông máu cũng như theo dõi tỉ mỉ mới có thể chẩn đoán được chính xác nguyên nhân gây bệnh, từ đó sẽ xác định được hướng điều trị phù hợp và chính xác cho từng đối tượng.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số 02439743556 hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Các Yếu Tố Đông Máu Gồm Những Gì?

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ chuyên khoa I Đỗ Văn Mạnh – Bác sĩ Hồi sức cấp cứu – Khoa Hồi sức cấp cứu – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hạ Long Có khoảng 30 chất khác nhau được tìm thấy có ảnh hưởng đến quá trình đông máu. Máu có thể đông được hay không là phụ thuộc vào hai nhóm chất: chất gây đông máu – chất làm tăng nhanh sự đông máu và chất chống đông- chất ức chế sự đông máu. Bài viết sau đây sẽ giúp chúng ta hiểu thêm về các yếu tố tham gia vào quá trình đông máu.

1. Xét nghiệm yếu tố đông máu để làm gì?

Để đánh giá khả năng đông máu như thế nào và quá trình đông máu kéo dài trong thời gian bao lâu, các bác sĩ sẽ tiến hành xét nghiệm các yếu tố đông máu.

Quá trình đông máu sẽ bảo vệ cơ thể bạn khi bị chảy máu. Tuy nhiên, nếu một cục máu đông hình thành trong tĩnh mạch bình thường thì đây là điều hết sức nguy hiểm vì có thể khiến cho dòng máu bị chặn đến tim, não, phổi.

Khi thực hiện xét nghiệm các yếu tố đông máu, sẽ biết được nguy cơ bạn bị chảy máu quá nhiều khi bị thương hay không hoặc có nguy cơ bị đột quỵ không.

2. Các yếu tố đông máu gồm những gì?

I – Fibrinogen: Fibrinogen là huyết tương có trọng lượng phân tử là 340.000, hòa tan được. Yếu tố này có mặt trong huyết tương với nồng độ là từ 100-700mg/ 100mL. Đa số Fibrinogen được tạo ra ở gan, vì thế đối với những bệnh nhân bị bệnh gan thì lượng Fibrinogen giảm trong máu tuần hoàn, sự đông máu bị ngăn cản.

II- Prothrombin: Prothrombin là protein huyết tương có trọng lượng phân tử là 68.700, có mặt trong huyết tương với nồng độ là 15mg/100mL. Gan sản xuất Prothrombin liên tục, chính vì vậy nếu gan bị suy yếu, lượng prothrombin sẽ giảm, gây ức chế sự đông máu.

III- Thromboplastin mô: Yếu tố này tham gia vào cơ chế đông máu ngoại sinh, thay thế phospholipid tiểu cầu và các yếu tố huyết tương. Bên cạnh đó, thromboplastin còn có tác dụng chống nhiễm khuẩn.

IV- Ca++: Quá trình đông máu không thể không có mặt của loại ion này.

V- Proaccelerin: Khi có nhiều ion Ca++ thì yếu tố này mất hoạt tính. Khi không có proaccelerin, người ta điều chế huyết tương bằng cách để lâu huyết tương lấy từ máu chống đông với oxalat.

VII- Proconvertin: Trọng lượng phân tử của yếu tố này là 60.000. Hoạt tính của yếu tố này trong huyết tương sẽ bị giữ lại trên màng lọc amiang;

VIII- Antihemophilic A: Để tổng hợp yếu tố này, phụ thuộc vào rất nhiều gen trong các nhiễm sắc thể khác nhau. Thường thì antihemophilic được tổng hợp chủ yếu từ gan, lá lách và hệ thống võng nội mô. Khi thiếu ion Ca++ thì yếu tố này mất hoạt tính. Đây là yếu tố chống huyết hữu B;

IX- Antihemophilic B: Chống huyết hữu A.

X- Stuart: Stuart có trong huyết tương, ở dưới dạng không hoạt động. Trong quá trình đông máu nội sinh có sự tham gia của yếu tố này. Khi cho thromboplastin mô vào quá trình đông máu ngoại sinh, sẽ không còn yếu tố stuart.

XI- Plasma Thromboplastin Antecedent (PTA): Quá trình khởi phát đông máu nội sinh không thể thiếu yếu tố PTA.

XII- Hageman: Động lực để tạo thành một loạt phản ứng dẫn đến đông máu là sự tiếp xúc giữa yếu tố XII với mặt trong mạch máu tổn thương cùng sự có mặt của phospholipid tiểu cầu. Bên cạnh chức năng hoạt hóa hệ đông máu, Hageman còn hoạt hóa hệ đông máu, hệ bổ thể và hệ chống đông.

XIII – Fibrin Stabilizing Factor ( FSF): yếu tố này có hoạt tính bền vững trong huyết tương, ổn định fibrin.

Các yếu tố trên có thể chia thành 2 nhóm nếu phân loại theo chức năng:

Nhóm 1: Các enzym hay tiền enzym được tổng hợp phần lớn từ gan. Các yếu tố Prothrombin, Proconvertin, Antihemophilic B, Stuart cần phải có vitamin K để tổng hợp từ gan.

Nhóm 2: Thúc đẩy enzym phát triển, gồm:

Proaccelerin được tổng hợp từ gan.

Antihemophilic A.

Fibrinogen đóng vai trò bề mặt của quá trình hình thành cục máu đông khi yếu tố này có trọng lượng phân tử cao.

Nếu dựa vào con đường đông máu, các yếu tố trên có thể phân thành 3 nhóm:

Nhóm 1: các yếu tố chung cho con đường nội sinh và con đường ngoại sinh gồm Fibrinogen, Prothrombin, Ca++, Proaccelerin, Stuart, Fibrin Stabilizing Factor ( FSF).

Nhóm 2: các yếu tố của con đường nội sinh gồm Antihemophilic A, Antihemophilic B, Plasma Thromboplastin Antecedent (PTA), Hageman;

Nhóm 3: các yếu tố của con đường ngoại sinh gồm Proconvertin, Thromboplastin mô.

Để đánh giá đúng tình trạng đông máu của người bệnh, các bác sĩ sẽ chỉ định bạn thực hiện các xét nghiệm để đánh giá các yếu tố gây đông máu. Điều này giúp cho người bệnh tránh được các yếu tố nguy cơ của bệnh.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Những Dưỡng Chất Và Thực Phẩm Chức Năng Giúp Chống Đông Máu

Cần tham vấn bác sỹ trước khi sử dụng các chất chống đông máu

1. Vitamin E

Vitamin E làm giảm đông máu theo một vài cách khác nhau. Những tác động này phụ thuộc vào lượng vitamin E mà bạn tiêu thụ.

Tuy chưa rõ cần bao nhiêu vitamin E để làm loãng máu, nhưng có khả năng mọi người sẽ cần phải tiêu thụ hơn 400IU mỗi ngày. Dùng liều cao vitamin E (trên 1.500IU mỗi ngày) trong thời gian dài, có thể gây ra tác động tiêu cực.

Những người đang dùng thuốc chống đông máu nên tránh dùng liều lượng lớn vitamin E

Để tránh nguy cơ quá liều vitamin E, bạn nên tiêu thụ các thực phẩm tự nhiên giàu vitamin này, bao gồm: Hạnh nhân, dầu cây rum, dầu hướng dương, hạt hướng dương, dầu mầm lúa mì và các loại ngũ cốc nguyên hạt.

2. Ginkgo biloba

Ginkgo biloba (bạch quả) được cả Đông y và Tây y sử dụng để điều trị rối loạn máu, các vấn đề về trí nhớ và năng lượng thấp. Gingko biloba làm loãng máu và có tác dụng phân hủy fibrin. Điều này có nghĩa là nó có thể hòa tan cục máu đông.

Một nghiên cứu báo cáo rằng chiết xuất gingko biloba có tác dụng tương tự như Streptokinase – một loại thuốc dùng để điều trị cục máu đông. Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ được thực hiện trong phòng thí nghiệm và cần thêm nhiều nghiên cứu nữa để xem liệu rằng gingko biloba có tác dụng tương tự đối với cơ thể con người hay không.

Có thể dễ dàng tìm thấy ginkgo biloba trong nhiều sản phẩm của các nhà sản xuất thực phẩm chức năng lớn từ Tây sang Đông như: Whole Foods, CVS, Walgreens…

Không dùng chung các thực phẩm chức năng chứa gingko biloba với các thuốc chống đông máu (Warparin, Heparin) hay các thuốc ngăn ngừa sự tập kết tiểu cầu (Aspirin, Dipyridamol, Ticlopidin).

3. Chiết xuất hạt nho

Có một số bằng chứng cho thấy rằng chiết xuất hạt nho có thể có lợi ích tiềm năng trong điều trị các vấn đề máu và tim. Nó chứa chất chống oxy hóa có thể bảo vệ các mạch máu và ngăn ngừa tăng huyết áp. Chiết xuất hạt nho cũng có thể hoạt động như một chất chống đông máu tự nhiên.

Vì những tác động này, Trung tâm Sức khỏe Bổ sung và Tích hợp Quốc gia (Mỹ) khuyến cáo những người bị rối loạn máu, những người đang sử dụng thuốc chống đông máu và những người sắp phẫu thuật không nên dùng chiết xuất hạt nho.

4. Đương quy

Đương quy còn được gọi là “nhân sâm cho phái nữ”. Nó là một loại thảo dược truyền thống của Đông y có thể làm chống đông máu hiệu quả.

Các nghiên cứu trên động vật cho thấy sử dụng đương quy có thể làm tăng đáng kể thời gian cầm máu để đông máu (thời gian prothrombin).

Đương quy chứa coumarin – một tác nhân làm loãng máu mạnh mẽ 5. Cúc feverfew

Cúc feverfew thường được dùng để giảm đau nửa đầu, một số rối loạn tiêu hóa và sốt.

Nên đọc

Nó cũng có thể hoạt động như một chất làm loãng máu bằng cách ức chế hoạt động của tiểu cầu và ngăn ngừa đông máu. Cúc feverfew có sẵn ở dạng viên nang hoặc dạng lỏng.

6. Bromelain

Bromelain là một loại enzyme được chiết xuất từ ​​dứa. Nó có thể mang lại nhiều hiệu quả trong điều trị bệnh tim mạch và tăng huyết áp.

Một số nghiên cứu cho thấy bromelain có thể làm loãng máu, phá vỡ cục máu đông và giảm sự hình thành cục máu đông. Enzyme này cũng có đặc tính kháng viêm mạnh mẽ.

Nên tham vấn bác sỹ trước khi sử dụng các dưỡng chất và thực phẩm chức năng chống đông máu, vì tùy vào các điều kiện khác nhau chúng có thể không hoạt động tốt như thuốc và có thể gây trở ngại cho một số loại thuốc mà bạn đang sử dụng.

Biết Tuốt H+