Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Địa Phương

--- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Cho Kinh Tế Việt Nam Mùa Dịch Covid
  • Các Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Của Sản Xuất Kinh Doanh
  • Khái Niệm Sáng Chế Là Gì? Giải Pháp Kỹ Thuật Là Gì ?
  • Giải Pháp Kỹ Thuật Trong Sáng Chế Việt Nam
  • Link Là Gì? Khái Niệm Và Cách Sử Dụng Các Loại Link Trong Website
  • Để có thêm kiến thức, anh đăng ký tham gia lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn về kỹ thuật trồng, chăm sóc cây ăn quả do huyện tổ chức tại xã. Anh Thào cho biết: “Quá trình học đã cung cấp cho tôi rất nhiều kiến thức bổ ích để áp dụng vào chăm sóc vườn cây của gia đình. Vụ quýt vừa qua gia đình tôi thu về trên 20 tấn quả, thu nhập gần 300 triệu đồng. Thông qua lớp học, có thêm những hội viên mới để cùng nhau hợp tác xây dựng thương hiệu quýt ngọt Mường Khương”.

    Ông Nguyễn Chí Sử, Bí thư Huyện ủy Mường Khương cho biết: Nhiều học viên sau học nghề đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; đầu tư và áp dụng kiến thức vào thực tế sản xuất để tạo thu nhập ổn định hơn. Sự phối hợp giữa các cấp chính quyền địa phương trong tuyên truyền, vận động nông dân ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất cùng với việc sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư đào tạo… sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Quan tâm đào tạo nghề cho lao động nông thôn bằng các ngành nghề đào tạo phù hợp với định hướng phát triển kinh tế – xã hội là một trong những bước đi quan trọng trong công tác giảm nghèo bền vững ở Mường Khương.

    Qua các lớp học nghề, người dân đã dần thay đổi phương thức sản xuất cũ, chuyển dần từ sản xuất nhỏ lẻ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa theo hướng dịch vụ có giá trị kinh tế cao, góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực theo hướng tích cực, đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo hiện nay của huyện lên 34,4%. Giai đoạn 2022 – 2022 huyện Mường Khương phấn đấu mỗi năm sẽ đào tạo, dạy nghề cho 400 lao động nông thôn; trong đó chú trọng nhu cầu học nghề của người lao động, gắn với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của huyện.

    Theo ông Vương Đức Quân, Trưởng phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Mường Khương, năm 2022, huyện đã tổ chức được hơn 10 lớp đào tạo nghề nông nghiệp, với gần 1.000 người tham gia; 50 lớp phi nông nghiệp cho 2.572 lao động nông thôn. “Từ cuối năm 2013, huyện đã đẩy mạnh tuyên truyền, chủ động khảo sát nhu cầu đào tạo nghề của lao động nông thôn, để xây dựng kế hoạch đào tạo gắn với tình hình thực tế, đặc biệt là gắn với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo Nghị quyết của huyện ủy đề ra, nên các lớp học tổ chức ra đã thu hút học viên nhiệt tình tham gia”, ông Quân cho biết.

    Từ hiệu quả bước đầu, đến nay gia đình ông Phà lại tiếp tục trồng thêm 7.000 gốc sa nhân nữa. Đến nay, nhiều hộ gia đình trong xã Tung Chung Phố đã mạnh dạn nhân giống và trồng dưới tán rừng, với diện tích trên 10 ha, tất cả đều phát triển tốt.

    Từ khi có kiến thức về trồng và chăm sóc cây sa nhân, sau hơn 3 năm trồng, trên 5.000 gốc sa nhân dưới tán rừng, gia đình ông đã cho thu hoạch ổn định, thu nhập trên 200 triệu đồng/năm. Nhờ cây sa nhân mà từ một hộ nghèo trong thôn, ông Phà đã thoát nghèo và xây được ngôi nhà kiên cố, khang trang, mua sắm được nhiều vật dụng sinh hoạt cho gia đình. Ông Phà cho biết, so với các loại cây trồng khác, trồng cây sa nhân không phải làm cỏ mà chỉ phải bón phân một lần duy nhất vào lúc mới trồng, nên ít tốn chi phí đầu tư, hiệu quả kinh tế cao.

    Cũng như anh Thào, ông Phào Seo Phà, ở thôn Cán Hồ, xã Tung Chung Phố cũng là một trong những hộ tiên phong trồng cây sa nhân. Lúc đầu ông cũng chỉ đi “học mót” để trồng theo kiểu “được ăn, thua chịu” và ông cũng đã bị thất bại khá nhiều tưởng chừng như phải đoạn tuyệt với cây sa nhân. Nhờ nắm bắt nhu cầu của người dân, cũng như lợi thế của địa phương với cây trồng này, huyện đã chỉ đạo các phòng chức năng phối hợp với trung tâm dạy nghề huyện mời những người có kinh nghiệm trồng sa nhân về truyền dạy kinh nghiệm, kỹ thuật trồng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Giải Pháp Cho Phát Triển Kinh Tế Bền Vững
  • Hỗ Trợ Pháp Lý Dành Cho Doanh Nghiệp
  • Hiệp Định 217/wto/vb Trợ Cấp Và Các Biện Pháp Đối Kháng
  • Sự Khác Nhau Giữa Biện Pháp Thuế Chống Bán Phá Giá Và Biện Pháp Thuế Đối Kháng Theo Quy Định Của Wto
  • Giới Thiệu Hiệp Định Về Trợ Cấp Và Các Biện Pháp Đối Kháng (Scm)
  • Các Địa Phương Xác Định Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Trang Trại Ở Tỉnh Bắc Cạn
  • Nền Kinh Tế Việt Nam Dưới Góc Nhìn Kinh Tế Tri Thức
  • Kinh Tế Tuần Hoàn: Cánh Cửa Thần Kỳ Để Việt Nam Phát Triển Bền Vững
  • Hội Thảo “phát Triển Kinh Tế Tuần Hoàn Ở Các Tỉnh, Thành Phía Nam
  • Kinh Tế Tuần Hoàn, Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Cho Doanh Nghiệp
  • (VOV5) – Kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Giang diễn ra từ ngày 11 – 13/07 đề ra các giải để tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, phát triển doanh nghiệp.

    Kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Giang

    Tỉnh Bắc Giang cũng nhấn mạnh vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển kinh tế; thực hiện tốt các chính sách đảm bảo an sinh xã hội; an ninh. Tại phiên bế mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An ngày 13/07, tỉnh thông qua nhiều báo cáo, nghị quyết, tờ trình quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Nghệ An năm 2022 và đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong phát triển kinh tế – xã hội 6 tháng cuối năm gồm. Theo đó, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp, hỗ trợ nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng; đẩy mạnh sản xuất công nghiệp; tăng cường quảng bá du lịch, thương mại; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển.

    Từ ngày 11-13/07, Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk thông qua nhiều Nghị quyết, trong đó, có nghị quyết về phát triển cà phê bền vững đến năm 2022 và định hướng đến năm 2030. Nghị quyết có mục tiêu xây dựng ngành cà phê Đắk Lắk phát triển theo hướng bền vững, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, mang lại giá trị gia tăng cao.

    Tại tỉnh Trà Vinh, Hội đồng nhân dân tỉnh xác định nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh từ nay đến cuối năm là tập trung mọi nguồn lực để đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, đẩy mạnh thu hút đầu tư để tăng nguồn thu ngân sách, giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội, phấn đấu đạt mức tăng trưởng năm 2022 từ 12 – 13 %.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cơ Chế Vận Hành Của Nền Kinh Tế Hàng Hoá Nhiều Thành Phần Và Những Giải Pháp Cơ Bản Để Phát Triển Nền Kinh Tế Ở Nước Ta
  • Luận Văn Đề Án Thực Trạng, Phương Hướng Và Những Giải Pháp Để Phát Triển Kinh Tế Hợp Tác Xã Nông Nghiệp Ở Nước Ta
  • Đề Cương Ôn Địa 11A1
  • Từ Chuyển Dịch Năng Lượng Tái Tạo Tại Mỹ Latinh Đến Giải Pháp Tạo Sự Bùng Nổ
  • Tọa Đàm Phát Triển Kinh Tế
  • Thảo Luận, Đề Xuất Các Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • 6 Nhóm Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Chính Phủ Triển Khai Đồng Bộ Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Bài Thu Hoạch Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Xã Hội
  • Những Giải Pháp Phát Triển Kt
  • 7 Giải Pháp Trọng Tâm Nhằm Phát Triển Kinh Tế
  • Cụ thể, Tổ đại biểu HĐND tỉnh, đơn vị huyện Long Phú đề xuất cần có giải pháp cụ thể hơn nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh, chỉ số cải cách hành chính và chỉ số hài lòng của người dân về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước. Quan tâm chỉ đạo các địa phương được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới phải giữ vững và thường xuyên nâng chất, không được chủ quan, lơ là sau khi được công nhận.

    Đồng chí Trần Hoàng Thắng, đại biểu HĐND tỉnh đơn vị TX. Vĩnh Châu đề xuất, cần nhận xét, đánh giá đúng thực trạng tình hình kinh tế – xã hội của địa phương và những tồn tại, hạn chế, yếu kém trong quá trình triển khai thực hiện, qua đó có giải pháp cụ thể, thiết thực để khắc phục. Đánh giá thêm về những khó khăn, bất lợi đối với việc nuôi tôm hiện nay, điều kiện cần và đủ để nuôi theo mô hình công nghiệp, bán công nghiệp. Tăng cường các chính sách hỗ trợ nuôi tôm ngoài chính sách bảo hiểm tôm; đánh giá hiệu quả của dự án chăn nuôi bò thịt, bò sữa để định hướng tốt hơn trong thời gian tới; thực trạng của các hợp tác xã và có giải pháp, cơ chế nâng chất hoạt động loại hình này.

    Đối với TP. Sóc Trăng, đồng chí Nguyễn Văn Quận, đại diện tổ đại biểu cho rằng, vấn đề cử tri quan tâm nhất là tiến độ thực hiện các dự án nâng cấp đô thị và giải phóng mặt bằng. Đến thời điểm hiện tại, ngành chức năng TP. Sóc Trăng đang đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng những dự án lớn, trong đó có dự án đường Trần Quang Khải và một số trường thuộc Phường 9, Phường 2, Phường 6. Qua đó, đề xuất các sở, ngành quan tâm giám sát công tác giải phóng mặt bằng, quy hoạch khu tái định cư tập trung để bố trí cho các hộ bị giải tỏa trắng; ban hành cơ chế đặc thù đối với TP. Sóc Trăng, tạo điều kiện phát triển tốt hơn.

    Tổ đại biểu HĐND tỉnh, đơn vị huyện Thạnh Trị cũng kiến nghị tiếp tục kéo dài thời gian thực hiện dự án chăn nuôi bò thịt và dự án lúa đặc sản giai đoạn 2022 – 2025; có phương án kêu gọi doanh nghiệp tham gia đầu tư nước sinh hoạt cho người dân giai đoạn 2022 – 2025. Trong nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội cần xây dựng phương án tổng thể đối với việc hỗ trợ cung ứng nguồn giống heo sạch, chất lượng để nhân dân yên tâm tái đàn.

    Các tổ đại biểu HĐND tỉnh đơn vị huyện Cù Lao Dung, huyện Kế Sách, huyện Mỹ Xuyên, TX. Ngã Năm, huyện Châu Thành, huyện Mỹ Tú cũng kiến nghị trong 6 tháng cuối năm 2022, UBND tỉnh đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi cơ cấu sản xuất, kết nối liên kết tiêu thụ sản phẩm đang được địa phương sản xuất theo tiêu chuẩn sạch, công nghệ cao.

    Về nội dung các tờ trình, dự thảo nghị quyết, đa số đại biểu đều thống nhất. Tuy nhiên, đại biểu cũng đề nghị các cơ quan, đơn vị nghiên cứu, điều chỉnh bố cục một số nghị quyết đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật và thuận tiện cho quá trình triển khai, thực hiện.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Nhiệm Vụ Giải Pháp Về Phát Triển Kinh Tế
  • Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Đêm Tại Bình Thuận
  • Liên Kết Vùng: Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Dài Hạn
  • Tìm Giải Pháp Ngăn Chặn Bạo Lực Học Đường
  • 7 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Việt Nam
  • Đề Xuất Các Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Nông Hộ Tại Phường Túc Duyên
  • 10 Nhiệm Vụ Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Huyện Vũ Quang
  • Huyện Như Xuân Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho rằng, năm 2022 có nhiều khó khăn phát sinh, tác động không thuận đến sự phát triển kinh tế-xã hội nhưng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, các mục tiêu đã đạt được.

    Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

    Chiều 30/12, tại Hội nghị Chính phủ với các địa phương triển khai Nghị quyết của Quốc hội khóa XIV về nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2022, các đại biểu đều đánh giá cao sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời, hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã theo sát những diễn biến của tình hình trong nước và quốc tế để có chính sách, biện pháp ứng phó, điều hành linh hoạt.

    Các đại biểu cũng đề xuất nhiều giải pháp nhằm hoàn thành thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2022.

    Bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong triển khai thực hiện

    Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cho rằng, năm 2022 có nhiều khó khăn phát sinh, tác động không thuận đến sự phát triển kinh tế-xã hội nhưng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra đã đạt được.

    Theo Bộ trưởng, có được kết quả này là do sự chỉ đạo xuyên suốt, sự điều hành kiên định của Chính phủ nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Bên cạnh đó, hệ thống các chủ trương, chính sách trong phát triển kinh tế-xã hội được bảo đảm đồng bộ, hiệu quả. Chính phủ đã chủ động rà soát các văn bản pháp quy để báo cáo Quốc hội sửa đổi, cập nhật kịp thời, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

    Điều này góp phần khai thác, phát huy mạnh mẽ các nguồn lực mới phục vụ đầu tư phát triển đất nước, nhất là nguồn lực xã hội, khu vực doanh nghiệp tư nhân, đầu tư nước ngoài.

    Bộ trưởng Trần Tuấn Anh chỉ rõ, năm 2022 sẽ ẩn chứa nhiều khó khăn, thách thức khi tình hình thế giới diễn biến nhanh, các đối tác, thị trường lớn khó đoán định, chưa thể dự báo hết được.

    Các chỉ tiêu kế hoạch năm 2022 được xác định với yêu cầu rất cao (so với nền tảng đã đạt được ở mức cao của năm 2022) cũng là thách thức lớn đối với các bộ ngành, địa phương.

    Vì thế, để đạt được các mục tiêu đề ra cần quyết tâm lớn của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương.

    Thống nhất với các yêu cầu, chỉ đạo của Chính phủ, đặc biệt các nội dung trong Nghị quyết số 01 và Nghị quyết số 02 của Chính phủ, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho biết, thời gian tới, Bộ sẽ tập trung cụ thể hóa các nghị quyết này thành chương trình, kế hoạch hành động cụ thể của ngành Công Thương để tổ chức triển khai thực hiện.

    Bên cạnh đó, tiếp tục phát huy bài học kinh nghiệm trong chỉ đạo điều hành những năm qua. Bộ trưởng cho rằng, cần bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong phối hợp chính sách giữa các bộ, ngành và tổ chức thực hiện ở các địa phương.

    Theo Bộ trưởng, năm 2022, việc bảo đảm thị trường cho sản xuất, đầu tư trong nước sẽ đối mặt nhiều thách thức. Trước tình hình đó, Bộ Công Thương xác định nhiệm vụ là tiếp tục duy trì môi trường ổn định đối với các đối tác để thực hiện chiến lược đa phương hóa, đa dạng hóa, tránh sự phụ thuộc quá lớn vào một thị trường.

    Bộ cũng đồng hành cùng với các bộ, ngành để tổ chức chương trình hành động, hỗ trợ hiệu quả các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp trong công tác phát triển thị trường, tổ chức lại sản xuất, hình thành các chuỗi sản xuất để tiếp cận bền vững thị trường quốc tế.

    Ngoài ra, theo Bộ trưởng, cần nâng cao năng lực thể chế trong đấu tranh chống gian lận thương mại để xử lý vụ kiện, tranh chấp thương mại trong nước, quốc tế, từ đó hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tiếp cận thị trường bền vững.

    Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh phát biểu. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)

    Nâng cao năng lực ứng phó

    Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường, năm 2022, bên cạnh những yếu tố thuận lợi cũng có nhiều thách thức lớn, trong đó có các khó khăn về thương mại, thị trường, biến đổi khí hậu, dịch bệnh… ảnh hưởng đến ngành Nông nghiệp.

    “Có rất nhiều giải pháp nhưng phải nhấn mạnh giải pháp nâng cao kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực ứng phó với các tình huống xảy ra. Đây là giải pháp thường trực trong năm 2022,” Bộ trưởng nhấn mạnh

    Theo Bộ trưởng, năm 2022 chỉ tiêu của ngành nông nghiệp là khá cao. Tốc độ tăng trưởng GDP đạt từ 2,91-3%; xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt từ 41,5-42 tỷ USD; có ít nhất 59% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. “Với chỉ tiêu này, Bộ, ngành sẽ quyết tâm phấn đấu ở mức cao nhất,” Bộ trưởng chỉ rõ.

    Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ phối hợp với các bộ, ngành xây dựng các biện pháp, kế hoạch thực hiện để phấn đấu đạt được các chỉ tiêu cao nhất Nghị quyết của Chính phủ đề ra.

    Bộ trưởng cho rằng, việc phát triển thị trường là khâu quyết định đến sự tăng trưởng của ngành nông nghiệp nói riêng, tăng trưởng nền kinh tế nói chung. Bên cạnh các thị trường EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, ngành đặc biệt coi trọng hướng tới thị trường ASEAN.

    Bộ Nông nghiệp sẽ phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương, các địa phương, doanh nghiệp, ngành hàng chuẩn bị đủ các điều kiện để thực hiện tốt vấn đề này.

    Bên cạnh đó, theo Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, trong tái cơ cấu nông nghiệp gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, kể cả 3 trục sản phẩm là: nhóm sản phẩm cấp quốc gia, cấp tỉnh, nhóm OCOP (chương trình mỗi xã một sản phẩm) đều phải coi trọng ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là một trong những giải pháp quyết định.

    Trong sản xuất chuỗi khép kín, từ khâu sản xuất đên chế biến, thương mại thì chế biến phải được xác định là khâu đột phá, có chế biến tốt mới có vùng nguyên liệu tốt, thương mại tốt mới bán được hàng…

    Đối với vấn đề nông thôn mới, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường chỉ rõ, việc nâng cao đời sống nhân dân, thúc đẩy sản xuất ở vùng nông thôn gắn với môi trường là vấn đề cốt lõi.

    Bộ trưởng cũng nhấn mạnh tới các giải pháp tăng cường ứng phó thiên tai, dịch bệnh ngay từ đầu năm; khắc phục hạn mặn xâm nhập ngày càng nghiêm trọng ở các tỉnh phía Nam. Đối với thị trường thịt lợn, Bộ đang tập trung tái đàn ở các tỉnh để tháng 1/2020 không xảy ra tình trạng thiếu thực phẩm, tránh để chỉ số giá tiêu dùng tăng cao ngay từ quý đầu năm./.

    Theo Phan Phương (TTXVN/Vietnam+)

    Link gốc:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Nhân Và Những Giải Pháp Ngăn Chặn Tình Trạng Bạo Lực Học Đường Hiện Nay Ở Việt Nam
  • Báo Động Đỏ Thực Trạng Bạo Lực Học Đường Hiện Nay Ở Việt Nam
  • Những Việc Cần Làm Ngay Để Ngăn Chặn Bạo Lực Học Đường
  • Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Việt Nam Trước Yêu Cầu Số Hóa Nền Kinh Tế
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Và Hiệu Quả Công Tác Đào Tạo Nguồn Nhân Lực Hiên Nay
  • Đề Ra Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Bình Chánh: Triển Khai 22 Chỉ Tiêu, 12 Nhóm Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Các Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Các Nhiệm Vụ, Giải Pháp Chủ Yếu Phát Triển Kinh Tế
  • Nhiệm Vụ, Giải Pháp Chủ Yếu Thực Hiện Kế Hoạch Phát Triển Ktxh Năm 2022
  • Xã Vạn Thắng Nhiều Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế, Nâng Cao Thu Nhập Cho Người Dân
  • Sản xuất các sản phẩm cơ khí tại Công ty CP Kết cấu thép và Xây dựng Tân Khánh, xã Đắc Sơn, T.X Phổ Yên.

    HĐND T.X Phổ Yên khóa I, nhiệm kỳ 2022-2021, vừa tổ chức kỳ họp thứ 7 nhằm đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội năm 2022; đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2022.

    Theo báo cáo tại Kỳ họp, năm 2022, kinh tế – xã hội địa phương tiếp tục phát triển, các chỉ tiêu đều hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra, như: Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ước đạt trên 602,5 nghìn tỷ đồng (tăng 12,5% so với cùng kỳ); tổng sản lượng lương thực cây có hạt đạt 60.844 tấn (bằng 109% kế hoạch); thu ngân sách ước đạt trên 545,6 tỷ đồng, bằng 116,9% kế hoạch; tạo việc làm mới cho 5.300 lao động (bằng 135,9% kế hoạch); thu nhập bình quân đầu người ước đạt 53 triệu đồng/người/năm, vượt kế hoạch 6,5 triệu đồng… Cùng với đó, tình hình an ninh chính trị được củng cố, giữ vững; lĩnh vực văn hóa xã hội được quan tâm thực hiện tốt; các chính sách xã hội được thực hiện đầy đủ kịp thời, đúng đối tượng….

    Trên cơ sở những kết quả đạt được, Thị xã đã đề ra một số giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2022. Trong đó, tập trung thực hiện tốt Chương trình Phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp làng nghề T.X Phổ Yên giai đoạn 2022-2020; tiếp tục thực hiện công tác giải phóng mặt bằng các dự án, công trình trọng điểm; triển khai thực hiện vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại xã Tiên Phong và Tân Phú…; phấn đấu, giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn đạt 675 nghìn tỷ đồng; thu ngân sách đạt 512 tỷ đồng; thu nhập bình quân đầu người đạt 56 triệu đồng/người/năm…

    Tại Kỳ họp, 39 đại biểu đã thực hiện quy trình lấy phiếu tín nhiệm đối với 23 người giữ chức vụ do HĐND Thị xã bầu. Kết quả, tất cả các đại biểu đều có số phiếu tín nhiệm cao chiếm từ 41% trở lên. Trong đó, ông Bùi Văn Lương, Chủ tịch UBND Thị xã có 38 phiếu tín nhiệm cao, chiếm 97,4%; ông Nguyễn Văn Tùy, Chủ tịch HĐND Thị xã có 38 phiếu tín nhiệm cao, chiếm 97,4%; bà Vũ Thị Thơm, Phó Chủ tịch HĐND Thị xã có 37 phiếu tín nhiệm cao, chiếm 94,9%…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đường Lối Phát Triển Kinh Tế
  • Triển Khai Các Giải Pháp Đẩy Mạnh Phát Triển Kinh Tế
  • 5 Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Vùng Đông Nam Bộ
  • 5 Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Kinh Tế Vùng Đông Nam Bộ
  • Tăng Trưởng Gdp Việt Nam Năm 2022 Giảm Ít Nhất 0,55%
  • Đbqh Đơn Vị Tỉnh Lâm Đồng Đề Xuất Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Quận 9: Triển Khai Thực Hiện Hiệu Quả Các Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Giải Pháp Ngăn Chặn Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em
  • Tìm Giải Pháp Ngăn Chặn Xâm Hại Trẻ Em
  • Giải Pháp Nào Để Ngăn Chặn Có Hiệu Quả Nạn Xâm Phạm Tình Dục Trẻ Em?
  • Ông K’Nhiễu – Đoàn ĐBQH đơn vị tỉnh Lâm Đồng

    Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS và MN giai đoạn 2022-2030 là chương trình có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, đối tượng thụ hưởng là vùng đồng bào DTTS và MN, nơi đời sống của người dân còn rất nhiều khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, KT – XH chậm phát triển, cơ sở hạ tầng yếu kém, hệ thống y tế, giáo dục, thiết chế văn hóa còn thiếu. Đồng bào đang rất mong đợi, sự đầu tư của Chương trình sẽ tác động mạnh mẽ, thúc đẩy phát triển toàn diện KT – XH, nâng cao đời sống của người dân, thay đổi bộ mặt vùng đồng bào DTTS và MN. Để các dự án của Chương trình thực sự đem lại hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương cần quan tâm một số vấn đề sau:

    Hai là phát triển nguồn nhân lực và xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS và MN. Đội ngũ cán bộ người DTTS là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển KT-XH, quốc phòng, an ninh ở vùng đồng bào DTTS. Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và đã ban hành nhiều chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển vùng đồng bào DTTS và MN, vùng sâu, vùng xa trong bối cảnh đất nước đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập quốc tế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS cần có những thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp.

    Trong xây dựng chính sách ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS, cần chú ý nguyên tắc ưu tiên là nhằm tạo cơ hội để đồng bào tự phát triển, không làm triệt tiêu năng lực tự chủ, tự vươn lên của đối tượng thụ hưởng nguồn lực ưu tiên. Cần xác định rõ ưu tiên của Nhà nước chỉ là yếu tố ngoại sinh có ý nghĩa tạo môi trường, điều kiện cho sự phát triển chứ không thể thay thế được bản thân sự phát triển tự thân của các DTTS. Trong thực hiện chính sách ưu tiên phải chú ý đảm bảo chất lượng đào tạo, đảm bảo cán bộ người DTTS sau đào tạo, bồi dưỡng có đủ năng lực để nâng cao hiệu quả công việc, có như vậy mới giúp cho đồng bào DTTS vùng núi, vùng sâu, vùng xa phát triển.

    Chính sách đào tạo, bồi dưỡng phải gắn kết và đồng bộ với các chính sách khác như quy hoạch, sử dụng… Quy hoạch là cơ sở cho công tác đào tạo, bồi dưỡng; đào tạo, bồi dưỡng phải trên cơ sở quy hoạch. Có như vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng mới phục vụ trực tiếp cho việc nâng cao năng lực công tác của cán bộ, tránh lãng phí nguồn lực. Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cũng phải gắn với chính sách sử dụng cán bộ. Nếu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS nhưng khi sử dụng không đúng ngành nghề đào tạo thì vừa không phát huy được năng lực, sở trường của cán bộ, vừa lãng phí nguồn lực đào tạo, bồi dưỡng.

    Ba là đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ (KH-CN) phục vụ phát triển sản xuất. Những năm gần đây, hoạt động KH-CN đã tập trung nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật, ứng dụng, công nghệ trong sản xuất nông sản đến với vùng đồng bào DTTS và MN, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị cây trồng, đem lại cuộc sống ấm no cho người dân. Tuy đạt được nhiều kết quả tốt, nhưng việc nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao KH-CN, mô hình sản xuất nông nghiệp ở vùng đồng bào DTTS vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa thực sự bền vững. Mặc dù, các địa phương đã hình thành được những mô hình điển hình, nhưng vẫn chưa hình thành được các mối liên kết bền vững giữa doanh nghiệp và nông dân; chưa có chính sách đặc thù về ứng dụng và chuyển giao KH-CN phục vụ phát triển KT-XH cho vùng đồng bào DTTS và MN. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý trong lĩnh vực KH-CN và ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn chưa chặt chẽ và đồng bộ, vấn đề này rất cần Chính phủ quan tâm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiều Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Một Số Giải Pháp Tuyên Truyền Phát Triển Kt
  • Hà Nội: Cần Giải Pháp Hữu Hiệu Để Phát Triển Kinh Tế
  • Tiểu Luận Thực Trạng Và Các Giải Pháp Để Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Đề Tài Các Giải Pháp Cơ Bản Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
  • Đề Xuất Các Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế, Bảo Đảm An Sinh Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Nguồn Nguyên Liệu Sữa Của Công Ty Vinamilk
  • Nâng Cao Hiệu Quả Thực Thi Pháp Luật Về Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Quyết Liệt ‘đốt Lò’ Không Vùng Cấm
  • Phòng, Chống Tham Nhũng Với Quyết Tâm Cao Hơn, Mạnh Mẽ Hơn, Hiệu Quả Hơn
  • Đại Biểu Quốc Hội Đề Xuất Nhiều Giải Pháp Đẩy Mạnh Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng
  • Trong phiên họp buổi sáng, các đại biểu đều thể hiện sự đồng tình với báo cáo và đánh giá cao sự nỗ lực của Chính phủ đã chỉ đạo, điều hành với những bước đi đúng đắn, tạo bước phát triển khả quan.

    Những tín hiệu tích cực của nền kinh tế cùng với sự ổn định trật tự an toàn xã hội càng củng cố niềm tin vào mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam năm 2022 và những năm tiếp theo.

    Đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai Lê Thu Hà phát biểu ý kiến. (Ảnh: Văn Điệp/TTXVN)

    Phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 6,7%

    Thượng tọa Thích Thanh Quyết (Quảng Ninh) đánh giá nhìn chung tình hình kinh tế-xã hội đã có sự ổn định. Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt, tập trung cải cách hành chính, khuyến khích khởi nghiệp, thị trường tài chính ổn định, đặc biệt an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chủ quyền quốc gia được vững chắc, giáo dục, y tế được chấn chỉnh, nhân dân an cư, lạc nghiệp.

    Tuy nhiên, chỉ tiêu quan trọng nhất là tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt thấp hơn kế hoạch đã đề ra và cùng kỳ năm ngoái. Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng tín dụng 5,76% cuối tháng 4/2017 so với đầu năm là cao nhất kể từ tháng 4/2010. Trong khi GDP 4 tháng qua tăng trưởng thấp cho thấy tăng trưởng tín dụng cao đã không thúc đẩy được tăng trưởng kinh tế…

    Băn khoăn về mục tiêu tăng trưởng GDP 6,7% cả năm mà Chính phủ đưa ra trong Báo cáo kinh tế-xã hội, đại biểu Nguyễn Thị Phúc (Bình Thuận) đề nghị Chính phủ giải thích rõ, có sức thuyết phục hơn cơ sở của chỉ tiêu này để đảm bảo tính khả thi cao.

    Đại biểu Nguyễn Thị Phúc khẳng định ổn định nền kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy nhanh, bảo đảm hiệu quả vốn đầu tư là những giải pháp quan trọng nhằm tháo gỡ kịp thời khó khăn về vốn, sớm đưa dòng vốn vào nền kinh tế, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa, kích thích tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, trong thực tế, việc phân khai nguồn vốn còn rất chậm, nên nhiều công trình đầu tư từ ngân sách Nhà nước đang khó khăn; đặc biệt là các công trình đầu tư từ ngân sách Trung ương. Để giải bài toán này, đại biểu đề xuất Chính phủ cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư theo kế hoạch, nhất là tiếp tục bố trí vốn để triển khai dứt điểm các công trình đang thi công dở dang ở các địa phương.

    Đại biểu phân tích GDP là một trong 4 mục tiêu quan trọng nhất của kinh tế vĩ mô (tăng GDP; ổn định giá cả; tăng việc làm, giảm thất nghiệp; tăng xuất khẩu). Nếu năm 2022 không đạt được mục tiêu 6,7%, hai năm liền Việt Nam không đạt được mục tiêu kế hoạch tăng trưởng, trong ba năm còn lại sẽ khó khăn hơn. Nhìn xa hơn, nếu trong 20 năm từ 2022 đến 2035, nền kinh tế Việt Nam không đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 7%/năm, để GDP đầu người tăng khoảng 6%/năm, Việt Nam không còn cơ hội để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Do vậy, mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2022-2020 là rất quan trọng đối với lộ trình 20 năm tới.

    Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay, bên cạnh 6 nhóm giải pháp Chính phủ đã đưa ra, theo đại biểu, giải pháp để thúc đẩy tăng trưởng nhanh đó là tăng tổng cầu của nền kinh tế. Cụ thể, tăng khối lượng tiền tệ so với kế hoạch đề ra tương ứng với việc tăng thêm khoảng 2% tổng dư nợ tín dụng, bao gồm cả tín dụng đầu tư và tiêu dùng, vào những đối tượng và lĩnh vực có tốc độ giải ngân nhanh nhất trong năm 2022.

    Tăng tín dụng thêm 2% sẽ không gây lạm phát tiền tệ bởi lạm phát cơ bản cho đến nay vẫn diễn biến thuận lợi. Quý 1/2017, lạm phát cơ bản chỉ tăng 1,66% so với bình quân năm 2022. Ngay cả tình huống năm 2022, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng cao hơn 4% so với năm 2022 nhưng dưới 5% cũng chỉ có tác dụng kích thích tăng trưởng không đáng lo ngại. Kèm theo giải pháp này không điều chỉnh tăng giá điện, các loại dịch vụ công khác như y tế, giáo dục từ nay đến cuối năm. Đồng thời, Chính phủ kích thích tăng tiêu dùng dân cư, đầu tư tư nhân thông qua các biện pháp mở rộng tín dụng tiêu dùng, tháo gỡ các thủ tục hành chính để thúc đẩy các công trình xây dựng đầu tư tư nhân, nhất là các thủ tục đầu tư xây dựng của doanh nghiệp. Đặc biệt, phải có các biện pháp giải ngân nhanh đầu tư trong năm 2022, bao gồm các dự án BOT, BT, các dự án hạ tầng giao thông. Nếu hết quý III/2017 giải ngân được 70% vốn đầu tư trong năm thì tác động lan tỏa rất lớn trong năm 2022-đại biểu kiến nghị.

    Bảo đảm an sinh xã hội vùng đồng bào dân tộc

    Vấn đề bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa… là nội dung được nhiều đại biểu quan tâm, cho ý kiến.

    Đại biểu Đoàn Văn Việt (Lâm Đồng) chỉ rõ theo báo cáo của Chính phủ, an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm, các chính sách về đầu tư phát triển đã phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, tại một số địa phương, tỷ lệ hộ cận nghèo, nguy cơ tái nghèo là rất đáng quan tâm. Trung bình cứ 3 hộ thoát nghèo, có một hộ nghèo mới, tái nghèo. Điều đó cho thấy kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững; trên nhiều địa bàn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao. Cuộc sống người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số di cư tự do còn nhiều khó khăn.

    Đại biểu đề nghị Chính phủ quan tâm, chỉ đạo thực hiện tốt hơn nữa nội dung để phát triển toàn diện kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số; quan tâm, bố trí đủ nguồn lực nhất là vùng đặc biệt khó khăn; đổi mới các định mức đầu tư, phân bổ ngân sách các cơ chế đặc thù về đầu tư phát triển kinh tế-xã hội cho phù hợp với địa bàn vùng dân tộc thiểu số, vùng núi. Ngoài ra, cần tháo gỡ những vướng mắc cụ thể trong việc giải quyết đất định canh định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có hàng ngàn đồng bào dân tộc thiểu số di cư tự do đang có cuộc sống khó khăn, chưa ổn định.

    Để đồng bào các dân tộc thuộc diện di cư, di dân tái định cư các công trình thủy điện sớm có cuộc sống ổn định và phát triển, đại biểu cho biết: Thời gian qua, nhiều địa phương đã xây dựng các đề án, kế hoạch ổn định đời sống, sản xuất vùng đồng bào tái định cư các công trình thủy điện. Các bộ, ngành cần sớm xem xét, trình Chính phủ phê duyệt để các địa phương sớm thực hiện, đáp ứng lòng mong mỏi của Đảng bộ, chính quyền và đồng bào các dân tộc các địa phương thực hiện di dân tái định cư các công trình thủy điện.

    Quan tâm đến các chính sách phát triển kinh tế-xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đại biểu Tô Văn Tám (Kon Tum) đề nghị Chính phủ đẩy nhanh việc ban hành chính sách mới cho giai đoạn 2022-2021. Việc bố trí đủ nguồn lực tài chính cho thực hiện chính sách vẫn là yêu cầu đòi hỏi bức thiết. Đồng thời, Chính phủ và các bộ, ngành cần hoàn thiện chính sách phân vùng để phát triển sản xuất phù hợp với đặc thù từng vùng; hình thành, phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số; xây dựng các chính sách bền vững hơn trong tiêu thụ sản phẩm, bên cạnh các chính sách hỗ trợ hiện tại theo hướng kết nối sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số với thị trường. Chính phủ cũng cần tổng kết một cách toàn diện việc ban hành và thực hiện các chính sách, pháp luật, làm cơ sở để Quốc hội ban hành đạo luật về dân tộc và miền núi.

    Khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao

    Các đại biểu đánh giá, nền nông nghiệp đang gặp phải những thách thức, khó khăn rất lớn đòi hỏi nhiều giải pháp quyết liệt, đồng bộ để khắc phục.

    Đại biểu Ma Thị Thúy (Tuyên Quang) cho rằng thực tế tái cơ cấu ngành nông nghiệp thời gian qua chưa đạt được mục tiêu đề ra. Theo đó, thu nhập của người nông dân còn thấp, đất dành cho sản xuất nông nghiệp còn manh mún. Ngoài ra, nguồn vốn đầu tư cho sản xuất nông nghiệp chưa cao, đầu tư từ doanh nghiệp ngoài nhà nước vào lĩnh vực này còn hạn chế, sản xuất chưa gắn kết được các khâu chế biến và tiêu thụ sản phẩm; chất lượng hàng hóa nông sản chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu.

    Từ thực trạng này, theo đại biểu Ma Thị Thúy, để phát triển nông nghiệp hiện đại, quy mô lớn, phải đổi mới, hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai, nhất là về vấn đề tích tụ, tập trung ruộng đất. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh việc chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất và quản lý, từ đó tạo ra những sản phẩm có giá trị thương phẩm cao, có thương hiệu, đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm trên thị trường quốc tế. Nhà nước cũng đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư, khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế đầu tư vào nông nghiệp nông thôn.

    “Hơn lúc nào hết phải có chính sách đặc thù, cụ thể để xây dựng mối liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp trong chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng, người dân, doanh nghiệp và nhà nước,” đại biểu Ma Thị Thúy nhấn mạnh.

    Đồng tình với quan điểm này, đại biểu Nguyễn Thị Phúc cho rằng để ngành nông nghiệp phát triển bền vững, Chính phủ cần có giải pháp căn cơ, đồng bộ hơn, trong đó triển khai quyết liệt việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Việc thực hiện cần tập trung vào công tác quy hoạch ngành, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, có chính sách hỗ trợ nông dân và nông nghiệp ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Đặc biệt, cần đẩy mạnh phát triển hợp tác xã kiểu mới để thực hiện liên kết giữa nhà nước-nhà nông-nhà doanh nghiệp-nhà khoa học và ngân hàng, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh sản phẩm, giảm dần sản xuất manh mún, tự phát của hộ gia đình.

    Nêu lên tình trạng giá cả vật tư nông nghiệp kém chất lượng; hiện tượng được mùa mất giá, sản phẩm ế thừa không tiêu thụ được gây thiệt hại nặng nề cho nông dân, đại biểu Trần Thị Hoa Ry (Bạc Liêu) nêu rõ đây là những vấn đề đã được đề cập nhiều lần nhưng chưa được khắc phục khiến cử tri rất bức xúc.

    Cử tri cho rằng sự can thiệp, xử lý của Nhà nước trong việc tiết giảm chi phí trung gian và sự chênh lệch giữa giá thu mua và giá bán còn rất chậm. Vì thế, các ngành chức năng cần quản lý chặt chẽ, giảm thiểu tình trạng tự phát trong sản xuất của người dân, có sự gắn kết từ khâu sản xuất đến tiêu thụ.

    Ngoài ra, Chính phủ cần tăng cường đầu tư cho nông nghiệp nông thôn, phân bổ hợp lý nguồn lực từ ngân sách tương xứng với đối tượng thụ hưởng trong tổng đầu tư vốn hiện nay; tạo điều kiện thuận lợi để nông dân có điều kiện ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ trong sản xuất.

    Cho ý kiến về nội dung này, đại biểu Nguyễn Tuấn Anh (Bình Phước) nhấn mạnh nông nghiệp là trụ đỡ của nền kinh tế, nhưng thực tế thời gian qua, trụ đỡ này đang yếu dần do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, chi phí sản xuất lớn, nguồn nước bị xâm nhập mặn…

    Đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Thị Quyên Thanh phát biểu ý kiến. (Ảnh: Văn Điệp/TTXVN)

    Để khắc phục tình trạng này, theo đại biểu Nguyễn Tuấn Anh, nông nghiệp công nghệ cao là yêu cầu tất yếu. Hướng đi này cần có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và phải có vốn. Chính phủ đã dành gói tín dụng 100.000 tỷ đồng để ưu đãi vốn vay cho doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp sạch là chủ trương đúng đắn. Tuy nhiên, để tiếp cận được nguồn vốn này là rất khó khăn vì các doanh nghiệp bị ràng buộc rất nhiều điều kiện. Do vậy, đại biểu Nguyễn Tuấn Anh cho rằng cần sớm có quy định xác lập sở hữu tài sản đầu tư trên đất đối với các trang trại nông nghiệp công nghệ cao để làm căn cứ thế chấp vốn vay.

    Bên cạnh đó, tăng thời gian hỗ trợ vốn vay đối với doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao; khuyến khích và tăng cường đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao; đồng thời tạo kênh thông tin để doanh nghiệp cập nhật về tình hình thị trường; thường xuyên đánh giá, dự báo đúng nhu cầu trong nước và thế giới để hạn chế việc đầu tư tràn lan, cung vượt cầu dẫn đến tình trạng được mùa-mất giá, được giá-mất mùa trong thời gian qua.

    Đại biểu Tống Thanh Bình quan tâm việc thực hiện chính sách theo Nghị định 116 ngày 18/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ, quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở những xã, thôn đặc biệt khó khăn.

    Đại biểu cho biết hiện đã có nhiều thôn, bản, xã thuộc huyện nghèo theo Nghị quyết 30a hoàn thành Chương trình 135, chuyển từ khu vực 3 sang khu vực 2. Do vậy, đối tượng học sinh là con hộ nghèo có hộ khẩu tại khu vực này sẽ không được tiếp tục hưởng chế độ, chính sách theo Nghị định 116. Tuy nhiên, Nghị quyết 30a có quy định tất cả các xã thuộc các huyện nghèo đều được hưởng các cơ chế, chính sách quy định như đối với xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135 giai đoạn 2. Thực tế hiện nay các trường vẫn tổ chức nuôi dưỡng học sinh vì đại đa số học sinh này là người dân tộc thiểu số, kinh tế khó khăn, không có điều kiện đi về trong ngày. Những học sinh này nếu không tiếp tục được hỗ trợ thì nguy cơ bỏ học rất cao. Do đó, đại biểu đề nghị Chính phủ chỉ đạo, cho phép các địa phương tiếp tục áp dụng và thực hiện chế độ quy định tại Nghị định 116.

    Trăn trở đối với tình trạng bạo lực học đường xảy ra trên khắp cả nước, ở tất cả các cấp học với mức độ ngày càng gia tăng, hậu quả nghiêm trọng, đại biểu Trần Thị Phương Hoa đề nghị Chính phủ cần có biện pháp để hạn chế tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống gây bức xúc xã hội, nhất là tình trạng bạo lực học đường, xâm hại trẻ em trong thời gian qua. Đại biểu dẫn chứng: Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong toàn quốc xảy ra 1.600 vụ học sinh đánh nhau trong và ngoài trường học, bình quân khoảng 5 vụ/ngày. Cứ khoảng trên 5.200 học sinh có một vụ đánh nhau, cứ trên 11.000 học sinh thì có một em bị buộc thôi học vì đánh nhau…

    Trong phiên họp vừa qua, Chính phủ cũng thể hiện quan tâm đối với nội dung này, trong đó đối với mầm non 5 tuổi, không phân biệt người dân tộc, tất cả học sinh ở vùng đặc biệt khó khăn đều được miễn học phí bắt đầu từ năm 2022. Đối với các học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tiếp tục tham mưu Chính phủ có biện pháp hỗ trợ.

    Về giải pháp để giảm thiểu bạo lực học đường, Bộ trưởng khẳng định Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định về môi trường an toàn cho học sinh ở các trường phổ thông.

    Cần làm rõ trách nhiệm trong việc đảm bảo an toàn thực phẩm

    Nên thành lập đơn vị thuộc Chính phủ chuyên trách quản lý về an toàn thực phẩm hay giữ nguyên mô hình 3 Bộ: Y …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề 2: Một Số Vấn Đề Về Công Tác Xây Dựng Đảng Và Công Tác Cán Bộ Hiện Nay
  • Ngành Giáo Dục Đóng Góp Ý Kiến Vào Dự Thảo Văn Kiện Đại Hội
  • Giáo Dục Lạng Sơn: Gỡ Khó Để Phát Triển
  • Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Giáo Dục Thcs Tại Các Xã Biên Giới
  • Nghiệm Thu Đề Tài: “một Số Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Giáo Dục Trung Học Cơ Sở Các Xã Biên Giới Tỉnh Lạng Sơn Đến Năm 2025, Tầm Nhìn Đến Năm 2030”
  • Đề Xuất Các Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Trong Thời Kỳ Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Trên Địa Bàn Tỉnh Thanh Hóa
  • Kinh Tế Tư Nhân: Quan Niệm Và Giải Pháp Phát Triển
  • Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Nông Thôn Và Xây Dựng Nông Thôn Mới Hiệu Quả
  • Phát Triển Kinh Tế Nông Thôn Ở Các Nước Và Thực Tiễn Tại Việt Nam
  • Phát Triển Kinh Tế Nông Nghiệp
  • Hội thảo nhằm góp phần đánh giá tình hình phát triển kinh tế tư nhân, giải quyết những rào cản đối với phát triển kinh tế tư nhân, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển bền vững.

    Chưa trở thành động lực của nền kinh tế

    Phát biểu khai mạc tại Hội thảo, TS. Nguyễn Hồng Sơn, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp thành phố Hà Nội, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển hàng tiêu dùng Việt Nam cho biết, sau gần 30 năm đổi mới, kể từ Đại hội VI của Đảng, kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã ngày càng được coi trọng và khuyến khích phát triển.

    Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn, Phó Chủ tịch VCCI phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Nguyễn Dân/TTXVN

    Từ chỗ chỉ được thừa nhận và cho phép tồn tại trong nền kinh tế nhiều thành phần (Đại hội VI-1988), đến nay, kinh tế tư nhân đã được coi là “một động lực quan trọng của nền kinh tế và là một xu thế tất yếu giúp Nhà nước thực thi nhiệm vụ kinh tế đã đề ra” (Đại hội XII- ngày 28/1/2016). Đây là một bước tiến lớn về mặt nhận thức đối với kinh tế tư nhân.

    Phát biểu đề dẫn tại Hội thảo, chúng tôi Nguyễn Văn Thạo, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương nhấn mạnh, quan điểm, đường lối của Đảng đã được Nhà nước thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật. Các cơ chế chính sách đã tạo ra cơ sở pháp lý ngày càng hoàn thiện, môi trường kinh tế- xã hội ngày càng thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta trong những năm vừa qua.

    Trong hai năm 2022 và 2022, phong trào khởi nghiệp được đẩy mạnh, riêng năm 2022, có hơn 110 nghìn doanh nghiệp mới được thành lập, cao nhất trong những năm qua. Kinh tế tư nhân sử dụng 85% lực lượng lao động trong nền kinh tế, có tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2003- 2022 là 10,2%/năm, đóng góp khoảng 39-40% GDP của đất nước. Bước đầu đã hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn. Đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh.

    Kinh tế tư nhân chưa thật sự trở thành động lực quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế, kinh tế tư nhân chủ yếu vẫn là kinh tế hộ cá thể. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân quy mô nhỏ và siêu nhỏ, trình độ công nghệ thấp, lạc hậu, đổi mới chậm.

    Trình độ quản trị, năng lực tài chính, năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh, chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh thấp, chủ yếu tham gia ở phân khúc thị trường có giá trị gia tăng thấp, năng lực hội nhập quốc tế hạn chế. Cơ cấu ngành nghề của doanh nghiệp tư nhân chưa hợp lý.

    Hơn 80% doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ. Chỉ có hơn 10% doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và khoảng 1% doanh nghiệp đầu tư, hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Tình trạng vi phạm pháp luật, cạnh tranh không lành mạnh trong kinh tế tư nhân khá phổ biến. Tình trạng sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường, không bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm diễn ra nghiêm trọng, phức tạp…

    Phát triển cộng đồng doanh nghiệp hình Kim tự tháp

    Quang cảnh buổi hội thảo. Ảnh: Nguyễn Dân/TTXVN

    Cũng theo báo cáo đề dẫn, những nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến sự hạn chế và yếu kém của kinh tế tư nhân đó là, luật pháp, cơ chế chính sách của Nhà nước đối với kinh tế tư nhân chưa đồng bộ, còn nhiều bất cập, thủ tục hành chính phiên hà; tình trạng quan liêu, lạm dụng chức quyền, nhũng nhiễu, gây khó khăn, trở ngại cho hoạt động của doanh nghiệp của một bộ phận cán bộ, công chức quản lý Nhà nước làm môi trường đầu tư thiếu an toàn, minh bạch, thuận lợi, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho doanh nghiệp.

    Quyền tự do kinh doanh, quyền bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực, nhất là các nguồn lực của Nhà nước, tiếp cận các cơ hội kinh doanh còn chưa được đảm bảo. Việc gia nhập và rút khỏi thị trường còn nhiều rào cản, tồn tại nhiều chi phí không chính thức.

    Về phía kinh tế tư nhân, nhất là các doanh nghiệp tư nhân, trình độ quản lý, năng lực tài chính còn hạn chế; thiếu chiến lược kinh doanh ổn định, phát triển lâu dài mà còn “ăn sổi, ở thì”, “lướt sóng”, tranh thủ quan hệ với cán bộ cơ quan quản lý Nhà nước để “xin” dự án, cơ hội đầu tư…

    Kiến nghị những giải pháp phát triển kinh tế tư nhân, chúng tôi Nguyễn Hồng Sơn, Hiệu trưởng T rường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, nên tiếp tục đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Hoàn thiện thể chế phân bổ nguồn lực để các nguồn lực được huy động và sử dụng có hiệu quả cao, nhất là các nguồn lực của Nhà nước.

    Môi trường thực sự bình đẳng, dỡ bỏ các rào cản cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển; Nâng cao chất lượng thể chế và quản trị của khu vực kinh tế tư nhân; Xây dựng và thực hiện chính sách công nghiệp quốc gia đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế tư nhân, khuyến khích áp dụng công nghệ và nuôi dưỡng đổi mới sáng tạo.

    Phát triển kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực để nâng cao tính sẵn sàng về công nghệ cho khu vực tư nhân, thúc đẩy khởi nghiệp; Thiết lập nền quản trị quốc gia tốt, thực hiện chính phủ liêm chính, kiến tạo và phục vụ phát triển, xây dựng hệ thống dịch vụ công hiệu quả. Bộ máy hành chính xây dựng có trách nhiệm giải trình đối với công chúng, giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của nền vấn đề lợi ích nhóm đối với chính sách.

    Đề xuất phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ mới, TS. Phạm Thị Thu Hằng, Tổng Thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho rằng, Việt Nam cần tạo ra nhiều các doanh nghiệp quy mô vừa và lớn, đủ năng lực cung ứng cho các nhà đầu tư nước ngoài, xuất khẩu và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ nhằm phát triển một cộng đồng doanh nghiệp hiệu quả hình Kim tự tháp.

    Trong cộng đồng doanh nghiệp hiệu quả có hình Kim tự tháp đó, phải có các doanh nghiệp đầu tàu, ở vị trí đỉnh của Kim tự tháp, với vai trò dẫn dắt các doanh nghiệp còn lại, đó là các tập đoàn kinh tế tư nhân.

    Theo TS. Phạm Thị Thu Hằng , cần giảm thiểu sự “lấn sân” của các Doanh nghiệp Nhà nước đối với khu vực tư nhân đồng thời có chính sách tăng cường phát triển khối doanh nghiệp tư nhân theo cả chiều dọc và chiều ngang để vừa giải quyết những cản trở chung đối với nền kinh tế vừa tạo nên những đột phát trong phát triển năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

    Theo TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, những chính sách mà Chính phủ hướng đến phát triển doanh nghiệp tư nhân như: Định hướng, khuyến khích đầu tư vào những lĩnh vực có tiềm năng phát triển bền vững; Đẩy mạnh quá trình thoái vốn, sắp xếp lại, cổ phần hóa hệ thống doanh nghiệp quốc doanh nằm nâng cao tính hiệu quả cho khu vực doanh nghiệp này; Tạo sự bình đẳng cho các loại hình doanh nghiệp khi kinh doan trên thị trường Việt Nam; Thúc đẩy việc đầu tư phát triển công nghệ mới; Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề; Hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân lớn trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Ở Việt Nam
  • Những Giải Pháp Cơ Bản Để Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân
  • Giải Pháp Thúc Đẩy Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân
  • Nền Kinh Tế Ngầm Ở Vn Và Cách Xử Lý
  • 6 Giải Pháp Thực Hiện Đề Án Thống Kê Khu Vực Kinh Tế Chưa Quan Sát
  • Đề Xuất Nhiều Sáng Kiến, Giải Pháp Xây Dựng Và Phát Triển Nền Kinh Tế Số

    --- Bài mới hơn ---

  • 3 Giải Pháp Xây Dựng Chính Phủ Điện Tử Hiện Đại, Hướng Tới Phát Triển Nền Kinh Tế Số
  • Tham Luận Một Số Giải Pháp Đẩy Mạnh Phát Triển Kinh Tế Xã Hội
  • Kiến Nghị Các Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Xã Hội
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Biển Đối Với Ngư Dân Thành Phố Đà Nẵng
  • Bao Quang Tri : Một Số Giải Pháp Đẩy Mạnh Phát Triển Kinh Tế Biển
  • 08:19 28/11/2019 4068

    Ngoài ra, Đại biểu đến từ Đại học Florence còn giới thiệu đến các đại biểu tại diễn đàn mô hình Camera nhiệt (Thermal Camera) vừa đảm bảo quyền riêng tư vừa giải quyết được các thách thức về điều kiện môi trường và chiếu sáng (đêm tối, khói, bụi, sương mù…).

    Đồng thời, anh cũng đưa ra một số kiến nghị, đề xuất như: Nhà nước nên khuyến khích các sáng kiến về công nghệ, tăng cường nhận thức của doanh nghiệp và người dân về quá trình ứng dụng trí tuệ nhân tạo để số hóa nền kinh tế. Đồng thời, đầu tư và hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất hạ tầng về trí tuệ nhân tạo như các công ty sản xuất camera, linh kiện để phục vụ cho việc nâng cấp hạ tầng nền kinh tế số. Triển khai các hệ thống AI dựa trên các hạ tầng trong khả năng để số hóa nền kinh tế. Tiến hành đầu tư tự động hóa mọi quy trình, áp dụng các công nghệ AI tiên tiến đang có sẵn để thay thế con người.

    Để xây dựng nguồn nhân lực chuyên gia AI, anh đề xuất 2 giải pháp: gửi nhân lực sang các nước phát triển để học hỏi qua các chương trình bảo trợ từ chính phủ; nâng cấp chương trình giáo dục CNTTtrong nước, tận dụng tri thức trẻ từ nước ngoài để đào tạo nguồn nhân lực trong nước để nhân rộng nguồn nhân lực phát triển và vận hành hệ thống AI, học hỏi từ kinh nghiệm thành công của các nước về số hóa…

    TS. Vũ Ngọc Huy, đến từ Đại học Bách khoa Quốc gia Odessa, Ukraine đưa ra giải pháp “Ứng dụng công nghệ Blockchain trong quản lý thông tin về giáo dục” để nâng cao tính an toàn, minh bạch, tin cậy của dữ liệu và đồng bộ, đơn giản hóa quá trình xử lý dữ liệu, tiến tới số hóa giáo dục và các lĩnh vực khác.

    Anh Vũ Ngọc Huy nêu ra một số vấn đề trong hệ thống quản lý dữ liệu giáo dục của ta hiện nay như: Cơ sở dữ liệu tập trung được quản lý bởi các quản trị viên dẫn tới thiếu an toàn, minh bạch; Hệ thống sử dụng kiến trúc máy khách/ máy chủ, dẫn tới có thể bị gián đoạn hoạt động; Quản lý và xử lý dữ liệu chưa đồng bộ từ cấp cơ sở tới cấp quản lý cao nhất; Cơ sở dữ liệu không đầy đủ dẫn tới chậm chễ, không chính xác trong báo cáo tổng kết và các lĩnh vực khác chưa thể khai thác sử dụng Cơ sở dữ liệu giáo dục.

    TS. Vũ Ngọc Huy cho rằng, xây dựng chính phủ số, nền kinh tế số là yêu cầu cấp bách của đất nước để phát triển và bắt kịp với xu thế mới của thế giới. Nền tảng công nghệ Blockchain đang mở ra cơ hội lớn cho chúng ta trong việc nhanh chóng số hóa và kết nối đồng bộ các lĩnh vực khác nhau trong đời sống. Anh đề nghị, nhà nước, chính phủ nghiên cứu đánh giá tầm quan trọng của Blockchain đối với Việt Nam trong thời điểm hiện nay. Đồng thời, khuyến khích, tạo điều kiện xây dựng, ứng dụng thí điểm công nghệ Blockchain ở các lĩnh vực và tập hợp các nhà khoa học, lập trình viên kết nối cùng các tập đoàn lớn trong nước nghiên cứu xây dựng mô hình nền tảng Blockchain chuẩn Việt Nam – Một máy tính chung của cả nước…

    Thanh Nga

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Giải Pháp Mở Rộng Tín Dụng Phát Triển Kinh Tế Hộ Sản Xuất Ở Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Hà Tây
  • Giải Pháp Mở Rộng Tín Dụng Phát Triển Kinh Tế Hộ Sản Xuất Ở Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Hà Tây
  • Giải Pháp Mở Rộng Tín Dụng Phát Triển Kinh Tế Hộ Sản Xuất Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Hà Tây
  • Giải Pháp Ổn Định Và Phục Hồi Nền Kinh Tế Thời Kỳ Sau Đại Dịch Covid
  • Đẩy Nhanh Các Giải Pháp Phục Hồi Kinh Tế Sau Đại Dịch Covid
  • Chủ Động Xây Dựng Kế Hoạch Phát Triển Kinh Tế Của Từng Địa Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nào Để Phòng, Chống Xâm Hại Trẻ Em?
  • 8 Biện Pháp Phòng Chống Xâm Hại Trẻ Em Cực Quan Trọng
  • Đề Xuất Giải Pháp Hành Động Phòng, Chống Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em Trong Hoạt Động Du Lịch
  • 8 Biện Pháp Phòng Chống Xâm Hại Trẻ Em ” Quan Trọng “
  • Tập Trung Chỉ Đạo Thực Hiện Hiệu Quả Các Giải Pháp Phòng, Chống Xâm Hại Trẻ Em
  • Phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Đức Trung nhấn mạnh, so với các năm trước, năm nay, các hội nghị này thể hiện sự đổi mới về công tác lập và xây dựng kế hoạch hàng năm. Trong đó tập trung hướng dẫn các địa phương trong công tác xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và đầu tư công – cách làm mới để nâng cao hiệu quả, tập trung trong công tác lập kế hoạch, tạo sự chia sẻ lẫn nhau , tạo sự gắn kết trong công tác xây dựng kế hoạch giữa các địa phương.

    Phát huy vai trò địa chính trị của vùng trong phát triển kinh tế

    Khu vực miền Trung – Tây Nguyên là một trong các vùng trọng điểm của cả nước. (Ảnh: HNV)

    Khu vực miền Trung – Tây Nguyên có vị trí chiến lược quan trọng đối với cả nước; có diện tích hơn 150 nghìn km2, dân số hơn 24 triệu người. Những năm qua, khu vực có những bước đầu tận dụng tiềm năng trong kinh tế – xã hội và đạt những kết quả tích cực. Năm 2022, các tỉnh Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có 12/14 tỉnh có tốc độ tăng trưởng cao hơn bình quân cả nước; Tây Nguyên có 4/5 tỉnh có tốc độ tăng trưởng bình quân cao hơn cả nước.

    Đây cũng là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh. Kết nối giữa hai miền Nam – Bắc. Biển miền Trung là tài nguyên quốc gia, là mặt tiền biển của Việt Nam, chiều dài đường bờ biển 1.900 km là vùng có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế biển và các hoạt động kinh tế trên dải đất liền ven biển. Miền Trung còn là “bệ đỡ, là cửa ngõ” ra biển của tỉnh vùng Tây Nguyên kết nối tuyến hành lang kinh tế Đông – Tây. Vùng có tiềm năng và nhu cầu mở cửa, hội nhập rất lớn.

    Vùng Tây Nguyên có vị trí chiến lược thuộc Khu vực Tam giác phát triển Cămpuchia – Lào – Việt Nam. Vùng Tây Nguyên có tiềm năng lớn về phát triển thủy điện-điện mặt trời, nông lâm nghiệp (cây công nghiệp, cây ăn trái, chăn nuôi đại gia súc, rừng…), chế biến nông lâm sản, du lịch. Tây Nguyên có thể coi là “mái nhà của miền Trung”, có chức năng phòng hộ rất lớn, là hậu phương, là nguồn nước ngọt cho sự phát triển ổn định và bền vững của cả vùng miền Trung và Tây Nguyên.

    Trong 6 tháng đầu năm 2022 tăng trưởng bình quân của 14 tỉnh miền Trung 8,5% và 5 tỉnh Tây Nguyên là 7,3%, đều cao hơn bình quân chung cả nước. Kết quả này thể hiện sự nỗ lực của các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.

    Tại hội nghị, Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế Phan Ngọc Thọ cho rằng, cách thức tổ chức hội nghị lần này là cách làm mới, tiên phong trong cải cách, sáng tạo làm cơ sở để triển khai kế hoạch năm 2022 và giai đoạn 2022-2025. Đồng thời, nhân dịp này, người đứng đầu tỉnh cũng cam kết cùng đồng hành, chia sẻ với các tỉnh/thành trong khu vực miền Trung – Tây Nguyên, nỗ lực hết mình trong liên kết, phát triển vùng. Theo Chủ tịch tỉnh Phan Ngọc Thọ, hiện nay, Thừa Thiên Huế cũng như nhiều tỉnh khu vực miền Trung và Tây Nguyên còn khó khăn về hệ thống hạ tầng; quy mô kinh tế nhỏ, chưa tự cân đối ngân sách, thu nhập bình quân đầu người thấp. Do vậy, cần có sự quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ của Trung ương và các bộ, ban, ngành trong xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển vùng; cần có cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù trong huy động và phân bổ các nguồn lực cho vùng năm 2022, giai đoạn 2022-2025, nhằm tạo kết nối, mang tính đột phá thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội vùng nhanh và bền vững, gắn với ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển với Vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng.

    Chú trọng hiệu quả quản lý và sử dụng vốn đầu tư trong vùng

    Báo cáo tình hình thực hiện phát triển kinh tế – xã hội và đầu tư phát triển năm 2022, dự kiến năm 2022 của vùng, Vụ trưởng Kinh tế địa phương và lãnh thổ Trần Duy Đông thông tin, thời gian qua, các tỉnh trong vùng đã chú trọng nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng các nguồn vốn đầu tư Nhà nước, đồng thời tạo điều kiện thu hút các nguồn vốn của các thành phần kinh tế trong nước và ngoài nước để đảm bảo huy động cao nhất các nguồn lực cho đầu tư phát triển, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Công tác cải cách hành chính đạt được kết quả tích cực. Công tác an sinh và phúc lợi xã hội đạt kết quả quan trọng, góp phần cải thiện đời sống nhân dân. Quốc phòng – an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội ổn định, tình hình trật tự giao thông cơ bản đảm bảo.

    Hội nghị diễn ra tại Huế. (Ảnh: MPI)

    Tuy nhiên, Vụ trưởng Trần Duy Đông cũng cảnh báo một số tồn tại, hạn chế mà vùng cần khắc phục, như: động lực tăng trưởng công nghiệp của vùng còn yếu, chưa khai thác được thế mạnh hệ thống cảng biển, sân bay sẵn có, chưa phát huy sức hút lớn về công nghiệp, dịch vụ từ một số hành lang kinh tế (Đà Nẵng – Quốc lộ 1A và hành lang Đà Nẵng – Quốc lộ 14B – 14D – Nam Giang – Đông-Tây; Dung Quất – Tây Nguyên; Quy Nhơn – Tây Nguyên)… Xuất khẩu tăng cao nhưng tỷ trọng còn thấp trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Vùng miền Trung chỉ chiếm khoảng 4,76% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước. Ngoại trừ Đà Nẵng và Khánh Hòa xuất siêu, các tỉnh còn lại trong vùng chủ yếu là nhập siêu.

    Bện cạnh đó, vùng chưa thể hiện được vai trò là hạt nhân tăng trưởng. GRDP năm 2022 chỉ chiếm 6,93% GDP của cả nước. Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân hàng năm thời kỳ 2022-2018 là 7,3%/năm (đứng thứ 3 trong 6 vùng kinh tế của cả nước) thấp hơn bình quân các vùng (7,62%). Tốc độ tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2022 của 4/5 địa phương tăng trưởng thấp hơn bình quân chung của cả nước. Ngoài ra, việc thu ngân sách chưa bền vững, mặc dù tăng cao nhưng số thu một lần, thu không ổn định còn chiếm tỷ lệ lớn, thu từ tiền sử dụng đất, xổ số kiến thiết chiếm tỷ lệ cao trong tổng số thu nội địa, chiếm tỷ lệ từ khoảng 22-25%.

    Thậm chí, hạ tầng giao thông kết nối liên vùng, nội vùng còn yếu và thiếu; nguy cơ thiếu nước ngọt, nhiễm mặn, đặc biệt tại các tỉnh Nam Trung Bộ, Ninh Thuận, Bình Thuận. Nguy cơ ô nhiễm môi trường tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp còn cao; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp (tỷ lệ qua đào tạo có cấp chứng chỉ mới đạt khoảng 22-23%); nguy cơ thiếu hụt nguồn lao động trong những năm tới do dịch chuyển dân số vùng và tỷ lệ già hóa dân số đòi hỏi phải có các giải pháp kịp thời trong thời gian tới.

    Đặc biệt, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao so với cả nước. Phát triển chưa đồng đều xét trên yếu tố vùng, lãnh thổ giữa các tỉnh trong vùng và nội bộ từng địa phương, ảnh hưởng tới khả năng phát triển vùng một cách đồng bộ, toàn diện.

    Dịp này, Vụ trưởng Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân Trần Quốc Phương đã hướng dẫn các địa phương xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2022-2025 và các điểm mới của Luật Đầu tư công. Theo đó, trên cơ sở Luật Đầu tư công (sửa đổi) sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành Chỉ thị về xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2022-2025

    --- Bài cũ hơn ---

  • Huyện Như Xuân Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Một Số Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Huyện Vũ Quang
  • Nhiệm Vụ, Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • 10 Nhiệm Vụ Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Nông Hộ Tại Phường Túc Duyên
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100