Một Số Biện Pháp Thực Hiện Công Tác Xã Hội Hóa Giáo Dục

--- Bài mới hơn ---

  • Đối Tượng, Thời Hiệu, Thời Hạn Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Đối Tượng Sử Dụng Ma Túy Nào Sẽ Được Áp Dụng Biện Pháp Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn?
  • Giải Pháp Quan Trọng Để Giáo Dục Toàn Diện Cho Học Sinh
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Hình Thành Một Số Phẩm Chất Đạo Đức Cho Học Sinh Tiểu Học Trong Quá Trình Giáo Dục Thể Chất Hinh Thanh Mot So Pham Chat Dao Duc Cho Hoc Sinh Tieu Hoc Trong Qua Trinh Giao D
  • Thực tế cho thấy tại trường Mẫu giáo tôi đang công tác, nói về cơ sở vật chất thật sự thiếu thốn quá nhiều so với trường bạn, thấm trí không bằng cả với những trường mới thành lập những năm gần đây. Chính vì vậy đã làm tôi nảy sinh chọn đề tài này, với tôi chọn đề tài ” Xã hội hóa giáo dục” thật sự khó vì chưa có kinh nghiệm và không biết mình có làm được không, hay chỉ là lý thuyết, nhiều đêm trăn trở, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài này để nghiên cứu, để thử thách mình, đề tài này để hoàn thiện và đi đến thành công thực sự phải được nâng cấp trong nhiều năm liên tục.

    Vậy tôi rất mong hội đồng khoa học góp ý, xây dựng giúp tôi để tôi thực hiện những chặng đường tiếp theo về công tác xã hội hóa giáo dục của trường Mẫu giáo Phú Lộc từng bước ngang tầm với trường bạn.

    Như chúng ta đã biết, xã hội hóa giáo dục là huy động và tổ chức nguồn lực của toàn xã hội cùng tham gia vào quá trình giáo dục, đa dạng hóa các loại hình giáo dục, tạo phong trào mọi người cùng học tập, xây dựng cả nước thành một xã hội học tập dể mọi người dân cùng được hưởng thụ các thành quả do giáo dục đem lại.

    Đảng và Nhà nước ta coi giáo dục là Quốc sách hàng đầu; nhiều dự án đã tập trung để đầu tư cho giáo dục, làm cho cơ sở vật chất của ngành giáo dục ngày một thay đổi, đặc biệt là bậc học mầm non đã và đang được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư hàng đầu, nhiều trường học còn học chung với tiểu học đã được tách trường mầm non, phòng học mượn thôn xóm, tạm bợ được thay thế bằng những phòng học khang trang, với những bộ đồ chơi, đồ dùng hấp dẫn trẻ giúp trẻ yêu thích đến trường.

    Tuy nhiên, khi nguồn lực của Nhà nước đầu tư cho giáo dục vẫn còn hạn hẹp thì việc huy động của nhân dân, của toàn xã hội để đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục là rất cần thiết.

    Để làm tốt công việc này, cần có sự chung tay góp sức của địa phương, của ngành và của cộng đồng, giúp nhà trường có điều kiện xây dựng cơ sở vật chất làm thay đổi bộ mặt của nhà trường, đồng thời năng cao chất lượng giáo dục, giúp uy tín của nhà trường được nâng lên. Song, làm sao để có biện pháp tuyên truyền huy động phụ huynh học sinh và các tổ chức xã hội đều hướng về nhà trường bằng cả tâm huyết và lòng tự nguyện, làm sao để đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục trong nhà trường là điều tôi trăn trở.

    Từ đó tôi đã nghiên cứu những đặc thù của đơn vị, áp dụng tìm giải pháp và phối hợp thực hiện để đạt được kế hoạch đề ra cho công tác xã hội hóa giáo dục để xây dựng cơ sở vật chất tại trường Mẫu giáo.

    Những năm gần đây công tác xã hội hóa giáo dục nói chung và đơn vị nhà trường nói riêng đã từng bước đạt được kết quả cũng đáng ghi nhận. Nhận thức chung về giáo dục – đào tạo được nâng lên, huy động sự tham gia đóng góp nhân lực, tài lực, vật chất cho giáo dục,…Từ đó bộ mặt của nhà trường có nhiều khởi sắc, thu hút được sự quan tâm chăm lo cho sự phát triển, đầu tư để ngày càng khang trang, đầy đủ hơn nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo.

    Tuy nhiên, công tác xã hội hóa giáo dục ở đơn vị vẫn chưa phát huy một cách toàn diện sự tham gia của toàn thể cộng đồng, mỗi người dân, công tác tuyên truyền cả bề rộng lẫn chiều sâu chưa mang lại hiệu quả thiết thực. Còn một bộ phận gia đình cha mẹ học sinh có tư tưởng giao khoán chuyện dạy dỗ, giáo dục con cái cho thầy cô, nhà trường, thờ ơ đến các hoạt động giáo dục, nhận thức rất hạn chế so với sự phát triển giáo dục trong tình hình mới.

    Nhận thức được tầm quan trọng trong công tác này, muốn phát triển nhà trường nhanh và bền vững phải ra sức làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, khi và chỉ khi mọi người dân, mọi gia đình trên địa bàn quản lý nhận thức sâu sắc về giáo dục, cùng nhau chăm lo, hiến kế để trường học phát triển, tích cực tham gia vào các hoạt động của ngành với tinh thần tự nguyện, tâm huyết nhất, khi ấy nhà trường mới là chỗ dựa đáng tin cậy của cộng đồng, góp phần giáo dục thế hệ trẻ trở thành những người lao động có tri thức, công dân hữu ích cho xã hội, địa phương sau này.

    Bản thân tôi, một hiệu phó trẻ mới được bổ nhiệm từ tháng 12 năm 2013, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều, mặc dù thế khi được điều động về trường Mẫu giáo Phú Lộc công tác được Hiệu trưởng phân công nhiệm vụ Hiệu phó phụ trách cơ sở vật chất, với thực trạng cơ sở vật chất của nhà trường tôi luôn trăn trở về việc làm thế nào để có được một ngôi trường khang trang, đảm bảo về cơ sở vật chất tối thiểu đáp ứng nhu cầu dạy và học của nhà trường trong xu thế hiện nay.Tôi thiết nghĩ, trong khi ngân sách chi cho giáo dục còn hạn hẹp, thì nguồn huy động vật chất từ cha mẹ học sinh, tổ chức xã hội đem lại cho con em họ môi trường giáo dục tốt. Nếu toàn xã hội và các gia đình quan tâm với công tác xã hội hóa giáo dục thì con em của chúng ta được hưởng môi trường giáo dục tốt hơn. Chính vì thế, là một cán bộ quản lý nhà trường tôi nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác xã hội hóa giáo dục nên mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục” để cùng chia sẻ, học tập kinh nghiệm từ các đồng nghiệp, các đơn vị thực hiện tốt công tác xã hội hóa.

    Công tác tuyên truyền cần duy trì thường xuyên, đa dạng. Yêu cầu của công tác tuyên truyền phải cụ thể, vận động mọi lực lượng xã hội, mọi người dân cùng tham gia với nguyên tắc “lợi ích”, mỗi hoạt động hợp tác, phối hợp đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của hai phía: nhà trường và cộng đồng, mỗi bên tham gia đều tìm thấy lợi ích chung của cá nhân và tập thể.

    * Kế hoạch hóa công tác xã hội hóa giáo dục:

    Kế hoạch hoá là một trong bốn chức năng quản lý và là một chức năng mang tính chủ đạo trong quá trình quản lý của người đảm nhiệm công tác tham mưu về cơ sở vật chất. Kế hoạch xã hội hoá cần được xây dựng trên một số yếu tố sau:

    Mục tiêu huy động là gì?

    Đối tượng nào?

    Phân công ai là vai trò chủ thể huy động?

    Từ đó, tham mưu cho Hiệu trưởng xây dựng công tác xã hội hoá giáo dục cho phù hợp với thực tế của đơn vị. Công tác tham mưu của tôi thận thuận lợi đã được hiệu trưởng ủy quyền giao nhiệm vụ đảm nhiệm công tác này luôn. Phân công một số thành viên trực tiếp huy động phải là người hiểu rõ nguyên tắc của công tác xã hội hoá giáo dục, có kỹ năng giao tiếp tốt, lời nói có tính thuyết phục cao. Chi tiết hóa kế hoạch và hệ thống giải pháp cụ thể. Kinh nghiệm cho thấy, trong nhiều trường hợp đối tượng tham gia xã hội hoá giáo dục tuy ít nhưng lại cho những kết quả bất ngờ nếu như người cán bộ quản lý giáo dục biết đột phá vào các bước phát triển quan trọng có thể làm thay đổi chất lượng giáo dục. Việc làm tốt chức năng này sẽ mang đến những thành công ngay cả thời điểm khó khăn nhất.

    * Làm tốt công tác tham mưu cho lãnh đạo địa phương:

    Được Hiệu trưởng giao nhiệm vụ trọng trách là người lên kế hoạch cụ thể và chủ động đề xuất công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường với lãnh đạo địa phương. Mỗi lần được bố trí làm việc phải chuẩn bị kỹ nội dung trình bày một cách toàn diện, trọng tâm, tránh tham mưu lặt vặt theo vụ việc. Sau khi được lãnh đạo địa phương chấp thuận, thực hiện xong phải báo cáo ngay. Tạo nhiều cơ hội để cấp ủy, chính quyền địa phương đến thăm cơ sở vật chất nhà trường, gặp gỡ giáo viên, để có dịp cấp uỷ, chính quyền địa phương hiểu rõ nhà trường hơn và cũng là thời điểm để nhà trường xin ý kiến chỉ đạo hỗ trợ những vấn đề ngoài tầm tay của nhà trường.

    Mỗi lần đề xuất một chủ trương gì về giáo dục ở địa phương đều phải tham mưu cụ thể các biện pháp thực hiện. Nhà trường thường xuyên và kịp thời cung cấp những thông tin về giáo dục (các chủ trương của ngành, các hoạt động giáo dục của đơn vị,…) đến các cán bộ chủ chốt trong cấp ủy, chính quyền địa phương.

    * Tạo uy tín của nhà trường với phụ huynh, các cấp ủy Đảng, Chính quyền địa phương thông qua việc khẳng định chất lượng giáo dục của nhà trường:

    Ghi nhận, tiếp thu ý kiến của phụ huynh học sinh, lắng nghe những mặt tồn tại và cố gắng khắc phục. Phải tạo lập uy tín bằng chính nội lực của nhà trường, từ lãnh đạo cho đến cán bộ giáo viên, nhân viên đều xác định nhiệm vụ của mình để phấn đấu và đạt hiệu quả công việc ngày càng cao, quan tâm đến chất lượng giáo dục, tạo môi trường sư phạm đoàn kết, thường xuyên tự bồi dưỡng để làm tốt vai trò đầu mối của mình trong môi trường xã hội địa phương. Lãnh đạo gương mẫu luôn là tấm gương sáng, nói đi đôi với làm, có uy tín, có năng lực là yếu tố thúc đẩy thường xuyên cho sự tham gia của cộng đồng trong công tác xã hội hoá giáo dục.

    Khi tôi mới về nhận nhiệm vụ tại trường Mẫu giáo Phú Lộc, Nhiệm vụ đầu tiên cần phải làm ngay là tập trung cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ được ăn ở tại trường đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trẻ có một môi trường sạch sẽ tham gia hoạt động nhằm phát triển toàn diện được duy trì bền vững trong nhà trường… Song song với nhiệm vụ đó, tôi đã vận động những phụ huynh, thôn xóm. UBND xã để hỗ trợ về vật chất.

    Mỗi cô giáo phải tạo uy tín cho mình bằng chất lượng giáo dục, tạo cho trẻ có một môi trường học tập, vui chơi thoải mái, trẻ ham thích đến trường, coi mỗi ngày đến trường là một ngày vui. Mỗi giáo viên phải coi học sinh như chính con đẻ của mình, yêu thương chăm sóc, nuôi dạy trẻ bằng cả tình thương, lương tâm và trách nhiệm để phụ huynh tin tưởng và yên tâm khi gửi con em học tại trường. Nhà trường phải xác định: phụ huynh học sinh sẵn sàng đóng góp công sức và tiền của miễn sao con em họ được học hành, vui chơi khi đến trường đúng với mục tiêu giáo dục mầm non đề ra, vui chơi ở tuổi Mẫu giáo là hoạt động chủ đạo”

    Giáo viên có vai trò quan trọng trong sự kết hợp giữa phụ huynh học sinh và nhà trường, là cầu nối giữa nhà trường với gia đình và xã hội. Vì vậy, việc bố trí giáo viên làm tốt công tác chủ nhiệm cũng góp phần tạo uy tín cao đối với phụ huynh học sinh là điều kiện tốt để phụ huynh đóng góp và tham gia xây dựng nhà trường.

    Nhà trường chú trọng việc thường xuyên liên lạc giữa giáo viên chủ nhiệm với phụ huynh học sinh thông qua sổ bé ngoan hàng tháng. Tìm hiểu nguyện vọng của phụ huynh, chia sẻ với họ về sự phát triển tâm sinh lý ở lứa tuổi mầm non để phụ huynh cùng phối hợp chăm sóc, dạy trẻ theo khoa học. Đưa ra những biện pháp cụ thể đề nghị gia đình và nhà trường cùng thực hiện đồng bộ để giúp trẻ phát triển một cách toàn diện.

    Mặt khác, nhà trường luôn tập trung công tác phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh cùng tham gia công tác xã hội hóa giáo dục được triển khai có hiệu quả, Cụ thể:

    -Năm học 2022 – 2022 hội phụ huynh đã kết hợp tham gia tổng vệ sinh trường lớp sanh, sạch đẹp.

    – Hội phụ huynh đã tham gia đóng góp ngày công sơn sửa cổng trường, làm bảng hiệu cổng trường, mắc loa đài cho học sinh thể dục sáng…

    – Năm học 2022-2020 Hội phụ huynh đã tham gia đóng góp ngày công san mặt bằng sân trường, lau chùi, sơn sửa xích đu, cầu trượt cho trẻ chơi.

    – Phụ huynh đã tự nguyện đóng góp xây dựng 200m2 sân trường và một lối đường đi từ lớp học ra nhà vệ sinh của trẻ.

    – Trang thiết bị phục vụ cho trẻ ăn ở tại trường đã được sắm sửa đầy đủ và đảm bảo an toàn ấm về mùa đông, mát về mùa hè

    – Tham mưu với các cấp lãnh đạo sớm cho chủ trương xây dựng tường rào do phụ huynh dóng góp trên tinh thần tự nguyện có đến đâu làm đến đó.

    Tập thể nhà trường luôn đạt danh hiệu đơn vị văn hóa cấp huyện

    Tham gia các hội thi đều mang về thành tích cao và tham gia các phong trào phát động của cấp trên phát động.

    Ví dụ: Tham gia hội thi văn nghệ của ngành giáo dục đạt giải nhất toàn đoàn…

    Bên cạnh đó, phải công khai minh bạch các khoản thu, chi theo đúng công văn hướng dẫn các khoản thu huy động, tự nguyện, thực hiện theo nguyên tắc, dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra, tuyệt đối không để phụ huynh học sinh hiểu lầm hay nghi ngờ về các khoản đóng góp của họ, phải có kế hoạch, dự toán, thu, chi cụ thể, rõ ràng, chi tiết, phải giải thích kịp thời khi có thắc mắc hiểu chưa rõ ở phía phụ huynh. Luôn lắng nghe, xin lỗi những việc chưa làm tốt và phối hợp chặt chẽ với Ban đại diện hội cha mẹ học sinh, kết hợp xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể có hiệu quả cao để từng bước sử dụng các nguồn thu từ xã hội hóa, tạo được nét thay đổi, nổi bật cho nhà trường.

    * Phát huy vai trò của Hội cha mẹ học sinh, của Phụ huynh học sinh và mạnh thường quân trong và ngoài địa bàn:

    Vào đầu năm học, nhà trường tổ chức họp phụ huynh học sinh, đề nghị phụ huynh chọn lựa được Ban đại diện cha mẹ học sinh của các lớp là những người có uy tín có thể chung tay cùng xây dựng nhà trường, là những người phối kết hợp tốt nhất trong việc thực hiện thông tin hai chiều giữa gia đình và nhà trường để cùng giáo dục trẻ một cách toàn diện

    Nhà trường cũng như các lực lượng xã hội, các tổ chức,… đều có những chức năng và trách nhiệm riêng. Để khai thác, phát huy khuyến khích họ tham gia vào một hoạt động nào đó phải nhằm đúng chức năng, trách nhiệm của phụ huynh.

    Tận dụng vai trò của Phụ huynh học sinh – đội ngũ các nhà “tư vấn tự nguyện” để làm công tác xã hội hoá giáo dục.

    Đây cũng là một “nghệ thuật” của người nhận nhiệm vụ được giao như tôi, tôi đã tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa Ban đại diện cha mẹ học sinh, phụ huynh học sinh toàn trường và nhà trường để có sự tác động hiệu quả. Với tâm huyết của nghề biết dựa vào uy tín và tiếng nói của Ban đại diện cha mẹ học sinh để tuyên truyền, vận động vì giữa họ luôn có tiếng nói chung, có cùng một nguyện vọng và mang tính khách quan.

    Nhờ làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục mà đến nay trường đã có một khuôn viên vui chơi sạch sẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia thể dục sáng và hoạt động ngoài trời, thể dục và các hoạt động vui chơi tự do theo ý thích của trẻ, trẻ được hoạt động trên sân trường một cách thoải mái…

    Qua hơn một năm áp dụng các biện pháp tiến hành công tác xã hội hóa giáo dục (từ năm 2022 đến năm 2022), nhà trường đã vận động các nguồn lực từ địa phương với tinh thần chủ động, thực hiện theo mục tiêu cụ thể đã đề ra, các thành phần tham gia công tác này được mở rộng, nguồn đóng góp ngày càng tích cực hơn, cụ thể:

    Hơn một năm qua phát huy công tác xã hội hóa giáo dục, mọi lực lượng xã hội cùng tham gia làm giáo dục, nên bước đầu đã tháo gỡ được khó khăn, tạo ra môi trường thuận lợi nhằm đáp ứng nhu cầu dạy và học.

    Sự đồng thuận của toàn xã hội đối với các hoạt động nhà trường rất rõ nét, khi được thống nhất, triển khai đều nhận được sự đồng tình, hưởng ứng mạnh mẽ, duy trì được hoạt động thường xuyên, lâu dài.

    Tuy kết quả mang lại đang còn nhỏ bé nhưng đã mở đầu cho bước đi tiếp theo cho những năm học tới, với thành công nhỏ bé ban đầu và quyết tâm trao đổi cùng các độc giả tôi tin tưởng rằng chặng đường tiếp theo cho đề tài sẽ là một bước đột phá khởi sắc cho trường Mẫu giáo Phú Lộc thân yêu, về cơ sở vật chất ngày một khang trang, phụ huynh yên tâm gửi con em đến trường, công tác phối hợp tuyên truyền ngày một sâu rộng. Nhờ đó, mà công tác tuyển sinh đầu năm có phần khởi sắc, phụ huynh phấn khởi, yên tâm khi gởi con em vào trường, học sinh vui vẻ đến trường.

    Phong trào học tập ngày càng được chú trọng và đạt nhiều thành tích đáng khen.

    Mặc dù đây là những giải pháp xã hội hóa giáo dục ở đơn vị mang tính riêng biệt áp dụng cho thực tiễn nhà trường.

    Nhà trường tiếp tục phát huy những kết quả đạt được trong công tác xã hội hóa giáo dục, đẩy mạnh hơn nữa công tác huy động các nguồn lực đầu tư cho sự phát triển trong thời gian tiếp theo.

    Định hướng nội dung, biện pháp tiến hành trong từng năm mang tính tập trung không dàn trải, có tính khả thi để tranh thủ sự đồng thuận của cả cộng đồng trong triển khai thực hiện.

    Vận dụng vào thực tiễn vận động cha mẹ học sinh, giáo viên chủ nhiệm, vào công tác xã hội hóa giáo dục của đơn vị trường mình.

    Đúng như kế hoạch đã xây dựng cho chiến lược lâu dài của nhà trường. Xã hội hóa giáo dục là một việc làm cần thiết cần đẩy mạnh hơn nữa, làm cho cuộc vận động này được tiến hành sâu rộng, xuyên suốt trong các hoạt động của nhà trường, nhằm nâng cao nhận thức, thống nhất về tư tưởng trong các lực lượng xã hội, các tầng lớp nhân dân góp phần đưa các chủ trương, Nghị quyết của Đảng về xã hội hóa giáo dục đi vào cuộc sống xã hội. Thực tiễn đã chứng minh nơi nào có sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, quản lý và điều hành của Nhà nước, Hội khuyến học, Ban Đại diện cha mẹ học sinh,… được củng cố và hoạt động tốt, sự đồng thuận của Ban ngành đoàn thể, cộng đồng dân cư thì nới đó có phong trào xã hội hóa giáo dục tốt.

    Xác định mục tiêu xã hội hoá giáo dục là xây dựng môi trường giáo dục trong sạch, lành mạnh; tăng cường sự phối hợp giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân; huy động nhân lực, vật lực, kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, hỗ trợ cho giáo dục, nhà trường đã tập trung xây dựng môi trường giáo dục nền nếp, văn minh trong và ngoài nhà trường thông qua quy chế, nội quy đối với thầy và trò, thông qua các tổ chức Công Đoàn. Hơn một năm trở lại đây, hoạt động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể được ngành chú trọng, tranh thủ sự quan tâm của nhiều cấp, ngành tham gia chăm sóc trẻ ở gia đình và cộng đồng, các hoạt động vui chơi lành mạnh cho các em nhỏ được duy trì.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Góp Phần Đẩy Mạnh Xã Hội Hóa Giáo Dục
  • Giải Pháp Thực Hiện Xã Hội Hóa Giáo Dục Tại Nghệ An
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Huy Động Xã Hội Hoá Giáo Dục Để Xây Dựng Cơ Sở Vật Chất Trường Học
  • Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • Biểu Mẫu Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • Làm Sao Thúc Đẩy Xã Hội Hóa Giáo Dục?

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Ty Cổ Phần Giải Pháp Giáo Dục Hưng Yên
  • Bùng Nổ Dân Số Và Những Thách Thức Baitrinhdien Pptx
  • Biện Pháp Chống Ẩm Mốc Tường Đơn Giản Mà Hiệu Quả Cao
  • Vật Liệu Ốp Tường Chống Ẩm
  • Cách Chống Ẩm Tường Cho Nhà Cũ
  • GD&TĐ – Xã hội hoá giáo dục (XHHGD) là con đường quan trọng để thực hiện dân chủ hoá giáo dục, làm cho hệ thống giáo dục từ một thiết chế hành chính thành một thiết chế giáo dục của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đồng thời xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội.

    Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm thúc đẩy hoạt động xã hội hóa nói chung và XHHGD nói riêng. Hành lang pháp lý về XHHGD cũng từng bước được hoàn thiện, nhằm tạo thuận lợi, ưu đãi, khuyến khích đầu tư phát triển giáo dục.

    Thực tế triển khai chính sách XHH đã mang lại những kết quả đáng khích lệ. Theo đó, thu hút được một nguồn lực đáng kể của xã hội đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá góp phần nâng cao chất lượng và phát triển GD-ĐT.

    Với những chủ trương đúng đắn về huy động nguồn lực, tạo điều kiện cho tư nhân đầu tư vào giáo dục đã góp phần đưa giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ngoài công lập trong những năm qua đạt được những kết quả nhất định.

    Tỷ lệ huy động trẻ, học sinh trong độ tuổi ra lớp được nâng lên, phổ cập giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển loại hình trường, lớp, chương trình chất lượng cao đáp ứng nhu cầu học tập của người dân, giảm gánh nặng cho ngân sách…

    Các bộ, ngành, cơ sở giáo dục chưa có ý thức về việc vận động, huy động nguồn lực để phát triển giáo dục. Cách làm và thực hiện chính sách chưa làm cho nhà đầu tư tin tưởng vào việc sử dụng hiệu quả nguồn lực huy động từ công tác XHH.

    Người dân chưa hiểu rõ quy trình, trình tự thủ tục huy động XHH, các cơ quan quản lý Nhà nước chưa triển khai, hướng dẫn và giám sát việc thực thi các chính sách. Còn thiếu các chính sách ưu đãi chuyên biệt dành cho các nhà đầu tư vào lĩnh vực GD-ĐT…

    Để các chính sách đi vào cuộc sống trong điều kiện khả năng đáp ứng của ngân sách Nhà nước cho giáo dục còn nhiều khó khăn, quá trình đổi mới đất nước đã và đang đặt ra nhiều thách thức cho việc đổi mới GD-ĐT, điều đó đòi hỏi cần phải có kinh phí bổ sung để đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, trang bị thêm phương tiện, thiết bị, công nghệ dạy học mới.

    Vì vậy, để thúc đẩy hoạt động XHHGD, huy động tối đa nguồn lực của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, đầu tư phát triển GD-ĐT, chúng ta cần thực hiện có hiệu quả hệ thống những chủ trương, đường lối đã được Đảng và Nhà nước triển khai trong thời gian qua.

    Đồng thời, điều chỉnh những chính sách phù hợp, hoàn thiện các văn bản, chính sách, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, thuận lợi để khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo.

    Trách nhiệm của các cơ quan quản lý từ Trung ương đến địa phương cần phổ biến và tuyên truyền giải thích rộng rãi, vận động cho nhân dân, toàn xã hội hiểu đúng về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về XHHGD.

    Các đơn vị giáo dục phải hiểu đúng quy định, quy trình và bản chất XHHGD để tránh hiểu nhầm và phát sinh những hiện tượng tiêu cực. Có như vậy mới nhận được sự đồng thuận của toàn xã hội, từ đó thu được kết quả tốt cho ngành Giáo dục và khi đó chính sách XHHGD mới thực sự đi vào cuộc sống.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Một Số Giải Pháp Về Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Ở Trường Thpt
  • Giải Pháp Hữu Ích Về Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Copy Of Giai Phap Huu Ich Gddd Hs 2010 2011 Doc
  • Giải Pháp Về Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Ở Trường Thpt Đông Hà
  • Những Giải Pháp Về Giáo Dục
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Để Tài: Một Số Biện Pháp Giáo Dục Truyền Thống:…
  • Giải Pháp Thực Hiện Xã Hội Hóa Giáo Dục Tại Nghệ An

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Góp Phần Đẩy Mạnh Xã Hội Hóa Giáo Dục
  • Một Số Biện Pháp Thực Hiện Công Tác Xã Hội Hóa Giáo Dục
  • Đối Tượng, Thời Hiệu, Thời Hạn Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Đối Tượng Sử Dụng Ma Túy Nào Sẽ Được Áp Dụng Biện Pháp Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn?
  • Giải Pháp Quan Trọng Để Giáo Dục Toàn Diện Cho Học Sinh
  • Xã hội hóa giáo dục và đào tạo (XHH GD&ĐT) là làm cho giáo dục trở thành của xã hội, hay nói cách khác là huy động toàn xã hội tham gia làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Các cấp ủy và tổ chức Đảng các cấp chính quyền, đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị – xã hội – kinh tế, các gia đình và cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực cho giáo dục; kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội; tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể. Trong khi nguồn lực của nhà nước đầu tư cho giáo dục còn hạn hẹp thì việc huy động đẩy mạnh XHH GD&ĐT là rất cần thiết.

    Thực hiện chủ trương XHH GD&ĐT, tỉnh Nghệ An đã phát động phong trào đồng bộ, rộng khắp từ tỉnh đến cơ sở phường, xã, xóm, bản . . . , huy động mọi người tham gia làm giáo dục có hiệu quả. Những vấn đề về XHH GD&ĐT đã được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục trong, ngoài nước và ở tỉnh Nghệ An quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, để tìm ra giải pháp hữu hiệu tiếp tục thực hiện tốt công tác XHH GD&ĐT ở Nghệ An thì chưa có công trình khoa học nào đầu tư nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống. Chính vì vậy đề tài “Các giải pháp thực hiện xã hội hóa giáo dục tại Nghệ An ” đã được triển khai thực hiện.

    II.Nội dung công trình 1. Thực trạng công tác XHH GD&ĐT ở Nghệ An từ năm 2000 đến nay

    Từ năm 2000 đến nay, nguồn đầu tư cho GD&ĐT Nghệ An tăng đáng kể, bước đầu đã huy động được nguồn lực trong nhân dân, các thành phần, tổ chức kinh tế – xã hội đầu tư cho giáo dục. Trách nhiệm và tính tự chủ, năng động, sáng tạo của các cơ sở GD&ĐT được tăng cường và khuyến khích phát triển. Các Trung tâm học tập cộng đồng, Hội khuyến học của các cơ sở được thành lập và hoạt động có hiệu quả; các cơ sở ngoài công lập đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người học. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được đầu tư đúng mức, trong đó giáo dục miền núi được ưu tiên. Theo điều tra, hàng năm, tổng số trẻ học mầm non đạt mức xấp xỉ 130.000 cháu; số lượng học sinh trung học phổ thông có chiều hướng tăng lên (khoảng 140.000 em).

    Mục tiêu XHH GD&ĐT của tỉnh là: Xây dựng nhà trường thành trung tâm văn hóa, giáo dục về đức, trí, thể, mỹ bằng các cuộc vận động, các phong trào thi đua, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, xây dựng trường chuẩn quốc gia. Tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường với các ngành địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế – xã hội, tạo điều kiện để xã hội đóng góp nguồn lực cho GD&ĐT. Phối hợp với các ngành như: Nội vụ, Kế hoạch và Đầu tư, Kho bạc nhà nước, công an, cơ quan chỉ huy quân sự, Thông tin – Truyền thông, Văn hóa – Thể thao – Du lịch, Lao động thương binh và Xã hội, Y tế . . . để có sự tham gia đồng bộ trong hoạt động XHH GD&ĐT trên địa bàn.

    Từ đó, chất lượng giáo dục Nghệ An chuyển biến tốt, xây dựng được các điển hình tiên tiến có sức thuyết phục: học sinh giỏi quốc tế, quốc gia giữ vững tỷ lệ 80-85%; học sinh đậu đại học, cao đẳng tăng nhanh từ 11.413 em (năm 2005) lên 19.005 em (năm 2008), tỷ lệ học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi vào đại học xếp vị trí thứ 20 của cả nước (năm 2009); tỷ tệ đậu tốt nghiệp THPT được nâng lên sau 3 năm thực hiện cuộc vận động “Hai không”, đạt 87,18% (năm học 2008-2009); tình trạng học sinh yếu kém, học sinh bỏ học được khắc phục; thực hiện tốt công tác xóa mù, phổ cập trình độ nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên trong toàn tỉnh được nâng cao.

    Mạng lưới trường lớp được quy hoạch lại, đáp ứng nhu cầu thực tiễn và nâng cao chất lượng GD&ĐT. Trong 10 năm qua, mạng lưới trường lớp đã phát triển theo hướng giảm bớt số lượng trường và tăng quy mô cho mỗi trường học. Từ năm 2009-2010, các địa phương sẽ thực hiện kế hoạch ổn định theo hướng mỗi xã có 1 trường mầm non, 1 trường tiểu học, cấp THCS sẽ thành lập trường liên xã hoặc gắn với các lớp tiểu học để thành lập trường PTCS.

    Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác XHH GD&ĐT của Nghệ An vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế cần phải được khắc phục:

    – Việc chỉ đạo triển khai thực hiện hoạt động XHH GD&ĐT của một số cán bộ, chính quyền và nhân dân ở các địa phương vẫn còn hạn chế; Chuyển biến về tư tương và nhận thức của một số cán bộ và nhân dân chưa theo kịp tình hình phát triển kinh tế, chính trị, xã hội. Một số nơi mới chú ý đến việc đóng góp xây dựng cơ sở vật chất trường học chưa quan tâm đến xây dựng môi trường giáo dục nền nếp học tập, rèn luyện và nâng cao chất lượng học sinh, sinh viên. Một số địa phương vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào chế độ chính sách của nhà nước.

    – Hoạt động Đại hội giáo dục ở một số địa phương vẫn chưa hiệu quả, chưa xây dựng được chương trình, kế hoạch hợp lý hoặc chưa có những biện pháp phù hợp với thực tiễn, chưa tập hợp được các lực lượng xã hội, đặc biệt là các cán bộ chủ chốt của Đảng, chính quyền chưa chủ động nắm quyền điều hành Hội đồng giáo dục. Công tác tham mưu của các cơ sở giáo dục chưa tốt, trách nhiệm của một số cán bộ lãnh đạo địa phương chưa cao.

    – Cơ chế huy động nguồn lực xã hội chưa đủ mạnh. Nguồn ngân sách nhà nước chỉ mới đủ cấp tiền lương cho đội ngũ cán bộ, chưa đầu tư nhiều cho các hoạt động nâng cao chất lượng. Chính sách địa phương chưa tập trung cho khuyến dạy, khuyến học. Ngành giáo dục Nghệ An vẫn còn tình trạng dôi dư giáo viên cấp tiểu học và THCS, không sử dụng đến nguồn nhân lực đã được đào tạo cơ bản, đủ tiêu chuẩn, đây là một sự lãng phí và ảnh hưởng đến tư tưởng của nhiều nhà giáo đã và đang công tác trong ngành.

    – Cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa đáp ứng tối thiểu nhu cầu đổi mới dạy học; chỉ tiêu đến năm 2010 toàn tỉnh có 60% trường chuẩn quốc gia khó thực hiện; quá trình tuyên truyền, chỉ đạo thực hiện XHH GD&ĐT chưa tạo được sự bứt phá, chưa đồng đều giữa các vùng miền, chưa tương xứng với truyền thống hiếu học, chưa khai thác hết tiềm năng trí tuệ, vật chất và khả năng đóng góp cho giáo dục của người dân Nghệ An.

    – Chưa khai thác hết tiềm năng, nguồn lực từ các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, các đoàn thể xã hội, các tầng lớp nhân dân trong, ngoài tỉnh. Đặc biệt, chưa tranh thủ được nguồn vốn đầu tư nước ngoài, của những người con xứ Nghệ đã thành đạt.

    – Chất lượng giáo dục ngoài công lập, trung tâm giáo dục thường xuyên và khu vực miền núi còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Hệ thống các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề chậm phát triển, chất lượng đào tạo còn hạn chế; Chậm phân luồng và chưa mở rộng các trường học cho những học sinh có học lực trung bình hoặc yếu nhanh chóng hòa nhập với sự phát triển của xã hội; Việc chuyển đổi loại hình trường lớp bán công, dân lập sang tư thục còn lúng túng.

    2. Giải pháp thực hiện XHH GD&ĐT ở Nghệ An đến năm 2022

    Xây dựng nội dung tuyên truyền, nâng cao nhận thức về XHH GD&ĐT cho toàn xã hội là giải pháp quan trọng. Cần lựa chọn hình thức tuyên truyền thích hợp cho từng vùng, miền, thời điểm cho mỗi người dân. Trên cơ sở nội dung, hình thức tuyên truyền giáo dục đã được xác định, cần xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể như: chọn thời điểm, bố trí địa điểm phù hợp, chuẩn bị tài liệu triển khai nghiêm túc, trình bày nội dung thuyết phục, đưa nội dung XHH GD&ĐT vào nội dung sinh hoạt của các tổ chức, đoàn thể. . . , xây dựng chuyên mục “Xã hội hóa giáo dục và đào tạo” trên các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức tốt Đại hội giáo dục của tỉnh.

    Đối với các cấp ủy Đảng: Dựa trên yêu cầu thực tế từng giai đoạn, cấp ủy cần có Nghị quyết riêng về GD&ĐT; quan tâm đến công tác phát triển Đảng trong đội ngũ giáo viên; chỉ đạo cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị trong nhà trường.

    – Về sự điều hành của UBND: Trên cơ sở Nghị quyết của cấp ủy, UBND cần có những kế hoạch cụ thể ngắn hạn, dài hạn phục vụ yêu cầu trước mắt và lâu dài về giáo dục; thường xuyên góp ý và kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc của ngành giáo dục; phối hợp với các ngành, đoàn thể tạo sức mạnh tổng hợp, tổ chức thực hiện mục tiêu XHH GD&ĐT.

    – Đối với cấp Phòng GD&ĐT: Cần có những tham mưu cho huyện ủy, HĐND và UBND huyện về các nội dung: lập đề án quy hoạch mạng lưới trường lớp; lập đề án xây dựng trường chuẩn quốc gia; có các hình thức biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân thực hiện tốt chủ trương XHH GD&ĐT; phân cấp và ủy quyền tự chủ thực hiện hoạt động XHH GD&ĐT cho hiệu trưởng các cơ sở giáo dục; kiểm tra, đánh giá, tổng kết mô hình XHH GD&ĐT ở cấp huyện.

    – Đối với cấp Sở Giáo dục và Đào tạo: Cần tham mưu cho Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh những nội dung ưu tiên đầu tư cho giáo dục từ nguồn ngân sách tỉnh; Xây dựng các chế độ ưu đãi đối với giáo viên; Chỉ đạo tổ chức thực hiện các chính sách, cơ chế khuyến khích hoạt động XHH GD&ĐT đã được ban hành; Lập đề án quy hoạch mạng lưới trường lớp hợp lý trình UBND tỉnh; Kiểm tra, đánh giá, tổng kết mô hình XHH GD&ĐT ở cấp tỉnh.

    Hội đồng giáo dục, các thành viên hội đồng giáo dục có trách nhiệm và quyền hạn đề xuất ý kiến của mình và tiếp nhận ý kiến đề xuất của nhân dân với cấp ủy và chính quyền về công tác giáo dục; Các cơ sở giáo dục cần thường xuyên thông báo cho Hội đồng giáo dục và những tổ chức quần chúng nhân dân về tình hình học tập, rèn luyện của người học và những chủ trương, biện pháp về giáo dục; Chăm lo xây dựng và củng cố các tổ chức có chức năng phối hợp hoạt động giữa nhà trường – gia đình – xã hội; Gắn kết công tác xây dựng môi trường giáo dục với phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ; Phối hợp để lồng ghép các phong trào xây dựng đơn vị văn hóa, gia đình văn hóa; xây dựng xã hội học tập và các phong trào phụ nữ làm kinh tế giỏi, gia đình hạnh phúc của địa phương với việc xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, tích cực theo chuẩn mực xã hội.

    Tiếp tục tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước không thấp hơn 3.0% trong tổng chi ngân sách thà nước của tỉnh. Tăng cường và đa dạng hóa loại trường lớp, huy động các nguồn lực ngoại, ngân sách nhà nước; Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để tăng nguồn lực cho

    GD&ĐT; Triển khai thực hiện chế độ học phí mới và các chính sách xã hội khuyến khích học tập.

    Có chế độ chính sách ưu tiên về đất đai, thuế, huy động vốn tín dụng, miễn tiền thuế đất cho các cơ sở GD&ĐT thực hiện XHH. Thực hiện chế độ tự chủ cho các đơn vị trường học để huy động nguồn lực tại chỗ đầu tư cho giáo dục để xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia, phát triển tin học, ngoại ngữ. . . ; chế độ ưu đãi cho cán bộ, giáo viên trong các cơ sở GD&ĐT thực hiện XHH GD&ĐT; có chính sách thu hút giáo viên giỏi.

    Tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức XHH dạy nghề; Giải tỏa tâm lý chạy theo bằng cấp địa vị của phụ huynh, học sinh, làm cho toàn dân hiểu rõ cần căn cứ vào trình độ và điều kiện của mỗi cá nhân mà hướng nghiệp và phân luồng đào tạo học sinh sau THCS và THPT một cách hợp lý; Đổi mới công tác giáo dục hướng nghiệp trong các nhà trường; Đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất củng cố các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề hiện có ở các huyện và tỉnh.

    Sắp xếp, bố trí hợp lý trường lớp đào tạo thuận lợi cho việc học tập của con em; ưu tiên đầu tư, lồng ghép các chương trình, mục tiêu, dự án để nâng cấp cơ sở vật chất trường học, nhất là hệ thống lớp bán trú, nội trú phù hợp với điều kiện đặc thù từng vùng, miền, thực hiện theo phương châm Nhà nước cấp kinh phí xây trường lớp, trả lương giáo viên, mua sắm sách giáo khoa, mua sắm thiết bị…, nhân dân đóng góp quỹ đất, vật liệu xây dựng… Về phía gia đình, cha mẹ học sinh cần quan tâm hơn đến tình hình học tập của con em mình. Về mặt xã hội, cấp ủy và chính quyền địa phương cần quan tâm đến xóa đói, giảm nghèo; tỉnh cần điều tiết ngân sách và điểm chuẩn thi tuyển theo hướng ưu tiên vùng khó khăn, vùng giáo dục kém phát triển, thành phần nghèo đi học. Bên cạnh đó, thực hiện phong trào “tiếng trống học bài”; chú ý vai trò của người đại diện như già làng trưởng bản, các chức sắc tôn giáo.

    III.Kết luận

    Nghệ An là một tỉnh nghèo nhưng có truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo, khuyến học và quý trọng hiền tài nên thực hiện công tác XHH GD&ĐT là một đòi hỏi khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, cũng như yêu cầu phát triển bền vững sự nghiệp GD&ĐT của tỉnh trong tương lai. Để công tác XHH GD&ĐT ở Nghệ An phát triển hiệu quả hơn nữa, cần coi trọng nội dung và cách thức tuyên truyền, vận động làm cho các cấp ngành, người dân hiểu rõ vai trò của giáo dục là quốc sách hàng đầu trong thời kỳ kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế; làm cho người dân hiểu, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước về giáo dục và XHH GD&ĐT. Cần thực hiện đồng bộ các giải pháp đã đưa ra. Tuy nhiên, để các giải pháp này đem lại hiệu quả, cần phối hợp đồng bộ giữa cấp chính quyền, các

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Huy Động Xã Hội Hoá Giáo Dục Để Xây Dựng Cơ Sở Vật Chất Trường Học
  • Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • Biểu Mẫu Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Văn Hóa…
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Giao Tiếp Có Văn Hóa Cho Trẻ 5
  • Hội Thảo Giáo Dục 2022: Đề Xuất Các Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Nghề Nghiệp Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Giải Pháp Phát Triển Nguồn Nhân Lực Có Kỹ Năng Nghề Cao
  • Phát Triển Giáo Dục Nghề Nghiệp Đáp Ứng Nhu Cầu Thị Trường Lao Động
  • Thực Trạng Và Định Hướng Phát Triển Giáo Dục Nghề Nghiệp Việt Nam Trong Thời Gian Tới
  • Giao Lưu Trực Tuyến “giải Pháp Phát Triển Nhân Lực Có Kỹ Năng Nghề, Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Quốc Gia”
  • Các Biểu Hiện Phẩm Chất Và Năng Lực Của Học Sinh
  • Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ, sự vào cuộc mạnh mẽ của các bộ, ngành, địa phương và nỗ lực của toàn ngành, công tác giáo dục nghề nghiệp (GDNN) bước đầu đã đạt được những kết quả quan trọng. Nhận thức của xã hội, người dân, doanh nghiệp về GDNN đã có những chuyển biến tích cực; số lượng người tham gia vào GDNN ngày càng tăng; tỷ lệ người học sau tốt nghiệp có việc làm cao, thu nhập ổn định. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về GDNN từng bước được hoàn thiện; mạng lưới cơ sở GDNN phát triển rộng khắp, đa dạng về loại hình và trình độ đào tạo; các điều kiện bảo đảm chất lượng ngày càng được tăng cường; xuất hiện ngày càng nhiều mô hình đào tạo chất lượng cao, đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp, góp phần quan trọng vào nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện thành công các nhiệm vụ của ngành và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

    Toàn cảnh hội thảo

    Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực của thị trường lao động trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, kinh tế tri thức, dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu thế dịch chuyển nhân lực trên thị trường lao động quốc tế, GDNN cần tiếp tục đẩy mạnh việc đổi mới, nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về nguồn nhân lực của thị trường lao động.

    Tại hội thảo, các ý kiến đều cho rằng, phát triển GDNN là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững của đất nước. Phát triển GDNN là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền, trước hết là của ngành lao động thương binh và xã hội các cấp, của doanh nghiệp và người dân.

    Gắn kết chặt chẽ GDNN với nhu cầu của thị trường lao động

    Theo Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Nguyễn Thị Hà, đổi mới và nâng cao chất lượng GDNN cần chú trọng cả quy mô, cơ cấu và chất lượng đào tạo; kế thừa và phát huy những thành tựu đã đạt được, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam, đảm bảo tính ổn định của hệ thống nhưng cần tầm nhìn dài hạn; nâng chất lượng GDNN từng bước đạt chuẩn khu vực và quốc tế để đáp ứng nhu cầu nhân lực trong nước và hội nhập với thị trường lao động khu vực và thế giới.

    Theo Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Nguyễn Thị Hà phát biểu tại hội thảo

    Bên cạnh đó, phát triển hệ thống GDNN theo hướng mở, đa dạng, linh hoạt với nhiều phương thức và trình độ đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và nâng cấp kỹ năng nghề nghiệp suốt đời của người lao động để đáp ứng yêu cầu của vị trí làm việc, giảm tình trạng thất nghiệp và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động, cải thiện thu nhập và đời sống cho người lao động; Phát triển hệ thống GDNN cần sự tham gia của Nhà nước với ưu tiên bố trí ngân sách cho GDNN trong tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo; sự tham gia của các đối tác trong và ngài nước.

    Đặc biệt, gắn kết chặt chẽ GDNN với nhu cầu của thị trường lao động và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; lấy sự chấp nhận của thị trường lao động là thước đo của hiệu quả GDNN; chú trọng đào tạo thường xuyên, đào tạo cập nhật, đào tạo lại và đào tạo tại doanh nghiệp để phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp nhằm duy trì việc làm bền vững cho người lao động và nhu cầu sử dụng nhân lực của doanh nghiệp; có chính sách đầu tư phát triển GDNN đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách, đối tượng dễ bị tổn thương, tạo cơ hội cho mọi người lao động học nghề, lập nghiệp, góp phần xóa đói, giảm nghèo thực hiện công bằng xã hội.

    Một số giải pháp trong thời gian tới

    Để tiếp tục đổi mới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng đào tạo và hiệu quả của GDNN; phát triển hệ thống GDNN với nhiều phương thức và trình độ đào tạo nghề nghiệp, các đại biểu cho rằng, thời gian tới chúng ta cần, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã hội về GDNN. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo trong thông tin và truyền thông, tạo sự chuyển biến về nhận thức, sự đồng thuận và huy động sự tham gia của toàn xã hội đối với việc đổi mới, nâng cao chất lượng GDNN; nâng cao hơn nữa nhận thức của các cấp ủy, các đơn vị trong ngành nhất là các cấp ủy, thủ trưởng đơn vị về ý nghĩa, tầm quan trọng của đổi mới, nâng cao chất lượng GDNN đối với việc phát triển nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn ngành quán triệt, triển khai tổ chức thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về phát triển GDNN; chỉ đạo các tổ chức đảng, đoàn thể quần chúng, các đơn vị trực thuộc và các cơ sở GDNN xây dựng kế hoạch thực hiện thiết thực, hiệu quả.

    Cùng với đó, tăng cường gắn kết GDNN với thị trường lao động và việc làm bền vững. Nâng cao chất lượng hoạt động dự báo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn về nhu cầu nguồn nhân lực, nhu cầu việc làm và nhu cầu đào tạo theo lĩnh vực, ngành nghề, cấp trình độ đào tạo; hình thành cơ sở dữ liệu về cung cầu thị trường lao động. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, khuyến khích doanh nghiệp tham gia hoạt động GDNN. Phát huy vai trò của các đơn vị sử dụng lao động, người sử dụng lao động, hiệp hội nghề nghiệp trong đổi mới, nâng cao chất lượng GDNN. Hình thành mối quan hệ chặt chẽ giữa cơ sở GDNN và các trung tâm dịch vụ việc làm, sàn giao dịch việc làm, hội chợ việc làm nhằm hỗ trợ người học tìm việc làm sau tốt nghiệp. Chú trọng phát triển tinh thần khởi nghiệp trong GDNN.

    Trong thời gian tới, để tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng GDNN, đưa GDNN phát triển ở một tầm cao mới, các đại biểu cho rằng, cần tập trung thực hiện đồng bộ các mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp nêu trên, để GDNN thực sự đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường lao động trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Chi Thường Xuyên Của Ngân Sách Nhà Nước Cho Sự Nghiệp Giáo Dục ( Cấp Mầm Non, Tiểu Học Và Trung Học Cơ Sở) Ở Huyện Từ Liêm Trong Điều Kiện Hiện Nay
  • Đề Tài Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Chi Thường Xuyên Của Ngân Sách Nhà Nước Cho Sự Nghiệp Giáo Dục
  • Bàn Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Mầm Non Ngoài Công Lập
  • Tiếp Tục Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Mầm Non Ngoài Công Lập
  • Sức Lan Tỏa Từ Các Giải Pháp Đổi Mới Giáo Dục Đại Học
  • Hoạt Động Xã Hội Hóa Giáo Dục Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Hoạt Động Xã Hội Hóa Giáo Dục Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Trường Thcs Baithuhoachgiuhangthcsthu Docx
  • Giải Pháp Cho Tường Bị Ẩm Mốc Tốt Nhất
  • Giải Pháp Xử Lý Hiệu Quả Khi Tường Nhà Bị Ẩm Mốc
  • Tấm Nhựa Ốp Tường Là Giải Pháp Cho Tường Bị Ẩm Mốc
  • Tường Nhà Bị Ẩm Có Dán Tường Được Không
  • 3

    PHẦN 1 : KẾT QUẢ THU ĐƯỢC SAU KHI THAM GIA KHÓA BỒI DƯỠNG

    Giới thiệu tổng quan chuyên đề học tập trong Khóa bồi dưỡng.

    4

    1.2. Kết quả thu hoạch về lý luận, thực tiễn hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập ở trường trung học cơ sở.

    5

    1.2.1. Cơ sở lí xã hội hóa giáo dục

    6

    1.2.2. Cơ sở thực tiễn của xã hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập ở trường trung học cơ sở.

    7

    1.2.3. Một số giải pháp cụ thể để thực hiện xã hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập ở trường trung học cơ sở phù hợp với bối cảnh ở địa phương.

    8

    PHẦN 2: KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG CỦA BẢN THÂN SAU KHÓA BỒI DƯỠNG

    9

    2.1. Yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp đối với bản thân

    10

    2.1.1. Giới thiệu sơ lược về bản thân

    11

    2.1.2. Tiêu chuẩn chung về đạo đức nghề nghiệp của bản thân (GV THCS)

    12

    2.1.3. Tiêu chuẩn chức danh giáo viên trung học cơ sở hạng II

    13

    2.2. Đánh giá hiệu quả hoạt động nghề nghiệp của cá nhân trước khi tham gia khóa bồi dưỡng.

    14

    2.3. Kế hoạch hoạt động cá nhân sau khi tham gia khóa bồi dưỡng nhằm đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp.

    DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

    STT

    Chữ viết tắt

    Nội dung viết tắt

    5

    BCH TW

    Ban chấp hành trung ương

    6

    NQ TW

    Nghị quyết trung ương

    7

    QĐ-TTg

    Quyết định thủ tướng

    MỞ ĐẦU

    Giáo dục luôn là trung tâm của đời sống xã hội, nó quyết định tương lai của mỗi người, của cả xã hội. Việc cải cách giáo dục và xã hội hoá giáo dục là một trong những giải pháp quan trọng nhất để thúc đẩy xã hội phát triển. Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục là nội dung quan trọng đảm bảo cho sự thành công của công tác giáo dục, nhiều người, nhiều nhà trường đã nghiên cứu và những giải pháp cho chương trình xã hội hoá giáo dục, đã có những thành công nhất định. Trong thời đại hiện nay với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế của kinh tế Việt Nam quan điểm về xã hội hoá giáo dục cần được nhận thức lại và giải quyết trên cơ sở hợp lý, phù hợp hơn.

    Xã hội hóa giáo dục chính là việc tăng cường tính Xã hội của Giáo dục, gắn nhà trường với cộng đồng xã hội để phát huy tối đa vai trò và tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo dục khẳng định vai trò thúc đẩy phát triển cộng đồng xã hội, khơi gợi mọi tiềm năng, huy động mọi tiềm lực trong Xã hội tham gia xây dựng và phát triểnGiáo dục.

    Trong văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành TW khóa VIII đã chỉ rõ “Mọi người chăm lo cho giáo dục, các cấp uỷ và tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế – xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục – đào tạo. Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS”.

    Học sinhcả nước nói chung cũng như của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng luôn mang bên mình sựnăng động, sáng tạo, sự háo hức luôn tìm hiểu kiến thức cái mới…Cũng xuất phát từ đó, các em luôn cập nhật kiến thức trên mọi kênh thông tin (sách, báo, Internet..); với các em kiến thức không còn gói gọn trong nhà trường nữa.Từ đó,việc trò giỏi hơn thẩy không còn xa lạ gì trong thời đại ngày nay. Vì thế, nếu giáo viên chúng ta không trao dồi chuyên môn nghiệp vụ cũng như trang bị cho bản thân kiến thức sâu rộng sẽ bị tụt hậu, sẽ không tự tin khi đứng trước các em học sinh đang khao khát chinh phục kiến thức

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Công Tác Xã Hội Hoá Giáo Dục Trong Trường Thcs
  • Đổi Mới Quản Lý Để Dạy Học Có Hiệu Quả
  • Đổi Mới Công Tác Quản Lý, Tạo Đột Phá Để Phát Triển Giáo Dục, Đào Tạo
  • Đổi Mới Giáo Dục Đại Học Trong Bối Cảnh Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Luận Văn Chuyên Đề Công Tác Tuyên Truyền, Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Của Sở Tư Pháp Tỉnh Ninh Bình
  • Xã Hội Học Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Phòng Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Phòng Giáo Dục Đào Tạo Cấp Quận/huyện Đang Có Những Nhiệm Vụ Gì?
  • Chức Năng Của Văn Học Là Gì? Đặc Trưng Và Vai Trò Của Văn Học
  • Giáo Dục Nhân Cách Cho Trẻ Bằng Văn Học Thiếu Nhi
  • Văn Học Thiếu Nhi Với Giáo Dục Đạo Đức Cho Trẻ Lứa Tuổi Mầm Non
  • ĐỐI TƯỢNG – CƠ CẤU CỦA

    XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC

    1. Khái niệm XHH

    Khoa học nghiên cứu quy luật của sự hình thành, vận động, biến đổi mối quan hệ giữa con người và xã hội.

    XHH nghiên cứu:

    Con người tác động và cải biến xã hội ntn

    Xã hội tác động đến hành vi và biến đổi con người

    XHH quan tâm tới các câu hỏi:

    Cái gì gắn kết các cá nhân

    Tại sao cá nhân lại hành động như thế

    Tại sao lại phân hóa giầu nghèo

    Tại sao lại có mâu thuẫn xã hội

    Xã hội đã biến đổi như thế nào

    Xã hội biến đổi con người như thế nào

    Một sô lý thuyết XHH hiện đại

    Thuyết mâu thuẫn

    Karl Marx: Mâu thuẫn cơ bản trong xh là mâu thuẫn lợi ích bắt nguồn từ phân hóa xã hội.

    Các luận điểm gốc:

    Xã hội bị phân chia thành các nhóm đối lập

    Mâu thuẫn bắt nguồn từ bất bình đẳng, từ phân công lao động và vai trò trong hệ thống kinh tế.

    Mẫu thuẫn cũng bắt nguồn từ những yếu tố phi kinh tế (quyền lực, văn hóa, tôn giáo…)

    Mâu thuẫn gặp ở khắp mọi nơi.

    Các nhóm xh luôn cạnh tranh vì kinh tế, quyền lực, địa vị

    Giai tầng nào nắm kinh tế thì thống trị nhóm khác về văn hóa, tư tưởng

    Động lực biến đổi xã hội là đấu tranh giai cấp

    Hướng vận dụng trong nghiên cứu giáo dục

    Xem xét giáo dục trong mối quan hệ XH – Con người.

    Mâu thuẫn giữa khả năng thực tế của giáo dục và nhu cầu đào tạo

    Vấn đề bất công bằng trong giáo dục

    Giáo dục phản ánh bất bình đẳng và các yếu tố gây ra.

    Thuyết chức năng

    H.Spencer:

    Luận điểm gốc

    Xã hội là 1 hệ thống, gồm nhiều bộ phận và mỗi bộ phận thực hiện 1 số chức năng riêng biệt

    Chức năng là 1 nhiệm vụ mà một bộ phận xh phải thực hiện để đảm bảo tồn tại xh

    Phi chức năng là vai trò gây cản trở xã hội

    Hệ thống xã hội tồn tại bình thường khi còn thực hiện chức năng, sẽ là bất bình thường khi thực hiện phi chức năng

    Chức năng của bộ phận xã hội được xác định vởi nhu cầu của cả hệ thống.

    Sự trật tự xã hội và thống nhất của hệ thống phụ thuộc vào sự tích hợp chức năng và đồng thuận giá trị.

    Hành vi cá nhân bị quy định bởi vị thế, vai trò trong hệ thống

    Quá trình xã hội hóa giúp cá nhân hội nhập với hệ thống thiết chế

    Sự biến đổi xã hội tuân theo quy luật sự thích ứng với môi trường

    N/c mối quan hệ tác động qua lại giữa hệ thống giáo dục với xã hội.

    Xã hội với vai trò tạo dựng hệ thống giáo dục

    Giáo dục tác động trở lại xã hội, tạo ra biến đổi xã hội

    Giáo dục có vai trò gì đối với sự phân hóa xã hội và phân tầng xã hội

    Cấu trúc xã hội (phân hóa giầu nghèo) có tác động gì đến bất bình đẳng xã hội

    Làm thế nào để giáo dục góp phần xóa đói giảng nghèo

    Bất bình đẳng trong học tập giữa nam và nữ

    III. Nhiệm vụ của XHH giáo dục

    Xét mức độ nhận thức xã hội hoá giáo dục gồm các lĩnh vực sau:

    Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận

    Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn

    Nhiệm vụ nghiên cứu thực nghiệm

    Xét ở góc độ đối tượng nghiên cứu:

    Mức độ vĩ mô: Giáo dục trong mqh với đời sống…

    Mức độ vi mô: Giáo dục với người đi học

    1. phương pháp nghiên cứu lý luận

    2. phương pháp thu thập và phân tích thông tin

    2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp:

    Nghiên cứu những tài liệu được thu thập trên cơ sở thống kê các chỉ báo trong hoạt động giáo dục.

    Các loại tài liệu thứ cấp:

    Tài liệu thống kê giáo dục (niên giám thống kê)

    Trình độ dân số

    Số dân làm việc trong nền kinh tế

    Trình độ học vấn

    Các nghiên cứu độc lập của các nhà XHH

    Bài báo, hội thảo khoa học về giáo dục

    Nghị quyết, quan điểm của giai cấp cầm quyền về chính sách giáo dục

    2. Phương pháp điều tra xhh giáo dục

    Phương pháp thu thập thông tin có định hướng.

    Điều tra bằng bảng hỏi

    Điều tra bằng bảng phỏng vấn sâu

    Điều tra bằng quan sát có định hướng

    3. Phương pháp thống kê toán học

    Sử dụng các phép tình toán mối quan hệ (tương quan, hồi quy…)

    Góc độ mâu thuẫn

    Mối tương tác giữa cấu trúc xã hội và sự phân hoá trong giáo dục

    Mối tương tác giữa giáo dục về sản xuất xã hội

    Sự tiếp cận và kiểm soát xã hội đối với giáo dục và các nguồn lực của giáo dục

    Vai trò của giáo dục đối với biến đổi xã hội.

    Góc độ chức năng

    Chức năng giáo dục của các hệ thống xã hội

    Vai trò của những cải cách xã hội

    Các yêu cầu xã hội đối với đổi mới hệ thống giáo dục

    Vai trò giáo dục đối với sự ổn định và trật tự.

    Góc độ giới

    Vai trò và vị trí của phụ nữ và nam giới trong tiếp cận và kiểm soát giáo dục

    Vai trò của giáo dục trong sự phân công lao động trong xã hội theo giới.

    Vấn đề công bằng và bất bình đẳng.

    HỆ THỐNG XÃ HỘI VÀ

    HỆ THỐNG GIÁO DỤC

    1. Hệ thống xã hội

    1.1. Xã hội là gì?

    Cộng đồng người

    Sống trên cùng 1 lãnh thổ

    Có chung nền văn hóa

    Chung 1 phương thức sản xuất và sinh hoạt

    Sử dụng trung ngôn ngữ, tiếng nói, chữ viết

    Cùng tương tác, có mối quan hệ qua lại dựa trên những chuẩn mực và nguyên tắc chính thức hoặc phi chính thức

    Các quan niệm khác nhau về hệ thống xã hội

    Thuyết mâu thuẫn:

    Là hệ thống các giai cấp có mâu thuẫn với nhau

    về kinh tế và những lợi ích

    Giai cấp thống trị dùng giáo dục để làm công cụ củng cố địa vị và cấu trúc xã hội.

    Hệ thống giáo dục phụ thuộc vào hệ thống kinh tế

    Thuyết chức năng

    XH là 1 hệ thống gồm nhiều thiết chế

    Giáo dục là 1 thiết chế xã hội thực hiện chức năng truyền đạt KN cho cá nhân

    Thuyết hệ thống

    Là tập hợp các quan hệ xh được tổ chức thành khuôn mẫu

    Cấu trúc xh là tập hợp các quy tắc và các nguồn lực mà con người sử dụng

    Giáo dục quan hệ hữu cơ với các mặt của xh

    Giáo dục có chức năng duy trì trật tự xã hội

    Củng cố khuôn mẫu và chuẩn mực

    Xã hội hóa cá nhân, xác định chuẩn mực và vai trò.

    1.2. Hệ thống giáo dục

    Là 1 tiểu hệ thống trong tổng thể xã hội

    Thực hiện chức năng duy trì tồn tại và vận động của xh

    Quy luật vận động bị chi phối quy luật xã hội

    Nền kinh tế nào thì nền giáo dục ấy

    Bị quy định bởi hệ thống chính trị

    Có chức năng xã hội hóa cá nhân

    2. Lược sử hệ thống giáo dục Việt Nam

    2.1. Giáo dục trong thời kỳ Bắc thuộc

    111 trước CN – 938

    Chế độ giáo dục sĩ tộc

    Đào tạo con em quan lại

    Chế độ khoa cử – đặt học vị tiến sĩ (Đời nhà Đường)

    ở VN có giáo dục tiểu học (dưới 15) và giáo dục cho người trên 15 (để phục vụ thi cử)

    Một bộ phận nhỏ người Việt được đi học

    2.2. Giáo dục thời phong kiến (939 – 1858)

    939 – 965: Triều đại nhà Ngô, Nhà Đinh (968 – 980); Tiền Lê (980 – 1009):

    Có một số trường dành cho người Việt

    Nhà Lý (1009 – 1025)

    Giáo dục được tập trung ở Thăng Long

    1070 Thành lập Quốc tử giám

    Đào tọa con em hoàng tộc

    1075 tuyển được người đứng đầu

    1086 mở khoa thi để tuyển vào hàn lâm viện

    1397, Vua Trần mở các trường công ở các huyện, 1399 Hồ quý Ly mở trường sơ cấp ở các phủ huyện và được hỗ trợ kinh phí.

    Đặc trưng:

    Đã tồn tại trường công, trường tư thục

    Nội dung giáo dục là các môn thuộc chữ nghĩa và lễ giáo

    Phương pháp dạy học chủ yếu là bình chú, học thuộc

    Chủ yếu học thuộc

    Học trò thụ động

    Bài tập củng cố trí nhớ

    Nguồn gốc

    XH phong kiến không khuyến khích phê phán

    Xh muốn sự phục tùng tuyệt đối vào trật tự đã có.

    2.3. Giáo dục thời kỳ Pháp thuộc

    1858 – 1919: Duy trì giáo dục phong kiến

    1919 bãi bỏ kỳ thi

    Đóng cửa các trường dạy hán ngữ

    Chế độ thi cử nho học bỉ bãi bỏ

    Áp dụng mô hình giáo dục kiểu Pháp

    Đào tạo tinh hoa phục vụ bộ máy nhà nước

    Cơ cấu giáo dục

    Tiểu học (ở một số ít xã đông dân)

    Cao đẳng tiểu học (ở các thành phố lớn)

    Trung học và đại học (3 trường Hà Nội, Huế, Sài Gòn)

    Đặc trưng:

    Mô hình giáo dục hình tháp bẹt

    Đào tạo tinh hoa dành cho thiểu số

    Chỉ đào tạo 3% dân số

    Tỷ lệ học sinh trung học thấp (100 học sinh tiểu học, có 2 được học trung học)

    Nguồn gốc

    Duy trì chính sách ngu dân

    Đào tạo nhân tài phục vụ bộ máy đô hộ

    2.4. Hệ thống giáo dục quốc dân

    Một số lỗi hệ thống trong hệ thống giáo dục VN

    Mô hình giáo dục hình chóp tỏ ra thiếu hiệu quả.

    Đầu tư hạn chế cho giáo dục mầm non

    Hệ thống trường THPT dân lập mở tràn lan

    Hệ thống các trường ĐH phục vụ cho số đông người giầu, khá giả.

    Có sự thiên vị của chính sách giáo dục với người giầu có, khá giả.

    Bất bình đẳng trong đầu tư giáo dục ở các vùng miền

    Bất bình đẳng giới vẫn tồn tại trong hệ thống giáo dục

    Thiếu sự gắn kết giữa các hệ thống giáo dục nhà trường và các hình thức giáo dục.

    Hệ thống GD tác rời hệ thống xã hội, phục vụ không hiệu quả nhu cầu xh.

    Mâu thuẫn giữa hệ thống giáo dục tư và giáo dục công về mục tiêu.

    4. Hệ thống giáo dục cấp trường

    là một hệ thống xã hội gồm các thành phần khác nhau.

    Lớp học

    Các bộ môn

    Phòng ban chức năng

    Học sinh, giáo viên

    Mối quan hệ được tổ chức thành quan hệ quyền lực và quan hệ chức năng.

    Sự thăng tiến dựa vào năng lực, phẩm chất

    Đánh giá, thưởng phạt dựa vào kết quả hoạt động.

    Các cách tiếp cận hệ thống nhà trường

    Thuyết chức năng:

    Là 1 hệ thống gồm nhiều thiết chế

    Các chức năng trong nhà trường không đảm bảo sẽ nảy sinh những tổ chức thay thế

    Thực hiện không đúng chức năng của bất kỳ bộ phận có thể cản trở sự tồn tại nhà trường.

    Đề xuất:

    Nâng cao tính chuyên nghiệp của các bộ phận chức năng

    Thuyết tương tác

    Là hệ thống các tương tác

    Quan trọng nhất là tương tác thày – trò

    Vai trò nhà trường

    Tạo ra hệ thống giá trị, chuẩn mực, động cơ, khuôn mẫu hành vi học sinh phù hợp với mong muốn của xh

    Sản phẩm giáo dục ảnh hưởng nhiều qua mối tương tác thầy – trò

    Đề xuất:

    Tăng cường mối tương tác nhà trường với gia đình, tổ chức xh khác

    Thuyết mâu thuẫn (xung đột)

    Nhà trường:

    Là nơi diễn ra các quan hệ lợi ích và cạnh tranh lợi ích

    Lợi ích kỳ vọng giữa học sinh (nhóm đằng sau) với chất lượng giáo dục

    Là nơi tạo ra những bất bình đẳng xã hội

    Đề xuất:

    Cần nghiên cứu vai trò nhà nước đối với giáo dục nói chung và giáo dục nhà trường nói riêng

    Các câu hỏi có thể đặt ra:

    Ai là người quyết định trong trường

    Ai là người hưởng lợi

    Học sinh đại diện cho giai tầng nào

    Chức năng kinh tế:

    Là chức năng quan trọng nhất

    Đảm bảo sự phát triển tối đa năng lực con người trong 1 dạng lao động cụ thể phù hợp với trình độ phát triển của xã hội.

    Chức năng kinh tế thể hiện ở:

    Đảm bảo nguồn cung lao động đáp ứng nhu cầu của các lĩnh vực lao động.

    Đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực (mối quan hệ học vấn và năng lực lao động)

    Đảm bảo quá trình phân công lao động

    Nhân tố nâng cao tính tích cực lao động và hiệu quả sản xuất.

    Đảm bảo nâng cao năng suất lao động.

    Góp phần tái sản xuất sức lao động.

    Nâng cao giá trị của lao động và sản phẩm lao động

    Sinh viên phân tích mối quan hệ giữa giáo dục và năng suất lao động. Cho ví dụ cụ thể:

    Muốn tăng năng suất trong lao động thì cần những điều kiện:

    Khách quan

    Thiết bị

    Môi trường

    Chủ quan

    Phẩm chất

    Năng lực

    Thái độ, tinh thần

    2. Chức năng phát triển cơ cấu xã hội

    Góp phần làm thay đổi cơ cấu xã hội nhằm đảm bảo sự phù hợp với thực tiễn.

    Chức năng thể hiện ở:

    Quản lý sự phát triển cơ cấu xã hội (đào tạo nghề…)

    Khắc phục những đối lập giữa giai cấp và các nhóm đối lập

    Cải tạo các nhóm, giai cấp

    Góp phần dịch chuyển giai cấp, nhóm xã hội

    3. Chức năng chính trị

    Hệ thống giáo dục gắn chặt với hệ thống chính trị

    Đảm bảo tính nhất quán về quan điểm, đường lối, hình thức dân chủ trong việc quản lý nhà nước.

    Tăng cường tính tích cực chính trị của cá nhân trong việc tham gia quản lý nhà nước.

    Chức năng này thể hiện:

    Hệ thống giáo dục – đào tạo được tổ chức trên cơ sở đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền.

    Hệ thống giáo dục phục vụ quyền lợi giai cấp thống trị thông qua giáo dục hướng đến việc giữ gìn, khẳng định sự thống trị của mình.

    Nội dung giáo dục phù hợp với nhiệm vụ cơ bản trong chính sách xã hội của hệ thống chính trị của đảng cầm quyền.

    9. Chức năng đổi mới

    Thể hiện sự sáng tạo khoa học

    Cung cấp nền tảng tri thức, kinh nghiệm để thay đổi cái cũ, thực hiện cái mới…

    Tạo ra động lực cho di động xh

    Cung cấp những tư tưởng tiến bộ, phê phán cái lạc hậu.

    10. Chức năng chọn lọc:

    Thực hiện công tác đào tạo và phân luồng trong giáo dục

    Thực hiện chính sách ganh đua

    Phân loại học sinh thể hiện ở việc đánh giá kết quả học tập…

    Đảm bảo những khả năng cho sự thể hiện một cách hiệu quả nhất tiềm năng

    PHÂN HOÁ XÃ HỘI VÀ BÌNH ĐẲNG TRONG GIÁO DỤC

    KHÁI NIỆM:

    Là quá trình hình thành cách nhóm xã hội khác nhau về một số đặc điểm, tính chất xh nhất định.

    CƠ CHẾ VÀ CÁC TÁC ĐỘNG

    Cơ chế tự nhiên

    Sự phân công lao động

    Trình độ học vấn

    Địa vị xã hội

    Khái niệm:

    Là sự phân hoá xã hội thành các tầng lớp xh khác nhau về vị thế xh trong cấu trúc xã hội.

    Đặc trưng:

    Tạo các nhóm có vị thế trên dưới, cao thấp về kinh tế, quyền lực, uy tín xã hội.

    Cơ chế;

    Tự nhiên

    Xã hội (gia đình, giáo dục, năng lực, cơ may xã hội…)

    1. khái niệm gia đình

    Cấu trúc xh, dựa trên hôn nhân, huyết thống và những quan hệ khác để cùng chung sống.

    2. Vai trò giáo dục của gia đình

    Là môi trường xã hội hóa

    Nơi thỏa mãn nhu cầu học tập

    Trang bị kỹ năng sống cho trẻ.

    Cơ cấu các loại gia đình

    Gia đình hạt nhân chiếm tỷ trọng lớn

    Phần lớn chủ hộ là nam giới

    Phụ nữ luôn đóng vai trò giáo dục trẻ em

    Số lượng con ngày càng ít

    Giáo dục gia đình phụ thuộc:

    Quy mô (hạt nhân, mở rộng, số lượng con cái….)

    Đặc điểm (mức sống, trình độ văn hóa, môi trường sống…)

    Tính chất

    Vai trò của gia đình trong giáo dục nhà trường.

    Đặc điểm giáo dục gia đình có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục nhà trường.

    Điều kiện, hoàn cảnh gia đình ảnh hưởng tới cơ hội và các điều kiện học tập

    Các kiểu quan hệ

    Quan hệ hợp tác

    Có sự phối hợp chặt chẽ

    Quan hệ trao đổi

    Gia đình bỏ công sức, tiền bạc để nhận lại sự quan tâm của nhà trường.

    Quan hệ chuyên môn

    Nhà trường đưa ra lời khuyên đáp ứng nhu cầu học tập

    Mối quan hệ gia đình, nhà trường dưới tác động cơ chế thị trường.

    Kiểu mua bán: Xuất hiện thị trường giáo dục (mua bán, trao đổi…)

    Kiểu đầu tư (gia đình đầu tư tiền bạc, tài chính)

    Khái niệm vốn con người

    Dùng để chỉ một tập hợp các tri thức và kỹ năng chuyên môn được giáo dục đào tạo.

    Đầu tư cho giáo dục:

    Đầu tư cho sự phát triển tương lai

    Đầu tư càng nhiều càng có cơ hội thu lãi cao (cơ hội việc làm, thu nhập…)

    Một số quy luật trong đầu tư giáo dục

    Gia đình đóng vai trò hàng đầu trong phát triển tâm lý, trí tuệ, nhân cách…

    Trình độ học vấn cha mẹ có ảnh hưởng đến chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ

    Lợi nhuận đầu tư cho trẻ em gái cao hơn trẻ em trai

    GIÁO DỤC VÀ XÃ HỘI HÓA

    1. XÃ HỘI HÓA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI HÓA XÃ HỘI

    Xã hội hóa:

    Quá trình biến những hành vi đơn lẻ thành hành vi mang tính xã hội

    Xem xét ở cấp độ vĩ mô

    Xã hội hóa cá nhân

    Biến cá nhân thành nhân cách (con người xã hội)

    2. Các giai đoạn xã hội hóa cá nhân

    Giai đoạn trước khi đến trường

    Hình thành những hiểu biết, kỹ năng cần thiết để đến trường

    Chủ yếu hình thành trong gia đình

    Vài trò và hành vi người lớn ảnh hưởng mạnh mẽ

    Giai đoạn đi học

    Giáo dục nhà trường đóng vai trò chủ yếu

    Giai đoạn lao động

    XHH chủ yếu diễn ra nơi làm việc

    Giai đoạn sau lao động

    XHH ở ngoài cấu trúc nghề nghiệp, học tập để thích nghi

    3. Một số chức năng của xhh giáo dục

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Xã Hội Việt Nam Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • “đánh Giá Trong Giáo Dục Mầm Non” Của Nhà Giáo Dục
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 10
  • Bài 10: Quan Niệm Về Đạo Đức
  • Giáo Dục Gia Đình Góp Phần Quan Trọng Hình Thành Và Phát Triển Nhân Cách Con Người
  • Một Số Giải Pháp Góp Phần Đẩy Mạnh Xã Hội Hóa Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Thực Hiện Công Tác Xã Hội Hóa Giáo Dục
  • Đối Tượng, Thời Hiệu, Thời Hạn Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Đối Tượng Sử Dụng Ma Túy Nào Sẽ Được Áp Dụng Biện Pháp Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn?
  • Giải Pháp Quan Trọng Để Giáo Dục Toàn Diện Cho Học Sinh
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Và Đào Tạo
  • ND – Xã hội hóa giáo dục (XHHGD) là quá trình nâng cao vai trò định hướng, chỉ đạo, quản lý và đầu tư ngày càng tăng của Nhà nước cho quá trình phát triển sự nghiệp giáo dục. Nhà nước và nhân dân cùng làm giáo dục, nhưng trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo để huy động sự đóng góp về trí lực, nhân lực, vật lực, tài lực của xã hội phát triển sự nghiệp giáo dục.

    Sau ba năm thực hiện Nghị quyết 05/2005/NQ-CP của Chính phủ, công tác XHHGD tiếp tục đạt được những kết quả quan trọng. Ngân sách Nhà nước chi cho giáo dục hằng năm đều tăng. Thực hiện chương trình kiên cố hóa trường học, trong bốn năm qua, Chính phủ huy động các nguồn 5.223 tỷ đồng và ngân sách các địa phương đóng góp 3.174 tỷ đồng để xây dựng và đưa vào sử dụng hơn 60 nghìn phòng học kiên cố.

    Trong cơ cấu chi cho giáo dục từ ngân sách Nhà nước đã bố trí ưu tiên cho vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng biên giới hải đảo. Do đó, các cơ sở giáo dục tiếp tục phát triển, số người đi học không ngừng tăng lên, củng cố và giữ vững kết quả xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và thực hiện chủ trương phổ cập giáo dục THCS.

    Bên cạnh sự đầu tư của Nhà nước là chính, ngành giáo dục còn nhận được sự đầu tư, hỗ trợ về các mặt từ các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, tập thể, cá nhân trong và ngoài nước.

    Hệ thống các trường học ngoài công lập phát triển khá với tỷ lệ học sinh, sinh viên chiếm tỷ lệ đáng kể. Giáo dục nghề nghiệp tiếp tục đổi mới, mạng lưới cơ sở dạy nghề phát triển rộng khắp, đa dạng về hình thức sở hữu và loại hình đào tạo. Các trung tâm học tập cộng đồng, giáo dục thường xuyên, cơ sở giáo dục từ xa phát triển mạnh.

    Như vậy, XHHGD đã góp phần tạo ra được phong trào học tập tương đối sâu rộng trong nhân dân bước đầu hình thành xã hội hóa học tập; tăng cường trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, doanh nghiệp đối với sự nghiệp giáo dục; nâng cao ý thức trách nhiệm và sự tham gia của toàn dân đối với giáo dục nhằm phục vụ tốt hơn việc học tập của nhân dân.

    Nhìn chung các chỉ tiêu định hướng vào năm 2010 nêu ra trong Nghị quyết số 05 của Chính phủ khó có thể thực hiện. Nguyên nhân do công tác tổ chức triển khai của ngành giáo dục thiếu một tổ chức và bộ phận cán bộ chuyên trách. Nhiều địa phương còn thụ động, trông chờ vào sự hướng dẫn từ cấp trên. Nhiều cán bộ, giáo viên của ngành năng lực về kiến thức XHHGD còn hạn chế.

    Những năm tới, để góp phần đẩy mạnh XHHGD có hiệu quả, trước hết, cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền trong toàn xã hội về chủ trương, nội dung XHHGD của Ðảng và Nhà nước. Công tác này cần làm thường xuyên, sinh động, đa dạng và có hiệu quả trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong các buổi sinh hoạt chi bộ, cơ quan, xí nghiệp, sinh hoạt đoàn thể, thôn xóm và tổ dân phố, v.v. từ đó tạo nên sự đồng thuận sâu sắc và ý thức trách nhiệm của mỗi người dân và cộng đồng xã hội trong việc chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục. Trong đó, cần chú ý đúng mức công tác vận động và tuyên truyền ở các doanh nghiệp và nhà hảo tâm.

    Thứ hai, đẩy mạnh công tác giáo dục hướng nghiệp trong học sinh trung học và trong xã hội. Nắm vững học lực, nguyện vọng, sở trường và hoàn cảnh của mỗi học sinh, cũng như nhu cầu lao động của xã hội, mà giáo dục hướng nghiệp.

    Cần tiếp tục mở rộng mô hình trường dạy nghề trong doanh nghiệp hoặc gắn với doanh nghiệp, cơ sở dạy nghề gắn với các khu công nghiệp, khu chế xuất, vùng kinh tế động lực. Ðây là mô hình dạy nghề thiết thực cho việc cung cấp nhân lực theo yêu cầu của doanh nghiệp, đồng thời rất có tác dụng hướng nghiệp và phân luồng học sinh sau THCS và sau THPT.

    Thứ ba, tiếp tục đổi mới công tác quản lý, giao quyền và trách nhiệm cho các nhà trường trong việc tự chủ tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự và hoạt động giáo dục – đào tạo. Thực tiễn cho thấy, nhiều trường học được giao quyền tự chủ về tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự và các hoạt động của mình đều phát huy được sự năng động, sáng tạo trong quản lý, điều hành, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, uy tín và thương hiệu của nhà trường được khẳng định trong xã hội.

    Thứ tư, tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn công tác XHHGD. Trên nền tảng phát triển kinh tế, tiến hành nghiên cứu một cách có hệ thống nhằm làm rõ đặc điểm và nội hàm XHHGD trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chú trọng nghiên cứu và phổ biến kinh nghiệm hay của những nước có nền giáo dục phát triển và tương đồng với hoàn cảnh của nước ta, đồng thời thường xuyên tiến hành tổng kết thực tế những địa phương, đơn vị và nhà trường làm tốt công tác này. Ngành giáo dục cần có ban chỉ đạo và bộ phận thường trực chuyên trách nghiên cứu, khảo sát, tổng kết thực tiễn và tham mưu công tác XHHGD.

    TS PHẠM VĂN THANH

    (Công đoàn Giáo dục Việt Nam)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Thực Hiện Xã Hội Hóa Giáo Dục Tại Nghệ An
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Huy Động Xã Hội Hoá Giáo Dục Để Xây Dựng Cơ Sở Vật Chất Trường Học
  • Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • Biểu Mẫu Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Văn Hóa…
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Thực Hiện Tốt Công Tác Xã Hội Hóa Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Nội Dung Cơ Bản Của Nghị Định Số 111/2013/nđ
  • Giải Quyết Việc Làm Cho Lao Động Nông Thôn
  • Nhiều Giải Pháp Tạo Việc Làm Sau Đại Dịch Covid
  • Dễ Dàng Phân Biệt Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ Với Mẹo Hay
  • Công Tác Xử Lý Nền Đập Chính Công Trình Đầu Mối Hồ Chứa Nước Cửa Đạt.
  •    PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN DẦU TIẾNG

     TRƯỜNG MẦM NON TUỔI THƠ

     

                             SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    Đề tài:

          MỘT SỐ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN TỐT CÔNG TÁC

     XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC

     

     

     

                                 

                                       Tác giả: Lê Thị Ánh Hồng

                                       Chức danh: Hiệu trưởng

     

     

     

    NĂM HỌC: 2022-2017

     

    MỤC LỤC

    A- PHẦN MỞ ĐẦU

    1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:………………………………………….. ………………………Trang 1

    2. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊNCỨU…………… . ……………..Trang 2

    3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:…………………………………………      ………………..Trang 2

    B- PHẦN NỘI DUNG

    1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU……………………………Trang 2

    2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ………………………………………………………..Trang 3

        Thuận lợi:……………………………………………………………………………………….Trang 3

        Khó khăn……………………………………………………………………………………… Trang 4

    3. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN……………………………………………………………… Trang 4

    3.1   Xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện kế hoạch……………………..Trang 5

    3.2 Thực hiện tốt công tác tuyên truyền…………………………………….. Trang 6

    3.3  Làm tốt công tác tham mưu lãnh đạo và các tổ chức, cơ quan …………Trang 6

    3.4 Tăng cường công tác bồi dưỡng cán bô giáo viên nhân viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tại đơn vị…..………..………………………………… Trang 7

    3.5. Xây dựng môi trường cảnh quan sư phạm……………………………..…. . Trang 8

    3.6 Huy động và quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn lực huy động từ công tác xã hội hóa giáo dục………………………………….…………………………..Trang 9 3.7 Phát huy tối đa chi hội khuyến học của nhà trường quan tâm đến trẻ có hoàn cảnh khó khăn………………………………………………………….……Trang11

    4. KẾT QUẢ THỰC HIỆN………………………………………………………………. Trang 12

    PHẦN C -  KẾT LUẬN

    BÀI HỌC KINH NGHIỆM………………………………………………………………. Trang 14

    Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN:…………………………………………     Trang 14

     KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG………………………………………………………………. Trang 15

    KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT……………………………………………………Trang 15

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lý do chon đề tài:

    Trong văn kiện đại hội đảng toàn quốc lần thứ IX,X,XI đảng ta đã thể hiện một số quan điểm chỉ đạo như: “ Giáo dục đào tạo là sự nghiệp của toàn đảng, toàn dân, toàn xã hội. Mọi người, mọi cấp chăm lo cho giáo dục đào tạo”  . Ở nước ta công tác xã hội hoá giáo dục cũng là một quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát triển giáo dục nhằm làm cho hoạt động giáo dục thực sự là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân.

    Điều 12 Luật giáo dục 2005 có nêu: “Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân”.

    Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục vì vậy cần khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển giáo dục.

    Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục. Có thể nói xã hội hoá giáo dục có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của đất nước.

    Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của nhân cách con người. Những năm trước đây ngành học mầm non chưa thực sự được quan tâm sâu sắc của các cấp lãnh đạo đặc biệt là những vùng khó khăn. Ngày nay công tác giáo dục được coi trọng và đặc biệt là ngành học mầm non từng bước được quan tâm hơn sự quan tâm đó là những chủ trương ,chính sách về giáo dục mầm non. Để cho ngành học mầm non được coi là quốc sách hàng đầu đòi hỏi các cấp ,các ngành ,các đoàn thể xã hội, nhân dân chung tay xây dựng và công tác xã hội hóa giáo dục đã trở thành một nội dung quan trọng.

    Mục tiêu cuối cùng của công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục là nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao chất lượng giáo dục của nhân dân.

    Song hiện nay, xã hội hoá giáo dục trên thực tế của đơn vị chưa phát huy được thế mạnh của nó, bởi vì trong xã hội còn tồn tại nhiều nhận thức chưa thật tinh tế, toàn diện. Vì vậy công tác xã hội hoá giáo dục chưa được chú trọng chưa có chiều sâu. Xã hội hóa giáo dục không chỉ đơn thuần về mặt huy động tài chính, huy động cơ sở vật chất mà huy động mọi nguồn lực như nhân lực, vật lực, trí lực … của các cấp các ngành, của nhân dân cùng chung tay xây dựng một nền giáo dục hiện đại và phát triển. 

    Là một cán bộ quản lý mầm non bản thân tôi suy nghĩ để trường có cơ sở vật chất, có chất lượng giáo dục ngày càng phát triển và ngày một đầy đủ hơn đáp ứng với yêu cầu đổi mới của đất nước,ngoài sự quan tâm của đảng chúng ta cần phải huy động mọi nguồn lực từ các ban ngành, đoàn thể, các bậc phụ huynh học sinh, chính vì vậy Tôi đưa ra “ Một số biện pháp thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục ở trường Mầm non Tuổi Thơ” để đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục, qua đó góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở đơn vị.

    1. Phạm vi áp dụng

    Sáng kiến này được áp dụng tại đơn vị mầm non tuổi thơ. Tất cả cán bộ giáo viên nhân viên, đảng ủy, lảnh đạo địa phương, phụ huynh học sinh và nhân dân đều thấy được sự cần thiết của công tác xã hội hóa giáo dục.

    1. Mục đích của sáng kiến:

    Giúp người quản lý có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về nhiệm vụ của mình để chỉ đạo công tác xã hội hóa giáo dục một cách linh hoạt, nhạy bén, đạt kết quả. Sau khi vân dụng đề tài công tác xã hội hóa giáo dục trong nhà trường sẽ được nâng lên góp phần xây dựng cơ sở vật chất trang thiết bị, cảnh quan sư phạm xanh- sạch -đẹp- an toàn, chất lượng giáo dục nhà trường ngày càng phát triển bắt kịp với sự phát triển của xã hội

    PHẦN NỘI DUNG

    1. Cơ sở lý luận

    Trong nhận thức chung, xã hội hoá giáo dục được hiểu là sự huy động toàn xã hội cùng chăm lo cho sự nghiệp giáo dục.

    Giáo dục đào tạo là sự nghiệp của toàn đảng, toàn dân các cấp ủy chính quyền đoàn thể, các tổ chức các gia đình và các cá nhân đều có trách nhiệm góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo. sự kết hợp giáo dục nhà trường gia đình và xã hội tạo nên một môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi từng cộng đồng từng tập thể

    Xã hội hóa giáo dục không chỉ là những đóng góp vật chất mà còn là những ý kiến đóng góp của người dân cho quá trình đổi mới giáo dục. Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục là một biện pháp hữu hiệu để thực hiện mục tiêu quản lý giáo dục, đem lại nguồn sức mạnh tổng hợp giúp cho nhà trường đào tạo cho xã hội nguồn nhân lực phát triển toàn diện.

    Đơn vị mầm non Tuổi Thơ đã đặc biệt chú trong tới công tác xã hội hóa giáo dục nhằm huy động tối đa sự đóng góp  về nhân lực, vật lực, tài lực  của toàn đảng, toàn dân, toàn xã hội để đơn vị ngày càng phát triển và khắc phục nhanh những khó khăn của đơn vị.

    1. Thực trạng của vấn đề.

    Công tác xã hội hóa giáo dục là một công tác vô cùng cần thiết trong thực tế hiện nay của đơn vị bởi vì:

    Trường mới được thành lập từ tháng 08/2016 với

    Tổng số cán bộ giáo viên nhân viên là 16 trong đó:

    -CBQL: 1 hiệu trưởng 

    -Giáo viên: 7 (chưa đủ số lượng 2 giáo viên /lớp so với biên chế)

    -Nhân viên : 8

    Tổng số trẻ 97 trong đó có 4 nhóm lớp

    -Một lớp lá: 16 trẻ

    -Một lớp chồi: 33 trẻ

    -Một lớp mầm : 26 trẻ

    -Một nhóm trẻ: 22 trẻ

    Thực tiễn cho thấy, công tác xã hội hoá giáo dục của đơn vị  trong thời gian qua nhìn chung chưa được quan tâm sâu sát. Vì vậy khi tiếp quản cơ sở mới từ công ty cao su qua đơn vị còn gặp không ít những thuận lợi và khó khăn sau:

    Thuận lợi:

    -Được sự quan tâm sâu sát của lãnh đạo ngành, Đảng ủy, chính quyền địa phương trong công tác phát triển trường.

    -Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trẻ, khỏe, năng động, nhiệt tình, linh hoạt bắt kịp với sự phát triển của xã hội.

    -Trường trú đóng gần với dân nên công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ được nhân dân quan tâm

    Khó khăn:

    -Cơ sở vật chất xuống cấp trầm trọng

    -Chưa có các phòng chức năng phòng làm việc cho nhân viên

    -Trang thiết bị và đồ chơi ngoài trời cho trẻ còn thiếu và hư hỏng nhiều

    -Diện tích trường và diện tích sân chơi nhỏ không đạt diện tích theo quy định trường mầm non chuẩn quốc gia

    -Các phòng học nắng dọi thẳng vào nhóm lớp do diện tích trường nhỏ không làm mái che được. Nếu làm mái che thì diện tích trẻ được chơi dưới ánh nắng ngoài trời sẻ không đạt, và ánh sáng tự nhiên vào lớp sẻ không có vì vậy ảnh hưởng đến việc sinh hoạt, vui chơi, học tập của trẻ.

    -Việc nhận thức về công tác xã hội hóa giáo dục của một số bộ phận người dân còn hạn chế. Nhiều phụ huynh còn có tư tưởng khoán trắng hoạc ỷ lại nhà trường và giáo viên trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Một số phụ huynh có những cách suy nghỉ, chăm sóc nuôi dạy con chưa phù hợp và chưa đúng theo khoa học.

    -Giáo viên trẻ nên kinh nghiệm và cách ứng sử, trao đổi với phụ huynh còn nhiều hạn chế.

    Vậy làm thế nào để cha mẹ trẻ, các tổ chức Đảng, Đoàn thể, Chính quyền và nhân dân đều hướng về nhà trường bằng cả tấm lòng để cùng nhà trường xây dựng một trường học an toàn thân thiên và đầy đủ trang thiết bị cho công tác dạy và vui chơi học tập của cô và trẻ đây là một điều trăn trở của người làm công tác quản lý. Từ những điều trên tôi đã đưa ra một số biện pháp tích cực nhằm thu hút các tổ chức chính quyền, nhân dân, phụ huynh học sinh cùng với nhà trường thực hiện có hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục

    1. Các biện pháp đã thực hiện.

    3.1   Xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện kế hoạch.

    Để công tác xã hội hóa giáo dục đạt kết quả cần phải xây dựng kế hoạch khoa học, cụ thể và mang tính khả thi cao. Trước khi xây dựng kế hoạch cần thăm nắm tình hình thực tế tại đơn vị, địa phương nơi trường trú đóng để có biên pháp phù hợp.

    Xây dựng kế hoạch phải cụ thể có kiểm tra đánh giá và tìm biện pháp khắc phục.

    Ví dụ trong tháng 8/2016 triển khai một số nội dung công tác sau:

    – Tham mưu với lảnh đạo các cấp trong công tác xã hội hóa giáo dục;

    -Họp giáo viên hướng dẫn và triển khai cho giáo viên những nội dung họp phụ huynh của lớp;

    -Họp ban đại diện cha mẹ phụ huynh học sinh, nhà trường phối hợp ban đại diện hội phụ huynh đề xuất xây dựng quỷ hội và đóng góp của phụ huynh trong công tác xây dựng trường, đề ra kế hoạch thu chi và sử dụng sau đó thống nhất trong hội nghị phụ huynh toàn trường;

    -Họp hội phụ huynh toàn trường;

    -Xây dựng quy chế phối hợp giửa phụ huynh và nhà trường để cha mẹ trẻ được tham gia và giám sát các hoạt động của nhà trường;

    -Chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch tuyên truyền và kế hoạch huy động phối hợp với phụ huynh trong công tác xã hội hóa giáo dục;

    -Kiểm tra việc thực hiên các kế hoạch của giáo viên;

    -Bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trong việc giáo tiếp ứng sử với phụ huynh và trẻ;

    -Đánh giá công tác xã hội hóa giáo dục của đơn vị trong tháng và đưa ra những biện pháp mới cho công tác.

    Khi xây dựng kế hoạch phải phân công cụ thể cho từng tổ chức từng thành viên

    -Hiệu trưởng: chịu trách nhiệm chung, chủ động xây dựng kế hoạch tham mưu  với các cấp lãnh đạo với phụ huynh học sinh

    -Công đoàn: vận động công đoàn viên tham gia tốt các phong trào xây dựng môi trường sư phạm cảnh quan môi trường xanh sạch đẹp, quan tâm đến đời sống cho cán bộ giáo viên nhân viên, xây dựng quy tắc và hành vi ứng sử sư phạm cho đội ngũ cán bộ giáo viên nhân viên

    -Tổ chuyên môn và giáo viên tích cực đổi mới trong dạy và học lấy trẻ làm trung tâm, tăng cường bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và phát huy tính tích cực trong phẩm chất đạo đức của người giáo viên.

    -Phụ huynh học sinh xây dựng mối quan hệ thân thiên trong gia đình, kết hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, hỗ trợ nhà trường, nhóm lớp khi cần thiết.

    3.2 Thực hiện tốt công tác tuyên truyền. ( hình 1, hình 2, hình 3)

    Tuyên truyền là một biện pháp rất cần thiết giúp cho lảnh đạo, các tổ chức, ban nghành, phụ huynh học sinh nhân dân, cán bộ giáo viên nhân viên nhận thức đầy đủ và đúng đắn nhất về công tác xã hội hóa giáo dục từ đó tạo được hỗ trợ và hưởng ứng nhiệt tình công tác tuyên truyền có nhiều hình thức như tuyên truyền trực tiếp qua các cuộc hội họp, lễ hội và trao đổi, tuyên truyền qua loa đài phát thanh, qua bảng tuyên truyền của nhà trường nhóm lớp.

    Việc tuyên truyền cần phải xây dựng kế hoạch cụ thể xuyên suốt có sự đầu tư tận dụng triệt để ở một số thời điểm như hội họp , các buổi sinh hoạt, các lễ hội và các phong trào để tuyên truyền các nghị quyết chỉ thị của Đảng và Nhà nước, nêu gương tốt trong công tác xã hội hóa giáo dục.

    Phối hợp với hội phụ nữ, hội nông dân để tuyên truyền về các cách chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ và huy động trẻ đến trường. Phối hợp với trạm y tế khám sức khỏe định kỳ cho trẻ, trao đổi, tuyên truyền kiến thức chăm sóc nuôi dưỡng trẻ theo khoa học.

    Qua công tác tuyên truyền nhà trường đã nhận thấy được sự thay đổi suy nghĩ tích cưc của phụ huynh học sinh và nhân dân về công tác xã hội hóa giáo dục phụ huynh quan tâm hơn đến trường lớp và công tác phối hợp cùng nhà trường đã có hướng tích cực hơn   

    3.3  Làm tốt công tác tham mưu lãnh đạo và các tổ chức, cơ quan :(Hình 2, hình 14)

    Tận dụng triệt để các cơ hội để tham mưu với lãnh đạo các ban ngành, cha mẹ trẻ như qua công tác tổ chức các lễ hội đơn vị gửi thư mời lãnh đạo, phụ huynh học sinh tham dự lễ hội giúp phụ huynh và lãnh đạo thấy được chất lượng giáo dục của đơn vị ngoài ra để phụ huynh và lãnh đạo thấy được những khó khăn thiếu thốn của đơn vị từ đó có hướng hỗ trợ giúp đỡ.

    Qua quá trình tham mưu với lảnh đạo, các tổ chức cơ quan đơn vị cũng được phòng giao dục cấp kinh phí để sửa chữa những công trình cần thiết như:làm hầm chứa nước thải của nhà bếp, sữa chữa chống thấm chống dột, nhà vệ sinh, sơn lại hàng rào làm bảng tên trường. Nhờ sự chỉ đạo giúp đỡ của lãnh đạo ngành, lãnh đạo địa phương đơn vị đã vận động xây được nhà để xe trang bị một số quạt máy, cây cảnh cũng phong phú hơn Từ đó tạo được những khởi sắc bước tiến cho đơn vị 

    3.4 Tăng cường công tác bồi dưỡng cán bô giáo viên nhân viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tại đơn vị. (Hình 5)

    Đội ngũ giáo viên quyết định chất lượng giáo dục của nhà trường, trong đó có công tác xã hội hóa giáo dục. Để làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục trước hết nhà trường triển khai một số nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước trong công tác xã hội hóa giáo dục giúp cán bộ giáo viên nhân viên có những nhận thức sâu sắc và đúng đắn về vị trí vai trò của mình trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ, từ đó làm cho phụ huynh hiểu tin tưởng và tín nhiệm bằng những việc làm cụ thể của mình. Vì vậy cán bộ, giáo viên, nhân viên phải tu dưỡng rèn luyện, phấn đấu phải có tài có tâm, mặt khác nhà trường thường xuyên bồi dưỡng tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên về kiến thức quản lý giáo dục, thao giảng, dự giờ, học hỏi các đơn vị bạn, bồi dưỡng qua các hội thi, tổ chức các buổi bồi dưỡng chuyên môn, bồi dưỡng cho giáo viên kỹ năng tuyên truyền, kỹ năng giao tiếp ứng sử tạo điều kiện cho cán bộ giáo viên đi học nâng cao trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đánh giá thi đua bằng kết quả giáo dục, bằng đánh giá của phụ huynh học sinh. Phụ huynh học sinh còn được tham gia dự giờ các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ cụ thể là hoạt động học và hoạt động ăn ngủ của giúp phụ huynh học sinh thấy được chất lượng giáo dục của nhà trường bên cạnh đó còn giúp phụ huynh thấy sự thiếu cơ sở vật chất thiết bị dạy hoc là thiệt thòi cho giáo viên và trẻ của đơn vị từ đó tạo được niềm tin tưởng của cha mẹ trẻ và quan tâm chăm lo và đầu tư hơn nữa cho đơn vị cũng như cho giáo dục…ngoài ra đơn vị tiếp tục tập trung đẩy mạnh thi đua “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ” với 3 nội dung lớn “ Trách nhiệm trong công việc, nêu gương trong đời sống, dân chủ trong hoạt động ” gắn với phương châm hành động “ Đổi mới thực chất, hiệu quả nâng cao” thành các hoạt động thường xuyên. “ Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo” phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ”, “ Tận tâm, tận tụy tất cả vì các cháu thân yêu ” trong các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ, thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng ” Trường học thân thiện, học sinh tích cực ”, “ Đổi mới sáng tạo trong dạy và học”.

    3.5. Xây dựng môi trường cảnh quan sư phạm. (Hình 7,8,9,12,13)

           Diện tích đơn vị nhỏ không đủ để xây dựng thêm các phòng chức năng, phòng nhân viên, nhà để xe cho cán bộ giáo viên nhân viên, vì vậy phải mượn hành lang chơi của trẻ làm nơi để xe công tác đảm bảo an toàn phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ không đảm bảo. Hệ thống nước thải của nhà bếp thải trực tiếp ra ngoài gây ôi nhiễm môi trường, lớp học mùa mưa dột nhiều vì vậy dễ xảy ra tai nạn cho trẻ nếu không được khắc phục , không có diện tích để tạo vườn rau vườn hoa cho trẻ học tập vui chơi lao động vì vậy việc xây dựng môi trường cảnh quan sư phạm của đơn vị còn gặp rất nhiều khó khăn. Tuy vậy đơn vị cũng từng bước khắc phục những khó khăn như:

    Trước tiên nhà trường vận động lực lượng ngay trong đơn vị thứ 5 hàng tuần tổ chức lao động tạo môi trường xanh sạch đẹp cho đơn vị trồng mới thêm cây xanh chặt tỉa cành cây trồng vườn hoa vườn rau cho trẻ có nơi để được học tập vui chơi dưới bóng mát được chăm sóc cho cây từ đó giúp trẻ yêu lao động. Đã sử lý nước thải nhà bếp, đã xây được nhà để xe trả lại sân chơi cho trẻ.  Sân chơi hàng rào được sơn mới, môi trường cây xanh phong phú và đẹp hơn khuôn viên trường được thoáng mát sạch sẻ và tươi mới tất cả đã tạo nên một môi trường thân thiên để cho trẻ “ mỗi ngày đến trường là một ngày vui”

    3.6 Huy động và quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn lực huy động từ công tác xã hội hóa giáo dục.(Hình 1,4,5,6,8,10)

    Công tác huy động:

    • Huy động từ hội phụ huynh học sinh.

    Vào đầu năm học nhà trường đã tổ chức họp phụ huynh đề nghị chọn được ban đại diện cha mẹ phụ huynh học sinh các lớp là những người có uy tín để chung tay cùng xây dựng nhà trường. Là những người phối kết hợp tốt nhất trong việc thực hiện thông tin hai chiều giữa gia đình và nhà trường để cùng nhau chăm sóc giáo dục trẻ một cách tốt nhất.

    Nhằm phát huy đúng chức năng vài trò nhiệm vụ của hội đội ngũ “ Những nhà tư vấn tự nguyện” nhằm làm tốt công tác xã hội háo giáo dục.

    Hội phụ huynh học sinh toàn trường, ban đại diện và nhà trường cần tạo mối quan hệ chặt chẽ, xây dựng quy chế phối hợp giữa nhà trường và ban đại diện của hội tham gia giám sát các hoạt động của nhà trường. Dựa vào uy tín và tiếng nói của hội phụ huynh để tuyên truyền vận động vì giữa phụ hunh với phụ huynh họ luôn có tiếng nói chung, có cùng nguyện vọng và mang tính khách quan.

    Ban đại diện hội phụ huynh chủ động phối hợp cùng nhà trường xây dựng quỷ hội phụ huynh học sinh, đứng lên huy động sự đóng góp của các bậc phụ huynh. Đề ra quy chế thu chi sử dụng sau đó thống nhất trong hội nghị phụ huynh toàn trường. Cụ thể đã vận động đóng góp quỹ hội được với số tiền là 11.480.000 đồng để chi cho các hoạt động của trẻ và trang bị thêm 4 quạt máy phục vụ sân khấu lễ, một số châu hoa kiễng để trẻ được học tập vui chơi.

    • Nguồn lực huy động từ lãnh đạo cấp trên, cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức, ban ngành, mạnh thường quân và nhân dân.

    Nhà trường tạo mọi cơ hội để cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức, ban ngành, mạnh thường quân và nhân dân thăm trường lớp, gặp gỡ giáo viên –trẻ để có dịp cấp ủy , chính quyền địa phương, các tổ chức, ban ngành, mạnh thường quân và nhân dân hiểu rõ nhà trường hơn và cũng là thời điểm để nhà trường xin ý kiến chỉ đạo và hỗ trợ tận tình từ nhiều phía.

    Để tiếng nói và uy tín của nhà trường có sức mạnh hơn trong công tác xã hội hóa giáo dục thì sự tham gia của cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức, ban ngành, mạnh thường quân và nhân dân đem lại một sức mạnh to lớn đối với đơn vị như ũng hộ nguồn lực cung cấp thông tin trên địa bàn để công tác vận động xã hội hóa giáo dục đạt kết quả tốt nhất.

    Ví dụ  lãnh đạo ấp đã hỗ trợ nhà trường vận động công tác xã hội hóa giáo dục tại cuộc họp dân triển khai nghị quyết chỉ thị của đảng và nhà nước về xã hội hóa giáo dục từ đó giúp người dân nhận thức đúng đắn về nghị quyết và chỉ thị của đảng và nhà nước. Cùng nhà trường đến các hộ doanh nghiệp, mạnh thường quân đóng góp được 15.000.000 đồng làm nhà để xe cho cán bộ giáo viên nhân viên và xây khuôn viên vườn hoa và nhiều chậu hoa kiểng cho đơn vị.

    Việc quản lý và sử dụng nguồn huy động: (Hình 10)

    Việc huy động xã hội hóa giáo dục đã khó nhưng việc quản lý và sử dụng chúng như thế nào lại là một vấn đề khó nếu không quản lý tốt, sử dụng không đúng mục đích thì lòng tin từ cấp ủy , chính quyền địa phương, các tổ chức, ban ngành, mạnh thường quân và nhân dân sẻ không còn và công tác xã hội hóa giáo dục sẻ không tồn tại và phát triển được chính vì vậy tôi chú trọng công tác quản lý và sử dụng các nguồn đã được huy động như:

    • Đối với quỷ hội phụ huynh với số tiền đã vận động được tôi bàn giao lại cho hội và chỉ lên kế hoạch sử dụng, làm đề nghị được sự đồng ý chi từ hội thì nhà trường mới được hoạt động, quỷ hội phụ huynh sẻ được thu chi có chứng từ có thông báo và công khai rõ ràng tại bảng tuyên truyền nhà trường và thông qua các cuộc họp phụ huynh toàn trường để phụ huynh nắm được số tiền mình đóng góp chi vào những khoản nào có hợp lý hay không từ đó tạo được lòng tin từ phụ huynh để công tác vận động những lần sau đạt kết quả cao hơn thuận lợi hơn.

    • Đối với nguồn huy động từ cấp ủy , chính quyền địa phương, các tổ chức, ban ngành, mạnh thường quân và nhân dân tôi xây dựng kế hoạch hoạt động và vạch ra những việc nào cần thiết nhất cho trẻ cho nhà trường sau đó tham mưu với lãnh đạo và thực hiện. đơn vị có sổ “ xã hội hóa giáo dục” ghi danh và công khai hàng tháng  trên bảng tuyên truyền nhà trường với nguồn huy động được đơn vị đã xây được nhà để xe, xây được vườn hoa, vườn rau, thêm mới rất nhiều chậu kiểng mỗi công trình mỗi hiện vật đơn vị đều  ghi tên danh sách công khai. Sau khi hoàn thành xong công trình xã hội hóa giáo dục đơn vị gửi thư mời các cấp ủy, chính quyền đoàn thể, mạnh thường quân, những tổ chức cá nhân có những đóng góp cho đơn vị về dự buổi khánh thành các công trình để thể hiện sự biết ơn của đơn vị. đây cũng là điều kiện để cấp ủy, chính quyền đoàn thể, mạnh thường quân, những tổ chức cá nhân thăm quan trường lớp để thấy được sự thay đổi tích cực khi có sự chung tay góp sức cho đơn vị  và những khó khăn những vướng mắc đang còn tồn tại trong đơn vị từ đó xây dựng đóng góp ý kiến và hỗ trợ nhà trường nhiều hơn nửa để nhà trường ngày một phát triển và vững mạnh hơn chất lượng nhà trường ngày càng tiến bộ trẻ được học tập vui chơi trong một ngôi trường xanh sạch đẹp an toàn thân thiện

    3.7 Phát huy tối đa chi hội khuyến học của nhà trường quan tâm đến trẻ có hoàn cảnh khó khăn (Hình 11)

    Ngay từ đầu năm học nhà trường đã thành lập chi hội và các phân hội khuyến học. Mục đích của hội khuyến học là giúp đỡ khuyến khích  cán bô, giáo viên, nhân viên và trẻ có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong dạy và học

    Tôi xây dựng kế hoạch và phân công cụ thể cho từng thành viên trong chi hội điều tra thật kỹ từng hoàn cảnh của cán bộ, giáo viên, nhân viên và trẻ lập danh sách cán bộ, giáo viên, nhân viên và trẻ có hoàn cảnh khó khăn như trẻ mồ côi không nguồn nuôi dưỡng trẻ khuyết tật, trẻ thuộc hộ nghèo, gia đình chính sách để có kế hoạch hỗ trợ kịp thời giúp cán bộ, giáo viên, nhân viên và gia đình trẻ cảm thấy ấm lòng và có động lực hơn nửa vươn lên trong dạy và học.

    Cụ thể bằng các việc làm như: đơn vị đã xét cho 1 giáo viên có hoàn cảnh khó khăn được nhận quà tết với số tiền 300.000 đồng và xét 9 trẻ có hoàn cảnh khó khăn nhận quà vui xuân đón tết với tổng số tiền là 1.800.000 đồng. Tuy không nhiều nhưng cán bộ, giáo viên, nhân viên và gia đình trẻ cũng cảm thấy vui vì được sự quan tâm từ nhà trường. Lãnh đạo , phụ huynh học sinh cũng thấy được việc làm đầy ý nghĩa từ nhà trường từ đó họ sẵn sàng giúp đở nhà trường nhiều hơn.

    1. Kết quả đạt được.

    Trường mới thành lập trong thời gian ngắn tuy nhiên sau nhiều nỗ lực và phấn đấu trong thời gian qua công tác xã hội hóa giáo dục của nhà trường được đánh giá cao. Các cấp ủy, chính quyền địa phương, nhân dân có những hướng suy nghỉ tích cực hơn về công tác xã hội hóa giáo dục hưởng ứng và hỗ trợ nhiệt tình hơn cho đơn vị cả vật chất lẫn tinh thần và xây dựng đóng góp nhiều ý kiến để đổi mới chất lượng giáo dục tại nhà trường,  Môi trường cảnh quan sư phạm được khởi sắc, chất lượng giáo dục của đơn vị được nâng cao, cơ sở vật chất khang trang sạch đẹp hơn cụ thể như sau:

    4.1 Về chất lượng chăm sóc giáo dục:

    -Duy trì sĩ số trẻ: 97 trẻ

    -Tỷ lệ bé ngoan: 91,25%

    -Tỉ lệ chuyên cần: 90.86%

    Sức khỏe trẻ: so với đầu năm tỉ lệ suy dinh dưỡng, bép phì giảm rất nhiều cụ thể:

    Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân đầu năm: 6 trẻ đến nay 4 trẻ giảm 2 trẻ

    Suy dinh dưỡng thể thấp còi đầu năm:  14 trẻ đến nay 8 trẻ giảm 6 trẻ

    Béo phì  đầu năm: 4 trẻ đến nay 3 trẻ giảm  1 trẻ

    Thừa cân đầu năm:  10 trẻ đến nay 8 trẻ giảm 2 trẻ

    Qua kết quả cho thấy chất lượng chăm sóc giáo dục của nhà trường ngày càng được cải thiện và phát triển

    4.2 Về đội ngũ cán bộ giáo viên nhân viên:

    4/5 giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi vòng cơ sở

    Có 2 giáo viên tham gia thi giáo viên giỏi vòng huyện trong đó có 1 giáo viên đạt giáo viên giỏi vòng huyện

    Có 3 cán bô, giáo viên tham gia học bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn

    5/5 giáo viên tham gia viết sáng kiến kinh nghiệm

    100% cán bộ giáo viên nhân viên đăng ký và thực hiện phong trào đổi mới sáng tạo trong dạy và học.

    Giáo viên và trẻ yêu nghề yêu trường lớp và thích được đến trường được thể hiện qua tỉ lệ chuyên cần.

    Chất lượng giảng dạy của giáo viên được nâng cao đồ dùng đồ chơi phong phú đa dạng trẻ tích cực. Đặc biệt sự phối kết hợp giữa  gia đình và nhà trường ngày càng gắn kết và chặt chẻ nhận được nhiều sự hỗ trợ từ phụ huynh như sự tham gia của phụ huynh trong các dịp lễ hội hay dự giờ của lớp, góp nhiều nguyên liệu phế thải, không sử dụng cho giáo viên sáng tạo làm đồ dùng dạy học.

    4.3 Về cơ sở vật chất, cảnh quan môi trường.

    Cơ sở vật chất ngày được khang trang đầy đủ, cảnh quan môi trường lớp học xanh- sạch- đẹp- an toàn- thân thiện hơn.

    Huy động nguồn lực xây dựng được công trình nhà để xe, khu vực trồng rau, trồng hoa với tổng số tiền là 14.000.000 đồng, và 9 ngày công, 4 chậu cây xanh từ công tác vận động xã hội hóa giáo dục.

    Huy động từ phụ huynh học sinh với tổng số tiền quỷ hội là: 11.480.000 đồng trong đó nguồn quỷ hội được chi cho các hoạt động của trẻ và chi mua sắm thiết bị là 4 quạt điện máy, 10 giỏ hoa lan và 10 chậu hoa treo trong sân lễ

    Hàng rào, đồ chơi ngoài trời được sơn mới môi trường nhóm lớp dược sắp xếp khoa học đảm bảo an toàn, các thiết bị như ti vi đầu đĩa được sữa chữa và sử dụng phục vụ công tác dạy của cô và học tập vui chơi của trẻ

    PHẦN KẾT LUẬN:

    1. Bài học kinh nghiệm.

    Biện pháp có tính quyết định trong công tác tham mưu là phải xác định được bước đi thích hợp, kế hoạch xây dựng cụ thể, rõ ràng, nhất là thống nhất chỉ tiêu và phải thực thi phù hợp có tính khả thi cao.

    Phải có lòng kiên trì, nắm bắt thời cơ thích hợp để tham mưu hiệu quả. Việc tham mưu không phải một lần có kết quả ngay mà phải tham mưu nhiều lần. Công tác tham mưu phải được thực hiên thường xuyên, chủ động, tích cực, dứt điểm, tránh hình thức.

    Chú trọng công tác xã hội hóa giáo dục để ngày càng phát triển trên diện rộng, huy động mọi tổ chức đoàn thể, dân nhân trên địa bàn nhằm hỗ trợ nhiều mặt cho nhà trường thực tốt nhiệm vụ giáo dục.

    Xã hội hóa giáo dục phải dựa vào cộng đồng, làm cho mỗi thành viên trong cộng đồng thấy rõ ý nghĩa của phát triển giáo dục mầm non trong sự nghiệp giáo dục. Hoạt động xã hội hóa giáo dục phải đảm bảo tính dân chủ, bình đẳng và công khai.

    Việc tổ chức thực hiện các nội dung phải rõ ràng, phải tạo được niền tin đối với các cấp lãnh đạo, phụ huynh, nhân dân bằng việc làm không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.

    1. Ý nghĩa của sáng kiến đối với đơn vị:

    Qua áp dụng biện pháp thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục đã mang lại cho nhà trường sự thay đổi và phát triển tích cực nhất. Môi trường cảnh quan sư phạm được khởi sắc, trẻ yêu trường lớp, cô giáo. Phụ huynh có những suy nghĩ tích cực hơn về nhà trường, sự phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường được chặt chẽ trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, chất lượng giáo dục nhà trường ngày một nâng cao, tạo được niềm tin và uy tín từ các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân từ đó nhà trường nhận được nhiều sự hỗ trợ cả về nhân lực vật lực trí lực… từ các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân.

    1. Khả năng ứng dụng và triển khai kết quả của sáng kiến kinh nghiệm.

    Với kết quả đạt được tôi sẽ mở rông phạm vi ứng dụng sáng kiến trên phạm vi rộng hơn.

    1. Kiến nghị:

    Lãnh đạo phòng Giáo dục:

    Quan tâm hơn nữa tới hoạt động giáo dục của các nhà trường. Tập trung vào một số công việc cụ thể là: Chăm lo đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị , biên chế cán bộ, giáo viên đủ để đáp ứng các hoạt động của nhà trường.

    Lãnh đạo địa phương:

    Cần quan tâm và có hướng chỉ đạo kịp thời trong mọi công tác của nhà trường.

    Mở rộng quỷ đất để diện tích đơn vị đạt theo tiêu chí trường mầm non đạt chuẩn quốc gia.

                                                                                                       Người viết

     

     

                                                                                                  Lê Thị Ánh Hồng

    Ý KIẾN NHẬN XÉT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

     

    Ý kiến nhận xét của hội đồng khoa học:  

    ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….       

     

     

     

     

     

     

     

       PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN DẦU TIẾNG

                                           TRƯỜNG MẦM NON TUỔI THƠ

     

     

     

     

     

     

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    Đề tài:

          MỘT SỐ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN TỐT CÔNG TÁC

     XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC

     

     

     

                                 

                                       Tác giả: Lê Thị Ánh Hồng

                                       Chức danh: Hiệu trưởng

     

     

     

    NĂM HỌC: 2022-2017

     

    MỤC LỤC

    A- PHẦN MỞ ĐẦU

    1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:………………………………………….. ………………………Trang 1

    2. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊNCỨU…………… . ……………..Trang 2

    3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:…………………………………………      ………………..Trang 2

    B- PHẦN NỘI DUNG

    1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU……………………………Trang 2

    2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ………………………………………………………..Trang 3

        Thuận lợi:……………………………………………………………………………………….Trang 3

        Khó khăn……………………………………………………………………………………… Trang 4

    3. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN……………………………………………………………… Trang 4

    3.1   Xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện kế hoạch……………………..Trang 5

    3.2 Thực hiện tốt công tác tuyên truyền…………………………………….. Trang 6

    3.3  Làm tốt công tác tham mưu lãnh đạo và các tổ chức, cơ quan …………Trang 6

    3.4 Tăng cường công tác bồi dưỡng cán bô giáo viên nhân viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tại đơn vị…..………..………………………………… Trang 7

    3.5. Xây dựng môi trường cảnh quan sư phạm……………………………..…. . Trang 8

    3.6 Huy động và quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn lực huy động từ công tác xã hội hóa giáo dục………………………………….…………………………..Trang 9 3.7 Phát huy tối đa chi hội khuyến học của nhà trường quan tâm đến trẻ có hoàn cảnh khó khăn………………………………………………………….……Trang11

    4. KẾT QUẢ THỰC HIỆN………………………………………………………………. Trang 12

    PHẦN C -  KẾT LUẬN

    BÀI HỌC KINH NGHIỆM………………………………………………………………. Trang 14

    Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN:…………………………………………     Trang 14

     KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG………………………………………………………………. Trang 15

    KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT……………………………………………………Trang 15

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lý do chon đề tài:

    Trong văn kiện đại hội đảng toàn quốc lần thứ IX,X,XI đảng ta đã thể hiện một số quan điểm chỉ đạo như: “ Giáo dục đào tạo là sự nghiệp của toàn đảng, toàn dân, toàn xã hội. Mọi người, mọi cấp chăm lo cho giáo dục đào tạo”  . Ở nước ta công tác xã hội hoá giáo dục cũng là một quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát triển giáo dục nhằm làm cho hoạt động giáo dục thực sự là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân.

    Điều 12 Luật giáo dục 2005 có nêu: “Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân”.

    Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục vì vậy cần khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển giáo dục.

    Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục. Có thể nói xã hội hoá giáo dục có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của đất nước.

    Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của nhân cách con người. Những năm trước đây ngành học mầm non chưa thực sự được quan tâm sâu sắc của các cấp lãnh đạo đặc biệt là những vùng khó khăn. Ngày nay công tác giáo dục được coi trọng và đặc biệt là ngành học mầm non từng bước được quan tâm hơn sự quan tâm đó là những chủ trương ,chính sách về giáo dục mầm non. Để cho ngành học mầm non được coi là quốc sách hàng đầu đòi hỏi các cấp ,các ngành ,các đoàn thể xã hội, nhân dân chung tay xây dựng và công tác xã hội hóa giáo dục đã trở thành một nội dung quan trọng.

    Mục tiêu cuối cùng của công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục là nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao chất lượng giáo dục của nhân dân.

    Song hiện nay, xã hội hoá giáo dục trên thực tế của đơn vị chưa phát huy được thế mạnh của nó, bởi vì trong xã hội còn tồn tại nhiều nhận thức chưa thật tinh tế, toàn diện. Vì vậy công tác xã hội hoá giáo dục chưa được chú trọng chưa có chiều sâu. Xã hội hóa giáo dục không chỉ đơn thuần về mặt huy động tài chính, huy động cơ sở vật chất mà huy động mọi nguồn lực như nhân lực, vật lực, trí lực … của các cấp các ngành, của nhân dân cùng chung tay xây dựng một nền giáo dục hiện đại và phát triển. 

    Là một cán bộ quản lý mầm non bản thân tôi suy nghĩ để trường có cơ sở vật chất, có chất lượng giáo dục ngày càng phát triển và ngày một đầy đủ hơn đáp ứng với yêu cầu đổi mới của đất nước,ngoài sự quan tâm của đảng chúng ta cần phải huy động mọi nguồn lực từ các ban ngành, đoàn thể, các bậc phụ huynh học sinh, chính vì vậy Tôi đưa ra “ Một số biện pháp thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục ở trường Mầm non Tuổi Thơ” để đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục, qua đó góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ ở đơn vị.

    1. Phạm vi áp dụng

    Sáng kiến này được áp dụng tại đơn vị mầm non tuổi thơ. Tất cả cán bộ giáo viên nhân viên, đảng ủy, lảnh đạo địa phương, phụ huynh học sinh và nhân dân đều thấy được sự cần thiết của công tác xã hội hóa giáo dục.

    1. Mục đích của sáng kiến:

    Giúp người quản lý có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về nhiệm vụ của mình để chỉ đạo công tác xã hội hóa giáo dục một cách linh hoạt, nhạy bén, đạt kết quả. Sau khi vân dụng đề tài công tác xã hội hóa giáo dục trong nhà trường sẽ được nâng lên góp phần xây dựng cơ sở vật chất trang thiết bị, cảnh quan sư phạm xanh- sạch -đẹp- an toàn, chất lượng giáo dục nhà trường ngày càng phát triển bắt kịp với sự phát triển của xã hội

    PHẦN NỘI DUNG

    1. Cơ sở lý luận

    Trong nhận thức chung, xã hội hoá giáo dục được hiểu là sự huy động toàn xã hội cùng chăm lo cho sự nghiệp giáo dục.

    Giáo dục đào tạo là sự nghiệp của toàn đảng, toàn dân các cấp ủy chính quyền đoàn thể, các tổ chức các gia đình và các cá nhân đều có trách nhiệm góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo. sự kết hợp giáo dục nhà trường gia đình và xã hội tạo nên một môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi từng cộng đồng từng tập thể

    Xã hội hóa giáo dục không chỉ là những đóng góp vật chất mà còn là những ý kiến đóng góp của người dân cho quá trình đổi mới giáo dục. Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục là một biện pháp hữu hiệu để thực hiện mục tiêu quản lý giáo dục, đem lại nguồn sức mạnh tổng hợp giúp cho nhà trường đào tạo cho xã hội nguồn nhân lực phát triển toàn diện.

    Đơn vị mầm non Tuổi Thơ đã đặc biệt chú trong tới công tác xã hội hóa giáo dục nhằm huy động tối đa sự đóng góp  về nhân lực, vật lực, tài lực  của toàn đảng, toàn dân, toàn xã hội để đơn vị ngày càng phát triển và khắc phục nhanh những khó khăn của đơn vị.

    1. Thực trạng của vấn đề.

    Công tác xã hội hóa giáo dục là một công tác vô cùng cần thiết trong thực tế hiện nay của đơn vị bởi vì:

    Trường mới được thành lập từ tháng 08/2016 với

    Tổng số cán bộ giáo viên nhân viên là 16 trong đó:

    -CBQL: 1 hiệu trưởng 

    -Giáo viên: 7 (chưa đủ số lượng 2 giáo viên /lớp so với biên chế)

    -Nhân viên : 8

    Tổng số trẻ 97 trong đó có 4 nhóm lớp

    -Một lớp lá: 16 trẻ

    -Một lớp chồi: 33 trẻ

    -Một lớp mầm : 26 trẻ

    -Một nhóm trẻ: 22 trẻ

    Thực tiễn cho thấy, công tác xã hội hoá giáo dục của đơn vị  trong thời gian qua nhìn chung chưa được quan tâm sâu sát. Vì vậy khi tiếp quản cơ sở mới từ công ty cao su qua đơn vị còn gặp không ít những thuận lợi và khó khăn sau:

    Thuận lợi:

    -Được sự quan tâm sâu sát của lãnh đạo ngành, Đảng ủy, chính quyền địa phương trong công tác phát triển trường.

    -Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trẻ, khỏe, năng động, nhiệt tình, linh hoạt bắt kịp với sự phát triển của xã hội.

    -Trường trú đóng gần với dân nên công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ được nhân dân quan tâm

    Khó khăn:

    -Cơ sở vật chất xuống cấp trầm trọng

    -Chưa có các phòng chức năng phòng làm việc cho nhân viên

    -Trang thiết bị và đồ chơi ngoài trời cho trẻ còn thiếu và hư hỏng nhiều

    -Diện tích trường và diện tích sân chơi nhỏ không đạt diện tích theo quy định trường mầm non chuẩn quốc gia

    -Các phòng học nắng dọi thẳng vào nhóm lớp do diện tích trường nhỏ không làm mái che được. Nếu làm mái che thì diện tích trẻ được chơi dưới ánh nắng ngoài trời sẻ không đạt, và ánh sáng tự nhiên vào lớp sẻ không có vì vậy ảnh hưởng đến việc sinh hoạt, vui chơi, học tập của trẻ.

    -Việc nhận thức về công tác xã hội hóa giáo dục của một số bộ phận người dân còn hạn chế. Nhiều phụ huynh còn có tư tưởng khoán trắng hoạc ỷ lại nhà trường và giáo viên trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Một số phụ huynh có những cách suy nghỉ, chăm sóc nuôi dạy con chưa phù hợp và chưa đúng theo khoa học.

    -Giáo viên trẻ nên kinh nghiệm và cách ứng sử, trao đổi với phụ huynh còn nhiều hạn chế.

    Vậy làm thế nào để cha mẹ trẻ, các tổ chức Đảng, Đoàn thể, Chính quyền và nhân dân đều hướng về nhà trường bằng cả tấm lòng để cùng nhà trường xây dựng một trường học an toàn thân thiên và đầy đủ trang thiết bị cho công tác dạy và vui chơi học tập của cô và trẻ đây là một điều trăn trở của người làm công tác quản lý. Từ những điều trên tôi đã đưa ra một số biện pháp tích cực nhằm thu hút các tổ chức chính quyền, nhân dân, phụ huynh học sinh cùng với nhà trường thực hiện có hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục

    1. Các biện pháp đã thực hiện.

    3.1   Xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện kế hoạch.

    Để công tác xã hội hóa giáo dục đạt kết quả cần phải xây dựng kế hoạch khoa học, cụ thể và mang tính khả thi cao. Trước khi xây dựng kế hoạch cần thăm nắm tình hình thực tế tại đơn vị, địa phương nơi trường trú đóng để có biên pháp phù hợp.

    Xây dựng kế hoạch phải cụ thể có kiểm tra đánh giá và tìm biện pháp khắc phục.

    Ví dụ trong tháng 8/2016 triển khai một số nội dung công tác sau:

    – Tham mưu với lảnh đạo các cấp trong công tác xã hội hóa giáo dục;

    -Họp giáo viên hướng dẫn và triển khai cho giáo viên những nội dung họp phụ huynh của lớp;

    -Họp ban đại diện cha mẹ phụ huynh học sinh, nhà trường phối hợp ban đại diện hội phụ huynh đề xuất xây dựng quỷ hội và đóng góp của phụ huynh trong công tác xây dựng trường, đề ra kế hoạch thu chi và sử dụng sau đó thống nhất trong hội nghị phụ huynh toàn trường;

    -Họp hội phụ huynh toàn trường;

    -Xây dựng quy chế phối hợp giửa phụ huynh và nhà trường để cha mẹ trẻ được tham gia và giám sát các hoạt động của nhà trường;

    -Chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch tuyên truyền và kế hoạch huy động phối hợp với phụ huynh trong công tác xã hội hóa giáo dục;

    -Kiểm tra việc thực hiên các kế hoạch của giáo viên;

    -Bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trong việc giáo tiếp ứng sử với phụ huynh và trẻ;

    -Đánh giá công tác xã hội hóa giáo dục của đơn vị trong tháng và đưa ra những biện pháp mới cho công tác.

    Khi xây dựng kế hoạch phải phân công cụ thể cho từng tổ chức từng thành viên

    -Hiệu trưởng: chịu trách nhiệm chung, chủ động xây dựng kế hoạch tham mưu  với các cấp lãnh đạo với phụ huynh học sinh

    -Công đoàn: vận động công đoàn viên tham gia tốt các phong trào xây dựng môi trường sư phạm cảnh quan môi trường xanh sạch đẹp, quan tâm đến đời sống cho cán bộ giáo viên nhân viên, xây dựng quy tắc và hành vi ứng sử sư phạm cho đội ngũ cán bộ giáo viên nhân viên

    -Tổ chuyên môn và giáo viên tích cực đổi mới trong dạy và học lấy trẻ làm trung tâm, tăng cường bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và phát huy tính tích cực trong phẩm chất đạo đức của người giáo viên.

    -Phụ huynh học sinh xây dựng mối quan hệ thân thiên trong gia đình, kết hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, hỗ trợ nhà trường, nhóm lớp khi cần thiết.

    3.2 Thực hiện tốt công tác tuyên truyền. ( hình 1, hình 2, hình 3)

    Tuyên truyền là một biện pháp rất cần thiết giúp cho lảnh đạo, các tổ chức, ban nghành, phụ huynh học sinh nhân dân, cán bộ giáo viên nhân viên nhận thức đầy đủ và đúng đắn nhất về công tác xã hội hóa giáo dục từ đó tạo được hỗ trợ và hưởng ứng nhiệt tình công tác tuyên truyền có nhiều hình thức như tuyên truyền trực tiếp qua các cuộc hội họp, lễ hội và trao đổi, tuyên truyền qua loa đài phát thanh, qua bảng tuyên truyền của nhà trường nhóm lớp.

    Việc tuyên truyền cần phải xây dựng kế hoạch cụ thể xuyên suốt có sự đầu tư tận dụng triệt để ở một số thời điểm như hội họp , các buổi sinh hoạt, các lễ hội và các phong trào để tuyên truyền các nghị quyết chỉ thị của Đảng và Nhà nước, nêu gương tốt trong công tác xã hội hóa giáo dục.

    Phối hợp với hội phụ nữ, hội nông dân để tuyên truyền về các cách chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ và huy động trẻ đến trường. Phối hợp với trạm y tế khám sức khỏe định kỳ cho trẻ, trao đổi, tuyên truyền kiến thức chăm sóc nuôi dưỡng trẻ theo khoa học.

    Qua công tác tuyên truyền nhà trường đã nhận thấy được sự thay đổi suy nghĩ tích cưc của phụ huynh học sinh và nhân dân về công tác xã hội hóa giáo dục phụ huynh quan tâm hơn đến trường lớp và công tác phối hợp cùng nhà trường đã có hướng tích cực hơn   

    3.3  Làm tốt công tác tham mưu lãnh đạo và các tổ chức, cơ quan :(Hình 2, hình 14)

    Tận dụng triệt để các cơ hội để tham mưu với lãnh đạo các ban ngành, cha mẹ trẻ như qua công tác tổ chức các lễ hội đơn vị gửi thư mời lãnh đạo, phụ huynh học sinh tham dự lễ hội giúp phụ huynh và lãnh đạo thấy được chất lượng giáo dục của đơn vị ngoài ra để phụ huynh và lãnh đạo thấy được những khó khăn thiếu thốn của đơn vị từ đó có hướng hỗ trợ giúp đỡ.

    Qua quá trình tham mưu với lảnh đạo, các tổ chức cơ quan đơn vị cũng được phòng giao dục cấp kinh phí để sửa chữa những công trình cần thiết như:làm hầm chứa nước thải của nhà bếp, sữa chữa chống thấm chống dột, nhà vệ sinh, sơn lại hàng rào làm bảng tên trường. Nhờ sự chỉ đạo giúp đỡ của lãnh đạo ngành, lãnh đạo địa phương đơn vị đã vận động xây được nhà để xe trang bị một số quạt máy, cây cảnh cũng phong phú hơn Từ đó tạo được những khởi sắc bước tiến cho đơn vị 

    3.4 Tăng cường công tác bồi dưỡng cán bô giáo viên nhân viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tại đơn vị. (Hình 5)

    Đội ngũ giáo viên quyết định chất lượng giáo dục của nhà trường, trong đó có công tác xã hội hóa giáo dục. Để làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục trước hết nhà trường triển khai một số nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước trong công tác xã hội hóa giáo dục giúp cán bộ giáo viên nhân viên có những nhận thức sâu sắc và đúng đắn về vị trí vai trò của mình trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ, từ đó làm cho phụ huynh hiểu tin tưởng và tín nhiệm bằng những việc làm cụ thể của mình. Vì vậy cán bộ, giáo viên, nhân viên phải tu dưỡng rèn luyện, phấn đấu phải có tài có tâm, mặt khác nhà trường thường xuyên bồi dưỡng tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên về kiến thức quản lý giáo dục, thao giảng, dự giờ, học hỏi các đơn vị bạn, bồi dưỡng qua các hội thi, tổ chức các buổi bồi dưỡng chuyên môn, bồi dưỡng cho giáo viên kỹ năng tuyên truyền, kỹ năng giao tiếp ứng sử tạo điều kiện cho cán bộ giáo viên đi học nâng cao trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đánh giá thi đua bằng kết quả giáo dục, bằng đánh giá của phụ huynh học sinh. Phụ huynh học sinh còn được tham gia dự giờ các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ cụ thể là hoạt động học và hoạt động ăn ngủ của giúp phụ huynh học sinh thấy được chất lượng giáo dục của nhà trường bên cạnh đó còn giúp phụ huynh thấy sự thiếu cơ sở vật chất thiết bị dạy hoc là thiệt thòi cho giáo viên và trẻ của đơn vị từ đó tạo được niềm tin tưởng của cha mẹ trẻ và quan tâm chăm lo và đầu tư hơn nữa cho đơn vị cũng như cho giáo dục…ngoài ra đơn vị tiếp tục tập trung đẩy mạnh thi đua “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ” với 3 nội dung lớn “ Trách nhiệm trong công việc, nêu gương trong đời sống, dân chủ trong hoạt động ” gắn với phương châm hành động “ Đổi mới thực chất, hiệu quả nâng cao” thành các hoạt động thường xuyên. “ Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo” phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ”, “ Tận tâm, tận tụy tất cả vì các cháu thân yêu ” trong các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ, thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng ” Trường học thân thiện, học sinh tích cực ”, “ Đổi mới sáng tạo trong dạy và học”.

    3.5. Xây dựng môi trường cảnh quan sư phạm. (Hình 7,8,9,12,13)

           Diện tích đơn vị nhỏ không đủ để xây dựng thêm các phòng chức năng, phòng nhân viên, nhà để xe cho cán bộ giáo viên nhân viên, vì vậy phải mượn hành lang chơi của trẻ làm nơi để xe công tác đảm bảo an toàn phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ không đảm bảo. Hệ thống nước thải của nhà bếp thải trực tiếp ra ngoài gây ôi nhiễm môi trường, lớp học mùa mưa dột nhiều vì vậy dễ xảy ra tai nạn cho trẻ nếu không được khắc phục , không có diện tích để tạo vườn rau vườn hoa cho trẻ học tập vui chơi lao động vì vậy việc xây dựng môi trường cảnh quan sư phạm của đơn vị còn gặp rất nhiều khó khăn. Tuy vậy đơn vị cũng từng bước khắc phục những khó khăn như:

    Trước tiên nhà trường vận động lực lượng ngay trong đơn vị thứ 5 hàng tuần tổ chức lao động tạo môi trường xanh sạch đẹp cho đơn vị trồng mới thêm cây xanh chặt tỉa cành cây trồng vườn hoa vườn rau cho trẻ có nơi để được học tập vui chơi dưới bóng mát được chăm sóc cho cây từ đó giúp trẻ yêu lao động. Đã sử lý nước thải nhà bếp, đã xây được nhà để xe trả lại sân chơi cho trẻ.  Sân chơi hàng rào được sơn mới, môi trường cây xanh phong phú và đẹp hơn khuôn viên trường được thoáng mát sạch sẻ và tươi mới tất cả đã tạo nên một môi trường thân thiên để cho trẻ “ mỗi ngày đến trường là một ngày vui”

    3.6 Huy động và quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn lực huy động từ công tác xã hội hóa giáo dục.(Hình 1,4,5,6,8,10)

    Công tác huy động:

    • Huy động từ hội phụ huynh học sinh.

    Vào đầu năm học nhà trường đã tổ chức họp phụ huynh đề nghị chọn được ban đại diện cha mẹ phụ huynh học sinh các lớp là những người có uy tín để chung tay cùng xây dựng nhà trường. Là những người phối kết hợp tốt nhất trong việc thực hiện thông tin hai chiều giữa gia đình và nhà trường để cùng nhau chăm sóc giáo dục trẻ một cách tốt nhất.

    Nhằm phát huy đúng chức năng vài trò nhiệm vụ của hội đội ngũ “ Những nhà tư vấn tự nguyện” nhằm làm tốt công tác xã hội háo giáo dục.

    Hội phụ huynh học sinh toàn trường, ban đại diện và nhà trường cần tạo mối quan hệ chặt chẽ, xây dựng quy chế phối hợp giữa nhà trường và ban đại diện của hội tham gia giám sát các hoạt động của nhà trường. Dựa vào uy tín và tiếng nói của hội phụ huynh để tuyên truyền vận động vì giữa phụ hunh với phụ huynh họ luôn có tiếng nói chung, có cùng nguyện vọng và mang tính khách quan.

    Ban đại diện hội phụ huynh chủ động phối hợp cùng nhà trường xây dựng quỷ hội phụ huynh học sinh, đứng lên huy động sự đóng góp của các bậc phụ huynh. Đề ra quy chế thu chi sử dụng sau đó thống nhất trong hội nghị phụ huynh toàn trường. Cụ thể đã vận động đóng góp quỹ hội được với số tiền là 11.480.000 đồng để chi cho các hoạt động của trẻ và trang bị thêm 4 quạt máy phục vụ sân khấu lễ, một số châu hoa kiễng để trẻ được học tập vui chơi.

    • Nguồn lực huy động từ lãnh đạo cấp trên, cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức, ban ngành, mạnh thường quân và nhân dân.

    Nhà trường tạo mọi cơ hội để cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức, ban ngành, mạnh thường quân và nhân dân thăm trường lớp, gặp gỡ giáo viên –trẻ để có dịp cấp ủy , chính quyền địa phương, các tổ chức, ban ngành, mạnh thường quân và nhân dân hiểu rõ nhà trường hơn và cũng là thời điểm để nhà trường xin ý kiến chỉ đạo và hỗ trợ tận tình từ nhiều phía.

    Để tiếng nói và uy tín của nhà trường có sức mạnh hơn trong công tác xã hội hóa giáo dục thì sự tham gia của cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức, ban ngành, mạnh thường quân và nhân dân đem lại một sức mạnh to lớn đối với đơn vị như ũng hộ nguồn lực cung cấp thông tin trên địa bàn để công tác vận động xã hội hóa giáo dục đạt kết quả tốt nhất.

    Ví dụ  lãnh đạo ấp đã hỗ trợ nhà trường vận động công tác xã hội hóa giáo dục tại cuộc họp dân triển khai nghị quyết chỉ thị của đảng và nhà nước về xã hội hóa giáo dục từ đó giúp người dân nhận thức đúng đắn về nghị quyết và chỉ thị của đảng và nhà nước. Cùng nhà trường đến các hộ doanh nghiệp, mạnh thường quân đóng góp được 15.000.000 đồng làm nhà để xe cho cán bộ giáo viên nhân viên và xây khuôn viên vườn hoa và nhiều chậu hoa kiểng cho đơn vị.

    Việc quản lý và sử dụng nguồn huy động: (Hình 10)

    Việc huy động xã hội hóa giáo dục đã khó nhưng việc quản lý và sử dụng chúng như thế nào lại là một vấn đề khó nếu không quản lý tốt, sử dụng không đúng mục đích thì lòng tin từ cấp ủy , chính quyền địa phương, các tổ chức, ban ngành, mạnh thường quân và nhân dân sẻ không còn và công tác xã hội hóa giáo dục sẻ không tồn tại và phát triển được chính vì vậy tôi chú trọng công tác quản lý và sử dụng các nguồn đã được huy động như:

    • Đối với quỷ hội phụ huynh với số tiền đã vận động được tôi bàn giao lại cho hội và chỉ lên kế hoạch sử dụng, làm đề nghị được sự đồng ý chi từ hội thì nhà trường mới được hoạt động, quỷ hội phụ huynh sẻ được thu chi có chứng từ có thông báo và công khai rõ ràng tại bảng tuyên truyền nhà trường và thông qua các cuộc họp phụ huynh toàn trường để phụ huynh nắm được số tiền mình đóng góp chi vào những khoản nào có hợp lý hay không từ đó tạo được lòng tin từ phụ huynh để công tác vận động những lần sau đạt kết quả cao hơn thuận lợi hơn.

    • Đối với nguồn huy động từ cấp ủy , chính quyền địa phương, các tổ chức, ban ngành, mạnh thường quân và nhân dân tôi xây dựng kế hoạch hoạt động và vạch ra những việc nào cần thiết nhất cho trẻ cho nhà trường sau đó tham mưu với lãnh đạo và thực hiện. đơn vị có sổ “ xã hội hóa giáo dục” ghi danh và công khai hàng tháng  trên bảng tuyên truyền nhà trường với nguồn huy động được đơn vị đã xây được nhà để xe, xây được vườn hoa, vườn rau, thêm mới rất nhiều chậu kiểng mỗi công trình mỗi hiện vật đơn vị đều  ghi tên danh sách công khai. Sau khi hoàn thành xong công trình xã hội hóa giáo dục đơn vị gửi thư mời các cấp ủy, chính quyền đoàn thể, mạnh thường quân, những tổ chức cá nhân có những đóng góp cho đơn vị về dự buổi khánh thành các công trình để thể hiện sự biết ơn của đơn vị. đây cũng là điều kiện để cấp ủy, chính quyền đoàn thể, mạnh thường quân, những tổ chức cá nhân thăm quan trường lớp để thấy được sự thay đổi tích cực khi có sự chung tay góp sức cho đơn vị  và những khó khăn những vướng mắc đang còn tồn tại trong đơn vị từ đó xây dựng đóng góp ý kiến và hỗ trợ nhà trường nhiều hơn nửa để nhà trường ngày một phát triển và vững mạnh hơn chất lượng nhà trường ngày càng tiến bộ trẻ được học tập vui chơi trong một ngôi trường xanh sạch đẹp an toàn thân thiện

    3.7 Phát huy tối đa chi hội khuyến học của nhà trường quan tâm đến trẻ có hoàn cảnh khó khăn (Hình 11)

    Ngay từ đầu năm học nhà trường đã thành lập chi hội và các phân hội khuyến học. Mục đích của hội khuyến học là giúp đỡ khuyến khích  cán bô, giáo viên, nhân viên và trẻ có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong dạy và học

    Tôi xây dựng kế hoạch và phân công cụ thể cho từng thành viên trong chi hội điều tra thật kỹ từng hoàn cảnh của cán bộ, giáo viên, nhân viên và trẻ lập danh sách cán bộ, giáo viên, nhân viên và trẻ có hoàn cảnh khó khăn như trẻ mồ côi không nguồn nuôi dưỡng trẻ khuyết tật, trẻ thuộc hộ nghèo, gia đình chính sách để có kế hoạch hỗ trợ kịp thời giúp cán bộ, giáo viên, nhân viên và gia đình trẻ cảm thấy ấm lòng và có động lực hơn nửa vươn lên trong dạy và học.

    Cụ thể bằng các việc làm như: đơn vị đã xét cho 1 giáo viên có hoàn cảnh khó khăn được nhận quà tết với số tiền 300.000 đồng và xét 9 trẻ có hoàn cảnh khó khăn nhận quà vui xuân đón tết với tổng số tiền là 1.800.000 đồng. Tuy không nhiều nhưng cán bộ, giáo viên, nhân viên và gia đình trẻ cũng cảm thấy vui vì được sự quan tâm từ nhà trường. Lãnh đạo , phụ huynh học sinh cũng thấy được việc làm đầy ý nghĩa từ nhà trường từ đó họ sẵn sàng giúp đở nhà trường nhiều hơn.

    1. Kết quả đạt được.

    Trường mới thành lập trong thời gian ngắn tuy nhiên sau nhiều nỗ lực và phấn đấu trong thời gian qua công tác xã hội hóa giáo dục của nhà trường được đánh giá cao. Các cấp ủy, chính quyền địa phương, nhân dân có những hướng suy nghỉ tích cực hơn về công tác xã hội hóa giáo dục hưởng ứng và hỗ trợ nhiệt tình hơn cho đơn vị cả vật chất lẫn tinh thần và xây dựng đóng góp nhiều ý kiến để đổi mới chất lượng giáo dục tại nhà trường,  Môi trường cảnh quan sư phạm được khởi sắc, chất lượng giáo dục của đơn vị được nâng cao, cơ sở vật chất khang trang sạch đẹp hơn cụ thể như sau:

    4.1 Về chất lượng chăm sóc giáo dục:

    -Duy trì sĩ số trẻ: 97 trẻ

    -Tỷ lệ bé ngoan: 91,25%

    -Tỉ lệ chuyên cần: 90.86%

    Sức khỏe trẻ: so với đầu năm tỉ lệ suy dinh dưỡng, bép phì giảm rất nhiều cụ thể:

    Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân đầu năm: 6 trẻ đến nay 4 trẻ giảm 2 trẻ

    Suy dinh dưỡng thể thấp còi đầu năm:  14 trẻ đến nay 8 trẻ giảm 6 trẻ

    Béo phì  đầu năm: 4 trẻ đến nay 3 trẻ giảm  1 trẻ

    Thừa cân đầu năm:  10 trẻ đến nay 8 trẻ giảm 2 trẻ

    Qua kết quả cho thấy chất lượng chăm sóc giáo dục của nhà trường ngày càng được cải thiện và phát triển

    4.2 Về đội ngũ cán bộ giáo viên nhân viên:

    4/5 giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi vòng cơ sở

    Có 2 giáo viên tham gia thi giáo viên giỏi vòng huyện trong đó có 1 giáo viên đạt giáo viên giỏi vòng huyện

    Có 3 cán bô, giáo viên tham gia học bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn

    5/5 giáo viên tham gia viết sáng kiến kinh nghiệm

    100% cán bộ giáo viên nhân viên đăng ký và thực hiện phong trào đổi mới sáng tạo trong dạy và học.

    Giáo viên và trẻ yêu nghề yêu trường lớp và thích được đến trường được thể hiện qua tỉ lệ chuyên cần.

    Chất lượng giảng dạy của giáo viên được nâng cao đồ dùng đồ chơi phong phú đa dạng trẻ tích cực. Đặc biệt sự phối kết hợp giữa  gia đình và nhà trường ngày càng gắn kết và chặt chẻ nhận được nhiều sự hỗ trợ từ phụ huynh như sự tham gia của phụ huynh trong các dịp lễ hội hay dự giờ của lớp, góp nhiều nguyên liệu phế thải, không sử dụng cho giáo viên sáng tạo làm đồ dùng dạy học.

    4.3 Về cơ sở vật chất, cảnh quan môi trường.

    Cơ sở vật chất ngày được khang trang đầy đủ, cảnh quan môi trường lớp học xanh- sạch- đẹp- an toàn- thân thiện hơn.

    Huy động nguồn lực xây dựng được công trình nhà để xe, khu vực trồng rau, trồng hoa với tổng số tiền là 14.000.000 đồng, và 9 ngày công, 4 chậu cây xanh từ công tác vận động xã hội hóa giáo dục.

    Huy động từ phụ huynh học sinh với tổng số tiền quỷ hội là: 11.480.000 đồng trong đó nguồn quỷ hội được chi cho các hoạt động của trẻ và chi mua sắm thiết bị là 4 quạt điện máy, 10 giỏ hoa lan và 10 chậu hoa treo trong sân lễ

    Hàng rào, đồ chơi ngoài trời được sơn mới môi trường nhóm lớp dược sắp xếp khoa học đảm bảo an toàn, các thiết bị như ti vi đầu đĩa được sữa chữa và sử dụng phục vụ công tác dạy của cô và học tập vui chơi của trẻ

    PHẦN KẾT LUẬN:

    1. Bài học kinh nghiệm.

    Biện pháp có tính quyết định trong công tác tham mưu là phải xác định được bước đi thích hợp, kế hoạch xây dựng cụ thể, rõ ràng, nhất là thống nhất chỉ tiêu và phải thực thi phù hợp có tính khả thi cao.

    Phải có lòng kiên trì, nắm bắt thời cơ thích hợp để tham mưu hiệu quả. Việc tham mưu không phải một lần có kết quả ngay mà phải tham mưu nhiều lần. Công tác tham mưu phải được thực hiên thường xuyên, chủ động, tích cực, dứt điểm, tránh hình thức.

    Chú trọng công tác xã hội hóa giáo dục để ngày càng phát triển trên diện rộng, huy động mọi tổ chức đoàn thể, dân nhân trên địa bàn nhằm hỗ trợ nhiều mặt cho nhà trường thực tốt nhiệm vụ giáo dục.

    Xã hội hóa giáo dục phải dựa vào cộng đồng, làm cho mỗi thành viên trong cộng đồng thấy rõ ý nghĩa của phát triển giáo dục mầm non trong sự nghiệp giáo dục. Hoạt động xã hội hóa giáo dục phải đảm bảo tính dân chủ, bình đẳng và công khai.

    Việc tổ chức thực hiện các nội dung phải rõ ràng, phải tạo được niền tin đối với các cấp lãnh đạo, phụ huynh, nhân dân bằng việc làm không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.

    1. Ý nghĩa của sáng kiến đối với đơn vị:

    Qua áp dụng biện pháp thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục đã mang lại cho nhà trường sự thay đổi và phát triển tích cực nhất. Môi trường cảnh quan sư phạm được khởi sắc, trẻ yêu trường lớp, cô giáo. Phụ huynh có những suy nghĩ tích cực hơn về nhà trường, sự phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường được chặt chẽ trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, chất lượng giáo dục nhà trường ngày một nâng cao, tạo được niềm tin và uy tín từ các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân từ đó nhà trường nhận được nhiều sự hỗ trợ cả về nhân lực vật lực trí lực… từ các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân.

    1. Khả năng ứng dụng và triển khai kết quả của sáng kiến kinh nghiệm.

    Với kết quả đạt được tôi sẽ mở rông phạm vi ứng dụng sáng kiến trên phạm vi rộng hơn.

    1. Kiến nghị:

    Lãnh đạo phòng Giáo dục:

    Quan tâm hơn nữa tới hoạt động giáo dục của các nhà trường. Tập trung vào một số công việc cụ thể là: Chăm lo đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị , biên chế cán bộ, giáo viên đủ để đáp ứng các hoạt động của nhà trường.

    Lãnh đạo địa phương:

    Cần quan tâm và có hướng chỉ đạo kịp thời trong mọi công tác của nhà trường.

    Mở rộng quỷ đất để diện tích đơn vị đạt theo tiêu chí trường mầm non đạt chuẩn quốc gia.

                                                                                                       Người viết

     

     

                                                                                                  Lê Thị Ánh Hồng

    Ý KIẾN NHẬN XÉT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

     

    Ý kiến nhận xét của hội đồng khoa học:  

    ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………

     

     

     

     

     

     

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Văn Minh Cho Trẻ 5 – 6 Tuổi
  • Thực Trạng Văn Hóa Học Đường Của Sinh Viên Khoa Sư Phạm Mầm Non Trường Đại Học Hạ Long – Trường Đại Học Hạ Long
  • Thực Trạng Văn Hóa Học Đường
  • Một Số Giải Pháp Xây Dựng Văn Hóa Ứng Xử Trong Sinh Viên Tại Trường Đại Học Công Nghiệp Dệt May Hà Nội
  • Phương Pháp Hỗ Trợ Trẻ Khiếm Thính Trong Giáo Dục Hoà Nhập
  • Hoạt Động Xã Hội Hóa Giáo Dục Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Trường Thcs Baithuhoachgiuhangthcsthu Docx

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Cho Tường Bị Ẩm Mốc Tốt Nhất
  • Giải Pháp Xử Lý Hiệu Quả Khi Tường Nhà Bị Ẩm Mốc
  • Tấm Nhựa Ốp Tường Là Giải Pháp Cho Tường Bị Ẩm Mốc
  • Tường Nhà Bị Ẩm Có Dán Tường Được Không
  • Tường Bị Ẩm Mốc Phải Làm Sao
  • 2.3. Kế hoạch hoạt động cá nhân sau khi tham gia khóa bồi dưỡng nhằm đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp .

    DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

    Giáo dục luôn là trung tâm của đời sống xã hội, nó quyết định tương lai của

    mỗi người, của cả xã hội. Việc cải cách giáo dục và xã hội hoá giáo dục là một

    trong những giải pháp quan trọng nhất để thúc đẩy xã hội phát triển. Đẩy mạnh

    công tác xã hội hoá giáo dục là nội dung quan trọng đảm bảo cho sự thành công

    của công tác giáo dục, nhiều người, nhiều nhà trường đã nghiên cứu và những giải

    pháp cho chương trình xã hội hoá giáo dục, đã có những thành công nhất định.

    Trong thời đại hiện nay với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự hội nhập

    quốc tế của kinh tế Việt Nam quan điểm về xã hội hoá giáo dục cần được nhận thức

    lại và giải quyết trên cơ sở hợp lý, phù hợp hơn.

    Xã hội hóa giáo dục chính là việc tăng cường tính Xã hội của Giáo dục, gắn

    nhà trường với cộng đồng xã hội để phát huy tối đa vai trò và tạo điều kiện thuận

    lợi cho Giáo dục khẳng định vai trò thúc đẩy phát triển cộng đồng xã hội, khơi gợi

    mọi tiềm năng, huy động mọi tiềm lực trong Xã hội tham gia xây dựng và phát

    triển Giáo dụ c.

    Trong văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành TW khóa VIII đã chỉ rõ

    ” Mọi người chăm lo cho giáo dục, các cấp uỷ và tổ chức Đảng, các cấp chính quyền,

    các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế – xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có

    trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đóng góp trí tuệ,

    nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục – đào tạo. Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục

    Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS “.

    KẾT QUẢ THU HOẠCH ĐƯỢC SAU KHI THAM GIA

    KHÓA BỒI DƯỠNG

    Qua quá trình học tập và nghiên cứu cũng như sự hướng dẫn, truyền đạt của quý thầy, cô giảng viên phụ trách giảng dạy . Chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II, tôi đã được bồi dưỡng một số chuyên đề với các nội dung như sau:

    phát triển giáo dục đào tạo. Trong đó nêu cao vai trò vị trí quan trọng về công tác “xã hội hoá” trong công tác phát triển giáo dục. Cụ thể:

    – Chính Phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP “Về việc đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục, thể thao”

      Tăng chỉ tiêu đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước cho các trường đại học trọng điểm và viện nghiên cứu quốc gia, ưu tiên các ngành khoa học, công nghệ mũi nhọn. Khuyến khích và hỗ trợ công dân Việt Nam đi học tập và nghiên cứu ở nước ngoài bằng kinh phí tự túc.

    • Khuyến khích các cơ sở giáo dục trong nước hợp tác với các cơ sở giáo dục nước ngoài để nâng cao năng lực quản lý, đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đào tạo bồi dưỡng giáo viên, giảng viên và cán bộ khoa học và quản lý giáo dục; tăng số lượng học bổng cho học sinh, sinh viên đi học nước ngoài.
    • Trong xã hội học tập , mọi cá nhân có trách nhiệm học tập thường xuyên, suốt đời, tận dụng mọi cơ hội học tập để làm người công dân tốt; có nghề, lao động với hiệu quả ngày càng cao; học cho bản thân và những người xung quanh hạnh phúc; học để góp phần phát triển quê hương, đất nước và nhân loại.
    • Các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cộng đồng dân cư và gia đình có trách nhiệm cung ứng các cơ hội học tập và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người được học tập suốt đời.
    • Xây dựng xã hội học tập dựa trên nền tảng phát triển đồng thời, gắn kết và liên thông giữa giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên; đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời ở ngoài nhà trường; ưu tiên các đối tượng chính sách, người dân tộc, phụ nữ, người bị thiệt thòi.

    1.2.2. Cơ sở thực tiễn về của xã hội hóa giáo dục và xây dựng xã hội học tập ở trường THCS

    Trên cơ sở thực hiện các quan điểm, định hướng chỉ đạo về công tác giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, sự nghiệp giáo dục của nước ta trong những năm qua đã đạt được nhiều chuyển biến tích cực. Những thành

    nhiều năm nay. Chúng ta đã và đang huy động sức mạnh của toàn xã hội chăm lo cho giáo dục .

    Ngoài ra, vì ba mẹ không có thời gian quan tâm đến con cái nên việc các em lơ là trong việc học, ham thích các trò chơi online, bị ảnh hưởng tiêu cực từ các trang mạng xã hội Zalo, Internet ,… đó là vấn đề đáng báo động trong tình hình hiện nay. Việc các em đi học nhưng tâm trí chỉ mơ màng đến các trò chơi trong thế giới ảo là tình trạng chung, hầu như lớp nào cũng xảy ra tình trạng này (theo báo cáo váo các buổi sinh hoạt giao ban công tác chủ nhiệm hàng tuần sáng thứ hai ở trưởng).

    Vì vậy, để làm sao có biện pháp tuyên truyền huy động để không những cha mẹ học sinh, mà các tổ chức xã hội đều hướng về nhà trường bằng cả tâm huyết, để làm sao con em ở địa phương có ý thức cao trong học tập, mỗi người dân trên địa bàn thấy rõ được vai trò vị trí của công tác giáo dục, để làm sao Đảng ủy, chính quyền, các đoàn thể địa phương quan tâm nhiều đến sự phát triển của nhà trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoạt Động Xã Hội Hóa Giáo Dục Xây Dựng Xã Hội Học Tập Ở Trường Thcs
  • Skkn Công Tác Xã Hội Hoá Giáo Dục Trong Trường Thcs
  • Đổi Mới Quản Lý Để Dạy Học Có Hiệu Quả
  • Đổi Mới Công Tác Quản Lý, Tạo Đột Phá Để Phát Triển Giáo Dục, Đào Tạo
  • Đổi Mới Giáo Dục Đại Học Trong Bối Cảnh Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Đề Tài Một Số Đề Xuất Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Lớp 1: Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 1 0103004 Doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 3 Trường Tiểu Học Võ Thị Sáu Thông Qua Môn Đạo Đức Tiểu Học
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 3
  • Sáng Kiến Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 3
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 4 Ở Trường Tiểu Học Cây Gáo A
  • Một trong những tư tưởng đổi mới GD& ĐT hiện nay là tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh, được thể hiện trong nghị quyết của Đảng, Luật giáo dục và các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Luật giáo dục 2005 đã xác định: ” Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân ( Điều 23-Luật giáo dục).

    trang A. Phần mở đầu.................. 2 1. Lý do chọn đề tài .................................................................. .. 2 2. Mục đích nghiên cứu 3 3. Đối tượng nghiên cứu 3 4. Nhiệm vụ nghiên cứu 3 5. Giới hạn đề tài............................................................................... 3 6. Phương pháp nghiên cứu............................................................... 3 7. Thời gian nghiên cứu.................................................................... 4 B. Phần nội dung...................................................................................... 5 Chương I . Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu............................. 5 1. Đạo đức- chức năng đạo đức ....................................................... 5 2. Vị trí và đặc điểm của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh... 5 3. Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THCS.......... 7 Chương II. Biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh của trường THCS 13 1. Xây dựng trong nhà trường một môi trường thật tốt để giáo dục cho học sinh .................................................................. . ........ 13 2. Đổi mới công tác chủ nhiệm lớp là biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh........................................ 15 C. Phần kết luận........................................................................................ 20 Tài liệu tham khảo......................................................................... 21 A. PHẦN MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Về mặt lý luận Một trong những tư tưởng đổi mới GD& ĐT hiện nay là tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh, được thể hiện trong nghị quyết của Đảng, Luật giáo dục và các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Luật giáo dục 2005 đã xác định: " Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân ( Điều 23-Luật giáo dục). Về mặt thực tiễn Hội nhập kinh tế ngoài mặt tích cực nó còn làm phát sinh những vấn đề mà chúng ta cần quan tâm: Bản sắc văn hóa dân tộc bị đe dọa, hội nhập kinh tế quốc tế đưa vào nước ta những sản phẩm đồi trụy, phản nhân văn, reo rắc lối sống tự do tư sản, làm xói mòn những giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Hiện nay một số bộ phận thanh thiếu niên có dấu hiệu sa sút nghiêm trọng về đạo đức, nhu cầu cá nhân phát triển lệch lạc, kém ý thức trong quan hệ cộng đồng, thiếu niềm tin trong cuộc sống, ý chí kém phát triển, không có tính tự chủ dễ bị lôi cuốn vào những việc xấu. Trong nhà trường phổ thông nói chung và trường THCS nói riêng, số học sinh vi phạm đạo đức có chiều hướng gia tăng, tình trạng học sinh kết thành băng nhóm bạo hành trong trường học đáng được báo động. Một số CBQL, giáo viên chưa thật sự là tấm gương sáng cho học sinh, chỉ lo chú trọng đến việc dạy tri thức khoa học, xem nhẹ , thờ ơ không chú ý đến việc giáo dục tình cảm đạo đức cho học sinh. Về cá nhân Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, để góp phần vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay, và qua thực tiễn công tác giảng dạy học sinh ở trường THCS , tôi nhận thấy việc nắm rõ thực trạng và đề ra biện pháp về công tác giáo giáo dục đạo đức cho học sinh THCS là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của hội đồng sư phạm trong nhà trường. Đó là lý do tại sao tôi chọn đề tài này. Mục đích nghiên cứu Đánh giá được thực trạng của công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường THCS, thông qua đó đề ra biện pháp giáo đạo dức học sinh một cách có hiệu quả giúp cho các em trở thành những người tốt trong xã hội. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường THCS Nhiệm vụ nghiên cứu Giới hạn của đề tài Một số đề xuất biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh THCS Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu lý luận Trên cơ sở những kiến thức về tâm lý, giáo dục học và những quan điểm đường lối của Đảng, các văn bản của Bộ giáo dục và Đào tạo về đánh giá xếp loại, khen thưởng và kỷ luật học sinh. Phương pháp quan sát Nhìn nhận lại thực trạng của công tác giáo dục đạo đức học sinh của trường THCS Nguyễn Viết Xuân trong năm học. Đưa ra một số biện pháp về việc thực hiện công tác giáo dục đạo đức cho học sinh của trường trong giai đoạn hiện nay. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 09 năm 2009 đến tháng 2 năm 2010 B. PHẦN NỘI DUNG Chương I Cơ sở Lý luận 1. Đạo đức- Chức năng của đạo đức 1.1.Khái niệm đạo đức Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những nguyên tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ người và người và con người với tự nhiên. 1.2.Chức năng đạo đức Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, của ý thức xã hội, đạo đức một mặt quy định bởi cơ sở hạ tầng, của tồn tại xã hội ; mặt khác nó cũng tác động tích cực trở lại đối với cơ sở hạ tầng, tồn tại xã hội đó. Vì vậy, đạo đức có chức năng to lớn , tác động theo hướng thúc đẩy hoặc kềm hãm phát triển xã hội. Đạo đức có những chức năng sau: Chức năng giáo dục. Chức năng điều chỉnh hành vi của cá nhân, của cộng đồng và là công cụ tự điều chỉnh mối quan hệ giữa người và người trong xã hội. Chức năng phản ánh. 2. Vị trí và đặc điểm của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh 2.1. Vị trí - ý nghĩa Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn, giúp học sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ: của cá nhân với xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người xung quanh và của cá nhân với chính mình. Trong tất cả các mặt giáo dục đạo đức giữ một vị trí hết sức quan trọng. Vì Hồ Chủ Tịch đã nêu: " dạy cũng như học, phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức Cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng, nếu không có đạo đức Cách mạng thì có tài cũng vô dụng " Giáo dục đạo đức còn có ý nghĩa lâu dài, được thực hiện thường xuyên và trong mọi tình huống chứ không phải chỉ được thực hiện khi có tình hình phức tạp hoặc có những đòi hỏi cấp bách. Trong nhà trường THCS, giáo dục đạo đức là mặt giáo dục phải được đặc biệt coi trọng, nếu công tác này được coi trọng thì chất lượng giáo dục toàn diện sẽ được nâng lên vì đạo đức có mối quan hệ mật thiết với các mặt giáo dục khác. Để thực hiện những yêu cầu về nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trong trường THCS thì: Vai trò của tập thể sư phạm giữ một vị trí quan trọng có tính quyết định, trong đó vai trò của Hiệu trưởng, người quản lý chỉ đạo tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường là quan trọng nhất. 2.2. Đặc điểm Giáo dục đạo đức đòi hỏi không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ khái niệm tri thức đạo đức, mà quan trọng hơn là kết quả giáo dục phải được thể hiện thành tình cảm, niềm tin, hành động thực tế của học sinh. Quá trình dạy học chủ yếu được tiến hành bằng các giờ học trên lớp; còn quá trình giáo dục đạo đức không chỉ bó hẹp trong giờ lên lớp mà nó được thể hiện thông qua tất cả các hoạt động có thể có trong nhà trường . Đối với học sinh THCS, kết quả của công tác giáo dục đạo đức vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào nhân cách người thầy, gương đạo đức của người thầy sẽ tác động quan trọng vào việc học tập, rèn luyện của các em . Để giáo dục đạo đức cho học sinh có hiệu quả, yếu tố tập thể giữ vai trò hết sức quan trọng. Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh chỉ đạt kết quả tốt khi nó có sự tác động đồng thời của các lực lượng giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội. Việc giáo dục đạo đức cho học sinh đòi hỏi người thầy phải nắm vững các đặc điểm Tâm-Sinh-Lý lứa tuổi của học sinh, nắm vững cá tính, hoàn cảnh sống cụ thể của từng em để định ra sự tác động thích hợp. Giáo dục đạo đức là một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi phải có công phu, kiên trì, liên tục và lặp đi lặp lại nhiều lần. 3. Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THCS 3.1.Những nhiệm vụ của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh Để hình thành phẩm chất đạo đức cho học sinh, công tác giáo dục đạo đức nói chung và giảng dạy các môn giáo dục nói riêng trong nhà trường phải thực hiện các nhiệm vụ sau: Hình thành cho học sinh ý thức các hành vi ứng xử của bản thân phải phù hợp với lợi ích xã hội; giúp học sinh lĩnh hội được một cách đúng mức các chuẩn mực đạo đức được quy định. Biến kiến thức đạo đức thành niềm tin, nhu cầu của mỗi cá nhân để đảm bảo các hành vi cá nhân được thực hiện. Bồi dưỡng tình cảm đạo đức, tính tích cực và bền vững, và các phẩm chất ý chí để đảm bảo cho hành vi luôn theo đúng các yêu cầu đạo đức. Rèn luyện thói quen hành vi đạo đức để trở thành bản tính tự nhiên của mỗi cá nhân và duy trì lâu bền thói quen này. Giáo dục văn hóa ứng xử đúng mực thể hiện sự tôn trọng và quý trọng lẫn nhau của con người. 3.2.Những nguyên tắc giáo dục đạo đức cho học sinh +Giáo dục học sinh trong thực tiễn sinh động của xã hội Nguyên tắc này đòi hỏi nhà trường phải gắn liền với đời sống thực tiễn của xã hội, của cả nước và địa phương, phải nhạy bén với tình hình chuyển biến của địa phương và của cả nước, đưa những thực tiễn đó vào những giờ lên lớp, vào những hoạt động của nhà trường để giáo dục các em học sinh. +Giáo dục theo nguyên tắc tập thể Nguyên tắc này thể hiện ở cả 3 nội dung: Dìu dắt học sinh trong tập thể để giáo dục; Giáo dục bằng sức mạnh tập thể; giáo dục học sinh tinh thần vì tập thể. Trong một tập thể lớp, tập thể chi đội có tổ chức tốt, có sự đoàn kết nhất trí thì sức mạnh của dư luận tích cực sẽ góp phần rất lớn vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh. Những phẩm chất tốt đẹp như tinh thần tập thể, tính tổ chức kỷ luật, tình đồng chí và tình bạn, tinh thần hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau, tính khiêm tốn học hỏi mọi người bao giờ cũng do giáo dục tập thể hình thành. Để thực hiện tốt nguyên tắc này, đòi hỏi nhà trường THCS phải tổ chức tốt các tập thể lớp, tập thể chi độiNhà trường phải cùng với đoàn đội làm tốt phong trào xây dựng các chi đội mạnh trong trường học. +Giáo dục bằng cách thuyết phục và phát huy mạnh mẽ tính tự giác của học sinh Phải giáo dục đạo đức bằng cách thuyết phục và phát huy tính tự giác của học sinh, chứ không phải bằng sự cưỡng ép, mệnh lệnh, dọa nạt, biến học sinh thành những đứa trẻ thụ động, sợ sệt, rụt rè. Nguyên tắc này đòi hỏi người thầy phải kiên trì, nhẫn nại, phải có tình thương đối với học sinh một cách sâu sắc, không thể l ... t chất, khung cảnh của nhà trường làm sao cho toàn trường đều toát lên ý nghĩa giáo dục đối với học sinh. +Tạo nên bầu không khí giáo dục trong toàn trường và ở mỗi lớp học, hình thành nên một phong cách sinh hoạt của nhà trường , biểu hiện như sau: Nề nếp tốt: trật tự, vệ sinh, ngăn nắp, nghiêm túc. Có quan hệ tốt giữa các thành viên trong trường: giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa học sinh với nhau. Trong các mối quan hệ phải thực sự đúng mực, hài hòa; giáo viên thương yêu tôn trọng học sinh. Học sinh không hỗn xược, không khúm núm sợ sệt, yêu mến và tin tưởng thầy cô. Học sinh đối với nhau thì đoàn kết, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, không thù hằn, bè cánh đánh nhau, không nói tục chửi bậy, không tham gia vào tệ nạn xã hội. 1.3. Cách làm + Đối với Hiệu trưởng Phải xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh ngay từ đầu năm học trên cơ sở dựa vào tình hình thực trạng đạo đức của học sinh, tình hình thực tế của địa phương để định ra, nội dung, biện pháp, thời gian, chỉ tiêu cho phù hợp. Phải thường xuyên nắm tình hình tư tưởng đạo đức của học sinh một cách cụ thể bao gồm tình hình có tính chất thường xuyên, lâu dài, phổ biến và những tình hình có tính chất thời sự, cá biệt có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đối với học sinh. Thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục, đầu tư ngân sách để cải tạo cảnh quang sư phạm: trồng cây xanh, hoa kiểng, trang trí các khẩu hiệu, nội quy của từng phòng học và trong khu vực trường, xây dựng cổng rào an toàn cho học sinh. Thường xuyên tổ chức lao động vệ sinh trường lớp, trồng cây xanh thông qua buổi lao động cần giáo dục đầy đủ mục đích, ý nghĩa công việc cho học sinh, phải có phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị lớp, quy định rõ thời gian và kết quả phải đạt được, phải có kỷ luật, trật tự, không khí tươi vui, biểu dương kịp thời những học sinh tốt, tập thể lớp tốt. Tổ chức họp tham khảo ý kiến hội đồng giáo viên để đưa ra những quy định cụ thể về nội quy nhà trường, nhiệm vụ của học sinh, dựa trên cơ sở điều lệ trường trung học cơ sở của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2007. Kết hợp với chính quyền địa phương giải tỏa các hàng quán trước cổng trường, các điểm vui chơi giải trí và truy cập internet xung quanh trường theo đúng quy định của ngành chức năng. Tổ chức các phong trào thi đua thường xuyên, liên tục, bảo đảm tính công bằng, trung thực, phù hợp với năng lực và nhu cầu của các em. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm xây dựng lớp thành những tập thể vững mạnh, có lực lượng cốt cán làm nòng cốt, làm hạt nhân cơ bản của lớp, là trợ thủ đắc lực cho giáo viên chủ nhiệm. + Đối với giáo viên - Phải gương mẫu về mọi mặt, đoàn kết, nhất trí thành một khối thống nhất có tác dụng giáo dục mạnh mẽ đối với học sinh. Phải không ngừng tự hoàn thiện nhân cách của mình, phải thương yêu, tôn trọng, tin tưởng học sinh, có ý thức trách nhiệm về mọi hành vi ngôn ngữ, cử chỉ của mình đối với học sinh, đồng nghiệp, bản thân phải là tấm gương cho học sinh noi theo. + Đối với Đoàn đội: - Chủ động phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn tổ chức tốt phong trào thi đua học tập, rèn luyện đội viên theo năm điều Bác Hồ dạy. Tổ chức sinh hoạt đội hàng tuần vào ngày thứ năm, tạo sân chơi lành mạnh cho các em. Giáo dục tinh thần yêu nước cho các em thông qua việc sưu tầm địa chỉ đỏ, thăm viếng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở địa phương, thăm các chú bộ đội đóng trên địa bàn. 2. Đổi mới công tác chủ nhiệm lớp là biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh 2.1.Ý nghĩa GVCN có vai trò rất to lớn trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, vì GVCN là người quản lý toàn diện học sinh của lớp được phụ trách, là cầu nối giữa Ban giám hiệu với các tổ chức trong nhà trường, các giáo viên bộ môn với tập thể lớp, là người cố vấn tổ chức các hoạt động tự quản của lớp, đồng thời là người đứng ra phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của trường. Xuất phát từ thực trạng công tác chủ nhiệm của trường, việc đưa ra các biện pháp giúp GVCN định hướng đổi mới công tác chủ nhiệm cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương mang ý nghĩa quan trọng đối với công tác giáo dục đạo đức học sinh trong giai đoạn hiện nay. 2.2.Nội dung + Tìm hiểu đặc điểm tình hình lớp, tình hình học sinh là góp phần cho công tác chủ nhiệm đạt kết quả cao - Đầu năm học GVCN phải có những thông tin khái quát về gia đình học sinh như: nơi ở, hoàn cảnh sống, lối sống, hoàn cảnh kinh tế gia đình, giáo dục của gia đình, sự quan tâm của cha mẹ đối với con cái, quan hệ của gia đình láng giềng. Việc tìm hiểu này sẽ giúp GVCN kết hợp tốt với gia đình trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Đầu năm học GVCN phải nắm được đặc điểm học sinh về: sức khỏe, đạo đức, năng lực học tập, động cơ học tập, quan hệ của học sinh với cha mẹ, Ông bà, anh chị em trong gia đình, ở trường với thầy cô và ngoài xã hội, cộng đồng. Việc tìm hiểu học sinh về mọi mặt là rất cần thiết nhưng GVCN phải thấy được nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó. GVCN phải tìm hiểu cơ cấu, lứa tuổi, năng lực học tập, hoạt động, mối quan hệ giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên, sự đoàn kết của lớp mình chủ nhiệm. + Nắm vững đường lối quan điểm của Đảng về công tác giáo dục, mục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, lớp học kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học của học kỳ, năm học Để vận dụng tốt vào công tác chủ nhiệm của mình, GVCN phải nắm vững mục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, lớp học, kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học của học kỳ, năm học. Để cho học sinh thực hiện chủ động, sáng tạo nhiệm vụ của lớp trong phong trào chung, GVCN phải nắm vững kế hoạch, nội dung và cách thực hiện của trường trong tuần, tháng học kỳ và cả năm học. Phải nắm vững tri thức lý luận giáo dục, có nghệ thuật sư phạm, xây dựng và phối hợp tốt các mối quan hệ trong nhà trường và địa phương. + Tìm hiểu tiềm năng của cộng đồng, địa phương, xã hội, theo dõi thời sự trong nước và quốc tế để vận dụng những hiểu biết đó vào công tác chủ nhiệm Để liên kết và phối hợp có hiệu quả giữa nhà trường, đại diện là GVCN với địa phương trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. GVCN cần phải nắm được tình hình thời sự, khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội để bổ sung kiến thực của mình thêm phong phú. + Xây dựng những truyền thống tốt đẹp của lớp Các hoạt động của lớp sẽ trở thành truyền thống nếu nó được lập đi lập lại và trở thành thói quen. Phải trân trọng truyền thống sẳn có của lớp, tiếp tục xây dựng truyền thống mới cho lớp trong điền kiện cụ thể. + Tích cực tham gia vào công tác đánh giá xếp loại hạnh kiểm, xét thi đua, khen thưởng và kỷ luật học sinh với tư cách là người bảo vệ quyền lợi chính đáng cho học sinh. 2.3. Cách làm + Đối Hiệu trưởng Cần thực hiện tốt việc phân công giáo viên chủ nhiệm, lựa chọn những người có phẩm chất và năng lực tốt. Tạo mọi điền kiện, đôn đốc, giúp đỡ GVCN làm tốt những nhiệm vụ, quyền lợi của GVCN quy định tại điều 31- 32 điều lệ trường trung học . Có kế hoạch cụ thể về công tác chủ nhiệm, có chỉ tiêu rèn luyện phấn đấu phù hợp với thực trạng của trường. Thường xuyên thu nhận thông tin về tình hình diễn biến đạo đức của học sinh do GVCN cung cấp, có biện pháp kịp thời nhằm ngăn chặn những tình huống xấu xảy ra. Thường xuyên kiểm tra số sách của giáo viên chủ nhiệm, dự các tiết sinh hoạt lớp của GVCN. Khen thưởng và xử lý kịp thời đúng người, đúng trường hợp. +Đối với GVCN Nghiên cứu lý lịch, hồ sơ học sinh : (học bạ, hoàn cảnh gia đình.) Trao đổi với học sinh để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng xu hướng sở thích của học sinh. Trao đổi với giáo viên bộ môn, về tình hình của lớp. Trao đổi với ban giám hiệu, tổng phụ trách đội, Cha mẹ học sinh để có thêm những thông tin về đối tượng mà GVCN cần tìm hiểu. Thực hiện đầy đủ các loại sổ sách theo quy định, báo cáo trung thực, kịp thời cho ban giám hiệu về tình hình đạo đức của học sinh. Một năm học GVCN đến nhà học sinh ít nhất một lần để nắm thông tin, thuyết phục cha mẹ học sinh tham gia họp đầy đủ. Hàng tháng chuyển sổ liên lạc đến gia đình học sinh đúng thời gian quy định, xử lý thông tin phản hồi kịp thời, có hiệu quả. Khi có tình huống đột xuất xảy ra, phải xử lý khéo léo, liên hệ với Cha mẹ học sinh để giải quyết mau lẹ, có hiệu quả. GVCN phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ, trao dồi đạo đức nhà giáo để xứng đáng là tấm gương tốt cho học sinh noi theo. +Đối với GVBM, các đoàn thể trong và ngoài nhà trường Tích cực hỗ trợ GVCN trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, phản ánh kịp thời với GVCN về tình hình học sinh của lớp. Tham gia đóng góp ý kiến trong việc đánh giá xếp loại Hạnh kiểm, xét kỷ luật học sinh. C. PHẦN KẾT LUẬN Trước thực trạng đạo đức hiện nay của học sinh trường THCS có chiều hướng giảm sút nghiêm trọng, việc giáo dục đạo đức cho học sinh là đòi hỏi cấp bách của xã hội để xây dựng hoàn thiện những giá trị cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế tri thức. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài về giáo dục đạo đức cho học sinh đã giúp cho đội ngũ giáo viên và CBQL xác định đúng tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức học sinh ở nhà trường để có kế hoạch hoàn chỉnh, có sự quan tâm đúng mực trong việc giáo dục học sinh, từ đó giúp cho tập thể sư phạm của trường thấy được nhiệm vụ quan trọng này để ngoài việc dạy chữ cho tốt còn phải lưu tâm, hết lòng giáo dục các em phát triển toàn diện cả tài lẫn đức. Những vấn đề cơ bản về giáo dục đạo đức cho học sinh cũng đã được thể hiện qua hai con đường cơ bản: Con đường dạy học các môn học trong và ngoài nhà trường. Con đường hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường. Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu ngắn, phạm vi nghiên cứu chỉ là trường THCS nên có nhiều vấn đề chưa được phân tích một cách đầy đủ, các biện pháp đưa ra chưa có tính khả thi cao, nhưng ít nhiều nó cũng giúp cho chúng ta thấy được thực trạng của đạo đức học sinh hiện nay, giúp cho chúng ta định hướng lại một số việc cần phải làm trong thời gian sắp tới để góp phần thành công vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Tạp chí Thế giới trong ta - số 74+75 năm 2008-Hội khoa học tâm lý giáo dục Việt Nam. Tài liệu BDTX cho giáo viên THCS chu kỳ 3( 2004-2007) Quyết định số 40/2006/QĐ- BGDĐT về việc ban hành quy chế đánh giá xếp loại học sinh THCS và học sinh THPT. Quyết định số 07/2007/QĐ-BGDĐT về việc ban hành điều lệ trường THCS, trường THPT và trường PT có nhiều cấp học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Ở Lớp 2
  • Đề Tài Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs
  • Luận Văn Đề Tài Thực Trạng Và Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thcs
  • Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Sự Tăng Dân Số Có Liên Quan Như Thế Nào Đến Chất Lượng Cuộc Sống? Ở Việt Nam Đã Có Biện Pháp Gì Để Giảm Sự Gia Tăng Dân Số Và Nâng Cao Chất Lượng Cuộc Sống?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100