Biện Pháp So Sánh Là Gì? Cách Đặt Câu Có Biện Pháp So Sánh

--- Bài mới hơn ---

  • Thành Thạo Biện Pháp Tu Từ So Sánh
  • Liệt Kê Là Gì ? Các Kiểu Liệt Kê Và Cho Ví Dụ Dễ Hiểu
  • Biện Pháp Liệt Kê Là Gì?
  • Liệt Kê Là Gì? Tác Dụng Của Liệt Kê
  • Giúp Em Học Tốt Ngữ Văn 7
  • Số lượt đọc bài viết: 44.470

    Mục đích của biện pháp so sánh là gì? So sánh giúp làm nổi bật một khía cạnh nào đó của sự vật và sự việc, qua đó nhấn mạnh đến ý tưởng và mục đích của người nói, người viết.

    Dấu hiệu của biện pháp so sánh

    Phân tích ví dụ: Đôi mắt trong vắt như nước mùa thu

    Dựa vào ví dụ trên có thể thấy rằng, cấu tạo của một câu có sử dụng biện pháp tu từ so sánh bao gồm: vế được so sánh và vế để so sánh. Giữa hai vế so sánh thường có dấu câu hoặc từ so sánh. Một số từ so sánh là: như, tựa như, như là, giống như, bao nhiêu…bấy nhiêu.

    Dấu hiệu của biện pháp so sánh là gì? Đặc điểm của biện pháp so sánh như nào? – Để phân biệt trong câu có sử dụng biện pháp so sánh hay không, cần dựa vào các căn cứ:

    Các kiểu so sánh thường gặp

    Ví dụ: Ngôi nhà to lớn như một tòa lâu đài

    Mái tóc như chổi lông gà

    Cảnh bình minh tựa như như bức tranh mùa xuân

    Ví dụ: Đứa trẻ tươi tắn như một nụ hoa chớm nở

    Mẹ em như là một bảo bối thần kỳ

    Cậu thanh niên giống như một ngọn núi sừng sững

    Thân em như tấm lụa đào

    Ví dụ: Tiếng suối trong như tiếng hát

    Cánh đồng lúa vàng ươm như một dải lụa

    Các ngón tay tròn đầy như là nải chuối

    Ví dụ: Tiếng chim trong như tiếng sáo

    Tiếng hát thánh thót như tiếng họa mi

    Tiếng trống dồn vang như tiếng sấm

    Ví dụ: Điệu múa của vũ công tựa như một con thiên nga đang xòe cánh

    Con sóc chạy nhanh như bay

    Các hình thức trong biện pháp so sánh

    Từ định nghĩa biện pháp so sánh là gì, dấu hiệu của so sánh và các kiểu so sánh, chúng ta cũng cần nắm được các hình thức được sử dụng trong biện pháp so sánh. Dựa theo mức độ so sánh, có thể phân thành:

    • So sánh ngang bằng: thường chứa các từ: như, giống như, tựa như. Ví dụ: Môi đỏ như son, da trắng như tuyết, tóc đen như gỗ mun; Lông con mèo giống như một cục bông gòn trắng xóa.
    • So sánh không ngang bằng: không bằng, chẳng bằng, hơn… Ví dụ: “Những ngôi sao thức ngoài kia/Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con”

    Dựa vào đối tượng so sánh, có thể phân thành:

    • So sánh giữa các đối tượng cùng loại: Ví dụ: Cô giáo em như là người mẹ
    • So sánh giữa các đối tượng khác loại: Ví dụ: Lông con mèo như một cục bông gòn
    • So sánh cái cụ thể với cái trừu tượng: Ví dụ: Thân em như quả ấu gai
    • So sánh cái trừu tượng với cái cụ thể: Ví dụ: Công cha như núi Thái Sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

    Câu 2: SGK lớp 6 tập 2 trang 24 Câu 1: SGK lớp 6 tập 2 trang 25 Câu 2: SGK lớp 6 tập 2 trang 25

    Luyện tập về biện pháp so sánh

    Câu 1 + 2 SGK lớp 6 tập 2 trang 24:

      a) Hình ảnh so sánh được thể hiện qua:
      b) Sự vật được so sánh:
      c) Giữa các sự vật so sánh có nét giống nhau:
      d) Tác dụng của biện pháp so sánh: làm nổi bật cái được nói đến, làm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt

    • Khoẻ như voi, khỏe như hổ
    • Đen như mực, đen như cột nhà cháy
    • Trắng như bông, trắng như tuyết
    • Cao như núi, cao như cây sào

    Câu 3: SGK lớp 6 tập 2 trang 25: Tìm câu văn có sử dụng biện pháp tu từ so sánh:

    Trong bài “Bài học đường đời đầu tiên”

    • Những ngọn cỏ…., y như có nhát dao vừa lia qua
    • Hai cái răng ….. như hai lưỡi liềm máy làm việc.
    • Cái chàng Dế Choắt….. như một gã nghiện thuốc phiện.
    • Đã thanh niên rồi …… như người cởi trần mặc áo ghi-lê.
    • Đến khi định thần lại……., như sắp đánh nhau.
    • Mỏ Cốc như cái dùi sắt, chọc xuyên cả đất.

    Trong bài “Sông nước Cà Mau”

    • Càng đổ dần …….như mạng nhện.
    • … ở đó tụ tập …..như những đám mây nhỏ.
    • … cá nước bơi hàng đàn ….. như người bơi ếch .
    • … trông hai bên bờ, rừng đước …. như hai dãy trường thành vô tận
    • Những ngôi nhà ……như những khu phố nổi.

    Please follow and like us:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhân Hóa Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa
  • Các Biện Pháp Tu Từ Và Ví Dụ Về Bài Tập Biện Pháp Tu Từ Dễ Hiểu
  • Câu Hỏi Tu Từ Là Gì? Tất Cả Những Kiến Thức Về Câu Hỏi Tu Từ
  • Thụ Tinh Nhân Tạo (Iui) Là Gì? Quy Trình Thực Hiện & Chi Phí
  • Iui Là Gì Và Bạn Đã Sẵn Sàng Để Thực Hiện Phương Pháp Này?
  • Biện Pháp So Sánh Là Gì? Cách Đặt Câu Có Biện Pháp So Sánh – Định Nghĩa Mọi Thứ.

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề : Biện Pháp So Sánh – Lớp 3
  • Phòng Trừ Sâu Bệnh Bằng Biện Pháp Sinh Học • Tin Cậy 2022
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn 11 Tiết 5: Đọc Văn Tự Tình Ii
  • Phân Tích Bài Thơ Tự Tình 2
  • Đề Đọc Hiểu Và Nghị Luận Xã Hội Về Bài Thơ Tự Tình Hồ Xuân Hương
  • Biện pháp so sánh là gì?

    So sánh là biện pháp tu từ được sử dụng nhằm đối chiếu các sự vật, sự việc này với các sự vật, sự việc khác giống nhau trong một điểm nào đó với mục đích tăng sức gợi hình và gợi cảm khi diễn đạt.

    Mục đích của biện pháp so sánh là gì? So sánh giúp làm nổi bật một khía cạnh nào đó của sự vật và sự việc, qua đó nhấn mạnh đến ý tưởng và mục đích của người nói, người viết.

    Dấu hiệu của biện pháp so sánh

    Phân tích ví dụ: Đôi mắt trong vắt như nước mùa thu

    Dựa vào ví dụ trên có thể thấy rằng, cấu tạo của một câu có sử dụng biện pháp tu từ so sánh bao gồm: vế được so sánh và vế để so sánh. Giữa hai vế so sánh thường có dấu câu hoặc từ so sánh. Một số từ so sánh là: như, tựa như, như là, giống như, bao nhiêu…bấy nhiêu.

    Dấu hiệu của biện pháp so sánh là gì? Đặc điểm của biện pháp so sánh như nào? –  Để phân biệt trong câu có sử dụng biện pháp so sánh hay không, cần dựa vào các căn cứ:

    Các kiểu so sánh thường gặp

    So sánh sự vật với sự vật

    Ví dụ: Ngôi nhà to lớn như một tòa lâu đài

    Mái tóc như chổi lông gà

    Cảnh bình minh tựa như như bức tranh mùa xuân

    Sự vật 1 (sự vật được so sánh)

    Từ so sánh

    Sự vật 2 (sự vật để so sánh)

    Ngôi nhà

    như

    Tòa lâu đài

    Mái tóc

    như

    Chổi lông gà

    Cảnh bình minh

    Tự như

    Bức tranh mùa xuân

    So sánh sự vật với con người

    Ví dụ: Đứa trẻ tươi tắn như một nụ hoa chớm nở

    Mẹ em như là một bảo bối thần kỳ

    Cậu thanh niên giống như một ngọn núi sừng sững

    Thân em như tấm lụa đào

    Đối tượng 1

    Từ so sánh

    Đối tượng 2

    Đứa trẻ (con người)

    như

    Nụ hoa chớm nở (sự vật)

    Mẹ em (con người)

    Như là

    Bảo bối thần kỳ (sự vật)

    Cậu thanh niên (con người)

    Giống như

    Ngọn núi sừng sững (sự vật)

    Thân em (con người)

    như

    Tấm lụa đào

    So sánh đặc điểm của 2 sự vật

    Ví dụ: Tiếng suối trong như tiếng hát

    Cánh đồng lúa vàng ươm như một dải lụa

    Các ngón tay tròn đầy như là nải chuối

    Sự vật 1

    Đặc điểm so sánh

    Từ so sánh

    Sự vật 2

    Tiếng suối

    trong

    như

    Tiếng hát

    Cánh đồng lúa

    Vàng ươm

    như

    dải lụa

    Các ngón tay

    Tròn đầy

    Như là

    Nải chuối

    So sánh âm thanh với âm thanh

    Ví dụ: Tiếng chim trong như tiếng sáo

    Tiếng hát thánh thót như tiếng họa mi

    Tiếng trống dồn vang như tiếng sấm

    Âm thanh 1

    Từ so sánh

    Âm thanh 2

    Tiếng chim

    như

    Tiếng sáo

    Tiếng hát

    như

    Tiếng họa mi

    Tiếng trống

    như

    tiếng sấm

    So sánh hoạt động với hoạt động

    Ví dụ: Điệu múa của vũ công tựa như một con thiên nga đang xòe cánh

    Con sóc chạy nhanh như bay

    Sự vật/ con người 1

    Hoạt động 1

    Từ so sánh

    Hoạt động 2

    Sự vật 2

    Vũ công

    Điệu múa

    Tựa như

    Xòe (cánh)

    Con thiên nga

    Con sóc

    Chạy

    như

    bay

    Các hình thức trong biện pháp so sánh

    Từ định nghĩa biện pháp so sánh là gì, dấu hiệu của so sánh và các kiểu so sánh, chúng ta cũng cần nắm được các hình thức được sử dụng trong biện pháp so sánh. Dựa theo mức độ so sánh, có thể phân thành:

    Dựa vào đối tượng so sánh, có thể phân thành:

    Luyện tập về biện pháp so sánh

    Câu 1 + 2 SGK lớp 6 tập 2 trang 24:

    Câu 2: SGK lớp 6 tập 2 trang 24

    a)

    Vế A (cái được so sánh)

    Phương diện so sánh

    Từ so sánh

    Vế B (cái để so sánh)

    Trẻ em

    như

    Búp trên cành

    Rừng đước

    Dựng lên cao ngất

    như

    Dãy tường thành vô tận

    b)

    Vế A (cái được so sánh)

    Phương diện so sánh

    Từ so sánh

    Vế B (cái để so sánh)

    Chí lớn cha ông

    Trường Sơn

    Lòng mẹ

    Bao la sóng trào

    Cửu Long

    Con người

    Không chịu khuất

    như

    Tre mọc thẳng

    Câu 1: SGK lớp 6 tập 2 trang 25

    Câu 2: SGK lớp 6 tập 2 trang 25

    Câu 3: SGK lớp 6 tập 2 trang 25: Tìm câu văn có sử dụng biện pháp tu từ so sánh:

    Trong bài “Bài học đường đời đầu tiên”

    Trong bài “Sông nước Cà Mau”

    (Nguồn: www.youtube.com)

    Tác giả: Việt Phương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Rèn Nề Nếp Đầu Năm Cho Học Sinh Lớp 1
  • Trường Trung Học Phổ Thông Đông Đô
  • Kỷ Luật Tích Cực Trong Nhà Trường Là Yếu Tố Quan Trọng Chống Lại Bạo Lực Học Đường
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Kỹ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp Một
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Rèn Chữ Viết Đẹp Cho Học Sinh Lớp 1
  • Đặt Câu Có Sử Dụng Biện Pháp Điệp Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiệu Quả Tu Từ Của Biện Pháp Điệp Ngữ Trong Thơ Ngô Văn Phú
  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Nói Giảm, Nói Tránh
  • Nói Giảm Nói Tránh Và Tác Dụng Của Nói Giảm Nói Tránh
  • Nói Giảm Nói Tránh Là Gì? Cho Ví Dụ
  • Cách Viết Đoạn Văn Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ
    • Viết đoạn văn ngắn có sử dung câu đặc biệt, câu rút gọn,dấu chấm lửng,dấu chấm than, dấu gạch ngang và nêu công dụng cảu dấu câu, dấu câu sử dụng

    • Viết đoạn văn ngắn trong đó có sử dụng cậu mở rộng, câu đặc biệt và trạng ngữ (đề tại tự chọn)

    • Câu 1. Tìm cụm chủ vị mở rộng và cho biết chúng làm thành phần gì trong câu

      a)Ở trên lớp, học sinh chăm chỉ làm bài là một việc làm tốt

      b) Mùa hè, hoa phượng nở làm cho sân trường thêm rực rỡ.

      Câu 2. Tìm phép liệt kê và phân loại, nêu tác dụng

      a) Ngoài hò, ở ca Huế còn bắt gặp các điệu lý như : lý con sáo, lý hoài xuân, lý hoài nam

      b) Nhạc công dùng các ngón đàn trau chuốt như ngón nhấn, mổ, vỗ, vã….

      HELPP MEEE

    • Mọi người giúp mình mấy bài này với hí hí

      +Đoạn văn về tình cảm gia đình có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

      +Đoạn văn về tình cảm bạn bè có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

      +Đoạn văn về tình cảm anh em có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

      +Đoạn văn về tình cảm quê hương có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

      Mong mọi người giup đỡ tí mình phải nộp bài rồi

    • câu 2: kể tên các chuyện đã học trong chương trình lớp 7? em thích truyện nào? vì sao?

      câu 3: có mấy tiêu chí để phân loại phép liệt kê

      giúp vs

    • Xác định kiểu câu và gạch chân dưới những từ ngữ nhận biết.

      a, An hỏi: Bạn là ai ?

      b, Bạn định làm gì vào ngày mai ?

      c, Tại sao bạn không làm bài tập về nhà ?

      d, Em đừng khóc nữa.

      e, Em đi về đi.

      f, Tớ chỉ đùa thôi.

      g, Ôi ! Khổ quá.

      h, Chao ôi ! Bọn chúng thật ác.

      i, Tôi thương mẹ tôi biết bao.

      k, Tôi nói với Phương: Bạn cứ vào trong nhà mình chơi.

      l, Mẹ nói: Bố về rồi con đi dọn cơm cho bố.

    • Xác định chủ ngữ , vị ngữ , trạng ngữ ( nếu có ) .

      1. Khi tiếng trống hiệu vừa dứt, bốn thanh niên của bốn đội nhanh như sóc, thoăn thoắt leo lên bốn cây chuối bôi mỡ bóng nhẫy để lấy nén hương cắm ở trên ngọn.

      2. Một người ăn xin già lọm khọm đứng ngay trước mặt tôi

    • Phân tích tác dụng của phép nhân hóa:

      Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.

    • Tìm câu đặc biệt, trạng ngữ và câu rút gọn:

      Nhân dân ta có một lòng yêu nước nồng nàn. từ già đến trẻ, tất cả đều sẵn sàng hy sinh vì đất nước Việt Nam. Những cô gái trẻ độ tuôi đôi mươi, cũng chấp nhận từ bỏ lứa tuổi đẹp nhất của đời người để ra trận. Những người mẹ tần tảo đã đau khổ biết mấy khi để những người con mà họ hết lòng yêu thương ra trận. Những người phụ nữ, bất chấp tất cả, cũng cùng các thanh niên trang bị cho cuộc chiến tranh sắp đến… Tất cả những công dân Việt Nam,họ biết họ đang đối mặt với sự sống và cái chết… nhưng họ gạt bỏ tất cả nỗi sợ hãi bị tật nguyền, bị mất đi đôi chân hoặc cánh tay, tệ hơn nữa, họ sẽ chết chìm trong biển lửa tàn khốc của chiến tranh. Nhưng lý do gì đã không ngừng thôi thúc họ không được từ bỏ, rằng dù có bị tật nguyền cũng phải dũng cảm chiến đấu vì tương lai sau này? Đó là vì tinh thần yêu nước của nhân dân ta quá sâu đậm. Dường như trong dòng máu của mỗi công dân Việt Nam đều đã có sẵn tinh thần bất khuất ầy. Nó sẽ không bao giờ chịu khuất phục bởi chiến tranh, luôn sống mãi trong tim mỗi con người, mỗi công dân Việt Nam

    • Xác định từ láy và từ ghép trong các từ sau đây:

      +đầu đuôi +heo hút +tươi tốt

      +ngọn ngành +đông đủ +nảy nở

      +chậm chạp +ngọt ngào +xinh xẻo

      +mệt mỏi + chua chát + tươi tắn

    --- Bài cũ hơn ---

  • (Nêu Khái Niệm , Biện Pháp Tu Từ,phân Loại ,tác Dụng, Ví Dụ),so Sánh ,ẩn Dụ,nhân Hóa,hoán Dụ,nói Quá ,nói Giảm Nói Tránh Điệp Ngữ, Chơi Chữ
  • Tác Dụng Của 12 Biện Pháp Tu Từ Câu Hỏi 153226
  • Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu Đạt 9.5 Điểm
  • Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Năm 2022 Môn Ngữ Văn Trường Ngô Sĩ Liên
  • Viết Đoạn Văn Tả Cánh Đồng Lúa Trong Đó Có Sử Dụng Biện Pháp So Sánh V

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Kí Cô Tô
  • Cảm Nhận 1 Phép So Sánh Trong Bài Cô Tô
  • Phân Tích Vẻ Đẹp Của Cô Tô Qua Tác Phẩm Cùng Tên Của Nguyễn Tuân
  • ✅ Văn Mẫu: Tỏ Lòng
  • Phân Tích Bài Thơ Hịch Tướng Sĩ Của Trần Quốc Tuấn
  • Đề bài: Viết đoạn văn tả cánh đồng lúa trong đó có sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa

    Viết đoạn văn tả cánh đồng lúa trong đó có sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa

    Mẹo Cách viết một đoạn văn đạt điểm cao

    1. Viết đoạn văn tả cánh đồng lúa trong đó có sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa, mẫu số 1:

    Buổi sớm bình minh, cánh đồng lúa quê hương em thật đẹp. Bờ cỏ còn ướt đẫm sương đêm, triền đê xanh mang vẻ thanh bình mê hoặc. Những vạt lúa xanh xì xào trong gió nhẹ. Mấy nàng chim rủ nhau hót líu lo chào ngày mới. Đằng đông, ông mặt trời thức giấc dịu dàng, ánh mai hồng vươn mình tỏa nắng. Màu xanh của lúa hoà trong màu vàng của nắng tạo nên một bức tranh đẹp đẽ, yên bình như thiên đường chốn nhân gian. Yêu biết bao cánh đồng lúa quê hương.

    2. Viết đoạn văn tả cánh đồng lúa trong đó có sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa, mẫu số 2:

    Những khi chiều về, em thích ngắm cảnh cánh đồng lúa quê hương. Mới ngày nào đó còn là những hàng mạ xanh tươi mà này đã vào độ thu hoạch. Lúc này đây cả cánh đồng mang màu vàng như một tấm lụa khổng lồ. Thân lúa nghiêng mình trĩu hạt. Những hạt lúa đã vào độ chín, hạt vàng, chắc nịch, to và căng tròn như những hạt chanh non. Ánh hoàng hôn dần buông, trời đã về chiều, trên triền đê, mấy chú bò cũng dắt dìu nhau ra về. Tiếng sáo trong veo của những bạn nhỏ mục đồng cất lên nghe thanh bình đến lạ. Xa xa là tiếng nói tiếng cười của các bác nông dân ra thăm ruộng phấn khởi vì một vụ mùa thắng lợi. Cuối cùng thì bao giọt mồ hôi, bao vất vả cũng được đáp xứng đáng. Yêu biết mấy cánh đồng quê hương, thương biết mấy những người nông dân hiền lành, một nắng hai sương bên nương lúa, bờ mương.

    3. Viết đoạn văn tả cánh đồng lúa trong đó có sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa, mẫu số 3:

    Em về quê nội vào một ngày tháng năm êm ả, được ngắm nhìn cánh đồng lúa bình yên và xinh đẹp. Cả cánh đồng mang một màu xanh trù phú, tốt tươi. Những nàng lúa e ấp trong nắng mai như những cô gái tuổi đôi mươi duyên dáng, thẹn thùng. Hương lúa tinh khôi, nhè nhẹ, thoảng đưa dịu dàng trong gió. Những chị bò, anh bê con say sưa thưởng thức bãi cỏ xanh non trên bờ đê. Xa xa, mấy bạn nhỏ cắt cỏ, hái rau, một vài bác nông cần mẫn nhổ những bụi cỏ dại cho lúa dễ dàng phát triển. Trên bầu trời xanh trong, đôi cánh diều bay cao, vài chú chim non theo mẹ đi kiếm mồi. Thanh bình quá, cánh đồng quê hương tôi!

    -Hết-

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu 2. Lập Bảng So Sánh Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa:
  • Dạy Phép So Snhs Cho Hs Lớp 2 Day Bien Phap So Sanh Cho Hoc Sinh Lop 2 Doc
  • Phân Tích So Sánh Hay Trong Đoạn Trích ” Trong Lòng Mẹ” Của Nguyên Hồng
  • Bài Văn Phân Tích Những So Sánh Hay Trong Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ Của
  • 10 Phương Pháp Tập Luyện Giúp Khỏe Mạnh
  • Đoạn Văn Ngắn Có Sử Dụng Phép So Sánh Và Nhân Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu 1 : Đặt 3 Câu Có Sử Dụng Phép Nhân Hóa: A. Đối Với Đồ Vật. B. Đối Với Con Vật C. Đối Với Cây Cối. Câu 2 : Viết Một Đoạn Văn Ngắn Khoảng 100
  • Đoạn Văn Có Sử Dụng Phép Nhân Hóa Để Tả Vườn Cây
  • Cách Viết Tốt Bài Văn Tả Cây Bàng
  • Giúp Học Sinh Nhận Biết, Sử Dụng Hiệu Quả Phép Tu Từ Nhân Hóa
  • Giải Cùng Em Học Tiếng Việt 4 Tập 2 Tuần 19 Câu 4, 5, 6, Vui Học Trang 7, 8
  • Đề bài: Em hãy viết đoạn văn từ 5 đến 7 câu có sử dụng phép so sánh và nhân hóa

    Hướng dẫn làm bài:

    Để viết được đoạn văn ngắn có sử dụng phép so sánh và nhân hóa thì các em phải ghi nhớ so sánh là gì? nhân hóa là gì và đưa nó vào trong câu văn thích hợp.

    – So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa chúng có những nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn.

    Gợi ý với yêu cầu bài: Sử dụng với các từ ngữ: là, như …

    – Nhân hóa là biện pháp tu từ sử dụng những từ ngữ chỉ hoạt động, tính cách, suy nghĩ, tên gọi … vốn chỉ dành cho con người để miêu tả đồ vật, sự vật, con vật, cây cối khiến cho chúng trở nên sinh động, gần gũi, có hồn hơn.

    Gợi ý với yêu cầu bài: Sử dụng với các từ ngữ dùng để gọi người như: ông, bà, anh, chị, … để gọi các đồ vật con vật.

    Một số đoạn văn ngắn có sử dụng phép so sánh và nhân hóa

    Đoạn văn số 1: Đoạn văn tả buổi sáng sớm

    Bầu trời buổi sáng sớm thật là trong lành làm sao. Những cô mây dậy thật sớm, dạo chơi trên những đồi núi cao đằng xa. Các bé sương tinh nghịch đang nhảy nhót trên những chiếc lá non. Ông mặt trời như lòng đỏ trứng gà được đặt trên chiếc mâm màu xanh dương. Còn chị gió thì mải miết rong chơi và nô đùa cùng hoa lá. Từng chú chim đua nhau ca hát để đón chào một ngày mới. Tất cả hài hòa và cùng tạo nên một bức tranh thiên nhiên thật sống động.

    Đoạn văn đã sử dụng biện pháp nhân hóa và so sánh ở:

    – Nhân hóa: cô mây, các bé sương, chị gió, chú chim

    – So sánh: Ông mặt trời như lòng đỏ trứng gà được đặt trên chiếc mâm màu xanh dương.

    Giờ ra chơi, sân trường ồn như vỡ chợ. Vài bạn học sinh nữ tụ tập dưới bóng cây mát rượi của bác bàng, cô phượng; những bạn nam lại ở một bên chơi đá cầu với nhau, trên vai ai nấy đều ướt đẫm ánh nắng; một đám học sinh khác lại ùa đến căn-tin ăn quà vặt;… Cảnh vui tươi, nhộn nhịp đó khó có người học trò nào quên được. Bởi sau mỗi giờ ra chơi lại khiến chúng tôi thấy tinh thần sảng khoái hơn, tràn trề sức lực để học tập tốt hơn.

    Biện pháp nhân hóa và so sánh được sử dụng ở:

    – Nhân hóa: bác bàng, cô phượng.

    – So sánh: Giờ ra chơi, sân trường ồn như vỡ chợ.

    Đoạn văn số 3: Đoạn văn tả cánh đồng quê em sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa

    Cánh đồng quê em rộng mênh mông. Sáng sớm, trên cánh đồng, không gian thật thoáng đãng, mát mẻ. Mãi tít phía xa mới nhìn thấy màu xanh rì của những luỹ tre làng viền quanh cánh đồng. Mọi cảnh vật im lìm như còn chìm thức giấc. Thỉnh thoảng mới nghe thấy tiếng kêu thảng thốt của một chú vạc đi ăn đêm, lạc đàn gọi bạn. Một cơn gió nhẹ thoáng qua đem theo cả mùi lúa mới, cả cánh đồng xào xạc một âm thanh dịu nhẹ. Hương lúa thoang thoảng lan theo trong gió. Những tia nắng đầu tiên phớt nhẹ đây đó trên các thửa ruộng còn chìm trong màn sương bằng bạc làm cả biển lúa xao động tạo thành những làn sóng nhẹ xô đuổi nhau chạy mãi ra xa. Lác đác đã có mấy bác nông dân đi thăm đồng, thỉnh thoảng họ lại cúi xuống xem xét. Có lẽ, năm nay được mùa bội thu.

    Biện pháp nhân hóa và so sánh được sử dụng ở:

    – Nhân hóa: chú vạc

    – So sánh: Mọi cảnh vật im lìm như còn chìm thức giấc.

    Đoạn văn số 4:

    Từng chùm phượng nở rộ đỏ rực trên những chùm cây báo hiệu một mùa hè nữa đã về. Những tiếng ve kêu râm ran trong vòm lá như một dàn hợp xướng vang dội cả đất trời. Ánh nắng mặt trời nhảy nhót như những chú bé tinh nghịch. Mùa hè là khoảng thời gian nóng nực nhưng cây cối lại thi nhau khoe sắc, kết trái thơm ngon. Những cô cậu chim thi nhau bay lượn ríu rít gọi bạn. Mùa hè năm nay thật chẳng giống mọi năm, sau khoảng thời gian dài nghỉ học vì dịch bệnh sẽ là thời gian học hành căng thẳng để bắt kịp chương trình học, chuẩn bị cho những bài kiểm tra, thi cuối kì. Một mùa hè thật khác sắp đến với cô cậu học trò.

    Đoạn văn đã sử dụng biện pháp nhân hóa và so sánh ở:

    – Nhân hóa: chú bé, cô cậu chim

    – So sánh:

    + Những tiếng ve kêu râm ran trong vòm lá như một dàn hợp xướng vang dội cả đất trời.

    + Ánh nắng mặt trời nhảy nhót như những chú bé tinh nghịch.

    Đoạn văn số 5: Đoạn văn viết về mùa xuân sử dụng phép so sánh và nhân hóa

    Xuân đã về trên mảnh đất thân thương, đất trời chuyển mình, khoác lên người bộ áo mới ấm áp đến kì diệu. Trên trời xanh thoáng đãng, từng đàn én trở về từ phương Nam. Mưa xuân lất phất phủ lên những ngọn cỏ xanh mướt, đọng lại từng giọt nước long lanh trong suốt như những viên pha lê trên lộc non xanh biếc. Xuân sang muôn vàn bông hoa nở rộ, người ta nói mùa xuân là mùa sinh sôi nảy nở. Không chỉ có những tán cây phủ lộc xanh, những chị hoa cũng thi nhau tỏa hương khoe sắc rực rỡ chào đón mùa xuân. Mùa xuân yêu kiều xinh đẹp tựa như nàng tiên ban phát những phép màu cho vạn vật, điểm tô cho sắc màu cuộc sống.

    Biện pháp nhân hóa và so sánh được sử dụng ở:

    – So sánh: Mưa xuân lất phất phủ lên những ngọn cỏ xanh mướt, đọng lại từng giọt nước long lanh trong suốt như những viên pha lê trên lộc non xanh biếc.

    – Nhân hóa: chị hoa.

    Đoạn văn số 6

    Càng ra xa bến cảng, dòng sông càng thanh bình và êm đềm làm sao. Mặt sông uốn lượn như một tấm vải lụa trải dài đến tít tận chân trời, tàu thuyền vắng bóng nên sông cũng ít sóng đi, chỉ nghe soàn soạt vài tiếng sóng vỗ bờ. Mặt trời đã chiếu những tia nắng gay gắt, mặt sông lấp lánh như được dát muôn ngàn viên pha lê. Xa xa là những chiếc thuyền đánh cá, chở hàng buôn bán lặng lẽ, im lìm đậu giữa dòng sông phẳng lặng. Bến cảng đã thưa dần, thấp thoáng đâu đó những ngôi nhà cao tầng trong làn sương mờ ảo. Bên kia, nhà cũng ít lại, từng vườn cây trái xanh um chạy dài ven bờ sông. Chị gió cũng không khỏi phấn khích lùa qua lá cây xào xạc, tràn xuống mặt nước mát rượi. Đứng trước sông nước mênh mông, em thấy lòng mình nhẹ lân lân làm sao!

    – Mặt sông uốn lượn như một tấm vải lụa trải dài đến xa tít chân trời …

    – …, mặt sông lấp lánh như được dát muôn ngàn viên pha lê .

    Nhân hoá :

    – Chị gió.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ôn Tập So Sánh Và Nhân Hóa Lớp 3
  • Viết Đoạn Văn Tả Cánh Đồng Lúa Trong Đó Có Sử Dụng Biện Pháp So Sánh Và Nhân Hóa
  • Viết Một Đoạn Văn Khoảng 5 Đến 7 Dòng Miêu Tả Một Con Vật Mà Em Yêu Thích Có Sử Dụng Biện Pháp Nhân Hóa Và Gạch Chân Biện Pháp Nhân Hóa
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Nhận Biết Và Sử Dụng Hiệu Quả Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa Trong Tiếng Việt Lớp 3
  • Ngữ Văn 6 Bài 22 Hướng Dẫn Tìm Hiểu Bài Nhân Hóa
  • Viết Đoạn Văn Tả Cánh Đồng Lúa Trong Đó Có Sử Dụng Biện Pháp So Sánh Và Nhân Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Ôn Tập So Sánh Và Nhân Hóa Lớp 3
  • Đoạn Văn Ngắn Có Sử Dụng Phép So Sánh Và Nhân Hóa
  • Câu 1 : Đặt 3 Câu Có Sử Dụng Phép Nhân Hóa: A. Đối Với Đồ Vật. B. Đối Với Con Vật C. Đối Với Cây Cối. Câu 2 : Viết Một Đoạn Văn Ngắn Khoảng 100
  • Đoạn Văn Có Sử Dụng Phép Nhân Hóa Để Tả Vườn Cây
  • Cách Viết Tốt Bài Văn Tả Cây Bàng
  • Tài liệu Tiếng Việt lớp 5

    Viết đoạn văn tả cánh đồng lúa trong đó có sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa

    Viết đoạn văn tả cánh đồng lúa trong đó có sử dụng biện pháp so sánh và nhân hóa lớp 5 bao gồm cách viết đoạn văn có sử dụng biện pháp tu từ so sánh và nhân hóa cho các em học sinh tham khảo củng cố kỹ năng làm bài văn miêu tả cảnh. Mời các em học sinh tham khảo chi tiết.

    Bài tham khảo 1 – Văn miêu tả lớp 5 Tả cánh đồng lúa

    Thời gian trôi qua thật nhanh, mới đó mà đã xế chiều rồi. Bầu trời trong xanh cao rộng. Những dải mấy trắng hồng kia như chiếc khăn voan vắt ngan bầu trời. Cánh đồng lúa quê em dưới ánh nắng chiều hè, màu vàng ươm. Chị Gió chốc chốc lại thổi qua những đợt gió mạnh, làm cho những cây lúa nghiêng nghiêng cong cong như lưỡi liềm. Những chú chim hót líu lo, kết hợp với dàn đồng ca mùa hạ những chú ve sầu kêu vang khắp xóm làng, có lẽ ban nhạc này muốn cho tất cả mọi người cảm thấy thoải mái hơn sau những giờ làm việc mệt mỏi. Tiếng sáo diều vi vu, lẫn thêm tiếng hò reo vang động cả một góc trời. cánh đồng to như một thảm lụa khổng lồ. Sóng lúa gợn lăn tăn nô đù vs gió. Hương lúa chín dìu dịu, thoang thoảng, lẫn với mùi bùn đất ngai ngái, mùi cỏ khô nồng nồng. Thời gian dần trôi qua, rồi ngày hè hôm nay đã kết thúc. Cánh đồng cuối cùng thì cũng đã chìm vào màn đêm yên tĩnh. Ôi! Buổi chiều trên cánh đồng quê e thật tuyệt vời, tĩnh lặng, và đẹp đẽ!

    Nhân Hóa: Chị gió (in đậm)

    So sánh: làm cho những cây lúa nghiêng nghiêng cong cong như lưỡi liềm.( so sánh với từ “như”) (in đậm + gạch chân)

    Bài tham khảo 2 – Đoạn văn tả cánh đồng lúa

    Sáng nào em cũng đi trên con đường quen thuộc tới trường. Hai bên đường có nhiều cảnh đẹp, nhưng em thích nhất là cánh đồng lúa quê em vào buổi sáng. Cánh đồng lúa rộng bao la. Cánh đồng lúa chín ngả màu vàng óng. Sáng sớm, ở trên cánh đồng, không gian mát mẻ, yên tĩnh. Mùi của hương cỏ hoa, đồng nội, mùi hương lúa ngào ngạt tỏa ra khắp đồng. Một vài giọt sương còn trên kẽ lá rồi tăng dần theo hơi ấm của Mặt Trời. Nắng đã lên cao nhảy nhót, cánh đồng giờ ánh lên màu xanh phá màu vàng tươi sáng. Xa xa, đàn cò trắng bay rập rờn làm tăng vẻ đẹp của đồng. Xa xa, những đàn cò kêu eng éc, bay lên trời rồi lại đậu xuống, cứ dập dình dập dình như những chiếc bập bênh. Em rất yêu cánh đồng quê hương, nó không chỉ là chỗ để nhân dân tăng gia sản xuất mà nó còn là cánh đồng lúa xanh mướt, là cánh đồng tuổi thơ, cánh đồng kỉ niệm của cá nhân em cũng như của những người sinh ra trên quê hương cánh đồng lúa. Càng ngày em càng nhận thấy vẻ đẹp của nó và em biết nó đã chiếm một phần nào đó trong tái tim em.

    Nắng đã lên cao nhảy nhót: nhân hóa

    Như những chiếc bập bênh: so sánh

    Bài tham khảo 3 – Tả cánh đồng lúa sử dụng biện pháp nhân hóa, so sánh

    Buổi sáng sớm ở quê đẹp biết bao, nhưng đẹp hơn hẳn đó là được ngắm nhìn cánh đồng lúa chín vào buổi sáng sớm như vậy. Bầu trời trong xanh, những đám mây trắng, hồng bay lơ lửng trên cao như những cây kẹo bông gòn. Trên đường đi dạo nhìn lại phía cánh đồng mới thật là đẹp, cánh đồng lú rộng bao la, vàng ươm. Sáng sớm, trên cánh đồng không khí mát mẻ, yên tĩnh, cảm giác thật là yên bình. Những cây lúa vàng óng đung đưa trong gió như đang vui đùa. Những cây lúa rì rầm chuyện trò, nô đùa trông thật vui. Trên cành cây gần đó, Những chú chim hot líu lo nghe thật vui tai. Chị gió, chị mây nô đùa làm cho không khí càng thêm dịu. Cánh đồng lúa buổi sáng sớm mới đẹp làm sao! Không khí ở quê buổi sáng hòa trộn lại với cánh đồng lúa trông thật đẹp và yên bình. Em rất thích ngắm cảnh cánh đồng lúa vào buổi sáng.

    – So sánh: (bôi đen + gạch chân)

    – Nhân hóa: (bôi đen + in nghiêng)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viết Một Đoạn Văn Khoảng 5 Đến 7 Dòng Miêu Tả Một Con Vật Mà Em Yêu Thích Có Sử Dụng Biện Pháp Nhân Hóa Và Gạch Chân Biện Pháp Nhân Hóa
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Nhận Biết Và Sử Dụng Hiệu Quả Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa Trong Tiếng Việt Lớp 3
  • Ngữ Văn 6 Bài 22 Hướng Dẫn Tìm Hiểu Bài Nhân Hóa
  • Em Hãy Tả Lại Cái Trống Của Trường Em Và Cho Biết Cảm Xúc Của Em Khi Nghe Tiếng Trống Trường
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nhân Hóa Trong Các Bài Thơ Viết Cho Thiếu Nhi Ở Chương Trình Tiếng Việt Lớp 3
  • Nghị Luân Về Việc Ca Dao Thường Sử Dụng Biện Pháp So Sánh Ẩn Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Ôn Tập Đợt Nghỉ Dịch Bd So Sanh 2 Pptx
  • Cấu Trúc “nhịp Cầu” Trong Tình Ca Ban Mai Của Chế Lan Viên
  • Cấu Trúc “nhịp Cầu” Trong “tình Ca Ban Mai” Của Chế Lan Viên
  • Cấu Trúc “nhịp Cầu” Trong “tình Ca Ban Mai” Của Chếlanviên
  • Ngữ Văn 6 Bài 19 Hướng Dẫn Và Luyện Tập So Sánh
  • Đề: Ca dao thường dùng biện pháp so sánh, ẩn dụ. Hãy tìm hiểu từ 3 đến 5 bài ca dao dùng so sánh, ẩn dụ để thấy tác dụng của nó.

    Nếu như chất liệu của âm nhạc là âm thanh, giai điệu; của hội họa là đường nét, màu sắc… thì văn học lấy ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng. Ngôn ngữ văn học không giống với các bộ môn khoa học khác, cũng không phải là ngôn ngữ giao tiêp trong đời sống hàng ngày, mà đó là thứ ngôn ngữ đã được cảm XUC thăng hoa thông qua rất nhiều biện pháp nghệ thuật. Trong đó, so sánh và ẩn dụ là hai biện pháp rất hay đươc sử dụng trong các tác phẩm văn học. Đặc biệt, khi đến với ca dao, ta băt gặp mọt loạt các hình ảnh so sánh và ẩn dụ rất phong phú, đạt hiệu quả nghệ thuật cao, trở thành dấu ấn riêng của ca dao.

    “Ca cao là một trong những dòng chính của thơ ca trữ tình” (Hê-ghen). Qua ca dao xưa, quần chúng nhân dân rất hay dùng so sánh ví von để phô diễn ý tình. Chất liệu so sánh, ẩn dụ không lấy ở đâu xa, mà chính là cảnh vạt thiên nhiên làng quê quen thuộc, gần gũi với lao động, sinh hoạt. Từ sân đình, cây đa, giếng nước, con thuyền, bến đò cho đến những mieng cau khô, tấm lụa đào… đeu có thể trở thành vật chở bao nỗi niềm tâm tư tình cảm của người bình dân. Đôi khi “cái đẹp nằm ngay^ trong sự giản dị”. Những hình ảnh so sánh, ẩn dụ rất giàu sức gợi cảm, gần gũi, ý tình trở nên bóng bẩy, ý nhị, kín đáo.

    Người bình dân thường dùng hình ảnh những con vật bé nhỏ như con cò, cái kiến… khi nói về thân phận mình. Có khá nhiều những câu, bài ca dao Việt Nam nói đến con cò và mượn con cò để xây dựng nên những hình tượng nghệ thuật độc đáo, sắc nét, giàu sức gợi, giàu ý nghĩa nhân sinh như bài ca dao:

    Con cò mà đi ăn đêm,

    Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

    Ông ơi! Ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo mãng

    Có xáo thì xáo nước trong Đừng xáo nước đục đau lòng cò con

    Sự rủi ro, không may, tai nạn bất ngờ xảy ra trong đời sống của con người cũng như của loài vật là điều không thể tránh khỏi. Nhưng sự rủi ro của con cò trong bài ca dao lại rất đặc biệt. Bởi “ăn đêm” trái với sinh hoạt bình thường, tự nhiên của loài cò. Phải chăng cuộc sống của loài cò khốn khó đến nôi ban ngày kiếm ăn không được mà phải mò cả ban đêm, điều này được ví như cuộc sống những người nông dân trong xã hội phong kiến? Và sự rủi ro ấy cũng chính là cái nền, cái cớ để tác giả thể hiện tinh tế những điều muốn nói bằng ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật:

    Ông ơi! Ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

    Tiếng kêu lạc lõng, đứt đoạn của con cò thật đáng thương. Con cò là ẩn dụ tượng trưng cho thân phận người nông dân xưa dù cuộc sống khó khăn, bế tắc nhưng họ chưa bao gíờ hết niềm tin vào cuộc sống, vẫn rất ham sống. Và đặc biệt, họ dám nhìn thẳng vào thực tế, dám đón nhận cái chết và bày tỏ thái độ dứt khoát của mình: “Có xảo thì xảo nước trong”. Đó là thái độ “chết trong còn hơn sống đục”, luôn giữ được phẩm chất thanh cao, trong sáng của mình trong bất cứ hoàn cảnh nào. Hình ảnh ẩn dụ “con cò” có giá trị khái quát hiện thực cao, đồng thời thể hiện được giá trị nhân sinh sâu sắc, để lại bài học quý giá về lẽ sống ở đời.

    Người phụ nữ cũng vậy. Họ phải chịu những luật lệ hà khắc trói buộc quyền sống của họ. Đến với những bài ca dao về người phụ nữ, ta bắt gặp một loạt các. câu hát than thân mở đầu bằng “thân em” với rất nhiều hình ảnh so sánh khác nhau:

    – Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?

    – Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân

    – Thân em như miếng cau khô

    Kể thanh tham mỏng, người thô tham dày.

    Chỉ hai chữ “thân em” thôi nhưng cũng đủ khiến người đọc không khỏi xót xa, thương cảm cho cuộc đời họ, đồng thời thây được hiện thực xã hội bấy giờ. Sau này, “bà chúa thơ Nôm” – Hồ Xuân Hương’ đã vận dụng trong một bài thơ rất nổi tiếng của mình – Bánh trôi nước:

    Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non

    Chỉ có điều, nếu như Hồ Xuân Hương tả theo lối vịnh vật, tả chiếc bánh trôi từ màu sắc, hình dáng đến cách làm bánh cốt để chuyển nghĩa nói về người phụ nữ thì ca dao lại dùng những hình ảnh so sánh rất riêng, phong phú, sinh động:

    – Thân em như tấm lụa đào

    – Thân em như giếng giữa đàng

    – Thân em như miếng cau khô

    “Tấm lụa đào” rất quý giá, đẹp đẽ. Nhưng đây không phải tấm lụa đào được nâng niu cất giữ mà đang treo “phất phơ giữa chợ” cũng như người con gái bị đem ra bán giữa chợ đời, không được làm chủ cuộc đời mình. Và “giếng” nưóc mới trong trẻo, mát lành làm sao, mà lại ở ngay giữa đàng – nơi bao người lại qua, bị sử dụng tùy tiện: rửa mặt, rửa chân. Còn cả “miếng cau khô” kết với trầu làm thom miệng, hồng má mọi người, không thể thiếu được trong các cuộc vui “miếng trầu là đầu câu chuyện”, cũng bị cắt xẻ tùy vào khẩu vị người ăn. Giá trị của tấm lụa, giếng nước, miếng cau kia không được đánh giá qua bản thân chúng mà bị phụ thuộc vào người dùng…

    Đó là sự tự ý thức về chân giá trị của mình: một vẻ đẹp xinh xắn trẻ trung như tấm lụa đào, một vẻ đẹp dân dã, giản dị nhưng rất cần thiết và không thể thay thế được của mình với cuộc đời như giếng giữa đàng, như miếng cau khô kia.. Nhưng cuối cùng không phải tất cả đều có được cuộc sống hạnh phúc mà rất nhiều trong số những người phụ nữ xưa bị bạc đãi, thậm chí bị chà đạp phũ phàng. Những câu ca dao với những hình ảnh so sánh có giá trị nghệ thuật cao như vậy là tiếng hát thấm nhuần tư tưởng nhân đạo và cũng là một hình thức đấu tranh đòi khôi phục vị trí xứng đáng của người phụ nữ.

    Có thể nói đây là những hình ảnh so sánh hay nhất, giàu ý nghĩa xã hội nhất và cũng giàu chất ca dao nhất. Đọc qua hoặc nghe qua thì thấy chúng có bề ngoài giống nhau: đều mở đầu bằng “thân em”, nhưng nếu ta tập trung lắng nghe và cảm nhận sẽ thấy được vẻ đẹp riêng của mỗi bài. Thiếu đi cái riêng dù là rất ít rất nhỏ này thì mỗi bài ca dao sẽ không có và không thể có “cái duyên” và cũng không còn lí do để tồn tại. “Cái duyên” ấy chính bởi khả năng dùng hình ảnh so sánh, phong phú, linh hoạt của tác giả dân gian.

    Yêu thương và căm giận, đó là hai trạng thái tình cảm luôn đi cùng nhau trong mỗi con người, “thơ sinh ra từ nụ cười trong sáng hay những giọt nước mắt đắng cay” (Gam-da-tốp). Sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc tới những câu ca dao tràn đầy tình yêu thương. Chiếm một số lượng lớn trong kho tàng ca dao là những câu hát về tình yêu nam nữ. Và có lẽ những hình ảnh so sánh, ẩn dụ đẹp nhất đều được dành để viết tặng cảm xúc thi vị này. Ta bắt gặp trong ca dao rất nhiều cặp hình ảnh ẩn dụ: khách bộ hành – cây đa, còn đò – bến cũ… rất gần gũi với cuộc sống làng quê, trong đó thuyền – bến là cặp hình ảnh phổ biến, rộng rãi nhất:

    Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

    Thuyền – bến là hình ảnh tượng trưng cho tình cảm đôi lứa. Thuyền là ẩn dụ chỉ người con trai nay đây mai đó để cho bến – ẩn dụ chỉ người con gái chờ đợi mỏi mòn. Câu ca dao cất lên đã thể hiện nỗi nhớ mong, hi vọng và cả sự chung thủy sâu sắc của người con gái. Đó cũng chính là vẻ đẹp tâm hồn của người bình dân ta xưa, sống giàu tình mà cũng rất nặng nghĩa.

    Thật khó có thể kể hết được vẻ đẹp của những hình ảnh so sánh và ẩn dụ trong ca dao. Song dẫu có phong phú đến đâu, tất cả những hình ảnh ấy đều xuất phát từ tâm hồn người bình dân – từ những gì rất gần gũi, gắn bó với cuộc sống thôn quê và phản ánh tâm tư, tình cảm của họ. Nó không những góp phần lớn vào việc thể hiện nội dung tư tưởng mà còn chứng tỏ tài năng nghệ thuật của những người lao động chân lấm tay bùn. Không ít các nhà thơ sau này đã học được những so sánh, ẩn dụ ấy trong thơ mình. Ta bắt gặp “lặn lội thân cò khi quãng vắng” trong thơ Tú Xương, lối mở đầu bằng “thân em” trong hồ Hồ Xuân Hương… Đúng như Hoài Thanh từng nhận định: “Lời thơ dân gian không những bước đầu cho ta quen với tâm tư, tình cảm đồng bào ta xưa mà còn giúp ta học được những cách nói tài tình chính xác”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Các Kiểu So Sánh Và Lấy Ví Dụ
  • Biện Pháp So Sánh: Lý Thuyết Và Một Vài Ví Dụ
  • Phân Tích Bài Thơ Thuật Hoài Của Phạm Ngũ Lão Để Làm Sáng Tỏ Hào Khí
  • Soạn Bài Vội Vàng Sbt Ngữ Văn Lớp 11 Tập 2
  • Phân Tích Bài Thơ Hịch Tướng Sĩ Của Trần Quốc Tuấn
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 3 Nhận Biết Và Sử Dụng Tốt Hình Ảnh So Sánh Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Thế Nào Tăng Độ Đạm Sinh Học Trong Đất ?
  • Thuốc Trừ Sâu Sinh Học Là Gì? Đánh Giá Ưu Nhược Điểm Trong Sử Dụng
  • Biện Pháp Phòng Trừ Nhện Gié Hại Lúa
  • Phòng Trừ Nhện Gié Hại Lúa
  • Nhện Gié Hại Lúa 1
  • PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ I.Lý do chọn đề tài: XuÊt ph¸t tõ yªu cÇu ®æi míi cña ®Êt n­íc, trong nh÷ng n¨m qua §¶ng, Nhµ n­íc ta ®· ®Æc biÖt quan t©m ®Õn ph¸t triÓn gi¸o dôc. Mét trong nh÷ng nhiÖm vô c¬ b¶n cña gi¸o dôc ®µo t¹o hiÖn nay lµ: h×nh thµnh vµ ph¸t triÓn nh©n c¸ch cho häc sinh mét c¸ch toµn diÖn theo môc tiªu ph¸t triÓn nguån nh©n lùc phôc vô c«ng nghiÖp hãa - hiÖn ®¹i hãa ®Êt n­íc. V¨n häc lµ mét lo¹i h×nh nghÖ thuËt lÊy ng«n tõ lµm ph­¬ng tiÖn thÓ hiÖn. Cã kh¶ n¨ng t¸c ®éng ®Õn ®êi sèng t©m hån cña con ng­êi. Trong ®ã biÖn ph¸p so s¸nh gãp mét phÇn kh«ng nhá lµm nªn ®iÒu nµy. So s¸nh cã kh¶ n¨ng kh¾c häc h×nh ¶nh vµ g©y Ên t­îng m¹nh mÏ lµm nªn mét h×nh thøc miªu t¶ sinh ®éng, mÆt kh¸c so s¸nh cßn cã t¸c dông lµm cho lêi nãi râ rµng, cô thÓ sinh ®éng, diÔn ®¹t ®­îc mäi s¾c th¸i biÓu c¶m. So s¸nh tu tõ cßn lµ ph­¬ng thøc béc lé t©m t­ t×nh c¶m mét c¸ch kÝn ®¸o vµ tÕ nhÞ. Nh­ vËy ®èi víi t¸c phÈm v¨n häc nãi chung so s¸nh mang chøc n¨ng nhËn thøc vµ biÓu c¶m. Nhê nh÷ng h×nh ¶nh bãng b¶y, ­íc lÖ, dïng c¸i nµy ®Ó ®èi chiÕu c¸i kia nh»m diÔn t¶ nh÷ng ngô ý nghÖ thuËt mµ so s¸nh tu tõ ®­îc sö dông phæ biÕn trong th¬ ca, ®Æc biÖt lµ th¬ viÕt cho thiÕu nhi. So s¸nh tu tõ gióp c¸c em hiÓu vµ c¶m nhËn ®­îc nh÷ng bµi th¬, bµi v¨n hay, tõ ®ã gãp phÇn më mang tri thøc lµm phong phó vÒ t©m hån, t¹o høng thó khi viÕt v¨n, rÌn luyÖn ý thøc, yªu quý TiÕng ViÖt gi÷ g×n sù trong s¸ng cña TiÕng ViÖt cho häc sinh. Trước sự phát triển của nền giáo dục hiện nay, trước công cuộc đổi mới. Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển của nền giáo dục nước nhà với khẩu hiệu “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Việc nâng cao chất lượng dạy học là yêu cầu cấp bách của toàn xã hội. Muốn có một xã hội phát triển bắt buộc xã hội đó phải có nền giáo dục phát triển toàn diện. Ngày nay Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và ưu tiên cho sự nghiệp giáo dục. Do đó mỗi giáo viên cần phải tự tìm tòi, học hỏi, đúc rút kinh nghiệm giảng dạy như: học qua sách báo, bạn bè đồng nghiệp, tham gia lớp đại học từ xa để nâng cao tay nghề, tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp với từng môn học, từng đối tượng học sinh, đó chính là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục. Mặt khác, so sánh có khả năng khắc họa hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ làm nên một hình thức miêu tả sinh động, mặt khác so sánh còn có tác dụng làm cho lời nói rõ ràng, cụ thể, sinh động, diễn đạt được mọi sắc thái biểu cảm. Như vậy đối với tác phẩm văn học nói chung, so sánh mang chức năng nhận thức và biểu cảm. Nhờ những hình ảnh bóng bẩy, ước lệ, dùng cái này để đối chiếu cái kia nhằm diễn tả những ngụ ý nghệ thuật mà so sánh được sử dụng phổ biến trong thơ ca, đặc biệt là thơ viết cho thiếu nhi. Biện pháp so sánh giúp các em hiểu được sự giống nhau giữa các sự vật của thiên nhiên và cuộc sống, từ đó các em hiểu và cảm nhận được những bài thơ, bài văn hay, góp phần mở mang tri thức làm phong phú về tâm hồn, tạo hứng thú khi viết văn, rèn luyện ý thức, yêu quý Tiếng Việt giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt . Biện pháp so sánh đã chính thức được đưa vào phân môn luyện từ và câu lớp 3. Điều đó khẳng định vai trò trách nhiệm của mỗi giáo viên trong việc hình thành cho học sinh kĩ năng nhận biết và sử dụng. Nhưng trong nhiều năm trực tiếp giảng dạy lớp 3 tôi thấy phân môn này hơi trừu tượng đối với các em, nên các em chưa thực sự hứng thú trong giờ học, phần lớn các em học rất yếu nhất là phần nhận biết về các tu từ so sánh . Các em chưa xác định được đâu là từ chỉ sự so sánh, đâu là hình ảnh so sánh. Vì vậy tôi luôn băn khoan, trăn trở làm thế nào để khắc phục được tình trạng này để các em hứng thú say mê trong giờ học và nắm vững được biện pháp so sánh để áp dụng trong cuộc sống và áp dụng vào trong mỗi bài văn để bài văn sinh động, hấp dẫn. Chính vì vậy mà tôi đã chọn đề tài: “ Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 nhận biết và sử dụng tốt hình ảnh so sánh trong phân môn luyện từ và câu" Xuất phát từ những yêu cầu trên nên tôi đã tự tìm hiểu về: II. Mục đích nghiên cứu Góp phần giúp học sinh phát triển kĩ năng giao tiếp, biết phân biệt, biết cách sử dụng hình ảnh so sánh, tạo điều kiện để học sinh phát triển một cách toàn diện đồng thời giúp giáo viên có được các phương pháp rèn luyện học sinh về kỹ năng sử dụng hình ảnh so sánh. III.Đối tượng nghiên cứu Học sinh lớp 3 tiểu học nói chung , học sinh lớp 3A tôi đang trực tiếp giảng dạy và học sinh lớp 3 đối với các trường dạy theo chương trình 30 tiết / tuần nói riêng. IV.Phạm vi nghiên cứu Năm học 2010 – 2012 và năm học 2011-2012. V.Phương pháp nghiên cứu +Phương pháp nghiên cứu tài liệu: +Phương pháp đàm thoại: bằng“hoạt động lời nói” giáo viên đưa ra một hệ thống câu yêu cầu học sinh trả lời. +Phương pháp trực quan: Tranh, ảnh, mô hình, vật thật +Phương pháp điều tra, đối chứng và tổng quát: Ở đây phương pháp điều tra không chỉ dừng lại ở điều tra thực trạng mà phải điều tra từng giai đoạn trong suốt năm học. Ở mỗi giai đoạn tôi đều lấy kết quả đã đạt được để đối chứng với kết quả giai đoạn trước, và cuối cùng đi tổng hợp số liệu và rút ra bài học kinh nghiệm. PHẦN II: NỘI DUNG I. C¬ së lý luËn d¹y häc: M«n TiÕng ViÖt lµ mét trong nh÷ng bé m«n c¬ b¶n cña nhµ tr­êng phæ th«ng nªn ph¶i thùc hiÖn theo nguyªn t¾c gi¸o dôc häc. Bëi vËy nguyªn t¾c d¹y häc TiÕng ViÖt ph¶i cô thÓ hãa môc tiªu vµ c¸c nguyªn t¾c d¹y häc nãi chung vµo bé m«n cña m×nh. Nh­ vËy môc tiªu cña viÖc d¹y vµ häc TiÕng ViÖt n»m trong môc tiªu chung cña gi¸o dôc n­íc ta trong giai ®o¹n míi hiÖn nay: N©ng cao d©n trÝ, ®µo t¹o nh©n lùc, båi d­ìng nh©n tµi, nh»m h×nh thµnh ®éi ngò lao ®éng cã tri thøc, cã tay nghÒ, cã n¨ng lùc thùc hµnh, tù chñ, n¨ng ®éng s¸ng t¹o. II. C¬ së thùc tiÕn: Ch­¬ng tr×nh d¹y häc chØ quy ®Þnh ph¹m vi d¹y häc cña c¸c m«n. Cßn nhiÖm vô cña SGK lµ tr×nh bµy néi dung cña bé m«n mét c¸ch râ rµng, cô thÓ vµ chi tiÕt theo cÊu tróc cña nã. SGK cã chøc n¨ng lµ lÜnh héi cñng cè nh÷ng tri thøc tiÕp thu ®­îc trªn líp, ph¸t triÓn nh©n lùc trÝ tuÖ vµ cã t¸c dông gi¸o dôc häc sinh. SGK còng gióp gi¸o viªn x¸c ®Þnh néi dung vµ lùa chän ph­¬ng ph¸p, ph­¬ng tiÖn d¹y häc, tæ chøc tèt c«ng t¸c d¹y häc cña m×nh. III. Thực trạng: 1.Về sách giáo khoa: 2.Về phía giáo viên: Người giáo viên còn gặp khó khăn về cơ sở vật chất, phương tiện dạy học và tài liệu tham khảo còn ít. Một số bộ phận nhỏ giáo viên vẫn chưa chú trọng quan tâm đến việc lồng ghép trong quá trình dạy học giữa các phân môn của môn Tiếng Việt với nhau, để khơi dậy sự hứng thú học tập và sự tò mò của phân môn này với phân môn khác trong môn Tiếng Việt. 3. Về phía học sinh: Do khả năng tư duy của học sinh còn dừng lại ở mức độ tư duy đơn giản, trực quan nên việc cảm thụ nghệ thuật tu từ so sánh còn hạn chế. Vốn kiến thức văn học của học sinh, nhất là học sinh vùng nông thôn chúng tôi còn rất hạn chế. Vì đa số các em đều là con gia đình làm nông và buôn bán nhỏ. Một số em chưa có khả năng nhận biết về nghệ thuật, học sinh chỉ mới biết các sự vật một cách cụ thể. Nên khi tiếp thu về nghệ thuật so sánh tu từ rất khó khăn. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên cần hướng dẫn một cách tỷ mỷ thực tế. 4.Về phía phụ huynh Chưa thật sự quan tâm đến việc học tập của con em mình. Không thường xuyên kiểm tra đôn đốc và kèm cặp con em học ở nhà, có tư tưởng khoán trắng cho giáo viên, nhà trường. Qua khảo sát chất lượng về kỹ năng nhận biết biện pháp so sánh của học sinh lớp 3A năm học 2011 - 2012 tôi đã thu được kết quả như sau: Tổng số HS Số học sinh đạt yêu cầu về nhận biết bienj pháp so sánh Số học sinh chưa có kỹ năng nhận biết biện pháp so sánh Số học sinh không nhận biết biết biện so sánh 29 10 = 34,5 8 = 27,6 11 = 37,9 IV. Nội dung chương trình: Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu đề tài, tôi thống kê phân tích các hướng nghiên cứu biện pháp so sánh trong phân môn: "Luyện từ và câu" của chương trình SGK lớp 3 để phục vụ cho việc giảng dạy. Kiến thức lý thuyết về so sánh được đưa vào giảng dạy trong chương trình lớp 3 ở phân môn: "Luyện từ và câu". Toàn bộ chương trình Tiếng Việt 3 - Tập I đã dạy về so sánh gồm 8 bài ở các tuần: Tuần 1,3,5,7, 10,12,15 và tuần ôn tập 18. V. Những biện pháp cụ thể: ./ Dạy đúng quy trình : Để học sinh học tốt dạng bài so sánh . Bất cứ một bài tập nào, GV cũng cần làm theo các yêu cầu sau: Yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài, xác định đúng yêu cầu của bài, học sinh làm bài và phải lí giải được đáp án của mình , giáo viên chốt lại giải thích cho học sinh rõ vì sao có đáp án đó . * Ví dụ : Bài tập 2 (Trang 8): Tìm sự vật được so sánh trong khổ thơ sau: Ơ cái dấu hỏi Trông ngộ ngộ nghê Như vành tai nhỏ Hỏi rồi lắng nghe -Giáo viên yêu cầu HS đọc yêu cầu của đề. -Giải thích cho học sinh hiểu từ ngữ chỉ sự vật. Cho HS nêu một vài ví dụ về sự vật ở xung quanh. -HS gạch chân bằng bút chì từ chỉ sự vật được so sánh với nhau vào SGK - Học sinh trình bày ( Giáo viên yêu cầu học sinh giải thích lí do lại sao em chọn từ đó ) - Giáo viên đưa ra đáp án : Sự vật so sánh Từ so sánh Sự vật so sánh Cái dấu hỏi như vành tai nhỏ + Giáo viên có thể vẽ lên bảng hoặc giải thích cho học sinh hiểu Dấu hỏi cong cong, nở rộng ở hai phía trên rồi nhỏ dần chẳng khác gì vành tai. (Giáo viên có thể cho học sinh nhìn vào vành tai bạn). * Chú ý : Phương pháp này có hiệu quả nhất là sử dụng khi tìm hiểu bài . 2. Dạy biện pháp so sánh tích hợp vào các môn học: 1) Tích hợp trong môn Tiếng Việt : Khi dạy các phân môn thuộc bộ môn Tiếng Việt , giáo viên cần lồng ghép giữa các phân môn trong môn Tiếng Việt với nhau. Ví dụ 1: Khi dạy bài Tập đọc: "Hai bàn tay em" SGK Tiếng Việt 3 tập I (Trang 7). Trong bài này có rất nhiều hình ảnh so sánh giáo viên cần nhấn mạnh để gây hứng thú cho tiết tiếp theo của phân môn: "Luyện từ và câu". Giáo viên có thể cho học sinh tìm các câu thơ có sử hình ảnh so sánh . Ví dụ 2 : Khi dạy bài Tập đọc “ Cửa Tùng ”, để giải thích từ ngữ (chiếc thau Đồng , chiếc lược đồi mồi ) GV có thể cho học sinh tìm câu văn có sử dụng biện pháp so sánh . Học sinh sẽ dễ dàng tìm ra câu : - Mặt trời như chiếc thau đồng đỏ ối chiếu xuống mặt biển . - Người xưa đã ví bờ biển Cửa Tùng giống như một chiếc lược đồi mồi cài vào mái tóc bạch kim của sóng biển. Với những câu văn hay như thế, học sinh đã tìm được thì sẽ nhớ rất lâu và sẽ áp dụng tốt trong việc viết văn của nình . 2) Tích hợp Biện pháp tu từ so sánh qua các môn học khác : a) Dạy Tự nhiên xã hội : Khi dạy bài “ Các thế hệ trong gia đình’’ Giáo viên có thể cho học sinh tìm những câu tục ngữ, ca dao, thành ngữ nói về tình cảm của những ngưòi thân trong gia đình . Học sinh đại trà tìm tự do . Học sinh giỏi , giáo viên có thể yêu cầu cao hơn( có sử dụng biện pháp so sánh ) -Anh em như thể chân tay -Con hơn cha là nhà có phúc -Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra 3./ Dạy theo mô hình : Bài tập về so sánh lớp 3 được chia làm 2 dạng: -Dạng 1: Bài tập theo mẫu(Bài tập nhận biết ). Trọng tâm -Dạng 2: Bài tập sáng tạo ( Bài tập vận dụng ) 1. Dạng 1 : Giúp học sinh nhận biết các từ chỉ sự vật so sánh . Dạng bài tập này rất đơn giản. Chủ yếu là nhận biết các sự vật so sánh thông các bài tập . Dạng này chiếm đa số trong chương trình . * Mô hình 1: So sánh : Sự vật – Sự vật * Mô hình 2: So sánh : Sự vật - Con người * Mô hình 3: So sánh : Hoạt động – hoạt động * Mô hình 4: So sánh : Âm thanh – Âm thanh Muốn học sinh của mình có một kĩ năng nhận biết hình ảnh so sánh vững vàng đòi hỏi người giáo viên phải có nghệ thuật khi hướng dẫn bài mới . Dựa vào các mô hình như ta vừa phân tích . 1.1 Mô hình 1: So sánh Sự vật - Sự vật: Mô hình này cách nhận dạng rất dễ vì trong câu thường xuất hiện các từ so sánh (như, là , giống , tựa, chẳng bằng ...) Mô hình này có các dạng sau: A như B ; A là B ; A chẳng bằng B a) Tìm hiểu dạng A như B Dạng này đã xuất hiện ở các bài tập đầu tiên của chương trình và xuyên suốt đến cuối chương. "Hai bàn tay em Như hoa đầu cành" (Huy Cận) "Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch" (Vũ Tú Nam) "Cánh diều như dấu á Ai vừa tung lên trời" (Phạm Như Hà) Để làm tốt bài tập này thì học sinh phải xác định được những từ chỉ sự vật ở từng câu văn, từ đó các em sẽ nhận diện được biện pháp so sánh . Có 2 phương án Phương án 1: Cho HS làm bài cá nhân: “Gạch chân các từ chỉ sự vật so sánh trong các câu trên bằng bút chì vào SGK.” Học sinh trình bày : + "Hai bàn tay em" so sánh với "hoa đầu cành" + "Mặt biển" so sánh với "tấm thảm khổng lồ". + "Cánh diều" so sánh với "dấu á" + "Dấu hỏi" so sánh với "vành tai nhỏ". Nếu giáo viên hỏi ngược lại là vì sao "Hai bàn tay em" được so sánh với "Hoa đầu cành" hay vì sao nói "Mặt biển" như "tấm thảm khổng lồ"? Lúc đó giáo viên phải hướng học sinh tìm xem các sự vật so sánh này đều có điểm nào giống nhau, chẳng hạn: Sự vật: Hai bàn tay của bé /bông hoa. Giống nhau nhỏ xinh Sự vật: Mặt biển / tấm thảm . Giống nhau đều phẳng, êm và đẹp. Sự vật: Cánh diều /dấu á. Giống nhau có hình cong cong, võng xuống (Giáo viên đưa hình ảnh "Cánh diều" và "Dấu á” cho học sinh quan sát) b)Tìm hiểu dạng A là B: Dạng này học sinh rất dễ nhầm lẫn giữa câu so sánh với câu giới thiệu . Bởi lẽ, cả 2 kiểu câu này đều có từ “ là ” Ví dụ :(Bài 1c, d trang 24,25): Tìm các hình ảnh so sánh trong câu : c/ Mùa đông Trời là cái tủ ướp lạnh Mùa hè Trời là cái bếp lò nung Trong trường hợp này, cần phải cho học sinh xác định từ chỉ sự vật trong câu thơ : ( trời mùa đông – tủ ướp lạnh ), ( trời mùa hè – bếp lò nung) và HD học sinh tìm sự giống nhau, sự tương đồng của các sự vật được so sánh . Trời mùa đông lạnh như cái tủ ướp lạnh ( giống nhau đều lạnh) Trời mùa hè nóng như bếp lửa lò nung (giống nhau nóng) d) Những đêm trăng sáng , dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng (giống nhau dài, có màu vàng) Ở trường hợp này từ là ở đây mang tính chất so sánh . Còn trong câu : Mẹ tôi là giáo viên ( từ là ở đây có tác dụng giới thiệu. Trong trường hợp này học sinh phải hiểu nghĩa của từ và của câu ) 1.2 Mô hình 2: So sánh: Sự vật - Con người. Dạng cuả mô hình so sánh này giáo viên cần lưu ý học sinh phân biệt được hai loại so sánh : So sánh ngang bằng và so sánh hơn kém a) Dạng A như B: + A có thể là con người. + B là sự vật đưa ra làm chuẩn để so sánh. "Trẻ em như búp trên cành Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan" (Hồ Chí Minh) "Bà như quả ngọt chín rồi Càng thêm tuổi tác càng tươi lòng vàng". (Võ Thanh An) Sau khi học sinh trình bày đúng giáo viên sẽ hướng dẫn và giúp học sinh tìm được đặc điểm chung của sự vật và con người, chẳng hạn: "Trẻ em" giống như "búp trên cành". Vì đều là những sự vật còn tươi non đang phát triển đầy sức sống non tơ, chứa chan niềm hy vọng. "Bà" sống đã lâu, tuổi đã cao giống như "quả ngọt chín rồi" đều phát triển đến độ già giặn có giá trị cao, có ích lợi cho cuộc đời, đáng nâng niu và trân trọng. b)Dạng A là B:( kiểu so sánh ngang bằng) Ví dụ : Bài tập 1/ trang 42,43( phương pháp dạy như mô hình 1) "Ông là buổi trời chiều Cháu là ngày rạng sáng" c) Dạng A chẳng bằng B: 🙁 kiểu so sánh hơn kém) Ví dụ: Bài tập 1c/trang 43 : Tìm các hình ảnh so sánh trong câu : Những ngôi sao thức ngoài kia Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con Trần Quốc Minh Dạng bài tập này chỉ cần học sinh thực hiện được hai yêu cầu : - Xác định sự vật so sánh ( ngôi sao - mẹ ) - Xác định từ so sánh ( Chẳng bằng ) và nắm được đây là kiểu so sánh hơn kém. Xác định được hai yêu cầu trên là học sinh đã xác định được hình ảnh so sánh . 1.3: Mô hình 3: So sánh: Hoạt động - Hoạt động. Mô hình này có dạng như sau: + A x B. + A như B. * Ví dụ: Bài tập 2 /trang 98: Trong các đoạn trích sau, những hoạt động nào được so sánh với nhau: + "Con trâu đen lông mượt Cái sừng nó vênh vênh Nó cao lớn lênh khênh Chân đi như đạp đất" (Trần Đăng Khoa) + "Cau cao, cao mãi Tàu vươn giữa trời Như tay ai vẫy Hứng làn mưa rơi" (Ngô Viết Dinh) Dạng bài này giáo viên giúp học sinh nắm chắc được từ chỉ hoạt động, từ đó học sinh sẽ tìm được các hoạt động được so sánh với nhau. Chẳng hạn: + Hoạt động "đi" so sánh với hoạt động "đập đất" qua từ "như". + Hoạt động “ Vươn” của tàu lá dừa giống hoạt động “ vẫy” tay của con người . 1.4: Mô hình 4: So sánh: Âm thanh - Âm thanh: Mô hình này có dạng sau: A như B: + A là âm thanh thứ 1. + B là âm thanh thứ 2. Với dạng bài tập này giáo viên giúp học sinh nhận biết được âm thanh thứ nhất và âm thanh thứ hai được so sánh với nhau qua từ "như". Chẳng hạn: + "Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai" (Nguyễn Trãi) Âm thanh của "Tiếng suối" được so sánh với âm thanh của "Tiếng đàn cầm" qua từ "như". 2. Dạng 2 : Bài tập sáng tạo Dạng bài tập này có tính tư duy, sáng tạo cao hơn.tuy nhiên , dạng bài tập này trong SGK rất ít . Nó tập trung ở cuối chương trình HKI gồm 2 bài tập . 2.1: Nhìn tranh đặt câu Ví dụ: Bài tập 3/SGKtrang126: Quan sát từng cặp tranh rồi viết các câu có hình ảnh so sánh. Với dạng bài tập này giáo viên cần yêu cầu học sinh thự hiện theo các bước sau: * Bước 1: Quan sát tranh * Bước 2: Nêu tên từng cặp sự vật được so sánh với nhau trong tranh. Tranh 1: Mặt trăng và quả bóng Tranh 2: khuôn mặt ( nụ cười) và bông hoa Tranh 3. ngọn đèn và trăng sao Tranh 4. hình dáng nước ta và chữ s *Bước 3: Tìm ra sự giống nhau, sự tương đồng của từng cặp sự vật và đặt câu có hình ảnh so sánh. -Ông trăng tròn như quả bóng. -Mặt bé tươi nhu hoa. - Xa xa những ngọn đèn điện lấp lánh như sao trên trời. -Đất nước ta cong cong hình chữ s. 2.2: Dạng bài tập điền khuyết : Ví dụ : Bài tập 4 / SGKtrang 126: Tìm những từ ngữ thích hợp để điền vào chỗ trống : a)Công cha nghĩa mẹ được so sánh như..., như... b)Trời mưa, đường đất sét trơn như... Ở mỗi câu , giáo viên nên để học sinh xác định sự vật đã cho để cho học sinh có thể tìm nhiều từ cần điền . Ví dụ : a) như núi Thái Sơn, như nước trong nguồn , như sông như biển b) như bôi mỡ, xà phòng, đổ dầu ... Các bài tập mang tính sáng tạo này rất ít nên trong quá trình dạy , nhất là các tiết Tiếng Việt (Tăng cường) Giáo viên nên đưa thêm những bài tập tương tự hai dạng trên để học sinh khắc sâu kiến thức. Ví dụ: trong các tiết tăng cường giáo viên có thể đưa thêm các dạng bài tập như sau để củng cố: Mặt trời mới mọc đỏ ối Mặt biển phẳng lặng rộng mênh mông Con đường tới trường quanh co, uốn khúc. Với dạng bài tập này giáo viên yêu cầu học sinh phải nắm được nội dung của câu cho sẵn rồi liên tưởng, tưởng tượng, tìm hình ảnh so sánh tương đồng, tạo ra câu văn sinh động, gợi cảm. Ví dụ: Mặt trời mới mọc như một chiếc mân đồng đỏ ối. Mặt biển phẳng lặng rộng mênh mông như một tấm thảm khổng lồ. c)Con đường tới trường quanh co, uốn khúc như một con trăn lớn đang trườn về phía trước. Viết một đoạn văn ngắn kể thành thị trong đó có sử dụng ít nhất 2 câu có hình ảnh so sánh. Ngoài các mô hình so sánh trên học sinh còn được làm quen với kiểu so sánh: Ngang bằng và hơn kém. Kiểu so sánh này thường gặp các từ sơ sánh như : Tựa, giống , giống như , không thua, không khác. ( So sánh bằng ) và các từ hơn , kém, thua , chẳng bằng ( so sánh hơn kém ). IV/ Trò chơi học tập : Đây là hình thức hấp dẫn nhất trong đó chơi là phương tiện , học là mục đích . Thông qua hình thức chơi mà học, học sinh sẽ được hoạt động , tự củng cố kiến thức .Tuy nhiên, muốn tổ chức trò chơi có hiệu quả, cần xác định mục đích của trò chơi, hình thức chơi cũng phải đa dạng, cách chơi cần phải đơn giản, dễ hiểu. Ví dụ : Trò chơi “ Thử tài so sánh” Mục đích: - Rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ bằng cách tạo nhanh các cum từ có hình ảnh so sánh đúng . - Luyện phản ứng nhanh, trau dồi trí tưởng tượng , liên tưởng về hoạt động hay đặc điểm, tính chất ...của sự vật. Chuẩn bị : - Làm các bộ phiếu bằng giấy ( Kích thước : 3 x 4 cm) - Mỗi bộ phiếu gồm 3-5 từ chỉ hoạt động, trạng thái , đặc điểm, màu sắc của sự vật ( Tuỳ thời gian chơi, nội dung bài học ) . Lớp 3 chủ yếu là từ chỉ hoạt động, trạng thái , đặc điểm , tính chất. Ví dụ : + Bộ phiếu A( 5 từ chỉ hoạt động,trạng thái) : Đọc , viết cười ,nói , khóc ( Dành cho Tiết 7: ôn tập từ chỉ trạng thái , tính chất ) + Bộ phiếu B ( 5 từ chỉ màu sắc )Trắng , xanh, đỏ, vàng , đen ( Dành cho tiết 15: Luyện đặt câu có hình ảnh so sánh ) + Bộ phiếu C ( 5 từ chỉ đặc điểm , tính chất ): đẹp, cao, khoẻ, nhanh, chậm ( Dành cho tiết 14 , 17: ôn tập từ chỉ đặc điểm ) - Phiếu được gấp tư để “bốc thăm” - Cử trọng tài, thư kí theo dõi cuộc thi . Tiến hành : Trọng tài để một bộ phiếu lên bàn cho học sinh xụng phong lên thử tài so sánh ( 1 bộ phiếu 5 từ thì dành cho 5 người “thử tài”). Học sinh 1 (HS1) lên “bốc thăm”, mở phiếu đọc từ cho các bạn nghe rồi nêu thật nhanh cụm từ có hình ảnh so sánh để làm rõ nghĩa từ đó. Ví dụ: HS1: “bốc thăm” được từ trắng – Có thể nêu cụm từ so sánh: trắng như tuyết, trắng như vôi, trắng như trứng gà bóc ). Trọng tài cùng cả lớp chứng kiến và xác nhận kết quả Đúng- Sai + Mỗi kết quả đúng được 2 điểm . +Nếu trọng tài đếm từ 1-5 vẫn không nêu được kết quả thì không có điểm . Lần lượt 5 học sinh lên bốc thăm thử tài. Hết 5 phiếu thì về chỗ , thư kí công bố kết quả . Mỗi bộ phiếu sẽ chọn ra 1 người có số điểm cao nhất là người thắng cuộc. Cách tiến hành này có thể thay đổi tùy sự linh động của giáo viên . Cũng có thể mỗi học sinh lần lược bốc cả 5 phiếu . Mỗi phiếu chỉ cần nêu 1 cụm từ . Người thứ không được nêu lặp cụm từ của người trước . Hoặc cũng có thể bốc cả 5 phiếu và tiến hành theo nhóm . Nhóm nào tìm được nhiều cụm từ nhất thì nhóm đó thắng . Bộ phiếu A: ( 5 từ chỉ hoạt động, trạng thái) -Đọc : Đọc như đọc kinh, đọc như rên rỉ, đọc như cuốc kêu,. -Viết : viết như gà bới , viết như giun bò , viết như rồng bay phượng múa, -Cười : cười như nắc nẻ, cười như pháo nổ , cười như mếu, ... -Nói : nói như khướu, nới như vẹt, nói như Trạng Quỳnh, -Khóc : khóc như mưa, hkhóc như ri, hkhóc như cha chết , ... Bộ phiếu B ( 5 phiếu từ chỉ màu sắc ): -Trắng : trắng như trứng gà bóc , trắng như tuyết , trắng như vôi, trắng như -Xanh: xanh như tàu lá, xanh như pha mực, xanh như nước biển ... -Đỏ : Đỏ như máu , đỏ như son, đỏ như gấc ,đỏ như ớt , -Đen : đen như than, đen như gỗ mun, đèn như cột nhà cháy . -Vàng: vàng như nghệ, vàng như mật ong, vàng như tơ,.. Bộ phiếu C: ( 5 phiếu từ chỉ đặc điểm, tính chất ) -Đẹp : đẹp như tiên, đẹp như hoa, đẹp như tranh,đẹp như mơ,... -Cao: cao như núi , cao như ngọn tháp , cao như sếu , cao như cây sào ,.. -Khoẻ : khoẻ như voi, khoẻ như trâu, khoẻ như bò mộng , khoẻ như hổ, -Nhanh: nhanh như sóc , nhanh như điện, nhanh như cắt, nhanh như gió , -Chậm: chậm như sên, chậm như rùa, ... V. KẾT QUẢ Khi hướng dẫn học sinh tìm hình ảnh so sánh và sử dụng triệt để các biện pháp trên . Tập trung trò chơi ở phần củng cố và các tiết tăng cường, tôi vô cùng vui sướng khi thấy học sinh lớp tôi đạt được kết quả ở kỳ thi cuối kì về phân môn luyện từ và câu nói riêng và môn tiếng Viết nói chung như sau: Lớp 3A . tổng số 29 học sinh. HS có kĩ năng nhận dạng và sử dụng tốt hình ảnh so sánh HS có kỹ năng nhận dạng và sử dụng được hình ảnh so sánh. HS chưa có kỹ năng nhận dạng và sử dụng hình ảnh so sánh Đầu năm 10 = 34,5% 8 = 27,6% 11 = 37,9% Cuối kì I 20 = 67% 9 = 31% PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I. KẾT LUẬN Qua kinh nghiệm rèn kỹ năng nhận biết và sử dụng hình ảnh so sánh cho học sinh lớp 3. Bản thân tôi thấy rằng cần hướng và rèn cho học sinh những kỹ năng sau: * Về phía học sinh: - Chuẩn bị kĩ bài trưứoc khi đến lớp . - Học sinh tự củng cố vốn kiến thức của mình bằng cách đọc nhiều sách báo phù hợp với lứa tuổi, xem băng hình, quan sát tranh... - Cho học sinh giao lưu trực tiếp với các bạn trong lớp, trong trường sau mỗi bài học: "Luyện từ và câu" dạng này để học sinh khắc sâu kiến thức. - Khi làm bài tập yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài, xác định đúng yêu cầu của bài, phân biệt được chúng thuộc kiểu bài so sánh dạng nào rồi mới bắt tay vào làm bài. - Khi quan sát sự vật , cần quan sát thận tinh tế để tìm ra những điểm giống nhau, những nét tương đồng . -Biết vận dụng vào trong các tiết tập làm văn. * Về phía giáo viên : - Sau mỗi bài học, giáo viên phải dành thời gian cho phần dặn dò bài sau thật cụ thể . Có như vậy học sinh mới chuẩn bị tốt bài mới . - Luôn có sự kiểm tra phần chuẩn bị bài của học sinh . Nhận xét cụ thể. - Chuẩn bị tốt nội dung bài dạy . Định hướng cụ thể phương pháp và hình thức tổ chức cho từng hoạt động .Phân bố thời gian hợp lí cho từng hoạt động . - Luôn gắn lí thuyết với thực hành. - Phải trực quan, không thể thiếu đồ dùng dạy học ( Mô hình, kí hiệu , tranh, ảnh..,) - Hệ thống ngôn ngữ phải trong sáng , gần gũi, dễ hiểu. - Nếu dự định tổ chức trò chơi học tập thì phải chuẩn bị kĩ . Lường trước các tình huống sư phạm có thể xảy ra.( Học sinh có thể dùng từ thiếu tính sư phạm ,...) không chơi ngẫu hứng , tuỳ tiện . II. Ý NGHĨA Qua quá trình suy nghĩ và tìm tòi, tôi đã tìm thấy một số biện pháp như đã nêu ở trên để rèn kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3. Qua việc áp dụng những biện pháp trên tôi thấy kỹ năng nhận biết của học sinh lớp 3 tôi dạy đã được nâng lên đáng kể . Học sinh không những nhận biết mà cờn sử dụng tốt biện pháp so sánh . Góp phần đáng kể vào việc viết văn và diễn đạt bằng ngôn ngữ của học sịnh. Tôi nghĩ, phương pháp này rất đơn giản, dễ sử dụng và hiệu quả . III.KIẾN NGHỊ: Để giúp học sinh nhận biết và sử dụng hình ảnh so sánh đạt hiệu quả cao, tôi mạn phép đưa ra một vài ý kiến đề xuất với các cấp lãnh đạo như sau: Cần quan tâm hơn nữa đối với giáo viên tiểu học, thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên nhất là phân môn Luyện từ và câu. -Về phía nhà trường cần đảm bảo về cơ sở vật chất, trang thiết bị và đồ dùng dạy học phải được đầy đủ, phong phú. Tôi xin chân thành cảm ơn! Ngày 15 tháng 01 năm 2012 Nhận xét đánh giá của hội đồng khoa học MỤC LỤC NỘI DUNG Trang PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ Lý do chọn đề tài ý do 1 Mục đích nghiên cứu 2 Đối tượng nghiên cứu 2 Phạm vi nghiên cứu 2 Phương pháp nghiên cứu 2 PHẦN II NỘI DUNG Thực trạng 4 Nội dung chương trình 5 Những biện pháp cụ thể 5 PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ kết luận 18 Ý nghĩa 19 kiến nghị 19 2/ Gợi ý thêm một số bộ phiếu để “ thử tài so sánh” Bộ phiếu D: ( 5 từ chỉ trạng thái) Buồn : buồn như đưa đám, buồn như mất của, buồn như cha chết ,... Vui: vui như tết, vui như hội, vui như bắt được vàng, vui như mở cờ trong bụng ,... Sướng : sướng như tiên , sướng như vua, sướng như ông Hoàng(vua) Khổ : khổ như trâu ngựa, khổ như ăn mày, khổ như nô lệ,... Im: im như thóc , im như hến , im như ngủ,... Bộ phiếu E: (5 phiếu từ chỉ đặc điểm, tính chất ) Lạnh : lạnh như tiền, lạnh như đồng , lạnh như ướp đá , lạnh như băng,... Nóng : nóng như thiêu, nóng như lửa đốt, nóng như bếp lò nung,... Chua: chua như dấm , chua như mẻ, chua như khế ,... Ngọt : ngọt như đường cát, ngọt như mía lùi , ngọt như mật ong,... Đắng : đắng như bồ hòn, đắng như mật gấu, Bộ phiếu G: (5 phiếu từ chỉ đặc điểm, tính chất ) Gầy : gầy như cò hương, gầy như hạc, gầy như que tăm, gầy như cây củi, gầy như ống sậy,... Hiền : hiền như phật, hiền như bụt, hiền như cô Tấm , hiền như đất ,... Dữ : dữ như báo, dữ như cọp, dữ như hổ, dữ như chó sói ,... Tròn : tròn như bi ve, t

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Tăng Cường Công Tác Quản Lý Đất Công
  • Sử Dụng Tài Nguyên Đất, Nước, Rừng Như Thế Nào Cho Hợp Lí
  • Phòng Vệ Thương Mại Là Gì? Các Biện Pháp Phòng Vệ Thương Mại?
  • Ii Phần Tiếng Việt 1Hiểu Được Các B…
  • Giáo Án Môn Ngữ Văn 6
  • Biện Pháp Tu Từ So Sánh

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 6. Biện Pháp Sử Dụng, Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất
  • Bài Giảng Bài 6: Biện Pháp Sử Dụng,cải Tạo Và Bảo Vệ Đất
  • Đề Tài Phương Pháp Dạy Học Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu Lớp 3
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 3 Hiểu Về Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Bài Tập Đọc
  • Đề Tài Rèn Kỹ Năng Nhận Biết Biện Pháp Tu Từ So Sánh Cho Học Sinh Lớp 3
  • Nhằm củng cố, mở rộng, bổ sung thêm kiến thức cho các em học sinh, chúng tôi sưu tầm gửi tới các em Biện pháp tu từ so sánh – Kiến thức, bài tập nâng cao Ngữ Văn 6 . Chúc các em học tốt!

    Biện pháp tu từ so sánh

    Kiến thức, bài tập nâng cao Ngữ Văn 6

    I. – NỘI DUNG KIẾN THỨC CẦN NẮM VỮNG 1. Thế nào là so sánh ?

    So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sực gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    Ví dụ :

    – Thuyền xuôi dưới dòng con sông rộng lớn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận.

    (Đoàn Giỏi)

    Trong như tiếng hạc bay qua,

    Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.

    (Nguyễn Du)

    – Mỏ Cốc như cái dùi sắt, chọc xuyên cả đất.

    (Tô Hoài)

    2. Cấu tạo của phép so sánh

    So sánh là cách công khai đối chiếu các sự vật với nhau, qua đó nhận thức, được sự vật một cách dễ dàng, cụ thể hơn. Vì vậy, một phép so sánh thông thường gồm bốn yếu tố :

    – Vế A : Đối tượng (sự vật) được so sánh.

    – Bộ phận hay đặc điểm so sánh (phương diện so sánh).

    – Từ so sánh.

    – Vế B : Sự vật làm chuẩn so sánh.

    Ta có sơ đồ sau đây :

    Khi ta nói : Cô gái đẹp như hoa là so sánh. Còn khi nói : Hoa tàn mà lại thêm tươi (Nguyễn Du) thì hoa ở đây là ẩn dụ.

    + Yếu tố (2) và (3) có thể vắng mặt. Khi yếu tố (2) vắng mặt người ta gọi là so sánh chìm vì phương diện so sánh (còn gọi là mặt so sánh) không lộ ra do đó sự liên tưởng rộng rãi hơn, kích thích trí tuệ và tình cảm người đọc nhiều hơn.

    + Yếu tố (3) có thể là các từ như : giống, tựa, khác nào, tựa như, giống như, là, bao nhiêu… bấy nhiêu, hơn, kém,… Mỗi yếu tố đảm nhận một sắc thái biểu cảm khác nhau

    – Như có sắc thái giả định.

    – Là có sắc thái khẳng định.

    -Tựa thể hiện nlức độ chưa hoàn hảo,…

    + Trật tự của phép so sánh có khi được thay đổi. Ví dụ :

    Như chiếc đảo bốn bề chao mặt sóng Hồn tôi vang tiếng vọng của hai miền.

    (Tế Hanh)

    3. Các kiểu so sánh

    Dựa vào mục đích và các từ so sánh, người ta chia phép so sánh thành hai kiểu :

    a) So sánh ngang bằng

    Phép so sánh ngang bằng thường được thể hiện bởi các từ so sánh sau đây : là, như, y như, tựa như, giống như hoặc cặp đại từ bao nhiêu… bấy nhiêu.

    Mục đích của so sánh nhiều khi không phải là tìm sự giống nhau hay khác nhau mà nhằm diễn tả một cách hình ảnh một bộ phận hay đặc điểm nào đó của sự vật giúp người nghe, người đọc có cảm giác hiểu biết sự vật một cách cụ thể, sinh động. Vì thế, phép so sánh thường mang tính chất cường điệu.

    Ví dụ : Cao như núi, dài như sông

    (Tố Hữu)

    b) So sánh hơn kém

    Trọng phép so sánh hơn kém, từ so sánh được sử dụng là các từ : hơn, hơn là, kém, kém gì.

    Ví dụ : Áo rách khéo vá hơn lành vụng may.

    (Tục ngữ)

    Muốn chuyển so sánh hơn, kém sang so sánh ngang bằng, người ta thêm một trong các từ phủ định : không, chưa, chẳng vào trong câu và ngược lại.

    Ví dụ : – Bóng đá quyến rũ tôi hơn những công thức toán học.

    – Bóng đá quyến rũ tôi không hơn những công thức toán học..

    4. Tác dụng của so sánh

    + So sánh tạo ra những hình ảnh cụ thể, sinh động. Phần lớn các phép so sánh đều lấy cái cụ thể so sánh với cái không cụ thể hoặc kém cụ thể hơn, giúp mọi người hình dung được sự vật, sự việc cần nói tới và cần miêu tả. *

    Ví dụ : Công cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

    (Ca dao)

    + So sánh còn giúp cho câu văn hàm súc, gợi trí tưởng tượng bay bổng. Vì thế trong thơ của thiếu nhi, các em đã thể hiện nhiều phép so sánh bất ngờ.

    Ví dụ : Tàu dừa chiếc lược chải vào mây xanh

    (Trần Đăng Khoa)

    Cách so sánh ở đây thật bất ngờ, thật gợi cảm. Yếu tố (2) và yếu tố (3) bị lược bỏ. Người đọc, người nghe tha hồ mà tưởng tượng ra các mặt so sánh khác nhau làm pho hình tượng so sánh được nhân lên nhiều lần.

    II. – BÀI TẬP 1.

    Tìm phép so sánh trong đoạn trích sau đây, nêu rõ tác dụng của phép so sánh đó :

    “Dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng. Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận”.

    (Đoàn Giỏi)

    2. Trong câu ca dao :

    Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than.

    a) Từ bổi hoi bồi hồi là từ láy có gì đặc biệt ?

    b) Giải nghĩa từ láy bổi hổi bồi hồi.

    c) Phân tích cái hay của câu ca dao do phép so sánh đem lại.

    3. Trong bài Vượt thác có nhiều phép so sánh được thể hiện.

    a) Em hãy xác định những phép so sánh đó.

    b) Phép so sánh nào độc đáo nhất ? Vì sao ?

    4. Em hãy viết một đoạn văn tả cảnh sông nước hay núi non, làng xóm ở quê em trong đó có sử dụng từ hai phép so sánh trở lên.

    5. Em hãy kể càng nhiều càng tốt những thành ngữ có sử dụng phép so sánh mà từ chỉ phương diện so sánh là từ láy.

    6. Nói về thiếu niên, nhi đồng, Bác Hồ viết: Trẻ em như.búp trên cành.

    a) Phép so sánh này bị lược yếu tố nào ?

    b) Yếu tố bị lược có thể được thay bằng những từ ngữ nào trong các từ ngữ sau đây : tươi non, quyến rũ, đầy hứa hẹn, đấng trân trọng, chứa chan hi vọng, đầy sức sống, yếu ớt đáng thương, nhỏ nhắn, chưa đáng chú ỷ.

    7. Em hãy tìm khoảng mười phép so sánh trong ca dao và thơ, trong đó vắng từ ngữ chỉ phương diện so sánh.

    Ta đi tới, trên đường ta bước tiếp Rắn như thép, vững như đồng Đội ngũ tơ trùng trùng điệp điệp Cao như núi, dài như sông

    Chí ta lớn như biển Đông trước mặt

    – Lũ đế quốc như bầy dơi hốt hoảng.

    – Lũ đế quốc là bầy dơi hốt hoảng.

    10. Trong bài Lượm của Tố Hữu có đoạn :

    Chú bé loắt choắt Cái xắc xỉnh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh Ca lô đội lệch Mồm huýt sáo vang Như con chim chích Nhảy trên đường vàng…

    a) Phép so sánh ở đoạn thơ trên độc đáo ở chỗ nào ? Em hãy phân tích cái hay của phép so sánh đó.

    b) Các từ láy trong đoạn thơ thuộc từ loại nào ? Có tác dụng gì ?

    11. Phép so sánh sau đây có gì đặc biệt:

    Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp một, như đường mía lau.

    (Ca dao)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp So Sánh, Nhân Hóa
  • Một Số Kinh Nghiệm Rèn Nề Nếp Học Tập Trong Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 1
  • Skkn: Xây Dựng Nề Nếp Học Tập Cho Học Sinh Lớp 1
  • Xây Dựng Nề Nếp Học Tập Cho Học Sinh Lớp 1
  • Kinh Nghiệm Rèn Luyện Nề Nếp Cho Học Sinh
  • Biện Pháp So Sánh, Nhân Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Tu Từ So Sánh
  • Bài 6. Biện Pháp Sử Dụng, Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất
  • Bài Giảng Bài 6: Biện Pháp Sử Dụng,cải Tạo Và Bảo Vệ Đất
  • Đề Tài Phương Pháp Dạy Học Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu Lớp 3
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 3 Hiểu Về Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Bài Tập Đọc
  • – So sánh là sự đối chiếu hai đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy nhằm làm rõ đặc điểm của một trong hai đối tượng đó.

    – Nhân hoá là cách gọi hoặc tả con vật, đồ vật, cây cối,… bằng những từ ngữ vốn đê gọi và tả con người.

    Bài tập 1. Tìm những sự vật được so sánh với nhau trong mỗi câu sau :

    a) Trên cao nhìn xuống, dòng sông như một tấm gương sáng loá.

    b) Trông xa, đồng cỏ giống như một tấm thảm nhung xanh ngắt.

    c) Dòng suối uốn lượn như một dải lụa mềm mại.

    d) Hoa phượng nở đỏ rực như một quầng lửa trên phố.

    Bài tập 2. Trong các câu sau đây, những sự vật nào được so sánh với nhau ? Giữa chúng có điểm gì giống nhau ?

    a) Cái trống to như một chiếc vại lớn, đặt sừng sững trên một cái giá cao.

    b) Tiếng đàn tơ-rưng khi trầm hùng như tiếng thác đổ, khi thánh thót, róc rách như suối reo.

    c) Đối với tuổi trẻ Tây Nguyên, nhà Rông như cái tổ chim êm ấm.

    d) Ngọn cau xoè ra như chiếc ô để ngược, còn nõn cau như mũi kiếm đâm vút lên trời.

    Bài tập 3. Trong mỗi câu sau đây, những sự vật nào được nhân hoá ? Chúng được nhân hoá bằng cách nào ? Hãy nêu tác dụng của biện pháp nhân hoá trong các câu văn.

    a) Con đê quê tôi đã phơi mình ra cần cù hàng ngàn năm mà không hề mệt mỏi.

    b) Cỏ may sao lưu luyến bước chân người như vậy ? Hẳn là cỏ may đứng mãi ở chân đê nên muốn theo người về nhà sưởi ấm, ăn bắp ngô non nướng thơm lừng quanh bếp hay một nồi rang hạt dẻ bùi.

    c) Xưa, dân tộc Mông vốn sống du cư và khèn chính là người bạn làm vui cho cảnh đời rong ruổi.

    – Câu nào sử dụng biện pháp so sánh ?

    – Câu nào sử dụng biện pháp nhân hoá ?

    – Câu nào sử dụng cả 2 biện pháp so sánh và nhân hoá ?

    a) Quả sim giống hệt một con trâu mộng tí hon, béo tròn múp míp, còn nguyên cả lông tơ, chỉ thiếu chiếc khoáy.

    b) Như một bà mẹ thương con, cây nhãn dồn tất cả sữa ngọt sữa ngon của mình lên các chùm quả.

    c) Những quá nhãn no đầy sữa mẹ ngày lại ngày dầm mưa hè, phơi nắng hè đã chín ngọt lự.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Kinh Nghiệm Rèn Nề Nếp Học Tập Trong Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 1
  • Skkn: Xây Dựng Nề Nếp Học Tập Cho Học Sinh Lớp 1
  • Xây Dựng Nề Nếp Học Tập Cho Học Sinh Lớp 1
  • Kinh Nghiệm Rèn Luyện Nề Nếp Cho Học Sinh
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Kinh Nghiệm Rèn Chữ Viết Cho Học Sinh Lớp 3
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100