Top 4 # Xem Nhiều Nhất Chức Năng Văn Hóa Dân Gian Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Văn Hóa Dân Gian Ứng Dụng

Sở VHTTDL tỉnh Lào Cai

Nhiều thập kỷ qua, văn hóa dân gian tập trung nghiên cứu sưu tầm các di sản văn hóa của quá khứ nhằm lưu trữ, bảo tồn các di sản đó. Nhưng hiện nay nghiên cứu văn hóa dân gian gắn với vấn đề phát triển đang là yêu cầu cấp bách của cuộc sống. Càng cấp bách hơn khi trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã nảy sinh nhiều vấn đề đòi hỏi phải có sự tham gia của văn hóa dân gian như vấn đề văn hóa dân gian trong quá trình đô thị hóa, văn hóa dân gian với công việc xóa đói giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, quan hệ giữa văn hóa dân gian với du lịch, văn hóa dân gian với bảo vệ môi trường, văn hóa dân gian với nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đẩy mạnh giáo dục …. Vì vậy đã nảy sinh loại hình văn hóa dân gian ứng dụng.

1. Quá trình hình thành và phát triển của văn hoá dân gian ứng dụng

Benjamin A. Botkin đã cùng với nhà hoạt động Rachel Davis DuBois phát triển các chương trình đại chúng để cải thiện mối quan hệ về sắc tộc bằng cách kết hợp những thực hành văn hóa dân gian, tài liệu văn hóa vào công việc tổ chức các sự kiện lễ hội. Benjamin A. Botkin nổi lên như là vị thánh bảo trợ của phong trào văn hóa dân gian đại chúng

Từ cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến nay, nghiên cứu cũng như nghiên cứu Nhân học ứng dụng ở Mỹ và nhiều nước trên thế giới đã phát triển khá mạnh (Nguyễn Văn Tiệp, 2006, tr 88). Nổi bật là các công trình “đưa văn hóa dân gian vào ứng dụng” của Michanel Owen Jones (1994).

Ở Việt Nam, văn hóa dân gian ứng dụng tuy còn khá mới mẻ, chưa hình thành một ngành nghiên cứu riêng biệt nhưng những vấn đề nghiên cứu ứng dụng văn hóa dân gian đã được một số nhà khoa học quan tâm và bước đầu gặt hái được những thành quả nhất định. Một số công trình nghiên cứu mang dấu ấn văn hóa dân gian ứng dụng được xuất bản. Tiêu biểu như các công trình của các tác giả Viện Văn hóa dân gian (nay là Viện Văn hóa):

-Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng (đồng chủ biên) (1994), Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại.

– Trần Quốc Vượng – Đỗ Thị Hảo (2000), Làng nghề, phố nghề.

– Ngô Đức Thịnh, Phan Đăng Nhật (đồng chủ biên) (2000), Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam – Kỷ yếu hội thảo khoa học.

Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam cũng bước đầu chú trọng nghiên cứu văn hóa dân gian ứng dụng. Ngày 15/12/2001, tại thành phố Hồ Chí Minh, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam và trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn (thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) đã phối hợp tổ chức hội thảo khoa học “Văn hóa dân gian và sự phát triển đô thị”. Hội thảo đã bước đầu đưa ra khái niệm “Văn hóa dân gian đô thị” cũng như sự biến đổi, vận hành của các loại hình văn hóa dân gian ở đô thị, tác động của văn hóa dân gian với đời sống đô thị đương đại.

Ngày 11/4/2004, tại vùng đất du lịch Sa Pa, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam phối hợp với Sở Văn hóa Thông tin Lào Cai tổ chức hội thảo khoa học “Văn hóa dân gian và du lịch – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”. Hội thảo đã đề cập đến mối quan hệ giữa văn hóa dân gian với du lịch, xác định văn hóa dân gian thực sự là nguồn lực du lịch. Đồng thời các nhà khoa học cũng đề ra các khuyến nghị về phát triển du lịch bền vững, định hướng phát triển du lịch văn hóa cộng đồng, phát triển các sản phẩm du lịch mới mang đậm dấu ấn văn hóa dân gian …

Trong các hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế của Hội Folklore châu Á và Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam những năm gần đây xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu văn hóa dân gian ứng dụng. Tiêu biểu như hội thảo”Giá trị và tính đa dạng của Folklore châu Á trong quá trình hội nhập” tổ chức tại Hà Nội từ ngày 25 – 26/9/2005. Ở hội thảo này, các tham luận của Giáo sư – TSKH Tô Ngọc Thanh, GS. TS Ngô Đức Thịnh, PGS. TS Lê Hồng Lý,… đã gợi mở một số vấn đề nghiên cứu văn hóa dân gian ứng dụng, cũng như cơ chế biến đổi của văn hóa dân gian cổ truyền trong cuộc sống đương đại. chúng tôi Tô Ngọc Thanh đã đưa ra các vấn đề biến đổi về cấu trúc, chức năng của các loại hình của văn hóa dân gian trong cuộc sống đương đại, đồng thời đề ra các giải pháp bảo tồn văn hóa phi vật thể trong cộng đồng. Trong các hội thảo “Văn hóa biển miền Trung và văn hoá biển Quảng Ngãi” (4/7/2007) và hội thảo ” Văn hóa du lịch biển đảo Tây Nam Bộ” (29/11/2007) có một số tác giả tiếp cận hiện tượng văn hoá sông, biển dưới góc độ văn hoá dân gian ứng dụng.

2. Khái niệm và một số lĩnh vực nghiên cứu của Văn hóa dân gian ứng dụng

là một phân ngành của văn hóa dân gian, vận dụng các kiến thức và phương pháp nghiên cứu của văn hóa dân gian nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống đương đại.

Văn hoá dân gian ứng dụng ngày càng có xu hướng mở rộng. Thực tiễn sinh động ở Việt Nam với đặc điểm có nhiều tộc người chung sống, tính đa dạng đặc thù văn hoá nổi trội nên khả năng ứng dụng văn hoá dân gian giải quyết các nhiệm vụ cuộc sống càng phong phú và cấp bách, nhất là các tỉnh miền núi đa dân tộc.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, công nghiệp hóa, đô thị hóa nhiều thành tố Văn hóa dân gian không còn tồn tại như một thực thể mà vỡ vụn ra, biến đổi cả cấu trúc và chức năng. Các thành tố văn hóa dân gian đã bị mất đi cơ sở xã hội, không còn môi trường nuôi dưỡng và phát triển. nhiều thành tố đang phải trải qua một quá trình “giải cấu trúc” (Tô Ngọc Thanh – 2006). Tuy vỡ vụn, nhưng các mảnh vỡ của văn hóa dân gian vẫn tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội đương đại. Các thành tố ngữ văn dân gian, nghệ thuật dân gian, tập quán xã hội, tri thức dân gian, lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống,… tuy không tồn tại theo cả một cấu trúc, cả một hệ thống nhưng lại trở thành một bộ phận “tái cấu trúc” tạo nên bộ mặt văn hóa của xã hội đương đại. Một số chức năng “nguyên thủy” , chức năng gắn liền với môi trường sản sinh ra các loại hình văn hóa dân gian bị biến mất. Ở những vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, môi trường sản sinh ra các loại hình Văn hóa Dân gian vẫn còn tồn tại ở phạm vi nhất định, các loại hình văn hóa dân gian vẫn đóng vai trò quan trọng. Ở vùng đồng bằng hoặc đô thị xuất hiện ngày càng nhiều các loại hình văn hóa dân gian mô phỏng (Folklorismus). Văn hóa dân gian mô phỏng thực sự là các tư liệu, các mảnh vỡ của văn hóa dân gian, không nằm trong bối cảnh gốc nhưng lại “gây ấn tượng bằng thị giác và thính giác hoặc mang lại niềm vui thích về mặt thẩm mỹ như trang phục, biểu diễn trong lễ hội, âm nhạc hay ẩm thực, những tư liệu thích hợp này đã tách ra khỏi bối cảnh ban đầu của chúng và để sử dụng theo một cách mới cho một nhóm công chúng khác” (Ngô Đức Thịnh – Frank Proschan, tr.108 – 2005). Văn hóa dân gian mô phỏng (Folklorismus) còn xuất hiện phổ biến ở khắp miền núi với tên gọi văn nghệ quần chúng. Dù nhiều nhà khoa học phê phán các hình thức nghệ thuật dân gian mô phỏng này nhưng nó lại đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa ở cơ sở, thu hút được lượng khán giả đông đảo ở các kỳ hội diễn, các cuộc liên hoan, các “ngày văn hóa” … Đặc biệt ở các điểm du lịch cộng đồng từ Mai Châu- Hòa Bình đến Mộc Châu – Sơn La hay Mường Thanh – Điện Biên, Mường Lò – Yên Bái,… Các chương trình biểu diễn nghệ thuật ( nhất là nghệ thuật múa) chủ yếu thuộc loại hình văn hóa dân gian mô phỏng. Hiện nay với xu hướng khôi phục lễ hội, hoặc tổ chức các lễ hội du lịch đang diễn ra khắp nơi đều dựa vào chất liệu của văn hóa dân gian mô phỏng. Vì vậy văn hóa dân gian mô phỏng là một loại hình đặc biệt đang đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần hiện nay cần được nghiên cứu dưới góc độ văn hóa dân gian ứng dụng

còn là một ngành khoa học ứng dụng vào nghiên cứu đô thị trở thành văn hóa dân gian đô thị . Văn hóa dân gian đô thị nghiên cứu các thành tố văn hóa dân gian đã thích ứng và “chung sống” với người dân đô thị. Nó tập trung nghiên cứu về đời sống văn hóa của cư dân nhập cư cũng như dân cư “đô thị gốc”. Các yếu tố của văn hóa dân gian (nhất là tập quán, phong tục) đã chi phối đến đặc điểm cư trú cũng như quá trình “xóa đói giảm nghèo” của một bộ phận người dân nhập cư. Đặc biệt tín ngưỡng dân gian chi phối hầu hết các gia đình cư dân đô thị với nhiều hiện tượng khác nhau như thờ “thần tài” , lễ cúng ngày rằm, mùng một, quan niệm “mở hàng” ở các cửa hàng,… Các phong tục tập quán về đón xuân, mừng nhà mới, “cưới xe”, “cưới chợ” cũng xuất hiện môi trường đô thị. Sự xuất hiện các lễ hội, ngày lễ mới như “ngày lễ tình yêu” (14/2), lễ noel cũng như các ngày lễ, ngày kỷ niệm,… đã tạo ra môi trường sinh hoạt văn hóa dân gian mới. Như vậy, văn hóa dân gian đô thị tập trung nghiên cứu quá trình hình thành các xu hướng thích nghi văn hóa của các nhóm di dân vào đô thị, nghiên cứu các phố nghề, làng nghề ở các thành phố cũng như nghiên cứu các loại hình kinh tế phi chính thức, nghiên cứu những đặc trưng văn hóa, nếp sống các sinh hoạt văn hóa của người dân cũng như tổ chức tôn giáo tác động đến đời sống cư dân đô thị. Văn hóa dân gian đô thị còn chú trọng nghiên cứu loại hình nghệ thuật ngôn từ như giai thoại, truyện tiếu lâm, ca dao, tục ngữ mới,… Nghiên cứu các phong tục tập quán cũ và mới đang vận hành trong xã hội đô thị… Cũng như nhân học đô thị, văn hóa dân gian đô thị ngày càng trở thành một ngành nghiên cứu quan trọng ở các thành phố, thị trấn, thị xã. Văn hóa dân gian đô thị còn mở ra một hướng nghiên cứu mới đối với các nhà Folklore học ở các trung tâm đô thị lớn. Các nhà nghiên cứu Folklore không phải đi điền dã ở nông thôn, miền núi xa xôi mà tập trung nghiên cứu ở ngay tại gia đình mình, tổ dân phố, ngõ xóm nơi cư trú. Kết quả nghiên cứu Văn hóa dân gian đô thị còn giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý trong công tác quy hoạch, phát triển đời sống kinh tế – văn hóa ở khu dân cư, nắm bắt tâm trạng, nhận thức, thái độ của người dân nhằm điều chỉnh, thực thi chính sách,…

Văn hóa dân gian ứng dụng hiện nay đang đóng vai trò quan trọng trong phát triển du lịch. Hơn hai thập kỷ qua, làn sóng du lịch ồ ạt đổ bộ đến các làng, bản vùng cao. Nhiều điểm du lịch ở Mai Châu (Hoà Bình), Mường Thanh (Điện Biên), Sa Pa (Lào Cai), Bản Đôn (Đắc Lắk)… thu hút khá đông đảo du khách. Chính quyền địa phương đều xác định văn hoá là nguồn lực của du lịch. Nhưng khai thác nguồn lực văn hoá (nhất là văn hoá dân gian) như thế nào là một vấn đề phức tạp. Ở một số tỉnh, thậm chí cả tỉnh miền núi đều học tập mô hình làng văn hoá dân tộc để đầu tư xây dựng thành một điểm du lịch quan trọng. Nhưng không biết rằng du khách (nhất là du khách nước ngoài) không muốn xem một cái làng du lịch có từ cảnh quan, nhà cửa đến sinh hoạt văn hoá đều phải phục chế, làm giả. Hoặc chỉ thăm hàng chục bản văn hoá của 1 tỉnh đều có chương trình văn nghệ đón khách giống nhau. Dù làng đó là làng người Thái, làng người Khơ Mú, làng người Xinh Mun, La Ha hay Hmông, Dao nhưng chương trình văn nghệ đều “cải biên”, “cải tiến” giống nhau. Có làng du lịch, khi chưa nổi tiếng, khi chưa có thương hiệu thì rất đông du khách đến thăm. Nhưng khi đã được các doanh nghiệp đầu tư, thì làng du lịch đã vắng khách hẳn, thậm chí đi đến suy tàn. Điều này đã xảy ra ở Vân Nam – Trung Quốc và một vài điểm du lịch bản làng của Việt Nam … Như vậy, nhiều lĩnh vực của du lịch ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số như vấn đề quy hoạch, vấn đề chính sách ở tầm vĩ mô của du lịch đến việc tổ chức các điểm du lịch, văn hoá cũng đòi hỏi phải có sự tham gia của văn hoá dân gian ứng dụng. Trong lĩnh vực du lịch, văn hóa dân gian ứng dụng được tiến hành nghiên cứu việc đánh giá tài nguyên tiềm năng của du lịch (nhất là tài nguyên du lịch nhân văn). Bất cứ việc quy hoạch hoặc xây dựng sản phẩm du lịch ở đâu cũng cần các nhà văn hóa dân gian ứng dụng tư vấn đánh giá trữ lượng, giá trị tài nguyên du lịch nhân văn, đề xuất phương thức khai thác xây dựng sản phẩm. Trong các chất liệu xây dựng sản phẩm du lịch có đủ các loại hình của văn hóa dân gian đáp ứng nhu cầu ăn (ẩm thực, trình diễn cách ăn, ứng xử trong ăn uống) hoặc đáp ứng nhu cầu xem (xem nghệ thuật trình diễn trò chơi , sinh hoạt văn hóa ,..) đáp ứng nhu cầu mua sắm đồ lưu niệm, quà tặng (như sản phẩm ngành nghề thủ công, cách sản xuất thủ công),..v..v. Mặt khác, các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian ứng dụng vừa tập trung nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc tạo thành sản phẩm, thương hiệu của du lịch, nghiên cứu mối quan hệ tác động giữa các yếu tố văn hóa dân gian với du lịch (vừa nghiên cứu những tác động tích cực lại vừa nghiên cứu những tác động tiêu cực) nhằm tư vấn xây dựng các định hướng phát triển bền vững. Đồng thời, văn hóa dân gian ứng dụng không chỉ nghiên cứu để tạo sản phẩm du lịch mang sắc thái địa phương có du khách, đáp ứng được nhu cầu mà còn nghiên cứu mối quan hệ về chủ sở hữu sản phẩm du lịch, quan hệ giữa du khách và người dân, quan hệ giữa doanh nghiệp với cư dân bản địa … Bài học kinh nghiệm đã chỉ ra ở nhiều điểm du lịch trên thế giới và Việt Nam lụi tàn vì chưa chú trọng đến mối quan hệ giữa “khách thể” và “chủ thể” . Hiện nay vấn đề phát triển du lịch bền vũng đang là định hướng chung của toàn ngành du lịch. Phát triển du lịch bền vững đòi hỏi việc khai thác tài nguyên du lịch một cách hợp lý vì lợi ích của thế hệ tương lai chứ không chỉ vì lợi ích của thế hệ hiện tại. Phát triển du lịch bền vững cũng đòi hỏi phải xây dựng mối quan hệ thân thiện với môi trường, bảo vệ môi trường, hài hòa xã hội bảo vệ lợi ích cộng đồng cư dân bản địa cũng như bảo vệ di sản văn hóa, tôn trọng sự đa dạng văn hóa các tộc người. Trong định hướng phát triển du lịch bền vững đòi hỏi sự tham gia tích cực của văn hóa dân gian ứng dụng.

Phong trào xây dựng Nông thôn mới đang diễn ra ở hầu khắp vùng nông thôn từ miền núi đến đồng bằng, từ vùng người Kinh đến vùng cư trú của dân tộc ít người. Phong trào xây dựng nông thôn mới đã gặt hái được nhiều thành công , xuất hiện nhiều mô hình trở thành các điểm sáng ở nông thôn. Bộ mặt nông thôn cũng được biến đổi, hệ thống giao thông (nhất là giao thông liên thôn) đã phát triển rộng khắp,… Bên cạnh các kết quả đã đạt được, phong trào xây dựng nông thôn mới còn một số điểm hạn chế nhất là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cư trú. Nguyên nhân chủ yếu là các nhà hoạch định chính sách không am hiểu thực tiễn ở miền núi, không nắm vững đặc điểm văn hóa dân gian, đặc trưng văn hóa tộc người,… nên đã xây dựng các tiêu chí không phù hợp. Ở miền núi, vùng cao diện tích đất canh tác rât ít, diện tích mặt bằng để gieo trồng lương thực còn vô cùng hạn chế nhưng các tiêu chí nông thôn mới lại đề ra quy hoạch, xây dựng các trụ sở, các thiết chế văn hóa thể thao quá rộng dẫn đến tình trạng không một xã nào ở vùng cao đáp ứng được tiêu chí “cứng nhắc” như vậy. Các nhà hoạch định chính sách cũng chưa hiểu về đặc điểm sinh hoạt chợ vùng cao, về điều kiện và nhu cầu mở chợ ở vùng cao nên thời kỳ đầu đã có chủ trương mỗi xã muốn đạt tiêu chuẩn xây dựng nông thôn mới phải xây dựng một chợ của riêng xã đó. Dẫn đến tình trạng nhiều xã đua nhau xây chợ nhưng chợ xây xong lại bỏ hoang, người dân không đến họp chợ hoặc không họp vào điểm chợ đã được quy hoạch. Tương tự như vậy, các tiêu chí về môi trường, về giao thông, về quy hoạch, về thủy lợi,… có nhiều điểm không phù hợp với miền núi và không thể thực hiện được. Trong khi đó rất nhiều vấn đề tri thức dân gian trong sản xuất, quản lý xã hội, bảo vệ môi trường, xây dựng nếp sống… lại ít được vận dụng và phát huy. Tri thức dân gian (cũng như tri thức bản địa, tri thức địa phương …) đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong vấn đề xây dựng nông thôn mới hiện nay. Tri thức dân gian gần như là một công cụ để vận dụng và thực thi chính sách ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ở nông thôn,… Do đó xây dựng nông thôn mới cần đặc biệt chú ý ứng dụng tri thức dân gian. Ở lĩnh vực này vai trò của văn hóa dân gian ứng dụng càng trở lên quan trọng và cấp thiết.

Nghiên cứu cũng làm thay đổi vai trò, trách nhiệm của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian. Nhà văn hóa dân gian không còn chui sâu vào: Tháp ngà khoa học” không chỉ mải mê sưu tầm vốn cổ dân gian mà phải “xung trận” tham gia giải quyết những vấn đề bức thiết của cuộc sống đương đại.

Văn hóa dân gian ứng dụng ngày nay càng đóng vai trò quan trọng. Văn hóa dân gian ứng dựng vừa mở ra chân trời mới cho các nhà Folklore vừa đòi hỏi trách nhiệm mới của nhà nghiên cứu. Vấn đề đặt ra ở đây xin chỉ được coi là những gợi ý bước đầu nhằm thu hút sự quan tâm, trao đổi của độc giả.

hoc mua bán đàn guitar tai tphcm công ty thiết kế web tai tphcm cong ty may áo thun đồng phục hoc phát âm tiếng anh chuan khoa học thiết kế web tphcm tphcm mua container văn phòng cu dia chi thay man hinh iphone tai tphcm thiet bi bếp công nghiệp bep nha hang dai ly ống nhựa tiền phong ong nuoc du an Căn hộ Scenic Valley ban thuoc kich duc nu chuyen thi cong phong karaoke vip

Văn Hóa Văn Nghệ Dân Gian Với Vấn Đề Phát Triển Bền Vững

Văn hóa văn nghệ dân gian với vấn đề phát triển bền vững

Nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian trước đây chủ yếu là nghiên cứu cơ bản, giới thiệu và sưu tầm các di sản văn hóa truyền thống. Nhưng hiện nay, với quan điểm phát triển bền vững thì văn hóa, văn nghệ dân gian nghiên cứu các vấn đề phát triển đang là yêu cầu cấp bách của cuộc sống. Càng cấp bách hơn, khi trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã nảy sinh nhiều vấn đề đòi hỏi phải có sự tham gia của văn hóa dân gian như vấn đề tuy tăng trưởng kinh tế nhưng nếp sống, đạo đức lại đi xuống, đô thị hóa lại dẫn đến nguy cơ suy tàn của nông nghiệp và nông thôn, tăng trưởng kinh tế nhưng lại làm môi trường tự nhiên bị suy thoái, vấn đề xóa đói giảm nghèo càng cấp thiết… Vì vậy cần nghiên cứu sự tác động của văn hóa dân gian – một thành tố của văn hóa với các trụ cột chính của phát triển bền vững là tăng trưởng kinh tế gắn liền với công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Từ nghiên cứu sự tác động này gợi mở điểm nhìn mới với vấn đề phát triển, về vai trò của văn hóa văn nghệ dân gian trong nghiên cứu phát triển bền vững. I. Các khái niệm về phát triển bền vững, văn hóa dân gian và vai trò nhà nghiên cứu Phát triển bền vững là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Tiền thân của khoa học phát triển bền vững là khoa học phát triển – một bộ môn khoa học mới được ra đời từ thập kỷ 40, 50 của thế kỷ 20. Nhưng nội dung chủ yếu của phát triển học là kinh tế học phát triển[1].  Năm 1972, tại hội thảo của Liên Hợp Quốc về Môi trường con người được tổ chức tại Stockholm đã xác định phát triển bền vững của môi trường tự nhiên. Năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh về trái đất của Liên Hợp Quốc ở Rio de Janeiro đã đặt cơ sở cho sự phát triển bền vững và đề ra chương trình nghị sự 21. Hội nghị đã đề ra khái niệm về phát triển bền vững là “một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại tới khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Năm 2002, tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững ở Johannesburg, tư tưởng phát triển bền vững được mở rộng trở thành mục tiêu phấn đấu của toàn nhân loại, của từng quốc gia, từng dân tộc, từng cộng đồng[2]. Hội nghị đã xác định 3 trụ cột chính của phát triển bền vững: phát triển kinh tế nhanh và an toàn; công bằng xã hội và phát triển con người; khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và không ngừng cải thiện chất lượng môi trường sống. Như vậy khái niệm phát triển bền vững đã hoàn thiện. Tuy nhiên, cần hiểu rõ hơn phát triển bền vững không chỉ vì lợi ích của tương lai mà là lợi ích hài hòa cho các bên tham gia quá trình phát triển. Trong đó nhân tố vì con người, nhân tố văn hóa phải đặt lên hàng đầu. Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam toàn quốc lần thứ XI đã nhấn mạnh quan điểm phát triển là “phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược”[3]. Văn hóa dân gian là các loại hình văn hóa của cộng đồng (không phải là cá nhân) sáng tạo ra và trao truyền cho các thế hệ bằng hình thức truyền miệng, truyền dạy thực hành. Văn hóa dân gian bao gồm tín ngưỡng, phong tục tập quán, tri thức, nghệ thuật (nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật biểu diễn,…). Đối tượng nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian trong những năm gần đây cũng thay đổi và mở rộng. Vào những thập kỷ 60, 70 của thế kỷ 20, đối tượng nghiên cứu chủ yếu của văn hóa, văn nghệ dân gian là văn học dân gian. Hướng tiếp cận chủ yếu là hướng tiếp cận nghệ thuật ngôn từ (ngữ văn học). Vào những năm cuối của thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, khoa học nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian đã mở rộng đối tượng. Từ nghiên cứu, sưu tầm văn học dân gian là chủ yếu chuyển sang nghiên cứu về văn hóa dân gian (lễ hội, tri thức dân gian, ngành nghề thủ công, phong tục tập quán,…). Vì vậy, văn hóa dân gian ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với vấn đề phát triển kinh tế xã hội. Trong xu hướng phát triển bền vững, văn hóa, văn nghệ dân gian có nhiều khả năng, lợi thế tham gia. Văn hóa văn nghệ dân gian là một ngành chuyên nghiên cứu, sưu tầm tri thức dân gian của người dân. Đồng thời phương pháp nghiên cứu cũng đòi hỏi nhà khoa học, đòi hỏi các hội viên phải đắm mình trong cuộc sống của người dân suốt một thời gian dài. Nhờ thời gian “ba cùng” với cộng đồng mà nhà nghiên cứu phát hiện ra nhiều vấn đề cấp bách, phức tạp của cuộc sống, tìm hiểu được tri thức mà người dân với công cuộc phát triển kinh tế xã hội. Nhờ đó, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đã hạn chế việc áp đặt quan điểm chủ quan của các chủ dự án, đưa nhiều khuyến nghị có cơ sở thực tiễn với chính quyền, với nhà đầu tư. Mặt khác văn hóa, văn nghệ dân gian luôn có đặc trưng “tổng thể nguyên hợp” nên nhà nghiên cứu tiếp cận với đối tượng theo phương pháp liên ngành. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian có lợi thế nghiên cứu các di sản, hiện tượng văn hóa khác nhau, so sánh những nét giống và khác nhau giữa các vùng, các tộc người. Từ đó cho phép các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian giải mã được các mối quan hệ, các bước phát triển một cách khách quan[4]. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian không chỉ đóng vai trò nghệ sỹ, nhà khoa học mà còn đóng vai trò nhà tư vấn, nhà thẩm định đánh giá các chiều tác động đến phát triển. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian còn đóng vai trò nhà hoạch định chính sách, tham gia thiết kế các chương trình, dự án phát triển ở địa phương mang tính bền vững. Đồng thời họ còn tích cực góp phần truyền dạy, phục dựng các di sản văn hóa đã mai một cho cộng đồng, trao truyền hướng dẫn kiến thức bản địa của cộng đồng này với cộng đồng khác. II. Văn hóa, văn nghệ dân gian với vấn đề phát triển bền vững 1. Văn hóa, văn nghệ dân gian với vấn đề xây dựng nếp sống, nhân cách Trong phát triển bền vững, nhân tố con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể của phát triển. Nhưng muốn con người trở thành trung tâm phải chú trọng xây dựng giáo dục nếp sống, lối sống, đạo đức, nhân cách con người. Trong xây dựng nếp sống có nhiều giải pháp, nhiều con đường, nhiều “kênh” nhưng “kênh” rất quan trọng và hiệu quả là tác động của văn hóa, văn nghệ dân gian. Sự hình thành đạo đức, nếp sống, lối sống của con người thông qua môi trường của gia đình, cộng đồng nhóm trong xã hội, nhà trường, hệ thống thông tin đại chúng,… Nhưng môi trường gia đình và cộng đồng nhóm xã hội đóng vai trò rất quan trọng. Hạt nhân của nếp sống, phong tục tập quán là ứng xử. Ứng xử là những lề lối hành động, suy nghĩ cảm thụ của mỗi dạng vai trò xã hội trước một tình huống nào đó[5]. Các ứng xử tuân theo một quy tắc, chuẩn mực tạo thành khuôn mẫu ứng xử. Khuôn mẫu ứng xử là các hành động ứng phó và xử lý được lặp lại nhiều lần lâu bền ở đa số các cá nhân trong cộng đồng xã hội[6]. Khuôn mẫu ứng xử định hướng, chi phối hành động của đa số cá nhân. Nó trở thành mẫu mực chỉ dẫn cho cả cá nhân và cộng đồng tuân theo và áp dụng cả chế tài thưởng phạt. Trong các cộng đồng xã hội có nhiều loại khuôn mẫu ứng xử nhưng có ba loại khuôn mẫu chính mà muốn tác động, xây dựng con người phải coi trọng: – Tập quán là các thói quen được lặp đi lặp lại trong thời gian ở cá nhân hay ở một cộng đồng xã hội. Tuy nhiên tập quán là những khuôn mẫu chuẩn mực đáng noi theo nhưng không chịu sức ép lớn của các chế tài của xã hội. – Phong tục là các tập quan đã định hình trong quá trình tuyển chọn của thời gian và không gian. Phong tục được cả cộng đồng chấp thuận, tuân theo. Vi phạm phong tục là xúc phạm đến cộng đồng, cộng đồng có chế tài nghiêm khắc trừng phạt người vi phạm. Vì vậy, phong tục còn được coi là luật tục. – Cấm kỵ là những khuôn mẫu ứng xử đặc biệt đối với mỗi làng, vùng hoặc tộc người. Những điều cấm kỵ này mang tính cưỡng chế mạnh mẽ, thậm chí linh thiêng, không một thành viên nào được vi phạm. Trong xã hội truyền thống, các khuôn mẫu ứng xử văn hóa đã tạo thành “cương lĩnh” chung của cộng đồng, góp phần định hình đạo đức, nhân cách con người. Đồng thời thông qua các khuôn mẫu ứng xử, cộng đồng tăng cường khả năng quản lý các thành viên, quản lý xã hội. Văn hóa, văn nghệ dân gian đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành các tập quán, phong tục, nếp sống của người dân, của cộng đồng. Từ khi cất tiếng khóc chào đời đến khi nhắm mắt xuôi tay, mỗi thành viên đều đắm mình trong dòng suối dân ca với những lời răn dạy về chuẩn mực đạo đức được thể hiện qua các hình thức: hát ru, hát đồng dao, hát giao duyên, hát trong lễ cưới, hát kể trong lễ tang,… Đồng thời mỗi thành viên còn được cả một hệ thống phong tục tập quán định hướng, buộc tuân theo như phong tục theo chu kỳ đời người (sinh đẻ, cưới xin, tang ma), tập quán ứng xử trong cộng đồng làng, dòng họ, gia đình, tập quan phong tục ứng xử với môi trường thiên nhiên… Toàn bộ các khuôn mẫu ứng xử, các chuẩn mực này đều được hình thành theo cơ chế dân gian (được truyền dạy bằng truyền miệng, thực hành) và là các thành tố loại hình văn hóa, văn nghệ dân gian. Mặt khác, văn hóa dân gian còn góp phần xây dựng các chế tài xử phạt, hoặc khuyến khích khen thưởng là cộng đồng. Các chế tài này thể hiện qua hương ước, luật tục, tập quán pháp, cấm kỵ… Đặc biệt là dư luận của cộng đồng đã bùng nổ, gây sức ép chặt chẽ đối với các thành viên vi phạm. Dư luận của cộng đồng được lan truyền qua cơ chế văn hóa dân gian (truyền miệng) đã tạo sức ép buộc các thành viên phải tuân theo khuôn mẫu ứng xử. Dư luận cũng góp phần điều chỉnh các hành vi, ứng xử của mỗi thành viên và buộc họ phải tuân theo. Như vậy, văn hóa văn nghệ dân gian thông qua các môi trường cộng đồng (gia đình, dòng họ, làng xóm, tộc người,…) tác động đến việc hình thành các ứng xử của mỗi thành viên. Sự tác động này khá chặt chẽ ở cả 3 công đoạn là định hướng chuẩn mực, tạo thành khuôn mẫu ứng xử và tạo ra chế tài thực thi giám sát. Đây là mô hình hình thành nhân cách, tạo ra nếp sống và quản lý xã hội chặt chẽ của văn hóa dân gian. Hiện nay, trong xã hội đương đại bên cạnh vai trò văn hóa dân gian tác động, quản lý còn có các yếu tố mới đang hình thành như vai trò của truyền thông đại chúng, vai trò của nhà trường, luật pháp,… Nhưng vai trò của văn hóa, văn nghệ dân gian với việc xây dựng nhân cách, đạo đức nếp sống và quản lý xã hội vẫn giữ vị trí quan trọng trong phát triển bền vững. Đặc biệt, trong phát triển bền vững, vai trò của con người, vai trò của gia đình được đề cao thì vai trò của văn hóa dân gian với việc hình thành nhân cách, đạo đức cũng ngày càng phát triển. Thời gian  các kỳ nghỉ được dài hơn, thời gian rỗi hàng ngày, hàng tuần cũng tăng, do đó các sinh hoạt mang tính chất câu lạc bộ theo nhóm sở thích cũng được tổ chức thường xuyên và đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần. Ở đây nhiều sinh hoạt văn hóa, nếp sống, vui chơi,… cũng hoạt động theo cơ chế dân gian. Như vậy, trong phát triển bền vững, khi con người đứng ở vị trí trung tâm, các yếu tố văn hóa dân gian ngày càng được khơi dậy và phát huy. 2. Văn hóa, văn nghệ dân gian với vấn đề bảo vệ môi trường Bảo vệ môi trường là một trong 3 trụ cột chính để phát triển bền vững. Bảo vệ môi trường càng đặt ra cấp bách hơn khi nước ta đang phải đối mặt với khủng hoảng sinh thái trên phạm vi toàn quốc và toàn cầu. Sau 30 năm chiến tranh tiếp theo là giai đoạn khai phá rừng ồ ạt, diện tích rừng của Việt Nam thu hẹp khá nhanh. Hơn 80 triệu lít chất diệt cỏ, cùng 13 triệu tấn bom đạn dội xuống đất nước đã tiêu hủy hơn 2 triệu ha rừng nhiệt đới. Đầu năm 1980, Viện điều tra quy hoạch rừng cho biết, cả nước chỉ còn 7,8 triệu ha rừng, nhiều địa phương, diện tích rừng tự nhiên còn lại rất thấp như ở Lai Châu chỉ còn 7,88%, ở Sơn La còn 11,95% và Lào Cai chỉ còn 5,38%. Hiện nay, nạn khai phá rừng bừa bãi, gây nên cháy rừng, rừng bị tàn phá vẫn còn cao. Trong 6 tháng đầu năm 2011, theo báo cáo của kiểm lâm, toàn quốc có 997,41 ha rừng bị tàn phá. Các tỉnh Tây Nguyên có rừng bị tàn phá nhiều nhất, như Đắk Lắc có 234,96 ha, Đắk Nông có 172,09 ha Lâm Đồng có 153,06 ha rừng bị tàn phá[7]. Đồng thời hậu quả của biến đổi khí hậu diễn ra thường xuyên: lũ lụt, lũ quét, hạn hán, cạn kiệt nguồn nước, sông ngòi,… Trước thực trạng môi trường tự nhiên bị tàn phá như vậy, Hội Văn nghệ Dân gian chú trọng nghiên cứu các mô hình ứng xử với thiên nhiên, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường. Nhiều hội viên Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam hưởng ứng nghiên cứu có kết quả. Ngay từ thập kỷ 80, giáo sư Từ Chi và các cộng sự đã triển khai nghiên cứu các vùng cảnh quan sinh thái đồng bằng Bắc Bộ. Các đề tài nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu sự thích nghi và sáng tạo của người Việt với các loại hình cảnh quan đặc biệt như vùng đồi núi trung du, vùng trũng, vùng cửa sông… Từ đó khái quát lên các mô hình ứng xử với môi trường tự nhiên. Từ thập kỷ 90 đến đầu thế kỷ 21, một số nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đã tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam với môi trường tự nhiên. Trong đó, nổi bật nhất là các công trình của giáo sư Trần Quốc Vượng (1994, 1998, 1999, 2005). Các công trình này đã nêu bật những đặc điểm cơ bản trong quan hệ giữa con người Việt Nam với môi trường sông nước, biển, núi Việt Nam. Từ đó phát hiện các mô hình đô thị ven biển, đô thị ở ngã ba sông… Đồng thời các công trình nghiên cứu cũng khái quát một số quy luật quan hệ với thiên nhiên của người Việt, gợi mở cho quan điểm phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên. Tiếp theo xu hướng nghiên cứu và ứng xử của con người Việt Nam với môi trường được một số nhà nghiên cứu triển khai mở rộng như Nguyễn Viết Chức (2002) nghiên cứu về ứng xử với thiên nhiên của người Hà Nội, Nguyễn Thanh Tuấn (2008) khái quát về thực trạng, văn hóa ứng xử,… Bên cạnh xu hướng nghiên cứu mang tính chất cơ bản trên, các hội viên Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam cùng các nhà khoa học triển khai nhiều chương trình nghiên cứu ứng dụng về tri thức dân gian với vấn đề quản lý, bảo vệ môi trường tự nhiên. Ngô Đức Thịnh đi sâu nghiên cứu khái niệm, vai trò của tri thức dân gian với vấn đề phát triển (1999), Phạm Quang Hoan đề cập đến vấn đề tri thức địa phương của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam với vấn đề quản lý xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường (2003). Từ năm 2000 đến nay, vấn đề nghiên cứu tri thức dân gian đã được coi trọng nghiên cứu ở 25 dân tộc có số đông người. Trong đó, riêng nghiên cứu về người Mường đã có 20 luận án thạc sĩ, tiến sĩ và các bài viết, cùng sách chuyên khảo. Tiêu biểu là công trình do Nguyễn Ngọc Thanh, Trần Hồng Thu (chủ biên) (2009). Năm 2008 các hội viên Văn nghệ Dân gian ở Viện Văn hóa Nghệ thuật và các ngành, các địa phương tập trung nghiên cứu các tri thức dân gian về sử dụng và quản lý đất, rừng, nguồn nước, các loài thực vật quan trọng… của 14 dân tộc. Từ các nghiên cứu này, các tác giả đã đề xuất nhiều khuyến nghị về xây dựng cơ chế bảo vệ rừng, các tri thức bản địa sử dụng nguồn nước, đất phù hợp với từng loại hình ở từng vùng, từng dân tộc… Các khuyến nghị bước đầu được vận dụng xây dựng chính sách giao đất giao rừng, chính sách quản lý rừng cộng đồng, sử dụng hợp lý các nguồn nước ở vùng cao… Đồng thời các nghiên cứu khoa học cũng cảnh báo về việc suy giảm tài nguyên môi trường và các nguồn tài nguyên khác do các chủ trương phát triển ồ ạt các dự án thủy điện nhỏ ở Tây Nguyên và miền núi phía Bắc, các dự án trồng cao su, khai quặng,… Các nghiên cứu của nhiều hội viên Văn nghệ Dân gian và các cơ quan khoa học thực sự đóng vai trò quan trọng cho việc hoạch định chính sách bảo vệ môi trường, phát triển bền vững ở miền núi.      Văn hóa Văn nghệ Dân gian với vấn đề phát triển kinh tế bền vững, góp phần xóa đói giảm nghèo. Đặc điểm nổi bật ở các tỉnh miền núi Việt Nam là tính đa dạng văn hóa. Mỗi một tỉnh miền núi đều có nhiều dân tộc cư trú khác nhau, có bản sắc văn hóa khác nhau tạo nên những nét đặc thù trong việc tiếp nhận chính sách mới phát triển kinh tế – xã hội. Tính đặc thù (do nhiều yếu tố văn hóa dân gian quy định) đã chi phối, ảnh hưởng đến phát triển. Công cuộc xóa đói giảm nghèo ở vùng người Hà Nhì khác xa với vùng người Tày, người Giáy. Các giải pháp xóa nạn mù chữ ở vùng người Hmông không giống với vùng người Dao. Vì vậy một vấn đề cấp bách đặt ra cần nghiên cứu văn hóa tộc người ảnh hưởng đến vấn đề phát triển, nghiên cứu sự đa dạng văn hóa, tính đặc thù của văn hóa chi phối đến công cuộc phát triển kinh tế bền vững ra sao. Thực tiễn ở miền núi, nhiều chính sách phát triển của nhà nước được thực thi làm thay đổi làng, bản vùng cao, đạt được nhiều thành tựu. Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đã đạt được, các chính sách này cũng bộc lộ một số mặt hạn chế mà nguyên nhân chủ yếu là không am hiểu văn hóa dân gian các tộc người. Chương trình 135 nhằm đầu tư cơ sở hạ tầng ở các xã vùng cao, nhưng ở một số nơi, ban quản lý dự án không tranh thủ được sự tham gia của cộng đồng hoặc bỏ qua tri thức dân gian trong việc làm đường, xây dựng hệ thống thủy lợi, nước ăn. Dẫn đến tình trạng các bể chứa nước, các hệ thống thủy lợi xây xong vẫn khô nước. Hoặc không nghiên cứu đặc điểm chợ vùng cao, xây dựng chợ theo mô hình thiết kế của chợ miền xuôi, chỉ coi trọng xây ki ốt để thu tiền, không có điểm bán hàng nông, lâm thổ sản rộng, không có nơi buộc ngựa,… Văn hóa dân gian ứng dụng nghiên cứu quá trình vận động của các thể loại nghệ thuật dân gian trong cuộc sống đương đại. Ở Việt Nam, vấn đề kế thừa, phát huy tiềm năng nghệ thuật dân gian chuyên nghiệp đang đặt ra yêu cầu cấp thiết. Từ một thành tố trong diễn xướng dân gian trở thành sản phẩm của nghệ thuật chuyên nghiệp đòi hỏi những yếu tố gì? Xây dựng các lễ hội hiện đại, các sự kiện văn hóa lớn trên cơ sở kế thừa lễ hội dân gian như thế nào, vấn đề quản lý lễ hội ra sao? Các vấn đề này đã có hội thảo khoa học quốc tế, có các luận án tiến sĩ đề cập đến nhưng khi vận dụng vào thực tiễn vẫn gặp nhiều khó khan. Tình trạng “gieo vừng ra ngô”, cải biên, cải tiến tràn lan vẫn là tình trạng phổ biến ở đời sống văn hóa nước ta và các nước đang phát triển. Ở lĩnh vực này đòi hỏi văn hóa dân gian ứng dụng cũng dày công nghiên cứu. Như vậy, cuộc sống đang đòi hỏi các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian trả lời các câu hỏi của thực tiễn. Hàng loạt vấn đề đặt ra đối với giới nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian và nghiên cứu Nhân học. Trước yêu cầu cấp thiết như vậy, Hội Văn nghệ Dân gian đã bước đầu chuyển hướng nghiên cứu, từ thế mạnh nghiên cứu cơ bản sang nghiên cứu văn hóa dân gian ứng dụng. Hội Văn nghệ Dân gian chủ trì tổ chức một số hội thảo khoa học như “Văn hóa dân gian đô thị” ở thành phố Hồ Chí Minh năm 2001, “Văn hóa sông nước miền Trung” năm 2007, “Văn hóa biển miền Trung và văn hóa biển Quảng Ngãi” năm 2007… Các hội thảo khoa học này cũng xuất hiện một số tham luận tiếp cận văn hóa sông nước, văn hóa đô thị dưới góc độ văn hóa, văn nghệ dân gian ứng dụng, khuyến nghị một số chính sách… Các hội viên Văn nghệ Dân gian ở các chi hội cũng tích cực nghiên cứu, tiếp cận văn hóa, văn nghệ dân gian dưới góc độ ứng dụng và phát triển. Văn hóa dân gian đô thị – một chuyên ngành của Văn hóa dân gian từ sau hội thảo “Văn hóa dân gian và sự phát triển văn hóa đô thị” của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam và trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh tổ chức năm 2001 đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu của các hội viên, các nhà nghiên cứu. Các công trình vừa nghiên cứu các thể loại văn hóa dân gian truyền thống đang vận hành trong xã hội đô thị mới, dưới sự tác động của cơ chế thị trường. Các thể loại này còn tác động đến đời sống kinh tế – xã hội thế nào? Đặc biệt là các vấn đề mối quan hệ giữa văn hóa trung tâm và văn hóa ngoại vi? Vấn đề di dân tự do và những tác động về đời sống văn hóa ở đô thị (Mạc Đường, Dân tộc học – Đô thị và vấn đề đô thị hóa, 2002). Một số tác giả nghiên cứu các chuyên khảo về các dân tộc ít người ở đô thị (Phú Văn Hẳn (chủ biên) 2005; Trần Hồng Liên (chủ biên) 2007; Vi Văn An, 2009). Văn hóa dân gian đô thị ở Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh cũng tác động đến nếp sống văn minh, tác động đến an toàn giao thông như thế nào cũng được một số tác giả đề cập (Ngô Đức Thịnh 2008, Nguyễn Văn Chính 2008, Võ Mai Phương 2008, Phạm Thành Thôi 2008, Huỳnh Đình Kết 2010…). Ở đây các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian không chỉ phân tích sâu về các hiện tượng văn hóa dân gian đang có xu hướng chuyển hóa và phát triển ở đô thị mà còn đề xuất các khuyến nghị, các giải pháp cho các nhà hoạch định chính sách. Nghiên cứu văn hóa dân gian đô thị đã đạt được một số kết quả khả quan. Các nhà văn hóa, văn nghệ dân gian đã tập trung nghiên cứu một số vấn đề cấp bách của thực tiễn: – Nghiên cứu các đặc trưng sinh hoạt văn hóa dân gian (tín ngưỡng, phong tục tập quán, nghệ thuật dân gian…) có tác động đến đời sống cư dân đô thị, cả tích cực và tiêu cực, từ đó đề ra các khuyến nghị, giải pháp. – Nghiên cứu các sinh hoạt quan hệ của các nhóm xã hội, các phường hát, câu lạc bộ, quan hệ dòng họ, đồng hương chi phối đến đời sống xã hội của cư dân đô thị. – Nghiên cứu những chợ phiên truyền thống, các loại hình kinh tế, phi chính thức (các nghề mọn, bán hàng quà bánh, “kinh tế vỉa hè”,…) ảnh hưởng đến kinh tế, nếp sống đô thị. – Nghiên cứu sự di dân, dịch chuyển văn hóa từ nông thôn vào thành thị hình thành các nhóm cư trú riêng biệt mang đặc trưng văn hóa tộc người, tôn giáo tộc người và các địa phương khác nhau… Như vậy, xu hướng đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng ở Việt Nam, sự tác động quá trình đô thị hóa với văn hóa dân gian và ngược lại đang là quá trình tác động hai chiều, ảnh hưởng đến phát triển bền vững. Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian không những sớm chủ động nghiên cứu mà còn có nhiêu đóng góp giải quyết những vấn đề phát triển của đô thị. Bên cạnh vấn đề nghiên cứu văn hóa dân gian đô thị, các hội viên văn nghệ dân gian rất chú trọng nghiên cứu các ngành nghề thủ công. Nghề thủ công ở Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng trong lịch sử kinh tế Việt Nam. Các sách chuyên khảo nghiên cứu về nghề thủ công đầu tiên ở Việt Nam là của học giả người Pháp (Charles Crevast, 1938) và một số nhà sử học Việt Nam (Duy Việt 1937 và Phạm Gia Bền, 1957). Nhưng thành tựu nổi bật cả về số lượng và chất lượng nghiên cứu là các tác phẩm của các hội viên Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam. Từ khi thành lập, Hội Văn nghệ Dân gian (1966) đến nay đã có hơn 35 đầu sách chuyên khảo và hàng trăm các luận án thạc sĩ, tiến sĩ về nghề thủ công. Trong đó nổi bật là GS. Trần Quốc Vượng và PGS. TS. Đỗ Thị Hảo đã có 8 chuyên luận về nghề thủ công. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu ngày càng mở rộng, từ nghề thủ công ở Hà Nội đến Huế và các địa phương, các dân tộc. Từ nghiên cứu dưới góc độ văn nghệ dân gian, sử học, dân tộc học mang tính chất cơ bản đến nghiên cứu ứng dụng và phát triển. Các công trình của GS. Trần Quốc Vượng – Đỗ Thị Hảo (2000, 2011), Bùi Xuân Đính (2009), Tôn Nữ Quỳnh Trân (2002), Trần Minh Yến (2004)… đã tiếp cận dưới góc độ văn hóa dân gian phát triển, không chỉ phân tích lịch sử nguồn gốc nghề thủ công mà còn đề ra các xu hướng phát triển, các yếu tố phát triển, đề xuất, khuyến nghị nhiều vấn đề về chiến lược, cơ chế, chính sách. Các công trình nghiên cứu của Hội Văn nghệ Dân gian thực sự đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng nông thôn mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay. Du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều tỉnh, thành phố. Tuy nhiên du lịch cũng tác động mạnh mẽ đến môi trường tự nhiên và văn hóa các dân tộc. Vì vậy định hướng phát triển du lịch bền vững vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu của du lịch. Phát triển du lịch bền vững vừa đảm bảo lợi ích của thế hệ hôm nay vừa không làm tổn hại lợi ích của thế hệ mai sau. Nhưng một điều quan trọng khác của phát triển du lịch bền vững là hài hòa được lợi ích giữa các đối tác cùng làm du lịch (người dân, du khách, doanh nghiệp,…). Phát triển du lịch gắn chặt với vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh quốc gia. Ngược lại, phát triển các ngành kinh tế khác cũng không gây hậu quả tiêu cực cho du lịch. Văn hóa, Văn nghệ dân gian có nhiều lợi thế nghiên cứu phát triển du lịch bền vững. Trước hết, muốn phát triển du lịch cần xác định văn hóa không chỉ là nguồn lực, tài nguyên mà còn là linh hồn của du lịch. Vì vậy, nghiên cứu Văn hóa, Văn nghệ dân gian sẽ đóng góp nhiều cho định hướng phát triển du lịch bền vững. Nhận thức rõ tầm quan trọng của nghiên cứu Văn hóa Văn nghệ Dân gian, từ đầu thế kỷ 21 đến nay, các chi hội, các hội viên của Hội đã có nhiều đóng góp giải pháp khuyến nghị cho du lịch phát triển, đồng thời một số cơ sở Hội còn trực tiếp xây dựng các mô hình nghiên cứu Văn hóa Dân gian ứng dụng vào du lịch. Ngày 11 tháng 4 năm 2004, tại vùng du lịch Sa Pa, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam đã phối hợp với Sở Văn hóa, Thông tin, Thể thao tỉnh Lào Cai tổ chức hội thảo khoa học “Văn hóa dân gian và Du lịch – Những vấn đề lý luận, thực tiễn”. Hội thảo đã đề cập đến mối quan hệ giữa tính đặc thù của văn hóa dân gian các dân tộc thiểu số với du lịch, xác định nhiều loại hình văn hóa dân gian là nguồn lực của du lịch. Đồng thời hội thảo cũng chỉ ra những tệ nạn ở vùng du lịch chưa quan tâm đến lợi ích của cư dân bản địa như nạn chèo kéo khách, nạn làm giả các sản phẩm thủ công truyền thống, hoặc đóng giả lễ hội… Đặc biệt hội thảo cũng đề ra các khuyến nghị về nguyên tắc phát triển du lịch bền vững, định hướng xây dựng các mô hình du lịch cộng đồng phù hợp với đặc điểm văn hóa dân gian của từng tộc người, phát triển các sản phẩm du lịch mới mang đậm dấu ấn văn hóa dân gian. Sau hội thảo khoa học ở Sa Pa, các nhà nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian đã tiến hành điền dã, nghiên cứu văn hóa dân gian ứng dụng trong du lịch, đồng thời vận dụng kiến thức nghiên cứu xây dựng các mô hình, các sản phẩm du lịch mới ở vùng dân tộc thiểu số. Về nghiên cứu, các hội viên, các nhà khoa học tập trung nghiên cứu một số lĩnh vực cụ thể như sau: – Bản sắc văn hóa tộc người là nguồn lực du lịch (Tô Ngọc Thanh 2004, Ngô Đức Thịnh 2004, Dương Văn Sáu 2004, Đoàn Huyền Trang 2009, Trương Thanh Hùng 2011)… – Tác động của du lịch đến văn hóa tộc người (Trần Hồng Liên 2006, Phan Yến Tuyết 2006, Phạm Quỳnh Phương 1998, 2005, Trần Thùy Dương 2008…) – Xây dựng mô hình, phát triển sản phẩm mới (Trần Hữu Sơn 2004, 2010; Phạm Khiêm 2009, Đặng Thị Oanh 2010,…) Đặc biệt, Trần Thúy Anh đã xuất bản hai công trình nghiên cứu về du lịch văn hóa, góp phần sáng tỏ các luận điểm về phát triển du lịch văn hóa (Ứng xử văn hóa trong du lịch (chủ biên), 2004 và Du lịch văn hóa những vấn đề lý luận). Trên cơ sở nghiên cứu lý luận một số hội viên, chi hội Văn nghệ Dân gian ở các tỉnh Hòa Bình, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Kiên Giang,… còn tham gia xây dựng các mô hình, sản phẩm du lịch. Nổi bật là chi hội Văn nghệ Dân gian Lào Cai đã tổ chức nghiên cứu tham gia đề án “Bảo tồn di sản văn hóa phát triển du lịch”. Lào Cai đã nghiên cứu đặc trưng văn hóa dân gian ở các dân tộc Hmông, Dao, Tày, Giáy, Nùng; xây dựng thành các làng du lịch cộng đồng hiệu quả. Các làng du lịch này đều lựa chọn các nguồn lực văn hóa dân gian độc đáo xây dựng thành các sản phẩm đáp ứng nhu cầu tham quan, ăn nghỉ, trải nghiệm, mua sắm của du khách. Làng du lịch Bản Dền của dân tộc Tày ở Sa Pa đầu tư các ngôi nhà sàn thành các nhà nghỉ cộng đồng với phong cách hiếu khách và trang bị chăn đệm, gối truyền thống. Kết hợp thưởng thức phong cảnh đẹp, mua thổ cẩm Tày, xem văn nghệ dân gian… làng Bản Dền từ năm 2006 đến 2009, mỗi năm đón từ 12000 – 15000 du khách quốc tế. Thu nhập bình quân mỗi hộ từ 50 triệu đến 100 triệu đồng/năm. Làng du lịch Cát Cát ở xã San Sả Hồ, huyện Sa Pa khôi phục nghề thêu, in sáp ong làm thổ cẩm, nghề rèn đúc, chạm khắc bạc kết hợp với các sinh hoạt văn nghệ dân gian đặc sắc của người Hmông nên năm 2010 đã đón 142.855 lượt khách du lịch, doanh thu 3,127 tỉ đồng. Năm 2011, chỉ tính riêng 10 tháng đầu năm làng Cát Cát đã đón 128.960 lượt du khách, doanh thu 3.368.585.000 đồng. Du khách đến làng được trải nghiệm làm cô gái Hmông, làm thợ rèn, thợ thêu, thợ dệt,…[8]. Đặc biệt nhờ xây dựng mô hình làng văn hóa du lịch, các  di sản văn hóa dân gian của đồng bào các dân tộc được bảo tồn. Hàng năm các lễ hội Gioóng boọc của người Giáy, hội Gầu Tào của người Hmông, hội Đền Thượng, hội đền ông Hoàng Bẩy của người Kinh trở thành lễ hội du lịch đón hàng nghìn đến hàng vạn du khách tham quan. Các lễ hội cũng có xu hướng mở rộng quy mô trở thành lễ hội của cả vùng, cả huyện, tỉnh. Các nghề thủ công bị mai một được phục dựng như nghề chạm khắc bạc của người Dao, thêu thổ cẩm của người Xá Phó,… Hàng loạt cây con, ngành nghề của đồng bào dân tộc ở Lào Cai được quảng bá, xây dựng thương hiệu trở thành đặc sản, tăng giá trị kinh tế gấp nhiều lần. Điển hình như các loại rượu Sán Lùng người Dao, rượu Bắc Hà người Hmông ở Bắc Hà, tương ớt của người Nùng Dín Mường Khương, su su Sa Pa, nấm hương Sa Pa, thuốc tắm Sa Pa,… Ngay các di tích lịch sử cũng được quảng bá trở thành điểm tham quan du lịch hấp dẫn. Đền Thượng, Đền Mẫu ở thành phố Lào Cai hàng năm đón hơn ba chục vạn khách, thu được từ 5 đến 7 tỷ đồng. Đền Bảo Hà thu được hơn 10 tỷ đồng phục vụ du khách. Không chỉ có hiệu quả kinh tế mà công cuộc xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới cũng được nâng cao ở điểm, tuyến du lịch Lào Cai. Như vậy, các sinh hoạt văn hóa dân gian thường ngày của đồng bào các dân tộc nhờ nghiên cứu ứng dụng đã trở thành nguồn lực du lịch hấp dẫn.   Kết luận 1. Văn hóa, văn nghệ dân gian trong thời kỳ đổi mới và hội nhập có xu hướng phát triển mạnh loại hình văn hóa dân gian ứng dụng, phục vụ hiệu quả công cuộc phát triển bền vững. 2. Văn hóa, văn nghệ dân gian không chỉ góp phần bồi đắp, giữ gìn bản sắc văn hóa thông qua sự trao truyền bảo tồn nếp sống ở mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc mà còn phát huy lợi thế về đặc thù nghiên cứu trở thành một ngành khoa học ứng dụng ở đô thị, nông thôn, góp phần phát triển ngành nghề thủ công, du lịch. 3. Vai trò của người nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian cũng chuyển đổi từ người say mê sưu tầm vốn cổ trở thành nhà tư vấn cho các doanh nghiệp du lịch. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian còn trở thành người tham gia đánh giá, thẩm định các chính sách, đưa ra các khuyến nghị phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội theo hướng bền vững.  Tài liệu tham khảo chủ yếu 1. Trần Thúy Anh (chủ biên), 2004, Ứng xử văn hóa trong du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Nguyễn Viết Chức (chủ biên) 2002, Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 2. Bùi Minh Đạo (2011), Thực trang phát triển Tây Nguyên và một số vấn đề phát triển bền vững, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 3. Bùi Xuân Đính (chủ biên) 2009, Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) – Truyền thống và biến đổi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 4. Trương Thanh Hùng (2011), Văn hóa dân gian đảo Phú Quốc, Hội Văn nghệ Kiên Giang xuất bản. 5. Nguyễn Xuân Kính (2003), Con người, môi trường và văn hóa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 6. Trần Hồng Liên (chủ biên, 2007), Văn hóa người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học xã hội 7. Trần Ngọc Ngoạn (chủ biên, 2008), Phát triển nông thôn bền vững – Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 8. Lê Văn Sáu (2004), Lễ hội Việt Nam trong việc phát triển du lịch, Đại học Văn hóa Hà Nội xuất bản. 9. Trần Hữu Sơn (2004), Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở vùng cao, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội. 10. Hà Huy Thành, Nguyễn Ngọc Khánh (đồng chủ biên, 2009), Phát triển bền vững từ quan niệm đến hành động, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 11. Nguyễn Ngọc Thanh, Trần Hồng Thu (chủ biên 2009), Tri thức địa phương của người Mường trong sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 12. Ngô Đức Thịnh (1995), Tri thức dân gian và sự phát triển, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 9, trang 70. 13. Nguyễn Thanh Tuấn (2008), Văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay, Nxb Từ điển Bách khoa và Viện Văn hóa. 14. Phan Thị Yến Tuyết (2006), Nhân học ứng dụng và việc ứng dụng kiến thức của nó vào ngành du lịch Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Nhân học ứng dụng của Trung tâm Nhân học ứng dụng, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh. 15. Trần Quốc Vượng, Đỗ Thị Hảo (2000), Làng nghề, phố nghề Thăng Long – Hà Nội, Trung tâm Triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam xuất bản.

Tính Nguyên Hợp Và Tính Đa Chức Năng Của Văn Học Dân Gian

Nguyên hợp chỉ trạng thái khởi đầu, nhất nguyên, chưa phân tách của mọi hiện tượng tự nhiên, xã hội. Trong sáng tạo nghệ thuật, ” nguyên hợp chỉ sự hòa lẫn làm một ở thời kì đầu của các loại hình sáng tạo văn hóa”

Sở dĩ văn học dân gian có tính nguyên hợp là do văn học dân gian ra đời từ rất sớm (có thể vào đầu thời kỳ công xã nguyên thủy) nên nó tất yếu mang đặc điểm của trạng thái khởi đầu. Hơn nữa, văn học dân gian là những sáng tạo tinh thần phản chiếu kiểu tư duy nguyên hợp của con người thời nguyên thủy. Vì vậy có thể xem đặc trưng nguyên hợp như là bản chất của văn học dân gian

Nếu hiểu ” nguyên hợp là sự hòa lẫn làm một” của những trạng thái khởi nguyên thì đặc trưng này của văn học dân gian được biểu hiện qua các nội dung sau:

Thứ nhất, tính nguyên hợp thể hiện ở môi trường tồn tại của văn học dân gian. Hoạt động diễn xướng văn học dân gian trong suốt quá trình ra đời và tồn tại chưa từng tách rời các hoạt động của đời sống, từ hoạt động nhận thức đến hoạt động tâm linh, từ lao động sản xuất đến sinh hoạt nghi lễ…

Thứ hai, tính nguyên hợp thể hiện ở sự chưa tách rời các loại hình nghệ thuật. Văn học dân gian, tức thành phần ngôn từ trong các sáng tác dân gian có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với các loại hình nghệ thuật khác như âm nhạc, vũ đạo, tạo hình, trong đó, ngôn từ là chất liệu, là phương tiện chủ yếu. Sự dung hợp vốn có, tự nhiên, nhịp nhàng này đã tạo nên hiệu quả biểu đạt thẩm mĩ cho tác phẩm văn học dân gian.

Thứ ba, tính nguyên hợp thể hiện ở sự nhất nguyên các dạng thức văn hóa tinh thần như tín ngưỡng, tôn giáo, tập quán… Đây chính là khởi nguồn của hiện tượng nhập nhằng, giao thoa giữa các thể loại văn học dân gian. Chẳng hạn trường hợp “Con rồng cháu tiên” hay “Sơn Tinh, Thủy Tinh”.

Tính nguyên hợp là đặc trưng phổ quát, có thể xem là bản chất của văn học dân gian. Nó làm nảy sinh và chi phối mạnh mẽ đến các đặc điểm, đặc trưng khác của văn học dân gian.

Trong đó, tính đa chức năng là một hệ quả.

+ Đứng trong hệ quy chiếu văn học, văn học dân gian cũng như văn học viết, có các chức năng nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ. Tuy nhiên, do đặc thù, văn học dân gian còn có thêm chức năng sinh hoạt. “Trong văn học dân gian, chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mĩ và chức năng sinh hoạt hợp thành một thể thống nhất”

+ Về chức năng nhận thức, văn học dân gian được xem như “bộ bách khoa toàn thư về kiến thức (…), tôn giáo, triết học” của nhân dân2. Văn học dân gian gìn giữ và lưu truyền hệ thống tri thức tự nhiên; xã hội; tâm linh; kinh nghiệm sinh sống, ứng xử… Văn học dân gian là người thầy lớn đem lại cho nhân loại những bài học sinh động, gần gũi và sâu sắc về mọi phương diện của đời sống.

+ Về chức năng giáo dục, văn học dân gian có khả năng định hướng đạo đức, luân lí cho con người trong đời sống xã hội. Chức năng này gần gũi và có sự giao thoa với phương diện xã hội của chức năng nhận thức. Tuy nhiên, nếu chức năng nhận thức là sự phản ánh các hiện tượng xã hội một cách khách quan thì chức năng giáo dục lại là sự tác động, ảnh hưởng, chi phối cả trực tiếp lẫn gián tiếp đến cộng đồng. Có những tác phẩm, nhiều nhất thuộc thể loại hát nói, mang nghĩa giáo dục trực tiếp, tức ý nghĩa giáo dục được thể hiện một cách tường minh. Song, phần lớn các sáng tác dân gian chứa đựng ý nghĩa giáo dục hàm ẩn, tức mang nghĩa giáo dục gián tiếp.

+ Về chức năng thẩm mĩ, văn học dân gian là nghệ thuật, là quan niệm thẩm mĩ của cộng đồng, nó mang chứa vẻ đẹp hồn hậu, giản mộc và sâu sắc của nhân dân. Mang bản chất nguyên hợp, văn học dân gian chỉ thực sự phô diễn vẻ đẹp của mình khi sống trong môi trường nảy sinh và tồn tại, tức thành phần nghệ thuật ngôn từ phải được kết nối với thành phần nghệ thuật âm nhạc, vũ đạo… trong môi trường diễn xướng.

+ Về chức năng sinh hoạt, khác biệt với văn học viết, văn học dân gian ra đời và trở thành một bộ phận hữu cơ trong môi trường sinh hoạt và lao động của nhân dân. Văn học dân gian gắn bó mật thiết với cuộc đời mỗi người xuyên suốt “từ chiếc nôi ra tới nấm mồ”. Môi trường và thói quen sinh hoạt của nhân dân là điều kiện quan trọng cho văn học dân gian hình thành và phát triển.

Như vậy, tính đa chức năng của văn học dân gian luôn được thể hiện trong sự phối hợp thống nhất giữa các chức năng, một hệ quả trực tiếp của đặc trưng nguyên hợp. Giá trị thẩm mĩ của hệ thống sáng tác dân gian văn học sẽ được minh định sáng rõ hơn khi kết hợp điểm nhìn nguyên hợp với tính đa chức năng cùng các đặc trưng khác.

Ths.Đàm Nghĩa Hiếu

Những Đặc Trưng Của Văn Học Dân Gian

Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay.

Ở Việt Nam, 3 thuật ngữ sau đây được xem là tương đương : Văn học dân gian, sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân, folklore ngôn từ ( folkore văn học ).

Một số khái niệm xuất hiện trước những năm năm mươi như văn học (văn chương) bình dân , văn học (văn chương) truyền khẩu (truyền miệng),văn học (văn chương) đại chúng. Những khái niệm này nay không dùng nữa.

Ở Việt Nam, thuật ngữ này được dịch là văn hóa dân gian với những ý nghĩa sau :

a.Nghĩa rộng : bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần do dân chúng sáng tạo (folk culture). Theo cách hiểu này, văn hoá dân gian là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, kể cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đồng thời nó cũng là đối tượng nghiên cứu của văn hoá học

b.Nghĩa hẹp : Những sáng tạo của dân chúng mang tính nghệ thuật. Theo nghĩa hẹp, văn hóa dân gian gồm ba thành tố : Nghệ thuật ngữ văn dân gian (tức văn học dân gian), nghệ thuật tạo hình dân gian , nghệ thuật diễn xướng dân gian.

c.Nghĩa chuyên biệt : folklore là văn học dân gian, theo đó tác phẩm folklore là hình thức ngôn từ gắn với nhạc, vũ, kịch chúng tôi tập thể dân chúng sáng tác.Cũng có thể dùng thuật ngữ folklore văn học để chỉ văn học dân gian đồng thời phân biệt nó với các đối tượng khác cũng thuộc phạm trù folklore – văn hoá văn dân gian .

II.ÐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN : 1.Tính nguyên hợp của văn học dân gian :

– Tính nguyên hợp của văn học dân gian biểu hiện ở sựû hòa lẫn những hình thức khác nhau của ý thức xã hội trong các thể loại của nó. Có thể nói rằng, văn học dân gian là bộ bách khoa toàn thư của nhân dân. Tính nguyên hợp về nôi dung của văn học dân gian phản ánh tình trạng nguyên hợp về ý thức xã hôi thời nguyên thuỷ, khi mà các lãình vực sản xuất tinh thần chưa được chuyên môn hoá. Trong các xã hội thời kỳ sau, mặc dù các lãnh vực sản xuất tinh thần đã có sự chuyên môn hoá nhưng văn học dân gian vẫn còn mang tính nguyên hợp về nội dung. Bởi vì đại bộ phận nhân dân , tác giả văn học dân gian , không có điều kiện tham gia vào các lãnh vực sản xuất tinh thần khác nên họ thể hiện những kinh nghiệm , tri thức , tư tưởng tình cảm của mình trong văn học dân gian, một loại nghệ thuật không chuyên.

-Về loại hình nghệ thuật : Tính nguyên hợp của văn học dân gian biểu hiện ở chỗ : Văn học dân gian không chỉ là nghệ thuật ngôn từ thuần túy mà là sự kết hợp của nhiều phương tiện nghệ thuật khác nhau. Sự kết hợp này là tự nhiên, vốn có ngay từ khi tác phẩm mới hình thành. Một bài dân ca trong đời sống thực của nó , không chỉ có lời mà còn có nhạc, điệu bộ, lề lối hát…

– Biểu hiện cụ thể của tính nguyên hợp là tính biểu diễn. Văn học dân gian có ba dạng tồn tại: tồn tại ẩn (tồn tại trong trí nhớ của tác giả dân gian) , tồn tại cố định ( tồn tại bằng văn tự ), tồn tại hiện ( tồn tại thông qua diễn xướng). Tồn tại bằng diễn xướng là dạng tồn tại đích thực của văn học dân gian . Tuy nhiên ,không thể phủ nhận hai dạng tồn tại kia; bởi vì như vậy sẽ dẫn tới phủ nhận khoa học về văn học dân gian và công việc giảng dạy văn học dân gian trong nhà trường. Trở lại vấn đề,chính trong biểu diễn , các phương tiện nghệ thuật của tác phẩm văn học dân gian mới có điều kiện kết hợp với nhau tạo nên hiệu quả thẩm mỹ tổng hợp. Sự kết hợp này một mặt là biểu hiện của tính nguyên hợp, một mặt là lẽ tồn tại của tính nguyên hợp.

2.Tính tập thể của văn học dân gian :

Văn học dân gian là sáng tác của nhân dân, nhưng không phải tất cả nhân dân đều là tác giả của văn học dân gian. Cần chú ý vai trò của cá nhân và quan hệ giữa cá nhân với tập thể trong quá trình sáng tác, biểu diễn, thưởng thức tác phẩm văn học dân gian.

Tính tập thể thể hiện chủ yếu trong quá trình sử dụng tác phẩm. Vấn đề quan trọng ở chỗ nó được mọi người biểu diễn, thưởng thức hay không, nó đã đạt mức thành tựu hay không. Trong quá trình đó, tập thể nhân dân tham gia vào công việc đồng sáng tạo tác phẩm

Quan hệ giữa truyền thống và ứng tác là hệ quả của mối quan hệ giữa các nhân và tập thể. Truyền thống văn học dân gian một mặt là cái vốn giúp nghệ nhân dân gian ứng tác( sáng tác một cách chớp nhoáng mà không có sự chuẩn bị trước) dễ dàng, một mặt qui định khuôn khổ cho việc sáng tác. Ứng tác đến lượt nó sẽ cung cấp những đơn vị làm giàu cho truyền thống

3.Văn học dân gian – một loại nghệ thuật gắn liền với sinh hoạt của nhân dân :

Văn học dân gian nảy sinh và tồn tại như một bộ phận hợp thành của sinh hoạt nhân dân. Sinh hoạt nhân dân là môi trường sống của tác phẩm văn học dân gian. Tác phẩm văn học dân gian có tính ích dụng .Bài hát ru gắn với việc ru con ngủ- một hình thức sinh hoạt gia đình; Ngược lại, việc đưa con ngủ thường không thể thiếu lời ru. Tương tự, những bài dân ca nghi lễ, các truyền thuyết gắn với tín ngưỡng, lễ hội…Từ đặc trưng này mà văn học dân gian có tính đa chức năng , trong đó, đặc biệt là chức năng thực hành sinh hoạt

III.VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HỌC THÀNH VĂN : 1.Văn học dân gian và văn học thành văn ( văn học viết )

Ðiểm chung : Văn học dân gian và văn học viết cùng là loại hình nghệ thuật ngôn từ. Từ điểm chung này mà khoa học về văn học dân gian có thể sử dụng những nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu văn học để nghiên cứu văn học dân gian ở một mức độ nào đó. Chẳng hạn, có thể miêu tả các thành phần của tác phẩm như cốt truyện, nhân vật, cấu trúc…

Những đặc trưng loại biệt của văn học dân gian so với văn học viết :

+ Văn học dân gian là sáng tác tập thể. (văn học viết là sáng tác của cá nhân)

+ Văn học dân gian chỉ tồn tại thực tế khi diễn xướng nên có khả năng biến đổi, do vậy, nó có các dị bản. (văn học viết cố định trong văn bản và chỉ có một bản duy nhất)

+ Văn học dân gian là thành phần hữu cơ của các hình thức sinh hoạt của nhân dân.

2.Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết :

Văn học dân gian là nền tảng của văn học viết, là chặng đầu của nền văn học dân tộc. Khi chưa có chữ viết, nền văn học dân tộc chỉ có văn học dân gian; khi có chữ viết nền văn học này bao gồm hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết

Văn học viết chịu ảnh hưởng văn học dân gian về nhiều phương diện, từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật. Ví dụ: Truyền thuyết Thánh Gióng đã mở đầu cho dòng văn học yêu nước, chống xâm lược trong nền văn học dân tộc. Thể thơ lục bát, thể thơ được thi hào Nguyễn Du sử dụng một cách tài tình, bắt nguồn từ bộ phận văn vần dân gian…

Văn học viết cũng có ảnh hưởng trở lại đối với văn học dân gian trên một số phương diện . Chẳng hạn , tác giả dân gian đã đưa những chất liệu văn học viết vào ca dao ( những nhân vật trong Truyện Kiều , Lục Vân Tiên …)

Mối quan hệ giữa văn học dân gian với văn học cũng như vai trò, ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học thể hiện trọn vẹn hơn cả ở lĩnh vực sáng tác và ở bộ phận thơ văn quốc âm. Có thể nói , mảng truyện thơ Nôm khuyết danh là sự gặp gỡ của hai bộ phận văn học dân tộc.

IV. PHÂN LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN : 1.Phân loại văn học dân gian :

Khung phân loại văn học dân gian gồm 3 cấp cơ bản : Loại, thể loại, biến thể của thể loại. Ngoài ra, giữa loại và thể loại còn có cấp trung gian là nhóm thể loại.

a.Loại tự sự :

a.1 Văn xuôi tự sự: Thần thọai, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười và truyện ngụ ngôn.

a.2 Thơ ca tự sự : Sử thi, các loại vè, truyện thơ.

a.3 Câu nói vần vè: Tục ngữ, câu đố, câu phù chú.

b.Loại trữ tình :

b.1 Thơ ca trữ tình nghi lễ:

– Bài ca nghi lễ lao động.

– Bài ca nghi lễ sinh hoạt.

– Bài ca nghi lễ tế thần

b.2 Thơ ca trữ tình phi nghi lễ:

– Bài ca lao động.

– Bài ca sinh hoạt.

– Bài ca giao duyên.

c.Loại kịch :

Bao gồm ca kịch và trò diễn dân gian: chèo sân đình , tuồng đồ, những trò diễn có tích truyện.

2.Hệ thống thể loại :

Hệ thống thể loại văn học dân gian là một chỉnh thể. Ðây là một hệ thống chịu sự chi phối của mỹ học dân gian để cho các tác phẩm thuộc mọi thể loại của nó đều mang ” tính dân gian “. Mặt khác , giữa các thể loại của hệ thống lại có quan hệ với nhau .

V .KHOA HỌC VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ DÂN TỘC HỌC

1.Khoa học về văn học dân gian :

Khoa học về văn học dân gian nghiên cứu tác phẩm văn học dân gian, sinh hoạt văn học dân gian, tác giả và công chúng văn học dân gian. Trong đó, tác phẩm văn học dân gian là đối tượng chính. Tác phẩm văn học dân gian ở đây là một chỉnh thể gồm lời, nhạc, điệu bộ…Khoa nghiên cứu văn học dân gianï gồm các phân môn sau :Lý luận văn học dân gian, Lịch sử văn học dân gian, Phương pháp luận nghiên cứu văn học dân gian.Và bộ phận đặc thù là công tác sưu tầm văn học dân gian.

2.Khoa học về văn học dân gian và dân tộc học :

Văn học dân gian, một thành tố của văn hóa dân gian là đối tượng nghiên cứu của dân tộc học.

Nhiều thể loại văn học dân gian phát sinh từ xã hội công xã nguyên thủy và ngay cả văn học dân gian ở các giai đoạn phát triển sau này luôn bị quy định bởi các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian. Do vậy cần dựa vào dân tộc học để nghiên cứu. Chẳng hạn truyện Sao Hôm, sao Mai, Sự tích trầu cau là tiếng vọng xa xôi của chế độ quần hôn trong xã hội công xã thị tộc đồng thời chúng cũng cho thấy chế độ phụ quyền với vị trí của người con trưởng được khẳng định.