Marketing Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Marketing

--- Bài mới hơn ---

  • Marketing Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Marketing Trong Kinh Doanh
  • Chức Năng Nào Dưới Đây Của Tiền Tệ Đòi Hỏi Tiền Phải Là Tiền Bằng Vàng?
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Gdcd Lớp 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Của Công An Xã, Trưởng Công An Xã
  • 3 mục đích chính của tiếp thị:

    1. Thu hút sự chú ý của một thị trường mục tiêu.
    2. Tạo điều kiện cho quyết định mua của khách hàng tiềm năng.
    3. Cung cấp cho khách hàng một hành động cụ thể, ít rủi ro và dễ thực hiện.

    Với các mục đích này, phiếu giảm giá, bán hàng hoặc cách các sản phẩm được hiển thị, là một phần của quá trình tiếp thị. Tiếp thị là nền tảng của mọi doanh nghiệp, mục tiêu chung là bán nhiều sản phẩm hoặc dịch vụ hơn.

    Tiếp thị đòi hỏi phát triển sản phẩm, nghiên cứu thị trường, phân phối sản phẩm, chiến lược bán hàng, quan hệ công chúng và hỗ trợ khách hàng. Tiếp thị là điều cần thiết trong tất cả các giai đoạn của hành trình bán hàng của một doanh nghiệp.

    Chức năng của Marketing

    Thu thập và phân tích thông tin thị trường

    Thu thập và phân tích thông tin thị trường là một chức năng quan trọng của marketing. Theo đó, những cuộc nghiên cứu được thực hiện để hiểu rõ người tiêu dùng theo các cách sau:

    (a) Người tiêu dùng muốn gì?

    (b) Số lượng bao nhiêu?

    (c) Ở mức giá nào?

    (d) Khi nào họ muốn mua?

    (f) Họ muốn ở đâu thể mua?

    (h) Họ thích loại hệ thống phân phối nào?

    Thiết kế và phát triển sản phẩm

    Thiết kế sản phẩm đóng một vai trò quan trọng trong việc bán sản phẩm. Công ty có sản phẩm tốt hơn và được thiết kế hấp dẫn luôn bán được nhiều hơn. Có thể nói rằng việc sở hữu một thiết kế đặc biệt giúp công ty có lợi thế cạnh tranh. Điều quan trọng cần nhớ là không chỉ chuẩn bị một thiết kế đối với sản phẩm, mà phải phát triển nó liên tục.

    Bao bì nhằm mục đích tránh vỡ, hư hỏng, phá hủy, ..vv.. của hàng hóa trong quá trình vận chuyển và lưu trữ. Bao bì tạo điều kiện cho việc xử lý, vận chuyển hàng hóa dễ dàng hơn. Vật liệu đóng gói bao gồm chai, hộp, túi nhựa, hộp thiếc hoặc gỗ…vv…

    Mọi nhà sản xuất đều muốn rằng sản phẩm của mình phải có bản sắc đặc biệt trên thị trường, vì vậy cần phải đặt tên cho sản phẩm khác biệt với các đối thủ khác.

    Đặt tên riêng cho sản phẩm được gọi là thương hiệu. Do đó, mục tiêu của việc xây dựng thương hiệu là chỉ ra rằng các sản phẩm của một công ty nhất định khác với các đối thủ cạnh tranh.

    Dịch vụ hỗ trợ khách hàng

    Một trong những chức năng chính của tiếp thị là cung cấp mọi trợ giúp có thể cho khách hàng, cụ thể là:

    (i) Dịch vụ hậu mãi

    (ii) Xử lý khiếu nại của khách hàng

    (iii) Dịch vụ kỹ thuật

    (iv) Dịch vụ hỗ trợ thanh toán

    (v) Dịch vụ bảo trì

    Hỗ trợ khách hàng theo cách này mang lại sự hài lòng và trong thời đại cạnh tranh ngày nay, sự hài lòng của khách hàng là ưu tiên hàng đầu. Điều này khuyến khích sự gắn bó của khách hàng với một sản phẩm cụ thể và bắt đầu mua sản phẩm vào những lần tiếp theo.

    Đây là chức năng quan trọng nhất của tiếp thị để cố định giá của sản phẩm. Giá của sản phẩm bị ảnh hưởng bởi giá thành, tỷ suất lợi nhuận, giá sản phẩm cạnh tranh, chính sách của chính phủ, v.v … Giá của sản phẩm nên được cố định theo cách không nên quá cao, đồng thời kiếm đủ lợi nhuận cho doanh nghiệp.

    Vai trò của marketing trong việc làm cho sản phẩm thành công

    Đáp ứng nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng

    Cần tồn tại trước trên thị trường. Các nhà tiếp thị cần xác định nhu cầu của người tiêu dùng và áp dụng các chiến lược tiếp thị phù hợp, vì những điều này được định hình bởi văn hóa và cá nhân. Nhu cầu của khách hàng được thỏa mãn thông qua quá trình trao đổi.

    Đảm bảo sự tồn tại, tăng trưởng và thương hiệu của doanh nghiệp

    Một doanh nghiệp tồn tại vì giữ chân khách hàng và tăng thị phần. Tiếp thị giúp các công ty đạt được mục tiêu bởi vì nó là trung tâm của khách hàng. Tiếp thị giúp thỏa mãn khách hàng, từ đó tạo ra hoạt động trao đổi mua bán, mang lại doanh số để đảm bảo sự tồn tại, tăng trưởng và phát triển thương hiệu của doanh nghiệp.

    Giá cả là một yếu tố quan trọng trong hỗn hợp tiếp thị của nhà sản xuất vì nó tạo ra doanh thu. Chiến lược tiếp thị giúp thiết lập giá cả hợp lý, kết hợp các thay đổi và chuẩn bị một phương pháp phù hợp. Quá trình trao đổi diễn ra thuận lợi khi giá cả được cố định.

    Hầu hết các công ty đều bán nhiều sản phẩm: Sản phẩm hữu hình là hàng hóa phải được đóng gói và dán nhãn và các dịch vụ được đặc trưng bởi tính vô hình. Vì vậy, tiếp thị đóng một vai trò quan trọng bằng cách thiết kế và quản lý các dịch vụ sản phẩm để có thể cải tiến và cung cấp sản phẩm tốt hơn cho khách hàng.

    Phần lớn tiện ích của sản phẩm được tạo ra thông qua tiếp thị. Tiếp thị tạo ra hình thức, địa điểm, thời gian, thông tin và tiện ích sở hữu. Ví dụ, một chiếc xe đáp ứng nhu cầu sở hữu một chiếc xe và di chuyển.

    Tiếp thị đóng vai trò chính trong việc ảnh hưởng đến mức độ, thời gian và thành phần của nhu cầu, có thể là một nhu cầu tiêu cực, không có nhu cầu, nhu cầu tiềm ẩn, nhu cầu giảm, nhu cầu không thường xuyên, nhu cầu đầy đủ hoặc nhu cầu quá cao. Tiếp thị giúp quản lý, đối phó với các mức độ khác nhau của nhu cầu.

    Định hướng cạnh tranh là quan trọng trong thị trường toàn cầu ngày nay. Tiếp thị giúp duy trì sự cân bằng giữa mong đợi của người tiêu dùng và các dịch vụ của đối thủ cạnh tranh bằng cách giám sát chặt chẽ thị trường.

    Marketing tạo ra nhu cầu. Nhu cầu gia tăng khuyến khích các hoạt động sản xuất và phân phối. Do đó, tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy và mức thu nhập được cải thiện do cơ hội việc làm tăng lên. Điều này cải thiện mức sống bằng cách cung cấp các sản phẩm cao cấp và cải tiến. Do đó, tăng trưởng kinh tế nói chung được thúc đẩy.

    Vào những năm 1960, E Jerome McCarthy đã đưa ra 4Ps của marketing là: Product – sản phẩm, Price – giá cả, Place – địa điểm, Promotion – khuyến mãi.

    Về cơ bản, 4 Ps này giải thích cách tiếp thị tương tác với từng giai đoạn của doanh nghiệp.

    Product – Sản phẩm

    Nếu bạn đưa ra ý tưởng cho sản phẩm muốn doanh nghiệp bán. Và nếu bạn chỉ bắt đầu bán hàng, tỷ lệ thành công hầu như là không có. Thay vào đó, doanh nghiệp cần đội ngũ tiếp thị thực hiện nghiên cứu thị trường và trả lời một số câu hỏi quan trọng:

    • Ai là đối tượng mục tiêu?
    • Có thị trường phù hợp cho sản phẩm này?
    • Các nhà phát triển sản phẩm nên sửa đổi sản phẩm như thế nào để tăng khả năng thành công?
    • Các nhóm khách hàng tập trung nghĩ gì về sản phẩm, và họ hay hỏi câu hỏi nào?

    Các nhà tiếp thị sử dụng câu trả lời cho những câu hỏi này để giúp các doanh nghiệp hiểu nhu cầu về sản phẩm và tăng chất lượng sản phẩm cung cấp cho thị trường, do đó tỷ lệ thành công sẽ được tăng lên rất nhiều.

    Marketing sẽ kiểm tra giá sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, hoặc sử dụng các khảo sát ở các nhóm tập trung, để ước tính số tiền mà khách hàng lý tưởng sẵn sàng trả. Giá quá cao, doanh nghiệp sẽ mất đi một cơ sở khách hàng trung thành. Giá quá thấp, doanh nghiệp có thể mất nhiều tiền hơn là kiếm được. Marketing có thể sử dụng nghiên cứu công nghiệp và phân tích người tiêu dùng để đánh giá được một phạm vi giá tốt.

    Place – Địa điểm

    Điều quan trọng là bộ phận marketing là sử dụng sự hiểu biết và phân tích về người tiêu dùng trong doanh nghiệp để đưa ra đề xuất về cách thức và nơi bán sản phẩm. Tuỳ sản phẩm có thể là trang web thương mại điện tử tốt hơn một địa điểm bán lẻ hoặc ngược lại. Hoặc cung cấp thông tin chuyên sâu về địa điểm nào khả thi nhất để bán sản phẩm trên toàn quốc và quốc tế.

    Promotion – Khuyến mãi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Luật Ma Sói Việt Hóa Mở Rộng
  • Bài 8: Mạch Khuếch Đại
  • Cn 12 Mạch Tạo Xung
  • Bài 8 : Mạch Khuyếch Đại
  • Widget Của Ios 14 Có Thể Sẽ Như Thế Nào Cùng Các Chức Năng Tùy Chỉnh
  • Marketing Là Gì? Vai Trò Và 3 Chức Năng Của Marketing

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Nông Dân Tỉnh Ninh Bình
  • Thông Báo Phân Công Nhiệm Vụ Đối Với Chủ Tịch Và Các Phó Chủ Tịch Ủy Ban Mttq Việt Nam Tỉnh Khóa Xiii, Nhiệm Kỳ 2021
  • Nhiệm Vụ Và Chức Trách Của Thủ Quỹ Trong Cơ Quan Nhà Nước
  • Khối Dân Vận Đảng Ủy
  • Một Trưởng Khối Dân Vận Tiêu Biểu
  • Marketing là gì? Hiểu rõ Marketing liệu có quá khó.

    1.

    Khái niệm Marketing.

    Định nghĩa của

    John H.Crighton

    (Australia)

    “ Marketing là quá trình cung cấp đúng sản phẩm, đúng kênh hay luồng hàng, đúng thời gian và đúng vị trí”

    Định nghĩa của

    Wolfgang J.Koschnick

    ( Dictionary of Marketing):

    Định nghĩa Marketing theo tổ chức Hiệp Hội Marketing Mỹ (1985):

    “Marketing là tiến trình hoạch định và thực hiện sự sáng tạo, định gin, xúc tiến và hn phải những ý tưởng hàng hóa và dịch vụ để tạo ra sự trao đổi và thỏa mãn những mục tiêu của cả nhân và tổ chức

    Định nghĩa của

    Philip Kotler

    :

    Marketing là một quá trình xã hội mà trong đó những cả nhân hay nhóm có thể nhận được những thứ mà họ cần thông qua việc tạo ra và trao đổi tự do những sản phẩm, dịch vụ có giá trị với người khác”.

    Định nghĩa của

    William M.Pride

    :

    “Marketing là quá trình sáng tạo, phần phối, định giá, cổ động cho sản phẩm, dịch v, ý tưởng để tháo măn những mối quan hệ trao đổi trong mỗi trường năng động”.

    Định nghĩa của Viện Marketing Anh Quốc (The Chartered Institute of Marketing – CIM):

    “Marketing là chức năng tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh từ việc phát hiện và biển sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về mặt hàng cụ thể đến việc sản xuất và dưa làng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng nhắm đâm vào cho doanh nghiệp thu được lợi nhuận dr kiến”.Dù các tác giả khác nhau cố gắng đưa ra các định nghĩa khác nhau về Marketing, nhưng họ lại khá thống nhất khi đề cập đến bản chất của nó. Có quá nhiều khái niệm trả lời cho câu hỏi Marketing là gì ? Vậy khái niệm nào là chính. Qua vậy, một sự vật hiện tượng có thể biểu hiện ra bên ngoài bằng nhiều hình thức khác nhau, có thể được nhìn nhận, Xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng bản chất sâu xa của nó thì chỉ có một. Đưa một số các định nghĩa mẫu trên, và ở các định nghĩa khác nữa, có thể rút ra bản chất của hoạt động Marketing:

    Marketing là:

    Nếu gọi Marketing là tiếp thị thì nó chỉ mang ý nghĩa hẹp không thể bao hàm toàn bộ hoạt động marketing. Marketing là một hệ thống của hoạt động kinh tế: đó thực chất là tổng thể các giải pháp của một công ty, một tổ chức nhằm đạt mục tiêu của mình, chứ không phải một hoạt động đơn lẻ, biệt lập trong doanh nghiệp.

    2.

    Phạm vi hoạt động Marketing

    Marketing có phạm vi hoạt động rất rộng.

    3.

    Marketing thị trường và doanh nghiệp

    Marketing chi cung cấp cải mà thị trường cần chứ không cung cấp cải mà doanh nghiệp sẵn có.

    Marketing chỉ cung cấp những hàng hoá và dịch vụ, ý tưởng mà thị trường cần chứ không cung cấp cái mà mình sẵn có, hay có khả năng cung cấp. Bản chất này thế hiện tính hướng ngoại của Marketing, diều này có nghĩa rằng Marketing tạo ra cái mà doanh nghiệp có thể bán dược trên thị trường.Do điểm bắt đầu trong Marketing không phải là sản phẩm mà là nhu cầu, trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt, ai hiểu thị trường rõ hơn và nắm được thị trường và hành động theo thị trường thì doanh nghiệp đó thành công.

    Trong một nghiên cứu vào đầu những năm 90 về các công ty thành công nhất như Hewlett Packard, Procter & Gamble, McDonald’s, IBM,.. người ta nhận thấy rằng các công ty này đều có chung các nguyên lý Marketing cơ bản đó là: hiểu rõ khách hàng. Xác định chính xác thị trường và có khả năng thúc đẩy nhân viên sản xuấtcung ứng các hàng hoá và dịch vụ có chất lượng caocho khách hàng. Để thoả mãn nhu cầu khách hàng tốt hơn, hãng IBM dã thu thập các phiếu góp ý của khách hàng về nhân viên bán hàng và dịch vụ đồng thời tặng thưởng cho các nhân viên phục vụ khách hàng tốt nhất; hãng TOYOTA đã thành công nhờ có khả năng duy trì được sự hài lòng, thỏa mãn của khách hàng trong một thời gian dài. Mặc dù có nhiều nhân tố có thể tạo nên sự thành công của một doanh nghiệp như – chiến lược sáng suốt, nhân viên tận tụy, hệ thống thông tin tốt, quản lý tuyệt vời, nhưng yếu tố cốt lõi nhất dẫn đến thành công mà các nhà kinh doanh cũng như các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh là sự nhận biết, đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng trong một thị trường mục tiêu đã được nghiên cứu kỹ. Bán cái thị trường cần có nghĩa là mục đích của Marketing là tìm ra nhu cầu của khách hàng và thỏa mãn nhu cầu đó để thu được lợi nhuận.Marketing luôn đặt nhu cầu của khách hàng lên hàng đầu và tìm mọi cách để đáp ứng được tối đa nhu cầu đó để theo đuổi mục tiêu lợi nhuận lâu dài.

    4.

    Marketing là một quá trình liên tục

    marketing doanh nghiep

    Khái niệm Marketing của Hiệp hội Marketing Mỹ 1985 đã nhấn mạnh Marketing là một quá trình liên tục chứ không phải là một hành động biệt lập. Quá trình này bắt đầu tự nghiên cứu thị trường và khách hàng, sau đó đáp ứng được nhu cầu của khách hàng để đạt được mục tiêu lợi nhuận lâu dài của công ty, Quá trình này thế hiện rõ ràng ở 4 bước vận động hay 4 bước tiến hành chung của Marketing. Marketing vận động theo bốn bước sau:–Thu thập thông tin: Đây là những thông tin đầy đủ và cần thiết về thị trường đặc biệt là thông tin về nhu cầu và lượng cầu.      Kế hoạch hóa chiến lược: Là việc xây dựng kế hoạch Marketing với những mục tiêu cần phải thực hiện.      Hành động: Thực thi toàn bộ kế hoạch Marketing. Sự thành công của công ty phụ thuộc phần lớn ở bước này.      Kiểm tra: Toàn bộ hoạt động Marketing từ khâu thu thập thông tin cho đến bước lập kế hoạch, triển khai thực hiện đều phải được kiểm tra. Trong đó kiểm tra hiệu quả hoạt động kinh doanh là quan trọng nhất.     

    5. Vai trò và chức năng của marketing

    Trước hết, Marketing giúp doanh nghiệp hiểu rõ nhu cầu phong phủ, phức tạp hay thay đổi nhu cầu, thị hiếu của khách hàng. Từ nhận thức được nhu cầu này, doanh nghiệp mới có cơ sở để đề ra biện pháp thỏa mãn nhu cầu một cách tốt nhất.Thứ hai, Marketing giúp doanh nghiệp tìm ra đúng những biện pháp để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất. Nho vậy sẽ đạt mục tiêu đề ra.Thứ ba, chính việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất sẽ giúp doanh nghiệp có thể tồn tại lâu dài và vững chắc trên thị trường. Để thích ứng với những thay đổi của thị trường và môi trường bên ngoài.Thứ tư, Marketing tạo ra sự kết nổi hoạt động của doanh nghiệp với thị trường, bao gồm thị trường các yếu tố đầu vào, thị trường đâu ra. Marketing như một công cụ kết nối thông tin đa chiều, giúp doanh nghiệp nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ khách hàng…Ngoài ra. Marketing còn được xem là chức năng quản trị quan trọng nhất của doanh nghiệp. Nó đóng vai trò kết nối hoạt động cho các chức năng khác như sản xuất, nhân sự, tài chính theo những chiến lược đã định. Tất nhiên, Marketing chỉ có thể hoạt động có hiệu quả nếu có sự phối hợp của các bộ phận khác.

    Vai trò – chức năng của Marketing đối với người tiêu dùng

    Hoạt động Marketing không chỉ làm lợi cho doanh nghiệp mà còn mang lại rất nhiều tiện lợi đối với người tiêu dùng. Một doanh nghiệp chi tồn tại và phát triển chừng nào còn cung cấp được lợi ích về mặt kinh tế cho khách hàng của nó. Ích lợi về mặt kinh tế đối với khách hàng là ở chỗ họ nhận được giá trị cao hơn chi phí mà họ bỏ ra để mua hàng hóa đó. Một sản phẩm thỏa mãn người mua là sản phẩm cung cấp nhiều tính hữu ích hơn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Có 5 kiểu lợi ích đối với người tiêu dùng:

    Hữu ích về hình thức sản phẩm: nhờ có Marketing mà người tiêu dùng sẽ nhận được món hàng với kiểu dáng, mẫu mã, thậm chí là chất lượng đúng như mình mong muốn.Hữu ích về địa điểm: nhờ có Marketing mà người tiêu dùng có thể tiếp cận sản phẩm một cách dễ dàng, sản phẩm có mặt đúng nơi mà người tiêu dùng muốn. Tiết kiệm được chi phí tìm kiếm, đi lại…Hữu ích về mặt thời gian: Hàng hóa đến với người tiêu dùng nhanh hơn.Hữu ích về mặt sở hữu: Người mua có toàn quyền sở hữu và sử dụng sản phẩm.Hữu ích về thông tin: Người tiêu dùng còn nhận được những thông điệp như quang cáo, khuyến mãi.. nhờ đó mà có thể biết sản phẩm đang ở đâu, khi nào, giá bao nhiêu, những công dụng mà sản phẩm mang đến…

    Vai trò – Chức năng của Marketing đối với xã hội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hệ Thống Marketing Là Gì? Vai Trò Của Nó Như Thế Nào?
  • Marketing Dược Là Gì? Vai Trò Của Marketing Dược Trong Xã Hội Hiện Nay
  • Vai Trò Của Digital Marketing Trong Marketing Communications Là Gì?
  • Digital Marketing Là Gì? Vai Trò Của Digital Marketing Trong Kinh Doanh
  • Digital Marketing Là Gì? Tầm Quan Trọng Và Các Hình Thức Của Digital Marketing
  • Marketing Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Marketing Trong Kinh Doanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Nào Dưới Đây Của Tiền Tệ Đòi Hỏi Tiền Phải Là Tiền Bằng Vàng?
  • Bài 1. Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Gdcd Lớp 11 Bài 2: Hàng Hóa
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Của Công An Xã, Trưởng Công An Xã
  • Bố Trí Công An Chính Quy Đảm Nhiệm Các Chức Danh Công An Xã
  • Marketing – Tiếp thị – là việc đáp ứng nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Tiếp thị là một chức năng của toàn doanh nghiệp – nó không phải là cái gì đó hoạt động một mình từ các hoạt động kinh doanh khác. Tiếp thị là tìm hiểu khách hàng và tìm cách cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ mà khách hàng yêu cầu.

    Tiếp thị là xác định giá trị của sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn và truyền đạt thông tin đó cho khách hàng.

    Marketing cũng là khu vực kinh doanh tổ chức có tương tác nhiều nhất với người dùng và do đó những gì khách hàng biết về một tổ chức được xác định bởi tương tác của họ với các nhà tiếp thị.

    Ở cấp độ rộng hơn, marketing mang lại những lợi ích đáng kể, những lợi ích này bao gồm:

    • Phát triển các sản phẩm đáp ứng nhu cầu, bao gồm các sản phẩm nâng cao chất lượng cuộc sống của xã hội
    • Tạo môi trường cạnh tranh giúp giảm giá sản phẩm
    • Phát triển hệ thống phân phối sản phẩm, cung cấp khả năng tiếp cận sản phẩm đến một số lượng lớn khách hàng và nhiều khu vực địa lý.
    • Xây dựng nhu cầu về các sản phẩm đòi hỏi các tổ chức phải mở rộng lực lượng lao động

    Quản lý thông tin marketing:

    Quản lý thông tin marketing giúp bạn hiểu được nhu cầu của khách hàng. Bạn có thể thu thập thông tin bằng cách xem xét các báo cáo nghiên cứu thị trường, yêu cầu đội ngũ bán hàng phản hồi hoặc thực hiện một cuộc khảo sát bằng cách sử dụng một công ty nghiên cứu thị trường. Bạn cũng nên theo dõi các trang web đánh giá sản phẩm và các phương tiện truyền thông xã hội, chẳng hạn như Facebook và Twitter, nơi bạn có thể tìm thông tin về nhu cầu và thái độ của người tiêu dùng đối với sản phẩm.

    Phân phối

    Chiến lược phân phối xác định cách thức và nơi khách hàng có thể mua được sản phẩm của bạn. Nếu bạn marketing sản phẩm cho một số lượng nhỏ khách hàng doanh nghiệp, bạn có thể giao dịch trực tiếp với họ thông qua đội bán hàng. Nếu doanh nghiệp mở rộng sang các khu vực hoặc quốc gia khác, thì có thể tiết kiệm chi phí hơn để đến tay khách hàng thông qua các nhà phân phối địa phương. Các công ty marketing sản phẩm tiêu dùng phân phối thông qua các cửa hàng bán lẻ hoặc qua Internet.

    Quản lý sản phẩm / dịch vụ

    Marketing cung cấp đầu vào có giá trị cho phát triển sản phẩm và dịch vụ. Thông tin về nhu cầu của khách hàng giúp xác định các tính năng để kết hợp trong các sản phẩm mới và nâng cấp sản phẩm. Marketing cũng xác định các cơ hội để mở rộng phạm vi sản phẩm hoặc đưa ra các sản phẩm hiện có vào các lĩnh vực mới.

    Giá

    Giá cả đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định thành công thị trường và lợi nhuận. Nếu bạn tiếp thị sản phẩm có nhiều đối thủ cạnh tranh, bạn có thể phải đối mặt với cạnh tranh về giá. Trong trường hợp đó, bạn phải nhắm đến nhà cung cấp chi phí thấp nhất để có thể đặt giá thấp và vẫn có lãi. Bạn có thể vượt qua cạnh tranh giá thấp bằng cách phân biệt sản phẩm của bạn và cung cấp cho khách hàng những lợi ích và giá trị mà đối thủ cạnh tranh không thể sánh kịp.

    Bán

    Marketing và bán hàng là những chức năng bổ sung. Marketing tạo ra nhận thức và xây dựng thương hiệu cho một sản phẩm, giúp các nhân viên bán hàng của công ty hoặc nhân viên bán lẻ bán nhiều sản phẩm hơn.

    Tài chính

    Marketing thành công cung cấp một dòng doanh thu thường xuyên để trả cho hoạt động kinh doanh. Các chương trình marketing tăng cường lòng trung thành của khách hàng giúp đảm bảo doanh thu lâu dài, trong khi các chương trình phát triển sản phẩm lại mở ra doanh thu mới. Tài chính cũng đóng vai trò quan trọng trong việc marketing thành công bằng cách cung cấp cho khách hàng các phương thức thanh toán thay thế khác như cho vay, tín dụng dài hạn hoặc cho thuê.

    Website: http://www.builderwebsitedesigns.com/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Marketing Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Marketing
  • Hướng Dẫn Luật Ma Sói Việt Hóa Mở Rộng
  • Bài 8: Mạch Khuếch Đại
  • Cn 12 Mạch Tạo Xung
  • Bài 8 : Mạch Khuyếch Đại
  • Marketing Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Marketing Trong Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Marketing Trong Doanh Nghiệp
  • Vai Trò Của Marketing Trong Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp
  • Tìm Hiểu Nhiệm Vụ Của Bộ Phận Marketing
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Bản Chất Của Marketing
  • Bản Chất Và Chức Năng Của Các Kênh Marketing
  • Marketing là gì?

    Trong phần này chúng tôi muốn giới thiệu tới bạn đọc khái niệm Marketing là gì? vai trò của những yếu tố tạo nên một chiến lược Marketing hiệu quả.

    Marketing dịch theo tiếng anh đó chính là tiếp thị. Đây là một hành động nhằm hướng tới mục tiêu là khách hàng. Như vậy, bạn có thể hiểu Marketing chính là việc đáp ứng những nhu cầu của khách hàng đưa ra.

    Vai trò của content marketing

    Vai trò của digital marketing

    digital marketing được hiểu như một dịch vụ kết nối khách hàng với doanh nghiệp. Nhờ có digital marketing mà sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp được nhiều người biết đến hơn. digital marketing chính là hình thức tiếp thị số qua các phương tiện truyền thông. Cụ thể như: Tivi, phát thanh Radio, bảng hiệu điện tử…

    Vai trò của marketing trong kinh doanh

    Marketing có ý nghĩa rất lớn đối với doanh nghiệp, người tiêu dùng và toàn xã hội. Vậy, vai trò của marketing đối với xã hội, doanh nghiệp và người tiêu dùng ra sao?

    Tầm quan trọng của marketing đối với doanh nghiệp

    • Marketing giúp đẩy mạnh doanh số bán hàng.
    • Marketing làm tăng giá trị thương hiệu của doanh nghiệp.
    • Marketing tạo nên một lợi thế cạnh tranh vô cùng lành mạnh giữa các doanh nghiệp

    Vai trò của marketing đối với người tiêu dùng

    Marketing ngoài mang đến những lợi ích to lớn cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Marketing còn mang tới nhiều giá trị thiết thực cho người tiêu dùng. Cụ thể như:

    • Marketing giúp người tiêu dùng hiểu được giá trị của sản phẩm dịch vụ mà mình lựa chọn.
    • Marketing còn giúp thấu hiểu những mong muốn cũng như nhu cầu của khách hàng. Từ đó, giúp doanh nghiệp sáng tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ gần gũi với khách hàng hơn.

    Chức năng của marketing trong doanh nghiệp

    Nghiên cứu thị trường: Bao gồm việc thu thập sau đó phân tích thông tin thị trường.

    • Đưa ra kế hoạch tiếp thị.
    • Đưa ra ý tưởng thiết kế và phát triển sản phẩm dựa trên yêu cầu khách hàng.
    • Đưa ra các tiêu chuẩn để đánh giá chiến lượng marketing trong doanh nghiệp.
    • Xây dựng và phát triển thương hiệu vững mạnh.
    • Đưa ra những vai trò của truyền thông marketing để hướng khách hàng tốt nhất.
    • Mang đến một dịch vụ hỗ trợ và tư vấn khách hàng tốt nhất
    • Đưa ra thông tin giá cả của sản phẩm dịch vụ, hình thức khuyến mãi và đại lý cung cấp.

    “”” XEM THÊM: DỊCH VỤ DIGITAL MARKETING LÀ GÌ? DIGITAL MARKETING LÀM ĐƯỢC NHỮNG GÌ CHO BẠN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bao Bì Sản Phẩm Là Gì? Chức Năng Của Bao Bì Sản Phẩm?
  • 7 Chức Năng Cơ Bản Của Bao Bì Sản Phẩm
  • Một Số Vấn Đề Căn Bản Về Marketing
  • Khái Niệm Và Vai Trò Của Marketing Mix Đối Với Doanh Nghiệp
  • Marketing Du Lịch Là Gì? 10 Phương Pháp Marketing Du Lịch Nổi Bật
  • Khái Niệm Vai Trò Và Chức Năng Của Marketing Quốc Tế.

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài: Marketing Xuất Khẩu Của Công Ty May Thăng Long
  • Vai Trò Và Nội Dung Của Marketing
  • Chiến Lược Thích Ứng Sản Phẩm (Product Adaptation Strategy)
  • Bạn Đã Biết Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Marketing Chưa?
  • Dịch Vụ Tư Vấn Khởi Tạo Phòng Marketing
  • Marketing quốc tế là việc thực hiện các hoạt động nhằm định hướng, nắm bắt nhu cầu thị trường nước ngoài để xác lập các biện pháp thỏa mãn tối đa nhu cầu đó, qua đó mang lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp.

    Như vậy ta thấy thực chất Marketing quốc tế chỉ là sự vận dụng nguyên lý, nguyên tắc các phương pháp và kỹ thuật tiến hành của Mareking trong điều kiện thị trường nước ngoài. Sự khác biệt của Marketing quốc tế và Marketing nói chung chỉ ở chỗ là hàng hoá và dịch vụ được tiêu thụ không phải trên thị trường nội địa mà là ở thị trường nước ngoài. Sự khác biệt này chỉ là thứ yếu và càng nhấn mạnh vai trò quan trọng của Marketing trong những điều kiện mới.

    Việc nghiên cứu Marketing quốc tế là chìa khóa để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp của doanh nghiệp. Mục tiêu của doanh nghiệp ở đây có thể là mua bán hay đầu tư sản xuất… tại các thị trường nước ngoài mà doanh nghiệp muốn nắm bắt. Và khi mà chúng ta nghiên cứu Marketing quốc tế trong trường hợp chỉ áp dụng cho các sản phẩm được sản xuất trong nước nhưng được tiêu thụ ở thị trường nước ngoài thì đó chính là Marketing – xuất khẩu.

    Với vai trò làm thích ứng các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với điều kiện của môi trường quốc tế, xuất phát từ sự khác biệt to lớn giữa thị trường nước ngoài với thị trường nội địa và giữa thị trường nước ngoài với nhau, để đảm bảo lợi nhuận tôi đa cho doanh nghiệp, Marketing quốc tế thực hiện được những chức năng cơ bản:

    – Thiết lập một hệ thống quan sát hữu hiệu tập hợp các thị trường để nhận biết một cách nhanh chóng các biến động thị trường và nếu có thể thì dự báo trước các biến động đó.

    – Xác lập khả năng phản ứng nhanh đối với các điều kiện đặc biệt và đồng thời với nó là khả năng thiết ghi nhanh chóng từ phía dịch vụ hành chính.

    – Thiết lập một hệ thống theo dõi kết quả và kiểm tra hiệu quả của các hoạt động đã cam kết bất chấp những khó khăn sinh ra do sự khác biệt về môi trường kế toán, sự biến động về tiền tệ và sự khác biệt về “văn hoá” trong quản lý doanh nghiệp.

    – Hình thành khả năng sáng tạo và áp dụng những thay đổi trong kỹ thuật thu nhập thông tin và kỹ thuật hoạt động trên thị trường để bao quát được mọi trường hợp riêng biệt.

    Thực hiện được những chức năng trên là điều kiện cần thiết cho sự phát triển quốc tế lâu dài và có hiệu quả của doanh nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Liều Như Steve Jobs Mới Có Thể Thành Công
  • Chiến Lược Chung Marketing Của Doanh Nghiệp
  • Nghề Marketing: Nghề Dành Cho Các Bạn Trẻ Năng Động, Sáng Tạo
  • Hoạt Động Marketing Tại Các Công Ty Thương Mại Bán Lẻ Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Đề Tài Quản Trị Kinh Doanh Hoàn Thiện Quản Trị Marketing Mix Hay Nhất 2021
  • Khái Niệm Vai Trò Và Chức Năng Của Marketing Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Hoạt Động Của Các Bộ Phận Chức Năng Trong Tổ Chức
  • 4 Chức Năng Quan Trọng Của Email Marketing
  • 4 Chức Năng Quan Trọng Của Một Phần Mềm Email Marketing
  • Logictic Là Gì? 4 Chức Năng Của Logictic Trong Doanh Nghiệp.
  • Marketing Là Gì? 9 Chức Năng Của Marketing Đối Với Doanh Nghiệp?
  • Khái niệm Marketing Quốc tế.

    Marketing quốc tế là việc thực hiện các hoạt động nhằm định hướng, nắm bắt nhu cầu thị trường nước ngoài để xác lập các biện pháp thỏa mãn tối đa nhu cầu đó, qua đó mang lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp.

    Như vậy ta thấy thực chất Marketing quốc tế chỉ là sự vận dụng nguyên lý, nguyên tắc các phương pháp và kỹ thuật tiến hành của Mareking trong điều kiện thị trường nước ngoài. Sự khác biệt của Marketing quốc tế và Marketing nói chung chỉ ở chỗ là hàng hoá và dịch vụ được tiêu thụ không phải trên thị trường nội địa mà là ở thị trường nước ngoài. Sự khác biệt này chỉ là thứ yếu và càng nhấn mạnh vai trò quan trọng của Marketing trong những điều kiện mới.

    Việc nghiên cứu Marketing quốc tế là chìa khóa để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp của doanh nghiệp. Mục tiêu của doanh nghiệp ở đây có thể là mua bán hay đầu tư sản xuất… tại các thị trường nước ngoài mà doanh nghiệp muốn nắm bắt. Và khi mà chúng ta nghiên cứu Marketing quốc tế trong trường hợp chỉ áp dụng cho các sản phẩm được sản xuất trong nước nhưng được tiêu thụ ở thị trường nước ngoài thì đó chính là Marketing – xuất khẩu.

    Vai trò và chức năng của Marketing quốc tế.

    Với vai trò làm thích ứng các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với điều kiện của môi trường quốc tế, xuất phát từ sự khác biệt to lớn giữa thị trường nước ngoài với thị trường nội địa và giữa thị trường nước ngoài với nhau, để đảm bảo lợi nhuận tôi đa cho doanh nghiệp, Marketing quốc tế thực hiện được những chức năng cơ bản:

    – Thiết lập một hệ thống quan sát hữu hiệu tập hợp các thị trường để nhận biết một cách nhanh chóng các biến động thị trường và nếu có thể thì dự báo trước các biến động đó.

    – Xác lập khả năng phản ứng nhanh đối với các điều kiện đặc biệt và đồng thời với nó là khả năng thiết ghi nhanh chóng từ phía dịch vụ hành chính.

    – Thiết lập một hệ thống theo dõi kết quả và kiểm tra hiệu quả của các hoạt động đã cam kết bất chấp những khó khăn sinh ra do sự khác biệt về môi trường kế toán, sự biến động về tiền tệ và sự khác biệt về “văn hoá” trong quản lý doanh nghiệp.

    – Hình thành khả năng sáng tạo và áp dụng những thay đổi trong kỹ thuật thu nhập thông tin và kỹ thuật hoạt động trên thị trường để bao quát được mọi trường hợp riêng biệt.

    Thực hiện được những chức năng trên là điều kiện cần thiết cho sự phát triển quốc tế lâu dài và có hiệu quả của doanh nghiệp.

    Phạm Thị Bích Ngọc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bao Bì Và Vai Trò Của Bao Bì Trong Kinh Doanh
  • Vai Trò Của Bao Bì Trong Marketing
  • Bao Bì Sản Phẩm Và Vai Trò Của Bao Bì Trong Kinh Doanh
  • Công Ty Tnhh Mtv Phước Thịnh
  • Bài 13. Khái Niệm Về Mạch Điện Tử Điều Khiển
  • Vai Trò Và Nội Dung Của Marketing

    --- Bài mới hơn ---

  • Chiến Lược Thích Ứng Sản Phẩm (Product Adaptation Strategy)
  • Bạn Đã Biết Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Marketing Chưa?
  • Dịch Vụ Tư Vấn Khởi Tạo Phòng Marketing
  • 1.2.3 Mô Tả Công Việc Trưởng Phòng Marketing
  • Trưởng Phòng Marketing Làm Gì?
  • Một thực tế tồn tại là ngày nay người tiêu dùng đứng trước tình trạng mọi chủng loại sản phẩm đều có rất nhiều nhãn hiệu. Các khách hàng lại có những yêu cầu khác nhau đối với sản phẩm, dịch vụ và giá cả. Họ có những đòi hỏi cao và ngày càng cao về chất lượng và dịch vụ. Đứng trước sự lựa chọn vô cùng phong phú như vậy khách hàng sẽ bị hấp dẫn bởi những thứ hàng hoá nào đáp ứng nhu cầu và mong đợi cá nhân của họ. Họ sẽ mua hàng căn cứ vào nhận thức về giá trị của mình.

    Đây thực sự là một thách thức đối với mọi công ty nếu họ muốn tồn tại và phát triển. Những công ty chiến thắng là những công ty làm thoả mãn đầy đủ nhất và thực sự làm vui lòng khách hàng mục tiêu của mình, phải gắn việc kinh doanh của mình với thị trường. Những công ty này xem Marketing là một triết lý của toàn công ty, là toàn bộ công việc kinh doanh dưới góc độ cuối cùng là dưới góc độ khách hàng, chứ không phải là một chức năng riêng biệt. Quan điểm kinh doanh theo cách thức Marketing khẳng định rằng:

    Chìa khoá để đạt được những mục tiêu kinh doanh của công ty là phải xác định đúng những nhu cầu và mong muốn của thị trường (khách hàng) mục tiêu từ đó tìm mọi cách đảm bảo sự thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó bằng những phương thức có ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh.

    Thật vậy, một công ty có thể cho rằng cứ tập trung mọi cố gắng của mình để sản xuất ra thật nhiều sản phẩm, để làm ra những sản phẩm cực kỳ hoàn mỹ với chất lượng cao, là chắc chắn sẽ thu được nhiều lợi nhuận từ người tiêu dùng. Điều đó, trên thực tế, chẳng có gì là đảm bảo. Bởi vì đằng sau phương châm hành động đó còn ẩn náu hai trở ngại lớn – hai câu hỏi lớn mà nếu không giải đáp được thì mọi cố gắng của công ty cũng chỉ là con số không.

    Một là, liệu thị trường có cần hết – mua hết số sản phẩm công ty sản xuất ra không.

    Hai là, liệu cái giá mà công ty định bán, người tiêu dùng có đủ tiền mua không? kết cục là mối liên hệ giữa công ty và thị trường chưa được giải quyết thoả đáng.

    Trái với các cách thức kinh doanh khác, như đã chỉ ra Marketing hướng các nhà quản trị kinh doanh trả lời hai câu hỏi nêu trên, trước khi giúp họ lựa chọn phương châm hành động nào. Nhờ vậy Marketing đã nối kết các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với thị trường, có nghĩa là đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của công ty theo hướng thị trường, biết lấy thị trường – nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh. Vậy Marketing là gì?

    Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, tạo lập thị trường là vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp. Nhưng để tạo lập thị trường thì Marketing là những hoạt động có tính chất nghiệp vụ và kỹ thuật không thể thiếu được.

    Đối với đơn vị kinh tế nói chung, Marketing được hiểu là quá trình hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức, thông qua việc nghiên cứu và dự đoán nhu cầu thị trường, lựa chọn và tìm ra các nghiệp vụ kỹ thuật thích hợp để điều khiển các dòng hàng hoá và dịch vụ thoả mãn các nhu cầu từ người sản xuất tới khách hàng và người tiêu thụ.

    Đối với đơn vị sản xuất, Marketing được hiểu là sự thực hiện mọi hoạt động của xí nghiệp nhằm tạo ra những sản phẩm, nhằm xúc tiến phân phối các sản phẩm đó, bán ra trên thị trường sao cho đáp ứng được nhu cầu đương thời hoặc nhu cầu tiềm tàng của khách hàng và phù hợp với khả năng sản xuất của doanh nghiệp.

    Đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh thương nghiệp Marketing bao gồm hệ thống các hoạt động tiếp cận thị trường, thực hiện chức năng cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng nhằm kích thích, duy trì và thoả mãn nhất nhu cầu tiêu thụ trên thị trường đối với sản phẩm từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất phát triển.

    Từ những đặc trưng của Marketing truyền thống và Marketing hiện đại có thể khái quát khái niệm Marketing như sau: “Marketing là chức năng quản lý công ty về mặt tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự của một mặt hàng cụ thể, đến việc đưa hàng hoá đến tay người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty thu hút được nhiều lợi nhuận dự kiến…

    Vì vậy 3 vấn đề tư tưởng cơ bản của Marketing là:

    (1) Nhu cầu của khách hàng dẫn đến toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    (2) Mọi nỗ lực của doanh nghiệp cần được liên kết lại.

    Doanh nghiệp muốn chiến thắng trên thương trường phải tạo ra sức mạnh tổng hợp, khai thác hết tiềm năng khách hàng, tận dụng hết lợi thế cạnh tranh sản phẩm cụ thể, sản phẩm bổ sung.

    (3) Lợi nhuận không chỉ là bán hàng mà là mục tiêu chiến lược cần tìm kiếm:

    Không phải bất kỳ một thương vụ nào cũng đạt mục tiêu lợi nhuận lên vị trí hàng đầu mà phải xem xét mục tiêu cụ thể của từng doanh nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể, xác định mục tiêu quan trọng nhất của khâu cụ thể.

    Tóm lại, nội dung cơ bản của Marketing là:

    + Giúp doanh nghiệp xác đinh tư tưởng kinh doanh để có cách ứng xử phù hợp.

    + Giúp doanh nghiệp đầu tư đúng hướng, Marketing phải:

    ã Đưa ra lý thuyết cần thiết để người ta nghiên cứu thị trường (đưa cách tiếp cận thị trường, xử lý thông tin) để đưa ra những quyết định đúng trên cơ sở tìm rõ những bản chất của thông tin đưa ra, tìm thông tin chuẩn, tính thực chất của thông tin, xác định vấn đề nào, lựa chọn thông tin nào cần nghiên cứu.

    -Giúp các doanh nghiệp tìm kiếm, xác định cơ hội kinh doanh và thời cơ hấp dẫn trong kinh doanh, làm giảm rủi ro cho các hoạt động của doanh nghiệp.

    -Nghiên cứu hành vi mua sắm của khách hàng.

    -Nghiên cứu các hoạt động giúp cho doanh nghiệp vượt qua thời cơ. Cụ thể là: Nghiên cứu môi trường kinh doanh và sự vận động của nó, nghiên cứu hành vi mua sắm của khách hàng, tổ chức các hoạt động Marketing chức năng để chinh phục khách hàng (chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách xúc tiến…)

    Từ những phân tích trên có thể kết luận vai trò của Marketing trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như sau:

    Marketing có một vai trò rất quan trọng trong kinh doanh nó hươnggs dẫn, chỉ đạo và phối hợp các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nhờ các hoạt động Marketing các quyết định đề ra trong sản xuất kinh doanh có cơ sở khoa học vững chắc hơn, doanh nghiệp có điều kiện và thông tin đầy đủ hơn thoả mãn mọi yêu cầu của khách hàng. Marketing xác định rõ phải sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản phẩm có đặc điểm như thế nào, cần sử dụng tốt hoạt động Marketing thì có thể họ rất tốn tiền của vào việc sản xuất ra các sản phẩm, dịch vụ mà trên thực tế người tiêu dùng không mong đợi. Trong khi đó nhiều loại sản phẩm và dịch vụ họ rất cần và muốn được thoả mãn thì nhà sản xuất lại không phát hiện ra. Bên cạnh đó hoạt động Marketing làm cho sản phẩm thích ứng với nhu cầu thị trường, nó kích thích sự nghiên cứu và cải tiến làm cho hoạt động của doanh nghiệp đạt được những mục tiêu đề ra. Marketing có ảnh hưởng to lớn, ảnh hưởng quyết định đến doanh số, chi phí, lợi nhuận và qua đó đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời nó là công cụ quản lý kinh tế và công cụ của kế hoạch hoá.

    Qua đó ta thấy Marketing có một vai trò quan trọng trong việc góp phần vào thắng lợi của nhiều doanh nghiệp cho nên Marketing được coi là “chiếc chìa khoá vàng”, là bí quyết tạo thắng lợi trong kinh doanh.

    Thực chất công việc Marketing là biến các nhu cầu xã hội thành những cơ hội sinh lời. Muốn vậy các công ty phải có mục tiêu rõ ràng, có thể là mục tiêu về thị phần, về lợi nhuận, về an toàn trong kinh doanh… và tuỳ theo mục tiêu mà công ty theo đuổi, công ty đưa ra các quyết định về chiến lược, chiến thuật Marketing phù hợp. Marketing – Mix chính là một hệ thống trong Marketing hiện đại để công ty đạt được mục tiêu đề ra.

    Theo Philip Kotler: “Marketing – Mix là tập hợp những yếu tố biến động kiểm soát được của Marketing mà công ty sử dụng để cố gắng gây được phản ứng mong muốn từ phía thị trường mục tiêu”.

    Các bộ phận cấu thành của Marketing hỗn hợp được biết đến như là 4P; đó là: chiến lược sản phẩm (Product); chiến lược giá cả (Price); chiến lược phân phối (Place) và chiến lược xúc tiến khuyếch trương (Promotion). Các bộ phận này không phải thực hiện một cách rời rạc mà phải được kết hợp chặt chẽ. Công ty cũng không vì thế mà xây dựng các chiến lược này mang tính chất cào bằng. Tương ứng với từng giai đoạn phát triển của sản phẩm, với mỗi loại thị trường, chiến lược của đối thủ cạnh tranh, công ty sẽ chọn cho mình một chiến lượcMarketing hiệu quả, là sự kết hợp của 4 yếu tố trong Marketing – Mix với mức độ quan trọng khác nhau.

    * Chiến lược sản phẩm

    ã Quyết định về nhãn hiệu sản phẩm hàng hoá: Các vấn đề cơ bản doanh nghiệp phải giải quyết trong quyết định này là: có gắn nhãn hiệu cho hàng hoá của mình hay không? Ai là người chủ nhãn hiệu hàng hoá? Tương ứng với nhãn hiệu đã chọn chất lượng hàng hoá có những đặc trưng gì? Đặt tên cho nhãn hiệu như thế nào? Có nên mở rộng giới hạn sử dụng tên nhãn hiệu hay không?

    -Quyết định về bao gói và dịch vụ đối với sản phẩm hàng hoá: Bao gói và dịch vụ đối với sản phẩm hàng hoá là một trong các yếu tố cấu thành sản phẩm hàng hoá hoàn chỉnh. Do vậy, đây là một công cụ đắc lực của hoạt động Marketing đòi hỏi các nhà quản trị Marketing phải đưa ra những quyết định hiệu quảa.

    * Chiến lược giá cả:

    Chiến lược giá cả là việc xác định mục tiêu định giá, lựa chọn các phương pháp định giá cũng như chính sách định giá phù hợp của công ty.

    Mục tiêu của chiến lược giá được xác định sau khi công ty xác định được mục tiêu định giá, cầu ở thị trường mục tiêu và phân tích hàng hoá và giá cả của đối thủ cạnh tranh.

    Có rất nhiều phương pháp định giá, bao gồm việc định giá theo mô hình 3C, định giá theo cách cộng lãi vào chi phí, định giá theo thoả thuận, theo giá trị cảm nhận… Bằng cách lựa chọn một trong các định giá, công ty đã thu hẹp khoảng giá để từ đó chọn cho mình một mức giá cuối cùng.

    Tuy nhiên, công ty không chỉ xây dựng một mức giá bán duy nhất mà phải xây dựng cho mình những chiến lược giá để có thể thích ứng một cách nhanh chóng với những thay đổi về cầu, về chi phí, khai thác tối đa những cơ hội xuất hiện trong từng giao dịch và phản ứng kịp thời với những thủ đoạn cạnh tranh về giá cả của các đối thủ cạnh tranh.

    Một chiến lược về giá mà công ty có thể áp dụng bao gồm:

    – Xác định giá cho sản phẩm mới: Đây là chiến lược về giá được soạn thảo gắn với giai đoạn đầu của chu kỳ sống sản phẩm.

    – Định giá 2 phần: Chiến lược này thường sử dụng cho các công ty dịch vụ.

    – Định giá theo nguyên tắc địa lý: Công ty định giá sản phẩm của mình cho khách hàng theo các khu vực địa lý.

    – Chiết giá và bớt giá: Công ty có thể điều chỉnh mức giá cơ bản của mình thông qua chiết giá, bớt giá để khuyến khích khách hàng trong việc mua và thanh toán.

    – Định giá khuyến mại: Đây là hình thức điều chỉnh giá tạm thời nhằm mục đích hỗ trợ các hoạt động xúc tiến bán.

    – Định giá phân biệt: Công ty có thể điều chỉnh mức giá cơ bản để phù hợp với những điều kiện khác biệt của khách hàng, của sản phẩm hoặc của các yếu tố khác chứ không phải vì chi phí.

    – Thay đổi giá. Trong nhiều trường hợp do những biến đổi của môi trường kinh doanh, công ty buộc phải thay đổi chiến lược định giá của mình, nghĩa là chủ động thay đổi mức giá cơ bản hoặc đối phó lại việc thay đổi giá của đối thủ cạnh tranh.

    * Chiến lược phân phối.

    Bao gồm các hoạt động giải quyết vấn đề hàng hoá dịch vụ được đưa như thế nào đến người tiêu dùng. Các quyết định về phân phối thường phức tạp và có ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các lĩnh vực khác trong Marketing.

    Sau khi xác định mục tiêu phân phối, lựa chọn, thiết lập các kiểu kênh phân phối phù hợp, lựa chọn các trung gian thiết lập một liên hệ trong kênh và toàn bộ mạng lưới phân phối, công ty đưa ra các quyết định phân phối vật chất bao gồm các hoạt động:

    – Xử lý đơn đặt hàng.

    – Quyết định về kho bãi dự trữ hàng.

    – Quyết định khối lượng hàng hoá dự trữ trong kho.

    – Quyết định về vận tải.

    Phân phối hàng hoá có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở để đáp ứng nhu cầu thị trường, củng cố uy tín của doanh nghiệp. Đồng thời quá trình phân phối hàng hoá chính xác đảm bảo sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp được vận động hợp lý, giảm chi phí lưu thông giúp doanh nghiệp bất cứ các cơ hội chiếm lĩnh và mở rộng thị trường.

    * Chiến lược xúc tiến khuyếch trương:

    Chiến lược xúc tiến, khuyếch trương bao gồm mọi hoạt động của công ty nhằm truyền bá những thông tin về sản phẩm và dịch vụ của công ty với đối tượng là toàn bộ công chúng nói chung và người tiêu dùng – khách hàng mục tiêu nói riêng, nhằm mục đích giới thiệu, kích thích, thuyết phục khách hàng hiểu biết, chấp nhận, ưa thích, tin tưởng cuối cùng là mua hàng.

    Thông tin Marketing sẽ trao quyền, đưa đến, chuyển giao những thông điệp cần thiết về doanh nghiệp, về sản phẩm của doanh nghiệp, về phương thức phục vụ, về những lợi ích mà khách hàng nhận khi mua sản phẩm của doanh nghiệp cũng như những tin tức cần thiết từ phía khách hàng. Thông qua đó doanh nghiệm tìm cách thỏa mãn tốt nhất nhu cầu khách hàng. Một số công cụ chủ yếu thường được các công ty sử dụng trong các chiến lược xúc tiến hỗn hợp là:

    – Xúc tiến bán: Là những biện pháp tác động tức thời ngắn hạn để khuyến khích việc mua sản phẩm hay dịch vụ. Nói cách khác xúc tiến bán hàng được hiểu là tất cả các hoạt động Marketing của doanh nghiệp nhằm tác động vào tâm lý khách hàng, tiếp cận họ để nắm bắt nhu cầu của họ từ đó đưa ra các biện pháp để lôi kéo – kích thích họ mua hàng.

    Hoạt động xúc tiến giúp cho các doanh nghiệp có cơ hội phát triển các mối quan hệ với bạn hàng đồng thời giúp doanh nghiệp những thông tin về thị trường, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển kinh doanh, giúp doanh nghiệp có thông tin tốt về khách hàng cũng như đối thủ cạnh tranh để có hướng đổi mới kinh doanh, đầu tư phù hợp. Mặt khác, xúc tiến cũng là công cụ hữu hiệu để chiếm lĩnh thị trường, tăng tính cạnh tranh của hàng hoá dịch vụ trên thị trường chính về xúc tiến tạo điều kiện làm cho bán hàng được thuận lợi, kênh phân phối được bố trí hợp lý, tăng hiệu quả, hơn nữa xúc tiến bán là công cụ đặc biệt kích thích người tiêu dùng tìm hiểu – mua và sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp. Tóm lại, hoạt động xúc tiến là cầu nối giữa khách hàng và doanh nghiệp.

    – Tuyên truyền: Là việc kích thích một cách gián tiếp nhằm tăng nhu cầu về hàng hoá – dịch vụ hay tăng uy tín của doanh nghiệp bằng cách đưa ra những tin tức có ý nghĩa thương mại về doanh nghiệp trên các ấn phẩm, các phương tiện thông tin đại chúng một cách thuận lợi và miễn phí.

    – Bán hàng cá nhân: Là sự giao tiếp trực tiếp giữa người bán với khách hàng tiềm năng, trong đó người bán hàng có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu cho người mua và nhận tiền. Bán hàng là khâu trung gian liên lạc thôgn tin giữa doanh nghiệp và khách hàng, thông qua hoạt động mua bán, nhà kinh doanh nắm bắt tốt hơn nhu cầu và người tiêu dùng cũng hiểu hơn về nhà snả xuất kinh doanh, đánh giá được tiềm năng của doanh nghiệp qua đó lựa chọn chính xác nhà cung cấp cho mình . Điều kiện để hoạt động bán hàng cá nhân hiệu quả là xây dựng đội ngũ đại diện sử dụng bán hàng có năng lực tinh thông nghiệp vụ, được đào tạo kỹ năng giao tiếp, nghệ thuật chào hàng, trung thực, năng động. Mặt khác, việc tổ chức phân tích kết quả bán hàng nhằm tìm ra những hạn chế và thuận lợi của phương án kinh doanh cũng rất quan trọng.

    – Quan hệ công chúng:

    Công chúng có thể tạo thuận lợi và gây trở ngại cho khả năng đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Người quyết định cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp không chỉ là khách hàng mà còn là người cung ứng, đại lý và công chúng quan tâm. Doanh nghiệp có thể xây dựng mối quan hệ với công chúng qua phương tiện báo chí, tham gia hội chợ, triển lãm tổ chức hội nghị, hội thảo nhằm qua đó giới thiệu hình ảnh của doanh nghiệp, tạo sự quan tâm chú ý tới sản phẩm của doanh nghiệp, gây uy tín, khuyến khích bán hàng.

    Tóm lại, Marketing – Mix là tập hợp những công cụ có thể kiểm soát được mà doanh nghiệp sử dụng để điều khiển khách hàng. Việc lựa chọn chiến lược Marketing thành công đòi hỏi phải hình dung được một cách sáng tạo tiềm năng phát triển của thị trường và sản phẩm. Điều này có thể dựa trên cơ sở thăm dò khách hàng, trực giác, lập luận biện chứng hay lập luận thứ bậc của nhu cầu. Lợi nhuận sẽ đổ dồn vào những người sớm tung ra những ích lợi mới và có giá trị.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài: Marketing Xuất Khẩu Của Công Ty May Thăng Long
  • Khái Niệm Vai Trò Và Chức Năng Của Marketing Quốc Tế.
  • Liều Như Steve Jobs Mới Có Thể Thành Công
  • Chiến Lược Chung Marketing Của Doanh Nghiệp
  • Nghề Marketing: Nghề Dành Cho Các Bạn Trẻ Năng Động, Sáng Tạo
  • Vai Trò Của Digital Marketing Trong Marketing Communications Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Marketing Dược Là Gì? Vai Trò Của Marketing Dược Trong Xã Hội Hiện Nay
  • Hệ Thống Marketing Là Gì? Vai Trò Của Nó Như Thế Nào?
  • Marketing Là Gì? Vai Trò Và 3 Chức Năng Của Marketing
  • Hội Nông Dân Tỉnh Ninh Bình
  • Thông Báo Phân Công Nhiệm Vụ Đối Với Chủ Tịch Và Các Phó Chủ Tịch Ủy Ban Mttq Việt Nam Tỉnh Khóa Xiii, Nhiệm Kỳ 2021
  • Xin lỗi nhưng bạn chưa phải là một marketer

    Nếu các bạn cũng như tôi, dấn thân vào làm trong ngành marketing này chỉ do đường đời đưa đẩy chứ không hề tính toán trước và cũng không hề được học hay đào tạo chính quy gì về marketing trên giảng đường hoặc các khóa học bên ngoài thì nên đọc tiếp. Nếu bạn muốn hiểu rõ hơn digital đóng vai trò gì và nó có vị trí thế nào trong toàn bộ bối cảnh là marketing thì cũng nên đọc tiếp.

    Xuất thân ra trường với cái bằng Tiếng Anh chung chung, tôi đinh ninh rằng cái nghề mình sẽ làm phải là biên phiên dịch hay gì đó. Và đúng là công việc đầu tiên của tôi tại một công ty nội địa nhỏ là ngồi dịch thuật một mớ những bài viết tiếng Anh hằng ngày sang tiếng Việt và đăng lên website bán hàng của công ty. Rồi sau đó từ việc quản lý và viết bài cho website, vì nhiều hà cớ (mà tôi sẽ kể trong một dịp khác) mà tôi bắt đầu bắt tay qua tự học và làm về SEO. Tôi lặn ngụp trong mớ kiến thức về SEO, tự học về HTML/CSS, Javascript, PHP, domain, hosting và tất tần tật mọi thứ để có thể làm tốt công việc của mình. Sau hơn 2,5 năm làm việc ở công ty đầu tiên đó, tôi có thể tạm gọi mình là một người làm SEO.

    Tôi chỉ bắt đầu nhận ra rằng những gì mình biết về marketing chỉ là những chiến thuật (tactics) tiểu tiết, những mảnh ghép rời rạc, những kiến thức lổ chỗ thiếu hụt và những suy nghĩ lệch lạc về cái gọi là mối quan hệ giữa thương hiệu và khách hàng. Tôi cũng nhận ra sự yếu kém của mình về kiến thức ngành khi có dịp trao đổi và trò chuyện với các anh chị nhiều kinh nghiệm hơn làm việc bên mảng marketing truyền thống.

    Vậy lúc đó tôi nhận ra điều gì? Tôi nhận ra rằng…

    Digital marketing không tách rời khỏi marketing truyền thống…

    … và tất cả những lý thuyết và nền tảng về marketing thì từ trước đến nay vẫn không hề có sự thay đổi. Là một người không học qua căn bản về marketing mà chỉ nhảy sổ vào ngành, sau đó tự mình học những kiến thức cóp nhặt từ nhiều nơi và tự ghép nối chúng lại, tôi đã từng nghĩ rằng digital marketing là một phần tách rời, là tương lai của marketing, marketing truyền thống đang đi xuống và rồi sẽ chết dần. Nhưng không, digital marketing không phải là một khái niệm mới, nó cũng không phải là một thứ gì đó tách rời với các kênh truyền thống mà nó là một phần của tổng thể trong khái niệm integrated marketing communications mà chúng ta sẽ đề cập sau.

    * Lưu ý tất cả các từ Communications mang nghĩa truyền thông qua các phương tiện (TVC, bảng hiệu, digital) đều PHẢI CÓ S mới là đúng. Vì Tú thấy rất nhiều bạn ghi sai thành communication nghĩa là giao tiếp thông thường giữa người và người. Và vì trong marketing thì phương thức mà một thương hiệu dùng để truyền tải thông điệp đến người dùng thường là phải thông qua các phương tiện truyền thông, do đó communications sẽ là từ được dùng thường xuyên.

    Digital marketing là một khái niệm bao trùm các kênh / phương thức truyền thông mới xuất hiện sau này và thường được nhiều người gắn liền với các kênh online. Tuy nhiên digital marketing theo tôi thì tổng thể hơn như thế và bao gồm Digital Advertising và Online Marketing. Với sự chuyển biến hiện tại thì các lằn ranh sẽ ngày càng mờ dần hơn giữa 2 nhánh của digital marketing.

    Cấu thành của Marketing và các định nghĩa

    Một trong những lý do tôi viết bài này là vì trong thời gian vừa rồi tôi thấy khá là nhiều những chia sẻ đến từ cộng đồng và một số chia sẻ đó thì theo tôi chưa thực sự đúng lắm về mặt nền tảng. Tôi không nói là những chia sẻ đó là hoàn toàn sai vì thực sự có rất nhiều cách hiểu và góc nhìn khác nhau nếu nói về mảng kiến thức trong marketing. Ngay cả marketing models để lên chiến lược cũng có rất nhiều biến thể khác nhau và nhiều loại khác nhau, ví dụ như 4Ps, 4Cs, 7Ps, 7S, AIDA, 5Is, BCG Matrix, SOSTAC, v.v… và việc đúng sai hợp lý hay không đôi khi vẫn còn rất nhiều tranh cãi.

    Tuy nhiên như tôi đã nói phía trên, nền tảng là thứ rất quan trọng. Nếu nói về nền tảng mà bị sai lệch thì tất cả mọi định hướng và ý nghĩa đều sẽ bị sai lệch theo. Kiến thức dù muốn tốt để truyền tải đi nhưng nền tảng bị sai thì cũng sẽ gây ảnh hưởng không tốt, nhất là với các bạn trẻ vẫn đang còn trong giai đoạn học hỏi rất nhiều thứ.

    Tôi đã vẽ ra cái hình bên dưới để mọi người có thể dễ mường tượng:

    Marketing Mix: 4Ps và 7Ps

    Nền tảng của Marketing là Marketing Mix model bao gồm 4Ps: Product, Price, Place, Promotion và sau này được mở rộng ra thành 7Ps với People, Process và Physical Environment. Ở đây tôi chỉ tóm gọn lại về 4Ps và 7Ps này:

    1. Product (sản phẩm): có thể là sản phẩm hữu hình (hàng hóa) hay vô hình (dịch vụ) mà thỏa mãn được nhu cầu hay mong muốn của người dùng.

    2. Price (giá): là chi phí (tiền, thời gian, công sức) khách hàng sẵn sàng trả cho sản phẩm hay dịch vụ nhận được.

    3. Place (địa điểm / phân phối): phương thức để cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng một cách thuận tiện nhất.

    3Ps được thêm vào sau này:

    5. People (con người): nhân sự tham gia vào việc cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng, tương tác giữa nhân viên và khách hàng hay giữa khách hàng với nhau.

    6. Process (quy trình): các quy tắc, cơ chế mà dịch vụ được cung cấp cho khách hàng.

    7. Physical Environment (cơ sở vật chất): môi trường mà việc mua bán hàng hóa hay cung cấp dịch vụ diễn ra hoặc cơ sở vật chất để có thể sản xuất hàng hóa hay dịch vụ.

    Để hiểu thêm về Marketing Mix, các bạn nên đọc quyển The Principles of Marketing của Philip Kotler, đây là sách giáo khoa nhập môn căn bản mà ai làm marketing cũng nên đọc.

    Promotion Mix – Marketing Communications

    Quay trở lại với phần Promotion, Promotion Mix là gì? Promotion Mix (hay còn gọi là Marketing Communications – Marcom) là tập hợp các công cụ mà người làm marketing có thể sử dụng để truyền tải thông điệp hoặc tương tác với người dùng và tác động đến quyết định mua hàng của họ.

    3. Personal selling: là phương thức tiếp cận người dùng trực tiếp thông qua các nhân viên bán hàng hoặc tư vấn viên. Bao gồm: nhân viên bán hàng, tư vấn qua điện thoại, bán hàng qua mối quan hệ, v.v…

    4. Sales promotion: đây là các hoạt động nhằm mục đích kích thích và khuyến khích người dùng mua sản phẩm bao gồm khuyến mãi, hàng sử dụng thử (demo), các vouchers, coupons, trưng bày tại điểm bán v.v…

    5. Public relations: là các hoạt động nhằm mục đích xây dựng một hình ảnh đồng nhất của thương hiệu không chỉ đối với khách hàng mà còn với những nhóm đối tượng khác nhau trong xã hội. Public relations bao gồm:

    + Government relations: quan hệ chính phủ – tuân thủ các yêu cầu về pháp lý, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ, thực hiện trách nhiệm xã hội.

    + Customer relations: quan hệ mà công ty xây dựng với các khách hàng mà mình đang cung cấp dịch vụ hoặc sản phẩm.

    + Community relations: quan hệ cộng đồng – xây dựng hình ảnh của thương hiệu với cộng đồng địa phương hoặc cộng đồng ngành nơi mà công ty đang hoạt động.

    + Media relations: quan hệ truyền thông – tạo dựng mối quan hệ tốt với các cơ quan truyền thông, báo chí để đảm bảo một hình ảnh thương hiệu nhất quán trên các kênh truyền thông.

    + Influencer relations: quan hệ với những người có ảnh hưởng nhằm có thể vận dụng họ như một kênh truyền thông hiệu quả.

    + Publicity: các hoạt động thu hút sự quan tâm của cộng đồng và công chúng nhằm khuếch trương danh tiếng và thương hiệu.

    + Internal communications: truyền thông nội bộ – truyền thông tới các nhân viên của công ty và đối tác về hình ảnh và thương hiệu của công ty nhằm xây dựng văn hóa và sự gắn kết.

    * Một số bạn hay dùng từ Publicity như từ đồng nghĩa với Public Relations nhưng cái đó là sai vì Publicity chỉ là một phần của các hoạt động về PR – Branding.

    Vai trò và vị trí của digital marketing trong promotion mix / marketing communications

    Lúc này chúng ta mới tới phần kênh truyền tải. Các kênh digital, bên cạnh các kênh truyền thống đóng vai trò như phương tiện để truyền tải thông điệp đến khách hàng. Việc lựa chọn kênh nào để truyền tải là phụ thuộc vào công cụ mà thương hiệu sử dụng, đối tượng muốn hướng tới và loại nội dung họ tạo ra. Dù là truyền tải trên kênh nào thì cũng đều có 3 bước cần phải làm:

    Khái niệm integrated marketing communications (IMC) như được nói đến trong The Principles of Marketing chính là việc truyền tải các thông điệp đến người dùng một cách đồng nhất bằng cách kết hợp nhuần nhuyễn các công cụ của Promotion Mix và các kênh truyền tải dù là digital hay truyền thống. Như bạn có thể thấy trên hình, phần IMC chính là nguyên phần Promotion Mix phía trên.

    Đương nhiên, như đã nói, đây là một góc nhìn. IMC với một số người khác lại sẽ theo góc nhìn khác, đi từ concept, brand images hoặc cắt lớp theo các hướng khác nhau. Cái Tú trình bày đây là IMC được hiểu theo nghĩa cơ bản, phân chia theo các chuẩn mực và marketing mix model được giảng dạy.

    Bạn có thể thấy digital marketing lúc này là một phần của IMC dưới dạng là các kênh truyền tải thông điệp và nó là một phần của chiến lược tổng thể từ trên xuống đi cùng với các yếu tố khác như Product, Price, Place, People, Process hay Physical Environment chứ nó không tồn tại một cách đơn lẻ hay tách biệt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Digital Marketing Là Gì? Vai Trò Của Digital Marketing Trong Kinh Doanh
  • Digital Marketing Là Gì? Tầm Quan Trọng Và Các Hình Thức Của Digital Marketing
  • Digital Marketing Là Gì – Toàn Tập Về Tiếp Thị Số!
  • Mạch Bảo Vệ Quá Dòng
  • Mạch Bảo Vệ Pin Là Gì? Mua Nó Ở Đâu?
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Thị Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Và Vai Trò Của Thị Trường Chứng Khoán
  • Dịch Vụ Báo Cáo Tài Chính
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Tổ Chức Xã Hội
  • Khái Niệm Và Ðặc Ðiểm Của Các Tổ Chức Xã Hội Ở Nước Ta
  • Vai Trò Của Các Tổ Chức Xã Hội Và Một Vài Khuyến Nghị
  • Vai trò của thị trường

    Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp góp phần vào việc thoả mãn các nhu cầu của thị trường, kích thích sự ra đời của các nhu cầu mới và nâng cao chất lượng nhu cầu… Tuy nhiên trong cơ chế thị trường, thì thị trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thị trường vừa là động lực, vừa là điều kiện, vừa là thước đo kết quả và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp

    Là động lực: Thị trường đặt ra các nhu cầu tiêu dùng, buộc các doanh nghiệp nếu muốn tồn tại được phải luôn nắm bắt được các nhu cầu đó và định hướng mục tiêu hoạt động cũng phải xuất phát từ những nhu cầu đó. Ngày nay, mức sống của người dân được tăng lên một cách rõ rệt do đó khả năng thanh toán của họ cũng cao hơn. Bên cạnh đó, các đơn vị, các tổ chức kinh tế trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh doanh đua nhau cạnh tranh dành giật khách hàng một cách gay gắt bởi vì thị trường có chấp nhận thì doanh nghiệp mới tồn tại được nếu ngược lại sẽ bị phá sản. Vậy thị trường là động lực sản xuất,cũng như kinh doanh thương mại của doanh nghiệp.

    Là điều kiện: Thị trường bảo đảm cung ứng có hiệu quả các yếu tố cần thiết để doanh nghiệp thực hiện tốt nhiệm vụ hoạt động kinh doanh của mình. Nếu doanh nghiệp có nhu cầu về một loại yếu tố sản xuất hay một loại hàng hóa nào đó thì tình hình cung ứng trên thị trường sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tiêu cực hoặc tích cực tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vậy thị trường là điều kiện của mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

    Là thước đo: Thị trường cũng kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các phương án hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong qua trình hoạt động kinh doanh thương mại, các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với các trường hợp khó khăn đỏi hỏi phải có sự tính toán cân nhắc trước khi ra quyết định. Mỗi một quyết định đều ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của các doanh nghiệp. Thị trường có chấp nhận, khách hàng có ưa chuộng sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp thì mới chứng minh được phương án kinh doanh đó là có hiệu quả và ngược lại. Vậy thị trường là thước đo hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

    Như vậy thông qua thị trường (mà trước hết là hệ thống giá cả) các doanh nghiệp có thể nhận biết được sự phân phối các nguồn lực. Trên thị trường, giá cả hàng hoá và dịch vụ, giá cả các yếu tố đầu vào (như máy móc thiết bị, nguồn sản phẩm hàng hóa, đất đai, lao động, vốn… ) luôn luôn biến động nên phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để tạo ra các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng kịp thời nhu cầu hàng hoá của thị trường và xã hội.

    Chức năng của thị trường:

    Nếu sản phẩm doanh nghiệp sản xuất hay nhập khẩu tiêu thụ được trên thị trường, tức là khi đó hàng hoá của doanh nghiệp đã được thị trường chấp nhận, lúc ấy sẽ tồn tại một lượng khách hàng nhất định có nhu cầu và sãn sàng trả tiền để có hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu đó và quá trình tái sản xuất đầu tư của doanh nghiệp nhờ đó mà cũng được thực hiện. Thị trường thừa nhận tổng khối lượng hàng hoá và dịch vụ đưa ra giao dịch, tức thừa nhận giá trị và giá trị sử dụng của chúng, chuyển giá trị cá biệt thành giá trị xã hội. Sự phân phối và phân phối lại các nguồn lực nói lên sự thừa nhận của thị trường.

    Chức năng này đòi hỏi các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động kinh doanh phải tìm hiểu kỹ thị trường, đặc biệt là nhu cầu thị trường. Xác định cho được thị trường cần gì với khối lượng bao nhiêu…

      Chức năng thực hiện của thị trường

    Thông qua các hoạt động trao đổi trên thị trường, người bán và người mua thực hiện được các mục tiêu của mình. Người bán nhận tiền và chuyển quyền sở hữu cho người mua. Đổi lại, người mua trả tiền cho người bán để có được giá trị sử dụng của hàng hoá. Tuy nhiên, sự thể hiện về gía trị chỉ xảy ra khi thị trường đã chấp nhận giá trị sử dụng của hàng hoá. Do đó, khi sản xuất hàng hoá và dịch vụ doanh nghiệp không chỉ tìm mọi cách để giảm thiểu các chi phí mà còn phải chú ý xem lợi ích đem lại từ sản phẩm có phù hợp với nhu cầu thị trường hay không.

    Như vậy thông qua chức năng thực hiện của thị trường, các hàng hoá và dịch vụ hình thành nên các giá trị trao đổi của mình để làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực.

      Chức năng điều tiết và kích thích của thị trường

    Cơ chế thị trường sẽ điều tiết việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế , tức là kích thích các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh vào các lĩnh vực có mức lợi nhuận hấp dẫn, có tỷ suất lợi nhuận cao, tạo ra sự di chuyển sản xuất từ ngành này sang ngành khác. Thể hiện rõ nhất của chức năng điều tiết là sự đào thải trong quy luật cạnh tranh. Doanh nghiệp nào, bằng chính nội lực của mình, có thể thoả mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường, phản ứng một cách kịp thời, linh hoạt, sáng tạo với các biến động của thị trường thì sẽ tồn tại và phát triển, ngược lại sẽ bị phá sản. Ngoài ra thị trường còn hướng dẫn người tiêu dùng sử dụng theo mục đích có lợi nhất nguồn ngân sách của mình.

    Chức năng này đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm bắt cho được chu kỳ sống của sản phẩm, để xem sản phẩm đang ở giai đoạn nào, tức lã xem sét mức độ hấp dẫn của thị trường đến đâu để từ đó có các chính sách phù hợp.

      Chức năng thông tin của thị trường

    Chức năng này được thể hiện ở chỗ, thị trường chỉ cho người đầu tư kinh doanh biết nên cung cấp hàng hoá và dịch vụ nào, bằng cách nào và với khối lượng bao nhiêu để đưa vào thị trường tại thời điểm nào là thích hợp và có lợi nhất, chỉ cho người tiêu dùng biết nên mua những loại hàng hoá và dịch vụ tại những thời điểm nào là có lợi cho mình.

    Thị trường sẽ cung cấp cho nhà sản xuất hay nhà kinh doanh thương mại và người tiêu dùng những thông tin sau: Tổng số cung, tổng số cầu, cơ cấu cung và cầu, quan hệ cung cầu đối với từng loại hàng hoá và dịch vụ, các điều kiện tìm kiếm hàng hoá và dịch vụ, các đơn vị sản xuất và phân phối…Đây là những thông tin quan trọng cho cả nhà sản xuất và người tiêu dùng để đề ra quyết định thích hợp đem lại lợi ích hiệu quả cho họ.

    Để có những thông tin này doanh nghiệp phải tổ chức tốt hệ thống thông tin của mình bao gồm các ngân hàng thống kê và ngân hàng mô hình cũng như các phương pháp thu thập xử lý thông tin nhằm cung cấp những thông tin về thị trường cho lãnh đạo doanh nghiệp để xây dựng kế hoạch chiến lược, kế hoạch phát triển thị trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Thị Trường Người Tiêu Dùng Và Hành Vi Của Người Mua
  • Những Hiểu Biết Về Quản Trị Marketing
  • Các Tiêu Thức Phân Loại,chức Năng Và Vai Trò Của Thị Trường
  • Marketing Ngân Hàng, Những Hiểu Biết Căn Bản Nhất
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Mở Rộng Thị Trường Tiêu Thụ Trong Nước Của Công Ty Bánh Kẹo Hải Hà
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Tiền Tệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguồn Gốc Ra Đời Và Bản Chất Của Tiền Tệ
  • Giao An Dien Tu Giao An Gdcd 11 Tron Bo 3 Cot
  • Trả Lời Câu 5 Trang 26 Sgk Gdcd 11
  • Tác Động Của Chính Sách Tiền Tệ Đến Tăng Trưởng Kinh Tế
  • Nêu Tên Các Chức Năng Của Tiền Câu Hỏi 29782
  • I.VAI TRÒ CỦA TIỀN TỆ :Vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế thị trường thể hiện ở ba mặt:-Thứ nhất: tiền tệ là phương tiện không thể thiếu để mở rộng và phát triển nền kinh tế hàng hóa. C.Mác đã chỉ ra rằng, người ta khổng thể tiến hàng sản xuất hàng hóa nếu như không có tiền và sự vận động của nó.Khi tiền tệ tham gia trong chức năng thước đo giá trị và phương tiện lưu thông là cho việc đo lường và biểu hiện giá trị của hàng hóa trở nên giản đơn, thuận lợi và thống nhất, làm cho sự vận động của hàng hóa trong lưu thông tiến hành một cách trôi chảy. Mặt khác, khi sử dụng tiền trong sản xuất kinh doanh giúp cho người sản xuất có thể hạch toán được chi phí và xác định kết quả sản xuất kinh doanh, thực hiện được tích lũy tiền tệ để thực hiện tái sản xuất kinh doanhTiền tệ trở thành công cụ duy nhất và không thể thiêu để thực hiện yêu cầu quy luật giá trị. Vì vậy, nó là công cụ không thể thiếu được để mở rộng và phát triển nền kinh tế hàng hóa.-Thứ hai: tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế. Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển chuyển sang nền kinh tế thị trường thì tiền tệ không những là phương tiện thực hiện các quan hệ kinh tế xã hội trong phạm vi quốc gia mà còn là phương tiện quan trọng để thực hiện và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.Cùng với ngoại thương, các quan hệ thanh toán và tín dụng quốc tế, tiền tệ phát huy vai trò của mình để trở thành phương tiện cho việc thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế, nhất là đối với các mối quan hệ nhiều mặt giữa các quốc gia trên thế giới hình thành và phát triển làm cho xu thế hội nhập trên các lĩnh vực kinh tế xã hội, tài chính, tiền tệ ngân hàng, hợp tác khoa học kỹ thuật giữa các nước.-Thứ ba: tiền tệ là một công cụ để phục vụ cho mục đích của người sử dụng chúng.Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển cao thì hầu hết các mối quan hệ kinh tế-xã hội đều được tiền tệ hóa, mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan…đều không thể thoát ly khỏi các quan hệ tiền tệ. Trong điều kiênh tiền tệ trở thành công cụ có quyền lực vạn năng xử l‎ và giải tỏa mối ràng buộc phát sinh trong nền kinh tế xã hội không những trong phạm vi quốc gia mà còn phạm vi quốc tế. Chính vì vậy mà tiền tệ có thể thỏa mãn mọi mục đích và quyền lợi cho những ai đang nắm giữ tiền tệ. Chừng nào còn tồn tại nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ thì thế lực của đồng tiền vẫn còn phát huy sức mạnh của nó.II.CHỨC NĂNG CỦA TIỀN TỆBản chất của tiền tệ được thể hiện qua các chức năng của nó. Theo C. Mác tiền tệcó 5 chức năng:- Thước đo giá trị. Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá.Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệlàm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hoá khôngcần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởngtượng. Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoátrong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hộicần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiềngọi là giá cả hàng hoá. Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hànghoá. Giá cả hàng hoá do các yếu tố sau đây quyết định:+ Giá trị hàng hoá.+ Giá trị của tiền.+ ảnh hưởng của quan hệ cung – cầu hàng hoá.Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo lường.Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ. Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kimloại dùng làm tiền tệ. ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Đơn vị tiền tệvà các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả. Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêuchuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị. Là thướcđo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đolường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ. Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sựthay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoátiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó,mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen.- Phương tiện lưu thông: Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môigiới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải cótiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá.Công thức lưu thông hàng hoá là: H- T – H, khi tiền làm môi giới trong trao đổihàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian vàkhông gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảngkinh tế.Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thoi, bạc nén. Dầndần nó được thay thế bằng tiền đúc. Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dầnvà mất một phần giá trị của nó. Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủgiá trị.Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. Sở dĩ có tìnhtrạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát. Người ta đổi hànglấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiềnkhông nhất thiết phải có đủ giá trị. Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìmcách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngàycàng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy.Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công nhậntrong phạm vi quốc gia.- Phương tiện cất trữ. Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thôngđi vào cất trữ. Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xãhội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải. Để làm chứcnăng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc. Chức năng cất trữlàm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cholưu thông. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưuthông. Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền vàng rútkhỏi lưu thông đi vào cất trữ.- Phương tiện thanh toán. Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ,nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng … Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đếntrình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu. Trong hình thức giao dịch này trướctiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá. Nhưng vì là mua bánchịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán.Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cáchthanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt. Mặt khác, trong việc mua bán chịungười mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ. Khi hệ thống chủ nợ và con nợphát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽgây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tănglên.- Tiền tệ thế giới. Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làmchức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hìnhthái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiệnmua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xãhội.Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết vớinhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưuthông hàng hoá.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hàng Hóa Tiền Tệ Bai2Hanghoatientethitruongphaniitiente Ppt
  • Bai 2 Hàng Hóa Thị Trường Tiền Tệ Bai2 Tiet1 Ppt
  • Nguồn Gốc Và Bản Chất Của Tiền Tệ
  • Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 1310417
  • Tháp Nhu Cầu Maslow Là Gì? Khái Niệm Và Phân Tích Chi Tiết
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100