Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa

--- Bài mới hơn ---

  • Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa
  • Những Đặc Trưng Của Văn Hóa Việt Nam
  • Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa
  • Đề Thi Môn Ngữ Văn Kỳ Thi Hsg Quốc Gia 2022: Văn Học Có Giúp Con Người Giải Tỏa Những Áp Lực Trong Cuộc Sống?
  • Nhiệm Vụ Trọng Tâm Năm 2022 Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyện Vĩnh Thạnh
  • Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa, Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa, Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Mẫu Lý Lịch Hồ Sơ Công Chức Của Ban Tổ Chức Trung ương 2a, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hảo Sát Những Phương Pháp Học Tập Nhằm Nâng Cao Khả Năng Giao Tiếp Của Sinh Viên Ngành Tiếng Trung T, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Quy Định Số 12-qĐ/tc-ttvh Ngày 9/1/2004 Của Ban Tổ Chức Trung ương – Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung ương, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Tờ Trình Tổ Chức Tết Trung Thu, Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 33 Của Ban Tổ Chức Trung ương, De An 04 Ban To Chuc Trung Uong Dang, Mẫu 2a/tctw-98 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Tổ Chức Trung ương, Quy Định 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn 602 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 27 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 28 Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 06 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 37 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Của Ban Tô Chức Trung ương, Quy Định 126 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Tờ Trình Xin Kinh Phí To Chuc Trung Thu, Hướng Dẫn 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 25 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 4 Kỹ Năng Tiếng Trung, Khô âm Đạo, Đa Nang Buồng Trứng, Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Tăng Khả Năng Tập Trung, U Nang Buồng Trứng, Kỹ Năng Trùng Sinh 9, Kỹ Năng Trùng Sinh 6, Chức Năng Là Gì, Chức Năng Của Tam Thất Bắc, Công Văn 1972 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw-1998 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 04-hd/btctw 2014 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn Số 3692 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Trung ương 23 Hd Btctw Ban Tổ Chức, Công Văn Số 4741 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Đơn Đề Nghị Phê Duyệt Kế Hoạch Tổ Chức Trung Thu, Kế Hoạch Tổ Chức Trung Thu Cho Học Sinh Tiểu Học, Quy Dinh 104 Ve Tap Trung Dan Chu Trong To Chuc Dang, Huong Dan So 23 Nam 2003 Cua Ban To Chuc Trung Uong, Hướng Dẫn Số 23/2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Chức Trách Trung Đoàn Trưởng, Quyết Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Vé Số Pdf, Bài Giảng U Nang Buồng Trứng, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Số, Mổ Nội Soi U Nang Buồng Trứng Giá Bao Nhiêu, Chuyên Đề U Nang Buồng Trứng, Cẩm Nang Du Lịch Miền Trung, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Kỹ Năng Khẩu Ngữ Tiếng Trung, Sach Hoc Tang Kha Nang Trung Ve Xo, Kỹ Năng Nghe Tiếng Trung, Sách Học Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Chức Năng Gia Đình, Ngữ Pháp Chức Năng, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Chỉ Đội, Chuc Năng Cua Giao Duc Mam Non, Chủ Nghĩa Mác Có Chức Năng Gì, Chức Năng Quản Lý, Tóm Tắt 5 Chức Năng Của Tiền Tệ, Chức Năng Sửa Lịch Hẹn, Chức Năng Cơ Bản Của Tôn Giáo, Hãy Kể Tên Phần Phụ Và Chức Năng Của Tôm, Ky Nang To Chuc Su Kien, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trợ Lý Hậu Cần, Chức Năng Của Máy Tính, 3-hd/tctw Ngày 14-10-2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Huong Dan 55 Cua Ban To Chuc Trung Uong Ngay 31 Thàngnam05, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương Ngày 14/10/2003, Quy Định Số 104-qĐ/qu Về Một Số Vấn Đề Cơ Bản Về Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Của Tổ Chức , Dẫn 23-hd/tctw Ngày 14- 03-2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương,

    Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa, Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa, Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Mẫu Lý Lịch Hồ Sơ Công Chức Của Ban Tổ Chức Trung ương 2a, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hảo Sát Những Phương Pháp Học Tập Nhằm Nâng Cao Khả Năng Giao Tiếp Của Sinh Viên Ngành Tiếng Trung T, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Quy Định Số 12-qĐ/tc-ttvh Ngày 9/1/2004 Của Ban Tổ Chức Trung ương – Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung ương, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Tờ Trình Tổ Chức Tết Trung Thu, Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 33 Của Ban Tổ Chức Trung ương, De An 04 Ban To Chuc Trung Uong Dang, Mẫu 2a/tctw-98 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Tổ Chức Trung ương, Quy Định 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn 602 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 27 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 28 Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 06 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 37 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Của Ban Tô Chức Trung ương, Quy Định 126 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Tờ Trình Xin Kinh Phí To Chuc Trung Thu, Hướng Dẫn 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 25 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 4 Kỹ Năng Tiếng Trung,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nhận Định Hay Về Văn Học Và Phong Cách Nhà Văn (Phần 1)
  • Cần Coi Trọng Cả 4 Chức Năng Của Nghệ Thuật
  • Thế Giới Nhân Vật Trong Truyện Cổ Tích Ở Chương Trình Tiếng Việt Tiểu Học
  • Tả Nhân Vật Trong Truyện Cổ Tích Tấm Cám Lớp 5, 6
  • Phân Tích Nhân Vật Tấm Trong Truyện Cổ Tích Tấm Cám
  • Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Môn Ngữ Văn Kỳ Thi Hsg Quốc Gia 2022: Văn Học Có Giúp Con Người Giải Tỏa Những Áp Lực Trong Cuộc Sống?
  • Nhiệm Vụ Trọng Tâm Năm 2022 Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyện Vĩnh Thạnh
  • Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyện Ân Thi Tổ Chức Hội Nghị Triển Khai Nhiệm Vụ Công Tác Và Phát Động Phong Trào Thi Đua Năm 2022
  • Bàn Về Chức Năng Thực Hành Quyền Công Tố Và Kiểm Sát Việc Tuân Theo Pháp Luật Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Một Số Điểm Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Viện Kiểm Sát Trong Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2022
  • Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa, Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa, Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Mẫu Lý Lịch Hồ Sơ Công Chức Của Ban Tổ Chức Trung ương 2a, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hảo Sát Những Phương Pháp Học Tập Nhằm Nâng Cao Khả Năng Giao Tiếp Của Sinh Viên Ngành Tiếng Trung T, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Quy Định Số 12-qĐ/tc-ttvh Ngày 9/1/2004 Của Ban Tổ Chức Trung ương – Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung ương, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Tờ Trình Tổ Chức Tết Trung Thu, Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 33 Của Ban Tổ Chức Trung ương, De An 04 Ban To Chuc Trung Uong Dang, Mẫu 2a/tctw-98 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Tổ Chức Trung ương, Quy Định 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn 602 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 27 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 28 Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 06 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 37 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Của Ban Tô Chức Trung ương, Quy Định 126 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Tờ Trình Xin Kinh Phí To Chuc Trung Thu, Hướng Dẫn 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 25 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 4 Kỹ Năng Tiếng Trung, Khô âm Đạo, Đa Nang Buồng Trứng, Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Tăng Khả Năng Tập Trung, U Nang Buồng Trứng, Kỹ Năng Trùng Sinh 9, Kỹ Năng Trùng Sinh 6, Chức Năng Là Gì, Chức Năng Của Tam Thất Bắc, Công Văn 1972 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw-1998 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 04-hd/btctw 2014 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn Số 3692 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Trung ương 23 Hd Btctw Ban Tổ Chức, Công Văn Số 4741 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Đơn Đề Nghị Phê Duyệt Kế Hoạch Tổ Chức Trung Thu, Kế Hoạch Tổ Chức Trung Thu Cho Học Sinh Tiểu Học, Quy Dinh 104 Ve Tap Trung Dan Chu Trong To Chuc Dang, Huong Dan So 23 Nam 2003 Cua Ban To Chuc Trung Uong, Hướng Dẫn Số 23/2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Chức Trách Trung Đoàn Trưởng, Quyết Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Vé Số Pdf, Bài Giảng U Nang Buồng Trứng, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Số, Mổ Nội Soi U Nang Buồng Trứng Giá Bao Nhiêu, Chuyên Đề U Nang Buồng Trứng, Cẩm Nang Du Lịch Miền Trung, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Kỹ Năng Khẩu Ngữ Tiếng Trung, Sach Hoc Tang Kha Nang Trung Ve Xo, Kỹ Năng Nghe Tiếng Trung, Sách Học Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Chức Năng Gia Đình, Ngữ Pháp Chức Năng, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Chỉ Đội, Chuc Năng Cua Giao Duc Mam Non, Chủ Nghĩa Mác Có Chức Năng Gì, Chức Năng Quản Lý, Tóm Tắt 5 Chức Năng Của Tiền Tệ, Chức Năng Sửa Lịch Hẹn, Chức Năng Cơ Bản Của Tôn Giáo, Hãy Kể Tên Phần Phụ Và Chức Năng Của Tôm, Ky Nang To Chuc Su Kien, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trợ Lý Hậu Cần, Chức Năng Của Máy Tính, 3-hd/tctw Ngày 14-10-2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Huong Dan 55 Cua Ban To Chuc Trung Uong Ngay 31 Thàngnam05, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương Ngày 14/10/2003, Quy Định Số 104-qĐ/qu Về Một Số Vấn Đề Cơ Bản Về Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Của Tổ Chức , Dẫn 23-hd/tctw Ngày 14- 03-2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương,

    Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa, Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa, Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Mẫu Lý Lịch Hồ Sơ Công Chức Của Ban Tổ Chức Trung ương 2a, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hảo Sát Những Phương Pháp Học Tập Nhằm Nâng Cao Khả Năng Giao Tiếp Của Sinh Viên Ngành Tiếng Trung T, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Quy Định Số 12-qĐ/tc-ttvh Ngày 9/1/2004 Của Ban Tổ Chức Trung ương – Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung ương, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Tờ Trình Tổ Chức Tết Trung Thu, Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 33 Của Ban Tổ Chức Trung ương, De An 04 Ban To Chuc Trung Uong Dang, Mẫu 2a/tctw-98 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Tổ Chức Trung ương, Quy Định 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn 602 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 27 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 28 Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 06 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 37 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Của Ban Tô Chức Trung ương, Quy Định 126 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Tờ Trình Xin Kinh Phí To Chuc Trung Thu, Hướng Dẫn 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 25 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 4 Kỹ Năng Tiếng Trung,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Đặc Trưng Của Văn Hóa Việt Nam
  • Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa
  • Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa
  • Những Nhận Định Hay Về Văn Học Và Phong Cách Nhà Văn (Phần 1)
  • Cần Coi Trọng Cả 4 Chức Năng Của Nghệ Thuật
  • Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Đặc Trưng Của Văn Hóa Việt Nam
  • Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa
  • Đề Thi Môn Ngữ Văn Kỳ Thi Hsg Quốc Gia 2022: Văn Học Có Giúp Con Người Giải Tỏa Những Áp Lực Trong Cuộc Sống?
  • Nhiệm Vụ Trọng Tâm Năm 2022 Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyện Vĩnh Thạnh
  • Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyện Ân Thi Tổ Chức Hội Nghị Triển Khai Nhiệm Vụ Công Tác Và Phát Động Phong Trào Thi Đua Năm 2022
  • Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa, Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa, Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Mẫu Lý Lịch Hồ Sơ Công Chức Của Ban Tổ Chức Trung ương 2a, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hảo Sát Những Phương Pháp Học Tập Nhằm Nâng Cao Khả Năng Giao Tiếp Của Sinh Viên Ngành Tiếng Trung T, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Quy Định Số 12-qĐ/tc-ttvh Ngày 9/1/2004 Của Ban Tổ Chức Trung ương – Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung ương, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Tờ Trình Tổ Chức Tết Trung Thu, Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 33 Của Ban Tổ Chức Trung ương, De An 04 Ban To Chuc Trung Uong Dang, Mẫu 2a/tctw-98 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Tổ Chức Trung ương, Quy Định 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn 602 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 27 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 28 Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 06 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 37 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Của Ban Tô Chức Trung ương, Quy Định 126 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Tờ Trình Xin Kinh Phí To Chuc Trung Thu, Hướng Dẫn 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 25 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 4 Kỹ Năng Tiếng Trung, Khô âm Đạo, Đa Nang Buồng Trứng, Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Tăng Khả Năng Tập Trung, U Nang Buồng Trứng, Kỹ Năng Trùng Sinh 9, Kỹ Năng Trùng Sinh 6, Chức Năng Là Gì, Chức Năng Của Tam Thất Bắc, Công Văn 1972 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw-1998 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 04-hd/btctw 2014 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn Số 3692 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Trung ương 23 Hd Btctw Ban Tổ Chức, Công Văn Số 4741 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Đơn Đề Nghị Phê Duyệt Kế Hoạch Tổ Chức Trung Thu, Kế Hoạch Tổ Chức Trung Thu Cho Học Sinh Tiểu Học, Quy Dinh 104 Ve Tap Trung Dan Chu Trong To Chuc Dang, Huong Dan So 23 Nam 2003 Cua Ban To Chuc Trung Uong, Hướng Dẫn Số 23/2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Chức Trách Trung Đoàn Trưởng, Quyết Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Vé Số Pdf, Bài Giảng U Nang Buồng Trứng, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Số, Mổ Nội Soi U Nang Buồng Trứng Giá Bao Nhiêu, Chuyên Đề U Nang Buồng Trứng, Cẩm Nang Du Lịch Miền Trung, Học Cách Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Kỹ Năng Khẩu Ngữ Tiếng Trung, Sach Hoc Tang Kha Nang Trung Ve Xo, Kỹ Năng Nghe Tiếng Trung, Sách Học Tăng Khả Năng Trúng Vé Số, Chức Năng Gia Đình, Ngữ Pháp Chức Năng, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Chỉ Đội, Chuc Năng Cua Giao Duc Mam Non, Chủ Nghĩa Mác Có Chức Năng Gì, Chức Năng Quản Lý, Tóm Tắt 5 Chức Năng Của Tiền Tệ, Chức Năng Sửa Lịch Hẹn, Chức Năng Cơ Bản Của Tôn Giáo, Hãy Kể Tên Phần Phụ Và Chức Năng Của Tôm, Ky Nang To Chuc Su Kien, Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trợ Lý Hậu Cần, Chức Năng Của Máy Tính, 3-hd/tctw Ngày 14-10-2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Huong Dan 55 Cua Ban To Chuc Trung Uong Ngay 31 Thàngnam05, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương Ngày 14/10/2003, Quy Định Số 104-qĐ/qu Về Một Số Vấn Đề Cơ Bản Về Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Của Tổ Chức , Dẫn 23-hd/tctw Ngày 14- 03-2003 Của Ban Tổ Chức Trung ương,

    Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa, Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa, Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Mẫu Lý Lịch Hồ Sơ Công Chức Của Ban Tổ Chức Trung ương 2a, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Hãy Phân Tích Vai Trò Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Hảo Sát Những Phương Pháp Học Tập Nhằm Nâng Cao Khả Năng Giao Tiếp Của Sinh Viên Ngành Tiếng Trung T, Tiểu Sửluận Về Chức Năng Tổ Chức Của Quản Lý, Quy Định Số 12-qĐ/tc-ttvh Ngày 9/1/2004 Của Ban Tổ Chức Trung ương – Ban Tư Tưởng Văn Hóa Trung ương, Phân Tích Các Chức Năng Của Vai Trò Kiểm Tra Trong Công Tác Quản Trị ở Các Tổ Chức, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An, Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của B, Tờ Trình Tổ Chức Tết Trung Thu, Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 33 Của Ban Tổ Chức Trung ương, De An 04 Ban To Chuc Trung Uong Dang, Mẫu 2a/tctw-98 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Lý Lịch 2a Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Tổ Chức Trung ương, Quy Định 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn Số 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Công Văn 602 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2a Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu Lý Lịch 2c Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 27 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 28 Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 06 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định 57 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 37 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Số 19 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Của Ban Tô Chức Trung ương, Quy Định 126 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 23 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 19 Ban Tổ Chức Trung ương, Mẫu 2a/tctw Của Ban Tổ Chức Trung ương, Văn Bản Hướng Dẫn Của Ban Tổ Chức Trung ương, Quy Định Số 12 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Tờ Trình Xin Kinh Phí To Chuc Trung Thu, Hướng Dẫn 30 Của Ban Tổ Chức Trung ương, Hướng Dẫn 25 Của Ban Tổ Chức Trung ương, 4 Kỹ Năng Tiếng Trung,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa
  • Những Nhận Định Hay Về Văn Học Và Phong Cách Nhà Văn (Phần 1)
  • Cần Coi Trọng Cả 4 Chức Năng Của Nghệ Thuật
  • Thế Giới Nhân Vật Trong Truyện Cổ Tích Ở Chương Trình Tiếng Việt Tiểu Học
  • Tả Nhân Vật Trong Truyện Cổ Tích Tấm Cám Lớp 5, 6
  • Đặc Trưng, Chức Năng Và Vai Trò Của Văn Hóa Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Văn Hóa
  • Chức Năng Giải Trí Đang Lấn Át Chức Năng Giáo Dục Trong Văn Nghệ
  • Giới Thiệu Vị Trí Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Phòng Văn Hóa & Huyện Kon Plông
  • Trang Điện Tử Huyện Hà Trung
  • Văn Hóa Là Gì? Những Khái Niệm Cần Phải Biết Về Văn Hóa
  • Tính tới thời điểm hiện tại, có rất nhiều nghiên cứu về văn hóa đã được thực hiện nhưng có vẻ như vẫn chưa có một câu trả lời thích đáng cho câu hỏi văn hóa là gì. Để định nghĩa một khái niệm khó nhằn như vậy, trước hết ta cần làm rõ những đặc trưng nổi bật, chức năng cùng vai trò của văn hóa.

    1. Bản chất của văn hóa là gì?

    Văn hóa là gì ? Thực tế văn hóa có rất nhiều nghĩa khác nhau, có thể định nghĩa văn hóa theo nhiều góc độ. Xét theo mặt ngữ nghĩa thông thường, văn hóa là từ dùng để chỉ học thức, trình độ học vấn, lối sống, đạo đức… Gắn những yếu tố ấy với thời gian, văn hóa lại được dùng để chỉ trình độ phát triển, nét độc đáo, phong tục tập quán của một giai đoạn, một thời kỳ như văn hóa Phục Hưng, văn hóa Đông Sơn.

    Mở rộng theo chiều không gian, văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm từ đơn giản đến phức tạp, cổ điển hay hiện đại, từ tín ngưỡng đến phong tục, từ lối sống, nếp nghĩ, cách làm đến cư xử, giao tiếp, lao động…

    Tóm lại, văn hóa là tất cả những gì mà con người sáng tạo ra, được hình thành từ thuở sơ khai nhất, được soi chiếu dưới lăng kính của không gian và thời gian. Bản chất của văn hóa là những giá trị tinh thần, vật chất mà con người trong quá trình tiến hóa, phát triển tạo ra để thích nghi với cuộc sống, với xã hội.

    2. Đặc trưng của văn hóa là gì?

    2.1. Văn hóa có tính hệ thống

    Cần phải phân biệt rạch ròi giữa tính hệ thống với tính tập hợp. Tính hệ thống của văn hóa có “xương sống” là mối liên hệ mật thiết giữa các thành tố với nhau, các thành tố có thể bao gồm hàng loạt các sự kiện, nó kết nối những hiện tượng, quy luật lại với nhau trong quá trình phát triển.

    Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa có thể thực hiện được các chức năng của xã hội. Lý do là bởi văn hóa bao trùm lên tất cả các hoạt động, các lĩnh vực. Từ đó có thể làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp và trang bị cho xã hội những phương tiện cần thiết để ứng biến với môi trường tự nhiên.

    Nói cách khác, văn hóa xây lên nền tảng vững chắc cho sự phát triển tiến bộ của xã hội. Có lẽ chính vì thế mà người ta thường gắn văn hóa với loại từ “nền” để tạo thành cụm từ thông dụng “nền văn hóa”.

    2.2. Văn hóa có tính giá trị

    Văn hóa khi được hiểu theo khía cạnh của một tính từ sẽ mang nghĩa là tốt đẹp, là có giá trị. Người có văn hóa cũng chính là một người có giá trị. Do đó mà văn hóa trở thành thước đo chuẩn mực cho con người và xã hội.

    Văn hóa tự chính bản thân nó cũng mang trong mình những giá trị riêng bao gồm giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Xét về mặt ý nghĩa thì văn hóa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị thẩm mỹ, giá trị đạo đức. Đứng trên góc độ thời gian lại có thể chia văn hóa thành giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời.

    Với mỗi góc độ khác nhau gắn với một sự vật, hiện tượng, sự kiện khác nhau ta lại có thể có cái nhìn khác nhau. Từ những cái nhìn này, ta có thể đánh giá văn hóa dưới những góc độ khách quan quan khác nhau.

    2.3. Văn hóa có tính nhân sinh

    Tính nhân sinh của văn hóa có nghĩa rằng văn hóa được coi như một hiện tượng xã hội. Hiện tượng xã hội được hiểu là những hiện tượng do con người sáng tạo ra hay còn gọi là nhân tạo, khác với các giá trị tự nhiên hay còn gọi là thiên tạo. Chính vì là một thực thể có tính nhân sinh nên văn hóa chịu tác động của cả vật chất lẫn tinh thần của con người.

    Đồng thời, vì có tính nhân sinh nên văn hóa vô tình trở thành sợi dây liên kết giữa người với người, vật với vật và cả vật với người. Đó chính là ý nghĩa nhân sinh sâu sắc nhất mà văn hóa hàm chứa.

    2.4. Văn hóa có tính lịch sử

    Văn hóa phản ánh quá trình sáng tạo của con người trong một không gian và thời gian nhất định. Chính vì thế mà văn hóa cũng gắn liền với chiều dài lịch sử, thậm chí là văn hóa hàm chứa lịch sử. Tính lịch sử khiến cho văn hóa mang đặc trưng có bề dày, có chiều sâu, có hệ giá trị. Nhờ có tính lịch sử mà văn hóa cũng cần được duy trì, nói một cách khác đó là biến văn hóa trở thành truyền thống văn hóa.

    Văn hóa có tính lịch sử cao cần phải được tích lũy, được gìn giữ và không ngừng tái tạo, chắt lọc những tinh hoa, không ngừng sản sinh và phát triển để hoàn thiện dưới dạng ngôn ngữ, phong tục,…

    3. Chức năng của văn hóa là gì?

    3.1. Chức năng tổ chức xã hội

    Nhờ có tính hệ thống mà văn hóa có thể thực hiện chức năng tổ chức xã hội. Tổ chức xã hội cho phép con người tổ chức, tụ họp thành những đơn vị làng, xã, thành phố đến quốc gia, khu vực.

    Cụ thể, văn hóa gia đình chính là yếu tố giúp con người hình thành nhận thức và hành động duy trì, phát triển các mối quan hệ trong gia tộc, dòng họ. Chính sự duy trì và bảo tồn này cũng giúp lưu giữ nguyên vẹn những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp dẫu trải qua hàng ngàn năm đổi thay.

    3.2. Chức năng điều chỉnh xã hội

    Chức năng này xuất phát từ đặc trưng mang tính giá trị của văn hóa. Mỗi một nền văn hóa đều có những giá trị riêng, những giá trị này được hình thành thông qua quá trình con người điều chỉnh thói quen, nhận thức và hành động để có thể thích nghi với sự thay đổi từ môi trường.

    Nhờ có chức năng này mà ta có thể thấy được sự đa dạng giữa các nền văn hóa với nhau, đồng thời cũng có thể tìm thấy những nét tương đồng đáng ngạc nhiên giữa các nền văn hóa. Đó chính là mục tiêu và động lực trong sự phát triển của nhân loại.

    Tính nhân sinh của văn hóa tạo ra chức năng giao tiếp. Chính vì là một sợi dây vô hình kết nối con người với con người nên văn hóa có khả năng “giao tiếp”. Đó là lý do mà văn hóa chỉ được dùng với xã hội loài người, vì chỉ có con người mới có thể giao tiếp với nhau thông qua hệ thống ngôn ngữ và ký hiệu. Trong đó, hệ thống ngôn ngữ và ký hiệu chính là các sản phẩm của văn hóa.

    Nói cách khác, văn hóa tạo ra môi trường giao tiếp cho con người. Nhờ có văn hóa mà con người có thể giao tiếp với nhau bằng lời nói, cử chỉ, hành động,… để truyền đạt thông tin cho nhau.

    Văn hóa có tính lịch sử, vì thế mà nó có chức năng giáo dục. Lý do là bởi văn hóa có năng lực thông tin hoàn hảo. Sự truyền đạt thông tin này được thể hiện thông qua sự quan sát và bắt chước hành vi. Thế hệ sau quan sát và bắt chước hành vi của thế hệ trước, sự tích lũy này diễn ra từng ngày, sự chuyển giao cứ thế được thực hiện.

    Chính vì thế mà văn hóa luôn gắn liền với những chuẩn mực đạo đức, người có văn hóa tức là người được tiếp nhận giáo dục, biến những giá trị mình thu nạp trở thành giá trị của riêng bản thân, văn hóa khi ấy được nâng cấp lên trở thành bản sắc của mỗi con người.

    4. Vai trò của văn hóa là gì?

    4.1. Văn hóa là cơ sở xã hội hóa các cá nhân

    Văn hóa được thể hiện là những nhận thức của mỗi người nhằm đảm bảo sự hòa đồng của các cá nhân vào xã hội chung cũng như năng lực lao động của các cá nhân để đảm bảo đời sống của chính họ.

    4.2. Văn hóa là cơ sở phát triển kinh tế

    Văn hóa trong lĩnh vực kinh tế được hiểu là cơ sở vật chất cũng như năng lực lao động của con người. Điều này đồng nghĩa với việc nền văn hóa phát triển cao thì người lao động cũng sẽ có năng lực tốt.

    4.3. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội

    Các giá trị văn hóa tạo nên nền tảng vững chắc của xã hội, đó là nền tảng tinh thần nếp nghĩ, từ truyền thống, từ tình cảm, từ vốn hiểu biết, tất cả tích tụ lại trở thành sức mạnh ghê gớm của một cộng đồng, giúp dân tộc vượt qua thách thức.

    4.4. Văn hóa hoàn thiện cá nhân

    Văn hóa là cơ sở hình thành nhân cách cá nhân thông qua quá trình tiếp nhận văn hóa, từ đó làm đầy kiến thức, kỹ năng và cảm xúc để làm chủ mình trong mọi tình huống.

    Nếu bạn vẫn còn bất cứ thắc mắc, băn khoăn nào hãy liên hệ ngay với Tri Thức Cộng Đồng thông qua SĐT: 0946 88 33 50 hoặc Email: [email protected] để được hỗ trợ.

    Nguồn: trithuccongdong.net

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Tổ Chức Và Động Viên.
  • Hành Vi Tiêu Dùng Của Người Việt
  • Khái Lược Về Văn Hóa Tiêu Dùng Trên Toàn Cầu
  • Văn Hóa Kinh Doanh Và Một Số Giải Pháp Xây Dựng Văn Hóa Kinh Doanh Việt Nam
  • Khái Niệm Văn Hoá Trong Kinh Doanh
  • Các Đặc Trưng Cơ Bản, Chức Năng,các Loại Của Thiết Chế Xã Hội?

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Tinh Thần, Tình Cảm Của Gia Đình
  • Biểu Hiện Của Suy Giảm Chức Năng Gan Là Gì?
  • Vai Trò Của Gan & Các Dấu Hiệu Sớm Biểu Hiện Của Suy Giảm Chức Năng Gan
  • Suy Giảm Chức Năng Gan Và Những Triệu Chứng Thường Gặp Tin Tức
  • Dấu Hiệu Nhận Biết Chức Năng Gan Suy Giảm?
  • 14.2. Một số đặc trưng cơ bản của thiết chế xã hội

    – Sự nảy sinh của TCXH là do điều kiện khách quan nhất định không phải do yếu tố chủ quan, chúng biểu hiện ở tính thống nhất với cơ sở kinh tế xã hội. Cơ sở kinh tế – xã hội như thế nào thì hình thành TCXH như thế ấy.

    – Bản thân sự tồn tại của thiết chế xã hội có sự độc lập tương đối và có tác động trở lại đối với cơ sở kinh tế – xã hội.

    – Trong xã hội có giai cấp, TCXH có tính giai cấp.

    – Trong những thời kỳ phát triển “bình thường” của xã hội, các TCXH vẫn ổn định và vững chắc. Khi chúng không có khả năng tổ chức các lợi ích xã hội, không vận hành được các mối liên hệ xã hội thì phải có những thay đổi nhất định trong vận hành các TCXH, hoặc cần phải cải biến căn bản bản thân các phương thức và cơ chế hoạt động của chúng. Sự thay thế TCXH hoặc làm cho chúng mang nội dung mới diễn ra trong thời kỳ cách mạng.

    – Khi TCXH càng hoàn thiện thì xã hội càng phát triển. Nó xác định vị trí, vai trò của cá nhân và các nhóm xã hội càng rõ ràng.

    14.3. Các thiết chế xã hội cơ bản

    14.3.1. Thiết chế gia đình

    – Khái niệm: Gia đình là một nhóm xã hội có đặc trưng là cùng cư trú, cùng hợp tác tái sản xuất, nó bao gồm người lớn của cả hai giới, có ít nhất hai người trong số họ có quan hệ tình dục được mọi người chấp nhận, họ có một hoặc nhiều con cái do họ sinh ra hoặc nhận nuôi (Murdock).

    – Thiết chế gia đình có những chức năng cơ bản sau đây:

    + Chức năng sinh sản

    + Chức năng kinh tế

    + Chức năng xã hội hoá trẻ em

    + Chức năng chăm sóc người già

    + Chức năng thoả mãn nhu cầu tình cảm của các thành viên trong gia đình.

    14.3.2. Thiết chế kinh tế

    14.3.3. Thiết chế giáo dục

    – Khái niệm: Giáo dục là thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau những kiến thức và kinh nghiệm xã hội, và thế hệ sau đã lĩnh hội và phát huy những kinh nghiệm xã hội đó để tham gia vào đời sống xã hội của mình như lao động sản xuất và các hoạt động khác.

    – Chức năng của thiết chế giáo dục thể hiện các mặt sau:

    + Chức năng cung cấp tri thức và hình thành nhân cách con người.

    + Chức năng kinh tế – sản xuất (rèn luyện kỹ năng kỹ xảo về nghề nghiệp).

    + Chức năng chính trị, tư tưởng và văn hoá.

    14.3.4. Thiết chế tôn giáo

    – Khái niệm: Mỗi khoa học có cách nhìn và cách định nghĩa khác nhau về tôn giáo. Có thể coi tôn giáo là hệ thống niềm tin về vị trí cá nhân trên thế giới, nó tạo ra một trật tự cho thế giới đó và một lý do cho sự tồn tại của nó.

    – Tính thiết chế của tôn giáo thể hiện ở các khía cạnh sau đây:

    + Lễ nghi tôn giáo và tổ chức tôn giáo

    + Ý thức tôn giáo

    + Tâm lý tôn giáo

    + Sự điều tiết và kiểm soát của tôn giáo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gltt Về Chăm Sóc Người Cao Tuổi, Thích Ứng Với Già Hóa Dân Số: Lo Cho Tuổi Già Ngay Từ Khi Còn Trẻ
  • Gia Đình Với Công Tác Chăm Sóc Sức Khỏe Người Cao Tuổi
  • Chăm Sóc Người Già: Những Điều Cần Lưu Ý
  • Vì Sao Phải Chăm Sóc Người Già?
  • Gia Đình Và Việc Chăm Sóc Người Già
  • Những Đặc Trưng Của Văn Hóa Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Và Đặc Trưng Của Văn Hóa
  • Đề Thi Môn Ngữ Văn Kỳ Thi Hsg Quốc Gia 2022: Văn Học Có Giúp Con Người Giải Tỏa Những Áp Lực Trong Cuộc Sống?
  • Nhiệm Vụ Trọng Tâm Năm 2022 Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyện Vĩnh Thạnh
  • Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyện Ân Thi Tổ Chức Hội Nghị Triển Khai Nhiệm Vụ Công Tác Và Phát Động Phong Trào Thi Đua Năm 2022
  • Bàn Về Chức Năng Thực Hành Quyền Công Tố Và Kiểm Sát Việc Tuân Theo Pháp Luật Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Thứ tư, 16 Tháng 3 2022 09:16

    (LLCT) – Văn hóa, đặc trưng của văn hóa không phải là phạm trù bất biến, mà luôn vận động, phát triển cùng với sự biến đổi của điều kiện tự nhiên và sự phát triển của xã hội loài người. Trong bối cảnh hội nhập khu vực và toàn cầu hóa cùng với sự tác động và nảy sinh của các yếu tố bên ngoài và nội tại xã hội Việt Nam, sự xung đột về hệ giá trị giữa văn hóa nông nghiệp – nông thôn truyền thống với văn hóa công nghiệp – đô thị hiện đại vẫn tiếp diễn. Những giải pháp phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong hiện tại và tương lai nhằm gìn giữ và phát triển 5 đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn.

    1. Đặc trưng của văn hóa

    Văn hóa luôn mang hai hàm nghĩa tĩnh và động. Xét từ góc độ tĩnh, thuộc tính bản chất nhất của văn hóa là tính “nội nguyên”(1), tức chỉ nguyên nhân nội tại, những phát sinh trong nội bộ văn hóa. Ngoài ra, văn hóa còn có tính giáo dục, thuộc tính căn bản và nổi bật, có chức năng làm cho sự phát triển của kinh tế và văn hóa có mối quan hệ nội tại tự nhiên và sâu sắc.

    Ở Trung Quốc, từ thời cổ đại, văn hóa được xem là “văn tự và giáo hóa”. Ở phương Tây, từ “văn hóa”(Culture) bắt nguồn từ tiếng Latinh, nghĩa gốc là trồng trọt, nuôi dưỡng, luyện tập, khai khẩn, khai phát. Vì thế, ở phương Đông hay phương Tây, văn hóa đều biểu trưng cho hoạt động của loài người và đều coi trọng nghĩa từ nguyên của văn hóa là mang tính giáo dục. Tính giáo dục của văn hóa được thể hiện chủ yếu thông qua sự kế thừa và truyền bá. Văn hóa là sự ngưng tụ tri thức và kỹ năng của loài người, truyền bá, kế thừa, học tập lẫn nhau từ đời này qua đời khác.

    Xét từ góc độ động, thuộc tính bản chất và công năng của văn hóa thể hiện trước hết là ở tính thực tiễn của văn hóa. Trong tác phẩm Phê phán kinh tế chính trị học, C.Mác viết: “Giới tự nhiên không thể sáng tạo ra bất kỳ máy móc, đầu máy, điện thoại, máy dệt tự động v.v.. Tất cả những cái đó đều là sản vật do nền công nghiệp của loài người sáng tạo ra. Sự thay đổi vật chất của tự nhiên là do ý chí của loài người chế ngự tự nhiên hoặc bộ máy hoạt động của loài người điều khiển giới tự nhiên. Tất cả những điều đó đều do trí tuệ và bàn tay con người sáng tạo nên và nó đều là trí lực của vật hóa”(2). Chỗ sâu sắc nhất trong quan điểm văn hóa của C.Mác thể hiện trong việc tác giả đã khảo sát thuộc tính bản chất và công năng của văn hóa từ hoạt động thực tiễn của con người hiện thực. Trong nhiều tác phẩm về triết học, kinh tế học của C.Mác, chúng ta được biết rằng, những người tham gia vào lĩnh vực hoạt động văn hóa và sáng tạo văn hóa không phải là những con người trừu tượng mà là những con người lịch sử, những con người hiện thực, con người cụ thể, con người thực tiễn, con người xã hội. Tính thực tiễn của văn hóa chính là “nhân hóa”. Con người là tác giả sáng tạo văn hóa, là chủ thể của quá trình hoạt động lịch sử văn hóa.

    C.Mác chỉ rõ, mọi hoạt động văn hóa của loài người trước hết thuộc về lao động vật chất cảm tính, tôn giáo, gia đình, nhà nước, luật pháp, đạo đức, khoa học, nghệ thuật v.v.. đều là phương thức đặc thù của sản xuất, hơn nữa, còn thực sự chi phối quy luật phổ biến của sản xuất. Như vậy, lao động, thực tiễn v.v.. những hoạt động tự giác có ý thức, có mục đích của loài người đã xác nhận rõ “sự tồn tại loài” của con người, đó chính là nguồn gốc bản chất chân thực của con người và là nguồn gốc bản chất của văn hóa. Lao động sản xuất vật chất là hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn của loài người. Trong quá trình đó, con người phải dựa vào tự nhiên, chịu sự chế ước của hoàn cảnh tự nhiên, mặt khác, không ngừng chinh phục tự nhiên, cải tạo tự nhiên, sáng tạo tự nhiên vì mục đích, yêu cầu của chính loài người. Yếu tố tích cực – sức sản xuất xã hội – trong hoạt động thực tiễn của sản xuất vật chất không những là sáng tạo tự nhiên của con người (tức thế giới vật chất mà con người yêu cầu), mà còn tạo nên tính đa dạng, phong phú của chính con người, thể hiện trong mối quan hệ của con người với tự nhiên và xã hội. Ý nghĩa và giá trị chân chính của sản phẩm lao động không những chỉ đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại của con người để giữ mối liên hệ với việc tái sản xuất của chính con người, mà còn thể hiện những sáng tạo thiên bẩm, sự thông minh tài trí, sức mạnh, dũng khí, tình yêu, cảm hứng, kỹ năng, kinh nghiệm, tri thức, sự giao lưu của tinh thần, những niềm vui và mỹ cảm mà con người từng phát huy, từng sáng tạo, từng đạt được trong quá trình sản xuất. Do đó, hoạt động thực tiễn căn bản nhất của lao động loài người bao gồm cả những hoạt động sáng tạo văn hóa: sáng tạo tự nhiên – xã hội – con người, những sáng tạo tinh hoa của văn minh tinh thần nhân loại như nghệ thuật, tôn giáo, triết học v.v.. Văn hóa vốn có bản chất thực tiễn, nó quyết định công năng lịch sử xã hội một cách cơ bản nhất, nó tham dự năng động, tự giác, sáng tạo và ảnh hưởng đến công năng bản chất của hoạt động kinh tế. Thuộc tính kinh tế và công năng của văn hóa là sự thể hiện tập trung nhất tính thực tiễn của văn hóa.

    Hoạt động lịch sử của xã hội loài người phù hợp với bản chất thực tiễn của văn hóa, làm cho nó có được những tính chất và công năng của lực lượng sản xuất. Bởi vậy, văn hóa có tác dụng trực tiếp đến giới tự nhiên và việc xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội.

    Với bản chất thực tiễn và công năng đối với hoạt động kinh tế, văn hóa là một lực lượng sản xuất, thể hiện ở những điểm sau:

    Một là, văn hóa là một loại sức sản xuất đặc thù. Tính đặc thù của nó thể hiện ở chỗ, văn hóa ảnh hưởng và chế ước các hoạt động kinh tế một cách tích cực, năng động bằng các hiệu năng tổng hợp các quan niệm, hành vi, và trên một mức độ nhất định, đã trở thành lực lượng cấu thành nội tại của hoạt động kinh tế.

    Lao động sản xuất của loài người gồm hai dạng lớn: lao động vật chất và lao động tinh thần. Lao động tinh thần là một trong những hoạt động thực tiễn cơ bản và quan trọng nhất của loài người. Thực tiễn lao động sản xuất của loài người là những hoạt động có ý thức, có mục đích, tức là sự thống nhất giữa lao động chân tay và lao động trí tuệ. Mọi hoạt động sản xuất của con người là những hành vi được tiến hành dưới sự chi phối của tư tưởng, ý thức, quan niệm trên cơ sở những điều kiện khoa học và kỹ thuật nhất định. Và tất cả những điều trên không thể tách rời cơ sở văn hóa và bối cảnh văn hóa nhất định. Với tư cách là một mô thức đã định của quan niệm và hành vi, văn hóa thẩm thấu và phát huy tác dụng của nó một cách sâu sắc xuyên suốt toàn bộ quá trình lao động vật chất và lao động tinh thần của con người.

    Hai là, văn hóa và sức sản xuất có mối quan hệ biện chứng. Lịch sử phát triển xã hội đã chứng minh rằng, sức sản xuất cùng một lúc giải quyết được sự biến đổi vật chất giữa con người và mang hình thái vật hóa thâm nhập sâu vào quá trình biến đổi của tinh thần con người, bao trùm là hệ thống quan niệm, giá trị và các dạng thức, hành vi của văn hóa, thúc đẩy văn hóa phát triển, mở rộng. Vì thế, văn hóa và sức sản xuất trong toàn bộ thực tiễn xã hội chủ yếu là trong hoạt động kinh tế, chúng luôn thẩm thấu, thúc đẩy lẫn nhau và luôn đạt được sự thống nhất nội tại. Xét từ quan điểm sức sản xuất lớn thì văn hóa là sức sản xuất. Xét từ quan điểm đại văn hóa thì sức sản xuất cũng là văn hóa.

    Từ những luận giải trên, các nhà nghiên cứu về văn hóa trong và ngoài nước đã đúc kết thành nhiều đặc trưng của văn hóa, trong đó nổi bật bốn đặc trưng cơ bản sau:

    Thứ nhất, tính hệ thống. Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị về văn hóa vật chất, xã hội và tinh thần của cộng đồng người. Từ những thành tố căn bản này đã nảy sinh và bao gồm những tập hợp nhỏ nhiều tầng bậc khác nhau tạo thành một tổng thể phức tạp, phong phú.

    Thứ hai, tính giá trị. Văn hóa bao gồm các giá trị (giá trị vật chất và giá trị tinh thần) trở thành thước đo về mức độ nhân bản của xã hội và con người. Trong lịch sử phát triển của nhân loại có giá trị của văn hóa để tồn tại và có giá trị của văn hóa để phát triển.

    Thứ ba, tính lịch sử. Văn hóa bao giờ cũng được hình thành qua một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ, là những thành tựu do cộng đồng người trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên – xã hội sáng tạo và luôn hướng tới sự hoàn thiện để đạt đến tính giá trị.

    Thứ tư, tính nhân sinh. Văn hóa là hiện tượng thuộc về xã hội loài người, gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người, là những giá trị do một cộng đồng người sáng tạo ra, thuộc về con người, ở trong con người và mang dấu ấn người. Điều đó cho thấy, con người vừa là chủ thể của văn hóa, đồng thời là khách thể của văn hóa, lại vừa là sản phẩm văn hóa.

    2. Điều kiện hình thành và những đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam

    Văn hóa vốn là một hoạt động thuộc thế giới người nói chung và cũng là đặc trưng của mỗi cộng đồng người nói riêng. Nó là điều kiện sinh tồn của mỗi một con người, đồng thời cũng là thành tựu của từng tộc người và là cái để phân biệt giữa cộng đồng người này với cộng đồng người khác, là tấm “chứng minh thư” để xác định cá tính của từng dân tộc trong cộng đồng nhân loại, là “tấm giấy thông hành” giúp các quốc gia dân tộc cùng ngồi đàm phán, là thông điệp đưa các dân tộc xích lại gần nhau, là cơ sở, là nền tảng, là trụ cột, là sức mạnh quan trọng đối với sự phát triển bền vững của xã hội.

    Văn hóa với tiềm lực, sức sống và thực lực độc đáo của mình, biểu hiện và tỏ rõ sức mạnh tổng hợp của đất nước.

    Cội nguồn của những đặc điểm, đặc trưng văn hóa dân tộc cố nhiên phải tìm trong những điều kiện lịch sử của dân tộc. Nhưng trước đó, và trong suốt quá trình lịch sử, những điều kiện địa lý có ảnh hưởng đến phương thức canh tác, hình thái kinh tế – xã hội – chính trị. Văn hóa là sự trả lời, sự ứng phó của cộng đồng cư dân trước những thành thức của điều kiện địa lý – khí hậu và xã hội – lịch sử. Bởi vậy, khi bàn đến nét riêng biệt – cái đặc trưng của văn hóa Việt Nam, phải tìm đến cội nguồn của nó từ thời đại đá mới, thời đại phát sinh nông nghiệp và làng xóm, phải chú ý đến những điều kiện nền tảng địa lý và môi trường thiên nhiên đã sản sinh nên những đặc trưng, đặc điểm văn hóa ấy. Xét về mặt thiên nhiên, văn hóa Việt Nam khởi thủy cùng chung trong khu vực Đông Nam Á. Khởi thủy, không gian địa lý tự nhiên Đông Nam Á bao gồm khu vực sông Trường Giang kéo dài về phương Nam, khu vực phía Nam dải Tần Lãnh và khu vực Atxam hiện tại. Môi trường thiên nhiên ở đây nảy sinh và phát triển văn hóa nông nghiệp lúa nước.

    Về mặt nhân chủng, đến giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, về cơ bản, vùng Bách Việt (Việt – Mường) là vùng phi Hoa, phi Ấn. Khi Trung Quốc bành trướng xuống lưu vực sông Trường Giang, Việt Nam và Trung Quốc có sự khác nhau căn bản: Việt Nam là vùng châu Á gió mùa, Trung Quốc là vùng châu Á đại lục, Việt Nam là vùng nông nghiệp lúa nước, Trung Quốc là vùng nông nghiệp khô ( trồng kê, cao lương, lúa mạch) và vùng Bách Việt co lại dần, chỉ còn lại Việt Nam – đại biểu duy nhất còn sót lại của phức hợp Bách Việt ngày xưa, tồn tại vừa với tính chất Dân tộc – Nhà nước (Nation- Etat), vừa với tính chất Dân tộc – Nhân dân (Nation – People). Từ đó xuất hiện trên thực tiễn những cái bất dị giữa Việt Nam và Trung Quốc(3).

    Việt Nam – Đông Nam Á là vùng thiên nhiên phong phú, thống nhất nhưng đa dạng, do đó, văn hóa bản địa phong phú, đa dạng trong sự thống nhất. Trào lưu lịch sử cùng với việc tiếp thu các nhân tố ngoại sinh từ Ấn Độ, Trung Hoa, phương Tây, những nền văn hóa của vùng càng đa dạng và càng có xu hướng phủ mờ cái gốc – văn hóa bản thể, văn hóa nội sinh trong vùng.

    Do điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và lịch sử hình thành quốc gia dân tộc, văn hóa Việt Nam sớm có xu thế giao lưu, hội nhập, tiếp biến, nhờ thế Việt Nam có nền văn hóa đa ngôn ngữ, giàu bản sắc. Nền văn minh Đại Việt được xếp là một trong 34 nền văn minh đầu tiên của nhân loại. Nhiều học giả thống nhất rằng, bản sắc văn hóa Việt Nam được tạo ra ở vùng lúa nước sông Hồng cách đây hơn 4 nghìn năm, được tôi luyện và khẳng định trong 2 nghìn năm chống và đối thoại với Trung Quốc đã đủ tầm cỡ để tiếp biến văn hóa thành công. Trong suốt chiều dài lịch sử hơn 400 năm tiếp biến văn hóa Việt Nam với phương Tây dưới nhiều hình thức, vừa có cưỡng bức, vừa có đối thoại văn hóa, có thời điểm vừa chống lại, vừa tiếp thu, nhưng văn hóa Việt Nam vẫn vừa giữ được bản sắc dân tộc, vừa hiện đại hóa.

    Văn hóa Việt Nam có những nét mang tính đặc trưng phổ biển của văn hóa nói chung và có những đặc trưng riêng biệt, đặc thù. Những đặc trưng cơ bản riêng biệt này được hình thành, đúc kết, bảo lưu, phát triển từ điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử, chính trị – kinh tế – xã hội của Việt Nam. Nhiều học giả, nhà nghiên cứu chuyên ngành Việt Nam học, Văn hóa học, Văn hóa Việt Nam đã có nhiều ý kiến đa chiều về đặc trưng văn hóa Việt Nam, tạo nên bức tranh phong phú, nhiều màu sắc, đôi khi là tương phản, nhưng tổng hợp lại, văn hóa Việt Nam có những nét chung tương đối khái quát, thể hiện ở 5 đặc trưng sau:

    Một là, tính cộng đồng làng xã, thể hiện rõ ở 6 phẩm chất: Tính đoàn kết, giúp đỡ; Tính tập thể thương người; Tính dân chủ, làng xã; Tính trọng thể diện; Tình yêu quê hương, làng xóm; Lòng biết ơn. Bên cạnh những phẩm chất tốt, tính cộng đồng làng xã cũng để lại nhiều tật xấu trong văn hóa: Thói dựa dẫm; Thói cào bằng, chụp mũ; Bệnh sĩ diện, háo danh; Bệnh thành tích; Bệnh phong trào; Bệnh hình thức v.v..

    Hai là, tính trọng âm. Bảy phẩm chất tốt được biểu hiện trong tính trọng âm là: Tính ưa ổn định; Tính hiền hòa, bao dung; Tính trọng tình, đa cảm; Thiên hướng thơ ca; Sức chịu đựng, nhẫn nhịn; Lòng hiếu khách. Bên cạnh đó, tính trọng âm cũng là mảnh đất hình thành những bệnh xấu như: Bệnh thụ động, khép kín; Bệnh lề mề, chậm chạp; Bệnh tủn mủn, thiếu tầm nhìn; Bệnh sùng ngoại v.v..

    Ba là, tính ưa hài hòa, thể hiện ở bốn phẩm chất: Tính mực thước; Tính ung dung; Tính vui vẻ, lạc quan; Tính thực tế. Tuy nhiên, tính ưa hài hòa cũng gây mặt hạn chế, như: Bệnh đại khái, xuề xòa; Bệnh dĩ hòa vi quý; Bệnh trung bình chủ nghĩa; Bệnh nước đôi, thiếu quyết đoán…

    Bốn là, tính kết hợp, thể hiện ở hai khả năng: Khả năng bao quát tốt; Khả năng quan hệ tốt. Mặt trái của tính kết hợp này cũng tạo ra những hậu quả xấu như: Thói hời hợt, thiếu sâu sắc; Bệnh sống bằng quan hệ…

    Năm là, tính linh hoạt. Biểu hiện của tính linh hoạt được thể hiện ở 2 phẩm chất tốt: Khả năng thích nghi cao; Tính sáng tạo. Tính linh hoạt nhiều khi cũng dẫn đến hậu quả xấu như: Thói tùy tiện, cẩu thả; Bệnh thiếu ý thức pháp luật…

    Tổng hợp 5 đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam ta thấy phẩm chất, giá trị cốt lõi tốt nhất là lòng yêu nước; tinh thần dân tộc; lòng nhân ái, thương người; tính cộng đồng làng xã; tính tinh tế.

    Văn hóa, đặc trưng của văn hóa không phải là phạm trù bất biến, mà luôn vận động, phát triển cùng với sự biến đổi của điều kiện tự nhiên và sự phát triển của xã hội loài người. Trong bối cảnh hội nhập khu vực và toàn cầu hóa cùng với sự tác động và nảy sinh của các yếu tố bên ngoài và nội tại xã hội Việt Nam, sự xung đột về hệ giá trị giữa văn hóa nông nghiệp – nông thôn truyền thống với văn hóa công nghiệp – đô thị hiện đại vẫn tiếp diễn. Những năm gần đây, nhiều nhà khoa học đã và đang tập trung nghiên cứu, đề xuất nhiều hướng đi, nhiều giải pháp phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong hiện tại và tương lai với mong muốn 5 đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam sẽ được bảo tồn và dịch chuyển theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Một số đề tài đã được công bố, trong đó nổi bật là đề tài cấp Nhà nước “Hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” thuộc chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm KX-04/11-15 Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2011-2015 do GS,TSKH Trần Ngọc Thêm làm Chủ nhiệm. Trong đề tài này, khi bàn về đặc trưng văn hóa Việt Nam, tác giả đề xuất chuyển đổi đặc trưng văn hóa Việt Nam đến năm 2030 theo hướng sau:

    Đặc trưng 1: Tính cộng đồng làng xã nên chuyển thành Tính cộng đồng xã hội.

    Đặc trưng 2: Tính trọng âm và Đặc trưng 3: Tính ưa hài hòa nên chuyển thành Tính hài hòa thiên về dương tính.

    Đặc trưng 4: Tính kết hợp nên chuyển thành Tác phong công nghiệp.

    Đặc trưng 5: Tính linh hoạt nên chuyển thành Tính linh hoạt trong nguyên tắc(4).

    Hiện tại và tương lai sẽ còn nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu vấn đề này. Những đề xuất của họ sẽ được thực tiễn cuộc sống kiểm nghiệm, lựa chọn nhằm phục vụ mục đích cao cả là xây dựng nền Văn hóa Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân, thiện, mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Xây dựng văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

    Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2015

    (1) Nội nguyên (Endogenesis) là khái niệm trong sinh vật học, vốn chỉ sự hình thành bên trong cơ thể tế bào sinh vật. Chúng tôi dùng khái niệm này để chỉ sự hình thành và vận động bên trong của văn hóa, nền văn hóa.

    (2) C.Mác: Phê phán kinh tế chính trị học, t.3 (1857-1859), Nxb Nhân dân, 1963, tr.358.

    (4) Xem Trần Ngọc Thêm (chủ biên): Một số vấn đề về hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn hiện tại, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2022, tr.56-77.

    PGS, TS Lê Văn Toan

    Trung tâm nghiên cứu Ấn Độ,

    Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Trưng Và Chức Năng Của Văn Hóa
  • Đặc Trưng Chức Năng Của Văn Hóa
  • Những Nhận Định Hay Về Văn Học Và Phong Cách Nhà Văn (Phần 1)
  • Cần Coi Trọng Cả 4 Chức Năng Của Nghệ Thuật
  • Thế Giới Nhân Vật Trong Truyện Cổ Tích Ở Chương Trình Tiếng Việt Tiểu Học
  • Quy Chế Tổ Chức Và Hoạt Động Của Ban Văn Hóa – Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Báo Điện Tử Của Đảng Ủy Khối Doanh Nghiệp Trung Ương
  • Trọng Trách Của Công Tác Tư Tưởng Trong Sự Nghiệp Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Vai Trò, Trách Nhiệm Của Người Thầy Trong Sự Nghiệp Trồng Người
  • Văn Hóa Du Lịch
  • Một Góc Nhìn Lý Luận
  •                             HỘI ĐỒNG HỌ PHẠM VIỆT NAM              

                                           HỘI ĐỒNG TOÀN QUỐC

                                       

                                                 QUY CHẾ

    TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN VĂN HÓA – XÃ HỘI

     

    Căn cứ vào Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội Đồng toàn Quốc họ phạm Việt nam đã được thông qua ngày 02/8/2015, tại Đại Hội VII nhiệm kỳ (2015 – 2022).Nay, HĐTQHP Việt Nam ban hành Quy Chế “Tổ chức và hoạt động của Ban Văn hóa – Xã hội” để thống nhất thực hiện.

     

    CHƯƠNG I

                              CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, TỔ CHỨC

                                    CỦA BAN VĂN HÓA – XÃ HỘI

             Điều 1. Chức năng

             Ban Văn hóa – Xã hội là một ban chuyên trách của HĐTQHP Việt Nam  có chức năng giúp HĐTQHP VN duy trì, hướng dẫn, thực hiện các hoạt đông dòng họ thuộc lĩnh vực văn hóa – xã hội, nhằm thống nhất hoạt động trong các cấp hội đồng và trong toàn dòng họ Pham Việt nam.

             Điều 2. Nhiệm vụ

              Ban Văn hóa – Xã hội có những nhiệm vụ sau:

    – Hướng dẫn, kiểm tra, duy trì các hoạt động văn hóa thờ cúng tổ tiên, văn hóa ứng xử , tri ân, sẻ chia, khuyến tài, khuyến đức, khuyến học, trong dòng họ.

    – Xây dựng các chương trình hoạt động trong các lĩnh vực Văn hóa, Văn nghệ, Thể thao để trình HĐTQ HP VN; tổ chức, hứơng dẫn và thực hiện các chương trình đó theo chủ trương và quyết định của HĐTQ HPVN .

    – Trình Chủ tịch HĐTQ HPVN để xét quyết định thành lập, giải thể các  loại hình câu lạc bộ, các tổ chức khác trực thuộc HĐTQHPVN hoạt động trong lĩnh vực Văn hóa – Xã hội; trình Chủ tịch HĐTQ HPVN phê duyệt các Quy chế, Điều lệ hoạt động của các Câu lạc bộ và các tổ chức khác thuộc thẩm quyền của HĐTQ.

    – Tập hợp, lập danh sách đề xuất khen thưởng, tôn vinh những cá nhân, tổ chức có thành tích đóng góp lớn cho dòng họ, cho xã hội; những cá nhân xuất sắc về tài, đức, học tập; danh sách cần tri ân, sẻ chia,… để trình Thường trực HĐTQHPVN xem xét quyết định.

    – Sơ kết, tổng kết hoạt động Văn hóa – Xã hội theo định kỳ, hàng năm để báo cáo Chủ tịch và Thường trực HĐTQHPVN.

           Điều 3. Tổ chức

           Ban Văn hóa – Xã hội có Trưởng ban, các phó ban và các ủy viên tại các Hội đồng họ Phạm địa phương. Ủy viên Ban Văn Hóa – Xã hội là Ủy viên HĐTQHP VN.

     

                                                  CHƯƠNG II

    NHIỆM VỤ CỦA CÁC THÀNH VIÊN BAN VĂN HÓA – XÃ HỘI

    Điều 4. Nhiệm vụ của Trưởng Ban

    – Trưởng ban Văn hóa – Xã hội có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo và phân công nhiệm vụ cho các phó ban và các ủy viên  thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ban, và thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Chủ tịch HĐTQHPVN giao.

             – Xây dựng các chương trình, kế hoạch công tác hàng năm, hàng kỳ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của ban, trình Chủ tịch HĐTQHPVN phê duyệt; tổ chức triển khai, thực hiện các chương trình, kế hoạch đó sau khi đã được Thường trực HĐTQ thông qua và Chủ tịch phê duyêt.

    – Chịu trách nhiệm trước Chủ tịch HĐTQHPVN về mọi hoạt động của Ban Văn hóa – Xã hội.

     

     

              Điều 5. Nhiệm vụ thành viên

              – Phó ban là người giúp việc cho Trưởng ban, thay mặt Trưởng ban giải quyết công việc khi được Trưởng ban ủy quyền.

              – Các Ủy viên của Ban VHXH chấp hành sự phân công của Trưởng ban, hoàn thành các phần việc khi được phân công.

    – Tham gia xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động Văn hóa – Xã hội của Ban.

    – Tham dự các hoạt động của đia phương và các Câu lạc bộ, tổ chức khác  khi được Trưởng ban phân công.

     

                                            CHƯƠNG III

    NGUYÊN TẮC  HOẠT ĐỘNG CỦA BAN VĂN HÓA – XÃ HỘI

     

     

    CHƯƠNG IV

    ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

     

    Điều 8. Quy chế tổ chức hoạt động của Ban Văn hóa – Xã hội là căn cứ để Ban hoạt động và thực hiện nhiệm vụ được Thường trực HĐTQHPVN và Chủ tịch HĐTQ phân công.

    Điều 9.  Trong quá trình thực hiện nếu có điều khoản nào chưa hợp lý Ban Văn hóa – Xã hội sẽ đề xuất sửa đổi, bổ sung trình TTHĐTQHPVN phê duyệt.

     

    Hà nội ngày 22 tháng 8 năm 2022

     

    T/M HỘI ĐỒNG TOÀN QUỐC HPVN

     Chủ tịch

     

    ( Đã ký)

     

                                          TS,  Phạm Vũ Câu                                                                   

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Sở Văn Hóa Thể Thao Và Du Lịch
  • Phòng Văn Hóa Thông Tin
  • Văn Hóa Văn Nghệ Dân Gian Với Vấn Đề Phát Triển Bền Vững
  • Văn Hoá Dân Gian Và Văn Hoá Dân Tộc
  • Tầm Quan Trọng Của Văn Hoá Doanh Nghiệp Với Tổ Chức Và Cá Nhân
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Tổ Chức Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Và Ðặc Ðiểm Của Các Tổ Chức Xã Hội Ở Nước Ta
  • Vai Trò Của Các Tổ Chức Xã Hội Và Một Vài Khuyến Nghị
  • Tổ Chức Xã Hội Là Gì? Đặc Điểm, Phân Loại Các Loại Tổ Chức Xã Hội
  • Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Luận Văn Đề Tài Chức Năng Tổ Chức, Quản Lí Của Nhà Nước Xhcn Trong Lĩnh Vực Kinh Tế Của Nước Cộng Hòa Xhcn Việt Nam
  • Tổ chức xã hội là hình thức tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam có chung mục đích tập hợp, hoạt động theo pháp luật và theo điều lệ không vì lợi nhuận nhằm đáp ứng những lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia vào quản lí nhà nước.

    Điều 69 Hiến pháp năm 1992 quy định: Công dân Việt Nam có quyền lập hội theo quy định của pháp luật. Đây là cơ sở pháp lí vững chắc dể các tổ chức xã hội ra đời, tồn tại và phát triển.

    Khái niệm của tổ chức xã hội

    Cùng với quá trình dân chủ hóa, các quyền con người ở Việt Nam được pháp luật bảo vệ ngày càng toàn diện hơn. Điều 69 Hiến pháp năm 1992 quy định: Công dân Việt Nam có quyền lập hội theo quy định của pháp luật. Đây là cơ sở pháp lí vững chắc để các tổ chức xã hội ra đời, tồn tại và phát triển. Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang tiến hành công cuộc “công nghiệp hoá, hiện đại hoá” xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì quyền tự do, dân chủ của công dân càng được chú trọng mở rộng và bảo vệ, bên cạnh đó, cùng với xu thế hội nhập quốc tế đã là những tác nhân cho sự ra đời và phát triển hàng loạt các tổ chức xã hội ở Việt Nam.

    Sự ra đời, tồn tại và phát triển của tổ chức xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, về chính trị, tổ chức xã hội là chỗ dựa của chính quyền nhân dân. Với vai trò hội tụ sức mạnh đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị, tổ chức xã hội góp phần ổn định chính trị tạo điều kiện để Nhà nước thực hiện quản lí xã hội. Tổ chức xã hội đại diện cho nhiều tầng lớp, giai cấp trong xã hội Việt Nam, thay mặt cho quần chúng nhân dân thực hiện quyền lực chính trị đồng thời giúp cho từng cá nhân phát huy tính tích cực chính trị thông qua việc tuyên truyền giáo dục nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thu hút nhân dân tham gia quản lí Nhà nước, quản lí xã hội. Ngoài ý nghĩa chính trị, sự tồn tại, phát triển của tổ chức xã hội cũng có ý nghĩa trong việc tăng cường khả năng hoạt động kinh tế – xã hội của công dân. Thông qua các tổ chức xã hội, công dân có điều kiện hơn trong việc thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của mình.

    Là bộ phận của hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội đã góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Các tổ chức xã hội rất đa dạng về hình thức, tên gọi như: Liên hiệp hội, tổng hội, liên đoàn, hiệp hội. Ví dụ, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh, Hội nhà văn, Hội nhà báo, Hội luật gia, trọng tài thương mại…

    Đặc điểm của tổ chức xã hội

    Mỗi tổ chức xã hội đều có những hoạt động đặc thù phản ánh vị trí, vai trò của mình trong hệ thống chính trị. Mặt khác, các tổ chức xã hội có những đặc điểm chung nhất định, phân biệt với các cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh tế. Các đặc điểm đó là:

      Các tổ chức xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự nguyện của những thành viên cùng chung một lợi ích hay cùng giai cấp, cùng nghề nghiệp, sở thích…

    Yếu tố tự nguyện thể hiện rõ nét trong việc nhân dân được quyền tự do lựa chọn và quyết định tham gia hay không tham gia vào một tổ chức xã hội nào đó. Không ai có quyền ép buộc người khác phải tham gia hay không được tham gia vào các tổ chức xã hội nhất định. Tuy nhiên, mỗi tổ chức xã hội đều đặt ra những tiêu chuẩn nhất định đối với người muốn trở thành thành viên của tổ chức xã hội đó. Ví dụ: Điều 1 Điểu lệ công đoàn Việt Nam năm 2003 quy định: “Công nhân, viên chức, lao dộng Việt Nam làm công, hưởng lương, người lao động tự do hợp pháp, không phân biệt nghề nghiệp, nam nữ, tín ngưỡng nếu tán thành Điều lệ công đoàn Việt Nam, tự nguyện sinh hoạt trong một tổ chức cơ sở của công đoàn, đóng đoàn phí theo quy định thì được gia nhập công đoàn”.

    Yếu tố tự nguyện còn biểu hiên trong việc kết nạp hay khai trừ các thành viên của tổ chức xã hội hoàn toàn do tổ chức xã hội đó và những nguờì muốn tham gia quyết định, Nhà nước không can thiệp và cũng không sử dụng quyền lực nhà nước để chi phối hoạt động đó. Mỗi tổ chức xã hội là tập hợp những thành viên có cùng chung dấu hiệu đặc điểm, ví dụ: Cùng chung mục đích lí tưởng như Đảng cộng sản Việt Nam, cùng giai cấp như Hội nông dân Việt Nam, cùng độ tuổi như Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, cùng giới tính như Hội liên hiệp phụ nữ, cùng nghề nghiệp như Hội nhà văn, Hội nhà báo, cùng chung sở thích như hội những người yêu thể thao, thậm chí có thể cùng chung một dấu hiệu khuyết tật như Hội người mù… Họ liên kết nhau lại, tìm tiếng nói chung trong hình thức tổ chức xã hội nhằm đáp ứng và bảo vệ những lợi ích chính đáng của họ.

      Các tổ chức xã hội nhân danh chính tổ chức mình để tham gia hoạt động quản lí nhà nước, chỉ trong trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định tổ chức xã hội mới hoạt động nhân danh nhà nước.

    Đặc điểm này của tổ chức xã hội xuất phát từ nguyên nhân tổ chức xã hội không phải là bộ phận trong cơ cấu của bộ máy nhà nước. Nhà nước thừa nhận và bảo hộ sự tồn lại của các tổ chức xã hội bằng việc cho phép tổ chức xã hội được thành lập đồng thời quy định các quyền và nghĩa vụ pháp lí của chúng. Khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lí này, các tổ chức xã hội nhân danh tổ chức mình, ví dụ: Khi thực hiện quyền đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật, thực hiện quyền khiếu nại… Trong một số trường hợp nhất định, Nhà nước trao quyền cho tổ chức xã hội, cho phép tổ chức xã hội được nhân danh Nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước, ví dụ: Tổ chức công đoàn được Nhà nước trao quyền phối hợp cùng cơ quan nhà nước ban hành quyết định hành chính liên tịch, ban thanh tra nhân dân khi cần thiết được chủ tịch uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn giao xác minh những vụ việc nhất định. Trong những trường hợp này, quyết định của tổ chức xã hội có thể có hiệu lực đối vói các thành viên bên ngoài tổ chức đó. Khi không được trao quyền lực nhà nước, các quyết định của tổ chức xã hội chỉ có tính bắt buộc trong phạm vi tổ chức mình.

      Các tổ chức xã hội hoạt động tự quản theo quy định của pháp luật và theo điều lệ do các thành viên trong tổ chức xây dựng lên

    Dù tổ chức xã hội hoạt động theo điều lệ hay theo quy định của Nhà nước thì hoạt động của tổ chức vẫn mang tính tự quản. Nhà nước không trực tiếp can thiệp vào công việc nội bộ của các tổ chức xã hội cũng như không sử dụng quyền lực nhà nước để sắp xếp người lãnh đạo tổ chức hay cách chức của họ trong tổ chức xã hội.

    Điều lệ của tổ chức xã hội do các thành viên trong tổ chức xã hội xây dựng thông qua đại hội đại biểu hoặc đại hội toàn thể các thành viên. Điều lệ hoạt động của các tổ chức xã hội không được trái pháp luật và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn. Việc Nhà nước phê chuẩn điều lệ hoạt động của tổ chức xã hội là kiểm tra, đánh giá tính hợp hiến, hợp pháp của các điều lệ đó, cho phép các tổ chức xã hội tồn tại và hoạt động theo điều lệ. Điều lệ của các tổ chức xã hội không phải là văn bản pháp luật, các quy định trong điều lệ không mang tính pháp lí, chúng chỉ điều chinh các quan hệ xã hội trong nội bộ của tổ chức xã hội đó và chỉ có hiệu lực đối với các thành viên trong tổ chức. Mặt khác, điều lệ hoạt động của các tổ chức xã hội cũng không quy định quyền và nghĩa vụ pháp lí của các tổ chức xã hội, không xác định năng lực chủ thể của các tổ chức xã hội trong các quan hệ quản lí nhà nước, vấn đề này do Nhà nước quy định trong các văn bản pháp luật về hội và dược hiểu là quy chế pháp lí hành chính của tổ chức xã hội. Trong quá trình hoạt động, các tổ chức xã hội tự xử lí và giải quyết các công việc nội bộ của mình, Nhà nước sẽ không can thiệp nếu hoạt động của các tổ chức xã hội không trái pháp luật.

      Các tổ chức xã hội hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận mà nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên.

    Đặc điểm này phân biệt tổ chức xã hội với các tổ chức kinh tế như: Công ti cổ phần, công ti trách nhiệm hữu hạn, các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ …

    Các tổ chức xã hội có vai trò quan trọng trong việc giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân, trước hết là cho các thành vién trong tổ chức đó. Thông qua những quy định trong điều lệ hoạt động của tổ chức xã hội, thông qua hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật thường xuyên đối với các thành viên, các tổ chức xã hội luôn hướng tới mục đích nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân. Đồng thời, hoạt động của tổ chức xã hội còn nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên. Khi có những hành vi xâm hại tới quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên hay của những người khác, các tổ chức xã hội tạo ra dư luận xã hội rộng rãi đế phản đối những hành vi vi phạm đó đồng thời yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ, khôi phục các quyền và lợi ích đã bị xâm hại.

    Một số tổ chức xã hội được thành lập và hoạt động nhằm thỏa mãn các nhu cầu về văn hóa, xã hội của các thành viên hay để trao đổi kinh nghiệm sản xuất, tăng gia… Ví dụ: Hội vui tuổi già; hội những người yêu thể thao; hội làm vườn; hội nuôi ong… Các tổ chúc xã hội cũng có thể làm kinh tế từ những hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch hoặc kinh doanh để gây quỹ hoạt động hội nhưng đây không được coi là mục đích hoạt động chính của tổ chức xã hội.

    Bài viết được thực hiện bởi: thạc sĩ, luật sư Phạm Ngọc Minh – Giám đốc Công ty Luật TNHH Everest, Giảng viên khoa Luật kinh tế – Trường Đại học Hòa Bình

    Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

    1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
    2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dịch Vụ Báo Cáo Tài Chính
  • Chức Năng Và Vai Trò Của Thị Trường Chứng Khoán
  • Vai Trò Và Chức Năng Của Thị Trường
  • Phân Tích Thị Trường Người Tiêu Dùng Và Hành Vi Của Người Mua
  • Những Hiểu Biết Về Quản Trị Marketing
  • Những Đặc Trưng, Vai Trò Và Chức Năng Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Chức Năng Giáo Dục Của Tác Phẩm Văn Học
  • Tác Phẩm Văn Học Là Gì? Đặc Trưng Cơ Bản Của Một Tác Phẩm Văn Học
  • Nhân Vật Trong Tác Phẩm Văn Học
  • Xây Dựng Nhân Vật Trong Tác Phẩm Văn Học
  • Vấn Đề Về Hình Tượng Nhân Vật Trong Văn Học
    • Đề tài: Thường được sử dụng nhằm chỉ sự vật, hiện tượng đời sống được phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học. Như vậy thì đề tài chính là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm.
    • Tư tưởng tác phẩm văn học: Thể hiện sự nhận thức, là những lí giải hay thái độ của chính tác giả trong nội dung tác phẩm.
    • Nhân vật văn học: Ở đây chính là con người cụ thể được thể hiện trong tác phẩm văn học. Thông thường nhân vật văn học có thể có hoặc không tên riêng.
    • Kết cấu: Theo định nghĩa, kết cấu trong văn học chính là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm. Bố cục trong văn học nhằm chỉ sự phân bố hay sắp xếp các bộ phận, chương đoạn của tác phẩm theo trình tự nhất định. Như vậy, bố cục chính là phương diện của kết cấu và khái niệm kết cấu cho thấy nội dung phức tạp hơn, rộng rãi hơn.

    Văn học theo khái niệm chính là một loại hình của sáng tác giúp tái hiện những đề tài của đời sống xã hội cũng như con người. Có nhiều quan điểm về khái niệm văn học, tựu chung lại sự xuất hiện của văn học chính là dựa vào sự sáng tạo của việc hư cấu, và nội dung được thể hiện qua từng đề tài sáng tác.

    Khái niệm văn học thường bị nhầm lẫn với văn chương. Tuy nhiên, về bản chất thì văn học mang ý nghĩa rộng hơn và bao gồm văn chương. Sự khác nhau rõ nhất giữa hai khái niệm này chính là bởi văn chương thường nhấn mạnh nhiều đến tính thẩm mỹ, sự sáng tạo hay phương diện ngôn ngữ cùng nghệ thuật của ngôn từ.

    Các thể loại chính của văn học:

    Một số khái niệm trong văn học

    Chức năng nhận thức của văn học

    Văn học giúp người đọc nhận thức rõ về bản thân mình. Văn học giúp phản ánh hiện thực để đem lại những kiến thức mênh mông về đời sống vật chất lẫn tinh thần của con người. Bởi thế mà có người cho rằng văn học chẳng khác gì bách khoa toàn thư của cuộc sống. Ta từng thấy Ăng-ghen nhận xét khi đọc về tiểu thuyết của Ban-zắc – đó là giúp người đọc hiểu hơn về xã hội của nước Pháp.

    Bên cạnh đó, chức năng nhận thức của văn học còn thể hiện ở việc giúp người đọc tự nhận thức về bản thân mình. Những câu hỏi về sự tự nhận thức bản thân cũng được văn học giải đáp một cách chi tiết nhất.

    Chức năng thẩm mĩ của văn học

    Chức năng thẩm mỹ của văn học là một chức năng đặc trưng. Thẩm mỹ chính là cái đẹp. Cái đẹp ở đây đến từ nhiều phương diện, nhưng tựu trung lại con người luôn thích chiêm ngưỡng cái đẹp. Đó chính là bản chất của con người, là nhu cầu mà con người luôn hướng đến.

    “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

    Mỗi người sẽ có định nghĩa khác nhau về cái đẹp, nên không có một thước đo chuẩn xác cho cái đẹp, bởi lẽ nó khởi phát trong lòng người. Nhưng chức năng của cái đẹp, sự tác động của cái đẹp thì ta có thể thấy rõ và cảm nhận được. Cái đẹp xoa dịu tâm hồn con người, gạt bỏ mọi điều xấu xa khỏi tâm hồn con người chỉ để lại những gì thanh khiết trong tâm hồn con người.

    Cái đẹp có chức năng cứu rỗi là vì thế. Chính nhờ có cái đẹp mà con người sẽ cảm thấy thêm yêu cuộc đời này, thấy cuộc sống có thêm ý nghĩa. Đó chính là giá trị chức năng đặc trưng của các loại hình nghệ thuật nói chung, của văn học nói riêng.

    Cái đẹp của văn học đến từ cả hai phương diện hình thức và nội dung. Hình thức của văn học chính là thể loại chính là ngôn ngữ, hình ảnh được tác giả sử dụng. Nếu họa sĩ dùng màu sắc để vẽ tranh, nhà điêu khắc dùng đường nét để khắc họa, nhạc sĩ dùng âm nhạc để nói nên nỗi lòng mình thì nhà văn lại dùng ngòi bút để tạo nên đứa con tinh thần của mình. Ngôn ngữ chính là chìa khóa vạn năng để thi nhân mở ra cánh cửa của muôn vàn cảm xúc. Nhà văn nhà thơ là người chắt lọc và sử dụng ngôn ngữ để diễn tả nỗi lòng của mình. Cái đẹp ấy chính là ngôn ngữ.

    Như câu thơ của Quang Dũng trong bài Tây Tiến dù cách đây đã lâu nhưng vẫn đủ sức làm lay động trái tim người đọc mọi thời đại

    Câu thơ với cách ngắt nhịp 4/3 cùng với sự lặp lại từ “dốc” ở đầu mỗi phần ngắt nhịp đã tạo nên một hình ảnh độc đáo. Sự bẻ đôi của câu thơ cũng đã phần nào diễn tả được độ dốc của địa hình. Và câu thơ có nhiều thanh trắc càng gợi được sự khó khăn trúc trắc trên bước đường hành quân của người lính.

    Nhịp thơ như chính hơi thở của người lính trên hành trình leo dốc đầy gian nan này. Trên bước đường hành quân, khó khăn gian khổ là điều không thể tránh khỏi nhưng quan trọng là cách ta đối diện với khó khăn. Những người lính Tây Tiến cũng thế. Họ chấp nhận khó khăn và đối diện nó một cách đầy hiên ngang nhưng không kém phần tinh nghịch.

    Biện pháp đảo ngữ đưa từ láy “heo hút” lên đầu đã nhấn mạnh sự vắng vẻ của khung cảnh nơi đây đồng thời còn nhấn mạnh sự hoang sơ của khung cảnh nơi đây không một bóng người. Thường với không gian hoang vắng như thế, con người sẽ oán than cuộc đời hoặc cảm thấy mình bé nhỏ cô độc nhưng những người lính không thế. Họ nhìn xa hơn vào cái hoang vắng ấy để thấy “súng ngửi trời”.

    “Súng ngửi trời” là một hình ảnh nhân hóa đầy thú vị. Súng đeo trên vai luôn theo sát người lính ở mọi bước đường hành trình. Đi trên con dốc khiến người lính có cảm tưởng như chạm đến mây. HÌnh ảnh ấy gợi được độ cao của con dốc. Nhưng qua cái nhìn của người lính Tây Tiến khung cảnh hiện lên có cảm giác thật nhẹ nhàng, tinh nghịch như một bộ phim hoạt hình. Thế nhưng chính sự lạc quan tươi vui ấy lại là một phẩm chất cần có ở người lính. Bởi lẽ nó là chất xúc tác giúp người lính có thể vượt qua mọi khó khăn.

    Câu thơ “Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” là một nét phác họa gợi cho ta liên tưởng đến một bức tranh thủy mặc thời cổ của một thi sĩ nào đó. Chính nét phác họa ấy đã tạo nên một bức tranh nhiều chiều, dường như không chỉ là độ cao mà nó còn là độ sâu nữa. Dù hình ảnh người lính không xuất hiện trực tiếp nhưng trên phông nền hùng vĩ của thiên nhiên ấy, ta có thể tưởng tượng hình ảnh người lính xuất hiện hùng tráng biết bao như các chiến sĩ thời trung đại.

    Có lẽ chính vì có lí tưởng, có mục đích chiến đấu cao cả nên người lính Tây Tiến không hề bé nhỏ cô đơn mà ngược lại. Kết thúc bức tranh núi rừng tây tiến hoang sơ nhưng hùng vĩ ấy là một hình ảnh thật nên thơ thơ mộng với “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ chỉ toàn thanh bằng khiến người đọc có một cảm giác thật nhẹ nhàng lãng mạn….

    Trong những giây phút dừng chân hiếm hoi, người lính Tây Tiến phóng tầm mắt ra xa tìm kiếm một nơi ấm, một mái nhà ấm áp. Chỉ bấy nhiêu đó thôi cũng đủ làm dấy lên trong lòng họ ngọn lửa ấm áp. Đó chính là cái đẹp mà văn học mang lại nhưng cái đẹp đó không đơn thuần là ở bên ngoài mà còn tác động đến tầng sâu cảm xúc làm lắng đọng những suy tư. Chính vì vậy, cái đẹp của văn học mới có thể tồn tại.

    Chức năng giáo dục của văn học

    Lý giải văn học với chức năng giáo dục

    Giáo dục chính là một mục đích tuyệt vời của văn học. Chức năng giáo dục của văn học cũng là một trong những điều đặc biệt mà văn học mang lại. Sự giáo dục mà văn học mang lại không đơn thuần là những kiến thức sách vở mà đó là những bài học tác động đến tình cảm, cách ta nhìn nhận thế giới. Vì vậy, bên cạnh nhiều yếu tố khác, văn học chính là một trong những nhân tố giúp con người hình thành tam quan – thế giới quan, nhân sinh quan, giá trị quan.

    Văn học mang đến bài học giáo dục con người theo mỗi cách khác nhau. Điều đó phụ thuộc vào người đọc giải mã tác phẩm thế nào. Mỗi người có một cách đọc, một cách nhìn nhận và lí giải tác phẩm khác nhau. Nhà văn sẽ mã hóa thông điệp của mình vào một hình ảnh, một chi tiết hay một nhân vật nào đó trong tác phẩm của mình.

    Như khi đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du, ta nhận thấy Nguyễn Du gửi gắm sự đồng cảm đối với những bất công ngang trái mà những người tài hoa bạc mệnh phải gánh chịu. Thúy Kiều là một cô gái tài sắc nhưng phải chịu số phận hẩm hiu không chỉ rời xa gia đình êm ấm, mối tình đầu dang dở nhưng nàng lại phải chịu đựng kiếp làm lẽ, bị người đời chà đạp.

    “Hạt gạo làng ta Có vị phù sa Của sông Kinh Thầy Có hương sen thơm Trong hồ nước đầy”.

    Đời một người con gái tài hoa cuối cùng lại chỉ đành “khép cửa phòng tu” mà thôi. Bởi lẽ trong một xã hội đầy bất công, thế lực đồng tiền lên ngôi thì con người có tài hoa mấy rồi cuối cùng chỉ dang dở mà thôi. Chính vì vậy đọc truyện Kiều, ta không chỉ xót xa đồng cảm cho số phận của Kiều mà còn cảm thấy chán ghét bức bối trước xã hội thối nát.

    Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, đọc những vần thơ về Kiều ta càng thêm khâm phục tài sắc và cả nhân cách của Kiều. Trân trọng ngợi ca cái đẹp cái tài cũng chính là một cách để thể hiện tấm lòng của tác giả đối với Nhưng bên cạnh đó còn là ước mơ về người anh hùng được gửi gắm qua nhân vật Từ Hải.

    “Cháu chiến đấu hôm nay Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác Ổ trứng hồng tuổi thơ”

    Chức năng giáo dục của văn học thiếu nhi

    Nhưng không chỉ có những tác phẩm lớn mà ngay những tác phẩm văn học thiếu nhi cũng đã hàm chứa chức năng giáo dục. Đó là giáo dục tình yêu thiên nhiên yêu quê hương đất nước. Chỉ một bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa cũng đã đủ để khơi dậy trong lòng người đọc nhiều ý nghĩ

    Chỉ những hình ảnh đó thôi cũng đã khiến mọi người nhớ đến hình ảnh làng quê êm đềm với những hạt gạo mà bác nông dân phải một nắng hai sương xay giã giần sàng.

    Văn học thiếu nhi tuy hướng đến đối tượng chính là thiếu nhi nhưng những bài học tác giả gửi gắm vào đó không hề giản đơn tùy tiện mà luôn chứa một chiều sâu vừa đủ để chạm đến tâm hồn của các độc giả trẻ tuổi cũng như vừa đủ để người lớn khi đọc lại vẫn cảm thấy vỡ lẽ ra nhiều điều thú vị.

    “Tôi khờ khạo lắm ngu ngơ quá Chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì”

    Chỉ vài dòng thơ trong bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân QUỳnh mà ta như sống lại với bao kỷ niệm ấu thơ về người bà hiền hậu tảo tần sớm hôm để lo cho đàn cháu nhỏ dại. Bà thắp lên những ngọn lửa không chỉ soi sáng không gian tăm tối mà còn soi sáng cả cuộc đời cháu…

    “Làm sao giết được người trong mộng Để trả nợ duyên kiếp phũ phàng”

    Chức năng giao tiếp của văn học

    Văn học bên cạnh chức năng giáo dục, thẩm mỹ còn có chức năng giao tiếp. Chức năng giao tiếp của văn học không trực tiếp cụ thể mặt đối mặt như các kiểu giao tiếp thông thường trong cuộc sống mà nó là sự đối thoại đặc biệt giữa tác giả và người đọc. Tác giả sẽ truyền tải câu chuyện thông điệp vào trong từng trang viết.

    “Em tưởng giếng nước sâu Em nối sợi gàu dài Ai ngờ giếng nước cạn Em tiếc hoài sợi dây”

    Cuộc đời thi nhân dường như trải ra tâm trạng của người viết cũng được phơi bày một cách trung thực nhất không giấu giếm không lừa dối. Bởi lẽ thơ ca chỉ có thể tác động đến trái tim người đọc khi nó đi ra từ chính trái tim của người viết. Trái tim mới có thể đi đến trái tim. Nếu như những gì anh viết không phải là tình cảm nồng hậu chân thành thì làm sao có thể rung lên ở người đọc vô vàn xúc cảm. Như đọc những vần thơ của Xuân Diệu:

    Hay những vần thơ của Hàn Mặc Tử:

    Nếu đó không phải là những vần thơ xuất phát từ trái tim của thi nhân – một trái tim cô đơn khát khao tìm kiếm tình yêu thì làm sao những vần thơ ấy còn được lưu truyền đến ngày nay. Thời gian là dòng chảy khắc nghiệt nhất phũ phàng nhất có thể hủy hoại hết mọi thứ. Nhưng với tác phẩm văn học, thời gian lại chính là thước đo giá trị chính xác nhất.

    • Đặc trưng về đối tượng phản ánh.
    • Đặc trưng về nội dung phản ánh của văn học.
    • Đặc trưng về phương tiện phản ánh của văn học.
    • Tính phi vật thể của ngôn từ nghệ thuật.

    Nhưng sự đối thoại giữa người đọc và tác giả lại được diễn ra gián tiếp thông qua tác phẩm. Nếu như nhà văn là người mang đứa con tinh thần của mình đến với người đọc thì người đọc lại chính là người mang lại hơi thở, sự sống cho tác phẩm. Và lời hồi đáp của người đọc dành cho tác giả chính là những nỗi niềm trân quý, sự rung lên trong tâm hồn và sự thay đổi của người đọc. Tất cả đều góp phần kiến tạo nên một thế giới tốt đẹp hơn.

    Văn học là thế, không cần những mĩ từ ngợi ca mà nó được người đời tung hô bởi những giá trị tự thân, mà giá trị ấy do nhiều yếu tố hợp thành như nhà văn, tư tưởng của tác phẩm, người đọc,… Một tác phẩm hội tụ đầy đủ những giá trị chwusc năng này ắt hẳn sẽ không phải là một tác phẩm nông cạn, trôi tuột trong kí ức người đọc mà ngược lại sẽ neo đậu trong lòng người đọc bao thế hệ.

    Bản chất và đặc trưng của văn học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhận Thức Trong Văn Học Là Gì ?
  • Sưu Tầm Những Nhận Định Hay Về Văn Học
  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Học Và Hiện Thực Trong Lý Thuyết Ký Hiệu Học Văn Hóa
  • Vấn Đề Tính Chân Thực Trong Phản Ánh Hiện Thực Của Văn Học
  • Hội Nghị “tổng Kết Công Tác Năm 2022 Và Triển Khai Nhiệm Vụ Năm 2022” Của Trung Tâm Hỗ Trợ Sáng Tác Văn Học Nghệ Thuật
  • Tổ Chức Xã Hội Là Gì? Đặc Điểm, Phân Loại Các Loại Tổ Chức Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam
  • Luận Văn Đề Tài Chức Năng Tổ Chức, Quản Lí Của Nhà Nước Xhcn Trong Lĩnh Vực Kinh Tế Của Nước Cộng Hòa Xhcn Việt Nam
  • Phân Tích Cơ Cấu Tổ Chức Của Công Ty
  • Giáo Trình Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
  • Tự Xây Dựng Cơ Cấu Tổ Chức Trong Doanh Nghiệp Như Thế Nào?
  • Tổ chức xã hội là gì? Khái niệm, đặc điểm, phân loại các loại tổ chức xã hội. Có 5 loại tổ chức xã hội ở Việt Nam là tổ chức trính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, các tổ chức tự quản và tổ chức khác.

    Trong xã hội hiện nay chúng ta thường thấy có khá nhiều loại hình tổ chức xã hội, gần gũi nhất đối với hoạt động đời sống tại gia đình mỗi cá nhân đó là mô hình tổ dân phố tự quản hay thôn xóm hay Hội liên hiệp phụ nữ, hội cựu chiến binh …. hoặc chế độ mà chúng ta đang được lãnh đạo đó là dưới chế độ quản lý của Đảng cộng sản.

    Vậy thì những loại hình tổ chức xã hội này được hình thành, hoạt động có chịu sự quản lý, hay xuất phát từ đâu mà lập nên, các tổ chức này hoạt động dựa trên nguyên tắc nào?

    Tổ chức xã hội đứng gia nhân danh cho tổ chức của mình trong việc tham gia thực hiện đối với những hoạt động như quản lý nhà nước. Trường hợp pháp luật có quy định thì tổ chức xã hội sẽ nhân danh Nhà nước trong việc hoạt động của tổ chức.

    Các thành viên tham gia trong tổ chức xã hội hoạt động hoàn toàn dựa trên tinh thần tự nguyện và hoạt động dựa trên một mục đích chung hay đơn giản ở đây là họ thành lập dựa trên nguyên tắc cùng giai cấp, cùng công việc nghề nghiệp của mình.

    Tổ chức xã hội đề ra các nguyên tắc hoạt động của tổ chức đó và điều lệ của tổ chức do chính các thành viên của tổ chức đó lập nên. Các nguyên tắc, điều lệ này được lập ra phải đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.

    Không như các loại tổ chức khác thường thấy, điểm khác biệt cơ bản của tổ chức xã hội đó là việc hoạt động của tổ chức không vì mục đích lợi nhuận mà mục đích của tổ chức này là để bảo vệ các quyền cũng như những lợi ích của các thành viên trong tổ chức.

    – Tổ chức chính trị:

    Thành viên tham gia trong tổ chức chính trị này là những người đại diện của cả một giai cấp hoặc là một lực lượng xã hội nên những thành viên trong tổ chức này là những người mà do được giai cấp hay lực lượng xã hội đó bầu lên.

    Tổ chức chính trị được công khai và thừa nhận chỉ khi quyền lực nhà nước đặt ra ở đây là thuộc về một lực lượng nhất định.

    Đối với tổ chức chính trị này thì nhiệm vụ đặt ra chủ yếu đó là việc giành chính quyền và giữ chính quyền.

    Ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì xác định rõ một điều rằng chỉ có duy nhất một tổ chức chính trị cầm quyền đó là Đảng cộng sản Việt Nam.

    – Tổ chức chính trị xã hội:

    Đây là một loại tổ chức chặt chẽ và được phân chia thành nhiều lớp để hoạt động hiệu quả.

    Tổ chức chính trị xã hội góp phần trong việc bảo vệ, xây dựng cũng như đối với sự phát triển của đất nước.

    Tổ chức hoạt động dựa trên nguyên tắc chính đó là nguyên tắc tập trung dân chủ, với hệ thống trải dài từ trung ương đến địa phương. Hoạt động theo điều lệ được lập tại hội nghị đại biểu các thành viên hoặc hội nghị toàn thể thông qua.

    Các loại tổ chức chính trị xã hội hiện nay gồm có Công đoàn, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Hội cứu chiến binh Việt Nam và Hội nông dân Việt Nam

    – Tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp:

    Loại hình tổ chức này được thành lập dựa trên ý kiến, sáng kiến cũng như nhu cầu của cơ quan Nhà nước.

    Đứng ra trợ giúp, hỗ trợ nhà nước trong việc giải quyết một số vướng mắc, vấn đề xã hội cụ thể.

    Được thành lập dựa trên những quy định của Nhà nước và chịu sự quản lý của cơ quan Nhà nước.

    – Tổ chức tự quản:

    Đây cũng là một loại hình tổ chức hình thành dựa trên sáng kiến, quan điểm của Nhà nước. Cộng đồng dân cư trên một địa bàn cụ thể sẽ bầu ra tổ chức tự quản dưới những cái tên cụ thể như tổ dân phố, thôn hay tổ hòa giải cơ sở … nhằm quản lý những công việc cụ thể mang tính cộng đồng hoặc được Nhà nước ủy quyền để thực hiện nhiệm vụ.

    Được thành lập dựa trên những quy định của Nhà nước và chịu sự quản lý của cơ quan Nhà nước.

    Thực hiện nhiệm vụ tự quản trên phạm vi nhất định cụ thể các công việc tại địa phương mà không chịu sự quản lý trực tiếp của Nhà nước.

    – Nhóm tổ chức khác:

    – Các tổ chức có tư cách pháp nhân gồm có tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp và tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp.

    – Tổ chức chính trị có tư cách pháp nhân tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của tổ chức mình.

    – Được thành lập theo sự cấp phép, cho phép của cơ quan Nhà nước trong việc thành lập và hoạt động, Nhà nước công nhận đối với điều lệ công ty, hội viên là các cá nhân tự nguyện trong việc đóng góp tài sản hoặc những khoản hội phí của cá nhân đó trong việc hình thành khối tài sản chung đối với việc duy trì, hoạt động của hội trong việc tham gia các quan hệ dân sự với tư cách là pháp nhân.

    – Điểm đáng lưu ý đó là không phải tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp nào cũng có tư cách pháp nhân mà chỉ những tổ chức có đầy đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật dân sự 2022 và chịu sự chi phối, điều chỉnh theo Bộ luật dân sự 2022.

    TƯ VẤN MỘT TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ:

    Xin chào anh/ chị! Cho em hỏi đơn vị tổ chức chính trị: Đảng CSVN Tổ chức chính trị xã hội: Mặt trận tổ quốc; Công đoàn; Đoàn Thanh niên, Hội LH Phụ nữ; Hội Nông dân Tổ chức Xã hội – Nghề nghiệp: Đoàn Luật sư; Trọng tài kinh tế Vậy Tổ chức xã hội và tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp gồm những đơn vị nào? Phần kể tên trên em có sót không ạ? Mong được hồi âm sớm.

    Tổ chức xã hội là một bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các tổ chức xã hội đã góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Là một hình thức tổ chức nhân dân tham gia quản lý nhà nước, các tổ chức xã hội được hiểu là hình thức tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức ở Việt Nam có chung mục đích tập hợp, hoạt động theo pháp luật và điều lệ, không vì lợi nhuận nhằm đáp ứng những lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

    Các tổ chức xã hội có những đặc điểm chung nhất định, phân biệt với các cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh tế. Các đặc điểm đó bao gồm:

    – Các tổ chức xã hội nhân danh chính tổ chức mình để tham gia các hoạt động quản lý nhà nước, chỉ trong trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định tổ chức xã hội mới hoạt động nhân danh nhà nước.

    – Các tổ chức xã hội hoạt động tự quản theo quy định của pháp luật và theo điều lệ do các thành viên trong tổ chức xây dựng.

    – Các tổ chức xã hội hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận mà nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên.

    Thứ nhất, có 5 loại tổ chức xã hội ở Việt Nam là tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, các tổ chức tự quản và tổ chức khác.

    – Là tổ chức mà thành viên cùng hoạt động với nhau vì một khuynh hướng chính trị nhất định.

    – Chỉ được công khai thừa nhận nếu quyền lực nhà nước thuộc về một lực lượng nhất định.

    – Thanh viên của tổ chức này là đại diện của một giai cấp hay một lực lượng xã hội nên phải bầu cử mới được gia nhập

    – Nhiệm vụ chủ yếu là giành và giữ chính quyền

    – Nước Việt Nam có một tổ chức chính trị duy nhất là Đảng Cộng Sản Việt Nam.

    – Tổ chức mang màu sắc chính trị với vai trò là đại diện của các tầng lớp trong xã hội đối với hoạt động của nhà nước cũng như đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị, cơ sở của chính quyền nhân dân.

    – Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và chia thành nhiều lớp hoạt động.

    – Ở Việt Nam hiện có 6 tổ chức chính trị xã hội là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam và Hội cựu chiến binh Việt Nam.

    – Thành lập theo sang kiến của nhà nước

    – Hình thành theo các quy định của nhà nước và được quản lý chặt chẽ bởi cơ quan nhà nước.

    – Hỗ trợ nhà nước giải quyết một số vấn đề xã hội

    – Hoạt động tự quản, cơ cấu do nội bộ tổ chức quyết định, hoạt động không mang tính quyền lực chính trị và hoàn toàn tự nguyện.

    – Thành lập theo sang kiến của nhà nước

    – Hình thành theo quy định nhà nước và được quản lý bởi cơ quan nhà nước

    – Thực hiện nhiệm vụ tự quản ở phạm vi nhất định các công việc mà nhà nước không trực tiếp quản lý.

    ví dụ như tổ dân phố..

    Các hội được thành lập theo dấu hiệu nghề nghiệp, sở thích hoặc các dấu hiệu khác, được thành lập trên cơ sở quyền tự do lập hội của công dân ví dụ như hội người mù, các câu lạc bộ…

    Thứ hai, Điều 104 “Bộ luật dân sự năm 2022” quy định pháp nhân là tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp:

    “1. Tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, công nhận điều lệ và có hội viên là cá nhân, tổ chức tự nguyện đóng góp tài sản hoặc hội phí nhằm phục vụ mục đích của hội và nhu cầu chung của hội viên là pháp nhân khi tham gia quan hệ dân sự.

    2. Tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình.

    3. Trong trường hợp tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp chấm dứt hoạt động thì tài sản của tổ chức đó không được phân chia cho các hội viên mà phải được giải quyết theo quy định của pháp luật.”

    Theo đó, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp có đặc điểm: được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, công nhận điều lệ. Hội viên có thể bao gồm cả cá nhân và tổ chức, tài sản của loại tổ chức này được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp tự nguyện của các hội viên hoặc hội phí, nhằm phục vụ cho nhu cầu chung của hội viên và mục đích của tổ chức.

    Chỉ các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp thỏa mãn đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 84 “Bộ luật dân sự năm 2022″mới trở thành tổ chức có tư cách pháp nhân và chịu sự điều chỉnh của các Khoản 2,3 của điều luật này. Pháp nhân là tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp phải chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản của mình như các pháp nhân nói chung.

    Khoản 3 Điều 104 “Bộ luật dân sự năm 2022″chỉ nhằm xác định rõ tính chất độc lập trong việc gánh vác trách nhiệm dân sự của tổ chức này: có sự tách biệt rõ ràng giữa tài sản riêng của hội viên và tài sản của tổ chức; hội viên không có nghĩa vụ phải đem tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ dân sự của tổ chức. Như vậy, không có quy định đơn vị cụ thể nào được coi là tổ chức tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Các Tổ Chức Xã Hội Và Một Vài Khuyến Nghị
  • Khái Niệm Và Ðặc Ðiểm Của Các Tổ Chức Xã Hội Ở Nước Ta
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Tổ Chức Xã Hội
  • Dịch Vụ Báo Cáo Tài Chính
  • Chức Năng Và Vai Trò Của Thị Trường Chứng Khoán
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100