Chức Năng Giao Tiếp

--- Bài mới hơn ---

  • 1 Số Chú Ý Về Chức Năng Giao Tiếp Trong Đề Thi Đại Học Post 1 Docx
  • Chức Năng Giao Tiếp Trong Tâm Lý
  • Lớp Từ Ngữ Giữ Chức Năng Định Danh, Xưng Hô Trong Hồi Kí Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc Của Phạm Khắc Hòe
  • Các Phong Cách Chức Năng Ngôn Ngữ Trong Văn Bản
  • Đánh Giá Vai Trò Của Kỹ Năng Giao Tiếp Trong Cuộc Sống Của Con Người
  • A. It’s my pleasure. B. I don’t know what time that person comes.

    C. I’d love to come. What time? D. Do you have time for some gossip?

    A. Maybe I’m not going to the doctor’s. B. Not very well. Thanks.

    C. Maybe you should take a rest. D. Not bad. I’m not going to the doctor’s.

    A. Of course, not for me. B. No, I can’t help you now.

    C. No, those aren’t mine. D. No, I can manage them myself.

    A. It’s interesting to travel to Manchester. B. It depends on how to go.

    C. I always go by train. D. I don’t like to go by train.

    A. Could you do me a favour? B. Oh, dear. What a nice shirt!

    C. May I help you? D. White, please!

    A. I’ll have a soup, please. B. There’s a great restaurant at the corner of the street.

    C. I usually eat lunch at twelve. D. Twelve would be convenient.

    A. Nothing special B. You’re welcome.

    C. It’s very expensive. D. I don’t think so. I’m teaching all summer.

    A. I love it. B. My brother gave it to me.

    C. It was a gift from my brother. D. I always put it there.

    A. It’s too late now. B. Pretty busy, I think.

    C. By bus, I think. D. No, I’ll not be busy.

    A. No, I’ll just use a frying pan. B. No, I’ll just use chopsticks.

    C. No, I’ll just use a can opener. D. No, I’ll use a cooker.

    A. Thanks, that’s nice of you to say so. B. Thanks. Have a nice trip.

    C. I’m fine, thanks. D. I know. I have trouble controlling my temper.

    A. I’m sorry I can’t. Let’s go now. B. Sure. I’d love to.

    C. Sure. But please be careful with it. D. I’m sorry. I’m home late.

    A. Do you smoke? B. What’s the matter?

    C. Anything else? D. Well, you should stop smoking.

    A. Yes, I used to play tennis. B. I don’t play very often.

    C. No, I don’t play very well. D. Pretty well, I think.

    A. Did you watch the live show last weekend? B. Did you do anything special last weekend?

    C. Did you have a great time last weekend? D. Did you go anywhere last weekend?

    A. No, I went there with my friends. B. That sounds nice, but I can’t.

    C. Don’t worry. I’ll go there. D. I did, but I didn’t stay long.

    A. What would you like? B. It’s very kind of you to help me.

    C. Would you like anything else? D. What kind of food do you like?

    A. A fashion hat B. It depends on the situation.

    C. Several times. D. I think it’s OK.

    A. No problem. B. Don’t worry. I’m all right.

    C. I usually drive home at five. D. It’s me.

    A. I’m afraid she’s not here at the moment. B. No, she’s not here now.

    C. She’s leaving a message to you now. D. Yes, I’ll make sure she gets it.

    A. Yes, he really wants to get ahead. B. Yes, he’s quite gentle.

    C. Really? I’ve never seen him lie. D. Right. He ‘s so quiet.

    A. Yes, it’s the most expensive. B. What an expensive dress!

    C. You are paying for the brand. D. That’s a good idea.

    A. Yes, it’s hard to think of the answers. B. Yes, I wish she’d hurry up.

    C. Yes, she would know the answers. D. Yes, she speaks too quickly.

    A. It’s my favourite sport. B. I worked.

    C. Do you like it? D. Would you like to come with me?

    A. He always comes late. He is not very well. B. Thank you. Good bye.

    C. I’m afraid he is not in. Can I take a message? D. I’m afraid not. He works very hard.

    A. It has good facilities. B. It’s convenient to see it.

    C. You can find it very convenient. D. You can see it from the back.

    A. I think it is bad condition. B. I can’t see anything.

    It’s a little hot in here. D. It’s a good idea.

    A. Great. Let’s go. B. I’m not a real fan of hers.

    C. Don’t mention it. D. Thanks. I’d love to.

    A. What do you think of tennis? B. Do you like sports?

    C. Do you pfer tennis or badminton? D. How often you play tennis?

    A. How are you? B. Are you feeling OK?

    C. Is there anything wrong? D. What’s the matter?

    A. Probably to the beach. B. The beach is nice, isn’t it?

    C. Probably I won’t think of. D. I have a four-day vacation.

    A. Can I help you? B. Why is it so expensive?

    C. What is it? D. What’s wrong with it?

    A. I get a high salary, you know. B. I want to be a doctor, I guess.

    C. I work in a bank. D. It’s hard work, you know.

    A. It depends on what it is. B. What’s it like?

    C. No, thanks. D. I’m afraid I won’t come.

    A. I’m not sure. Really? B. I will, the first thing in the afternoon.

    C. I’m with you there. D. I can get a paper for you right now.

    A. I know. He is a good manager. B. Sure. He will do that.

    C. I know. He must like green. D. He’d rather do that.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mục Tiêu Của Giao Tiếp Và Nhiệm Vụ, Chức Năng
  • Chức Năng Và Hình Thức Truyền Thông Giao Tiếp Của Các Tổ Chức
  • Giải Thích Các Chức Năng Của Các Thành Phần Máu Tính Câu Hỏi 1428247
  • Dạy Học Tiếng Việt Bằng Pp Giao Tiếp
  • Câu Cầu Khiến Là Gì? Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng Và Cách Sử Dụng
  • Khái Niệm Và Chức Năng Của Giao Tiếp

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề 10: Chức Năng Giao Tiếp
  • Sản Phẩm Chức Năng Gan Bảo Nguyên Có Tốt Không? Giá Bao Nhiêu?
  • Chức Năng Gan Bảo Nguyên
  • Gia Đình Là Gì? Phân Tích Các Chức Năng Cơ Bản Của Gia Đình
  • Gia Đình Với Chức Năng Giáo Dục Trong Bối Cảnh Toàn Cầu Hóa
  • Kết quả

    Khái niệm và chức năng của giao tiếp:

    Giao tiếp là sự truyền đạt điều muốn nói từ người này sang người khác để đối tượng có thể hiểu những thông điệp được truyền đi.

    Giao tiếp không chỉ đơn thuần là việc truyền thụ ý muốn nói mà còn bao hàm cả việc hiểu được những ý đó nữa. Chẳng hạn, trong nhóm làm việc có một chuyên gia. Chuyên gia này chỉ nói tiếng Anh. Các thành viên khác trong nhóm là người Việt và không ai biết tiếng Anh, vì vậy họ không thể hiểu những gì mà chuyên gia nói. Trong trường hợp đó, chưa thể có sự giao tiếp. Quá trình giao tiếp chỉ xảy ra khi những người lao động Việt Nam trong nhóm hiểu được những gì mà chuyên gia muốn thông báo, giải thích hay truyền đạt.

    Trên thực tế một ý tưởng dù lớn hay nhỏ cũng trở nên vô dụng nếu nó không được chuyển đi và không được người khác hiểu. Quá trình giao tiếp hoàn hảo sẽ xảy ra khi ý nghĩ, hay ý tưởng của người nhận giống hệt với ý nghĩ hay ý tưởng của người gửi. Tuy nhiên, điều này rất ít xảy ra trong thực tế.

    Như vậy, có ba điểm cần lưu ý trong khái niệm về giao tiếp, thứ nhất đó là sự trao đổi hai chiều, thứ hai có ít nhất hai đối tượng tham gia vào quá trình giao tiếp, thứ ba thông tin phải được hai bên hiểu rõ. Nếu thiếu một trong ba yếu tố này thì việc giao tiếp chưa hoàn chỉnh.

    Giao tiếp trong một nhóm hay một tổ chức có 4 chức năng cơ bản sau đây: kiểm soát, tạo động lực, bày tỏ cảm xúc và thu nhận thông tin.

    Giao tiếp có thể thực hiện chức năng kiểm soát hành động của các thành viên theo một số cách nhất định. Chẳng hạn, các nhà lãnh đạo có thẩm quyền có thể đưa ra một số yêu cầu mà các nhân viên dưới quyền phải tuân thủ; hoặc khi người quản lý giao nhiệm vụ cho nhân viên dưới quyền. Khi đó, giao tiếp giữ chức năng kiểm soát.

    Quá trình giao tiếp không chính thức cũng kiểm soát các hành vi. Khi các nhóm phê phán một thành viên nào đó không tuân thủ chuẩn mực nhóm (chẳng hạn cố tình tăng năng suất cá nhân để các thành viên ít khả năng hơn có thể bị phê bình hay đuổi việc) thì họ đã không chính thức giao tiếp với người đó nhưng vẫn kiểm soát hành vi của anh ta.

    Giao tiếp thúc đẩy động lực bằng cách giải thích rõ cho các nhân viên cách thức tiến hành công việc, thông báo kết quả công việc của họ trong một thời điểm nhất định, chỉ cho họ thấy họ cần phải làm gì để nâng cao hơn nữa hiệu quả công việc. Việc hình thành mục tiêu cụ thể, thông tin phản hồi về sự tiến bộ của cá nhân, tằng cường các hành vi mong muốn, tất cả đều tạo nên động lực lao động và cần có giao tiếp.

    Đối với nhiều nhân viên, nhóm làm việc là môi trường chính để họ quan hệ. Quá trình giao tiếp diễn ra trong nhóm là môi trường chủ yếu để các thành viên bày tỏ sự thất vọng, cảm giác mãn nguyện. Vì vậy, giao tiếp cho phép các thành viên bày tỏ cảm xúc và đáp ứng các nhu cầu xã hội.

    Chức năng cuối cùng của giao tiếp là cung cấp thông tin mà các cá nhân và các nhóm cần để đưa ra quyết định.

    Trong 4 chức năng này, không có chức năng nào được xem quan trọng hơn các chức năng khác. Để cho các nhóm hoạt động hiệu quả, các nhà quản lý cần duy trì một hình thức kiểm soát đối với các thành viên, khuyến khích các thành viên hoạt động, tạo điều kiện để họ có thể bày tỏ cảm xúc và lựa chọn. Có thể khẳng định rằng mọi quá trình giao tiếp xảy ra trong một nhóm hay một tổ chức đều là sự kết hợp của một hay nhiều chức năng trên

    (quantri.vn biên tập và số hóa)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu 2: Phân Tích Các Chức Năng Và Tính Chất Của Giáo Dục?
  • Phân Tích Các Chứng Năng Xã Hội Của Giáo Dục
  • Tìm Hiểu Nguyên Nhân Và Biểu Hiện Của Suy Giảm Chức Năng Gan
  • Kiểm Tra Chức Năng Gan Như Thế Nào?
  • Xét Nghiệm Chức Năng Gan Gồm Những Gì? Hướng Dẫn Xem Các Chỉ Số Xét Nghiệm Gan
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì? Chức Năng Của Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phong Cách Chức Năng Của Ngôn Ngữ
  • Bản Chất Xã Hội Của Ngôn Ngữ
  • Tiểu Luận Quan Niệm Của Mình Về Tính Chất Giao Tiếp Của Hoạt Động Văn Học Trên Cơ Sở Lý Luận Hoạt Động Giao Tiếp Ngôn Ngữ
  • Văn Hóa Giao Tiếp Là Gì? Làm Thế Nào Để Giao Tiếp Tốt Trong Mọi Trường Hợp
  • Chức Năng Của Giao Tiếp Văn Hóa Nơi Công Cộng Là Gì?
  • Giao tiếp phi ngôn ngữ là cách gửi và nhận thông điệp từ những gì mà chúng ta thể hiện ra bên ngoài trong quá trình giao tiếp. Nó bao gồm tất cả những thao tác của từng bộ phận trên cơ thể như cử chỉ, biểu cảm khuôn mặt, ánh mắt, nụ cười, giọng điệu, dáng đứng, khoảng cách…

    Vai trò của giao tiếp phi ngôn ngữ

    Trong xã hội hiện đại, nhất là công việc kinh doanh, giao tiếp phi ngôn ngữ lại có tầm quan trọng rất lớn. Nó giúp cho mỗi người trở nên tinh tế hơn, biết tự kiềm chế cảm xúc, tự ý thức và điều khiển được ngôn ngữ cơ thể. Đồng thời, giao tiếp phi ngôn ngữ cũng giúp chúng ta hiểu rõ đối tác mà ta đang tiếp cận để đưa ra những định hướng đúng đắn.

    Tầm quan trọng của giao tiếp phi ngôn ngữ còn được thể hiện trong những tình huống khi chúng ta tiếp xúc lần đầu với một người khác. Ngoài việc để ý các cử chỉ, điệu bộ và nội dung của người đối diện, bạn còn phải học cách đọc và hiểu ý nghĩa của những chúng. Từ đó, bạn sẽ có được kinh nghiệm, giúp bạn nhận biết được người đối diện, nhận ra chính mình và học cách kiểm soát bản thân trong giao tiếp tốt hơn.

    Những điều cần lưu ý về giao tiếp phi ngôn ngữ

    Ở mỗi quốc gia, mỗi cử chỉ trong giao tiếp phi ngôn ngữ mang những ý nghĩa khác nhau. Và nó khiến bạn phải chủ động tìm hiểu về văn hóa giao tiếp của họ để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất.

    Nụ cười được xem là vũ khí lợi hại mang đến sự thoải mái, vui vẻ, cởi mở trong giao tiếp. Thế nhưng, trong nhiều trường hợp nụ cười lại có nhiều ý nghĩa khác. Nụ cười của người Mỹ mang xu hướng biểu lộ cảm xúc rõ ràng hơn người Nga hay người châu Á. Và với người Nhật, họ cười để thể hiện lòng kính trọng hoặc che giấu sự buồn phiền.

    Với chúng ta, lắc đầu có nghĩa là không, gật đầu là có, thì với đất nước Hy Lạp hay Bulagria, bạn sẽ không khỏi bất ngờ khi thấy mọi thứ đều ngược lại hoàn toàn. Gật đầu trong văn hóa của họ là “không” còn lắc đầu lại mang ý nghĩa là “Có”. Vì thế, hãy cẩn thận khi sử dụng cử chỉ của cái để tránh gây ra những hiểu nhầm ngớ ngẩn.

    Khoảng cách giữa những người trong cuộc trò chuyện cũng mang những ý nghĩa khác biệt. Nếu như ở Trung Đông, các nước Mỹ Latinh, người nói chuyện có xu hướng gần nhau để thể hiện sự thân mật, thì ở Mỹ hay một vài nước châu Âu, người ta sẽ giữa khoảng cách xa hơn để thể hiện sự tôn trọng.

    Đối với quan niệm của người châu Âu, khi trò chuyện và nhìn chăm chăm vào người đối diện sẽ thể hiện sự thành thật, không cố che giấu điều gì đó. Ngược lại, ở các nước châu Á, nhìn vào người đối diện sẽ bị cho rằng vô lễ và làm mất lòng người khác.

    Với những thông tin trên, hy vọng bạn đã hiểu rõ giao tiếp phi ngôn ngữ là gì cũng như tầm quan trọng của nó. Mong rằng bạn sẽ vận dụng thật tốt vào cuộc sống và công việc hằng ngày!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Và Chức Năng Của Ngôn Ngữ
  • Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Huyện 1 Năm Tuyển Được 3 Học Sinh
  • Những Cố Gắng Trong Công Tác Gd
  • Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Tiếng Anh Là Gì?
  • Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Hiện Nay Có Thật Sự Tốt?
  • Xét Nghiệm Các Chức Năng Gan Bao Gồm Những Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Xét Nghiệm Chức Năng Gan Bao Gồm Những Chỉ Số Gì
  • Xét Nghiệm Viêm Gan Để Làm Gì?
  • Tại Sao Cần Xét Nghiệm Chức Năng Gan?
  • Hóa Chất Sinh Hóa Xét Nghiệm Chức Năng Gan
  • Xét Nghiệm Chức Năng Gan Có Tác Dụng Gì? Khi Nào Và Ai Cần Xét Nghiệm Chức Năng Gan?
  • Gan được coi như quả tim thứ 2 của cơ thể bởi nó làm rất nhiều chức năng duy trì sự sống cho cơ thể, tuy nhiên gan cũng rất dễ bị tổn thương. Để kiểm tra sự bất thường ở gan, người bệnh sẽ được bác sĩ chỉ định thực hiện xét nghiệm chức năng gan khi cần thiết. Sau xét nghiệm, dựa vào kết quả có được, bác sĩ có thể đánh giá các chức năng khác nhau của gan hoặc có căn cứ để nói về những tổn thương mà gan đang mắc phải.

    Khi nào cần kiểm tra chức năng gan

    Thường những người đang có các triệu chứng hay các bệnh lý về gan nên tiến hành xét kiệm để kiểm tra gan.

    Khi cơ thể có các dấu hiệu mệt mỏi, sốt, đau đầu, chán ăn, buồn nôn, nôn, đau nhức vùng hạ sườn phải thì nên tiến hành kiểm tra bởi đây là dấu hiệu các bệnh về gan như gan bị virus viem gan B,C,D tấn công , hay những người uống rượu lâu năm,dùng thuốc, người bị béo phì thường dễ khiến gan bị tổn thương nhất.

    Các dấu hiệu của bệnh dù không rõ ràng nên người bệnh không bận tâm, đến khi đi kiểm tra thì bệnh thường đã ở giai đoạn nặng. Các bác sĩ khuyến khích mỗi người nên khám sức khỏe thường xuyên để phát hiện sớm bệnh.

    Xét nghiệm chức năng gan là một trong những xét nghiệm sinh hóa, được dùng để chỉ định trong việc đánh giá được các chức năng khác nhau của tế bào gan. Qua đó có thể khẳng định được sự phỏng đoán trước đó về việc gan của bạn đã bị tổn thương, và mức độ tổn thương hiện tại như thế nào.

    Xét nghiệm chức năng gan gồm những gì

    Xét nghiệm chức năng gan bao gồm việc bác sĩ sẽ định lượng một số enzym và kiểm tra nồng độ protein trong máu của người bệnh. Từ kết quả xét nghiệm cho thấy nồng độ enzym và protein trong máu tĩnh mạch cao hơn hay thấp hơn mức bình thường, có thể dẫn đến sự bất thường ở gan một cách chính xác nhất.

    Kiểm tra Men gan có tên là men transaminase, gồm có : AST (SGOT), ALT (SGPT) , ALP và gamma GT (GGT).

    Men AST (Aspartat transaminase) hay còn gọi là SGOT: là một enzym hiện diện ở các mô có hoạt động chuyển hóa mạnh, với nồng độ thấp dần trong tim, gan, cơ, thận, não, tụy, lách và phổi.

    Men ALT (Alanin aminotransferase) hay còn gọi là SGPT có nhiều ở gan và có ít ở thận, tim và cơ.

    Men GGT: Gamma Glutamyl Transferase( gamma GT) : Là một enzyme của màng tế bào, tham gia vào quá trình trao đổi các axit amin qua màng tế bào. Gamma GT là men đầu tiên bị thay đổi chỉ số khi xảy ra các bệnh lý gan và đường mật.

    Men ALP: có trong xương, gan, ruột.

    Bảng chỉ số men gan ở người bình thường

    Khi các tế bào chết đi sẽ giải phóng một lượng men gan vào máu với nồng độ ở mức cho phép và chỉ số này gần như cố định, nếu các chỉ số này tăng cao chứng tỏ lượng men gan trong máu cũng tăng cao. Thông thường chỉ số men gan sẽ tỉ lệ thuận với tình trạng hư tổn của gan.

    Xét nghiêm Albumin và tổng số protein: Albumin là một trong những protein được tạo ra trong gan. Cơ thể cần những protein này để chống nhiễm trùng và để thực hiện các chức năng khác. Nồng độ albumin và tổng số protein thấp là dấu hiệu cảnh báo có tổn thương ở gan hoăc bệnh về gan. Ở người lớn chỉ số Albumin bình thường ở mức 3.5-.4,8 g/Dl , trẻ từ 0-4 tháng tuổi chỉ số này rơi vào khoảng 2,0 – 4,5 g/dL, trẻ từ 4 tháng-16 tuổi là 3,2 – 5,2 g/dL.

    Kiểm tra Bilirubin: Bilirubin được sản xuất từ huyết sắc tố (hemoglobin). Huyết sắc tố là một hóa chất trong tế bào hồng cầu được phóng thích khi các tế bào hồng cầu bị phá vỡ. Bilirubin đi qua gan và được bài tiết trong phân. Khi gan bị tổn thương sẽ không thể hấp thu cũng như giải phóng được Bilirubin làm lượng Bilirubin trong máu tăng cao. Kiểm tra nồng độ bilirubin cao có thể chỉ ra tổn thương gan hoặc bệnh lý gan. Bilirubin toàn phần trong huyết thanh gồm Bilirubin gián tiếp (70%) và Bilirubin trực tiếp (30%). Bình thường ở người lớn, chỉ số Bilirubin toàn phần là 1.2 mg/DL . Nếu nồng độ Bilirubin tăng cao hơn bình thường chứng tỏ gan đang có vấn đề cần điều trị.

    Xét nghiệm máu đông: Gan sản xuất protein cần thiết cho quá trình đông máu. Khi gan bị rối loạn chức năng không thể sản xuất đầy đủ các loại protein và do đó làm cho quá trình đông máu chậm lại. Do đó kiểm tra đông máu có thể được sử dụng như một dấu hiệu đánh giá mức độ nghiêm trọng của các rối loạn chức năn gan nhất định.

    Trước khi tiến hành cá c xét nghiệm chức năng gan , nên để bụng đói và ngưng một số loại thuốc để tránh ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.

    Việc xét nghiệm chức năng gan là bước kiểm tra cần thiết giúp phát hiện và điều trị bệnh chính xác. Bệnh nhân nên tiến hành kiểm tra ở các phòng khám chuyên về gan để có kết quả tốt nhất. khi có bất cứ thắc mắc nào cần giải đáp hãy gọi ngay đến số 028.3924.2222 hoặc tới địa chỉ 160-162 Lê Hồng Phong,P3, Q5, HCM phòng khám đa khoa Hồng Phong là một trong những nơi đi đầu về điều trị các bệnh về gan. Với đội ngũ y bác sĩ tận tình với bệnh nhân, giỏi chuyên môn có nhiều năm kinh nghiệm cùng trang thiết bị khám chữa bệnh tiên tiến nhất, phòng khám luôn cập nhật các phương pháp điều trị mới để phụ vụ đắc lực giúp người bệnh nhanh chóng lấy lại được sức khỏe của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xét Nghiệm Chức Năng Gan Gồm Những Gì
  • Các Triệu Chứng Và Xét Nghiệm Bệnh Gan
  • Xét Nghiệm Gan Bất Thường Trong Bối Cảnh Uống Rượu Quá Mức
  • Các Xét Nghiệm Dùng Trong Bệnh Lý Gan Và Túi Mật
  • Nên Xét Nghiệm Viêm Gan B Ở Medlatec Hay Viện Pasteur Hcm
  • Các Xét Nghiệm Chức Năng Gan Bao Gồm Những Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Xét Nghiệm Chức Năng Gan
  • Xét Nghiệm Chức Năng Gan Cần Làm Những Gì?
  • Xét Nghiệm Kiểm Tra Chức Năng Gan Ở Đâu Tốt Tại Hà Nội
  • Khám Kết Quả Bất Thường Về Thăm Dò Chức Năng Gan Ở Đâu
  • Khám Gan Ở Đâu Vừa Hiệu Quả Lại Tiết Kiệm Tối Đa Chi Phí?
  • Ở bài viết sau đây THS BS Trần Quốc Khánh tại phòng khám đa khoa Pasteur sẽ gửi đến bạn đọc đầy đủ các kiến thức cũng như các xét nghiệm chức năng gan hiện nay để mọi người hiểu rõ hơn về vấn đề này cụ thể nhất.

    1/ Tại sao gan quan trọng?

    Gan là cơ quan lớn thứ hai trong cơ thể, nằm bên dưới lồng ngực ở bên phải. Gan nặng khoảng 1,4kg và có hình dáng như một quả bóng phẳng ở một bên. Gan thực hiện nhiều chức năng quan trọng đối với cơ thể. Nó chuyển hóa những gì bạn ăn thành năng lượng và chất dinh dưỡng mà cơ thể có thể sử dụng. Gan cũng loại bỏ các chất độc khỏi máu.

    2/ Xét nghiệm chức năng gan là gì?

    Các xét nghiệm chức năng gan giúp bác sĩ kiểm tra chức năng của gan và phát hiện các tổn thương gan. Những xét nghiệm máu này đo nồng độ protein và enzyme trong máu của bạn. Protein là những phân tử lớn cần thiết cho sức khoẻ tổng thể. Enzyme là các protein tế bào giúp các phản ứng hóa học quan trọng xảy ra trong cơ thể.

    3/ Tại sao các xét nghiệm chức năng gan cần được thực hiện?

    Xét nghiệm chức năng gan có thể được thực hiện vì nhiều lý do. Một số bác sĩ thực hiện các xét nghiệm này như là một phần của một lần khám sức khỏe định kì. Một số bác sĩ khác có thể sử dụng xét nghiệm.

    4/ Xét nghiệm chức năng gan được sử dụng?

    Người ta có thể xếp một số xét nghiệm chức năng gan thành các nhóm như sau:

    • Nhóm xét nghiệm đánh giá tình trạng hoại tử gan.
    • Nhóm xét nghiệm khảo sát chức năng bài tiết và khử độc.
    • Nhóm xét nghiệm khảo sát chức năng tổng hợp.
    • Các xét nghiệm khác.

    a) Nhóm xét nghiệm đánh giá tình trạng hoại tử tế bào gan. Transaminase hay aminotransferase là những enzym nội bào, chuyển nhóm g-amin (-NH2) của aspartat và alanin đến nhóm g-keto của ketoglutarat để tạo thành acid oxaloacetic và pyruvic. Sự tăng của các enzym này phản ánh tình trạng tổn thương tế bào gan.

    – AST (Aspartate aminotransferase) hay SGOT (Serum Glutamic Oxaloacetic Transaminase). Hiện diện trong bào tương và ty thể của tế bào. AST hiện diện ở cơ tim và cơ vân nhiều hơn ở gan. Ngoài ra, AST còn có ở thận, não, tụy, phổi, bạch cầu và hồng cầu. Bình thường AST < 40 UI/L.

    – ALT (Alanine aminotransferase) hay SGPT (Serum Glutamic Pyruvic Transaminase). Hiện diện chủ yếu ở bào tương của tế bào gan cho nên sự tăng ALT nhạy và đặc hiệu hơn AST trong các bệnh gan. Bình thường ALT < 40 UI/L.

    Ở người lớn, nồng độ của AST và ALT ở nam cao hơn nữ và cũng thay đổi theo tuổi và cân nặng. Các men này được phóng thích vào máu khi có tổn thương màng tế bào làm tăng tính thấm. Tuy nhiên, sự tăng men gan không tương quan hoàn toàn với tình trạng hoại tử tế bào gan.

    Nguồn gốc và cơ chế đào thải AST và ALT vào trong máu vẫn chưa được biết rõ. Các transaminase tăng trong hầu hết các bệnh về gan nhưng không hoàn toàn đặc hiệu cho gan vì còn tăng trong các bệnh khác như nhồi máu cơ tim, tổn thương cơ vân (viêm cơ, loạn dưỡng cơ), cường giáp hoặc nhược giáp, bệnh celiac… Ngược lại, các enzyme này có thể bị giảm giả tạo khi có tăng urê máu. Sự tăng đơn thuần AST có thể gặp trong trường hợp macro-AST (AST được bám vào một globulin miễn dịch).

    · Tăng vừa (< 300 UI/L) gặp trong viêm gan do rượu. Transaminase tăng chủ yếu là AST nhưng trị số không quá 2-10 lần giới hạn trên mức bình thường. Trong khi đó, ALT có thể bình thường hoặc thấp là do thiếu pyridoxal 5-phosphate (vitamin B6), là cofactor để tổng hợp ALT ở gan.

    · Tăng nhẹ (< 100 UI/L) có thể gặp trong viêm gan virút cấp, nhẹ và bệnh gan mạn tính khu trú hay lan tỏa (xơ gan, viêm gan mạn, di căn gan) hoặc tình trạng tắc mật. Gần đây, người ta nhận thấy các trường hợp tăng nhẹ men gan thường gặp trong gan nhiễm mỡ. Đối với vàng da tắc mật, đặc biệt là trường hợp sỏi di chuyển vào ống mật chủ, ALT thường tăng < 500 UI/L (trong viêm túi mật cấp), hiếm khi ALT tăng đến 3.000 UI/L nhưng sau đó giảm nhanh trở về bình thường.

    – Lactat dehydrogenase (LDH). Là xét nghiệm không chuyên biệt cho gan vì men này có ở khắp các mô trong cơ thể (tim, cơ, xương, thận, hồng cầu, tiểu cầu, hạch bạch huyết). Ngay cả men LDH5 tương đối đặc hiệu cho gan nhưng cũng ít có giá trị trong việc xác định các bệnh gan-mật. LDH tăng cao và thoáng qua gặp trong hoại tử tế bào gan, sốc gan. Tăng LDH kéo dài kèm tăng ALP gợi ý đến các tổn thương thâm nhiễm ác tính ở gan.

    – Ferritin. Là một loại protein dự trữ sắt ở trong tế bào, được cấu tạo gồm apoferritin gắn với sắt. Ferritin giữ nhiệm vụ điều chỉnh sự hấp thu sắt ở đường tiêu hóa tùy theo nhu cầu của cơ thể. Một số trường hợp viêm hoại tử tế bào gan cấp hoặc mạn tính, đặc biệt trong viêm gan virút C, ferritin tăng cao.

    Bình thường, ferritin ở nam 100-300 mg/L, ở nữ 50-200 mg/L. Giảm ferritin gặp trong ăn thiếu chất sắt, thiếu máu thiếu sắt, ăn chay trường, xuất huyết rỉ rả, thiếu máu tán huyết mạn, người cho máu thường xuyên, chạy thận nhân tạo. Tăng ferritin còn gặp trong bệnh ứ sắt mô, bệnh ung thư (gan, phổi, tụy, vú, thận), bệnh huyết học (bệnh Hodgkin, bạch cầu cấp), hội chứng viêm và nhiễm trùng, bệnh thể keo (collagenosis), ngộ độc rượu, thiếu máu tán huyết, thalassemia…

    b) Nhóm xét nghiệm khảo sát chức năng bài tiết và khử độc – Bilirubin

    Bilirubin là sản phẩm chuyển hóa của hemoglobin và các enzym có chứa hem. Chín mươi lăm phần trăm bilirubin được tạo ra từ sự thoái biến của hồng cầu. Bilirubin gồm hai thành phần là bilirubin gián tiếp (GT) và bilirubin trực tiếp (TT). Bilirubin GT còn được gọi là bilirubin tự do, tan trong mỡ, gắn kết với albumin huyết tương nên không được lọc qua cầu thận.

    · Tăng bilirubin GT (thuờng < 15 mg/dL): hiếm khi do bệnh gan, có thể do tăng sản xuất bilirubin (tán huyết, tạo hồng cầu không hiệu quả, tái hấp thu từ khối máu tụ) hoặc do giảm sự bắt giữ bilirubin tại tế bào gan (hội chứng Gilbert) hoặc giảm sự liên hợp bilirubin do thiếu men glucuronyl transferase (hội chứng Crigler-Najjar).

    Nguyên nhân ứ mật có thể do các bệnh di truyền hiếm gặp (hội chứng Dubin-Johnson, hội chứng Rotor) hoặc do nguyên nhân mắc phải (thuốc, sỏi mật). Khi bilirubin TT tăng cao, có một phần bilirubin sẽ gắn với albumin huyết tương nên không bài tiết được qua nước tiểu.

    Do vậy, tình trạng vàng da thường giảm chậm hơn sau khi nguyên nhân gây tắc mật đã được giải quyết. Phần bilirubin còn lại không gắn với albumin sẽ được bài tiết qua nước tiểu nên hạn chế được sự tăng bilirubin quá mức.

    + Bilirubin niệu

    Chỉ hiện diện ở dạng bilirubin TT. Khi có bilirubin niệu, chắc chắn có vấn đề về gan mật. Bilirubin niệu được phát hiện nhanh chóng nhờ que nhúng. Kết quả có thể dương tính trước khi có vàng da rõ trên lâm sàng nhưng đến khi bệnh nhân hết vàng da, bilirubin niệu trở về âm tính trước khi giảm bilirubin huyết. Phenothiazine có thể làm cho kết quả bị dương tính giả khi sử dụng viên thử Ictotest.

    – Urobilinogen

    Là chất chuyển hóa của bilirubin tại ruột, được tái hấp thu vào máu theo chu trình ruột – gan và sau đó cũng được bài tiết qua nước tiểu. Trong trường hợp tắc mật hoàn toàn, sẽ không có urobilinogen trong nước tiểu. Urobilinogen tăng trong nước tiểu gặp trong trường hợp tán huyết (tăng sản xuất), xuất huyết tiêu hóa hoặc bệnh lý gan. Bình thường urobilinogen 0,2 – 1,2 đơn vị (phương pháp Watson).

    – Phosphatase kiềm (alkalin phosphatase, ALP)

    ALP là enzym thủy phân các ester phosphat trong môi trường kiềm (pH = 9). Nguồn gốc chủ yếu của ALP là ở gan và xương. Ở ruột, thận và nhau thai thì ít hơn. Bình thường ALP 25 – 85 U/L hoặc 1,4 – 4,5 đơn vị Bodansky hoặc 1,5 – 4,5 đơn vị King Armstrong.

    Men ALP là xét nghiệm rất nhạy để phát hiện có tắc đường mật. Sự tăng ALP trong bệnh cảnh tắc mật là do đáp ứng của tế bào gan và tế bào biểu mô ống mật tăng tổng hợp enzym này chứ không hẳn là do sự trào ngược men vào trong máu hoặc do giảm thải trừ ALP đang lưu hành.

    Sự tăng ALP do nguyên nhân ở gan thường đi kèm với sự tăng của men GGT và 5′-nucleotidase. Khi ALP tăng đơn thuần có thể là một dấu hiệu chỉ dẫn cho các bệnh gan do thâm nhiễm như ung thư, áp xe, u hạt, thoái hóa dạng bột.

    ALP tăng nhẹ và vừa (hai lần bình thường) có thể gặp trong viêm gan, xơ gan, di căn hoặc thâm nhiễm ở gan (bệnh bạch cầu, lymphoma, sarcoidosis). ALP tăng cao (3-10 lần bình thường) thường do tắc mật trong hoặc ngoài gan. ALP có thể tăng sớm ngay cả khi tắc mật không hoàn toàn, lúc đó bilirubin máu có thể vẫn còn bình thường hoặc tăng nhẹ. Một khi ALP bình thường, ít nghĩ đến nguyên nhân do tắc mật.

    ALP cũng không đặc hiệu cho gan vì còn tăng trong các bệnh ngoài gan như bệnh Paget của xương, hủy xương, nhuyễn xương, di căn xương, tăng PTH và một số bệnh ác tính khác. Khác với ALP có nguồn gốc từ xương, các isoenzym ở gan bền với nhiệt độ (56o C/15′) đồng thời có thể điện di để tách các isoenzym này. ALP còn tăng trong trường hợp tắc ruột non hoặc trong các điều kiện sinh lý như có thai, giai đoạn tăng trưởng xương ở trẻ em. ALP thấp có thể gặp trong suy giáp, thiếu máu ác tính, giảm chất kẽm, giảm ALP bẩm sinh và sự bùng phát của bệnh Wilson.

    – 5′ Nucleotidase (5NT)

    Đây là một ALP tương đối chuyên biệt cho gan, giúp xác định tình trạng tăng ALP là do gan hay do xương hoặc do các trạng thái sinh lý như trẻ em đang tuổi tăng trưởng hoặc phụ nữ có thai. Sự tăng 5NT có tương quan với mức tăng ALP. Bình thường 5NT 0,3 – 2,6 đơn vị Bodansky/dL

    – g-glutamyl transferase , g-glutamyl transpeptidase (GGT, g-GT)

    GGT xúc tác sự chuyển nhóm g-glutamyl từ những peptid như glutathion đến những acid amin khác và giữ vai trò vận chuyển acid amin. Mặc dù hiện diện ở nhiều cơ quan khác nhưng GGT được tìm thấy ở nồng độ cao trong tế bào biểu mô trụ của ống mật. Đây là một xét nghiệm rất nhạy để đánh giá rối loạn chức năng bài tiết của gan nhưng cũng không đặc hiệu do bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố.

    Bình thường GGT # 30 U/L ở nữ và # 50 U/L ở nam. Nguyên nhân thường gặp nhất của tăng GGT đơn thuần là tình trạng nghiện rượu mạn tính, tắc mật, sau uống một số thuốc gây cảm ứng enzym ở gan (acetaminophen, phenytoin) và một số trường hợp gan nhiễm mỡ không do rượu. Thời gian bán hủy là 7-10 ngày nhưng ở người uống rượu, thời gian bán hủy này có thể kéo dài đến 28 ngày. Vì vậy, GGT là một chỉ dẫn để nhận biết bệnh nhân có còn tiếp tục uống rượu hay không. GGT còn được dùng để phân biệt với trường hợp tăng ALP do nguyên nhân ở xương.

    – Amoniac máu (NH3)

    NH3 được sản xuất từ chuyển hóa bình thường của protein trong cơ thể và do vi khuẩn sống ở đại tràng. Gan giữ nhiệm vụ khử độc NH3 bằng cách chuyển thành urê để thải qua thận. Cơ vân cũng giữ vai trò khử độc NH3 bằng cách gắn với acid glutamic để tạo thành glutamin. Những bệnh nhân bệnh gan nặng thường bị teo cơ do phá hủy cũng góp phần làm cho NH3 tăng cao. NH3 có thể tăng ở bệnh nhân bị tăng áp lực tĩnh mạch cửa nặng hoặc có shunt mạch máu cửa ở gan.

    Bình thường NH3 máu 5-69 mg/dL. NH3 tăng trong các bệnh gan cấp và mạn tính. NH3 máu không phải là xét nghiệm đáng tin cậy để chẩn đoán bệnh não do gan. NH3 có thể trở về bình thường khoảng 48 – 72 giờ trước khi có cải thiện tình trạng thần kinh.

    Nồng độ NH3 trong máu động mạch chính xác hơn trong máu tĩnh mạch vì không bị ảnh hưởng của NH3 từ ruột.

    Gan là nơi duy nhất tổng hợp albumin cho cơ thể. Albumin duy trì áp lực keo trong lòng mạch và là chất vận chuyển các chất trong máu đặc biệt là thuốc. Bình thường albumin 35 -55 g/L. Do khả năng dự trữ của gan rất lớn và thời gian bán hủy của albumin kéo dài (khoảng 3 tuần) nên lượng albumin máu chỉ giảm trong các bệnh gan mạn tính (xơ gan) hoặc khi tổn thương gan rất nặng. Ở bệnh nhân xơ gan cổ trướng, lượng albumin giảm còn do bị thoát vào trong dịch báng.

    Giảm albumin huyết thanh còn gặp trong suy dinh dưỡng hoặc bị mất albumin bất thường qua đường tiểu (hội chứng thận hư) hoặc qua đường tiêu hóa (viêm đại tràng mạn). Ở bệnh nhân bị vàng da sậm, albumin có thể bị giảm giả tạo là do bilirubin tăng cao gây cản trở việc định lượng albumin.

    Được sản xuất từ nhiều nơi khác nhau trong cơ thể, bao gồm nhiều loại protein vận chuyển các chất trong máu và các kháng thể tham gia hệ thống miễn dịch thể dịch. Bình thường globulin 20 – 35 g/L.

    Globulin bao gồm a1 globulin (a1-antitrypsin, TBG tức thyroxin-binding globulin, transcortin…), a2 globulin (haptoglobulin, ceruloplasmin. a2-macroglobulin…), b globulin (b1-transferrin, b-lipoprotein, các bổ thể…), g globulin (các kháng thể miễn dịch).

    Trong xơ gan, các kháng nguyên từ vi khuẩn đường ruột không được tiêu diệt ở gan mà lại đi tắc theo các thông nối cửa-chủ nên tạo ra đáp ứng tăng kích thích tổng hợp ở hệ võng nội mô, làm cho g globulin tăng cao. Ngoài ra, kiểu tăng của các loại globulin cũng có thể gợi ý đến một số bệnh gan đặc biệt, ví dụ IgG tăng trong viêm gan tự miễn, IgM tăng trong xơ gan ứ mật nguyên phát.

    – Điện di protein huyết thanh

    • Albumin: 35-55 g/L, chiếm 50-60%
    • a1 globulin: 2-4 g/L, chiếm 4,2-7,2%
    • a2 globulin: 5-9 g/L, chiếm 6,8-12%
    • g globulin: 6-11 g/L, chiếm 9,3-15%
    • g globulin: 7-17 g/L, chiếm 13-23%

    Tỷ số albumin/globulin (A/G) đảo ngược (<1) gặp trong các bệnh viêm gan mạn tính; đặc biệt trong xơ gan là do giảm tổng hợp albumin và tăng tổng hợp g-globulin. Trong xơ gan do rượu, biểu đồ điện di protein máu có hình ảnh “b-g bloc” hay “cầu b-g” do sự tăng IgA làm cho hai đỉnh b và g nhập lại một vì khi điện di, IgA nằm giữa b và g globulin.

    – Thời gian Prothrombin (PT) hay thời gian Quick (TQ)

    Là thời gian chuyển prothrombin thành thrombin khi có sự hiện diện của thromboplastin và Ca++ cùng các yếu tố đông máu. TQ là một xét nghiệm khảo sát con đường đông máu ngoại sinh.

    Bình thường TQ 12″ ± 1 (tương ứng với 80-100% hàm lượng prothrombin). Để chuẩn hóa kết quả PT, người ta thường chuyển đổi thành INR (International Normalized Ratio). Bình thường INR = 0,8-1,2.

    Gan tổng hợp hầu hết các yếu tố đông máu như I (fibrinogen), II (prothrombin), V, VII, IX, X. Các yếu tố đông máu này có thời gian bán hủy ngắn (ngắn nhất là yếu tố VII, sau đó là X, IX). Sự tổng hợp các yếu tố đông máu ở gan cần có sự tham gia của vitamin K, ngoại trừ yếu tố V. Vì vậy, người ta dùng yếu tố V để phân biệt suy chức năng gan thật sự với tình trạng thiếu vitamin K.

    Việc đo liên tục yếu tố V có thể giúp đánh giá tiên lượng trong suy gan bùng phát (tiên lượng xấu khi giá trị < 20% mức bình thường). Đo yếu tố II (des-gamma-carboxyprothrombin) cũng có thể đánh giá được chức năng gan. Yếu tố II tăng gặp trong xơ gan, ung thư gan, sử dụng thuốc kháng đông (coumarine). Khi tiêm vitamin K, yếu tố II sẽ trở về bình thường nếu là do sử dụng kháng đông, còn nếu do các bệnh gan thì yếu tố này vẫn còn bất thường.

    Khi PT kéo dài thường là dấu hiệu tiên lượng nặng. Thiếu vitamin K do tắc mật kéo dài hay rối loạn hấp thu mỡ (tiêu chảy mỡ, viêm tụy mạn) cũng làm PT kéo dài nhưng khi tiêm 10 mg vitamin K, PT sẽ trở về ít nhất 30% mức bình thường trong vòng 24 giờ (nghiệm pháp Kohler). Trước khi phẫu thuật hoặc làm sinh thiết gan, phải kiểm tra chức năng đông máu.

    d) Các xét nghiệm định lượng chức năng gan

    Ngoài các xét nghiệm thường quy đánh giá chức năng gan, người ta còn thực hiện một số các xét nghiệm có thể giúp đánh giá định lượng chức năng hiện tại của gan. Các xét nghiệm này thường chỉ được sử dụng để khảo sát trước khi phẫu thuật cắt gan, ghép gan hoặc dùng trong nghiên cứu.

    • Đo độ thanh lọc BSP (bromosulfonephtalein)
    • Đo độ thanh lọc indocyanine green
    • Đo độ thanh lọc antipyrine
    • Test hơi thở aminopyrine
    • Đo độ thanh lọc caffeine
    • Đo khả năng thải trừ galactose

    5/ Chuẩn bị làm xét nghiệm chức năng gan như thế nào?

    6/ Khoảng bình thường của các xét nghiệm chức năng gan là gì?

    Các khoảng bình thường cho các xét nghiệm chức năng gan có thể khác nhau theo tuổi tác, giới tính và các yếu tố khác. Các kết quả xét nghiệm thường được đính kèm các khoảng bình thường của xét nghiệm chức năng gan đó.

    …..

    Nếu bạn đọc còn thắc hay cần tư vấn trao đổi rõ hơn về các xét nghiệm chức năng gan hiện nay có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 023 63811868 của phòng khám pasteur để được các bác sĩ chuyên sâu thăm khám và đưa ra những lời khuyên tốt nhất

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Phương Pháp Tăng Cường Chức Năng Gan Hiệu Quả
  • Kiểm Tra Chức Năng Gan Ở Đâu?
  • Cách Cải Thiện Chức Năng Gan (Trong 5 Bước)
  • Gan Nằm Ở Đâu? Vai Trò, Chức Năng Của Gan, Biện Pháp Bảo Vệ
  • Gan Nằm Ở Vị Trí Nào? Cấu Tạo Và Chức Năng Của Gan Bạn Cần Biết
  • Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam Gồm 21 Đơn Vị

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Vai Trò Giám Sát, Phản Biện, Tập Hợp Quần Chúng Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Tài Liệu – Học Tập – Du Lịch
  • Doanh Nghiệp Xã Hội Là Gì?
  • Trách Nhiệm Xã Hội Của Doanh Nghiệp Và Vai Trò Công Đoàn
  • Thể Dục Thể Thao Theo Quan Điểm Hiện Đại Về Văn Hóa – Đức Nam Nhị Khúc Côn
  • Theo đó, Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; thanh tra chuyên ngành việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.

    Bảo hiểm xã hội Việt Nam chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; của Bộ Y tế về bảo hiểm y tế; của Bộ Tài chính về chế độ tài chính đối với các quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.

    Bảo hiểm xã hội Việt Nam có nhiệm vụ, quyền hạn: Xác định, khai thác và quản lý đối tượng thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; tổ chức khai thác, đăng ký và quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.

    Bảo hiểm xã hội Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương gồm có:

    1- Ở Trung ương là Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

    2- Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Bảo hiểm xã hội tỉnh) trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

    3- Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là Bảo hiểm xã hội huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Bảo hiểm xã hội huyện) trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh.

    4- Không tổ chức đơn vị Bảo hiểm xã hội huyện tại đơn vị hành chính là thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh, nơi có trụ sở Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh đóng trên địa bàn.

    Bảo hiểm xã hội Việt Nam có Tổng Giám đốc và không quá 05 Phó Tổng Giám đốc.

    Cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã  hội Việt Nam ở trung ương gồm: 1- Vụ Tài chính – Kế toán; 2- Vụ Hợp tác quốc tế; 3- Vụ Thanh tra – Kiểm tra; 4- Vụ Thi đua – Khen thưởng; 5- Vụ Kế hoạch và Đầu tư; 6- Vụ Tổ chức cán bộ; 7- Vụ Pháp chế; 8- Vụ Quản lý đầu tư quỹ; 9- Vụ Kiểm toán nội bộ; 10- Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội; 11- Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế; 12- Ban Quản lý Thu – Sổ, Thẻ; 13- Văn phòng (có đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh); 14- Viện Khoa học bảo hiểm xã hội; 15- Trung tâm Truyền thông; 16- Trung tâm Công nghệ thông tin; 17- Trung tâm Lưu trữ; 18- Trung tâm Giám định bảo hiểm y tế và Thanh toán đa tuyến; 19- Trung tâm Dịch vụ hỗ trợ, chăm sóc khách hàng; 20- Trường Đào tạo nghiệp vụ bảo hiểm xã hội; 21- Tạp chí Bảo hiểm xã hội.

    Các đơn vị quy định từ (1) đến  (13) nêu trên là các đơn vị chuyên môn giúp việc Tổng Giám đốc, các tổ chức quy định từ  (14) đến  (21) nêu trên là các đơn vị sự nghiệp trực thuộc.

    Tổng Giám đốc quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, biên chế, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc, Phó Giám đốc và quy định kinh phí hoạt động của Bảo hiểm xã hội tỉnh. Số lượng Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh bình quân không quá 03 người.

    Tổng Giám đốc quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, biên chế và quy định kinh phí hoạt động của Bảo hiểm xã hội huyện.

    Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh căn cứ vào tình hình thực tế để thành lập các Tổ nghiệp vụ ở Bảo hiểm xã hội huyện trên cơ sở nguyên tắc thành lập Tổ nghiệp vụ do Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành.

    Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc, Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện; Tổ trưởng, Phó Tổ trưởng các Tổ nghiệp vụ thuộc Bảo hiểm xã hội huyện theo tiêu chuẩn chức danh và quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ do Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành. Số lượng Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện bình quân không quá 02 người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cổng Điện Tử Bộ Lao Động
  • Chức Năng Giáo Dục, Xã Hội Hóa Đối Với Trẻ Em Của Gia Đình
  • Kiến Trúc Thượng Tầng Là Gì? Đặc Điểm Và Tính Chất
  • Tạo Watermark Cho Tài Liệu Word 2007, 2010
  • Bài 9. Định Dạng Tab
  • Chức Năng Xã Hội Của Báo Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Báo Chí Trong Đời Sống Xã Hội.
  • Trình Bày Một Số Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học
  • Trình Bày Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học
  • Giáo Dục Toàn Diện Cho Học Sinh: Thay Đổi Nhận Thức Và Hành Động
  • Tại Sao Cha Mẹ Phải Giáo Dục Con Cái
  • CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA BÁO CHÍ Báo chí là loại hình hoạt động thông tin chính trị xã hội có những chức năng xã hội của mình. Chỉ có hiểu những chức năng xã hội của báo chí là gì; bao gồm những chức năng nào; được thực hiện bằng cách nào … thì mới có thể bàn đến nội dung của hoạt động báo chí. I. KHÁI NIỆM

    1. Thuật ngữ chức năng: – Theo từ điển tiếng Việt: Chức năng là: + Hoạt động, tác dụng bình thường hoặc đặc trưng của một cơ quan, một hệ cơ quan nào đó trong cơ thể. + Tác dụng, vai trò bình thường hoặc đặc trưng của một người nào đó, một cái gì đó. – Theo ngữ nghĩa: Chức năng – tiếng La tinh là Functio được hiểu là sự tổng hợp vị trí, vai trò và tác dụng của một đối tượng, của một hoạt động nào đó. Mỗi một đối tượng tồn tại và vận động, mỗi loại hình hoạt động đều nhằm thực hiện những chức năng nhất định nào đó. Chức năng quy định cả hình thức của hoạt động, cả chất lượng của hoạt động, cả đặc điểm của hoạt động. Muốn hiểu và đánh giá đúng được kết quả hoạt động phải đặt nó trong mối tương quan với nhiệm vụ – như là biểu hiện cụ thể của chức năng. Hiểu được chức năng thì mới hiểu được bản chất của đối tượng nghiên cứu, mới xác định được phương hướng và phương pháp hoạt động, và do đó mới có thể hoạt động một cách phù hợp và có hiệu quả. Hay nói cách khác – chức năng là nhiệm vụ mang tính bản chất, nhiệm vụ khách quan. Như vậy, chức năng không phải là sự áp đặt một cách chủ quan, mà nó tồn tại một cách khách quan trên cơ sở của những quy luật nội tại của loại hình hoạt động. 2. Chức năng xã hội của báo chí: – Từ thuật ngữ chức năng báo chí (đồng nghĩa với các thuật ngữ sứ mệnh; bổn phận vốn có của báo chí, cái báo chí sinh ra để làm), ta hiểu được vị trí, vai trò và tác dụng của báo chí trong đời sống xã hội. Sự ra đời và tồn tại của báo chí đã khẳng định một cách khách quan vị trí, vai trò và tác dụng của báo chí trong đời sống xã hội. Tổng hợp vị trí, vai trò và tác dụng của báo chí cũng chính là chức năng xã hội của báo chí. Toàn bộ hoạt động của con người (hoạt động có ý thức), trong đó có hoạt động báo chí luôn mang đặc điểm mục tiêu. Con người chỉ bắt tay vào hoạt động khi đã xác định được mục tiêu, dự định đạt được kết quả mong muốn. Đối với nhà báo – xác định mục tiêu hoạt động phải phù hợp với những chức năng xã hội của báo chí. Thiếu hiểu biết đầy đủ về chức năng báo chí hoạt động của nhà báo có thể sẽ mâu thuẫn với những chức năng vốn có của báo chí. Chức năng của báo chí được hình thành không phải là do sự áp đặt một cách chủ quan từ đâu đó hay từ ai đó, mà tồn tại một cách khách quan trên cơ sở những quy luật nội tại của báo chí. Nói về tính khách quan của những chức năng trên cơ sở của những quy luật nội tại của báo chí – C.Mác viết: “… muốn cho báo chí có thể hoàn thành sứ mệnh của mình thì trước hết cần phải không có áp lực nào từ bên ngoài vào, cần phải thừa nhận là báo chí có những quy luật nội tại của mình”. (C.Mác và Ph. Ăng-ghen Toàn tập; Tập 1, tr.227). Vậy những nhiệm vụ khách quan đó của báo chí là gì? Do có vị trí đặc biết trong hệ thống xã hội và có ảnh hưởng to lớn đến các mặt của đời sống xã hội, vai trò của báo chí không chỉ thể hiện trong số lượng các mối quan hệ, trong khối lượng và ý nghĩa của những thông tin về các lĩnh vực mà báo chí phản ánh, mà còn ở chất lượng của các mối qaun hệ đó, có nghĩa là mở rộng phạm vi chiếm lĩnh thực tế, chú ý tới các lĩnh vực mới, thu hút các đối tượng công chúng mới, thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu thông tin của công chúng … Do đó, nhận thức rõ nhiệm vụ khách quan (chức năng) của báo chí là rất phức tạp. Lý luận báo chí của chủ nghĩa Mác- Lê nin và thực tiẽn hoạt động của báo chí cách mạng đã cho thấy báo chí tác động tới xã hội theo nhiều khuynh hướng, thực hiện một số nhóm chức năng: Chức năng tư tưởng, chức năng quản lý – giám sát xã hội, chức năng khai sáng – giải trí, chức năng kinh doanh … II. NHÓM CHỨC NĂNG TƯ TƯỞNG – Hoạt động tư tưởng là hoạt động tác động vào thế giới tinh thần của con người hình thành hệ ý thức xã hội cho phù hợp với những mục tiêu đã xác định. Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng luôn coi trọng công tác tư tưởng, coi công tác tư tưởng là một trong số những công tác quan trọng nhất, song song với công tác tổ chức và công tác kiểm tra. Nội dung công tác tư tưởng của Đảng ta: – Truyền bá hệ tư tưởng. – Truyền bá Cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng. Mục đích của công tác tư tưởng: – Để quần chúng nhân dân biến hệ tư tưởng của Đảng thành hệ tư tưởng của quần chúng nhân dân. – Để giác ngộ, nâng cao tính tự giác cho quần chúng nhân dân. – Để bồi dưỡng niềm tin, tình cảm cách mạng, cổ vũ hành động. Các loại hình của công tác tư tưởng: – Hoạt động lý luận (Quán triệt và phổ biến hệ tư tưởng; Tổng kết thực tiễn để hình thành đường lối chiến lược , chủ trương, chính sách). – Hoạt động tuyên truyền. – Hoạt động cổ động. (Khi đã có đường lối chiến lược, Chủ trương, chính sách … thì tuyên truyền và cổ động cho chúng). Các công cụ tư tưởng: – Hệ thống các trường lớp chính trị. – Sinh hoạt tư tưởng theo các cơ quan, đoàn thể, đơn vị, tổ chức … – Đội ngũ báo cáo viên. – Bảo tàng, Triển lãm, Pa nô, Áp phích, Các đội tuyên truyền … – Văn học nghệ thuật. – Báo chí (bao gồm các loại hình) là công cụ đặc biệt quan trọng. Trong số các công cụ tư tưởng của Đảng thì báo chí đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Chính vai trò, tác dụng của báo chí trong việc giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng đối với quần chúng nhân dân đã tạo thành nhóm chức năng tư tưởng của báo chí. Báo chí là công cụ tư tưởng quan trọng bởi lẽ báo chí hàng ngày hàng giờ thông qua hoạt động chuyển tải thông tin truyền bá hệ tư tưởng của Đảng vào quần chúng nhân dân, hướng tính tích cực xã hội của quần chúng nhân dân vào việc thực hiện những mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt ra. Nhóm chức năng tư tưởng của báo chí bao gồm các thành tố: 1. Chức năng mục tiêu: – Lý luận báo chí cách mạng đã chỉ rõ ý nghĩa to lớn của báo chí trong việc hình thành đời sống tinh thần của quần chúng nhân dân. Vai trò của báo chí cũng tăng nhanh đồng hành với sự phất triển của xã hội cùng với việc mở rộng quy mô của các hoạt động xã hội và thu hút quần chúng nhân dân tham gia vào các phong trào, các hoạt động xã hội. – Báo chí làm nhiệm vụ khách quan là chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, toàn diện và có định hướng. Cũng như mọi hoạt động khác của con người, hoạt động báo chí bao giờ cũng hướng tới những mục tiêu xác định. Mục tiêu của hoạt động báo chí là nâng cao tính tự giác cho đối tượng công chúng. (Tự giác là làm việc gì tự mình hiểu mà làm, không cần phải nhắc nhở, đốc thúc). Để nâng cao tính tự giác cho công chúng, báo chí phải nâng cao nhận thức và tự nhận thức cho họ. Nhận thức và tự nhận thức nằm trong mối quan hệ biện chứng. Nhận thức (là khả năng của con người phản ánh và tái hiện hiện thực vào tư duy) – là toàn bộ những tri thức về thế giới xung quanh: những quy luật, những hiện tượng, những khuynh hướng, những quá trình của đời sống xã hội. Còn tự nhận thức là hiểu được vị trí của mình trong thế giới, trong các mối quan hệ xã hội; hiểu được mục đích, ý nghĩa của cuộc sống, hiểu được mục đích và yêu cầu, hiểu được cách thức để đạt được mục đích và thỏa mãn những nhu cầu ấy … Sự tự giác là kết quả của nhận thức và tự nhận thức. Tự giác là động lực mạnh mẽ của hành vi, nó quy định tính tích cực xã hội của con người. – Để thực hiện tốt chức năng mục tiêu – báo chí phải: + Giúp cho công chúng nhận thức thế giới khách quan một cách toàn diện, sâu sắc và đúng đắn. + Định hướng xã hội cho công chúng một cách toàn diện, đúng đúng đắn và khoa học. 2. Chức năng định hướng. Để nâng cao tính tự giác cho đối tượng công chúng đòi hỏi báo chí phải định hướng cho họ một cách toàn diện và đúng đắn. Định hướng xã hội – là tác động, giáo dục, giúp đỡ cho công chúng hiểu và đánh giá đúng các sự kiện, hiện tượng của đời sống xã hội để từ đó họ xác định được mục tiêu, khuynh hướng và đặc điểm hành vi của mình. Sự định hướng như vậy thể hiện ở các mặt: – Thứ nhất: Qua thông tin báo chí cung cấp giúp cho công chúng hiểu được cái gì đang diễn ra. Sự định hướng bắt đầu từ hiểu biết tất cả các sự kiện hàng ngày diễn ra trong thế giới xung quanh để tạo thành bức tranh toàn cảnh về thế giới khách quan của con người mà con người sống trong nó. Đối với báo chí, mô hình thông tin, hệ thống các khái niệm về cuộc sống là rất quan trọng. – Thứ hai: Qua việc cung cấp thông tin báo chí giúp cho công chúng xác định rõ được rằng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể cần đạt tới cái gì, cả về trước mắt, cả về lâu dài từ quan điểm chính thống. – Thứ ba: Sự định hướng được thể hiện qua việc đánh giá các sự kiện, hiện tượng, các quá trình, các khuynh hướng, các nhân vật … (Đương nhiên là từ quan điểm chính thống). Sự đánh giá đó sẽ có sức thuyết phục, tác động mạnh mẽ tới đối tượng khi nó như là những kết luận được rút ra từ việc phân tích các sự kiện, hiện tượng, các quá trình, các khuynh hướng, các nhân vật … ấy của thực tiễn (từ quan điểm chính thống). – Thứ tư: Sự định hướng còn thể hiện ở việc phổ biến những giá trị, những chuẩn mực, những phương thức, phương pháp hoạt động … nhằm thực hiện những mục tiêu đề ra và đạt được những kết qủa cao nhất trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Kết quả định hướng của báo chí đến mức nào phụ thuộc vào mức độ công khai các vấn đề của đời sống xã hội; vào sự dễ hiểu, cập nhật của thông tin; vào khả năng phản ánh và xem xét công khai, thẳng thắn các vấn đề của đời sống xã hội trên báo chí. Định hướng của báo chí trong thực tế có thể toàn diện, sâu sắc và đúng đắn; có thể toàn diện nhưng không sâu sắc và đúng đắn; và cũng có thể là rất yếu kém. Báo chí cách mạng – với bản chất giai cấp và vai trò lịch sử của mình – phải định hướng một cách sâu sắc, toàn diện và đúng đắn, hình thành ý thức khoa học và tiến bộ cho công chúng xã hội, làm sao để công chúng báo chí nhận thức đúng về thế giới xung quanh, hiểu được vị trí và vai trò của mình để lựa chọn thái độ và hành vi cho phù hợp. Định hướng xã hội toàn diện, sâu sắc, đúng đắn và khách quan sẽ tác động trực tiếp tới hoạt động của công chúng trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ xã hội đã đề ra. Báo chí thực hiện chức năng mục tiêu, hình thành tính tự giác thông qua định hướng xã hội một cách toàn diện, sâu sắc, đúng đắn và khách quan – mang đặc điểm tổng hợp; có nghĩa là báo chí phải tác động tới các mặt của thế giới tinh thần, tới toàn bộ các bộ phận cấu thành của cấu trúc ý thức xã hội: Thế giới quan; Ý thức lịch sử, văn hóa và Dư luận xã hội. Thế giới quan: là quan niệm thành hệ thống về thế giới, về các hiện tượng tự nhiên và xã hội. TGQ thể hiện cả ở 2 phương diện: bức tranh thực tiễn về thế giới và mối quan hệ, quan điểm về thế giới. Hệ thống quan niệm này quy định lập trường, quan điểm, niềm tin, lý tưởng … của con người. TGQ là lăng kính mà thông qua đó con người nhận thức và đánh giá thế giới xung quanh, thẩm định các giá trị vật chất và tinh thần, bày tỏ thái độ trước các sự kiện, hiện tượng … của đời sống xã hội, xác định mục đích, phương hướng và đặc điểm của hành vi. TGQ là hạt nhân của cấu trúc ý thức xã hội, được hình thành là do cả một quá trình và nó bền vững, chậm thay đổi. Ý thức lịch sử, văn hóa: là thành tố thứ 2 của cấu trúc ý thức xã hội, nó đóng vai trò trung gian, truyền dẫn giữa TGQ và Dư luận xã hội (DLXH). Ý thức lịch sử, văn hóa là quan niệm của con người về lịch sử, về hiện tại trong mối quan hệ với quá khứ và tương lai. Để xem xét, thẩm định và đánh giá các sự kiện, hiện tượng của thực tiễn, con người phải hiểu và biết được lịch sử hình thành và vận động của thực tiễn, các mối quan hệ của thực tiễn với thời đại, với môi trường tự nhiên và xã hội … Bởi lẽ hiện tại như là quá trình vận động và phát triển của quá khứ, bị quy định bởi quá khứ và ảnh hưởng đến tương lai. Sự hình thành ý thức lịch sử, văn hóa do nhiều yếu tố: văn hóa truyền thống, kiến thức được trang bị bởi hệ thống nhà trường từ thấp đến cao, văn học nghệ thuật, các phương tiện thông tin đại chúng và tuyên truyền, kinh nghiệm sống … trong đó báo chí có vai trò đặc biệt quan trọng do khả năng cung cấp thông tin nhanh, đa dạng và phong phú: phổ biến những tri thức, những kinh nghiệm, những giá trị lịch sử, thẩm định và cổ động cho những giá trị lịch sử, tạo môi trường cho sự hình thành ý thức lịch sử, văn hóa. Dư luận xã hội: là thành tố động nhât, linh hoạt nhất của ý thức xã hội. DLXH là phản ứng, thái độ của xã hội trước một sự kiện, hiện tượng, vấn đề … hay một nhân vật nào đó. Đối tượng của DLXH là toàn bộ các sự kiện, hiện tượng … của đời sống xã hội. Chủ thể của DLXH là các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các nhóm xã hội, các vùng hay địa phương … DLXH xem xét và đánh giá các sự kiện thường ngày của đời sống xã hội xuất phát từ mối liên hệ đối với chúng. DLXH có thể tiến bộ, có thể lạc hậu, có thể thúc đẩy, có thể kìm hãm sự tiếp thu cái mới, sự phát triển của xã hội. Các thành tố của ý thức xã hội nằm trong mối liên hệ chặt chẽ, vận động một cách linh hoạt dưới sự tác động của thực tiễn. 3. Chức năng giáo dục chính trị tư tưởng. Chức năng giáo dục chính trị tư tưởng của báo chí được thể hiện ở sự giáo dục, bao gồm giáo dục thường xuyên và giáo dục lại đối với công chúng báo chí. Giáo dục – là hoạt động nhằm hình thành ý thức ở đối tượng. Khi nhận được những thông tin (về quá khứ và hiện tại, về những quy luật vận động và phát triển của xã hội, về những giá trị và chuẩn mực của cuộc sống …) tạo ra sự thay đổi về chất trong mỗi con người. Nếu những thông tin tiếp nhận ấy là chân thực và khách quan thì quan điểm riêng được hình thành sẽ là tích cực (và ngược lại). Để đạt được hiệu quả giáo dục, báo chí khi truyền bá những thông tin về thực tiễn phải giúp cho công chúng hiểu biết được những quy luật, những sự kiện, hiện tượng, những quá trình của đời sống xã hội, phải quan tâm đến việc tạo ảnh hưởng tư tưởng mạnh mẽ tới họ, phải phối hợp và gắn với những giá trị, những chuẩn mực, những tư tưởng hiện hành, có nghĩa là gắn với chức năng mục tiêu của hoạt động thông tin, với toàn bộ các hình thức định hướng xã hội. Nội dung quan trọng nhất của giáo dục là hình thành tư duy kinh tế, giáo dục ý thức chính trị, ý thức lao động, ý thức đạo đức, ý thức luật pháp, tinh thần yêu nước … và đấu tranh chống lại những tư tưởng và những chuẩn mực đạo đức xa lạ. Hoạt động giáo dục trong báo chí góp phần tạo ra niềm tin của công chúng. Sự xuất hiện của niềm tin đối với báo chí – đó là kết quả của việc tiếp thu thông tin cá nhân, hình thành từ sự tin tưởng vào những phản ánh, phân tích và đánh giá, đề xuất, kiến nghị và kết luận của báo chí. Niềm tin đối với báo chí khác với đức tin trong tôn giáo. Đức tin trong tôn giáo là sự ngộ nhận thiếu bằng chứng … còn niềm tin đối với báo chí được hình thành từ báo chí và do báo chí – thông qua những bằng cớ xác thực của thực tiễn. (Thông qua kỹ năng phản ánh, phân tích, đánh giá các sự kiện, hiện tượng, các quá trình, các khuynh hướng … hàng ngày của báo chí). Do vậy, để hình thành niềm tin của công chúng, đòi hỏi báo chí phải sử dụng một cách linh hoạt và sáng tạo các phương pháp tái tạo thực tiễn trong các tác phẩm báo chí, vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo những đặc điểm, những quy luật của hoạt động tuyên truyền, cổ động và tổ chức mà nhờ những phương pháp này thực hiện một cách hiệu quả nhiệm vụ giáo dục của báo chí. – Tuyên truyền: là hoạt động truyền bá những tư tưởng nền tảng, quan điểm cơ bản của hệ tư tưởng của chế độ. Nội dung tuyên truyền cơ bản: + Tuyên truyền hệ tư tưởng. + Tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. + Tuyên truyền các quan niệm khái quát về thời đại. + Tuyên truyền hình thành lối sống mới. – Cổ động: là hoạt động của báo chí để phổ biến những thông tin thời sự, tác động tích cực và có định hướng vào lập trường, thái độ, tình cảm … của công chúng. Bằng những thông tin phản ánh các sự kiện, hiện tượng hàng ngày về thực tiễn, cổ động được thể hiện trong những đánh giá rõ ràng nhằm hình thành nên mối quan hệ của công chúng với các sự kiện, hiện tượng ấy cho phù hợp với ý nghĩa của nó, định hướng hoạt động cho công chúng. – Tổ chức: Kết quả hoạt động tuyên truyền và cổ động của báo chí được phản ánh trong việc hình thành ý thức và tự ý thức ở công chúng, trong việc giáo dục ý thức, trong việc định hướng toàn diện, sâu sắc và đúng đắn (khoa học). Đó là bước đi đầu tiên, quan trọng của công tác tổ chức. Nó tạo điều kiện quan trọng và cần thiết cho tính tích cực trong các hoạt động xã hội của công chúng để chuyển sang bước thứ hai: tập hợp và hướng dẫn hoạt động của công chúng nhàm thực hiện những mục tiêu chung của xã hội trong từng giai đoạn xã hội cụ thể. Tuyên truyền, cổ động và tổ chức có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đan xen trong nhau, là điều kiện và tiền đề của nhau khó có thể phân định rạch ròi. III. CHỨC NĂNG QUẢN LÝ – GIÁM SÁT XÃ HỘI CỦA BÁO CHÍ 1. Khái niệm. a). Quản lý – là sự tác động có ý thức, có hệ thống của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đảm bảo cho khách thể quản lý hoạt động có hiệu quả trong việc thực hiện những mục tiêu đã đề ra. b). Quản lý xã hội – khách thể quản lý là những tổ chức, những đơn vị, những cơ quan, đoàn thể, những cá nhân thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, của cả xã hội nói chung. Xã hội bản thân nó là một thực thể cực kỳ đa dạng và phức tạp về số lượng và chất lượng của các bộ phận cấu thành, về vị trí của chúng trong hệ thống xã hội, về chức năng xã hội của chúng, về tính chất của sự tác động lẫn nhau giữa chúng với nhau và giữa chúng với thế giới xung quanh. Mỗi một khách thể đó lại thuộc về một lớp những hệ thống hỗn hợp (chủ thể quản lý) lớn hơn (bao gồm cả yếu tố con người và sự vật). c). Bản chất của hoạt động quản lý – Chủ thể quản lý tác động tới khách thể quản lý bằng thông tin dưới dạng các quyết định quản lý. Hoạt động quản lý do vậy luôn gắn với quá trình thu thập, xử lý thông tin để soạn thảo các quyết định quản lý và khi đã có quyết định quản lý thì phổ biến những quyết định quản lý ấy một cách nhanh chóng, đầy đủ … tới khách thể quản lý. Hoạt động quản lý là hoạt động mang tính chu kỳ. Bất kỳ một chu kỳ quản lý nào cũng bắt đầu từ việc thu thập, xử lý thông tin và kết thúc bằng việc thu nhận những thông tin và cũng là điểm bắt đầu của chu kỳ quản lý mới. Việc khởi thảo chiến lược quản lý (những mục tiêu và nhiệm vụ lâu dài), soạn thảo và lựa chọn các quyết định quản lý, tổ chức thực hiện các quyết định quản lý, điều chỉnh và kiểm tra, tổng kết và đánh giá … cũng xuất phát từ việc thu thập thông tin, xử lý những thông tin thu thập được và kết thúc bằng việc phổ biến những thông tin mới. Như vậy, quản lý xã hội không thể tách rời quá trình liên tục sản xuất và tái sản xuất thông tin.

    Hiệu quả của hoạt động quản lý do vậy bị quy định bới sự “nhiễu thông tin” và trình độ, năng lực của chủ thể quản lý. – Nhiễu thông tin – là những yếu tố bên ngoài tác động thường xuyên, liên tục (cả tác động tích cực, cả tác động tiêu cực) vào quá trình quản lý. Sự tác động như vậy rất đa dạng. Một số có tác động với cường độ yếu, tác động trong một thời gian ngắn. Số khác tác động yếu nhưng lại thường xuyên hoặc lâu dài không làm rối loạn nghiêm trọng cơ cấu và chức năng của cả hệ thống. Thông tin đầy đủ và kịp thời về những tác động “nhiễu” như vậy tạo điều kiện cho chủ thể quản lý ổn định hệ thống trong trường hợp “nhiễu” yếu và thời gian tác động ngắn, và thích ứng, thích nghi trong trường hợp tác động “nhiễu” thường xuyên hay lâu dài. Có những tác động “nhiễu” phá hoại cơ cấu quản lý và gây rối loạn các chức năng của cả hệ thống hay một số bộ phận cấu thành nào đó của hệ thống quản lý. Để khắc phục – chủ thể quản lý phải khôi phục cơ cấu chức năng nhằm ổn định hệ thống, duy trì hoạt động của hệ thống. Để làm được điều đó cần phải thu thập thông tin đầy đủ và chính x

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Bảo Tàng Tỉnh
  • Giáo Dục Học Sinh Thông Qua Bảo Tàng
  • Phát Huy Chức Năng Giáo Dục Của Bảo Tàng
  • Công Tác Giáo Dục Của Bảo Tàng
  • Chức Năng Văn Hóa Của Văn Học (Phạm Ngọc Hiền)
  • Chức Năng Của Kinh Doanh Và Giao Tiếp Truyền Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • Phi Ngôn Ngữ Có Thực Sự Quan Trọng Trong Giao Tiếp
  • 06 Phong Cách Ngôn Ngữ Văn Bản Và Cách Phân Biệt
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 39: Làm Văn: Hoạt Động Giao Tiếp Bằng Ngôn Ngữ
  • Giao Tiếp Sư Phạm Là Điều Kiện Tiên Quyết Để Hình Thành Và Phát Triển Nhân Cách Của Thầy Và Trò
  • Đề Tài Giao Tiếp Sư Phạm
  • Chức năng giao tiếp rất quan trọng để mô tả đặc tính giao tiếp. Thật vậy, giao tiếp là một quá trình tương tác đa phương phức tạp giữa các cá nhân con người, bao gồm việc trao đổi dữ liệu lẫn nhau, hiểu và nhận thức về các đối tác giao tiếp của nhau. Tương tác giao tiếp được coi là một trong những khái niệm cốt lõi trong khoa học tâm lý ngày nay. Bên ngoài truyền thông, không thể hiểu được quá trình hình thành nhân cách của một cá nhân , để theo dõi các quy luật phát triển xã hội.

    Truyền thông được đặc trưng bởi tính đa chức năng. Có năm chức năng chính của tương tác giao tiếp. Chủ yếu là truyền thông đóng một vai trò kết nối trong hoạt động của con người. Chức năng này có điều kiện được gọi là thực dụng và đóng vai trò là yếu tố quan trọng nhất trong việc thống nhất các cá nhân trong quá trình của bất kỳ hoạt động chung nào.

    Các loại và chức năng của truyền thông

    Tương tác giao tiếp cùng với sự đơn giản bên ngoài là một quá trình nhiều mặt phức tạp có chứa sự thiết lập, hình thành và phát triển các liên hệ giữa các cá nhân. Giao tiếp là một biểu hiện vật lý của nhu cầu của các cá nhân trong tương tác tập thể. Trong quá trình giao tiếp là sự trao đổi thông điệp, nhận thức và sự thấu hiểu của đối tác. Tương tác giao tiếp có cấu trúc riêng của nó, có mục tiêu, loại và chức năng riêng.

    Tâm lý học đặc trưng cho các cấp độ, loại hình, phương tiện và chức năng của giao tiếp từ các khía cạnh khác nhau giúp hiểu rõ hơn về cơ chế tương tác giao tiếp. Nếu không tính đến các đặc điểm của giao tiếp, rất khó để tương tác hiệu quả với mọi người. Các loại giao tiếp và chức năng của nó được coi là một trong những đặc điểm cốt lõi cho phép chúng ta hiểu được bản chất của sự tương tác với chủ thể hoặc xã hội khác.

    Các loại truyền thông được chia thành vai trò chính thức, nguyên thủy, chính thức, kinh doanh, giữa cá nhân, thao túng và thế tục.

    Truyền thông vai trò chính thức được xây dựng trên tỷ lệ của các vai trò xã hội khác nhau.

    Giao tiếp kinh doanh bao gồm việc tính đến khi truyền đạt các đặc điểm tính cách của cá nhân, tâm trạng của anh ta. Giao tiếp này luôn dựa trên lợi ích kinh doanh chung.

    Giao tiếp giữa các cá nhân dựa trên sự hiểu biết sâu sắc, nhận thức và hỗ trợ của các cá nhân lẫn nhau.

    Giao tiếp thao tác là để đạt được những lợi ích của giao tiếp. Giao tiếp thế tục là một sự tương tác vô nghĩa của các chủ thể trong đó họ nói về những gì cần thiết và được chấp nhận trong xã hội, và không phải là suy nghĩ thực sự của họ.

    Chỉ với sự hiểu biết về các cơ chế giao tiếp, một cá nhân sẽ có thể đánh giá khác nhau công cụ xã hội quan trọng nhất này, cho phép tự cải thiện và đạt được các mục tiêu. Chức năng xã hội của truyền thông là tổ chức các hoạt động chung, bao gồm việc quản lý và kiểm soát hành vi, hoạt động.

    Tâm lý học coi các chức năng giao tiếp là thuộc tính cốt lõi tách biệt các biểu hiện của giao tiếp.

    Chức năng giao tiếp

    Chức năng giao tiếp của giao tiếp là thông qua trao đổi tin nhắn. Trong quá trình giao tiếp, các chủ thể trao đổi thông tin, ý tưởng, suy nghĩ, ý tưởng, sở thích, cảm xúc, tâm trạng, thái độ, v.v. hiểu thông tin. Đó là lý do tại sao mỗi quá trình giao tiếp kết hợp hoạt động, giao tiếp trực tiếp và tất nhiên là nhận thức.

    Các chức năng của ngôn ngữ trong giao tiếp nằm trong khả năng của con người về sự tương tác giao tiếp toàn diện với loại hình của chính họ. Mục đích của tương tác giao tiếp là để thúc đẩy hướng của thông điệp (tại sao nó được hướng dẫn). Kênh truyền thông có nghĩa là một môi trường cung cấp mối quan hệ của người nhận với người nhận. Một kênh truyền thông như vậy có thể là giọng nói, bảng thông tin, giao tiếp qua không khí, v.v. Kết quả là kết quả cuối cùng của truyền thông, tức là những gì đạt được ở cuối giao tiếp.

    Từ góc độ phát sóng và hiểu ý nghĩa của thông tin, một sơ đồ như người nhận-tin nhắn-người nhận là không đối xứng. Vì đối với chính người nhận, ý nghĩa của thông điệp đi trước quá trình mã hóa (phát ngôn). Rốt cuộc, trước tiên anh ta có một ý tưởng cụ thể, sau đó anh ta chuyển thành một hệ thống các dấu hiệu. Ý nghĩa của thông điệp nhận thức cho người nhận được tiết lộ đồng thời với việc giải mã. Người nhận sẽ có thể đánh giá tính chính xác của sự hiểu biết bởi người nhận về bản chất của thông tin chỉ khi vai trò giao tiếp được thay đổi. Nói cách khác, khi người nhận được chuyển đổi thành người nhận và thông qua bản sao của chính anh ta, anh ta sẽ tự làm quen với cách anh ta hiểu ý nghĩa của thông tin nhận thức.

    Tính năng giao tiếp kinh doanh

    Để đạt được hiệu quả thực hiện trong kinh doanh, leo lên nấc thang sự nghiệp, để thành công sẽ giúp kiến ​​thức về các chức năng cốt lõi của truyền thông kinh doanh.

    Giao tiếp kinh doanh được thiết lập tốt giữa các chủ thể (cấp trên, đối tác, nhân viên) sẽ cho thấy công ty sẽ phát triển tốt và phù hợp như thế nào và các dự án kịp thời sẽ được thực hiện.

    Chính họ, thông tin đến từ người giao tiếp có thể được khuyến khích, tức là phục vụ như là sự khuyến khích cho bất kỳ hành động nào, và xác định, diễn ra trong các hệ thống giáo dục khác nhau.

    Để phát sóng, bất kỳ tin nhắn phải được mã hóa. Tức là Việc truyền dữ liệu chỉ có thể với sự trợ giúp của các hệ thống ngôn ngữ ký hiệu. Đây là chức năng chính của ngôn ngữ trong giao tiếp.

    Tất cả các chức năng giao tiếp được liệt kê được kết nối chặt chẽ, bổ sung cho nhau một cách hài hòa và là một quá trình giao tiếp nói chung.

    Chức năng và cấu trúc truyền thông

    Giao tiếp là một hình thức cụ thể của mối quan hệ cá nhân với các chủ thể khác với tư cách là thành viên của xã hội. Trong giao tiếp xã hội của mọi người sẽ được thực hiện.

    Bản chất xã hội của giao tiếp là dịch các hình thức văn hóa, hướng dẫn đạo đức và kinh nghiệm xã hội của toàn nhân loại. Thật vậy, chỉ trong quá trình tương tác giao tiếp của trẻ em với cha mẹ hoặc những cá nhân có kinh nghiệm khác mới có ý thức và sau đó, lời nói phát sinh trong anh ta và phát triển. Không có giao tiếp với người khác, tâm lý, ý thức sẽ không hình thành ở trẻ em. Giao tiếp là một trong những điều kiện quan trọng nhất cho sự hình thành và hình thành nhân cách. Hành vi, thái độ cá nhân của bạn đối với môi trường và con người của anh ta phần lớn là do sự tương tác giao tiếp của anh ta với các cá nhân khác.

    Lượt xem: 5 340

    --- Bài cũ hơn ---

  • Baigiang Ky Nang Giao Tiep
  • Khái Niệm, Bản Chất Và Phân Loại Giao Tiếp
  • Vai Trò Và Chức Năng Các Bộ Phận Điều Khiển Trên Máy Cnc
  • Giao Tiếp Giữa Bộ Nhớ Eeprom Với Vi Điều Khiển 8051
  • Vai Trò Của Kỹ Năng Giao Tiếp Trong Cuộc Sống Hiện Đại Và Phát Triển Tâm Lý Nhân Cách Cá Nhân.
  • Xét Nghiệm Chức Năng Gan Bao Gồm Những Chỉ Số Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Xét Nghiệm Viêm Gan Để Làm Gì?
  • Tại Sao Cần Xét Nghiệm Chức Năng Gan?
  • Hóa Chất Sinh Hóa Xét Nghiệm Chức Năng Gan
  • Xét Nghiệm Chức Năng Gan Có Tác Dụng Gì? Khi Nào Và Ai Cần Xét Nghiệm Chức Năng Gan?
  • Lưu Ý Khi Đi Xét Nghiệm Chức Năng Gan
  • Gan là một trong những cơ quan quan trọng nhất trong cơ thể con người có chức năng điều tiết, miễn dịch, trao đổi chất mạnh mẽ. Ở Việt Nam có khoảng 18 triệu người mắc các chứng bệnh về gan do nhiều nguyên nhân khác nhau. Các việc thực hiện xét nghiệm chức năng gan được dùng để phát hiện bệnh, chẩn đoán và đánh giá mức độ nặng nhẹ của các bệnh về gan thông qua kiểm tra nồng độ của một số enzyme và protein trong máu qua đó hỗ trợ cho việc điều trị chính xác, vì thế hầu hết các bệnh nhân gan nào cũng phải thực hiện chúng. Nó không chỉ kiểm tra bệnh gan giúp phát hiện ra các bệnh mà còn là một phương pháp bảo vệ sức khỏe hữu ích. Vì thế các bác sĩ chuyên khoa gan khuyên người bệnh cần kiểm tra các chức năng gan định kỳ để có thể bảo vệ sức khỏe một cách tốt nhất.

    Những chỉ số xét nghiệm chức năng gan cần phải biết

    Xét nghiệm chức năng gan là xét nghiệm để đánh giá bằng việc kiểm tra nồng độ enzym và protein trong máu. Nồng độ cao hơn hoặc thấp hơn mức bình thường có nghĩa là tình trạng của gan đang gặp vấn đề. Thông qua đó phản ánh tình trạng hoạt động của gan, phát hiện ra bệnh về gan, theo dõi tiến triển của bệnh như viêm gan siêu vi hoặc viêm gan do rượu và đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị đang áp dụng. Đo mức độ nghiêm trọng của bệnh, đặc biệt là xơ gan, theo dõi các tác dụng phụ của thuốc.Các chỉ số xét nghiệm chức năng gan bao gồm:

    ♦ ALT (Alanine Transaminase) : ALT là một loại enzyme được tìm thấy trong gan giúp chuyển hóa protein. ALT có chỉ số bình thường < 40 UI/L, nồng độ ALT máu thường tăng khi gan bị tổn thương hoặc viêm như viêm gan do rượu hoặc xơ gan.

    ♦ AST (Aspartate Transaminase) : AST là enzym giúp chuyển hóa alanine, một axit amin. Hiện diện trong bào tương là ty thể của tế bào ở cơ tim và cơ vân nhiều hơn ở gan, ngoài ra, AST còn có ở thận, não, tụy, phổi, bạch cầu và hồng cầu. Tương tự như ALT, AST thường có trong máu ở mức thấp với chỉ số bình thường là < 37 UI/L. Sự gia tăng nồng độ AST có thể chỉ ra tổn thương gan hoặc bệnh viêm gan.

    ♦ GGT(Gamma-glutamyltransferase) : GGT là một enzym trong máu có nhiều ở gan, do các tế bào biểu mô đường mật bài tiết ra . Chỉ số GGT bình thường là 20-40UI/L. Khi nồng độ cao hơn bình thường của GGT có thể cho thấy gan hoặc ống dẫn mật bị hư hại như tắc mật , viêm gan do rượu, tổn thương tế bào gan.

    ♦ ALP ( Alkaline Phosphatase) : ALP là một enzym trong gan, ống dẫn mật và xương, chỉ số trung bình là 53-128 UI/L, ALP tăng có thể biểu hiện cho các bệnh về tim mạch, viêm gan hoặc nhiễm trùng máu,ống dẫn mật bị chặn hoặc bệnh về xương.

    ♦ Albumin và tổng số protein : Là một trong những protein được tạo ra trong gan. Cơ thể cần những protein này để chống nhiễm trùng và thực hiện các chức năng khác. ALB chỉ số trung bình là 4 g/dL. Nồng độ chỉ số ALB giảm cảnh báo tình trạng cơ thể dinh dưỡng kém, mắc bệnh viêm gan mãn tính, có nguy cơ chuyển sang xơ gan.

    ♦ Bilirubin : Bilirubin có chất màu vàng được sản xuất từ huyết sắc tố (Hemoglobin) tham gia vào quá trình tái tạo hồng cầu già. Huyết sắc tố là một hóa chất trong tế bào hồng cầu được phóng thích khi các tế bào hồng cầu bị phá vỡ. Bilirubin đi qua gan và được bài tiết trong phân. Khi chất này tăng lên, mắt và da cũng có màu vàng (vàng da), nước tiểu sẫm màu như trà đặc, phân có màu đất sét nhạt.. Nồng độ bilirubin cao có thể chỉ ra tổn thương gan hoặc bệnh lý gan.

    Dựa vào kết quả xét nghiệm các chức năng gan trên cùng một số xét nghiệm khác,bác sĩ chuyên khoa sẽ đưa ra chẩn đoán xác định các bệnh về gan hoặc tổn thương gan, từ đó lên kế hoạch điều trị thích hợp.

    • Không nên uống thuốc trước khi đi xét nghiệm : Không sử dụng kháng sinh, thuốc trị lao, viêm phổi … điều này sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả kiểm tra.
    • Nhịn ăn : Có những xét nghiệm chỉ cho kết quả chính xác nếu người bệnh nhịn đói từ 4 – 6 giờ trước khi làm xét nghiệm hoặc không ăn sáng sau một đêm ngủ dậy.
    • Tránh rượu bia, thuốc lá : Người bệnh cần tránh sử dụng các chất kích thích (thuốc lá, cà phê) vài giờ trước khi lấy máu để có kết quả xét nghiệm chuẩn xác.
    • Đối với các xét nghiệm máu : Thời điểm lấy máu làm xét nghiệm tốt nhất là vào buổi sáng. Nhịn ăn, không uống nước ngọt, sữa, rượu chè, trong vòng 12 tiếng trước khi làm xét nghiệm máu.

     Nếu còn bất cứ điều gì chưa rõ về việc xét nghiệm chức năng gan bao gồm những chỉ số gì thì vui lòng liên hệ trực tiếp Phòng Khám đa khoa Hồng Phong để được tư vấn miễn phí.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xét Nghiệm Các Chức Năng Gan Bao Gồm Những Gì
  • Xét Nghiệm Chức Năng Gan Gồm Những Gì
  • Các Triệu Chứng Và Xét Nghiệm Bệnh Gan
  • Xét Nghiệm Gan Bất Thường Trong Bối Cảnh Uống Rượu Quá Mức
  • Các Xét Nghiệm Dùng Trong Bệnh Lý Gan Và Túi Mật
  • Mục Tiêu Của Giao Tiếp Và Nhiệm Vụ, Chức Năng

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Giao Tiếp
  • 1 Số Chú Ý Về Chức Năng Giao Tiếp Trong Đề Thi Đại Học Post 1 Docx
  • Chức Năng Giao Tiếp Trong Tâm Lý
  • Lớp Từ Ngữ Giữ Chức Năng Định Danh, Xưng Hô Trong Hồi Kí Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc Của Phạm Khắc Hòe
  • Các Phong Cách Chức Năng Ngôn Ngữ Trong Văn Bản
  • Các mục tiêu của truyền thông . Tất cả mọi người biết về nhu cầu cơ bản của một người – nước, thực phẩm, giấc ngủ, an toàn, họ rất coi trọng. Các nhu cầu được liệt kê là cho nhân loại một nguồn hoạt động sinh học bình thường. Nhưng mọi người cũng được yêu cầu chăm sóc sức khỏe tâm lý. Tầm quan trọng lớn trong vệ sinh của cá nhân là giao tiếp. Từ lâu, người ta đã chứng minh rằng nếu một người được tạo điều kiện để cách ly hoàn toàn với thế giới bên ngoài và không có cơ hội giao tiếp, anh ta sẽ dần trở nên mất cân bằng về tinh thần. Do đó, chúng tôi phải dành tầm quan trọng do chất lượng truyền thông của chúng tôi. Nhờ có chúng, con người trở thành những sinh vật xã hội, không chỉ là những sinh vật. Tương tác trong giao tiếp làm cho nó có thể đạt được một số mục tiêu cá nhân.

    Mục đích của việc giao tiếp với người khác thường là họ biết chính xác lý do tại sao họ cần giao tiếp với người đặc biệt này.

    Nội dung của mục tiêu và phương tiện giao tiếp điền vào ý nghĩa của chính quá trình giao tiếp. Đó là, nội dung của mục đích và phương tiện giao tiếp, tâm lý học giải thích như sau: đây là những gì mọi người tiếp xúc và làm thế nào nó xảy ra. Thông qua giao tiếp kinh doanh, mọi người học cách hiểu kinh tế xã hội, quan hệ thị trường hoạt động như thế nào. Những người trong giao tiếp kinh doanh, ở trong một cấu trúc phân cấp, ở một mức độ nhất định, tuân theo một người hoặc ra lệnh cho người khác, nhận thức rõ về các mối quan hệ xã hội phức tạp và điều này góp phần xã hội hóa của họ trong xã hội. Nhân viên của công ty có được kinh nghiệm về kiến ​​thức về tất cả các quy trình phối hợp trong xã hội, họ có thể thấy cách thay đổi các điều kiện để đạt được thành công lớn hơn với những thay đổi này, để đạt được tất cả các mục tiêu.

    Mục tiêu và mục tiêu của truyền thông

    Mọi người bằng cách này hay cách khác, liên tục, đặt ra cho mình những mục tiêu nhất định. Mục tiêu trong công việc, trong học tập, trong các cuộc thi, cũng là mục tiêu giao tiếp của mọi người. Do một người là một sinh vật, được thiết lập theo cách tập thể, nên anh ta chỉ cần một cuộc đối thoại, anh ta muốn có một cuộc nói chuyện chân tình, không có lý do rõ ràng, và anh ta thực sự tin rằng theo cách này anh ta không có mục tiêu, sau đó Không có kết quả cuối cùng từ cuộc trò chuyện. Nhưng trên thực tế, ngay cả mong muốn thông thường chỉ nói chuyện cũng là một mục tiêu, hay đúng hơn là tự nó kết thúc, để giao tiếp vì mục đích giao tiếp (với người thân, bạn bè). Có lẽ, một lý do đơn giản như vậy là rất quan trọng, bởi vì ở đây một người không sử dụng người khác để đạt được mục tiêu cụ thể của mình, nhưng nhận được niềm vui từ chính quá trình này.

    Các mục tiêu của truyền thông là gì? Các mục tiêu khác đang được hiện thực hóa trong giao tiếp, nói chung đơn giản là có rất nhiều trong số chúng, có lẽ nó không thể đơn giản gọi tên tất cả, bạn chỉ có thể khái quát, vì mục tiêu là một ý tưởng cụ thể hướng dẫn một người trong hành động, hành động, suy nghĩ của mình.

    Tâm lý học phân chia các mục tiêu chính của giao tiếp thành cá nhân và nhóm, xã hội, thẩm mỹ, nhận thức, sinh học.

    Trong quá trình giao tiếp cá nhân, một người chia sẻ các vấn đề, quan điểm, kinh nghiệm của mình và trả lại tất cả – chờ đợi sự hỗ trợ, chấp nhận, hiểu biết, chỉ cần một phản ứng như vậy sẽ là mục đích của giao tiếp này đối với anh ta. Có những người giao tiếp với người khác để khẳng định cá tính, sự vượt trội và sự thống trị của họ. Họ cố tình cư xử khiêu khích, và ngay khi họ nhận thấy rằng người đối thoại phản ứng theo cách cần thiết cho họ (ngạc nhiên, sợ hãi, bỏ đi, bị lạc) – họ vui mừng, vì họ đã đạt được mục tiêu. Nhiều người tìm kiếm sự cứu rỗi, giúp đỡ và bảo vệ trong việc giao tiếp với người khác, một số người, ngược lại, xem mục tiêu của họ là giúp mọi người không quan tâm (lòng vị tha).

    Mục đích của giao tiếp có thể là làm quen, mong muốn liên lạc với một người vì sự thông cảm hoặc lợi ích. Khi tìm kiếm một đối tác cho trò chơi, mọi người cũng được yêu cầu liên lạc.

    Thế giới vi mô của mỗi người là ngôi đền của tất cả những suy nghĩ của anh ta, tạo ra sự tự chủ và độc đáo của mỗi đối tượng. Do đó, trong khi giao tiếp với mọi người, không thể phủ nhận thực tế là các đặc điểm đặc trưng của một người ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp. Nếu những người đối thoại không thể nhận thức được nhau một cách bình thường và đầy đủ, thông qua sự thù địch lẫn nhau cá nhân, họ sẽ rất khó đạt được một số mục tiêu chung. Nhưng, khi những cá nhân loại bỏ định kiến ​​của chính họ, bước qua cái tôi của chính họ, tuy nhiên vẫn duy trì một kênh liên lạc, họ có cơ hội cùng nhau tạo ra sức mạnh phi thường. Năng lượng của hai người hợp nhất và trở thành một và mạnh mẽ, và nếu đó là một nhóm, thì sự tích lũy của tất cả năng lượng của họ tạo thành một lực rất lớn. Nhờ một quá trình như giao tiếp, mọi người đã học cách sống cùng nhau, phát triển và tồn tại trong tự nhiên, và các mục tiêu của nhóm đã đạt được, và nhu cầu của mỗi cá nhân được đáp ứng.

    Mục tiêu của giao tiếp phụ thuộc trực tiếp vào loại quan hệ giữa các đối tượng: sư phạm – giao tiếp giữa học sinh và giáo viên, về mặt mục tiêu này là dạy và học, mục tiêu quản lý (cấp dưới và sếp), doanh nhân – người bán có sản phẩm và người tiêu dùng, mục tiêu sẽ mang lại lợi ích chung cho họ, y tế – bác sĩ đã giúp đỡ và bệnh nhân đã nhận nó và nhiều người khác.

    Tùy thuộc vào đặc điểm của cuộc trò chuyện, có thể có các mục tiêu và phương tiện giao tiếp khác nhau . Nếu tiếp xúc giữa mọi người xảy ra trực tiếp, họ sử dụng lời nói, nét mặt, đối tượng ngẫu hứng để cải thiện hình dung của những gì đã được nói. Nếu gián tiếp, sau đó họ liên lạc qua một cuộc trò chuyện qua điện thoại, SMS, thư từ.

    Do đó, các chức năng và mục tiêu của giao tiếp bổ sung cho nhau và đã hoàn thành một số chức năng của giao tiếp, một mục tiêu nhất định được thỏa mãn.

    Mục đích của giao tiếp kinh doanh

    Trong giao tiếp kinh doanh, mục đích của giao tiếp có hình thức đàm phán.

    Khi các vấn đề lao động được giải quyết, giải pháp của họ trở thành mục tiêu của toàn đội và vì điều này, mỗi nhân viên, với tư cách là một đối tượng của truyền thông, phải nỗ lực riêng. Do đó, điều rất quan trọng là tất cả những người tham gia giao tiếp đều là những người có cùng trình độ để giảm thiểu rủi ro hiểu lầm giữa họ. Vòng tròn của các chuyên gia giải quyết các vấn đề kinh doanh sẽ có thể đưa công ty lên mức cao nhất. Nếu một người nào đó không biết gì về các hoạt động của công ty, bằng cách nào đó rơi vào vòng tròn này, anh ta sẽ không đặt mục tiêu của nhóm là cải thiện tổ chức và thúc đẩy nó lên một cấp độ mới, do đó, anh ta sẽ có thể làm suy yếu danh tiếng của công ty và gây nhầm lẫn nhân viên.

    Trước toàn thể nhân viên và toàn bộ công ty, các mục tiêu chính của truyền thông là đảm bảo các điều kiện tối ưu cho các giải pháp sản xuất và tổ chức các hoạt động đối tượng chung. Những mục tiêu này được mô tả rất rộng, có những mục tiêu cụ thể hơn, những mục tiêu truyền thông như vậy đang tạo ra văn hóa doanh nghiệp, thúc đẩy nhân viên, tạo ra sản phẩm, tạo ra dịch vụ mới, phát triển ý tưởng, thành lập một nhóm làm việc, tuyển dụng nhân viên, giảng viên, đào tạo và nhiều người khác. Và, tất nhiên, trong tất cả các quá trình này, các đối tác tương tác, vì vậy một mục tiêu quan trọng khác là tạo ra bầu không khí thân thiện và ngăn ngừa xung đột.

    Ngay cả khi một nhóm được thành lập tốt và chặt chẽ trong tổ chức, nếu mọi người biết rằng họ đang hành động vì lợi ích chung của công ty, thì bất kỳ nhân viên nào, tuy nhiên, có thể, là một cá nhân có quan điểm và thái độ cá nhân. Quan điểm cá nhân, là một phần của cuộc sống của nhân viên, được thể hiện trên thái độ của anh ta đối với công việc và hoạt động lao động. Đó là, là một yếu tố của một nhóm người, cũng là một cá nhân, do đó, anh ta có thể theo đuổi các mục tiêu cá nhân.

    Mỗi nhân viên muốn được bảo vệ, đặc biệt nếu công việc của anh ta có nguy cơ đến tính mạng của anh ta (thợ mỏ, lính, nhân viên của Bộ khẩn cấp), trong những trường hợp như vậy, khi tiến hành một cuộc trò chuyện kinh doanh, anh ta có thể yêu cầu bảo vệ thêm.

    Trong giao tiếp với cấp trên, một nhân viên cấp dưới có thể, được hướng dẫn bởi mục tiêu cải thiện tình hình tài chính và chất lượng cuộc sống, yêu cầu tăng lương. Nhiều khả năng đạt được mục tiêu này sẽ đưa ra một số hành động nhất định vì lợi ích của tổ chức, điều này sẽ được coi là một lý do để tăng lương hoặc phát hành tiền thưởng. Cùng với việc tăng lương, một nhân viên thường được yêu cầu tăng mức độ công việc, nâng anh ta lên một cấp độ mới, mở rộng quyền hạn và giảm áp lực phân cấp. Khi một người đã đạt được mục tiêu tăng vị trí và tiền lương của mình, anh ta đồng thời đảm bảo một vị thế và uy tín mới cho chính mình, tìm cách tăng thẩm quyền của mình.

    Ngay cả khi tuân theo các quy tắc và truyền thống được hình thành bởi công ty đối với một loại tương tác nhất định trong giao tiếp, mỗi nhân viên sẽ làm mọi việc dựa trên lợi ích và lợi ích của riêng họ. Điều này thường xảy ra khi một nhân viên không chắc chắn về công ty của mình và không sợ mất vị trí của mình.

    Trong quá trình giao tiếp kinh doanh, có sự ảnh hưởng lẫn nhau liên tục, thích ứng với nhau và thay đổi lợi ích, vì vậy những người tham gia truyền thông cho đối thủ của họ cơ hội lựa chọn, trong khi hành động vì lợi ích cá nhân của họ. Khi bản chất của lợi ích thay đổi, thái độ của các bên thay đổi, họ thay đổi hành vi, để họ đồng ý với các nhân viên khác. Trên thực tế, ở đây, cơ chế giao tiếp kinh doanh của nhân viên được kết luận – mục tiêu của riêng họ đạt được bằng các phương tiện tối thiểu. Điều chính là một cách tiếp cận hợp lý trong quá trình này, sau đó các mục tiêu cá nhân và nhóm sẽ được thỏa mãn. Một người, đã học được từ những sai lầm của chính mình, sẽ dựa vào kinh nghiệm có được, và sẽ tốt hơn nếu đánh giá ưu và nhược điểm của các giải pháp cho các vấn đề.

    Trong các mối quan hệ kinh doanh, điều cũng xảy ra là những người ở cấp cao nhất giúp đỡ những người thấp hơn, muốn kéo họ lên và làm cho công ty thành công hơn. Nhưng cũng có những người giả vờ rằng họ muốn tốt hơn, nhưng thực tế họ làm hại nhân viên của mình và cố gắng sống sót khỏi công ty, đôi khi để chọn vị trí của họ, đôi khi thông qua động cơ cá nhân.

    Để đạt được các mục tiêu của giao tiếp kinh doanh trong tổ chức, cần phải tạo ra các điều kiện thông qua tiềm năng sáng tạo của nhân viên. Nhân viên chuyên môn, sở hữu điều này, quản lý của công ty sẽ dễ dàng hơn nhiều so với các yêu cầu của cấp dưới và điều phối các mục tiêu và lợi ích cá nhân của họ với mục tiêu của công ty.

    Lượt xem: 13 093

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Và Hình Thức Truyền Thông Giao Tiếp Của Các Tổ Chức
  • Giải Thích Các Chức Năng Của Các Thành Phần Máu Tính Câu Hỏi 1428247
  • Dạy Học Tiếng Việt Bằng Pp Giao Tiếp
  • Câu Cầu Khiến Là Gì? Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng Và Cách Sử Dụng
  • Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100