Top 11 # Xem Nhiều Nhất Chức Năng Tạo Lập Môi Trường Kinh Tế / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Tạo Lập Môi Trường Kinh Doanh Thuận Lợi Cho Kinh Tế Tư Nhân Phát Triển / 2023

Đặc biệt là đối với kinh tế ngoài nhà nước, và khẳng định ” Phải có chính sách mở đường cho người lao động tự tạo ra việc làm, kích thích mọi người đưa vốn vào sản xuất, kinh doanh, tiết kiệm tiêu dùng để tích luỹ, mở rộng tái sản xuất trên quy mô toàn xã hội“(1) Nghị quyết Đại hội VI chưa đưa ra phạm trù kinh tế tư nhân mà chỉ giới hạn kinh tế gia đình, kinh tế làm thêm của cán bộ công nhân viên nhà nước và dè dặt nói về kinh tế tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành nghề, lĩnh vực mà Nhà nước cho phép. Nhưng, cũng là một bước đột phá mở ra con đường cho nền kinh tế nhiều thành phần phát triển, trong đó có kinh tế tư nhân.

Từ Đại hội VII (năm 1991) cho đến Đại hội XII, trong các nghị quyết Đại hội đều đề cập tới đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển. Đáng chú ý, Đại hội X (năm 2006) đã đưa ra chính sách: “Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp tư nhân lớn, cho phép thí điểm thành lập các tập đoàn kinh tế tư nhân”(2). Đặc biệt, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ra Quyết định số 15-QĐ/TW về việc cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân, đây là một quan điểm mới thể hiện sự nhất quán về lý luận trong chính sách phát triển kinh tế tư nhân của Đảng.

Với những đóng góp của kinh tế tư nhân vào sự phát triển của đất nước không thể phủ nhận, tới Đại hội XI (năm 2011) đã khẳng định” kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế”(3), tiếp tục nghiên cứu cơ chế chính sách để tạo điều kiện hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân, thí điểm việc kết nạp những người là chủ doanh nghiệp tư nhân đủ tiêu chuẩn vào Đảng (4) Đặc biệt, tại Đại hội XII, Đảng khẳng định: “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọngcủa nền kinh tế”(5), khẳng định cần phải tiếp tục “Tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp tư nhân, làm động lực nâng cao sức cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh tế“. Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã ra Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lựcquan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xác định thêm một bước về vai trò, vị trí kinh tế tư nhân, trên cơ sở thay đổi cơ bản về tư duy, quan điểm, giải pháp để tạo ra bước phát triển mới cho khu vực kinh tế này.

Chính từ những quan điểm và giải pháp của Đảng về kinh tế tư nhân đã phần nào làm sáng tỏ, có tính khoa học và thực tiễn hơn về chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và góp phần khơi dây tiềm năng to lớn trong dân để phát triển đất nước.

Qua hơn ba thập kỷ Đổi mới, kinh tế tư nhân nước ta đã phát triển mạnh mẽ, góp phần đưa nền kinh tế nước nhà tăng trưởng khá, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tham gia tích cực hội nghị kinh tế quốc tế.

Bức tranh kinh tế tư nhân đã thay đổi khá ngoạn mục, nếu như tính đến cuối năm 1989, số xí nghiệp tư nhân có quy mô tương đối khá trong công nghiệp là 1.284 (tăng hơn 4 lần so với năm 1988) thì tính tới ngày 31/12/2016 số lượng doanh nghiệp lên tới 477.808 doanh nghiệp, liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỉ trọng 39 – 40% GDP; thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh tế, góp phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân và an sinh xã hội. Đó là mặt sáng, mặt ưu điểm của kinh tế tư nhân.(6)

Tuy nhiên kinh tế tư nhân nước ta còn nhiều hạn chế:

Một là, tuy đã xuất hiện nhiều tập đoàn kinh tế tư nhân có tiếng như Vingroup, FLC,Trường Hải, Hoa Sen, TH True milk… nhưng có đến 97% tổng số doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó gần 60% là nhỏ, vốn ít, lao động và điều kiện kỹ thuật rất lạc hậu, sức cạnh tranh thấp.

Hai là, năng lực công nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) trên thực tế là rất nhỏ và yếu, phần lớn là gia công lắp ráp, chế biến nông lâm hải sản dưới dạng thô là chủ yếu. Ngay các tập đoàn kinh tế tư nhân giàu lên nhanh chóng cũng bắt nguồn từ kinh doanh bất động sản, một số kinh doanh ngành dịch vụ. Do trình độ công nghệ thấp, các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân không chỉ không có khả năng chế tác công nghiệp mà cũng khó tham gia ngành công nghiệp hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn, nhất là các doanh nghiệp FDI.

Ba là, các doanh nghiệp tư nhân phần lớn vẫn hoạt động ở thị trường trong nước, rất ít doanh nghiệp tư nhân lớn vươn được ra thị trường nước ngoài với mức độ khiêm tốn. Ngay cả ở thị trường trong nước, dưới sức ép cạnh tranh gay gắt của hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp tư nhân lớn cũng bắt đầu có xu hướng rút khỏi các ngành sản xuất công nghiệp, chuyển nhượng cho các doanh nghiệp nước ngoài. Sự rút lui này cũng diễn ra trong một số lĩnh vực dịch vụ như phân phối và bán lẻ.

Bốn là, kinh tế tư nhân nước ta phát triển kém bền vững. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, quý I/2017, cả nước có 26.478 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, song cũng có tới 23.904 doanh nghiệp đã giải thể, tương đương 10 doanh nghiệp khai sinh thì 9 doanh nghiệp khai tử. Về hiệu quả kinh doanh, theo số liệu của Ban Kinh tế Trung ương, tốc độ tăng trưởng GDP của kinh tế tư nhân có xu hướng giảm trong những năm gần đây (giai đoạn 2003-2010 là 11,93%; giai đoạn 2011-2015 là 7,54%), tỉ lệ thua lỗ, phá sản còn khá cao, bình quân giai đoạn 2007-2015 là 45%.(7)

Năm là, trong hoạt động kinh doanh, một số doanh nghiệp kinh tế tư nhân còn nhiều tiêu cực, vi phạm pháp luật. Đây là mảnh đất màu mỡ cho phát triển chủ nghĩa tư bản thân hữu, lợi ích nhóm, làm chệch hướng mục tiêu cổ phần hóa với quan điểm “cổ phần hóa không phải là tư nhân hóa”, biến tài sản sở hữu nhà nước thành sở hữu tư nhân, tạo cho một số quan chức nhà nước giàu lên nhanh chóng, bất công xã hội gia tăng. Thời gian qua nổi lên các vụ án ngân hàng nghiêm trọng, các trạm BOT rối loạn, xây các chung cư cao tầng phá vỡ quy hoạch ở các đô thị lớn v.v… chính là hậu quả của hạn chế này của kinh tế tư nhân.

Sự phát triển bền vững của kinh tế tư nhân cũng nằm trong mục tiêu phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân, bao gồm ba tiêu chí: tăng trưởng kinh tế (tăng doanh thu, lợi nhuận và thu nhập cho chủ đầu tư và người lao động) tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.

Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp là một chức năng chủ yếu của quản lý nhà nước về kinh tế. Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân, môi trường kinh doanh là khá rộng, rất phức tạp, bao gồm: môi trường vĩ mô, thuộc cấp độ toàn nền kinh tế quốc dân, môi trường tác nghiệp, môi trường vi mô.

Trong quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân, chúng tôi tập trung vào môi trường vĩ mô, bao gồm các yếu tố: chính trị – hành chính – luật pháp, kinh tế, khoa học công nghệ, thông tin, văn hóa-xã hội và môi trường tự nhiên. Môi trường này là sự tổng hòa giữa thị trường và quản lý của Nhà nước, là sự kết hợp giữa hai bàn tay vô hình và hữu hình, trong đó bàn tay hữu hình (quản lý nhà nước) giữ vai trò chi phối và quyết định. Nếu Nhà nước tạo được môi trường thuận lợi, lành mạnh thì sẽ tạo được động lực cho các doanh nhân mạnh dạn bỏ vốn đầu tư kinh doanh mà họ có lợi thế, buộc họ phải ứng xử theo đúng quy luật thị trường và cơ chế quản lý của Nhà nước, hạn chế tiêu cực ngay trong hoạt động của bản thân các doanh nhân. Ngược lại, nếu môi trường vĩ mô khập khiễng, thiếu lành mạnh, không thuận lợi thì doanh nhân, một là lợi dụng để làm việc sai trái, hai là không bỏ vốn ra đầu tư, quay về sống một cách thúc thủ, ba là tìm nơi đầu tư nước ngoài có môi trường kinh doanh thuận lợi hơn.

Về giải pháp khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ mới thì Nghị quyết 10/TW-NQ của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã chỉ ra khá đầy đủ và toàn diện. Ở đây tôi muốn chỉ đề cập tới một số giải pháp nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển bền vững:

Thứ nhất, tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, quan điểm về mối quan hệ giữa thị trường với quản lý nhà nước, giữa kinh tế tư nhân với kinh tế nhà nước. Qua hơn ba thập kỷ Đổi mới, tư duy về mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và quản lý nhà nước nói chung đã được nhận thức một cách nhất quán theo hình ảnh “vỗ tay bằng hai bàn tay”, nhưng trong tư duy của một số nhà lãnh đạo, quản lý và đặc biệt trong xử lý thực tiễn thì vẫn coi nhẹ tác động của cơ chế thị trường và quá coi trọng vai trò can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân. Hiện tượng cấm đoán, cấp phép, ra các điều kiện kinh doanh vẫn rất tràn lan và nặng nề, sinh sôi nẩy nở giấy phép con, cháu, chắt, chút chít trong các ngành và địa phương, đang cản trở các nhà kinh doanh, chủ đầu tư, nhà lập nghiệp…. Hoặc theo Nghị định 94 vừa được Chính phủ ban hành, hiệu lực từ ngày 1/10, có 20 ngành nghề Nhà nước độc quyền, tức là tư nhân không được kinh doanh, cũng gây ra nhiều băn khoăn cho các nhà lý luận, nhà quản lý và doanh nhân vì không phù hợp với cơ chế thị trường, vi phạm quy định của WTO. TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng thời điểm hiện nay, cho ra đời một nghị định hướng dẫn về độc quyền nhà nước trong lĩnh vực thương mại là phản thị trường, cản trở cạnh tranh, đi ngược lại xu thế cải cách.(8)…Theo quan điểm chúng tôi: cái gì thị trường làm tốt thì để thị trường làm, nhà nước không can thiệp, cái gì tư nhân làm tốt thì kinh tế nhà nước không độc quyền, có thể cùng hợp tác và cạnh tranh trên thương trường bình đẳng..

Thứ hai, hoàn thiện xây dựng và thực thi pháp luật và chính sách đối với kinh tế tư nhân. Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã chỉ ra những hạn chế cả phía quản lý nhà nước và bản thân các doanh nghiệp kinh tế tư nhân như “thể chế về phát triển doanh nghiệp, doanh nhân còn nhiều bất cập. chúng tôi phạm pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh trong kinh tế tư nhân còn khá phổ biến”… Như vậy, hoàn thiện xây dựng và thực thi pháp luật và chính sách đối với kinh tế tư nhân là một đòi hỏi cấp thiết. Thực tế trong quản lý nhà nước về kinh tế nói chung và đối với kinh tế tư nhân nói riêng không thiếu luật và chính sách nhưng vấn đề đặt ra là chúng được xây dựng sao cho phù hợp với đặc điểm phức tạp của kinh tế tư nhân, phù hợp với quy luật thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo chất lượng khoa học, thực thi công bằng, minh bạch, nghiêm minh.

Thứ tư, xây dựng bộ máy công quyền tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Đây là vấn đề rất lớn, vừa cấp bách, vừa lâu dài nhưng hiện tại còn rất bất cập. Như phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Cho đến nay tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, kém hiệu lực, hiệu quả; chức năng, nhiệm vụ của một số tổ chức còn chồng chéo; cơ cấu bên trong chưa hợp lý…” từ đó vừa tốn kém chi thường xuyên cho hành chính công, vừa gây nhũng nhiếu đối với các chủ doanh nghiệp tư nhân.

Đây là vấn đề khó và rất phức tạp, nói nhiều mà làm chưa đem lại kết quả mong muốn. Theo chúng tôi cùng với đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cần tinh giản bộ máy hành chính theo nguyên tắc: i) từ việc mà bố trí người phù hợp; ii) quy định chức năng, quyền và trách nhiệm cho từng cá nhân và tổ chức một cách rõ ràng; iii) kết hợp đào tạo chuyên môn với rèn luyện kỹ năng quản lý và phẩm chất đạo đức; iv) thi tuyển công minh và nghiêm túc; v) thưởng phạt nghiêm minh.

Ngoài bốn giải pháp đã nêu còn nhiều giải pháp thuộc quản lý nhà nước như bảo vệ môi trường sinh thái mà không ít các doanh nghiệp tư nhân vừa là nạn nhân, vừa là thủ phạm, đang đầu độc hàng tiêu dùng, bầu không khí, sông biển mà không chỉ doanh nghiệp hứng chịu mà cả cuộc sống toàn xã hội bị xuống cấp.

Quản lý nhà nước nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển bền vững cũng là tạo nên một môi trường xã hội lành mạnh, yên bình, đáng sống, loại bỏ những hành vi bạo lực, gây rối loạn như những vụ “Cà phê Xin chào” hoặc “Chiếm lại vỉa hè”, hoặc chuyện Trưởng công an xã đá văng chậu cá của dân(9). Những chuyện như thế này vẫn còn diễn ra làm cho xã hội không yên. Phát triển nền kinh tế thị trường sôi động phải đi đôi với xây dựng một xã hội yên bình, đạo đức, văn minh.

1. ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1987, tr.23, 56, 60

2. ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 237

3,4. ĐCSVN: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.209,60

5. ĐCSVN: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII,Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016

6,7. Tạp chí Thương hiệu Việt, ngày 31/5/2017

8.V chúng tôi

9.VnExpress ngày 9/11/2016,10/9/2017,15/8/2917

Dùng Công Cụ Kinh Tế Để Tạo Đột Phá Trong Bảo Vệ Môi Trường / 2023

(TN&MT) – Các công cụ kinh tế dựa vào nguyên tắc thị trường được cho là biện pháp thiết thực để tạo sự chuyển biến tích cực trong hành vi của mỗi người dân trong bảo vệ môi trường.

Thông tin được đưa ra tại cuộc họp về Dự án “Tổng kết, đánh giá và đề xuất hoàn thiện hệ thống các công cụ kinh tế, dựa vào nguyên tắc thị trường cho bảo vệ môi trường ở Việt Nam”, do Thứ trưởng Bộ TN&MT chủ trì, vào sáng ngày 19/2, tại Hà Nội.

Dự án do Viện Chiến lược, Chính sách TN&MT thực hiện, từ năm 2020 – 2021, với mục tiêu điều tra, đánh giá hiện trạng sử dụng các công cụ kinh tế và ác cơ chế dựa vào thị trường để đề xuất các công cụ, cơ chế, lộ trình và các giải pháp phù hợp, góp phần hoàn thiện các nội dung của pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam trong bối cảnh thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.

Nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường, chúng tôi Nguyễn Thế Chinh – Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách TN&MT cho biết, nhiều nước trên thế giới như Úc, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Phần Lan…đã áp dụng hiệu quả quy định về phí ô nhiễm không khí, phí ô nhiễm nước, phí rác thải, phí sử dụng môi trường, thuế môi trường, phí sản phẩm…Những công cụ kinh tế này dựa trên nguyên tắc thị trường, sẽ khắc phục được thất bại thị trường trong quản lý môi trường; tối thiểu hóa chi phí làm giảm ô nhiễm so với công cụ dựa vào quy định; đồng thời khuyến khích các chủ thể gây ô nhiễm đầu tư đổi mới công nghệ.

Đây cũng là việc thể chế hóa nguyên tắc: “người gây ô nhiễm môi trường và suy thoái tài nguyên phải trả chi phí khắc phục và tái tạo”, “người sử dụng, hưởng lợi từ tài nguyên và môi trường phải trả tiền”; từ đó, điều chỉnh hành vi của nhà sản xuất và nhà tiêu dùng; tạo nguồn thu ngân sách hoặc nguồn tài chính để cung cấp các hàng hóa và dịch vụ môi trường.

“Tại Việt Nam, vấn đề đặt ra là làm thế nào để vận dụng các nguyên tắc, cơ chế thị trường vào trong công tác bảo vệ môi trường để tạo ra động lực cho các bên thay đổi hành vi”, chúng tôi Nguyễn Thế Chinh gợi mở.

Theo tổng hợp của Viện Chiến lược, Chính sách TN&MT, công cụ kinh cho bảo vệ môi trường đã được áp dụng trong một số lĩnh vực ở Việt Nam, như trong chỉ trả dịch vụ môi trường, đến ngày 31/12/2018, cả nước đã thu được 2.937,9 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng. Về phí, số phí thu từ nước thải năm 2017 là hơn 2.1000 tỷ đồng, thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản năm 2017 là hơn 2.452 tỷ đồng. Về thuế, theo dự toán ngân sách năm 2019 được Quốc hội thông qua, dự kiến số thu thuế bảo vệ môi trường là 68.926 tỷ đồng.

Tuy nhiên, bất cập về công cụ kinh tế cho bảo vệ môi trường ở Việt Nam nằm ở chỗ, thuế môi trường, phí môi trường hay các hình thức ký quỹ phục hồi môi trường chưa được thể hiện đầy đủ và chưa sát với thực tiện để huy động đủ nguồn lực đầu tư trở lại cho bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, vẫn còn hạn chế trong quy định phân bổ và sử dụng nguồn thu từ thuế, phí và các nguồn tài chính khác cho bảo vệ môi trường…

Khắc phục những tồn tại này, Dự án “Tổng kết, đánh giá và đề xuất hoàn thiện hệ thống các công cụ kinh tế, dựa vào nguyên tắc thị trường cho bảo vệ môi trường ở Việt Nam” hướng đến việc đề xuất hệ thống các công cụ kinh tế, cơ chế dựa vào thị trường cho bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Đồng thời, đề xuất lộ trình tái cấu trúc, giải pháp để phát huy vai trò của hệ thống các công cụ kinh tế này trong bối cảnh thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Dự án cũng sẽ xây dựng dự thảo các điều khoản quy định về công cụ kinh tế, cơ chế dựa vào thị trường trong pháp luật bảo vệ môi trường sửa đổi”, chúng tôi Nguyễn Thế Chinh thông tin.

Đánh giá cao ý nghĩa của Dự án này, Thứ trưởng Võ Tuấn Nhân nhấn mạnh, kết quả quan trọng mà Dự án đem lại là đề xuất các chính sách pháp lý, các cơ chế để áp dụng hệ thống công cụ kinh tế vào tình hình thực tiễn trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Định hướng sử dụng công cụ kinh tế, dựa vào nguyên tắc thị trường cho bảo vệ môi trường sẽ được thể chế hóa trong Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi), là cơ sở pháp lý quan trọng để tạo sự đột phá trong bảo vệ môi trường ở nước ta. Để môi trường, thực sự là một trong ba trụ cột của phát triển bền vững đất nước.

Thứ trưởng chỉ đạo, Viện Chiến lược, Chính sách TN&MT kết hợp cùng các chuyên gia trong và ngoài nước để hoàn thành dự án này vào tháng 6/2021.

Môi trường – Tống Minh (thực hiện) – 14:30 19/09/2019

(TN&MT) – “Bất cập trong việc thu phí rác thải hiện nay là thu theo đầu người với mức giá ngang nhau, gây nên sự mất cân bằng. Đã đến lúc cần phải thay đổi công tác quản lý rác thải đô thị, hướng đúng theo cơ chế thị trường. Ai xả rác nhiều, trả phí nhiều. Chi phí đó phải đủ cho việc xử lý” là ý kiến của PGS. TS Nguyễn Thế Chinh – Viện trưởng Viện Chính sách TN&MT đề xuất như vậy khi trao đổi với Phóng viên (PV) Báo TN&MT.

Tế Bào Thần Kinh: Cấu Tạo, Hoạt Động Và Chức Năng / 2023

Tế bào thần kinh là một trong các loại tế bào quan trọng nhất của con người. Chúng chịu trách nhiệm nhận và truyền đạt thông tin từ khắp các vùng trên cơ thể. Thông qua các tín hiệu điện và hóa học, tế bào thần kinh đã phối hợp để tạo ra các chức năng cần thiết cho sự sống.

Từ đó, nó quyết định các phản ứng của cơ thể và thay đổi trạng thái của các cơ quan nội tạng (ví dụ như thay đổi nhịp tim). Đồng thời hệ thần kinh cũng cho phép con người suy nghĩ và ghi nhớ những gì đang diễn ra. Để làm điều này, hệ thần kinh cần có một mạng lưới tinh vi. Đó là sự kết nối phức tạp giữa các tế bào thần kinh.

1. Tế bào thần kinh là gì?

Tế bào thần kinh còn được gọi là neuron (theo tiếng Pháp). Chúng là những tế bào có chức năng dẫn truyền xung điện. Các tế bào thần kinh chiếm khoảng mười phần trăm não bộ. Phần còn lại bao gồm các tế bào thần kinh đệm và tế bào hình sao. Những tế bào này giúp hỗ trợ và nuôi dưỡng tế bào thần kinh.

Người ta ước tính rằng có khoảng 86 tỷ tế bào thần kinh trong não. Để đạt được con số khổng lồ này, một bào thai đang phát triển phải tạo ra khoảng 250.000 tế bào thần kinh mỗi phút. Đây là loại tế bào dài nhất cơ thể và được biệt hóa cao. Vì vậy chúng không có khả năng phân chia. Bù lại chúng có khả năng tái sinh một phần của tế bào nếu bị tổn thương.

Mỗi neuron được kết nối với 1.000 neuron khác, tạo ra một mạng lưới giao tiếp cực kỳ phức tạp. Tế bào thần kinh được xem là đơn vị cơ bản của hệ thống thần kinh.

2. Cấu trúc tế bào thần kinh bao gồm những thành phần nào?

Các tế bào thần kinh chỉ có thể được nhìn thấy bằng kính hiển vi, được chia thành ba phần:

Thân tế bào: là chỗ phình to của neuron. Bao gồm nhân tế bào, lưới nội sinh chất, ty thể, ribosom, lysosom, bộ máy Golgi, tơ thần kinh, ống siêu vi và các bào quan khác. Thân tế bào cung cấp dinh dưỡng cho neuron, có thể phát sinh xung động thần kinh và có thể tiếp nhận xung động thần kinh từ nơi khác truyền tới neuron.

Sợi nhánh, còn gọi là đuôi gai: là các tua ngắn mỏng manh mọc ra từ thân tế bào. Mỗi neuron đều có nhiều đuôi gai, mỗi đuôi gai được chia thành nhiều nhánh. Chúng có chức năng tiếp nhận các xung thần kinh từ tế bào khác, truyền chúng tới thân tế bào. Đây là tín hiệu hướng tâm. Tác động của các xung này có thể là kích thích hoặc ức chế.

Sợi trục: sợi đơn dài mang thông tin từ thân tế bào và chuyển đến các tế bào khác. Đường kính của các sợi trục thường có kích thước khác nhau, dao động từ từ 0,5 μm – 22 μm. Dọc sợi trục được bao bọc bởi một lớp vỏ myelin, tạo thành bởi các tế bào Schwann. Bao myelin không liền mạch mà được chia thành từng đoạn. Giữa các bao myelin là các eo Ranvier. Khoảng cách giữa 2 eo Ranvier khoảng 1,5 – 2 mm. Còn diện tích tiếp xúc giữa các nhánh nhỏ phân từ cuối sợi trục của nơ-ron này với sợi nhánh của nơ-ron khác hoặc các cơ quan thụ cảm được gọi là Synapse (khớp thần kinh).

Cả sợi nhánh và sợi trục đôi khi được gọi chung là sợi thần kinh.

Chiều dài các sợi trục có sự chênh lệch rất nhiều. Một số sợi có thể rất ngắn, trong khi một số khác có thể dài hơn 1 mét. Các sợi trục dài nhất còn được gọi là hạch rễ lưng. Đây là một cụm các tế bào thần kinh mang thông tin từ da đến não. Ở người cao, một số sợi trục trong hạch rễ lưng xuất phát từ ngón chân cho đến thân não có thể dài tới 2 mét.

3. Phân loại các tế bào thần kinh như thế nào?

Các neuron có thể được chia thành các loại khác nhau theo từng cách phân loại.

Theo hướng dẫn truyền xung thần kinh:

Các neuron ly tâm. Chúng lấy các thông điệp từ hệ thống thần kinh trung ương (não và tủy sống

Các neuron hướng tâm. Nhận thông điệp từ phần còn lại của cơ thể và đưa chúng đến hệ thống thần kinh trung ương.

Neuron trung gian. Truyền tải những thông điệp chuyển tiếp giữa các tế bào thần kinh trong hệ thống thần kinh trung ương.

Theo chức năng của tế bào:

Tế bào thần kinh cảm giác. Mang tín hiệu từ các giác quan đến hệ thống thần kinh trung ương.

Loại tế bào chuyển tiếp. Mang tín hiệu từ nơi này đến nơi khác trong hệ thống thần kinh trung ương.

Tế bào thần vận động. Mang tín hiệu từ hệ thống thần kinh trung ương đến các cơ.

4. Chức năng của tế bào thần kinh là gì?

Chức năng cơ bản của neuron là cảm ứng và dẫn truyền xung thần kinh. Cụ thể:

Cảm ứng là khả năng tiếp nhận và phản ứng lại các kích thích bằng hình thức phát xung thần kinh.

Dẫn truyền là khả năng lan truyền xung thần kinh theo một chiều từ nơi phát sinh. Hay là tiếp nhận về thân nơron và truyền đi theo dọc sợi trục.

5. Quá trình dẫn truyền tín hiệu thần kinh như thế nào?

Một tế bào thần kinh nhận được tín hiệu đầu vào từ các tế bào thần kinh khá. Các tín hiệu này cộng lại cho đến khi chúng vượt quá một ngưỡng cụ thể.

Vượt quá ngưỡng, tế bào thần kinh được kích hoạt, gửi một xung điện dọc theo sợi trục của nó. Quá trình này được gọi là điện thế hoạt động. Một điện thế hoạt động được tạo ra bởi sự chuyển động của các nguyên tử tích điện (ion) trên màng sợi trục.

Các tế bào thần kinh khi nghỉ ngơi, bên trong tích điện âm nhiều hơn bên ngoài màng tế bào. Điều này tạo nên điện thế màng, hoặc là điện thế nghỉ. Độ lớn thường khoảng -70 millivolts (mV).

Khi thân tế bào của một dây thần kinh nhận đủ tín hiệu để kích hoạt, một phần sợi trục gần thân tế bào sẽ khử cực. Điện thế màng nhanh chóng tăng lên và sau đó giảm xuống (trong khoảng 1.000 giây). Sự thay đổi điện thế này kích hoạt quá trình khử cực trong phần sợi trục bên cạnh nó. Và cứ thế tiếp tục, cho đến khi đã đi dọc theo toàn bộ chiều dài của sợi trục.

Sau khi mỗi phần được hoạt hóa, nó đi vào một trạng thái siêu phân cực ngắn. Đây là thời kì trơ, do đó nó ít có khả năng được kích hoạt lại ngay lập tức.

Thông thường, ion kali (K +) và natri (Na +) đóng vai trò chính tạo ra điện thế hoạt động. Các ion di chuyển vào và ra khỏi các sợi trục thông qua kênh và bơm ion có điện thế.

Đây là mô tả ngắn gọn quá trình điện thế hoạt động:

Các kênh Na + mở cho phép Na + tràn vào tế bào, làm cho điện thế dương hơn.

Khi tế bào đạt đến một điện tích nhất định, các kênh K + sẽ mở. Các kênh mở cho phép K + thoát ra khỏi tế bào.

Kênh Na + sau đó đóng, kênh K + vẫn mở cho phép điện tích dương rời khỏi tế bào. Điện thế màng giảm dần.

Khi điện thế màng trở về trạng thái nghỉ, các kênh K + sẽ đóng lại.

Cuối cùng, bơm natri / kali vận chuyển Na + ra khỏi tế bào và K + trở lại tế bào. Hoạt động này cần thiết để sẵn sàng cho tiềm năng hành động tiếp theo.

Điện thế hoạt động sẽ làm việc theo nguyên tắc “tất cả hoặc là không”. Nếu kích thích trên ngưỡng thì có hiện tượng khử cực, và ngược lại. Ở các kích thích trên ngưỡng, độ lớn kích thích sẽ thể hiện qua tần số phát xung. Kích thích mạnh hơn sẽ có tần số phát sinh xung điện lớn hơn.

6. Tín hiệu thần kinh dẫn truyền qua các synapse như thế nào?

Các neuron được kết nối với nhau và liên hệ với mô khác để có thể gửi các tín hiệu. Tuy nhiên, nó không được kết nối bằng cách tiếp xúc trực tiếp. Kết nối luôn thông qua khớp nối giữa các tế bào, được gọi là synape.

Các synapse này có thể là điện hoặc hóa học. Nói cách khác, tín hiệu được truyền từ sợi thần kinh đầu tiên (tế bào thần kinh tiền synapse) đến tế bào thần kinh tiếp theo (tế bào sau synapse) được truyền qua synapse bằng tín hiệu điện hoặc hóa học.

Synapse hóa học

Một khi tín hiệu dẫn truyền đến đầu tận sợi trục, nó sẽ kích hoạt tế bào thần kinh tiền synapse giải phóng các hóa chất (chất dẫn truyền thần kinh) vào khoảng cách giữa hai tế bào. Khoảng cách này được gọi là khe synapse.

Chất dẫn truyền thần kinh khuếch tán qua khe synap. Chất này tương tác với các thụ thể trên màng tế bào thần kinh sau synapse, gây ra phản ứng.

Các synapse hóa học được phân loại tùy thuộc vào các chất dẫn truyền thần kinh mà chúng giải phóng:

Glutamergic – giải phóng glutamine. Chúng thường có tính kích thích, có nghĩa là chúng có nhiều khả năng kích hoạt điện thế hoạt động.

GABAergic – giải phóng GABA (axit gamma-Aminobutyric). Chúng thường có tính ức chế. Có nghĩa là chúng làm giảm khả năng tế bào thần kinh sau synapse sẽ dẫn truyền xung điện.

Cholinergic – giải phóng acetylcholine. Chúng được tìm thấy giữa các tế bào thần kinh vận động và các sợi cơ (synapse thần kinh cơ).

Adrenergic – giải phóng norepinephrine (adrenaline)

Synapse điện

Synapse điện ít phổ biến hơn, nhưng được tìm thấy trên khắp hệ thống thần kinh trung ương. Trong các synapse điện, các màng sau và trước synapse được đưa lại gần nhau hơn nhiều so với các synapse hóa học, nghĩa là chúng có thể truyền trực tiếp dòng điện.

Các synapse điện hoạt động nhanh hơn nhiều so với các khớp thần kinh hóa học. Vì vậy chúng được tìm thấy ở những nơi cần hành động nhanh, ví dụ như trong các phản xạ phòng thủ.

Các synapse hóa học có thể kích hoạt các phản ứng phức tạp. Nhưng các khớp thần kinh điện chỉ có thể tạo ra các phản ứng đơn giản. Tuy nhiên, không giống như các khớp thần kinh hóa học, synapse điện có thể dẫn truyền hai chiều – nghĩa là thông tin có thể đi theo một trong hai hướng.

Tế bào thần kinh đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong điều hòa hoạt động cơ thể. Gần như tất cả hoạt động sống đều chịu sự điều khiển của tế bào này. Đó là cả mạng lưới liên kết phức tạp nhưng nhịp nhàng và có tốc độ dẫn truyền cao. Điều đó đảm bảo cho cơ thể hoạt động đồng bộ và chính xác.

Bác sĩ Lương Sỹ Bắc

5 Chức Năng Của Môi Trường / 2023

Tìm hiểu 5 chức năng của môi trường đối với con người, giúp bạn hiểu được tầm quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, ngăn chặn các hành động phá hủy môi trường.

Tìm hiểu 5 chức năng của môi trường đối với con người

Môi trường là yếu tố quan trọng nhất, song hành với con người và thậm chí quyết định sự sinh tồn của sự sống. Một khi môi trường bị hủy hoại, cuộc sống chúng ta cũng sẽ bị đảo lộn, chịu ảnh hưởng nặng nề.

Để hiểu hơn về tầm quan trọng của môi trường, chúng ta hãy đi sâu vào phân tích 5 chức năng chính mà môi trường đảm nhận.

Thứ nhất: Môi trường chính là không gian sống của con người và toàn thể sinh vật trên trái đất Tất cả nhửng nơi như nhà ở, nơi sinh hoạt, sản xuất kinh doanh hay nơi vui chơi giải trí đều cần đến những không gian nhất định. Những nơi này sẽ có yêu cầu nhất định về các yếu tố như vật lý, sinh học, hóa học, cảnh quan,… Nếu không có môi trường, chúng ta chẳng thể nào hoạt động và phát triển được. Tuy nhiên, chính sự tiến bộ của khoa học công nghệ và nhu cầu đời sống nâng cao của con người đã vô tình tạo ra hàng loạt những tác động xấu, làm môi trường ngày càng tồi tệ đi.

Thứ hai: Môi trường là nơi chứa đựng và là nguồn cung ứng tài nguyên cần thiết cho đời sống, các hoạt động sản xuất của con người Đây chính là một trong những chức năng vô cùng quan trọng của môi trường. Nhờ có chức năng này, cuộc sống con người mới được đảm bảo, phát triển.

Rừng: cung cấp nước, bảo tồn độ phì nhiêu và đa dạng sinh học của đất, cung cấp nguồn củi gỗ, dược liệu và cải thiện điều kiện sinh thái

Động, thực vật cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm.

Các nguồn thủy lực: cung cấp dinh dưỡng, nước, nguồn thủy hải sản và nơi vui chơi giải trí.

Không khí, nhiệt độ, nước, gió, năng lượng mặt trời có chức năng duy trì các hoạt động trao đổi chất.

Dầu mỏ, quặng, kim loại cung cấp nguyên liệu cho hoạt động sản xuất

Tìm hiểu chức năng của môi trường

Thứ ba: Môi trường là nơi chứa đựng các loại chất thải phát sinh trong quá trình sống, lao động và sản xuất Các loại chất thải, nước thải phát sinh từ sinh hoạt hay hoạt động công nghiệp sẽ được phân hủy thành chất đơn giản hơn, tham gia vào các quá trình sinh địa hóa. Thế nhưng nhìn chung, quá trình này không còn diễn ra theo đúng cơ chế tự nhiên của nó nữa. Dân số tăng nhanh, công nghiệp phát triển chóng mặt đã dẫn đến lượng chất thải xả ra môi trường vượt mức kiểm soát, chưa kể, hành động vô ý thức của một phận con người đã khiến môi trường ô nhiễm đến mức báo động. Thậm chí, các nhà khoa học đã cảnh báo, nếu chúng ta không có biện pháp khắc phục và nâng cao ý thức bảo vệ thì thiên nhiên sẽ quay trở lại trừng phạt con người. Hiện nay, sự ra đời của nhiều công ty môi trường TPHCM đang góp phần đáp ứng yêu cầu xử lý thải ngày càng tăng cao.

Thứ tư: Môi trường là nơi lưu trữ, cung cấp nguồn thông tin cho con người Mọi hoạt động kể từ khi con người xuất hiện, trải qua các thời kỳ tiến hóa, các nền văn minh đế chế đều được ghi lại rõ ràng bằng những vật chứng cụ thể. Có được điều này chính là nhờ cuốn sử khổng lồ của môi trường. Nhờ có môi trường, chúng ta mới có thể lưu trữ những nguồn gen, các loài động thực vật, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá trị thẩm mỹ, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo. Vì vậy chức năng của môi trường này luôn được đánh giá cao.

Thứ năm: Môi trường chính là nơi bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài Nơi con người sinh sống và phát triển chính là một trong những hành tinh của hệ mặt trời – Trái đất. Chính vì vậy, hành tinh này cũng sẽ chịu các tác động từ vũ trụ như tia cực tím, lực hút,… Nhờ có môi trường, chúng ta hoàn toàn an toàn trước các tác nhân nguy hiểm.