Top 4 # Xem Nhiều Nhất Chức Năng Nhiệm Vụ Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyện Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Photomarathonasia.com

Chức Năng, Nhiệm Vụ Viện Kiểm Sát Nhân Dân

Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát được tổ chức theo đơn vị hành chính, gồm có Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh), Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (gọi tắt là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện) và các Viện kiểm sát quân sự các cấp (bao gồm: Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương (gọi tắt là Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu) và Viện kiểm sát quân sự khu vực).

Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân (điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014) là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm: – Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội; – Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật.

Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân (điều 4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014) là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm: – Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác được thực hiện đúng quy định của pháp luật; – Việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù không bị luật hạn chế phải được tôn trọng và bảo vệ; – Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh; – Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh.

Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyện Đại Từ

Đại Từ là một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 25 km, nằm trong toạ độ từ 21°30′ đến 21°50′ vĩ bắc và từ 105°32′ đến 105°42′ kinh đông; phía bắc giáp huyện Định Hóa, phía đông nam giáp thị xã Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên, phía đông bắc giáp huyện Phú Lương, phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Vĩnh Phúc, phía nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc. Huyện Đại Từ có diện tích 3.562,82 km², Dân số khoảng 160.598 người gồm 5 dân tộc anh em là Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu. Đại Từ có 31 đơn vị hành chính trực thuộc trong đó có 28 xã và 02 thị trấn là Thị trấn Hùng Sơn và Thị trấn Quân Chu . Trong nhiều năm qua tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện được duy trì tương đối ổn định.

VKSND huyện Đại Từ có vị trí đặt tại Phố Đình, Thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và là một đơn vị trực thuộc VKSND tỉnh Thái Nguyên có chức năng nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định tại Hiến pháp và Luật tổ chức VKSND năm 2014. Từ khi được thành lập, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ pháp luật quy định, đồng thời bám sát nhiệm vụ chính trị địa phương, luôn hoàn thành và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Năm 2007 và năm 2014 đơn vị được Viện trưởng VKSND tối cao tặng cờ dẫn đầu phong trào thi đua khối. Hàng năm đều được Viện kiểm sát nhân dân tối cao và địa phương tặng bằng khen, giấy khen.

2.CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ

Theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ có nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ trong hệ thống các cơ quan Nhà nước tại địa phương ngày càng được thể hiện rõ nét, đóng góp ngày càng tích cực trong lĩnh vực bảo đảm an ninh chính trị và trật tự trị an toàn trên địa bàn huyện, qua đó góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

3.CƠ CẤU TỔ CHỨC

Từ khi được thành lập chỉ với 02 biên chế nghiệp vụ, cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế đến nay VKSND huyện Đại Từ đã có 13 biên chế làm công tác nghiệp vụ do đồng chí Viện trưởng lãnh đạo toàn đơn vị; 02 đồng chí giữ chức vụ Phó Viện trưởng có nhiệm vụ tham mưu cho Viện trưởng lãnh đạo chỉ đạo 50% số lượng công việc và cán bộ KSV của đơn vị; đơn vị có 05 KSV; 02 Kiểm tra viên; 02 chuyên viên; 01 Kế toán viên; 01 hợp đồng bảo vệ và 01 cán bộ tạp vụ.100% cán bộ làm công tác nghiệp vụ có trình độ Đại học; 01 đồng chí đang theo học lớp cao học Luật; 02 đồng chí có trình độ cao cấp lý luận chính trị, 02 đồng chí có trình độ trung cấp lý luận chính trị và 02 đồng chí đang theo học lớp trung cấp lý luận chính trị. Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và ngành dọc cấp trên, hiện nay đơn vị có cơ sở vật chất khang trang với hệ thống 08 phòng làm việc được trang bị đầy đủ các điều kiện về kỹ thuật như hệ thống máy tính, máy in, máy phô tô, mạng Internet…đảm bảo cho các cán bộ, KSV có thể hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được phân công nhằm nâng cao chất lượng, vị trí, vai trò của cán bộ kiểm sát, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong thời kỳ hiện nay.

Viện trưởng: Đồng chí Vũ Thị Bích Hường

Phó viện trưởng: Đồng chí Lưu Thanh Tuấn, Đồng chí Nguyễn Thanh Phong

4.THÔNG TIN LIÊN HỆ

Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Địa chỉ: Phố Đình, Thị Trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Điện thoại: 02803.824.239

Email: vienkiemsatdaitu@gmail.com

Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Và Những Vấn Đề

TRANSCRIPT

Chc nng, nhim v ca Vin kim st nhn dn v nhng vn t ra i vi vic sa i, b sung Hin php nm 1992

Ph Gio s, Tin s NGUYN THI PHC

Gim c Hc vin T php, B T php

Hin php nm 1992 l Hin php ca thi k u i mi t nc. n nay, t nc ta c nhiu thay i trong bi cnh quc t ang c nhng din bin to ln, phc tp v su sc. Vic nghin cu sa i, b sung Hin php nm 1992 cho ph hp vi tnh hnh mi l rt cn thit. Mt trong nhng nh hng sa i Hin php nm 1992 l tip tc khng nh bn cht v m hnh tng th ca h thng chnh tr v b my Nh nc c xc nh trong Cng lnh nm 1991 (b sung, pht trin nm 2011) v Hin php nm 1992. Nh nc ta l Nh nc php quyn x hi ch ngha ca nhn dn, do nhn dn v v nhn dn; tt c quyn lc nh nc thuc v nhn dn; quyn lc nh nc l thng nht, c s phn cng, phi hp v kim sot quyn lc gia cc c quan trong vic thc hin cc quyn lp php, hnh php v t php Tn trng v bo m quyn con ngi, quyn t do, dn ch ca cng dn; quyn ca cng dn khng tch ri ngha v ca cng dn; thc hin dn ch x hi ch ngha(1). Vic sa i Hin php nm 1992 y qu trnh nghin cu chuyn i Vin kim st (VKS) thnh Vin Cng t (VCT) theo tinh thn Ngh quyt s 49-NQ/TW ngy 02/6/2005 ca B Chnh tr ln n nh im. Mt trong nhng ni dung sa i Hin php nm 1992 s tu thuc vo kt qu nghin cu: Hoc l VKS chuyn thnh VCT hoc l VKS khng chuyn thnh VCT, nhng ch nh VKS phi c hon thin (khng th khng hon thin) cho ph hp vi giai on pht trin mi ca t nc.

Nhng ngi ng h vic chuyn i VKS thnh VCT a ra cc lp lun sau y:

+ Cc quy nh ca php lut v chc nng ca VKS c nhiu bt cp, VKS khng thc quyn hoc quyn hn vt qu kh nng thc t ca VKS, do , hot ng ca VKS cn nhiu vng mc, khng hiu qu.

+ Chuyn i VKS thnh VCT l ph hp gia tn gi ca c quan vi chc nng m n thc hin(2).

+ V nguyn l, khng cn kim st chung th khng cn l do cho VKS tn ti. Cho nn, nu cn gi VKS vi t cch l mt thit ch c lp th khng th b kim st chung. V nu b kim st chung, VKS ch cn chc nng thc hnh quyn cng t v kim st cc hot ng t php, trong thc hnh quyn cng t l nhim v chnh yu, th phi chuyn VKS thnh VCT.

Quan im ny a ra lp lun l thuyt tp quyn XHCN ch yu nhn mnh n s thng nht quyn lc gia lp php v hnh php, khng nhn mnh n s thng nht quyn lc gia a phng vi trung ng. Cc c quan hnh chnh, cc c quan chnh quyn a phng khng lin quan n s thng nht quyn lc ca quc gia. Cc c quan ny li l i tng ca hot ng kim st. V vy, t vn cn phi c VKS thc hin chc nng kim st chung bo m s thng nht quyn lc nh nc l khng chnh xcVin kim st vi chc nng bn cht l kim st chung, khng lin quan g n s thng nht quyn lc. Tc gi ca quan im ni trn cn cho rng, khng th nh ng php ch vi php quyn. Php ch ly s tun th php lut ca trung ng lm chnh yu. Do , php ch sinh ra VKS vi chc nng kim st chung buc cc c quan hnh chnh, cc c quan chnh quyn a phng, cc t chc trong x hi v mi cng dn tun th php lut do trung ng ban hnh. Php quyn ly s gii hn quyn lc lp php, hnh php, v t php – cc i cng quyn trung ng lm chnh yu(3).

+ Chuyn i VKS thnh VCT gn cng t vi iu tra v VCT s thuc nhnh quyn lc hnh php nh l mt B trong Chnh ph.

Theo chng ti, cc quan im ny c nhng hn ch sau y:

+ Khng nhn nhn ng tm ca vn m Ngh quyt s 49-NQ/TW t ra, l: Nghin cu chuyn i VKS thnh VCT khng n gin ch l i tn gi ca mt c quan nh nc, thay i mt vi nguyn tc t chc v hot ng ca n. Thc cht vic chuyn i VKS thnh VCT l chuyn i chc nng, chuyn i m hnh ca c mt h thng c quan nh nc. iu ny tt yu s tc ng nh hng n hot ng ca cc h thng c quan nh nc cn li v vi hot ng ca chnh nh nc. y l mt vic v cng h trng i hi s tnh to v chnh tr, nghim tc v khoa hc v thn trng, khn ngoan v thc tin, bi l n lin quan n vn php ch thng nht – nn tng ca Nh nc php quyn m chng ta ang hng n theo iu 2 ca Hin php nm 1992 (sa i, b sung nm 2001).

+ Khng nhn thy c mi lin h ni ti c tnh c th gia m hnh VKS vi bn cht v nguyn tc t chc quyn lc nh nc ca nc ta; khng ch ra c mt cch thuyt phc l do v sao cn phi chuyn i VKS thnh VCT; khng chng minh c m hnh VCT m chng ta mun chuyn i l m hnh hon ton mi so vi m hnh VCT tng tn ti v tng b t b trong qu trnh xy dng nh nc kiu mi nc ta. Tr li m hnh VCT nh quan im ny thc cht l i vo vng trn lun qun ch khng phi l vng trn xoy trn c – tc l s pht trin.

+ Nhn t gc phng php lun gia nguyn nhn ca vn v gii php gii quyt vn khng ph hp vi nhau. Nu cc quy nh ca lut iu chnh hot ng chc nng ca VKS cn nhiu bt cp th phi hon thin lut, nu VKS khng thc quyn th phi lm cho VKS thc quyn thng qua nhng gii php nng cao nng lc, trnh nghip v, o to bi dng cn b ch khng cn thit phi chuyn i m hnh VKS thnh VCT.

+ Mt s lp lun khng thuyt phc. Th nht l lp lun tp quyn, thng nht quyn lc ch yu lin quan n ngnh lp php v hnh php, khng lin quan nhiu n t php v chnh quyn a phng: Vin kim st vi chc nng bn cht l kim st chung, khng lin quan g n s thng nht quyn lc. Quan im ny hiu thng nht quyn lc nh nc ch trong mi quan h gia cc nhnh quyn lc theo mt ct ngang l quyn lp php, hnh php v t php m khng thy rng quyn lc nh nc thng nht cn c th xem xt trong mt ct dc gia nh nc Trung ng v chnh quyn a phng, gia chnh quyn lin bang vi chnh quyn tiu bang ( cc nh nc Lin bang). Theo quan im h thng th chnh quyn a phng lun c xu hng hi t vi nh nc trung ng v li ch chung. Nhng ng thi chnh quyn a phng vi t cch l thnh t ca h thng cng lun c xu hng thot ly nh nc Trung ng v li ch cc b ca mnh. Xung t gia chnh quyn a phng vi nh nc Trung ng lun lun l mi e da i vi quyn lc nh nc thng nht. Hnh thc ph bin nht ca xung t ny l vic chnh quyn a phng khng chp hnh, chp hnh khng ng hoc ban hnh vn bn php lut ca mnh tri vi Hin php, lut ca nh nc Trung ng. gii quyt xung t ny cn n trc ht l nhng o lut trong th hin hi ho li ch ca nh nc Trung ng v chnh quyn a phng, phn nh rnh mch gii hn quyn lc gia trung ng v a phng bng cch m rng s tham gia ca chnh quyn a phng vo qu trnh son tho d n Hin php, lut. Khi c Hin php, lut ri th cn c s gim st, bo m Hin php, lut ca nh nc Trung ng phi c chnh quyn a phng tun th. Tu thuc vo bn cht nh nc, nguyn tc t chc quyn lc nh nc, nhng iu kin kinh t – chnh tr, x hi, vn ho, truyn thng php l khc nhau mi nh nc m c ch gim st v nhng thit ch gim st c th khc nhau. Hot ng gim st tun th Hin php, lut ca nh nc Trung ng i vi chnh quyn a phng bo m php ch thng nht – nn tng php l ca quyn lc thng nht – l cn thit khch quan. Khi php ch thng nht c bo m th tnh thng nht ca quyn lc nh nc cng c bo m, khng b ph v bi cc xung t quyn lc. V vy, kt lun kim st tun theo php lut khng lin quan g n thng nht quyn lc l khng c c s. Th hai l mi quan h gia php ch v php quyn: Trong iu kin xy dng Nh nc php quyn khi mi quan h gia Nh nc v cng dn c nhng thay i ln lao trn c s i mi php lut v i mi nhn thc v khi nim php ch m trc ht l chuyn trng tm ca php ch t i hi mang tnh hnh thc sang i hi v ni dung – cht lng ca php lut, ca hot ng xy dng php lut v thc hin php lut trong tt c cc lnh vc quyn lc nh nc t lp php, hnh php cho n t php, trong hnh vi ca vin chc, cng chc th php ch l yu t khng th thiu c ca ch php quyn, khng nhng khng i lp vi php quyn m l mt trong nhng bo m quan trng ca php quyn(4).

M hnh VCT c u im l b my s tinh gin hn so vi b my ca VKS. Vin cng t hot ng ch yu trong lnh vc t tng hnh s v ch thc hin chc nng truy cu trch nhim hnh s v nhn danh nh nc buc ti ti phin to s thm. V logic hnh thc, hot ng cng t s mnh ln do chuyn nghip hn v c th a li nhng thay i tch cc trong t tng hnh s v chung cuc l c li cho u tranh chng ti phm.

Tuy nhin, m hnh VCT trong iu kin nc ta hin nay c nhng bt cp v hn ch khng trnh khi sau y:

– Vin cng t l c quan thuc Chnh ph hoc thuc B T php ch thc hin chc nng cng t, khng thc hin chc nng kim st (k c kim st t php) v nh vy, nh nc mt i mt h thng c quan nh nc c lp c v tr xng ng trong b my Nh nc vi t cch l mt thit ch gim st quyn lc thng nht bo m php ch trong phm vi c nc.

– Trn thc t hot ng cng t s khng mnh v thot ly hot ng kim st t php. Khi VCT khng thc hin chc nng kim st hot ng t php th lc ny vic gim st tun th php lut ca cc c quan tin hnh t tng ch c thc hin thng qua c ch t kim tra, gim st (hot ng kim tra ca Th trng C quan iu tra vi iu tra vin, Chnh n vi Thm phn, hot ng gim c xt x ca To n cp trn vi To n cp di). Hot ng gim st ny lun c hn ch v tnh khch quan so vi hot ng kim st t php – hot ng gim st ngoi h thng. B hot ng kim st trong lnh vc t tng hnh s – lnh vc lun c nguy c hn ch tri php lut cc quyn, t do hin nh ca b can, b co, ngi b tm gi l b i mt cng c php l hu hiu bo m php ch – bo m tun th trit cc quy nh ca BLTTHS trong hot ng ca cc c quan tin hnh t tng, b i mt thit ch php l bo v quyn con ngi, hn ch oan sai trong giai on iu tra. Lc ny bo v cc quyn t do hin nh v li ch hp php ca mnh, b can, b co, ngi b tm gi phi chp nhn thm gnh nng ti chnh v chi ph lut s. Nh nc, x hi phi bo m c s lng lut s p ng yu cu tham gia bo cha trong hot ng t tng ( nc ta hin nay s lng lut s mi ch p ng tham gia khong 5% cc v n hnh s). Mt khc, b hot ng kim st iu tra l khng thy c mi quan h hu c ca hot ng ny vi hot ng cng t. Hot ng kim st iu tra l tin bo m quyt nh truy t ng ngi, ng ti, c cn c, khng lm oan ngi v ti.

– Vin cng t thuc c quan hnh php c th l l do hnh thc cho rng hot ng cng t gn vi iu tra nhng v thc cht hot ng cng t c gn vi hot ng iu tra hay khng li ph thuc vo cc quy nh ca B lut T tng hnh s ch khng ph thuc vo quan h hnh chnh v quan h gia cng t v iu tra l quan h t tng hnh s. Mt khc, hai c quan ny cng trong h thng hnh php c th l l do hoi nghi tnh khch quan ca hot ng cng t. V vy, chuyn VKS thnh VCT khng gii quyt c mt cch thc cht quan h gia cng t v iu tra.

gc l lun v thc tin th m hnh VKS mi l m hnh c nhiu kh nng phng nga, rn e v ch ng trong u tranh chng ti phm so vi m hnh VCT. Trc ht, kt qu u tranh chng ti phm (hot ng cng t) v hot ng kim st tun theo php lut lun c quan h hu c vi nhau. Hot ng kim st tun theo php lut trong lnh vc qun l nh nc v kinh t – hnh chnh l hot ng c kh nng pht hin vi phm, ti phm rt ln, c kh nng phng nga, ngn chn, rn e ti phm rt cao nn c tc ng trc tip n hiu qu u tranh chng ti phm. Kt qu hot ng kim st l knh thng tin quan trng cho VKS quyt nh khi t v n, truy cu trch nhim hnh s ca nhng ngi phm ti, ngn chn hu qu ca ti phm mt cch kp thi, ngn chn hin tng x l ni b, x l hnh chnh d dng chy ti, v hiu ho

Luận Văn: Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân, Hay

, ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Download luận văn thạc sĩ ngành luật với đề tài: Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự Việt Nam, cho các bạn tham khảo

1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT PHÙNG THANH HÀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2014

2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT PHÙNG THANH HÀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự Mã số : 60 38 01 03 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Thị Huyền HÀ NỘI – 2014

3. Lêi cam ®oan T”i xin cam ®oan ®©y lµ c”ng tr×nh nghiªn cøu khoa häc cña riªng t”i. C¸c sè liÖu, vÝ dô vµ trÝch dÉn trong luËn v¨n ®¶m b¶o ®é tin cËy, chÝnh x¸c vµ trung thùc. Nh÷ng kÕt luËn khoa häc cña luËn v¨n ch­a tõng ®­îc ai c”ng bè trong bÊt kú c”ng tr×nh nµo kh¸c. T¸c gi¶ luËn v¨n Phïng Thanh Hµ

5. tụng dân sự giai đoạn từ 1960 đến 1988 1.3.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự từ năm 1989 đến trước năm 2004 21 1.3.4. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay 23 1.4. Quy định của pháp luật một số quốc gia về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự 26 1.4.1. Quy định của pháp luật Liên bang Nga 26 1.4.2. Quy định của pháp luật Cộng hòa Pháp 31 1.4.3. Quy định của pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 33 Chương 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 36 2.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trước khi thụ lý và chuẩn bị giải quyết vụ việc dân sự 36 2.1.1. Kiểm sát việc thụ lý vụ việc dân sự 36 2.1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong quá trình kiểm sát việc lập hồ sơ vụ việc dân sự 39 2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi tham gia phiên tòa sơ thẩm; phiên họp giải quyết việc dân sự 41 2.2.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm 42 2.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm sát viên tại phiên họp sơ thẩm 56 2.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc kháng nghị bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật và tham gia tố tụng ở cấp phúc thẩm 57 2.3.1. Kháng nghị bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật 57 2.3.2. Viện kiểm sát nhân dân nghiên cứu hồ sơ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm 60 2.3.3. Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm 61 2.4. Kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và 63

6. tham gia phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm 2.4.1. Kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật 63 2.4.2. Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm 67 2.5. Thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị 69 2.5.1. Thực hiện quyền yêu cầu 69 2.5.2. Thực hiện quyền kiến nghị 72 Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN, MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 76 3.1. Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự 76 3.1.1. Kiểm sát thụ lý vụ việc dân sự 77 3.1.2. Hoạt động kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án 79 3.1.3. Kiểm sát công tác xét xử của Tòa án 83 3.1.4. Công tác kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm 84 3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự 88 3.2.1. Hoàn thiện pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự 88 3.2.2. Một số kiến nghị khác nhằm bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát 97 KẾT LUẬN 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

7. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLDS : Bộ luật Dân sự BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự TAND : Tòa án nhân dân TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao VKS : Viện kiểm sát VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao

8. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) có nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng trong tố tụng dân sự, xét cả trên phương diện lý luận và thực tiễn. Lịch sử pháp luật về VKSND Việt Nam trong tố tụng dân sự kể từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay đã trải qua hơn 60 năm tồn tại, trưởng thành và phát triển, đã thực hiện được nhiều nội dung cải cách tư pháp. Bước sang thế kỳ thứ XXI, tiến trình cải cách tổ chức và hoạt động của VKSND trong lĩnh vực dân sự đã được tiến hành ngày càng sâu rộng. Ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 trong đó xác định rõ: “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát theo hướng bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Nghiên cứu hướng tới chuyển thành Viện Công tố”. Tiếp đó, ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị có Nghị quyết số 49-NQ/TW cũng tiếp tục khẳng định: Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên nhiệm vụ, quyền hạn như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án. Nghiên cứu chuyển Viện kiểm sát thành Viện Công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra [9]. Như vậy, hai nghị quyết nêu trên đã chỉ rõ nhiều nội dung cụ thể về cải cách tư pháp đòi hỏi phải được thể chế hóa, tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát (VKS) nói chung cũng như vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS nói riêng trong tố tụng dân sự. Theo tinh thần quy định của các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994,

9. 2 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 thì Kiểm sát viên tham gia kiểm sát việc tuân theo pháp luật hầu hết các vụ việc dân sự nhưng tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 hạn chế phạm vi tham gia phiên toà của VKS đối với vụ án dân sự. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định VKS tham gia phiên tòa đối với những vụ án dân sự do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại, tham gia các phiên họp giải quyết các việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án, các vụ việc dân sự mà VKS kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án dựa trên quan điểm tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên đương sự trong tố tụng dân sự. Thực tiễn thi hành BLTTDS năm 2004 cho thấy quy định của BLTTDS về sự tham gia của VKS trong tố tụng dân sự đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa tạo điều kiện cho VKS thực hiện được đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn, nhiệm vụ của mình theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức VKSND. Trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam, khi mà trình độ dân trí còn hạn chế, người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tự chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, khi có tranh chấp nhiều người dân chưa có điều kiện mời Luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình và đội ngũ Luật sư hiện nay cũng chưa đáp ứng được yêu cầu tham gia tất cả các phiên tòa. Do đó, Luật sửa đổi bổ sung BLTTDS năm 2011 đã sửa đổi quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự, qua đó thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Thực tiễn đó, đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của VKSND trong tố tụng dân sự, vì vậy tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự Việt Nam” để làm luận văn thạc sĩ luật học. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự là vấn đề không chỉ được ngành Kiểm sát mà còn được cả xã hội quan tâm. Do yêu cầu và đòi

11. 4 tháng 9/2006; “Việc áp dụng một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự” của Toà soạn Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Kiểm sát, số 13, tháng 3/2006; “Vị trí, vai trò Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp” của Nguyễn Ngọc Khánh, Tạp chí Kiểm sát, số 14-16, tháng 7, 8 năm 2008; “Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 kể từ ngày Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực pháp luật đến ngày 31/5/2005” của VKSNDTC… Qua nghiên cứu những công trình, bài viết nêu trên cho thấy: có nhiều quan điểm, lý luận tác giả có thể kế thừa và phát triển được khi nghiên cứu và hoàn thành đề tài. Tuy vậy, các công trình, bài viết trên chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu các lĩnh vực chung nhất về nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước; các vấn đề về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự dưới góc độ của Luật nhà nước. Hoặc có công trình, bài viết tuy có trực tiếp đề cập đến vấn đề này, nhưng do thời điểm nghiên cứu đã lâu nên không cập nhật được những vấn đề đang đặt ra trong lý luận và thực tiễn hiện nay, nhất là trong điều kiện BLTTDS năm 2004 vừa được Quốc hội sửa đổi, bổ sung năm 2011 với nhiều quy định mới, nên vấn đề này cần tiếp tục được nghiên cứu. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3.1. Mục đích Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ các cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự; đánh giá tính có căn cứ và khoa học về thực trạng pháp luật về nhiệm vụ quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện và bảo đảm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự. 3.2. Nhiệm vụ Từ mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ: – Làm rõ cơ sở lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự.

13. 6 quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; về đổi mới tổ chức hoạt động của VKS trong điều kiện cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị và những thành tựu của khoa học pháp lý trên thế giới. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin; các khoa học chuyên ngành khác đặc biệt là khoa học về Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật, chú trọng đến phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, kết hợp lý luận và thực tiễn. 6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn – Phân tích và làm rõ được cơ sở lý luận và thực tiễn trong pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự trước yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam. – Đề xuất những phương hướng cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật và các giải pháp bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn – Góp phần làm sáng tỏ về lý luận cũng như thực trạng pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự từ đó góp phần tiếp tục đổi mới nhiệm vụ, quyền hạn và việc hoàn thiện mô hình hoạt động của VKSND trong tố tụng dân sự. – Nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự. Đảm bảo cho việc giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án khách quan, có căn cứ, đúng pháp luật. – Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các nhà khoa học, những người làm công tác thực tiễn, đồng thời có thể được sử dụng cho việc nghiên cứu, giảng dạy cho các cơ sở đào tạo khoa học pháp lý.

15. 8 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1. KHÁI NIỆM ĐẶC ĐIỂM NHIỆM VỤ QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.1.1. Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự Hiến pháp năm 2013, BLTTDS đã khẳng định VKSND là cơ quan chịu trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự. Các hoạt động tố tụng dân sự của những người tiến hành tố tụng dân sự và những người tham gia tố tụng dân sự là đối tượng kiểm sát của VKSND. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự là giám sát, kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ đối với hành vi của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng, đối với văn bản áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc dân sự của chủ thể tiến hành tố tụng và đó là hình thức thực hiện quyền lực nhà nước, một trong những hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND. Mục đích của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự là nhằm bảo đảm cho các hành vi xử sự của các chủ thể tiến hành, tham gia tố tụng và văn bản áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Nội dung hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự là việc VKSND sử dụng các biện pháp, quyền năng pháp lý do BLTTDS quy định để kịp thời phát hiện và loại bỏ vi phạm, tiêu cực của cơ quan, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng, nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Để có thể sử dụng được các biện pháp, quyền năng pháp lý quy định trong BLTTDS, Nhà nước trao cho VKSND những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định.

16. 9 Trong khoa học pháp lý, “thẩm quyền”, “nhiệm vụ” và “nghĩa vụ” là các khái niệm khác nhau. Thẩm quyền là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc bộ máy nhà nước do pháp luật quy định [39, tr. 459]. Khái niệm “thẩm quyền” bao hàm hai nội dung chính là quyền hành động và quyền quyết định của cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước. Quyền hành động là quyền được làm những công việc nhất định, còn quyền quyết định là quyền hạn giải quyết công việc đó trong phạm vi pháp luật cho phép (thẩm quyền hành động). Nghĩa vụ là việc mà theo đó một chủ thể (cá nhân, cơ quan, tổ chức) phải thực hiện hoặc không thực hiện khi tham gia vào một quan hệ pháp luật. Thuật ngữ “nhiệm vụ”, theo Đại Từ điển tiếng Việt được hiểu là “công việc phải làm, gách vác” [46, tr. 1384] hay “công việc phải làm vì một mục đích và trong một thời gian nhất định” [17]. Theo cách giải thích này thì nhiệm vụ nói chung là công việc mang tính chất bắt buộc đối với chủ thể phải thực hiện. Nhiệm vụ của một chủ thể xuất phát từ tư cách chủ thể trong quan hệ xã hội mà chủ thể đó tham gia và được pháp luật quy định. Cùng một chủ thể, nhưng mỗi quan hệ xã hội khác nhau thì quy định pháp luật xác định nhiệm vụ khác nhau. Do đó, có thể hiểu nhiệm vụ của cơ quan VKSND là những hoạt động cụ thể của VKSND trong một thời gian nhất định nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành mình để cùng thực hiện nhiệm vụ của bộ máy nhà nước trên cơ sở quy định của Hiến pháp và pháp luật. Nhiệm vụ của VKSND trong tố tụng dân sự là những yêu cầu cụ thể do Nhà nước đặt ra và được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND, BLTTDS và các văn bản pháp luật khác mà VKSND phải thực hiện bằng những hình thức, biện pháp nhất định trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, cụ thể là: – Bảo đảm việc giải quyết các vụ án dân sự ở Tòa án các cấp nhanh chóng, khách quan, toàn diện, đầy đủ và kịp thời.

17. 10 – Bảo đảm mọi bản án, quyết định dân sự của Tòa án có căn cứ và đúng pháp luật. – Bảo đảm mọi bản án, quyết định dân sự của của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành đúng pháp luật, kịp thời. Như vậy, nhiệm vụ của VKSND trong tố tụng dân sự là những công việc cụ thể do pháp luật quy định đối với VKSND trong các giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng các vụ việc dân sự (từ khi Tòa án thụ lý, chuẩn bị xét xử đến phiên tòa giải quyết vụ việc dân sự) nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng. Còn về khái niệm “quyền hạn” được hiểu là quyền theo cương vị, chức vụ cho phép [46]. Dưới góc độ pháp lý, quyền hạn của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp luật [39, tr. 651]. Quyền hạn thường gắn chủ thể với một cương vị, tư cách cụ thể. Trong khoa học pháp lý, quyền hạn được gắn liền với cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước hoặc của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó. Quyền hạn của cơ quan, tổ chức là quyền quyết định giải quyết công việc trong phạm vi thẩm quyền của cơ quan, tổ chức. Quyền hạn của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức là quyền quyết định giải quyết công việc trong phạm vi thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó. Đối với quyền của chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự xuất phát từ sự thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định. Quyền hạn và nhiệm vụ là hai khái niệm khác nhau, song lại có mối liên hệ chặt chẽ. Nhiệm vụ của VKS là việc phải thực hiện các chức năng tố tụng mà BLTTDS quy định, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ thì tùy theo tính chất và mức độ giải quyết vụ việc dân sự sẽ không chính xác. Nhiệm vụ của VKS trong tố tụng dân sự được xác định bắt buộc

18. 11 trong những trường hợp quy định tại Điều 21 BLTTDS. Để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình pháp luật cần trao cho VKS những quyền hạn đầy đủ. Tuy nhiên, khái niệm quyền hạn và nhiệm vụ đặt trong một điều kiện với một chủ thể xác định thì quyền hạn và nhiệm vụ là tương đối thống nhất. Pháp luật quy định nhiệm vụ của VKS phải thực hiện những công việc gì, đồng nghĩa là pháp luật trao cho VKS những quyền hạn để thực hiện nhiệm vụ đó. Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS nói chung được quy định trong Luật tổ chức VKS. Còn trong tố tụng dân sự, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật tố tụng dân sự. Như vậy, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự là quyền quyết định thực hiện các hoạt động tố tụng (từ khi Tòa án thụ lý, chuẩn bị xét xử đến phiên tòa giải quyết vụ việc dân sự) nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng. 1.1.2. Đặc điểm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự Thứ nhất, nhiệm vụ quyền hạn của VKS do pháp luật quy định, VKS không thực hiện những hoạt động ngoài nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định. Đây chính là nội dung trong nguyên tắc pháp chế – nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, của tổ chức xã hội, của những người có chức vụ, quyền hạn và của công dân. Đây là nguyên tắc hiến định được hiểu là việc thường xuyên, nhất quán tuân thủ và chấp hành các quy định của Hiến pháp, của các đạo luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác của tất cả các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội, của những người có chức vụ, quyền hạn, của công dân. Trong hoạt động của VKS, nguyên tắc bảo đảm pháp chế hay đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKS do pháp luật quy định, không thực hiện những hoạt động ngoài nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định được cụ thể hóa trong việc xác lập tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự. Nguyên tắc

20. 13 sát việc tuân theo pháp luật trong toàn bộ quá trình tố tụng dân sự. Là cơ quan tiến hành tố tụng, song khác với TAND – chủ thể chính trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, sự tham gia của VKSND không mang tính chất bắt buộc thường xuyên liên tục. Về mặt pháp lý, VKSND tham gia kiểm sát việc thụ lý, trả lại đơn khởi kiện, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, kiểm sát bản án… Khi tham gia phiên tòa, phiên họp kiểm sát viên đại diện cho VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND được pháp luật tố tụng dân sự quy định. Đó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án, người tham gia tố tụng. Vấn đề này được thể hiện rõ nét nhất tại phiên tòa mà chủ thể tiến hành là kiểm sát viên. Trong tố tụng dân sự, VKS là chủ thể đặc biệt. Khi thực hiện chức năng giám sát hoạt động giải quyết vụ việc dân sự tại phiên tòa, phiên họp trong phạm vi quyền hạn của mình, kiểm sát viên phải tiến hành theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định. Bên cạnh đó, VKSND còn kiểm sát hoạt động tố tụng của các đương sự và cơ quan tiến hành tố tụng. Hoạt động kiểm sát của VKSND góp phần bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án được đúng đắn, khách quan. Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật đã khẳng định rõ về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND. Theo đó, VKSND vẫn là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự, đại diện VKSND là người tiến hành tố tụng. Được coi là cơ quan tiến hành tố tụng, song các quyền và nghĩa vụ của VKSND chủ yếu để thực hiên chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án, nhằm đảm bảo tính hợp pháp và có căn cứ trong hoạt động xét xử của Tòa án. Mặc dù, đều là cơ quan tiến hành tố tụng nhưng khác với Tòa án, VKS không ra bản án, quyết định giải quyết nội dung vụ việc dân sự. Mục đích tham gia tố tụng chủ yếu của VKSND là nhằm thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng.

21. 14 Như vậy, sự tham gia tố tụng của VKSND trong tố tụng dân sự là việc VKSND tham gia với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng, có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án. Thứ ba, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND được thực hiện thông qua hoạt động của kiểm sát viên và Viện trưởng VKS. Đứng đầu VKS là Viện trưởng VKS. Trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, Viện trưởng VKS có nhiều nhiệm vụ, quyền hạn như: tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự; quyết định phân công kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng, tham gia phiên tòa xét xử vụ án dân sự, phiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này; kiểm tra hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng của kiểm sát viên; quyết định thay đổi kiểm sát viên; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này; giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định. Kiểm sát viên là một trong những người tiến hành tố tụng tham gia bảo đảm tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết việc dân sự theo quy định của BLTTDS. Trong tố tụng dân sự, kiểm sát viên khi được phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự có nhiệm vụ, quyền hạn như: kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, giải quyết việc dân sự của Tòa án. Đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự tân thủ đầy đủ các quy định pháp luật về thủ tục, cũng như nội dung; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng như: nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng, người phiên dịch… 1.2. CƠ SỞ XÁC ĐỊNH NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ Trong tố tụng dân sự, để xác định được nhiệm vụ, quyền hạn của VKS cần dựa vào những yếu tố như: vị trí, vai trò của VKS; tính chất của

22. 15 vụ việc dân sự; việc thực quyền tự định đoạt của đương sự và việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự; thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án. 1.2.1. Xuất phát từ vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước Trên thế giới, ở các nước khác nhau, theo hệ thống pháp luật khác nhau thì vị trí, vai trò của VKS trong bộ máy nhà nước cũng khác nhau. Trong mô hình của các nước theo hệ thống luật Anh – Mỹ (hệ thống common law), hệ thống cơ quan công tố được tổ chức rất gọn nhẹ, chủ yếu tham gia vào các lĩnh vực hình sự. Các công tố viên có thể được tuyển chọn theo từng vụ việc cụ thể. Mặc dù hiện nay tình hình đã có nhiều thay đổi nhưng ở các nước này vẫn tồn tại một quan niệm: “Càng ít có sự can thiệp của Nhà nước, càng ít có sự can thiệp của pháp luật thì xã hội càng vận hành có hiệu quả”. Theo pháp luật của những nước này (ví dụ Đan Mạch, Thụy Điển…) thì Viện công tố không có vai trò gì trong vụ án dân sự. Trong quá trình tố tụng, các công tố viên không tham gia trong quá trình lập hồ sơ, xét xử, không có quyền kháng nghị [32, tr. 35]… Đối với các nước theo hệ thống luật lục địa (civil law) như Pháp, Việt Nam… thì Nhà nước hình thành một hệ thống cơ quan công tố mạnh, có vai trò lớn trong lĩnh vực kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thẩm quyền kháng nghị trong các thủ tục tố tụng. Từ đó, mà nhiệm vụ, quyền hạn của Viện công tố (hay VKS) cũng lớn hơn. Tại Pháp, trong lĩnh vực tố tụng dân sự, Viện công tố có hai vai trò chính: thực hiện quyền khởi kiện như một bên đương sự; thực hiện quyền yêu cầu áp dụng pháp luật, với tư cách như một cơ quan tiến hành tố tụng. Ngoài ra, Viện công tố còn có một hình thức can thiệp thứ ba với vai trò là người đại diện cho các cơ quan nhà nước [15, tr. 149]. Tại Việt Nam, qua các thời kỳ khác nhau, mà VKS cũng có những vai trò khác nhau. Trước năm 2004, vai trò của VKSND trong lĩnh vực dân sự được mở rộng. Theo đó mà Kiểm sát viên phải tham gia tất cả các giai đoạn tố

23. 16 tụng giúp quá trình kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự được sâu rộng. Đến năm 2004, vai trò tham gia tố tụng của VKSND bị hạn chế đồng thời bỏ đi quyền khởi tố vụ án dân sự của VKSND. Trước yêu cầu của thực tiễn, từ các tranh chấp dân sự ngày càng gia tăng và phức tạp trong khi việc xét xử của Tòa án còn nhiều sai sót cần có cơ chế giám sát, kiểm tra, từ năm 2012 đến nay, vai trò của VKS trong tố tụng dân sự ở nước ta lại có những thay đổi theo hướng tăng cường. Từ đó, nhiệm vụ và quyền hạn của VKS cũng được bổ sung nhất định theo hướng VKS tham gia phiên tòa sơ thẩm trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật, đối với các phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự, phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì VKS phải tham gia toàn bộ. Như vậy, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự phụ thuộc vào vị trí, vai trò của VKS hay Viện Công tố trong tổ chức bộ máy nhà nước. Ở Việt Nam nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự phụ thuộc vào vị trí, vai trò của VKS trong tổ chức bộ máy nhà nước ở các giai đoạn lịch sử khác nhau. Do đó, khi xây dựng các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự hiện nay cần căn cứ vào chức năng của VKS trong Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức VKSND. 1.2.2. Xuất phát từ việc hài hòa nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân với quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Khác với pháp luật tố tụng hình sự giải quyết quan hệ giữa một bên là Nhà nước, đại diện cho lợi ích công và một bên là người phạm tội do đó, trong đó, VKS với vai trò đại diện Nhà nước ra cáo trạng buộc tội đối với bị cáo. Pháp luật tố tụng dân sự giải quyết những tranh chấp các lợi ích tư giữa các đương sự. Mục đích trực tiếp của pháp luật tố tụng dân sự là bảo vệ lợi ích tư của các đương sự nên một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự là trao quyền tự quyết cho đương sự – chủ thể của các lợi ích. Các chủ thể tiến hành tố tụng chỉ thực hiện các nhiệm vụ làm sáng tỏ vụ

24. 17 việc để giải quyết trên cơ sở pháp luật chứ không thay mặt cho đương sự quyết định những lợi ích của chính họ. Do đó, trong tố tụng dân sự quyền tự định đoạt của đương sự luôn được tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Việc tham gia tố tụng của VKS nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án được chính xác, khách quan, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nhưng không được hạn chế quyền tự định đoạt của đương sự. Mọi cá nhân có quyền tự mình lựa chọn những phương thức giải quyết tranh chấp dân sự miễn sao không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Những biện pháp giải quyết tranh chấp thay thế như hòa giải, thương lượng, trọng tài đều được khuyến khích. Trong trường hợp không thỏa mãn với những giải pháp đó, các chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong suốt quá trình tố tụng kể từ khi khởi kiện đến trước khi kết thúc phiên tòa, các đương sự có quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của mình. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền tranh tụng, việc thực hiện nguyên tắc này cũng có những ngoại lệ nhất định. Đó là trường hợp đương sự không được thay đổi, bổ sung yêu cầu nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu đó diễn ra tại phiên tòa mà vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Trong tố tụng dân sự, do quan hệ pháp luật dân sự đa dạng về nội dung, hình thức và chủ thể tham gia. Khi tham gia các quan hệ dân sự, các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ theo đúng những nội dung đã cam kết và quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi một trong các bên không tuân thủ các quy định pháp luật hoặc không tuân thủ thỏa thuận đã cam kết, xâm phạm đến lợi ích của bên kia thì bên bị vi phạm có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ. Do đó, khi xây dựng quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự như quyền khởi tố, kháng nghị, kiến nghị… phải xem xét đến quyền tự định đoạt của đương sự.

25. 18 1.2.3. Xuất phát từ thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án Số lượng các vụ việc dân sự mà ngành Tòa án thụ lý giải quyết ngày càng tăng (trong 3 năm 2011- 2013, số vụ việc dân sự mà toàn ngành thụ lý tăng từ 88.758 vụ việc lên 111.873 vụ việc [31]), tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa vẫn còn nhiều (năm 2013 đối với các vụ việc dân sự: Tòa án cấp phúc thẩm sửa 2.164 vụ án do cấp sơ thẩm sai; 864 vụ án do có tình tiết mới; hủy 1.424 vụ án do cấp sơ thẩm sai, 226 vụ án do có tình tiết mới; ở giai đoạn giám đốc thẩm đã hủy 805 bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới [31]. Điều đó cho thấy sai lầm trong việc giải quyết các vụ án dân sự vẫn còn tồn tại. Bên cạnh đó, không loại trừ khả năng còn có những bản án, quyết định của Tòa án có sai sót nhưng không bị phát hiện ra. Do đó, đòi hỏi phải có cơ chế kiểm tra, giám sát bản án, quyết định của Tòa án một cách có hiệu quả. Trong khi đó hiệu quả giám sát từ phía các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội còn hạn chế, trình độ hiểu biết pháp luật của người dân chưa cao (đặc biệt là một bộ phận người dân như người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần… luôn bị thua thiệt khi tham gia tố tụng) nên sự tham gia vào quá trình tố tụng dân sự của VKS vẫn cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Hơn nữa, về nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự là thuộc về các đương sự nhưng trong điều kiện thực tiễn Việt Nam, khi mà trình độ dân trí còn hạn chế, người dân còn gặp nhiều khó khăn để tự chứng minh bảo vệ quyền lợi của mình trước Tòa án thì họ phải yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ. Do đó, để đảm bảo tính khách quan trong hoạt động xét xử, đại diện VKS cần tham gia phiên tòa để kiểm sát chặt chẽ hoạt động xét xử của Tòa án. 1.3. KHÁI QUÁT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ 1.3.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện công tố (tiền thân của Viện kiểm sát nhân dân) trong tố tụng dân sự giai đoạn từ 1945 đến 1959 Ngay từ sau Cách mạng tháng Tám, để xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt văn bản pháp

26. 19 luật quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Pháp luật Nhà nước ta trong giai đoạn này quy định về vị trí, chức năng và nhiệm vụ của công tố viên trong tố tụng dân sự như sau: trong cuộc cải cách tư pháp ở nước ta lần đầu: Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 về tổ chức Tòa và các ngạch thẩm phán theo quy định thẩm phán được chia thành hai ngạch: sơ cấp và nhị cấp (trong đó, Thẩm phán ở ngạch đệ nhị cấp được chia thành hai loại: thẩm phán xét xử và thẩm phán buộc tội). Công tố viện lúc đó được ra đời ở Tòa thượng thẩm và chịu sự lãnh đạo của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, đứng đầu Công tố viện và chưởng lý. Cơ quan công tố không được thành lập ở tòa đệ nhị mà chỉ có cán bộ làm công tác biện lý. Trong giai đoạn này, Thẩm phán buộc tội đã hợp thành một bộ phận độc lập và chịu sự lãnh đạo của Chưởng lý. Khi tham gia phiên tòa, “Biện lý ngồi ghế Công tố viên”. Sắc lệnh số 7/SL ngày 15/01/1946 còn quy định: “Đứng buộc tội, tùy quyết nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sẽ là nhân viên của Công tố viện do Chưởng lý Tòa thượng thẩm chỉ định”. Theo quy định của Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 thì Công tố viện tham gia tố tụng dân sự dưới hình thức, đó là tham gia tố tụng đối với những vụ án dân sự với tư cách là người thi hành quyền công tố (Điều 22 Sắc lệnh) và khởi tố vụ án dân sự (đứng là Chánh tố – Điều 41 Sắc lệnh). Như vậy, công tố viện bước đầu được hình thành và nằm trong hệ thống của cơ quan Tòa án với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố Nhà nước. Công cuộc cải cách tư pháp lần thứ hai: bắt đầu vào năm 1950, công tố viện được đặt dưới sự điều khiển của Ủy ban kháng chiến hành chính. Trong giai đoạn này, Công tố viện nằm trong cơ cấu của cơ quan hành pháp, các đường lối phạm vi hoạt động, sự tham gia tố tụng của Công tố viện được mở rộng sang các vụ việc dân sự. Công cuộc cải cách tư pháp lần thứ ba: diễn ra vào năm 1958, đây là giai đoạn giao thời, quyết định cho việc chuyển Công tố viện thành VKSND,

29. 22 pháp luật này, sự tham gia tố tụng của VKSND trong tố tụng dân sự được mở rộng. Cụ thể quy định tại Điều 17 Luật tổ chức VKSND năm 1992: Khi thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự và những việc khác do pháp luật quy định, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1. Kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án, yêu cầu Tòa án nhân dân hoặc tự mình điều tra, xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ nhằm giải quyết đúng đắn vụ án; 2. Khởi tố những vụ án dân sự theo quy định của pháp luật, tham gia phiên tòa xét xử những vụ án mà Viện kiểm sát nhân dân đã khởi tố hoặc kháng nghị đối với những vụ án khác, Viện kiểm sát nhân dân có thể tham gia bất cứ giai đoạn nào nếu thấy cần thiết; 3. Yêu cầu Tòa án cùng cấp áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật; 4. Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự”. Như vậy, theo quy định của Luật tổ chức VKSND năm 1992 đã xác định rõ hơn các hình thức tham gia tố tụng dân sự của VKSND, đó là: khởi tố vụ kiện dân sự vì lợi ích chung; tham gia tố tụng đối với các vụ án dân sự; kháng nghị những bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Sau đó, Điều 1 Luật tổ chức VKSND năm 2002 ngày 02/4/2002 quy đinh: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật” [26]. Quy định này nhằm tăng cường và tập trung chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND, trong đó có hoạt động xét xử các vụ án dân sự, kinh tế và lao động.

30. 23 Khác với quy định trong Luật tổ chức VKSND năm 1992, khoản 3 Điều 21 Luật tổ chức VKSND năm 2002 xác định VKSND có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết đối với tất cả các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kink tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật ở tất cả các giai đoạn tố tụng, tham gia tất cả các phiên tòa xét xử các vụ án này ở Tòa án các cấp và phát biểu quan điểm cảu VKSND về việc giải quyết vụ án. Quy định như vậy nhằm tăng cường kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực dân sự, kink tế, lao động và thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp. 1.3.4. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay Công cuộc cải cách tư pháp song song với tiến trình phát triển xã hội, những quy định về tố tụng dân sự mới phù hợp với sự tiến bộ xã hội thay đổi những quy định tố tụng dân sự trước, BLTTDS có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2005. Trong đó, sự tham gia tố tụng của VKSND được quy định cụ thể tại Điều 21 BLTTDS: 1. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật; 2. Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa đối với những vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại, các việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, các vụ việc dân sự mà VKS kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án [27]. Bộ luật Tố tụng dân sự ra đời (tại Điều 21) đã giới hạn sự tham gia tố tụng của VKSND, đồng thời bỏ đi quyền khởi tố vụ án dân sự của VKSND. Về quyền khởi tố vụ án dân sự của VKSND: trước khi có Luật tổ chức VKSND năm 1960 và trước khi VKSND được thành lập thì pháp luật đã giao quyền này cho Công tố ủy viên và cho Viện công tố đảm nhân, điều này phù

31. 24 hợp nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp và phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp đặt ra. Vì chỉ có VKSND theo chức năng và nhiệm vụ được pháp luật quy định là kiểm sát các hoạt đông tư pháp, với đội ngũ cán bộ chuyên môn có kinh nghiệm phải đảm nhiệm trách nhiệm này là phù hợp mà không có tổ chức nào thay thế được. Mặt khác, VKSND khởi tố vụ án sẽ có điều kiện xác minh, thu thập chứng cứ để cung cấp cho Tòa án giải quyết vụ án kịp thời và thuận lợi, bảo vệ được lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích của công dân. Về việc tham gia phiên tòa của VKSND: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 quy định VKSND có quyền tham gia bất cứ giai đoạn nào nếu xét thấy cần thiết, còn Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định VKSND tham gia tất cả các phiên tòa, quy định này phù hợp với Hiến pháp và thực tiễn của nước ta, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp. Tuy nhiên, khi xem xét để quy định quyền hạn tham gia phiên tòa của VKSND đã có nhiều ý kiến tranh luận cho rằng VKSND tham gia tất cả phiên tòa ảnh hưởng đến nguyên tắc Tòa án xét xử độc lập chỉ tuân theo pháp luật, từ đó đã cho ra đời quy định như tại Điều 21 BLTTDS. Bên cạnh đó, hoạt động kiểm sát của VKSND còn được quy định tại Điều 38 BLTTDS quy định: “…quyết định nhập hoặc tách vụ án dân sự phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp” [27]; Điều 85 BLTTDS quy định: “…trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm” [27]; Điều 124 quy định: “…Viện kiểm sát có quyền kiến nghị Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời…” [27]. Với các quy định trên, pháp luật tố

32. 25 tụng dân sự Việt Nam cho phép VKSND thực hiện chức năng kiểm sát dân sự trong phạm vi luật định. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành BLTTDS năm 2004 trong thời gian qua cho thấy quy định của BLTTDS về tham gia tố tụng dân sự của VKSND trong tố tụng dân sự đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, chưa tạo điều kiện cho VKSND thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức VKSND. Do đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS 2004 được Quốc hội khóa XII thông qua, có hiệu lực từ ngày 01/01/2012 đã có những sửa đổi quan trọng về sự tham gia của VKSND trong tố tụng dân sự nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Cụ thể, tại Điều 21 Luật sửa đổi bổ sung theo hướng mở rộng phạm vi các trường hợp VKSND tham gia phiên tòa sơ thẩm, VKSND không chỉ tham gia các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án mà đương sự có khiếu nại về biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án mà VKS còn tham gia “…các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoạc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần” [28]. Ngoài ra, Điều 85 BLTTDS năm 2004 cũng được sửa đổi bổ sung theo hướng quy định: “…Viện kiểm sát có quyền yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng để đảm bảo cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm” [28]; Điều 170 quy định: “…trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định trả lời đơn khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Chánh án Tòa án, người khởi kiện có quyề khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết” [28]. Có thể thấy, so với Viện công tố các nước, nhiệm vụ và quyền hạn của VKSND khi tham gia tố tụng dân sự ở Việt Nam được quy định rộng hơn nhiều. Cụ thể là ngoài quyền tham gia tố tụng như Viện công tố các nước,

33. 26 VKSND còn được trao thêm các thẩm quyền đặc thù của một cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của TAND và những người tham gia tố tụng, quyền kháng nghị tất cả các bản án, quyết định dân sự của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. 1.4. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN hẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1.4.1. Quy định của pháp luật Liên bang Nga Viện kiểm sát Liên bang Nga là một cơ quan có vị trí độc lập riêng biệt với các cơ quan hành pháp và tư pháp [15, tr. 154]. Viện kiểm sát Liên bang Nga được xây dựng theo nguyên tắc “tập trung thống nhất” trên cơ sở các kiểm sát viên cấp dưới phải phục tùng các kiểm sát viên cấp trên và tất cả đều phục tùng Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga và nguyên tắc “hoàn toàn độc lập với các cơ quan, công dân, tổ chức”, theo đó các cơ quan thuộc VKS được “thực hiện các thẩm quyền của mình một cách độc lập với các cơ quan quyền lực của liên bang, của các chủ thể liên bang, của các chính quyền đia phương và các tổ chức xã hội” (Điều 1, Điều 4 Luật tổ chức VKSND Liên bang Nga). Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga do Hội đồng Liên bang (tương đương Thượng nghị viện) bổ nhiệm (với nhiệm kỳ 5 năm) và bãi nhiệm theo đề nghị của Tổng thống Liên bang Nga. Các Phó Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga do Hội đồng Liên bang bổ nhiêm, bãi nhiệm theo đề nghị của Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga [25, tr. 155]. Về hệ thống và cơ cấu tổ chức, VKS Liên bang Nga được tổ chức gắn liền với các đơn vị lãnh thổ hành chính, bao gồm: Tổng VKS Liên bang Nga, VKS của các chủ thể thuộc Liên bang Nga; VKS quân sự và các VKS chuyên môn tương đương với chúng; các Viện nghiên cứu khoa học, các trường đào tạo có tư cách pháp nhân; cũng như VKS các thành phố, quận, huyện, một số

34. 27 các VKS ở các địa phương, các VKS quân sự và một số VKS chuyên trách cùng cấp khác. Trong tố tụng dân sự, VKS Liên bang Nga có vị trí, vai trò tương đối đặc trưng. Tính đặc trưng này thể hiện ở chỗ: VKS không thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động xét xử vụ việc dân sự của Tòa án, VKS tham gia tố tụng để bảo đảm vị thế tối thượng của luật, củng cố và tăng cường tính thống nhất của pháp chế, đồng thời VKS hướng tới Tòa án như một phương tiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của những đối tượng mà sự vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp ấy có ảnh hưởng nghiêm trọng về phương diện xã hội. Không phai ngẫu nhiên mà tại khoản 3 Điều 1 và tại khoản 4 Điều 27 Luật tổ chức VKS Liên bang Nga có quy định: “Theo quy định của pháp luật tố tụng Liên bang Nga, các kiểm sát viên tham gia các phiên tòa xét xử của Tòa án, có quyền kháng án, các quyết định và các phán quyết khác của Tòa án có vi phạm pháp luật” [40]; Trong trường hợp việc vi phạm quyền tự do và các quyền khác của con người và của một công dân nói chung được bảo vệ theo trình tự tố tụng dân sự, khi người bị hại vì lý do sức khỏe hay vì tuổi tác đã cao hay do một số nguyên nhân khác không tự bảo vệ quyền lợi trước phiên tòa hoặc khi vi phạm quyền tự do và các quyền khác của nhiều công dân hoặc khi mà trong một số tình huống đặc biệt khác nếu việc vi phạm có ảnh hưởng nghiêm trọng về phương diện xã hội, thì kiểm sát viên khởi kiện vụ án dân sự đến Tòa án và trong các phiên tòa ấy, kiểm sát viên sẽ bảo vệ lợi ích cho người bị hại [40]. Cụ thể hóa quy định tại khoản 3 Điều 1, khoản 4 Điều 27 Luật tổ chức VKSND Liên bang Nga, tại Điều 45 BLTTDS Liên bang Nga đã quy định: 1. Kiểm sát viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền tự do và lợi ích hợp pháp của công dân, của tập hợp người

36. 29 đi ở nơi khác, yêu cầu khôi phục việc làm, yêu cầu bồi thường thiệt hại do bị xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe. Ngoài ra, kiểm sát viên còn tham gia và phát biểu kết luận về vụ án trong những trường hợp khác do Bộ luật này và luật liên bang quy định. Ví dụ. theo quy định của BLTTDS Liên bang Nga, kiểm sát viên còn có quyền tham gia phiên tòa và phát biểu kết luận đối với những vụ án như: giải quyết đơn yêu cầu bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật (Điều 252); giải quyết đơn yêu cầu bảo vệ quyền bầu cử và quyền tham gia trưng cầu dân ý của công dân Liên bang Nga (Điều 260)… Tuy nhiên, cần lưu ý là, dù tham gia tố tụng dân sự dưới hình thức nào thì việc tham gia của kiểm sát viên không phải là để bảo vệ lợi ích của riêng VKS không phải là để bảo vệ lợi ích của riêng VKS mà nhân danh Liên bang Nga và vì lợi ích của luật để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng cũng như lợi ích của một số người khác và của tập hợp người không xác định, vì lợi ích của những người này cũng có tính chất công và mang ý nghĩa xã hội. Cùng với sự tham gia của kiểm sát viên trong tố tụng hình sự, sự tham gia của kiểm sát viên trong tố tụng dân sự là sự tiếp tục khẳng định những mục đích hoạt động của VKS Liên bang Nga là “bảo đảm tính tối cao của luật pháp, củng cố và tăng cường tính thống nhất của pháp chế, bảo vệ quyền tự do và các quyền khác của con người và của công dân, cũng như các lợi ích của xã hội và Nhà nước được luật pháp bảo vệ” (khoản 2 Điều 1 Luật tổ chức VKSND Liên bang Nga). Vị trí của kiểm sát viên khi tham gia tố tụng dân sự: – Vị trí của kiểm sát viên khi tham gia tố tụng dân sự với tư cách là người “châm ngòi”, người khởi động các thủ tục xét xử sơ thẩm: “Khi khởi kiện kiểm sát viên có quyền và nghĩa vụ tố tụng như nguyên đơn, trừ quyền hòa giải và nghĩa vụ trả lệ phí. Trong trường hợp kiểm sát viên rút đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích của người khác thì việc giải quyết vụ án vẫn tiếp tục nếu nguyên đơn hoặc người đại diện của nguyên đơn

37. 30 không rút đơn khởi kiện. Trong trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện, Tòa án đình chỉ vụ án nếu điều đó là không trái pháp luật hoặc không vi phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người khác”. – Vị trí của VKS viên khi tham gia vào tiến trình tố tụng (do người khác khởi kiện) và phát biểu kết luận đối với vụ án: khi tham gia vào tiến trình tố tụng (do người khác khởi kiện) và phát biểu kết luận đối với vụ án, kiểm sát viên là người nhân danh Liên bang Nga và vì lợi ích của luật để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích xã hội. – Về vị trí, vai trò VKS Liên bang Nga trong giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định mới của BLTTDS Liên bang Nga, VKS Liên bang Nga không thực hiện thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm như trước đây nữa. Thay vào đó, Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga, Phó tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga, kiểm sát trưởng các cấp và cấp phó của họ chỉ có quyền đưa ra văn bản đề nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với những trưởng hợp có kiểm sát viên tham gia tố tụng tại phiên tòa dưới hai hình thức nêu trên. Đứng về mặt tố tụng, quyền đề nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của VKS có “vị trí” pháp lý tương đương với quyền kháng cáo phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của các bên đương sự. Và vì thể, cũng giống như đơn kháng cáo giám đốc thẩm, tái thẩm của đương sự, đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm của VKS không đương nhiên dẫn tới việc mở phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm mà phải trải qua một thủ tục tố tụng “riêng và đặc biệt” do Tòa án cấp giám đốc thẩm tiến hành nhằm kiểm tra, xem xét việc kháng cáo giám đốc thẩm, tái thẩm hay việc đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đó có cơ sở hay không rồi mới quyết định việc mở phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm. Về căn cứ đề nghị giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, theo quy định tại Điều 387 BLTTDS Liên bang Nga, VKS có thể đề nghị giám đốc thẩm trong trường hợp có những vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nội dung hoặc pháp luật tố tụng.

38. 31 1.4.2. Quy định của pháp luật Cộng hòa Pháp Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Công tố Pháp trong tố tụng dân sự chủ yếu được quy định trong Bộ luật tổ chức Tòa án Pháp năm 1958, Bộ luật Dân sự (BLDS) Pháp và BLTTDS Pháp (BLDS Pháp được ban hành lần đầu năm 1804, BLTTDS Pháp được ban hành lần đầu năm 1806, cả hai bộ luật này đang có hiệu lực thi hành và được sửa đổi, bổ sung nhiều lần cho đến ngày hôm nay). Theo quy định của các văn bản luật thì Viện công tố Pháp có thể tham gia vào việc giải quyết các vụ việc dân sự (theo nghĩa rộng) với tư cách là đại diện cho lợi ích chung, bảo đảm sự tuân thủ pháp luật và bảo vệ trật tự công [15]. BLTTDS Pháp quy định: “Viện công tố có thể tham gia tố tụng như một bên đương sự chính hoặc tiến hành tố tụng để bảo đảm việc tuân thủ pháp luật. Viện công tố đại diện cho người khác trong những trường hợp pháp luật quy định” [16, Điều 421]. “Viện công tố chủ động tham gia tố tụng trong những trường hợp do pháp luật quy định” [16, Điều 422]; và “Ngoài những trường hợp đó, Viện Công tố có quyền can thiệp để bảo vệ trật tự công khi có những hành vi xâm phạm trật tự công” [16, Điều 423]. Trong tố tụng dân sự, theo quy định của BLDS Pháp và BLTTDS Pháp, Viện Công tố có thể tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc với hai tư cách: thứ nhất, với vai trò đại diện cho lợi ích chung, bảo vệ trật tự công, Viện công tố Pháp tham gia tố tụng với tư cách là bên chính tố (tức với tư cách như một bên đương sự chính, mà theo cách gọi theo tố tụng dân sự Việt Nam là tư cách người tham gia tố tụng); thứ hai, với vai trò bảo đảm sự tuân thủ pháp luật, vì lợi ích của luật, Viện công tố Pháp tham gia tố tụng với tư cách là bên phụ tố (mà theo cách gọi của ta là cơ quan tiến hành tố tụng hoặc người tiến hành tố tụng). Với tư cách là bên chính tố (như một bên đương sự), Viện công tố có thể tự mình khởi kiện (khởi tố) vụ án dân sự hoặc tham gia tố tụng với tư cách bị đơn đại diện cho Nhà nước khi bị kiện. Trong trường hợp này, Viện công tố là một bên đương sự thông thường trong vụ án dân sự và có đầy đủ quyền,

40. 33 Về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phá án (giám đốc thẩm) của Viện công tố trong tố tụng dân sự, tại Điều 618-1 BLTTDS Pháp quy định: Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa Phá án có quyền kháng nghị phá án (giám đốc thẩm) trước Tòa Phá án vì lợi ích của luật và yêu cầu Viện Công tố bên cạnh Tòa án đã ra bản tống đạt kháng nghị của Viện công tố bằng thư bảo đảm có yêu cầu xác nhận. Thời hạn kháng nghị phá án (giám đốc thẩm) theo quy định tại Điều 612 BLTTDS Pháp là hai tháng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đối với những bản án xét xử vắng mặt thì thời hạn kháng nghị phá án (giám đốc thẩm) tính từ ngày hết hạn kháng nghị án vắng mặt. Về căn cứ kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phá án (giám đốc thẩm). BLTTDS Pháp không đưa ra một giới hạn chặt chẽ mà chỉ quy định một cách chung chung là:”Tòa Phá án có thể giám đốc bản án chung thẩm bị kháng cáo, kháng nghị vì đã xét xử không đúng pháp luật”. Do đó, quyền tùy nghi của Tòa Phá án trong việc chấp nhận hoặc bác kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phá án (giám đốc thẩm) là rất lớn: Tòa Phá án có thể bác kháng cáo, kháng nghị vì đơn không có đầy đủ căn cứ pháp luật, có thể bác kháng cáo, kháng nghị vì căn cứ trong đơn đưa ra không thỏa đáng hoặc thậm chí cũng có thể chấp nhận kháng cáo, kháng nghị căn cứ vào một lý lẽ pháp lý thuần túy do Tòa Phá án tự nêu ra (Điều 620 Bộ luật). 1.4.3. Quy định của pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Trong tố tụng dân sự, VKS Trung Quốc có những nhiệm vụ, quyền hạn như sau [15]: Thứ nhất, nhân danh lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng để khởi kiện vụ án dân sự. Theo quy định tại Điều 77, 78 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc và theo hướng dẫn của Bản giải thích của TANDTC Trung Quốc “Về một số vấn đề chấp hành Luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, nếu tài sản quốc gia, tài sản tập thể bị thiệt hại do hành vi vi phạm tội gây nên, mà cơ quan, tổ chức bị thiệt hại không tự đề xuất khởi kiện dân sự,

42. 35 đối với cơ quan VKS, không có quy định cụ thể về chức danh của những người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm. Điều này có thể hiểu trong tố tụng dân sự Trung Quốc, không chỉ Viện trưởng, Phó Viện trưởng mà có thể cả Kiểm sát viên cũng có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Trong Chương 1, tác giả đã tập trung phân tích, luận giải một số vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự như khái niệm, đặc điểm, cơ sở xác định nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự. Việc nghiên cứu những vấn đề lý luận nêu trên giúp luận giải được vai trò của VKSND trong tố tụng dân sự, từ đó rút ra được nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan này trong từng giai đoạn tố tụng. Trong chương này, tác giả cũng đã phân tích làm rõ được nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự qua các thời kỳ và tham khảo kinh nghiệm một số nước trên thế giới. Có thể thấy rằng, qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, pháp luật quy định vai trò của VKS trong tố tụng dân sự khác nhau từ đó mà nhiệm vụ, quyền hạn của VKS được mở rộng hay thu hẹp theo quan niệm lập pháp của từng thời kỳ song đều được quy định tương đối rõ ràng, cụ thể. Với những nội dung được trình bày ở Chương 1 sẽ là cơ sở, tiền đề cho việc phân tích, đánh giá luật thực định, thực tiễn về các quy định nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự và đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định này.

43. 36 Chương 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 2.1. NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRƯỚC KHI THỤ LÝ VÀ cHUẨN BỊ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ 2.1.1. Kiểm sát việc thụ lý vụ việc dân sự Hoạt động đầu tiên của VKS trong giai đoạn này là hoạt động kiểm sát việc thụ lý vụ việc dân sự của TAND. Kiểm sát thụ lý vụ việc dân sự là kiểm sát đối với hoạt động tố tụng dân sự đầu tiên của Tòa án. Nhiệm vụ của VKSND trong hoạt động này là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động thụ lý vụ việc dân sự của Tòa án, bảo đảm việc thụ lý được thực hiện theo các quy định của pháp luật. Hoạt động kiểm sát việc thụ lý của VKS có ý nghĩa rất quan trọng. Nếu làm tốt công tác kiểm sát ngay từ khi thụ lý vụ việc dân sự sẽ có nhiều tác dụng như: góp phần đảm bảo cho quá trình thụ lý giải quyết vụ việc của Tòa án được chính xác ngay từ đầu; tạo quan hệ tích cực chặt chẽ giữa VKS và Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự; tạo sự chủ động và là tiền đề cho kiểm sát viên nhanh chóng nắm bắt nội dung, vấn đề cơ bản của vụ việc dân sự; đồng thời chủ động phòng ngừa, góp phần hạn chế đến mức thấp nhất các sai lầm có thể xảy ra ngay từ thời điểm bắt đầu các hoạt động tố tụng dân sự. Vì vậy, việc phát hiện kịp thời việc thụ lý vụ việc sai còn tránh được tình trạng phải tiến hành các thủ tục tố tụng kéo dài, không cần thiết; tiết kiệm được thời gian, tiền của, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự. Tại khoản 1 Điều 21 Luật tổ chức VKSND năm 2002 có quy định khi kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, VKSND có