Đặc Trưng Văn Học Cho Thiếu Nhi Từ Góc Độ Tiếp Nhận

--- Bài mới hơn ---

  • Tuần 31. Văn Bản Văn Học
  • Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • ‘văn Học Thiếu Nhi’ Và Một Vài Ghi Chú Bên Lề
  • Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Cần Phát Huy Đầy Đủ Chức Năng Xã Hội Của Văn Học Nghệ Thuật
  • 1. Mỹ học tiếp nhận và con đường tiếp cận văn học cho thiếu nhi

    Lấy việc nghiên cứu sự tiếp nhận của bạn đọc làm trung tâm, Mỹ học tiếp nhận (Receptive esthetic) ra đời làm cho vai trò của bạn đọc thực sự lên ngôi trong đời sống văn học. Mặc dù đôi lúc cực đoan, tuyệt đối hoá vai trò của bạn đọc đối với đời sống văn học nói chung, nhưng những thành tựu của Mỹ học tiếp nhận đã gợi ý rất nhiều đối với nghiên cứu văn học cho thiếu nhi.

    Theo Réne Wellek và O. Warren, cách tiếp cận văn học từ hiện thực khách quanhoặc từ chủ quan của nhà văn, hoặc kết hợp cả hai đều chỉ là ” lối nghiên cứu bên ngoài“. Họ đề xuất lấy văn bản làm trung tâm, đi sâu khám phá tính văn học của nó mới thực sự là ” lốinghiên cứu bên trong “. Tư tưởng này là hạt nhân của Chủ nghĩa cấu trúc phát triển mạnh suốt nửa đầu thế kỷ 20. Đến lượt Mỹ học tiếp nhận của trường phái Konstanz (Đức) vào giữa những năm 60 lại cho rằng, vấn đề không phải ở cấu trúc tinh vi tự sinh nghĩa của văn bản hay ngôn từ nghệ thuật mà khả năng của bạn đọc đã tiếp nhận nó ra sao. Tư tưởng này đã đột phá vào thói quen xem hoạt đông sáng tạo của nghệ sỹ hay sự tồn tại của tác phẩm là tất cả trong nghiên cứu văn học. Gạt bỏ những gì cực đoan của Mỹ học tiếp nhận, đến lúc nghiên cứu văn học cần phải thấy rằng, tiếp nhận cũng là một trong những khâu thenchốt của đời sống văn học.

    Trước tiên, theo Hans Robert Jauss, lịch sử văn học phải là lịch sử tiếp nhận. Bởi vì, cách làm xưa nay, đem những hiện tượng văn học trong đó, chủ yếu là tác giả và tác phẩm sắp xếp theo trình tự thời gian và đánh giá một cách chủ quan, thực ra ” không phải là lịch sử, mà là nguỵ lịch sử. Bất cứ ai, nếu xem hàng loạt sự thực này là một phần của lịch sử văn học thì họ đã lẫn lộn đặc điểm quan trọng của tác phẩm nghệ thuật với sự thực lịch sử “. Ông đưa ra khái niệm ” tầm đón” với hàm nghĩa bao quát về mọi khả năng tiếp nhận văn học của bạn đọc: nhu cầu, trình độ thưởng thức kết tinh từ kinh nghiệm sống, hứng thú và lý tưởng thẩm mỹ của từng cá nhân. Tầm đón trở thành lăng kính khúc xạ toàn bộ ý đồ của nghệ sỹ. Tuy nhiên đó không phải là kết quả của hoạt động tiếp nhận. Bởi lẽ, tầm đón chỉ là cái vốn có trước khi đọc, còn sự tiếp nhận cụ thể lại là sự tương tác giữa tầm đón với tác phẩm. Vì thế tầm đón không đứng yên mà vận động theo quá trình đọc. Ngược lại ý nghĩa của tác phẩm cũng thay đổi theo từng tầm đón cụ thể. H.R.Jauss gọi đó là ” sự dung hợp tầm nhìn “. Đối với văn học cho thiếu nhi, rõ ràng chỉ khi nào có sự dung hợp giữa văn bản tác phẩm với tầm đón của trẻ em mới có tác phẩm cho thiếu nhi đích thực.

    Wolfgang Iser, một đại diện khác của Mỹ học tiếp nhận, còn đưa ra những khái niệm quan trọng như “điểm trắng”, “điểm chưa định”, hay “khoảng trống” của văn bản nghệ thuật giành chỗ cho trí tưởng tượng của người đọc. ” Chúng ta chỉ có thể muốn thấy những chỗ không có trong văn bản, những thành phần viết ra trong văn bản sẽ cho chúng ta tri thức, nhưng chỉ có những thành phần không viết ra mới cho chúng ta cơ hội muốn thấy được sự thực. Quả vậy, không có những thành phần chưa xác định , những chỗ trống trong văn bản, chúng ta không thể phát huy trí tưởng tượng“. Cho đến nay, tiếp nhận văn học vẫn còn là vấn đề thời sự, con đường nghiên cứu tiếp nhận vẫn còn đang mở ra ở phía trước. Những gì Mỹ học tiếp nhận đã đặt ra có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu văn học cho thiếu nhi, nhưng đi vào cụ thể lại là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp.

    Mỹ học tiếp nhận đặt vấn đề nghiên cứu bạn đọc để tìm thấy sự thực tồn tại của tác phẩm văn học trong đời sống văn học, nhưng đây lại là vấn đề lý tưởng. Bởi lẽ, chỉ có thể nhìn bạn đọc trên cơ sở những quy luật chung nhất của hoạt động đọc chứ không thể tìm ra những chứng lý cụ thể của mọi bạn đọc ở mọi thời đại. Với văn học nói chung, nghiên cứu văn học còn tìm thấy bạn đọc ưu tú qua phê bình văn học, trong khi đó, bạn đọc thiếu nhi là cả một khoảng trống. Nếu dùng phương pháp thực chứng hay trắc nghiệm xã hội học văn học thì cũng chỉkhảo sát được thế hệ trẻ em hiện tại. Ở đây chúng ta chỉ có thể dựa trên những nền tảng của tâm lý học trẻ em kết hợp với những kinh nghiệm mỹ cảm để suy luận mà thôi.

    Thực ra, thời cổ có hai thành phần trẻ em:trẻ em của tầng lớp quý tộc và trẻ em của người dân lao động. Nền giáo dục văn chương cử tử trên kia chủ yếu giành cho trẻ em thuộc tầng lớp trên, trừ một ít con em lao động ở hàng xuất chúng. Nền giáo dục giáo điều có ưu thế là tạo ra những con người tuyệt đối trung thành với lý tưởng của thời đại. Nên nhớ quan niệm về đối tượng thế nào sẽ tạo ra thành phẩm thế ấy, còn đúng sai lại là chuyện khác. Chỉ biết rằng, nền giáo dục phong kiến thiên về lý trí hơn là cảm xúc, trẻ em ngày xưa hiểu biết về quá khứ nhiều hơn là định hướng vào tương lai. Riêng trẻ em của tầng lớp lao động chịu nhiều thiệt thòi, nhưng rất may chúng có một nền giáo dục dân gian thay bằng những quy phạm trường ốc. Tất nhiên giáo dục dân gian chỉ là kinh nghiệm tự phát qua con đường của ca dao, tục ngữ, truyện cổ… Dù thế nào đi nữa thì cả cái thời xưa ấy văn chương gần như gắn liền với đạo đức. Người kể chuyện dân gian có khi chưa biết cái tôn chỉ ” văn dĩ tải đạo “, nhưng thế nào đằng sau lời kể cũng là những lời giáo huấn, trẻ em bị bó buộc thành công cụ của những lời giáo huấn ấy. Tâm hồn, mỹ cảm của con trẻ ngây thơ hầu như chưa được phát huy một cách đầy đủ.

    Sau thời Phục hưng cho đến đầu thế kỷ 20, ở phương Tây xuất hiện một số quan niệm về trẻ em dù chưa được đặt ra như là đối tượngnghiên cứu chính. Schiller trong sách ” Mỹ cảm giáo dục giản yếu” đem học thuyết của Kant ra phát huy, xem hoạt động chơi đùa của trẻ em hôm nay chẳng khác người nguyên thuỷ ngày xưa trong lao động nghệ thuật, dẫn đến suy luận nguồn gốc của nghệ thuật là chơi đùa và đồng nhất nghệ thuật với sự phát tiết tinh lực thặng dư . Chủ trương dùng nghệ thuật để giải phóng sinh lực thừa tránh những ức chế của vô thức bản năng chỉ là cái nhìn phiến diện, coi thường những tác động lớn lao khác của văn học.

    Đưa ra vấn đề lịch sử quan niệm về trẻ em để thấy rằng, trong thực tế, quan niệm về trẻ em thế nào sẽ nảy sinh ra một kiểu văn học cho trẻ em thế ấy. Không phải không có lịch sử văn học cho trẻ em mà cần phải thấy, trong lịch sử, trẻ em đã từng phải đọc những sách gì. Cho trẻ em đọc sách gì là việc của người lớn, nhưng vấn đề cần quan tâm là trẻ em phải thích và tác dụng của nó đối với sự phát triển tâm hồn, trí tuệ trẻ em.

    Những năm 20 của thế kỷ 20, Tâm lý học mới có cái nhìntương đối hoàn chỉnh về trẻ em bằng những thực nghiệm nghiêm túc. Các công trình của T.V. Zancôp, L.X. Vưgôtxki, D.B.Elconin, V.V. Davưdôp… cho ta có cái nhìn trẻ em hoàn toàn mới mẻ:

    -Trẻ em luôn luôn là trẻ em, khôngphải là người nguyên thuỷ cũng chẳng phải như người lớn chưa hiểu biết, cũng không thuần tuý là sinh vật sống bằng bản năng vô thức. Trẻ em là con người đúng nghĩa ở khái niệm “trẻ em” : con người ở giai đoạn mới sinh sôi phát triển và là thế hệ tiếp tục cho sự sống tương lai.

    -Trẻ em không phảilà hiện tượng ổn định bất biến mà là sản phẩm mang tính lịch sử. Mỗi thế hệ trẻ em ra đời là một sản phẩm của thời đại và mỗi giai đoạn phát triển là mỗi xu hướng vận động khác nhau. Vì thế không thể đồng nhất trẻ em hôm nay với trẻ em ngày xưa, nhập cục các lứa tuổi trẻ em làm một.

    -Trẻ em là giai đoạn khởi đầu của một đời người, cho nên khả năng bỏ ngo rất lớn .

    Văn học trẻ em phải lấy trẻ em làm trung tâm. Hiểu không đúng về trẻ em, hoặc không có văn học cho trẻ em đúng nghĩa của nó, hoặc chỉ là một thứ văn học giả danh nghệ thuật kìm hãm, bức chế tinh thần trẻ em, hoặc kích thích những khả năng phi nhân tính, phi thẩm mỹ ở con trẻ.

    Thực tế, trẻ em đến với văn học phải bằng con đường tự nguyện, tất nhiên phải có định hướng của người lớn. Sự tự nguyện bao giờ cũng tạo nên sở thích thẩm mỹ đích thực trong quá trình đọc và học văn. Tuy nhiên những gì trẻ em thích chưa chắc đã đúng, nhưng có thích thì cái đúng mới có sức thuyết phục. Vì thế người làm văn học phải tính đến mọi nhu cầu của các em:

    -Nhu cầubộc lộ cá tính và hình thành nhân cách. Bất cứ đứa trẻ nào cũng tiềm ẩn một cái riêng để chứng tỏ sự tồn tại cá thể của mình, nhưng mặt khác lại khát khao được trưởng thành để hoà nhập vào cuộc sống chung. Trẻ em đến với văn học như là tìm đến một sự giúp đỡ cho cuộc hoà giải giữa hai mặt mâu thuẫn ấy.

    -Nhu cầu được vui chơi, giải trí ngay trong tác phẩm văn chương. Chính nhu cầu này giải toả những uẩn ức tâm sinh lý của trẻ em dưới những áp lực thường ngày của cuộc sống. Vui chơi cũng là cách tốt nhất để trẻ em giữ được những cảm xúc thẩm mỹ: hồn nhiên, vô tư, trong sáng.

    -Nhu cầu được giãi bày tình cảm, ước mơ khát vọng. Trẻ em vốn rất nhạy cảm, yêu thương, hờn giận bất chợt mà thế giới văn học như cái cớ để chúng nhìn thấy chính mình. Đây cũng là cái tuổi trí tưởng tượng phát triển mạnh nhất, tâm hồn, lãng mạn thăng hoa bay bổng nhất để thoát khỏi những ràng buộc của đời thường chật hẹp.

    -Nhu cầu được khám phá để hiểu biết. Bộ não của trẻ thơ có đầy đủ tố chất như một sinh thể hoàn chỉnh, nhưng là khoảng trống vô tận về thông tin. Những thông tin đơn điệu dễ thành nhàm chán và ghi nhận một cách mờ nhạt. Chúng cần cái lạ, cái ly kỳ, ấn tượng để củng cố trí nhớ, và tự xây dựng cho mình hệ thống biểu tượng, thần tượng.

    Còn biết bao nhu cầu khác, nhưng văn học cho thiếu nhi đúng nghĩa phải thoả mãn ít nhất những nhu cầu cơ bản ấy. Thoã mãn những nhu cầu ấy, tự thân văn học đã đi vào tầm đón nhận của trẻ em. Muốn thế, người làm văn học phải thực sự hiểu trẻ em, sống với trẻ em và hơn nữa phải có cả một chiến lược chọn sách, viết sách cho trẻ em. Đại văn hào A.M. Gorki bao giờ cũng xem trẻ em như ” những chủ nhân của thế giới“, ” những người thừa kế toàn bộ sự nghiệp vĩ đại của nhân loại”. Từ năm 1910, tại hội nghị Brucxen, Gorki đã phát biểu: ” Con đường dành cho thiếu nhi, những người kế thừa toàn bộ sự nghiệp vĩ đại của nhân loại, là dẫn các em đến tương lai, dạy các em biết kính trọng và đánh giá quá khư ” . Tuy nhiên, với văn học nói chung, sự thanh lọc hình thành sau ” các dãy cảm xúc đối nghịch“, là mục tiêu của xúc cảm thẩm mỹ. Còn với văn học cho trẻ em, sự thanh lọc phải xuất hiện ngay trong đối tượng được miêu tả, nó trở thành bản chất của thế giới hình tượng. Nếu không văn học sẽ như con dao hai lưỡi, trẻ em chưa đủ sức tự mình điều chỉnh phản xạ tâm lý và những hành vi nguy hại có thê xảy ra. Những cám dỗ đời thường, những đề tài phức tạp như tình yêu và thù hận, nếu nghệ sỹ không khéo xử lý trong cấu trúc hình tượng, tác phẩm có thể giết chết sự hồn nhiên, vô tư, trong sáng của trẻ em. Ơ thế giới hiện đại, ít ai còn nghi ngờ trẻ em về những cảm xúc của tình yêu đôi lứa. Một thời đây là vấn đề cấm kỵ, nhưng những gì Frued nói không phải không được chứng thực trong đời sống. Vấn đề là tình yêu của con trẻ khác với chúng ta thế nào. Chính nhà văn bậc thầy Andecxen đã xử lý rất khéo trong câu chuyện Chú lính chì dũng cảm. Tình yêu của chú lính chì một chân với cô nàng vũ nữ xuất phát từ tình cảm đồng thân phận, bởi vì trong cái nhìn của chú, cô nàng hình như cũng chỉ có một chân như mình. Tình yêu mang lại cho chú sức mạnh để chiến thắng số mệnh, chiến thắng thử thách. Chú cũng có những nhớ nhung, khao khát như bao nhiêu người đang yêu khác, nhưng mọi thứ cảm xúc ấy đều trong sáng hồn nhiên đến vô tâm. Andecxen tạo nên một hình ảnh đẹp đầy chất thơ của tình yêu con trẻ: Chú lính chì không biến mất giữa biển cả mênh mông của thử thách, chú trở về bằng sự chiến thắng của lòng dũng cảm và tình yêu, chú không đau đớn trước ngọn lửa của sự huỷ diệt, hình hài chú lính chì và nàng vũ nữ của một thứ trò chơi dễ bị lãng quên hoá thân làm một và kết tinh thành trái tim yêu bất diệt đeo trước ngực người. Nhà văn có tài năng đích thực thường không ngại bất cứ đề tài phức tạp nào, nhưng xử lý một cách hợp lý cho con trẻ là một vấn đề tinh tế cần suy nghĩ.

    Vui đùa, giải trí là phương tiện quan trọng để trẻ em giữ được bản chất hồn nhiên, vô tư, trong sáng, hơn nữa nó không làm cho các nội dung phức tạp của đời sống quá ngưỡng tiếp nhận của trẻ em. Muốn thế, người sáng tác phải biết pha trò dí dỏm trong cấu trúc hình tượng, tình huống, ngôn ngữ… M. Gorki nói nhiều về chức năng giáo dục của văn học xô viết, nhưng rốt cuộc ông cũng phải thừa nhận vui cười, thú vị là một nét căn bản của văn học cho thiếu nhi. ” Về mặt sư phạm mà nói, cái khuynh hướng đó như một phương tiện, như một sự bảo đảm chống đối lại tính chất nguy hiểm làm cho trẻ con khô khan bởi tính nghiêm nghị…”, bởi lẽ nó chỉ là sản phẩm của những ảo giác ngây thơ ” ngày xửa, ngày xưa ” của loài người. Điều đó đúng ở sáng tác văn học cho người lớn, còn văn học cho thiếu nhi thì không. Ngày nào thế giới này còn trẻ thơ, những yếu tố ấy còn cần thiết cho sáng tác. Chúng ta không sợ trẻ em hiểu sai lạc thế giới xung quanh chúng ta, mà có khi qua những yếu tố hoang đường kỳ dị ấy, chúng càng hiểu sâu hơn những cái bình thường. Trẻ em đọc sách khoa học biết tổ tiên của loài người là vượn, nhưng nói người Việt chúng ta con Rồng cháu Tiên cùng sinh ra trong cái bọc trăm trứng, vấn đề đưa ra chẳng mang lại ý nghĩa sâu sắc hơn sao. Có điều đối với văn học cho thiếu nhi hiện đại, người viết phải tinh tế trong việc tạo ngưỡng cho những kích đông qua những yếu tố ly kỳ, ấn tượng. Người viết lại truyện cổ chẳng hạn, không thể xoá bỏ hẳn yếu tố hoang đường như một vấn đề thi pháp đặc trưng, mà biết tạo nên tính hợp lý cho những cái phi lý. Cường điệu quá mức những cái kỳ dịđến rùng rợn rất dễ biến những kích động tích cực thành tiêu cực, thậm chí gây những cú sốc tâm lý nguy hiểm.

    Khi nói về nghệ thuật sử thi, giải thích vì sao trẻ em thích, M. Gorki nói: ” Bản chất của trẻ em đặc biệt là ham thích những cái gì chói lọi phi thường “[6,tr55]. Thiên tính ấy thể hiện rất rõ tinh thần hướng thiện và cao cả của trẻ em. Đừng sợ quá nhiều những yếu tố ly kỳ sẽ làm cho trẻ em nghi ngờ những chân lý khoa học, hay sợ hãi cái thế giới phức tạp của chúng ta. Ngược lại, chính những nhân tố ấy lại có khả năng kích thích trí tưởng tượng của trẻ thơ, đưa trẻ thơ du hành vào những thế giới mới mẻ giàu ý nghĩa hơn những cái đời thường tẻ nhạt.

    Trẻ em có thể đọc được tác phẩm của chính mình chứ không phải bao giờ cũng đọc được tác phẩm của người lớn. Người lớn sáng tác cho trẻ em phải thực hiện cả một cuc hoà giải giữa cảm quan của mình với tâm hồn của trẻ thơ. Đây là đặc điểm quan trọng bậc nhất, đê văn học, một mặt lấy trẻ em làm đối tượng phản ánh, phục vụ cho nhu cầu, quyền lợi của chúng, mặt khác nâng đời sống tinh thần của trẻ em hướng đến nh ững lý tưởng lớn lao của cả nhân loại. Đặc điểm này chi phối toàn bộ nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn học cho thiếu nhi: hồn nhiên và trong sáng, lãng mạn và thơ mộng, ly kỳ và ấn tượng. Văn học cho thiếu nhi không đối lập một cách tuyệt đối với văn học cho người lớn, nhưng ít ra nó cũng có những dấu hiệu đặc thù.

    (Nguồn: Văn học cho thiếu nhi, 2003)

    1. Phương Lựu – Mười trường phái lý luận văn học phương Tây đương đại – Nxb Giáo dục,1999.

    2. Chu Quang Tiềm- Tâm lý văn nghệ- Nxb TP Hồ Chí Minh,1991.

    3. Anna Frued – Tâm lý trẻ em hiểu theo phân tâm học- Nguyễn Khắc Viện biên soạn và dịch – Nxb Khoa học xã hội, TT NC tâm lý Trẻ em, 1991.

    4. Theo Bùi Văn Huệ – Tâm lý học tiểu học – Nxb Giáo dục, 1997.

    5. Hồ Ngọc Đại – Bài học là gì? – Nxb Giáo dục, Hà nội, 1995.

    6. Nhiều tác giả- Kinh nghiệm viết cho các em – Nxb Văn học, 1960.

    7. Mai Văn Hai – Nghĩ và viết cho các em – TCVH , 5/ 1993.

    8. Võ Quảng – Đến với các em như thế nào – Văn nghệ, 449/ 1973.

    9. L.X. Vưgôtxki – Tâm lý học nghệ thuật- Nxb KHXH, Trường viết văn Nguyễn Du, 1995.

    10. Nhiều tác giả – Bàn về văn học thiếu nhi – Nxb Kim Đồng, 1983.

    11. M. Bakhtin – Lý luận và thi pháp tiểu thuyết – Trường viết văn Nguyễn Du, 1992.

    12.V. Shklovski – Nghệ thuật như là thủ pháp – Nxb Hội nhà văn , 2001.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Yếu Tố Làm Nên Sức Hấp Dẫn Của Văn Học Thiếu Nhi
  • Văn Học Dân Gian Là Gì?
  • Những Đặc Trưng Của Văn Học Dân Gian
  • Tính Nguyên Hợp Và Tính Đa Chức Năng Của Văn Học Dân Gian
  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết Trong Lịch Sử Văn Học Dân Tộc
  • Chức Năng Nhận Thức Và Dự Báo Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Mẫn Cảm Của Nghệ Sĩ Trước Thực Tại Và Chức Năng Dự Báo Của Văn Học
  • Tính Dự Báo Của Văn Chương
  • Tiểu Thuyết Quốc Ngữ Đầu Thế Kỷ Xx Và Chức Năng Dự Báo Của Văn Học
  • Mấy Vấn Đề Lý Luận Về Phê Bình Văn Học
  • Giảm Trừ Chức Năng Trung Gian Của Phê Bình Văn Học
  • Văn học nghệ thuật tồn tại trước hết với tư cách của một hình thái nhận thức, có khả năng mở rộng sự hiểu biết của con người. Mỗi tác phẩm văn học từ xưa tới nay đều có giá trị như một thành tựu trên chặng đường nhận thức chung của nhân loại. Vì thế, văn học luôn đưa ta tới những chân trời mới, giúp ta hiểu hơn cuộc sống không chỉ trong hiện tại mà cả trong quá khứ, không chỉ trong phạm vi đất nước mình mà cả ở những xứ sở xa xôi.

    Vì vậy chức năng đầu tiên của văn học là chức năng nhận thức và dự báo. Văn học đáp ứng nhu cầu hiểu biết của con người, trở thành “cuốn sách giáo khoa của đời sống”. Khi nắm bắt đời sống trong tính toàn vẹn thẩm mỹ của nó, nhà văn thường đem vào trong tác phẩm của mình một lượng thông tin phong phú và sinh động về đối tượng mà mình miêu tả. Đó là lượng thông tin thẩm mĩ, giàu hình tượng, dễ tiếp nhận đối với mọi người.

    Trong tác phẩm “Ông già và biển cả” chúng ta có thể hiểu thêm về biển, về sự phát hiện những quá trình vật lí, sinh học diễn ra trong lòng đại dương mà còn ở sự khám phá về mối tương quan giữa con người và biển, về bản lĩnh và khát vọng của con người trong cuộc đấu tranh xác lập ý nghĩa tồn tại của mình trước thế giới tự nhiên và thế giới con người.

    Phản ánh cuộc sống một cách toàn vẹn, sinh động, văn học còn có khả năng vươn tới tầm cao của sự khái quát, nắm bắt sự vận động bên trong của đời sống hiện thực. Chính từ độ chín của sự khám phá, khái quát ấy, văn học có khả năng dự báo tương lai.

    Nhờ năng lực ước đoán, tưởng tượng và sự nhạy cảm trước mọi biến động của lịch sử, nhiều nhà văn dự cảm được những biến động của lịch sử, những quá trình xã hội mới ngay khi thực tế đời sống quanh mình vẫn còn trong trạng thái bốn phương phẳng lặng.

    Nhà văn tài năng sẽ không đóng khung cuộc sống trong cái nhìn tĩnh quan mà luôn nhìn nhận đánh giá trong sự vận động, phát triển. Yếu tố tiên tri như một phẩm chất chung của những thành tựu văn học lớn. Tuy nhiên, mức độ dự báo, tính chất và nội dung dự báo không phải như nhau trong mỗi trào lưu văn học.

    Bên cạnh những tác phẩm tràn đầy dự cảm lạc quan và niềm tin mạnh mẽ vào con người cũng có không ít những tác phẩm, những xu hướng văn học bộc lộ thái độ bi quan, tuyệt vọng trước tương lai loài người. Đối mặt với hiện tại, thâm nhập sâu rộng vào quá trình thực tiễn, văn học hiện thực chủ nghĩa dễ nắm bắt được những tín hiệu của tương lai.

    Please follow and like us:

    Comments

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Sử Dụng Những Câu Lí Luận Văn Học Dùng Làm Văn Nghị Luận Hay
  • 5 Cách Mở Bài Văn Nghị Luận Ấn Tượng Lấy Lòng Ban Giám Khảo
  • Cách Viết Mở Bài Nghị Luận Văn Học Gây Ấn Tượng
  • 10 Cách Mở Bài Trong Thể Loại Nghị Luận Văn Học
  • Nhìn Lại Chức Năng Giải Trí Của Văn Học Nghệ Thuật
  • Những Yếu Tố Làm Nên Sức Hấp Dẫn Của Văn Học Thiếu Nhi

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Trưng Văn Học Cho Thiếu Nhi Từ Góc Độ Tiếp Nhận
  • Tuần 31. Văn Bản Văn Học
  • Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • ‘văn Học Thiếu Nhi’ Và Một Vài Ghi Chú Bên Lề
  • Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Văn học thiếu nhi (VHTN) nằm trong sáng tác văn học nói chung nên cũng mang đầy đủ những đặc điểm của sáng tác nghệ thuật ngôn từ. Nó thực hiện các chức năng chung của văn học. Bên cạnh đó, VHTN cũng có những chức năng riêng mang tính đặc thù do đối tượng phục vụ chủ yếu của nó là thiếu nhi. Và chính những chức năng mang tính đặc thù đó là những yếu tố cơ bản làm nên sức hấp dẫn của mảng văn học này.

    Khi viết bài thơ này, Phan Thị Vàng Anh mới 7 tuổi. Sự hồn nhiên, ngây thơ của trẻ nhỏ được thể hiện ở ngay chính nội dung bài thơ và hình ảnh của nhân vật chính trong câu chuyện. Bài thơ kể lại việc chú Mèo con đi học giữa “trời nắng chang chang”. Đi học nhưng chú lại chẳng mang theo thứ gì ngoài “một cái bút chì” và “một mẩu bánh mì con con”. Đem bút chì, không mang theo sách vở gì thì làm sao học đây? Đi học mà lại mang theo bánh mì chắc có lẽ để ăn khi đói bụng! Sự sơ sài trong việc chuẩn bị đồ dùng học tập và sự chu đáo chuẩn bị đồ ăn phòng khi đói hết sức ngây thơ, hồn nhiên này chỉ có thể có ở trẻ nhỏ. Điều này sẽ ít, thậm chí là khó xảy ra ở người lớn song ở trẻ lại là điều rất dễ gặp. Nếu điều này xảy ra ở người lớn sẽ thành chuyện đáng chê trách song đối với trẻ nhỏ thì lại rất bình thường và có nét ngộ nghĩnh, đáng yêu riêng.

    Hay trong bài thơ Ngủ rồi, nhà thơ Phạm Hổ đã viết:

    Gà mẹ hỏi gà con:

    – Đã ngủ chưa thế hả?

    Cả đàn gà nhao nhao:

    – Ngủ cả rồi đấy ạ!

    Bài thơ là cuộc đối thoại giữa gà mẹ và đàn gà con. Nghe gà mẹ hỏi, cả bọn nhao nhao trả lời: “Ngủ cả rồi đấy ạ!”. Ngủ rồi thế mà vẫn nghe được mẹ hỏi, vẫn trả lời được… Đàn gà con ngây thơ nghĩ rằng, trả lời “Ngủ cả rồi đấy ạ!” là sự khẳng định về sự thật, và gà mẹ sẽ tin vào sự thật đó… Nhưng chúng không biết rằng chính sự khẳng định chắc nịch đó đã phủ định lại thực tế chưa ngủ của chúng. Có thể nói, đây là kiểu tư duy chỉ có ở trẻ nhỏ. Kiểu tư duy này sẽ biến mọi thứ không lôgic sẽ trở thành hoàn toàn lôgic trong thế giới trẻ thơ và làm nên nét đáng yêu của trẻ nhỏ cũng như sức hấp dẫn của VHTN.

    2. Cùng với đặc điểm về tính hồn nhiên, ngây thơ như đã nói ở trên, đặc điểm về tính giàu hình ảnh, vần điệu và nhạc điệu cũng là yếu tố không thể thiếu làm nên cái hay, cái đẹp và sức cuốn hút của VHTN. Trong thơ viết cho người lớn, nhiều khi vần không phải là yếu tố quan trọng nhất. Song thơ viết cho trẻ em thì vần và cách gieo vần thật phù hợp luôn là yếu tố không thể thiếu. Hơn nữa, trong các tác phẩm thơ viết cho trẻ em, gieo vần là yếu tố quan trọng tạo nên nhạc điệu cho các câu thơ. Như trong bài thơ Hạt gạo làng ta, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã sử dụng cách gieo toàn vần bằng cuối các câu thơ như: “ta – sa”, “thầy – đầy – cay” đã tạo nên giai điệu êm ái, ngọt ngào cho các câu thơ; gợi được sự xúc động, thái độ trân trọng, yêu quý đối với hạt gạo quê hương. Bởi những hạt gạo ấy được kết tinh từ những hương vị ngọt ngào, giá trị văn hóa của quê hương…

    “Hạt gạo làng ta

    Có vị phù sa

    Của sông Kinh Thầy

    Có hương sen thơm

    Trong hồ nước đầy

    Có lời mẹ hát

    Ngọt bùi đắng cay…”

    Hay ở bài thơ Mời vào của Võ Quảng, cách gieo vần giữa các từ “đó – thỏ”, “tai – nai”, chữ “Thỏ”, “Nai” được lặp lại ở hai câu thơ liền nhau cùng với sự kết hợp của các thanh trắc, thanh bằngđã giúp bài thơ trở nên giàu nhạc tính:

    “- Cốc, cốc, cốc!

    – Ai gọi đó?

    – Tôi là Thỏ

    – Nếu là Thỏ

    Cho xem tai

    – Cốc, cốc, cốc!

    – Ai gọi đó?

    – Tôi là Nai

    – Thật là Nai

    Cho xem gạc”

    Để gây ấn tượng ngay từ ban đầu cũng như để lại dấu ấn lâu dài đối với trẻ nhỏ, VHTN cần phải giàu hình ảnh. Hơn nữa, hình ảnh lại phải cụ thể, sinh động, nhiều màu sắc, đáng yêu và gần gũi với cuộc sống của trẻ… Để có được đặc điểm này, VHTN thường sử dụng các từ tượng hình, tượng thanh, các động từ, tính từ miêu tả, tính từ chỉ màu sắc. Bởi những loại từ này có khả năng tạo nên sắc thái cụ thể, tác động trực tiếp vào giác quan của trẻ; kích thích và khơi gợi trí tưởng tượng, sự sáng tạo của trẻ. Từ đó trẻ có thể dễ cảm nhận, dễ hiểu và dễ rung động trước các hình ảnh, nội dung, tư tưởng của tác phẩm.

    Trong bài thơ Hoa kết trái (Thu Hà), trẻ có thể hình dung được đặc điểm rất riêng, rất đặc trưng, không thể lẫn lộn của mỗi loài hoa bởi những động từ chỉ trạng thái (rung rinh) và các tính từ miêu tả màu sắc (tim tím, vàng vàng, chói chang, trắng tinh), tính từ miêu tả đặc điểm hình dáng (nho nhỏ, xinh xinh):

    “Hoa cà tim tím

    Hoa mướp vàng vàng

    Hoa lựu chói chang

    Đỏ như đốm lửa

    Hoa vừng nho nhỏ

    Hoa đỗ xinh xinh

    Hoa mận trắng tinh

    Rung rinh trước gió…”

    Hay trong đoạn văn sau, nhà văn Tô Hoài đã miêu tả khung cảnh hết sức trữ tình với những hình ảnh rất đặc trưng, rất riêng của mùa thu. Bức tranh vào thu đó đã thực sự chạm được vào cảm xúc của người đọc. Yếu tố làm nên sức lay động lòng người của bức tranh đó chính là sự xuất hiện của các hình ảnh hết sức cụ thể và sinh động. Đó là nước mùa thu trong vắt, là hòn cuội trắng tinh, là hình ảnh của các con vật : Gọng Vó đen sạm, gầy và cao, nghênh cặp chân gọng vó…, những ả Cua Kềnh mắt lồi, tình tứ và âu yếm, đàn Săn Sắt và cá Thầu Dầu lăng xăng. Tất cả các hình ảnh đó đều hiện lên rõ mồn một bởi các tính từ, động từ miêu tả:

    “Mùa thu mới chớm nhưng nước đã trong vắt. Trông thấy cả hòn cuội trắng tinh nằm dưới đáy. Nhìn hai bên ven sông, phong cảnh đổi thay đủ điều ngoạn mục. Cỏ cây và những làng gần, núi xa luôn luôn mới. Những anh Gọng Vó đen sạm, gầy và cao, nghênh cặp chân gọng vó đứng trên bãi lầy nhìn theo hai tôi, ra lối bái phục. Những ả Cua Kềnh cũng giương đôi mắt lồi, tình tứ và âu yếm, ngó theo hai tôi với muôn vẻ quý mến. Đàn Săn Sắt và cá Thầu Dầu thoáng gặp đâu cũng lăng xăng cố bơi theo bè hai tôi hoan nghênh váng cả mặt nước.”

    (Tô Hoài – Dế Mèn phiêu lưu ký)

    3. Cùng với các yếu tố trên, yếu tố truyện trong thơ và yếu tố thơ trong truyện là đặc điểm không thể thiếu để làm nên sự thú vị của VHTN. Bởi lẽ, ngoài những truyện thơ như Mèo đi câu cá, Nàng tiên ốc, Bồ câu và ngan…, ở mỗi bài thơ ngắn viết cho thiếu nhi, người đọc dễ dàng gặp ở đó một câu chuyện kể về một sự kiện hay hiện tượng nào đó. Yếu tố truyện trong thơ giúp trẻ có thể dễ dàng nắm bắt được nội dung từ đó liên hệ, phát hiện và cảm nhận được những vẻ đẹp của thiên nhiên, những điều thú vị của cuộc sống…được gửi gắm trong tác phẩm; hình thành được những cảm xúc đẹp và nhân văn cho trẻ.

    Trong bài thơ Dán hoa tặng mẹ của Khải Minh, người đọc có thể gặp ở đó câu chuyện một em bé sau khi dán được bông hoa, được cô dặn mang về làm quà tặng mẹ nhân dịp 8/3. Cô bé làm theo lời cô dạy. Món quà đó của bé đã thực sự đem lại niềm vui, sự xúc động cho mẹ:

    Em dán được cái hoa

    Cô cho mang về nhà

    Nói rằng: Con tặng mẹ

    Quà ngày 8 tháng 3!

    Xoa đầu con mẹ bảo

    – Con dán đẹp thế à?

    Mẹ cảm ơn cô giáo,

    Dạy con mẹ tặng hoa.

    Nếu yếu tố truyện trong thơ giúp trẻ có thể dễ dàng nắm bắt được nội dung, phát hiện và cảm nhận được những vẻ đẹp của thiên nhiên, những điều thú vị của cuộc sống, hình thành được những cảm xúc đẹp và nhân văn thì yếu tố thơ trong truyện lại là yếu tố quan trọng tạo nên sức lôi cuốn, hấp dẫn đối với trẻ. Bởi chất thơ là cái đẹp luôn khiến lòng người xúc động. Có thể nói, mỗi tác phẩm truyện thiếu nhi thường chứa đựng một bài học nhẹ nhàng, sâu sắc. Và “Chất thơ của truyện sẽ làm cho những bài học ấy không bị khô khan hay cứng nhắc. Những truyện như: Giọng hót chim sơn ca, Hoa Mào gà, Giọt nước Tí Xíu, Chú Đỗ con, Bồ Nông có hiếu, Cây gạo… không khác gì những bài thơ ca ngợi cuộc sống, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và ca ngợi những tình cảm cao đẹp của con người. Cùng với chất thơ bay bổng, ý nghĩa của câu chuyện có thể sẽ còn theo các em mãi trong cuộc sống” (Lã Thị Bắc Lý, Văn học thiếu nhi và giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non, 2022, NXB Đại học Sư phạm).

    4. Trong cuộc sống, muốn trẻ thích điều gì đó thì phải làm sao để trẻ không chán cái đó. Văn học cũng vậy. Nếu để trẻ chán thì các bé sẽ không còn muốn đọc, không còn muốn nghe nữa. Bởi thông thường ở trẻ, khả năng tập trung chưa cao, tính kiên trì hạn chế, cái gì khó và quá khó sẽ khiến trẻ ngại và chán. Vì vậy VHTN có một đặc trưng và cũng là một trong những yếu tố làm nên sự lôi cuốn đối với trẻ. Đó là sự ngắn gọn, rõ ràng. Tác phẩm ngắn sẽ giúp trẻ dễ nhớ, dễ thuộc; rõ ràng sẽ giúp trẻ dễ đọc và dễ hiểu. Chỉ những bài thơ, câu chuyện dễ nhớ, dễ đọc, dễ thuộc, dễ hiểu thì trẻ mới thích và thích được lâu. Vì vậy, ngắn gọn, rõ ràng cũng là một trong những yếu tố góp phần làm nên sự gắn bó, yêu mến của trẻ đối với VHTN.

    Tính “ngắn gọn” trong thơ viết cho thiếu nhi được hiểu là có dung lượng ngắn, số từ trong câu cũng ngắn. Dạng phổ biến trong thơ viết cho trẻ em thường là thơ 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, thơ lục bát. Kết cấu thơ thường giống với đồng dao – thể loại văn học dân gian giàu nhịp điệu, dễ đọc, dễ nhớ, dễ thuộc…

    “Hay nói ầm ĩ

    Là con vịt bầu

    Hay hỏi đâu đâu

    Là con chó vện

    Hay chăng dây điện

    Là con nhện con

    Ăn no quay tròn

    Là cối xay lúa…”

    (Trần Đăng Khoa – Kể cho bé nghe)

    Ở văn xuôi, tính “ngắn gọn” được thể hiện ở cách sử dụng câu đơn, ngắn, ít khi dùng câu phức; nhan đề truyện cụ thể (thường là tên nhân vật hoặc câu hỏi có tính chất định hướng hoặc đúc kết ý nghĩa giáo dục)…: Ba cô gái, Chú Dê đen, Ai đáng khen nhiều hơn, Thi hát…

    Tính “rõ ràng” trong các tác phẩm VHTN được thể hiện ở cách dùng từ ngữ và miêu tả. Từ ngữ thường là các từ mang nghĩa đen; cách miêu tả thường trực tiếp, cụ thể, dễ hiểu. Ví dụ:

    “Bọn trẻ con làng Đo Đo không đo ngày tháng theo thời tiết tự nhiên. Chúng chả bao giờ gọi tên bốn mùa theo cách thông thường.

    Một năm của bọn chúng có tới sáu mùa: Mùa giấy kính, mùa nắp keng, mùa cọng dừa, mùa bao thuốc lá, mùa thả diều, mùa chong chóng.

    Mùa giấy kính thường trùng với mùa xuân. Những ngày tết bọn trẻ con trong làng được ăn mứt, hạt dưa, bánh thuẫn, bánh in… Bánh in hình vuông, gói bằng giấy kính màu. Màu xanh, màu đỏ, màu cam, màu vàng, màu nõn chuối… Ăn xong, bọn trẻ giữ lại tờ giấy kính, chốc chốc đưa lên mắt để nhìn cảnh vật khi thì màu hồng lúc thì màu xanh để sung sướng tận hưởng cảm giác mới lạ…”.

    (Nguyễn Nhật Ánh – Ngồi khóc trên cây)

    5. Nói đến các yếu tố làm nên sức hấp dẫn của VHTN chúng ta không thể không nói đến những bài học nhân văn nhẹ nhàng và sâu lắng mà bộ phận văn học này đem lại. Có thể nói, mỗi câu chuyện, bài thơ viết cho thiếu nhi đều chứa đựng trong nó một bài học quý giá. Chẳng hạn, trẻ được giáo dục phải biết xin lỗi khi có lỗi – dù đó là lỗi cố ý hay vô tình:

    Vịt con vội vã đi đâu

    Dẫm phải chân của Gà Nâu bên hè.

    Vịt nhớ xin lỗi bạn nghe!

    Chớ đừng lặng lẽ bỏ đi, bạn buồn.

    (Nguyễn Thị Thảo – Xin lỗi)

    Hay không bắt nạt bạn yếu hơn vì đó là tính xấu:

    “Bắt nạt là xấu lắm

    Đừng bắt nạt, bạn ơi

    Bất cứ ai trên đời

    Đều không cần bắt nạt

    Tại sao không học hát?

    Nhảy hip hop cho hay?

    Thử kẻ yếu làm gì

    Sao không trêu mù tạt?”

    (Nguyễn Thế Hoàng Linh – Bắt nạt)

    Cũng là nói với trẻ rằng đây là điều hay, kia là lẽ phải; nên làm thế này, không nên làm thế kia, song VHTN không thể hiện theo kiểu áp đặt, giáo điều, khô khan mà thông qua nội dung câu chuyện, hoặc cách suy nghĩ cũng như hành động của các nhân vật trong tác phẩm một cách đầy tự nhiên, nhẹ nhàng và sâu lắng. Tuy nhiên, chỉ những nhà văn, nhà thơ viết cho thiếu nhi đích thực, thật sự tài năng, biết đặt mình vào vị trí của trẻ thơ, hiểu sâu sắc suy nghĩ, tâm lý của trẻ thơ mới có thể khéo léo xen lồng ý nghĩa giáo dục vào trong tác phẩm một cách tinh tế, không khiên cưỡng. Với những tác giả này, cái đích đầu tiên và quan trọng nhất trong mỗi sáng tác phải là tính thẩm mĩ. Đó là phải tạo ra được hình ảnh đẹp, sinh động; cách diễn đạt hay, trong sáng; ngôn từ giản dị, gần gũi với trẻ… Điều đó khiến trẻ thích thú. Từ sự thích thú với thơ, truyện, trẻ sẽ ngấm một cách tự nhiên với những bài học giáo dục trong tác phẩm và học theo, làm theo những gì tốt đẹp; tránh xa những suy nghĩ, hành vi hoặc việc làm không nên…

    Hà Thị Kim Yến

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Học Dân Gian Là Gì?
  • Những Đặc Trưng Của Văn Học Dân Gian
  • Tính Nguyên Hợp Và Tính Đa Chức Năng Của Văn Học Dân Gian
  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Học Dân Gian Và Văn Học Viết Trong Lịch Sử Văn Học Dân Tộc
  • Giới Thiệu Vị Trí, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Trạm Chăn Nuôi Và Thú Y Các Huyện, Thành Phố Thuộc Chi Cục Chăn Nuôi Và Thú Y Hòa Bình
  • ‘văn Học Thiếu Nhi’ Và Một Vài Ghi Chú Bên Lề

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Cần Phát Huy Đầy Đủ Chức Năng Xã Hội Của Văn Học Nghệ Thuật
  • Nhìn Lại Chức Năng Giải Trí Của Văn Học Nghệ Thuật
  • 10 Cách Mở Bài Trong Thể Loại Nghị Luận Văn Học
  • Cách Viết Mở Bài Nghị Luận Văn Học Gây Ấn Tượng
  • Hãy chú ý tới từ “cho”. Động từ ngoại động “cho” khiến cả cụm từ “Văn học cho thiếu nhi” mang cái nghĩa xác định rằng: tác phẩm văn học này hướng về phía đối tượng tiếp nhận là thiếu nhi. Nó cần thiết phải phù hợp với tâm lý lứa tuổi và trình độ nhận thức, trình độ thẩm mỹ của thiếu nhi. Nó có thể giúp thiếu nhi giải trí, nhưng tốt hơn cả thì nó nên nêu ra trước bạn đọc nhỏ tuổi một vài bài học đáng giá nào đó về đời sống, về luân lý, v.v… Tóm lại nó phải mang chức năng của một công cụ giáo dục: Giáo dục bạn đọc nhỏ tuổi trở thành những “con người tốt”. Nếu cách hiểu là như vậy thì ở đây chúng ta sẽ có vài điểm cần phải suy nghĩ:

    Thứ nhất, về phía đối tượng tiếp nhận (thiếu nhi) điều quan trọng là được đọc tác phẩm văn học thực sự có giá trị, chứ không phải là đọc tác phẩm phù hợp với lứa tuổi của mình. (Theo logic, hoàn toàn có quyền đặt ra một câu hỏi: Có “Văn học cho thiếu nhi”, chẳng lẽ lại không có “Văn học cho người cao tuổi”?). Xin nói ngay rằng nhiều thế hệ bạn đọc Việt Nam khi còn ở tuổi thiếu nhi đã say mê với Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Ba người lính ngự lâm, Những người khốn khổ, Chiến tranh và hòa bình, v.v… thậm chí cả Gatsby vĩ đại, Âm thanh và cuồng nộ, Buồn nôn, Người xa lạ hay Trăm năm cô đơn họ cũng không từ. Toàn những tác phẩm quá đỗi… người lớn! Và rồi… chẳng có gì bất lợi xảy ra hết, ngoài việc nhờ đọc những tác phẩm ấy mà họ càng trở nên là những độc giả lý tưởng của văn chương thứ thiệt. Rõ ràng, các nhà “thiếu nhi học” của chúng ta đã lo xa một cách rất không cần thiết khi nghĩ rằng nhận thức và tâm hồn của thiếu nhi sẽ trở nên méo mó nếu phải đọc những tác phẩm văn học không phù hợp với lứa tuổi. Họ quên, hoặc không biết đến ảnh hưởng cực kỳ quan trọng của cái đọc đầu đời! Đọc, đó là cả một quá trình lâu dài. Theo thời gian, bằng sự lớn dần về nhận thức và sự chín dần trong trải nghiệm, người đọc sẽ phát hiện thêm những điều mới mẻ từ một tác phẩm cũ. Khả năng tái khám phá của người đọc, có lẽ đó chính là một trong những bí mật về sự tồn tại lâu dài của tác phẩm văn học.

    Thứ hai, về phía người sáng tác, hẳn nhiều người còn nhớ câu nói nổi tiếng của ông trùm “Tiểu thuyết mới”, Alain Rob Grillet: “Nhà văn sẽ là kẻ suy đồi nếu khi viết mà hắn còn để ý tới độc giả”. Phán quyết này nói trúng cái cần phải thuộc về bản chất của sáng tạo nhà văn, đó là sự đốt cháy hết mình của chủ thể trong ngọn lửa mà chính tay anh ta nhóm lên, từ ý chí và niềm say mê của cá nhân mình. Khi ấy thì đương nhiên độc giả, bất kể là nam phụ lão ấu, là quý tộc hay tiện dân, là ông giáo sư đại học hay anh tẩm quất nơi góc chợ, đều biến mất, chỉ còn lại trơ trụi người viết với thế giới hư cấu của anh ta. Trên thực tế, khi nhiều năm rồi dư luận không ngớt lên tiếng than phiền về chất lượng của “Văn học cho thiếu nhi” ở Việt Nam, rằng nó đa phần là những tác phẩm thiếu sức hấp dẫn, nhạt phẩm chất tưởng tượng, đã vậy lại thường lên giọng dạy dỗ trẻ em theo một cách đầy tinh thần áp đặt, khô khan, giáo điều – tuồng như trẻ em là đối tượng chỉ đáng để xoa đầu – thì một trong những nguyên nhân chủ yếu là đây: Người ta mải “săn đón” thiếu nhi, người ta tự tin rằng đã là độc giả thiếu nhi ắt sẽ cần cái A thích cái B, và người ta nhào vào “phục vụ” thiếu nhi bằng thứ ý chí luận người lớn đầy quyết liệt ấy. Kết quả chỉ là sự ra đời của một kiểu sản phẩm văn học mà chẳng ai đủ can đảm bảo rằng hay, trẻ em thì lại càng không! Thật ra câu chuyện này không có gì bất ngờ. Càng chăm chăm vào những mục đích “cho” hoặc “phục vụ” bao nhiêu, những thứ văn chương vụ lợi càng ở xa mục đích của chúng bấy nhiêu. Ai đó có thể phản đối lập luận này bằng cách liệt kê hằng hà sa số những ví dụ về tác phẩm “Văn học cho thiếu nhi” thành công trên thế giới: Trên sa mạc và trong rừng thẳm, Không gia đình, Những cuộc phiêu lưu của Huck Finn và Tom Sawyer, Hoàng tử bé, Những đứa trẻ phố Arabat, Koschya lùn, Carson trên mái nhà, v.v…, hay ở Việt Nam: Dế mèn phiêu lưu ký (Tô Hoài), Chú bé có tài mở khóa (Nguyễn Quang Thân), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Đội thiếu niên du kích Đình Bảng (Xuân Sách), Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi), Đợi mặt trời (Phạm Ngọc Tiến), Cho xin một vé đi tuổi thơ (Nguyễn Nhật Ánh), v.v… Cũng đúng. Nhưng có lẽ phải chú ý, các tác giả trên chưa chắc đã định viết chỉ “cho thiếu nhi”. Nói cho chính xác hơn, trước hết, họ viết cho tuổi thơ đã một đi không trở lại của mình. Họ viết bằng niềm hoài nhớ thiên đường đã mất… Điều đó lý giải tại sao, những tác phẩm văn học được mặc định là “cho thiếu nhi” ấy, lại là những tác phẩm mà, xem ra, người lớn còn thích đọc hơn cả thiếu nhi! (Đến đây, người viết bài này không sao cưỡng được ý muốn mở cái ngoặc đơn đặng nêu một sự ngạc nhiên của mình. Không biết từ bao giờ và tại sao, lại phổ biến một quan điểm – chưa từng được luận chứng cho cẩn thận – gán cái mác “Văn học cho thiếu nhi” vào những truyện viết về loài vật và những truyện mang màu sắc cổ tích? Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài đâu chỉ là truyện về loài vật, và những bài học từ nó thì nhiều người lớn cũng còn phải học mãi, chứ chẳng riêng gì thiếu nhi. Còn như Chiếc âu vàng của Hoffmann hoặc các truyện cổ tích của nhà văn Đan Mạch Andersen, thì chắc chắn rồi, từ hàng trăm năm nay, đó là những tác phẩm khiến giới nghiên cứu văn học trên toàn thế giới phải đổ biết bao mực xuống giấy để tìm hiểu mà còn chưa xong, huống hồ thiếu nhi!).

    Khi khái niệm “Văn học cho thiếu nhi”, một cách thực tế, đã bộc lộ ra nhiều bất cập đến thế, cần thiết phải dịch chuyển sự quan tâm từ nó sang những khái niệm khác, khả dụng hơn. Khả dụng hơn theo nghĩa là có sự nhận thức về nó hợp lý hơn, để từ đó hình thành chiến lược đầu tư thích đáng hơn, hiệu quả hơn. Chúng ta hãy thử nghĩ đến “Văn học về thiếu nhi” xem sao.

    “Văn học về thiếu nhi”, rất dễ hiểu, là khái niệm xác định thiếu nhi như là đối tượng của sự nhận thức, khám phá, phân tích, suy ngẫm và mô tả của nhà văn. Trên phương diện này, có thể hiểu nôm na rằng thiếu nhi là một “đề tài”, tương đương với những “đề tài” đã trở nên quá đỗi quen thuộc của văn học: Chiến tranh và người lính, nông thôn và cuộc sống của người nông dân, đô thị và thị dân, bất công xã hội và đấu tranh giai cấp, v.v… Ở phần trên bài viết này, người viết đã nhắc đến một số tác phẩm văn học, của cả nước ngoài và Việt Nam, được cho là những tác phẩm “Văn học cho thiếu nhi” thành công, nhưng thực ra thì tuyệt đại đa số trong đó phải được nhìn nhận như những ví dụ về sự thành công của tác phẩm “Văn học về thiếu nhi”. Hướng về thiếu nhi, lấy thiếu nhi làm đối tượng của sự phản ánh văn học, mỗi tác phẩm dựng lên một thế giới sinh động, mang đến cho người đọc – người đọc nói chung – một trải nghiệm nghệ thuật và một chiều kích nhân sinh đặc thù. Hoặc, nó cho người đọc cùng nhân vật thiếu nhi dấn bước vào những cuộc phiêu lưu kỳ thú, tận hưởng cảm giác xứ lạ, đối mặt với những thách thức hiểm nghèo, và rồi từ đó tự phát hiện ra những nguồn sức mạnh còn chưa được biết đến trong bản thân mình. Hoặc, nó tái hiện những cảnh đời trẻ em đa dạng trong những bối cảnh xã hội khác nhau, trộn lẫn sự khắc nghiệt của thực tế với sự bay bổng của ước mơ, làm bật lên những phẩm chất tốt đẹp của con người trên nền màu xám xịt của nỗi tuyệt vọng. Hoặc, như những tác phẩm hiện thực chủ nghĩa mẫu mực nhất, nó đi từ sự mô tả số phận bi kịch của những nhân vật thiếu nhi đến lời tố cáo đanh thép những bất công trong đời sống xã hội… Tóm lại, khi đã thoát khỏi – thậm chí là không cần quan tâm đến – những yêu cầu của việc viết “cho thiếu nhi”, phải “phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi” mang đầy tính ý chí luận, người viết chắc chắn sẽ có nhiều tự do hơn và dễ bề thành công hơn khi sáng tác tác phẩm “Văn học về thiếu nhi”.

    Rất cần thiết phải nhấn mạnh điều này khi trong việc phát động các cuộc sáng tác văn học thiếu nhi hiện nay – kèm theo nó là sự đầu tư khá tốn kém về thời gian, công sức, tiền bạc cho các khâu chấm giải, trao giải, in ấn và phát hành tác phẩm – yêu cầu viết “Văn học cho thiếu nhi” vẫn luôn được đặt ra ráo riết. Bất chấp hiện tượng phổ biến là: Trước khi tác phẩm “Văn học cho thiếu nhi” đến được với thiếu nhi, nó buộc phải thuyết phục được bộ lọc và hầu bao của các bậc cha mẹ cái đã, nói cách khác, trước hết nó phải là “Văn học cho người lớn”! Vậy, nên là “Văn học cho thiếu nhi” hay “Văn học về thiếu nhi”? Câu hỏi này, thiết nghĩ, không chỉ là câu hỏi với các nhà văn, mà còn là câu hỏi với các nhà xuất bản, với những người làm sách lọc lõi trong thị trường của hoạt động đọc văn học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Tuần 31. Văn Bản Văn Học
  • Đặc Trưng Văn Học Cho Thiếu Nhi Từ Góc Độ Tiếp Nhận
  • Những Yếu Tố Làm Nên Sức Hấp Dẫn Của Văn Học Thiếu Nhi
  • Văn Học Dân Gian Là Gì?
  • Giáo Dục Nhân Cách Cho Trẻ Bằng Văn Học Thiếu Nhi

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Học Thiếu Nhi Với Giáo Dục Đạo Đức Cho Trẻ Lứa Tuổi Mầm Non
  • Vai Trò Của Triết Học Mác
  • Triết Học Và Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội
  • Giáo Dục Với Chức Năng Kinh Tế Sản Xuất
  • Giáo Dục Với Chức Năng Kinh Tế Sản Xuất Cac Chuc Nang Cua Giao Duc Doc
  • Văn học có vai trò quan trọng trong việc giáo dục toàn diện nhân cách trẻ em cả về đạo đức, trí tuệ và tình cảm thẩm mỹ.

    Ở lứa tuổi mầm non, với tâm hồn thơ ngây, trong trắng, chưa có nhiều những trải nghiệm, nhận thức về thế giới xung quanh còn ở mức cảm tính thì việc được tiếp xúc với cái đẹp lấp lánh của ngôn từ và trí tưởng tượng phong phú trong các tác phẩm văn học thiếu nhi sẽ góp phần rất lớn hình thành nên tích cách, tạo nên “thế giới quan” sơ khai cho trẻ, giúp các em cảm nhận được vẻ đẹp về một thế giới bao la đầy âm thanh, màu sắc và sự huyền bí. Trong truyện cổ tích, trẻ được gặp ông Bụt, bà Tiên tốt bụng với những phép biến hóa thần thông, những nàng công chúa xinh đẹp, những chàng hoàng tử thông minh, can đảm… Trong truyện thần thoại, các em lại gặp lối nhân hóa và sự tưởng tượng nghệ thuật, ở đó các con vật, cỏ cây, hoa lá hiện lên một cách sinh động, thể hiện tình cảm gắn bó sâu sắc giữa con người với thiên nhiên. Trẻ thơ vốn đã sẵn trong đầu trí tưởng tượng phong phú nên khi gặp những yếu tố kì ảo, đẹp đẽ trong các tác phẩm văn học thì trí tưởng tượng ở trẻ càng được thăng hoa, giúp các em phát triển trí tuệ và thưởng thức cái đẹp, tâm hồn nhạy cảm, tinh tế hơn.

    Văn học thiếu nhi có vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ, cung cấp cho trẻ một vốn từ ngữ khổng lồ, đặc biệt là những từ ngữ nghệ thuật. Vì vậy, khi trẻ thường xuyên tiếp xúc với các tác phẩm văn học, vốn từ ngữ của các em phong phú và sống động hơn. Từ đó, các em tự hình thành cho mình khả năng diễn đạt vấn đề một cách mạch lạc, giàu hình ảnh và biểu cảm. Đối với trẻ mầm non, sự phát triển ngôn ngữ ấy thể hiện qua hoạt động bắt chước lời nói, việc làm của các nhân vật hoặc những cách diễn đạt trong tác phẩm. Chính quá trình trẻ được nghe kể diễn cảm truyện, thơ và được trực tiếp tham gia vào hoạt động đọc, kể lại truyện thơ sẽ giúp trẻ tích lũy và phát triển thêm nhiều từ mới. Điều này giúp chúng ta có thể dễ dàng hơn trong việc rèn luyện khả năng biểu cảm trong ngôn ngữ nói, ngôn ngữ miêu tả, ngôn ngữ đối thoại với trẻ.

    Văn học lứa tuổi mầm non có nội dung phù hợp với thị hiếu, tâm lý trẻ thơ và hướng dẫn tới cái đẹp chân – thiện – mỹ. Việc phát huy phương tiện giáo dục này có lẽ là một điều cần thiết để làm thay đổi những cách giáo huấn khô khan, những lời dạy dỗ cứng ngắc song ít hiệu quả mà lâu nay chúng ta vẫn áp dụng với trẻ. Vì thế, trong môi trường giáo dục gia đình, cha mẹ cần tác động đến nhân cách trẻ em thông qua con đường văn học. Trẻ em ở lứa tuổi mầm non chưa biết đọc, biết viết nên việc tiếp xúc với văn học thiếu nhi chủ yếu là qua lời đọc, lời kể của ông bà, cha mẹ, thầy cô… Điều quan trọng là cha mẹ phải biết cách tạo hứng thú cho trẻ với việc đọc sách, cần nắm được những đặc điểm tâm lý của trẻ để chọn những tác phẩm phù hợp với tính cách của trẻ.

    Nguyễn Thị Kim Hồng (Khoa Sư phạm, Đại học Tây Nguyên)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Văn Học Là Gì? Đặc Trưng Và Vai Trò Của Văn Học
  • Phòng Giáo Dục Đào Tạo Cấp Quận/huyện Đang Có Những Nhiệm Vụ Gì?
  • Phòng Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Xã Hội Học Giáo Dục
  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Xã Hội Việt Nam Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Văn Học Thiếu Nhi Việt Nam: Phát Huy Sức Mạnh Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Về Vấn Đề Tính Khoa Học Của Triết Học, Một Hình Thái Ý Thức Xã Hội
  • Về Thể Chế Phát Triển Giáo Dục Trong Điều Kiện Kinh Tế Thị Trường Và Hội Nhập Quốc Tế
  • Sự Tương Đồng Và Khác Biệt Giữa Thanh Tra Với Kiểm Tra Trong Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Là Nhiệm Vụ Của Cả Hệ Thống Chính Trị
  • Tìm Hiểu Về Quản Lý Giáo Dục
  • Nền văn học thiếu nhi Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận, với đội ngũ nhà văn đông đảo, đa dạng về độ tuổi và phong cách; năng động về sức tìm tòi, khám phá, đổi mới tư duy và cách tiếp cận cuộc sống với những cây bút khá nổi như Tô Hoài, Phạm Hổ, Trần Hoài Dương, Nguyễn Nhật Ánh, Trần Đăng Khoa, Phan Hồn Nhiên, Hoàng Dạ Thi, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần… cùng những tác phẩm đặc sắc như 101 truyện ngày xưa, Chuyện hoa chuyện quả, Hoa cỏ thì thầm, Kính vạn hoa, Chuyện xứ Lang-bi-ang, Dế Mèn phiêu lưu ký, Đất rừng phương Nam, Góc sân và khoảng trời, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ…  Viết cho thiếu nhi, những nhà văn luôn cần mẫn sáng tạo, mở rộng đề tài và tìm tòi hướng khai thác mới mẻ, đáp ứng nhu cầu thưởng thức của độc giả. Họ đã thành công với mảng đề tài truyện cổ tích hiện đại, truyện cổ viết lại, những truyện đầy chất thơ về cỏ-cây-hoa-lá và ký ức tuổi thơ, những cuộc phiêu lưu, mạo hiểm, gắn với những suy nghĩ, cảm xúc hồn nhiên của trẻ thơ cùng những bài học giáo dục có ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

    Các em thiếu nhi mua sách tại Fahasha Phan Rang. Ảnh: Sơn Ngọc

    Cùng với sự phát triển của xã hội, văn học thiếu nhi ngày càng thu hút nhiều hơn sự quan tâm, hỗ trợ của các tổ chức, đoàn thể, các nhà nghiên cứu. Nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá về quá trình phát triển của văn học thiếu nhi ngày càng đi vào chiều sâu, phát huy những giá trị nhân văn sâu sắc. Cùng với đó là sự tích cực, chủ động “vào cuộc” của nhiều nhà xuất bản trong in ấn và phát hành tác phẩm về văn học thiếu nhi. Nhiều cuộc thi sáng tác cho thiếu nhi được tổ chức với những hoạt động sôi nổi, thiết thực, tạo hiệu ứng tốt trong dư luận, khơi dậy niềm say mê văn học, bồi dưỡng tâm hồn và phát triển năng khiếu, phát hiện và phát huy khả năng sáng tạo cho thiếu nhi.

    Quá trình phát triển cùng những thành quả gặt hái của văn học thiếu nhi ngày càng đi vào chiều sâu, tiếp cận với đông đảo bạn đọc nhỏ tuổi, qua đó góp phần quan trọng vào việc giáo dục toàn diện nhân cách trẻ em cả về đạo đức, trí tuệ, cảm xúc thẩm mỹ, ngôn ngữ cho trẻ. Văn học thiếu nhi như một nguời bạn đồng hành cùng trẻ thơ, cung cấp cho trẻ thơ vốn từ, đặc biệt là những từ ngữ nghệ thuật. Khả năng tác động của văn học đến tâm hồn và trí tuệ, nhân cách của con người vẫn luôn là một sức mạnh kỳ diệu và tinh tế nhất. Vì thế, phát huy sức mạnh giáo dục, bồi dưỡng cho trẻ lòng yêu mến văn học thiếu nhi là hết sức cần thiết. Trong môi trường giáo dục của nhà trường, gia đình, các thầy, cô giáo, phụ huynh cần giáo dục nhân cách trẻ em thông qua con đường văn học, tạo hứng thú cho trẻ trong việc đọc tác phẩm văn học thiếu nhi, qua đó góp phần giúp trẻ phát triển toàn diện về trí tuệ lẫn tâm hồn…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Gia Đình Trong Giáo Dục Nhân Cách Thế Hệ Trẻ
  • Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
  • Trách Nhiệm Của Gia Đình Trong Việc Chăm Sóc, Bảo Vệ, Giáo Dục Con Cái
  • Vai Trò Của Bảo Tàng Nói Chung Và Bảo Tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh Nói Riêng Trong Giáo Dục Lịch Sử Đối Với Học Sinh Phổ Thông
  • Chức Năng Của Nghệ Thuật
  • Đề Tài: Hoạt Động Văn Hóa Của Nhà Văn Hoá Thanh Thiếu Nhi, Hot

    --- Bài mới hơn ---

  • Sửa Chữa Trụ Sở Ủy Ban Nhân Dân Xã, Xây Mới Nhà Văn Hóa Xã Và Sửa Chữa 05 Phòng Chức Năng Của Nhà Văn Hóa Xã Quới Điền, Huyện Thạnh Phú (Gói Thầu Dành Cho Nhà Thầu Là Doanh Nghiệp Cấp Nhỏ Và Siêu Nhỏ) (Số Báo 42 Ngày 08/03/2016)
  • Nhà Văn Hóa Xã Cần “mềm” Hơn Trong Thực Hiện Tiêu Chí
  • Xây Lắp Công Trình Sửa Chữa Trụ Sở Ủy Ban Nhân Dân Xã, Nâng Cấp Nhà Văn Hóa Và Xây Dựng 05 Phòng Chức Năng Của Nhà Văn Hóa Xã Đại Điền (Gói Thầu Dành Cho Nhà Thầu Là Doanh Nghiệp Cấp Nhỏ Và Siêu Nhỏ)
  • Có Người Cho Rằng” Chức Năng Nhận Thức Là Chức Năng Nền Tảng Trong Các Chức Năng Của Văn Hóa” Ý Kiến Của Anh Chị Về Vấn Đề Này Như Thế Nào? Bài Soạn
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Phòng Nv Văn Hóa
  • , ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Download luận văn thạc sĩ ngành quản lí văn hóa với đề tài: Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý các hoạt động văn hóa của Nhà văn hoá thanh thiếu nhi Đắk Lắk, cho các bạn làm luận văn tham khảo

    1. 1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGHỆ THUẬT TW LƢƠNG THỊ VÂN QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA CỦA NHÀ VĂN HÓA THANH THIẾU NHI ĐẮK LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK TỐM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA Khóa 1 Tây Nguyên (2015 – 2022) Hà Nội, 2022
    2. 2. CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƢỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƢƠNG Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Phương Thảo Phản biện 1: PGS. TS Trịnh Thị Minh Đức Trường Đại học Văn hóa Hà nội Phản biện 2: TS. Đỗ Quang Minh Trường ĐHSP Nghệ thuật Trung ương Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ tại trường ĐHSP Nghệ thuật Trung ương. Vào hồi:10 giờ 00 ngày 05 tháng 1 năm 2022 Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện trường ĐHSP Nghệ thuật Trung ương
    3. 4. 5 Nhìn chung, tất cả các công trình nói trên mặc dù khá đa dạng nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu về Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk một cách có hệ thống vào vấn đề các hoạt động của Nhà văn hóa. Tuy nhiên chúng là những tư liệu quý giá giúp tôi thực hiện luận văn này. 3. Mục đích và nhiệm vụ 3.1. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu các vấn đề mang tính lý luận, thực tiễn và nghiên cứu thực trạng công tác quản lý các hoạt động văn hóa của Nhà văn hoá thanh thiếu nhi Đắk Lắk. Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp tích cực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động văn hóa tại đơn vị. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu – Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động văn hóa của tại Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk – Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động văn hóa của Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk trong những năm gần đây. – Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động văn hóa của đơn vị trong giai đoạn hiện nay 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý các hoạt động văn hóa của Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Về không gian: tại Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk, Tỉnh Đắk Lắk. Về thời gian : Tập trung nghiên cứu vấn đề trong giai đoạn từ năm 2010 – 2022. Tuy nhiên để có cái nhìn xuyên suốt, tạo nền tảng cho sự
    4. 5. 6 phân tích chuyên sâu hơn, đề tài cũng đề cập tới quãng thời gian trước năm 2010 và sau năm 2022. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu – Phương pháp phân tích tài liệu để giải quyết thỏa đáng các yêu cầu đặt ra của luận văn. – Phương pháp điền dã : tiến hành khảo sát thực địa, thu thập thông tin, tư liệu bằng cách quan sát, chụp hình để tìm hiểu thực trạng và các hoạt động văn hóa của thanh thiếu nhi tại Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk. 6. Những đóng góp của luận văn Đề tài góp phần làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn về công tác quản lý hoạt động văn hóa của Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk Đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh các hoạt động văn hóa tại Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk trong thời gian tới. Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu khác. 7. Bố cục của luận văn Ngoài phần Mở đầu, phần kết luận, luận văn gồm 3 chương, 38 tài liệu tham khảo và phần phụ lục. Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ NHÀ VĂN HÓA THANH THIẾU NHI ĐẮK LẮK 1.1. Cơ sở lý luận 1.1.1. Khái niệm về thiết chế và thiết chế văn hóa 1.1.1.1. Thiết chế Thiết chế được trích dẫn theo tác giả Nguyễn Hữu Thức và theo từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 4. 1.1.1.2. Thiết chế văn hóa Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 4 thiết chế văn hóa là chỉnh
    5. 6. 7 thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí, chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa đủ để gọi là thiết chế văn hóa. 1.1.2. Thiết chế hội Theo Từ điển Bách khoa toàn thư (tập 4 ) Thiết chế xã hội hình thành, tồn tại và phát triển là do nó đáp ứng được các nhu cầu của xã hội. Đa số xã hội bao giờ cũng có những nhu cầu cơ bản, mà việc thỏa mãn có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của bản thân xã hội. 1.1.3. Nhà văn hóa Trích dẫn theo tác giả Nguyễn Hữu Thức trong tập tài liệu giảng dạy môn Quản lý thiết chế văn hóa. 1.1.3.1. Đặc điểm của Nhà văn hoá * Nhà văn hóa là một thiết chế văn hóa tổng hợp * Thiết chế đa chức năng- sử dụng thời gian tự do * Nhà văn hóa hoạt động theo phương thức xã hội hóa, phát huy tích cực của quần chúng * Thiết chế hoạt động thuộc loại hình sự nghiệp có thu 1.1.3.2. Chức năng của Nhà văn hóa * Chức năng giáo dục: Nhà văn hóa có chức năng giáo dục toàn diện ( trí – đức – thể mĩ ) trên tinh thần tự nguyện tham gia của quần chúng nhân dân vào các hoạt động để góp phần nâng cao hiểu biết của quần chúng trên mọi lĩnh vực. *Chức năng giao tiếp Giao tiếp là các mối quan hệ giao lưu ứng xử thông quan việc tiếp xúc giữa con người với con người. Khi đến sinh hoạt định kỳ cũng như tham gia các hoạt động của nhà văn hóa quần chúng có cơ hội gặp gỡ, giao lưu, tiếp xúc nhiều người đối tượng khác nhau.
    6. 7. 8 *Chức năng phát triển khả năng sáng tạo của nhân dân. Sáng tạo là tìm ra cái mới và không lệ thuộc vào cái đã có, sáng tạo bắt nguồn từ hiện thực của cuộc sống, qua các quá trình tư duy phối hợp biến đổi để hình thành cái mới. Qua các hoạt động của nhà văn hóa quần chúng có cơ hội thể hiện, nhà văn hóa sẽ tạo điều kiện để mỗi cá nhân có thể phát huy khả năng của mình. * Chức năng đáp ứng, nhu cầu vui chơi, giải trí Thường xuyên theo dõi, cập nhật quá trình phát triển của hệ thống thiết chế Nhà văn hóa nói chung và Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk nói riêng, các điểm vui chơi giải trí cho thiếu nhi do Đoàn, Hội, Đội quản lý. * Chức năng kinh tế Văn hóa và kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau, văn hóa có ảnh hưởng tới kinh tế vì nó là chiến lược, mục tiêu để phục vụ lợi ích cho con người, không ngừng nâng cao chất lượng đời sống. Để đạt được mục tiêu đó, cần phải có sự phát triển chiều cao về kinh tế, gắn kinh tế với phát triển văn hóa. 1.1.3.3. Nhiệm vụ của Nhà văn hóa Nhà văn hóa có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động tại chỗ như : Tuyên truyền, thông tin, cổ động, sinh hoạt Clb, Đội nhóm, tổ chức biểu diễn nghệ thuật, các lớp năng khiếu… Tổ chức các hoạt động sưu tầm, nghiên cứu bao gồm nghiên cứu nhu cầu, sở thích, thời gian nhàn rỗi. 1.1.4. Quản lý văn hóa Khái niệm Quản lý văn hóa được trích dẫn theo các tác giả Hồng Giang- Bùi Hoài Sơn cuốn sách Quản lý Văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Và tập tài liệu giảng dạy môn Quản lý thiết
    7. 8. 9 chế văn hóa của tác giả Nguyễn Hữu Thức. 1.1.5. Quản lý hoạt động văn hóa Được trích dẫn theo khái niệm của tác giả Phan Văn Tú trong cuốn sách Đại cương về khoa học quản lý. 1.1.6. Vai trò của hệ thống thiết chế văn hóa trong đời sống Nhà văn hoá là nơi quần chúng được phổ biến kiến thức chính trị, nâng cao tri thức, tham gia các hoạt độngvăn hoá văn nghệ, hưởng thụ những giá trị đã có do con người sáng tạo nên, bồi dưỡng năng khiếu, sở trường, được nghỉ ngơi, giải trí trong thời gian nhàn rỗi, giao lưu kết nối cộng đồng. Đó cũng chính là nhiệm vụ phát huy chức năng giáo dục của văn hóa góp phần xây dựng còn người Việt Nam phát triển toàn diện. Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam khóa XII đặc biệt quan tâm đến vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam, nhấn mạnh công tác chỉ đạo đối với lĩnh vực văn hóa. Hệ thống thiết chế văn hóa không thể thiếu trong đời sống và xã hội, giữ vai trò nòng cốt trong các hoạt động tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị, xã hội mà còn đáp ứng được nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ văn hóa của lực lượng quần chúng. Như vậy, việc xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa là yêu cầu thiết thực, xây dựng chiến lược, tầm nhìn cho tương lai và hoạch định kế hoạch trong những năm tới để quyết tâm thực hiện. 1.2. Tổng quan về Nhà văn hóa Thanh Thiếu Nhi Đắk Lắk 1.2.1. Khái quát về Tỉnh Đắk Lắk Đắk Lắk là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc có những nét đẹp văn hoá riêng. Đặc biệt là văn hoá truyền thống của các dân tộc Ê đê, M’nông, Gia rai…với những lễ hội cồng chiêng, đâm trâu, đua voi mùa xuân; kiến trúc nhà sàn, nhà Rông, các nhạc cụ lâu đời nổi tiếng như
    8. 9. 10 các bộ cồng chiêng, đàn đá, đàn T’rưng; các bản trường ca Tây Nguyên…là những sản phẩm văn hoá vật thể và phi vật thể quý giá, trong đó “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” đã được tổ chức UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Tất cả các truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú về văn hóa của Đắk Lắk. 1.2.2. Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk là đơn vị trực thuộc Ban thường vụ Tỉnh Đoàn Đắk Lắk, thực hiện chức năng tuyên truyền, tham gia, xây dựng và tổ chức các chương trình do Tỉnh Đoàn đề ra. Là trung tâm văn hóa rất bổ ích, đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa và nâng cao văn hóa, từ những ngày đầu xây dựng Nhà văn hóa thanh thiếu nhi với rất nhiều khó khăn. Từ chỗ cơ sở vật chất còn thiếu thốn, đội ngũ cán bộ, giáo viên thiếu, không thu hút được các em đến tham gia hoạt động cho đến nay đã trở thành địa chỉ tin cậy để các em tham gia theo sở thích và nhu cầu của cá nhân mình. Mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn về mọi mặt như cơ sở vật chất, kinh phí, con người, nhưng đội ngũ cán bộ, viên chức, giáo viên, cộng tác viên của đơn vị đã không ngừng nỗ lực phát huy mọi thế mạnh, nguồn lực, sức trẻ và lòng nhiệt tình sôi nổi… Đây là nơi diễn ra những hoạt động nòng cốt của Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk và cũng chính từ đây các em đã được đào tạo, rèn luyện và trưởng thành nhanh chóng. Rất nhiều thành tích các em đã giành được qua các kỳ liên hoan, hội thi, hội diễn từ cấp tỉnh đến cấp khu vực và toàn quốc. Với những thành tích đã đạt được trong những năm qua sẽ là những bước đệm vững chắc giúp Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk vững
    9. 11. 12 2.2. Công tác triển khai, tổ chức thực hiện và ban hành các văn bản pháp lý 2.2.1. Triển khai các văn bản pháp lý Là đơn vị thuộc Tỉnh Đoàn tỉnh Đắk Lắk, nhà văn hóa có trách nhiệm tiếp nhận các văn bản chỉ đạo, phân công nhiệm vụ của Tỉnh và Tỉnh đoàn, văn bản đề nghị phối hợp của các ngành, thành phố, các doanh nghiệp trong tổ chức hoạt động văn hóa – thể thao, tuyên truyền… đặc biệt là các dịp lễ, Tết, kỉ niệm các sự kiện chính trị… Thông thường có các văn bản chỉ đạo từ Trung ương Đoàn, Hội đồng Đội Trung ương; Tỉnh ủy, UBND, Tỉnh Đoàn Đắk Lắk. 2.2.2. Công tác ban hành các văn bản quản lý và hướng dẫn thực hiện Các phòng, Khoa, Ban, Tổ triển khai thực hiện theo văn bản phân công nhiệm vụ, cụ thể hóa bằng các kế hoạch cho từng hoạt động. Nội dung luôn được đầu tư nghiên cứu để đa dạng, phong phú khác với hoạt động trong các nhà trường phổ thông. Nhà văn hóa thanh thiếu nhi tỉnh Đắk Lắk tiếp tục nhân rộng nhiều mô hình giáo dục mới, thông qua các hoạt động văn hóa của đơn vị, qua đó góp phần nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm, khơi dậy tinh thần xung kích, cống hiến của tuổi trẻ đối với sự nghiệp đổi mới của tỉnh nhà, của đất nước. 2.3. Các hoạt động quản lý của Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk 2.3.1. Tuyên truyền, giáo dục tư tưởng chính trị Một trong những hoạt động quan trọng của Nhà văn hóa thanh thiếu nhi là thông qua những hoạt động chính trị xã hội để tập hợp giáo dục thanh thiếu nhi về tư tưởng, đạo đức, lối sống, truyền thống cách mạng của Đảng, Bác Hồ và của dân tộc. 2.3.2. Phương pháp Đoàn – Hội – Đội
    10. 12. 13 Trong những năm qua, công tác hướng dẫn phương pháp Đoàn – Hội – Đội tại Nhà văn hóa luôn được quan tâm chú trọng bằng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau. Nhà văn hóa thanh thiếu nhi cán bộ chuyên môn trẻ, năng động sáng tạo, nhiệt tình, trách nhiệm, có những cách làm mới, phù hợp với mọi lứa tuổi khi đến tham gia vào các chương trình. 2.3.3. Câu lạc bộ Câu lạc bộ tại nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk là nơi sinh hoạt văn hóa của đối tượng thanh thiếu nhi, nên hoạt động của Câu lạc bộ phải đảm bảo nội dung chính là giáo dục đạo đức lối sống, vui chơi giải trí lành mạnh, hoàn thiện nhân cách cho lứa tuổi thanh thiếu nhi 2.3.4. Thể dục thể thao, vui chơi giải trí Hoạt động thể dục thể thao không chỉ nhằm mục đích tăng cường thể chất, mà còn rèn luyện những phẩm chất tinh thần dũng cảm, bền bỉ, sự hoạt bát, tinh thần tập thể, ý chí đồng đội. Nhà văn hóa thanh thiếu nhi tỉnh Đắk Lắk đã duy trì tốt hoạt động của khu vui chơi miễn phí dành cho thanh thiếu nhi thu hút đông đảo các em đến vui chơi giải trí. 2.3.5. Tuyên truyền cổ động Trong công tác tuyên truyền cổ động, triển lãm là hình thức giáo dục trực quan sinh động mà sâu sắc, các tổ đội thông tin tuyên truyền cổ động là lực lượng xung kích có thể đem tiếng nói của Đảng và Nhà nước để chuyển tải thông tin kết hợp với tuyên truyền miệng. 2.3.6. Văn hóa, nghệ thuật Văn hóa nghệ thuật là một trong những hoạt động đặc trưng, thế mạnh của Nhà văn hóa thanh thiếu nhi, để làm tốt vấn đề này nhà văn hóa đã tập trung vào việc nâng cao chất lượng hoạt động các Clb, Đội, nhóm,
    11. 13. 14 thường xuyên đổi mới nội dung chương trình sinh hoạt hàng tuần, tháng, quý, tạo điều kiện để các em được tham gia sinh hoạt năng khiếu theo khả năng, sở thích. 2.3.7. Bồi dưỡng, phát hiện năng khiếu Nhà văn hóa thanh thiếu Đắk Lắk thực hiện nhiệm vụ chủ yếu thiên về tổ chức tốt các hoạt động giáo dục, phát hiện năng khiếu, bồi dưỡng nhân tài. 2.3.8. Các hoạt động hội, nhân đạo từ thiện Trong những năm gần đây các hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện tiếp tục được tổ chức rộng khắp và đã trở thành hoạt động có tính thường xuyên. 2.4. Đánh giá kết quả quản lý hoạt động văn hóa của Nhà văn hoá thanh thiếu nhi Đắk Lắk 2.4.1. Thành tựu Thành quả của công cuộc đổi mới đất nước đã tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của thiếu niên cũng là tạo điều kiện thuận lợi về các điều kiện cơ sở vật chất, con người gia đình, tổ chức Đoàn, Đội, xã hội, đẩy mạnh các hoạt động bồi dưỡng năng khiếu cho thiếu nhi. 2.4.2. Hạn chế Hiện nay các văn bản pháp luật về thiết chế văn hóa còn thiếu đồng bộ, và tính thực tiễn chính sách khuyến khích và định hướng đầu tư xã hội cho phát triển thiết chế còn thiếu và chưa rõ. Cần nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của văn hóa trong cộng đồng người dân. Việc huy động vốn các nguồn vốn xã hội đầu tư cho văn hóa còn hạn chế do chưa phát huy được vai trò của cộng đồng từ đoàn thể, người dân.
    12. 15. 16 thanh thiếu nhi được tham gia học tập, vui chơi giải trí, bồi dưỡng và phát triển năng khiếu, nuôi dưỡng ước mơ. 3.1.2. Nhiệm vụ Thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học, hướng nghiệp, vui chơi giải trí và các hình thức câu lạc bộ theo sở thích và ứng nhu cầu được bồi dưỡng năng khiếu, rèn luyện sức khỏe, thể chất, thẩm m , đáp ứng yêu cầu hợp lý của đông đảo lực lượng thanh thiếu nhi. Sử dụng và phát huy mọi năng lực, điều kiện của Nhà văn hóa thanh thiếu nhi và mọi nguồn khả năng khác để tổ chức các hoạt động phục vụ cho công tác giáo dục thanh thiếu nhi một cách thực tiễn. Tổ chức một số hoạt động , sự kiện khác theo yêu cầu của cấp trên giao phó. 3.2. Những giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng quản lý hoạt động văn hóa của Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk 3.2.1. Nâng cao nhận thức Nhận thức là một chức năng đầu tiên trong bất cứ các hoạt động văn hóa, văn hóa là tổng hợp các nhận thức hiểu biết thế giới xung quanh và phát huy tính hiệu quả trong các hoạt động văn hóa. Với nhận thức và tư duy hiện đại phải thay đổi nội dung công việc một cách triệt để, tăng hàm lượng tri thức, chất xám cho từng công việc, từng nội dung cụ thể, trên tinh thần kế thừa và phát huy các giá trị đã có, nhưng không lặp lại cái cũ đã làm một cách máy móc, mà phải sắp xếp có khoa học, hiệu quả hơn cái cũ đã làm trong điều kiện và hoàn cảnh cho phép thực thi. Để nâng cao công tác quản lý cũng như nhận thức về vai trò của hoạt động nhà văn hóa thông qua những hoạt động này thúc đẩy sự hoàn thiện nhân cách, lối sống lành mạnh của các em thiếu nhi trên địa bàn.
    13. 16. 17 Với nhiều cách thức được thực hiện một cách đồng bộ sẽ tác động đến tâm lý, nhận thức của các em một cách có hiệu quả. Và góp phần hạn chế những mặt tiêu cực, phát huy những mặt tích cực để công tác quản lý Nhà văn hóa thực sự có hiệu quả, đem lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng. 3.2.2. Cơ chế, chính sách Về cơ chế, cần có sự đổi mới trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, công tác quản lý hoạt động Nhà văn hóa thanh thiếu nhi để có được những thay đổi cơ bản, toàn diện nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật của thiếu nhi trên địa bàn tỉnh. Ưu tiên khuyến khích đầu tư và chính sách ưu đãi cho những lĩnh vực then chốt, có vai trò quan trọng trong việc định hướng chính trị, tư tưởng, đạo đức, thẩm m và giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đối với những hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, hình thức dễ bị lợi dụng, dễ nảy sinh tiêu cực nên cần quy hoạch, quản lý chặt chẽ, quy định các điều kiện tiên quyết để đảm bảo sự phát triển đúng theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Đổi mới cơ chế và đầu tư toàn diện cho Nhà văn hóa để phát huy sự nghiệp văn hóa của tỉnh, đáp ứng, thúc đẩy nhu cầu tham gia và thưởng thức văn hóa của người dân. Tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa của tỉnh, trong đó chú trọng phát huy thế mạnh của các thiết chế văn hóa, trong đó có Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Tỉnh Đắk Lắk 3.2.3. Tăng cường nguồn nhân lực đào tạo và sử dụng cán bộ Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến công tác đào tạo nguồn nhân lực cho thiết chế văn hóa, đó là những lực lượng nòng cốt góp phần xây dựng các hoạt động văn hóa phát triển và đạt hiệu quả tối ưu nhất. Chính sách sử dụng nguồn nhân lực cần được quan tâm một cách hợp lý, tạo động lực cho nguồn nhân lực phát huy được tính năng động, sáng
    14. 17. 18 tạo, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, quản lý. Đáp ứng được những nhu cầu của quần chúng nhân dân để phát triển sự nghiệp trong lĩnh vực văn hóa. 3.2.4. Đầu tư kinh phí và cơ sở vật chất kỹ thuật cho Nhà văn hóa Nhà văn hóa thanh thiếu nhi đã sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất được giao, đáp ứng được nhu cầu phục vụ tổ chức các sự kiện của tỉnh, của đoàn và của cơ quan, đơn vị. Trong thời gian qua để sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất của cơ quan, phục vụ tốt hơn cho các hoạt động, cán bộ Nhà văn hóa thanh thiếu nhi đã tự nghiên cứu, học hỏi k thuật, sáng tạo, linh hoạt trong chuyên môn nhằm tăng nguồn thu và phục vụ tốt hoạt động chính trị được giao. Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk đặc thù thường xuyên tổ chức và phục vụ các hoạt động mang tính chính trị, các hoạt động mang tính phong trào và các hoạt động mang tính sự kiện, đặc biệt trong những năm qua được sự quan tâm của tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh và thường trực tỉnh đoàn cần bố trí hệ thống âm thanh và dàn sân khấu với công suất lớn, hiện đại hơn để phục vụ các hoạt động. 3.2.5. Đẩy mạnh hoạt động hội hóa trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Xã hội hóa là đa dạng các hình thức hoạt động trong các lĩnh vực văn hóa xã hội. Bên cạnh việc củng cố các tổ chức của Nhà nước, phải phát triển rộng rãi các hình thức hoạt động được tiến hành trong khuôn khổ chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, mở rộng các hoạt động để em thiếu nhi được tham gia một cách chủ động và bình bằng trong các hoạt động. Trong hoàn cảnh hiện nay Nhà văn hóa tăng cường xã hội hóa các loại hình nghiệp vụ, để tổ chức hoạt động văn hóa cần phát huy các thiết chế văn hóa cổ truyền. Tận dụng sự đóng góp công sức, tiền của tập thể, đơn vị cá nhân để phát triển sự nghiệp văn hóa, kể cả văn hóa tư nhân.
    15. 18. 19 Đảng và Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời huy động tiềm năng, nguồn lực của mọi lực lượng, mọi tầng lớp xã hội cùng tham gia, sáng tạo và cung cấp, phổ biến tạo điều kiện để các hoạt động này phát triển một cách hiệu quả nhất . 3.2.6. Tăng cường kiểm tra, giám sát Ban lãnh đạo Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk cần thường xuyên kiểm tra, theo dõi, đánh giá kết quả hoạt động của từng bộ phận. Đồng thời cũng cần có những đợt khảo sát, lấy ý kiến của thanh thiếu nhi tham gia, cũng như lấy ý kiến về những hoạt động mà phụ huynh mong muốn để có cái nhìn toàn diện, nhằm có những giải pháp điều chỉnh kịp thời, tránh để việc tổ chức những hoạt động hình thức, không hữu ích. Thông qua hoạt động này để đánh giá, rút kinh nghiệm định kỳ và có khen thưởng kịp thời với những cá nhân có thành tích xuất sắc. Việc kiểm tra, giám sát các hoạt động văn hóa cần được thực hiện thường xuyên, rõ ràng và minh bạch để đảm bảo sự vận hành của các hoạt động văn hóa được diễn ra đúng tiến độ và đạt kết quả hiệu quả nhất. 3.3. Các kiến nghị Để thực hiện tốt vai trò quản lý các hoạt động văn hóa nhằm xây dựng, củng cố về mặt hệ thống thiết chế nhà văn hóa thanh thiếu nhi tác giả xin đưa ra một số kiến nghị sau : Đối với Trung ương, Nhà nước cần tạo được một hành lang pháp lý đầy đủ có hệ thống từ Trung ương xuống địa phương trong công tác đầu tư xây dựng, quản lý và sử dụng các cơ sở vui chơi, giải trí cho trẻ em. Trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội của cả nước nói chung và của Đắk Lắk nói riêng đa phần chưa tính đến quy hoạch cơ sở văn hóa vui chơi, giải trí cho trẻ em.
    16. 19. 20 Đối với Tỉnh, giao cho Nhà văn hóa thanh thiếu nhi tỉnh Đắk Lắk được chủ động tổ chức thi tuyển cán bộ viên chức để tuyển chọn những cán bộ có năng lực chuyên môn đáp ứng được yêu cầu công việc thực tế của đơn vị. Tăng cường việc cử cán bộ tham gia các lớp tập huấn để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn do Trung ương tổ chức. Mạnh dạn trong việc thực hiện các phương án xã hội hóa tổ chức các hoạt động về Văn hóa nghệ thuật và thể dục thể thao. Tăng cường tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho các em đến tham gia sinh hoạt và học tập tại Nhà văn hóa Thanh thiếu nhi. Tiểu kết Xây dựng và hoàn thiệt thiết chế quản lý văn hóa có vai trò quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý. Sự thống nhất giữa các quan điểm, đường lối, chủ trương, chiến lược phát triển của lĩnh vực văn hóa, xây dựng và hoàn thiện các thiết chế văn hóa gắn với việc đẩy mạnh cải cách hành chính theo xu hướng hiện đại, năng động và hiệu quả. Đây là việc có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của hoạt động văn hóa của Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk hiện nay. Qua quá trình tiến hành xây dựng đề tài và khảo sát hoạt động thực tế tại Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk học viên đã đề xuất 6 nhóm giải pháp đồng bộ trong công tác quản lý các hoạt động văn hóa nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Nhà văn hóa thanh thiếu nhi để tạo nên những thuận lợi tốt nhất cho hoạt động văn hóa dành cho các em thiếu nhi. Do đó việc nghiên cứu tìm ra một mô hình tổ chức và nội dung hoạt động phù hợp, hiệu quả cho nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk càng trở nên thực sự cần thiết
    17. 20. 21 KẾT LUẬN Tóm lại, Nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk là một thiết chế có vai trò quan trọng việc giáo dục ngoài nhà trường cho các em thiếu nhi, góp phần không nhỏ cho việc xây dựng, nuôi dưỡng thế hệ tương lai của tỉnh Đắk Lắk. Đáp ứng nhu cầu sáng tạo, học tập, trao đổi, hưởng thụ, hoạt động văn hóa, luyện tập thể dục thể thao của các em thiếu nhi. Xây dựng cơ sở vật chất của hệ thống nhà văn hóa tạo điều kiện thuận lợi để thanh thiếu nhi Đắk Lắk thường xuyên đến sinh hoạt, trao đổi thông tin, rèn luyện thân thể để có sức khỏe học tập thắt chặt thêm tình đoàn kết giữa bạn bè. Những điều này sẽ không có được nếu hệ thống nhà văn hóa thiếu thốn, lạc hậu, yếu kém. Thiết chế nhà văn hóa giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức các hoạt động tuyên truyền giáo dục tư tưởng chính trị , công cụ trực tiếp và đắc lực của Tỉnh Đoàn, Sở, Ban, ngành của Tỉnh Đắk Lắk thực hiện các nhiệm vụ giáo dục chính trị. Các quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có đến được với thiếu nhi hay không một phần quan trọng là nhờ ở hệ thống thiết chế văn hóa thanh thiếu nhi này. Đây cũng là nơi để hoàn thiện nhân cách với hoạt động giáo dục ngoài nhà trường đối với các em thiếu nhi tránh những luận điểm sai trái, chống phá cách mạng, chống phá Đảng và Nhà nước… trong tình hình Đắk Lắk vẫn phải cảnh giác, đấu tranh với âm mưu “chống phá Nhà nước” của các thế lực thù địch mà thực tế đã từng xảy ra tại địa bàn Tỉnh. Cần xây dựng và hoàn thiện các thiết chế văn hóa, trong đó có hệ thống Nhà văn hóa thanh thiếu nhi là góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc mà Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đã đề ra. Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và
    18. 21. 22 phát triển văn hóa, con người Việt nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Bản sắc văn hóa này chỉ có thể hiện hữu, phát triển mạnh mẽ và trường tồn trong điều kiện thiết chế văn hóa đầy đủ, vững mạnh, hoạt động hiệu quả. Vai trò của hệ thống nhà văn hóa không thể không kể đến sự cần thiết, tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động văn hóa. Công tác quản lý phải được tiến hành trên tinh thần dân chủ, xã hội hóa, lấy tư tưởng m học Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam làm kim chỉ nam. Lực lượng cán bộ, cơ quan quản lý hoạt động nhà văn hóa giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có k năng, có đạo đức sẽ giúp định hướng và tổ chức các hoạt động văn hóa một cách sáng tạo, hiệu quả; đồng thời, đề xuất các cơ quan cấp trên giúp đỡ, tạo điều kiện phát huy tốt vai trò của các công trình thiết chế văn hóa trên phạm vi cả nước. Thiết chế Nhà văn hóa luôn được nhấn mạnh là một phần không thể thiếu trong hệ thống các thiết chế văn hóa, nó giữ vai trò quan trong trọng việc nâng cao tri thức, thỏa mãn nhu cầu của nhân dân. Tuy nhiên, công tác quản lý khai thác thiết chế này vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế thể hiện qua các tình trạng đang còn tồn tại. Trong bối cảnh hiện nay chúng ta đã, đang và sẽ thực hiện công cuộc đổi mới đồng bộ và toàn diện, đối với văn hóa vừa là nhân tố tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa,vừa góp phần thay đổi cách nghĩ, cách làm, cách sáng tạo. Trong quá trình giao lưu văn hóa, chúng ta cần mạnh dạn tiếp thu, hòa nhập nhưng không hòa tan đi bản sắc của dân tộc mình. Để hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của hệ thống thiết chế nhà văn hóa nhằm thoả mãn nhu cầu vui chơi, giải trí của thiếu nhi trong thời kỳ mới
    19. 22. 23 đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tại cơ sở. Các cấp quản lý phải chú trọng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tổ chức quản lý nhà văn hóa, quan tâm đầu tư kinh phí xây dựng, tổ chức hoạt động, trong đó có sự đầu tư của Nhà nước và các Sở, Ban ngành quan tâm, tạo điều kiện, sự đóng góp của doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh, cần quy hoạch, đào tạo và sử dụng tốt đội ngũ cán bộ; hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, quy chế đối với hoạt động Nhà văn hóa. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, khắc phục những sai lệch, tiêu cực, có biện pháp giải quyết hợp lý và động viên, khen thưởng kịp thời đối với những cá nhân, tập thể có thành tích tốt trong công tác văn hóa. Việc nghiên cứu tìm ra một mô hình tổ chức và nội dung hoạt động phù hợp, hiệu quả cho nhà văn hóa thanh thiếu nhi Đắk Lắk càng trở nên thực sự cần thiết. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về văn hóa và nhiệm vụ phát triển văn hóa gắn liền với phát triển kinh tế, ổn định chính trị, an sinh xã hội, phát huy hiệu quả của các thiết chế Nhà văn hóa, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho đối tượng đặc biệt thiếu nhi nói riêng và của nhân dân trên địa bàn Tỉnh Đắk Lắk nói chung.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Theo Quan Niệm Của Hồ Chí Minh, Nền Văn Hóa Mới Có Mấy Chức Năng?
  • Thông Tư Mới Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Sở Vhttdl Và Phòng Vhtt
  • Giới Thiệu Sở Vhttdl Bắc Giang
  • Văn Hóa Là Gì? Những Khái Niệm Cần Phải Biết Về Văn Hóa
  • Trang Điện Tử Huyện Hà Trung
  • Nhận Thức Trong Văn Học Là Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Đặc Trưng, Vai Trò Và Chức Năng Của Văn Học
  • Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Chức Năng Giáo Dục Của Tác Phẩm Văn Học
  • Tác Phẩm Văn Học Là Gì? Đặc Trưng Cơ Bản Của Một Tác Phẩm Văn Học
  • Nhân Vật Trong Tác Phẩm Văn Học
  • Xây Dựng Nhân Vật Trong Tác Phẩm Văn Học
  • Bản chất nhận thức của văn học đã được biết đến từ lâu. Hễ nói đến văn học là người ta không quên nói tới các chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ.Lí luận văn học ngày nay đã đặt đúng vị trí thẩm mĩ lên hàng đầu, song bản chất nhận thức của văn học vẫn là điều khẳng định. Vấn đề là cần xác định bản chất ấy như thế nào cho phù hợp với đặc trưng của văn học.

    Nghiên cứu bản chất nhận thức của văn học, theo chúng tôi, nhất thiết đòi hỏi phải chỉ ra đối tượng đặc thù của văn học, phải giải thích cái lô gích vì sao nhận thức trong văn học lại cho phép nhà văn hư cấu và gắn liền với lí tưởng thẩm mĩ về cuộc sống cũng như tình cảm chủ quan của chủ thể nhận thức và sáng tạo, những điều mà nhận thức khoa học nói chung không chấp nhận.

    Câu trả lời thiết nghĩ, có thể tìm thấy ở gợi ý ban đầu của Aristote từ trong sách Thi pháp học (Nghệ thuật thơ ca) của ông viết cách đây 2300 năm trước công nguyên. Nói về nhiệm vụ của nhà thơ ông viết: “Nhiệm vụ của nhà thơ không phải ở chỗ nói về các sự việc đã thực sự xảy ra, mà là nói về cái có thể xảy ra theo quy luật xác suất hay quy luật tất nhiên… Nhà sử học nói về những điều đã xảy ra thực sự, còn nhà thơ thì nói về những gì có thể xảy ra. Vậy nên thơ ca có ý vị triết học và nghiêm chỉnh hơn lịch sử, vì thơ ca nói về cái chung mà lịch sử lại nói về cái cá biệt” (1). Aristote đã nêu ra sự phân biệt rất quan trọng: lịch sử – lĩnh vực của cái đã xảy ra, còn thơ ca (văn học) – lĩnh vực của cái có thể xảy ra theo quy luật xác suất hay tất yếu. Sự phân biệt này cho ta thấy hai điểm. Một là không nên hiểu tư tưởng văn học của Aristote một cách giản đơn thô thiển chỉ là sự mô phỏng – bắt chước – sao chép cuộc sống đã có như lâu nay nhiều người vẫn hiểu. Điều này nhà triết học Nga A. F. Losev đã phân tích rõ trong công trình của ông về triết học cổ Hi Lạp(2). Hai là Aristote cho thấy lĩnh vực quan tâm của văn học không phải là hiện thực đã và đang tồn tại, mà là lĩnh vực của những cái có thể xảy ra. Theo chúng tôi, đó là một tư tưởng rất sâu sắc, có thể lấy làm điểm xuất phát để tìm hiểu đặc trưng nhận thức của văn học.

    Triết học duy vật biện chứng từ lâu cho thấy, hiện thực và khả năng là một cặp phạm trù của sự thống nhất đối lập, chuyển hoá cho nhau. Từ điển triết học của Rodental chủ biên, viết: “Hiện thực là bất cứ khách thể nào (sự vật, trạng thái, tình huống) đã tồn tại với tính cách là kết quả của một khả năng nào đó”. “Khả năng biểu hiện khuynh hướng phát triển khách quan nằm trong những hiện tượng đang tồn tại”(3). Khả năng tiềm tàng trong hiện thực (tiềm lực), và trong những điều kiện nhất định nó có thể chuyển hoá thành hiện thực, song không thể gọi khả năng là hiện thực, bởi vì cái gì là khả năng thì không phải là hiện thực và ngược lại cũng vậy, cái gì đã là hiện thực thì không còn là khả năng. Như thế, có thể nói, theo Aristote thì văn học không phản ánh hiện thực, mà chỉ là sự tư duy về những khả năng của hiện thực, hoặc nói theo lối đã quen, văn học chỉ phản ánh các khả năng của hiện thực.

    Kiến giải của Aristote buộc ta phải suy nghĩ tới phạm trù khả năng trong triết học, và mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật với cái khả năng. Mặc dù mọi lĩnh vực kiến thức của con người đều có phần khám phá cái khả năng, song muốn hiểu bản chất của văn học không thể không nghiên cứu nội dung, đặc điểm của phạm trù quan trọng này. Điều đáng tiếc là phạm trù này cho đến nay trong phạm vi triết học thường chưa được phát triển đúng mức phải có. Trong khi nhấn mạnh tới sự thống nhất mâu thuẫn của chúng, người ta phân biệt “khả năng thực tế” với “khả năng trừu tượng” và quan tâm trước hết đến khả năng thực tế, còn khả năng trừu tượng (khả năng hình thức), những khả năng không có điều kiện chuyển hoá thành hiện thực trong thực tế, những khả năng đã mất thì ít có ý nghĩa và dĩ nhiên là không được quan tâm. Như thế, văn học, nhất là văn học hiện thực chủ nghĩa, theo lí thuyết nói trên, chỉ quan tâm đến hiện thực với các khả năng thực tế mà thôi. Thực ra điều đó không hoàn toàn đúng. Đối với nhu cầu sáng tạo và đời sống tinh thần của con người thì cái khả năng là quan trọng nhất, bất kì là khả năng nào. Con người khác con vật ở chỗ biết sáng tạo ra của cải vật chất, biến đổi tự nhiên và biến đổi cả bản thân mình, do đó ngoài thực tại ra, mọi cái khả năng đối với nó đều có ý nghĩa sống còn, bởi có khả năng là có viễn cảnh, có đổi thay, có chân trời. Mọi khả năng của hiện thực, dù là khả năng trừu tượng, thậm chí khả năng khó tin như người lấy tiên, người lấy ma, người chết sống lại… đều có tác dụng mở rộng không gian nhận thức thế giới, nhận thức hiện tại. Nhà triết học Đức M. Heidegger cho rằng thơ sáng tạo tồn tại, thơ nói về cái “vô”. “Vô” không phải là không có gì mà là vô hạn. Vô hạn là trạng thái tự do vượt lên cái hữu hạn, mà trạng thái ấy chỉ có thể có trong thế giới tinh thần. Vì thế theo Haidegger thơ không phải là đồ trang sức bề ngoài, không phải cảm xúc, tình cảm nhất thời, không phải thứ tiêu khiển, mà là một nền tảng được hun đúc của lịch sử. Ông nói con người “tràn đầy thành quả lao động, nhưng vẫn ngự trị trên mặt đất một cách thi vị” (4). Cái thi vị ở đây là sự tồn tại hướng tới cái vô hạn. Hiểu như vậy, cái khả năng đáp ứng được nhu cầu vươn lên cái vô hạn của con người, cho nên nó trở thành đối tượng của văn học.

    Thật vậy, nếu hiện thực là sự thực hiện của một trong những khả năng của hiện thực, thì nó luôn luôn là hữu hạn, còn khả năng là vô hạn. Hiện thực gồm tất cả những cái đang có trong hiện tại hữu hạn. Trái lại khả năng là vô hạn. Bởi cái hiện thực có thể có khả năng là không hiện thực. Cái khả năng cũng có thể là cái không có khả năng. Cái tất yếu cũng có thể không tác động mà bị chi phối bởi cái ngẫu nhiên. Cái hiện thực đã thành quá khứ cũng hàm chứa nhiều khả năng. Đằng sau mỗi cái dĩ nhiên đã thành quá khứ có vô vàn cái khả năng đã không còn cơ hội trở thành hiện thực. Nhưng những khả năng đã mất, không còn hiệu lực thực tế ấy vẫn còn ý nghĩa như là những bài học cho tương lai. Con người vẫn thường nhớ và hối tiếc những việc đã qua. Ấy là hối tiếc những khả năng tốt đẹp đã bị phí hoài, những cơ hội nghìn năm đã ra đi không trở lại. Nhà lí luận văn học Nga Iu. Lotman khi bàn về lịch sử đã nói rất chí lí: “Lịch sử chỉ là một trong vô vàn con đường có thể đi. Mỗi con đường đã đi đồng thời là một sự đánh mất các con đường khác” (5). Những khả năng đã mất không phải là vô nghĩa đối với cuộc sống con người, chúng vẫn tiếp tục là đề tài bàn luận, suy nghĩ để lựa chọn con đường tối ưu cho cuộc đời. Và bên trong mỗi cái hiện thực đang tồn tại lại có vô vàn khả năng có thể xảy ra mà không phải bao giờ con người cũng nắm bắt được hết. Đồng thời cùng với một khả năng có thể xảy ra lại có vô vàn khả năng đa dạng, đa chiều có thể xảy ra tiếp sau đó. Các khả năng trừu tượng, phi lí cũng không phải là vô nghĩa. Chúng mở rộng tư duy để hiểu những khả năng, giống như cái ảo giúp hiểu thêm cái thực, cái âm giúp hiểu thêm cái dương! Khả năng luôn luôn phong phú hơn hiện thực và chính nó mở rộng không gian cho tư duy, cho lựa chọn và cho phát triển. Trong triết học chúng ta thường đánh giá rất cao cái tất yếu. Lịch sử chỉ phát triển theo cái tất yếu và theo triết học mác xít, con người chỉ có được tự do khi nhận thức được cái tất yếu ấy. Nhưng khoa học tự nhiên hiện đại đã cho thấy một bức tranh khác. Theo nhà vật lí Prigoring “Các quá trình được dự báo vận động theo các quy luật đã tính trước. Rồi sau đó xuất hiện cái điểm, khi sự vận động đạt đến chỗ không thể dự báo, và đó là chỗ giao nhau của ít nhất là hai, mà thực tế là của vô vàn con đường. Nếu trước đó chúng ta cho rằng có thể tính được xác suất gặp một đường nào đó, nhưng chính ở đó, theo Prigoring, tính xác suất không tác động, mà lại do cái ngẫu nhiên tác động”(6). Nhưng ở đâu có cái ngẫu nhiên tác động thì ở đó có không gian của những cái khả năng mà con người không thể lường trước được.

    Khả năng là khuynh hướng, xu thế chuyển biến, vận động, phát triển của hiện thực, là viễn cảnh của tồn tại con người. Con người sẽ ra sao, cuộc sống sẽ ra sao, xã hội sẽ về đâu,… những câu hỏi lớn về hiện tại và tương lai đặt ra từ thời xa xưa mà tôn giáo, triết học và nghệ thuật đều có sứ mệnh trả lời cho mỗi người. Các khả năng, do vậy làm thành đối tượng nhận thức cao nhất của con người. Nhận thức khoa học lịch sử xét cho cùng cũng là nhằm dự báo khả năng cho tương lai.

    Nghệ thuật là sáng tạo những thế giới tưởng tượng không có thực, nhằm thể hiện quan niệm nhà văn về cuộc sống, thể hiện những ý nghĩa của hiện thực được nhà văn phát hiện. Tính chất của cái khả nhiên cho phép nghệ thuật có thể tưởng tượng, hư cấu, tạo ra những những thế giới chưa từng có. Các hình tượng văn học kiệt xuất xưa nay, Hămlet, Đôn Kihôtê, Gia Cát Lượng, Quan Vũ, A Q, Kiều, Chí Phèo, Lão Hạc, Xuân Tóc Đỏ… đều thế. Hiện thực với tư cách là sự thực hiện của những khả năng, nó là sự thật, là vật chất, nó có tính ngoan cố không cho phép ai có thể bóp méo, cắt rời, nhào nặn để sáng tạo nên bất cứ hình tượng nào. Bởi như thế là bóp méo, xuyên tạc thực tế. Khi người ta nói nhào nặn chất liệu của hiện thực để sáng tạo nghệ thuật, thì thực chất là nói về việc nhào nặn chất liệu có tính khả năng, chứ không phải nhào nặn hiện thực như nó vốn có. Chỉ có tính khả năng là cái có tính mềm dẻo, tính co dãn cho phép có thể nhào nặn để làm nên sản phẩm mới bằng hư cấu, tưởng tượng.

    Cái khả năng còn cho phép người ta được tự do lựa chọn những yếu tố phù hợp với lí tưởng và thị hiếu thẩm mĩ nhằm thể hiện quan niệm sống của mình. Khả năng khi đang là những khuynh hướng tiềm tàng trong hiện thực, nếu không có con người biết phát hiện ra thì nó vẫn chìm khuất trong thực tế. Khả năng là phương diện dành riêng cho con người tự do phát hiện và gắn liền với tính tích cực tư duy, sáng tạo của nó. Ở đây cái khả năng cho phép thống nhất các hiện tượng đời sống với lí tưởng và sáng tạo, thống nhất cái khả nhiên với cái thẩm mĩ. Do thế cái khả năng mới là đối tượng đặc thù của nhận thức văn học.

    Cái khả năng với tính chất của nó có thể tác động đến tư tưởng, tình cảm con người rất mãnh liệt. Chẳng hạn khả năng trừng phạt là một nhân tố ngăn ngừa tội phạm mạnh hơn là sự trừng phạt tàn khốc thực tế. Khả năng về sự khổ cực, nghèo túng, đói kém, bệnh tật, khả năng bị khinh bỉ, chê cười thường làm nảy sinh niềm sợ hãi nhiều hơn là các trạng thái đó trong thực tế. Sợ hãi là chức năng của cái khả năng đau đớn hay mất mát cũng giống như mong muốn là chức năng của các khả năng hưởng thụ. Nhà lí luận văn học Nga M. Epstein trong Triết học về cái khả năng nhận xét: “Nói chung, nếu chúng ta nhớ lại lịch sử, thì cái khả năng cũng có ảnh hưởng đến hành vi và tình cảm con người không ít hơn cái hiện thực. Cái tiềm năng có sức tác động mạnh mẽ khi nó vẫn là tiềm năng, có thể nói là tác động đến con người một cách “phi hiện thực”. Niềm tin và sự nghi ngờ, niềm khát khao và nỗi sợ hãi, hi vọng và thất vọng, sự dũng cảm và sự hèn nhát, sự thánh thiện và sự điên cuồng và những trạng thái cảm xúc hay đạo đức thường được gợi lên không phải bằng tình trạng thực tế của sự vật mà là bằng cái khả năng của chúng. Đó là khả năng Chúa còn hay là không, khả năng tôi được cứu hay là bị hại.”(7) Cả dân tộc Việt đi vào hai cuộc kháng chiến không cân sức bằng niềm tin vào khả năng chiến thắng chứ không phải chỉ bằng hiện thực khổ đau. Văn học phản ánh sâu sắc cái khả năng chính là do cội nguồn tác động lớn lao của cái khả năng đối với đời sống con người. Dù kết thúc có hậu hay kết thúc bi kịch văn học đều đặt con người đứng trước sự thể nghiệm, suy tư và lựa chọn về khả năng.

    Tất nhiên, văn học không giản đơn chỉ là phản ánh các khả năng của hiện thực. Làm như thế văn học sẽ chẳng khác gì chính trị, tương lai học, xã hội học… Mọi người đều biết, tư duy chẳng phải gì khác, mà là hành động xuyên qua hiện thực để tiến đến các khả năng bị che giấu trong đó. Như thế, chỉ nói đến khả năng là chưa đủ. Điểm đặc thù của văn học còn là sáng tạo những cái khả nhiên của đời sống. “Cái khả năng” mà Aristote nói đến trong bản dịch tiếng Việt nêu trên, theo Chu Quang Tiềm, có thể dịch là “cái khả nhiên”, nghĩa là “cái có thể như thế”. Hiện thực tồn tại trong dạng cái dĩ nhiên (cái đã có như thế) và “cái tất nhiên” (cái bắt buộc phải như thế). Chỉ có trong văn học cái khả năng đã chuyển hoá thành cái khả nhiên do nhà văn sáng tạo dưới dạng hình tượng nghệ thuật. Mọi tác phẩm văn học hư cấu – mọi hình tượng nghệ thuật có giá trị của nhân loại xưa nay thực chất đều là những cái khả nhiên như vậy. Một hình tượng người nông dân (như chị Dậu, anh Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố) hay hình tượng Bác Hồ (chẳng hạn trong thơ Tố Hữu, Minh Huệ, Chế Lan Viên…) đều là những cái khả nhiên trong cảm thụ của tác giả. Không có cái khả nhiên duy nhất. Hình tượng văn học với tư cách là cái khả nhiên còn giàu tính khả năng hơn nữa, bởi ở đây còn có tính khả năng của sức tưởng tượng mang tính cá thể của nhà văn.

    Vậy cái khả nhiên văn học có giá trị nhận thức như thế nào? Về mặt này văn học có đặc điểm nhận thức gần gủi với triết học. Nhà triết học Bertrand Russell trong chương “Giá trị của triết học” trong sách Những vấn đề triết học (1912) đã viết: “Mặc dù triết học không thể nói với ta một cách chắc chắn câu trả lời chân lí đối với các mối nghi ngờ do triết học gợi lên thì nó cũng có thể đề xuất với ta nhiều khả năng, những khả năng ấy mở rộng tư tưởng của ta và giải phóng ta khỏi sự chuyên chế của cái thói quen. Bằng cách đó, trong khi giảm bớt tình cảm tin cậy của ta đối với trạng thái sự vật như chúng đang có, triết học tăng cường mạnh mẽ tri thức của ta về những trạng thái mà chúng có thể xuất hiện…, nó đánh thức sự kinh ngạc của ta bằng cách cho thấy những sự vật quen thuộc qua các bình diện khác lạ. Cần nghiên cứu triết học không phải nhằm để đưa ra các câu trả lời xác định đối với các câu hỏi, bởi vì thông thường, không có câu trả lời xác định nào có thể được coi là chân lí, mà là vì bản thân các câu hỏi, bởi các câu hỏi đó mở rộng quan niệm của ta về những gì có thể có, chúng làm phong phú sức tưởng tượng trí tuệ của ta.”(8) Có thể nghĩ rằng, kiến giải của nhà triết học về triết học cũng hoàn toàn phù hợp với bản chất của văn học. Chúng ta không thể nói một cách chắc chắn hoàn toàn những gì văn học biểu hiện là chân lí, bởi đó là nhận thức của nhà văn trong những hoàn cảnh nhất định dưới hình thức hư cấu với rất nhiều ngẫu nhiên. Nhưng ta có thể nói đó là những cái khả nhiên do tác giả sáng tạo nhằm mở rộng tầm hiểu biết về cuộc sống, giải thoát con người khỏi mọi thói quen trì trệ, mọi cái nhìn bề ngoài, kích thích sự chú ý đến mọi biến dị và đa dạng của cuộc đời. Nhưng đồng thời nhận thức văn học khác xa triết học, bởi nhà văn không chỉ khái quát những khả năng mà còn sáng tạo cái khả nhiên, là cái có gía trị thẩm mĩ ở chỗ nó gây khoái cảm cho con người, kích thích và mài sắc không chỉ là tư duy, mà còn mài sắc cảm giác con người về sự đa dạng và khác lạ bất tận của cuộc đời, nuôi dưỡng tình cảm và sự đánh giá có tính nhân văn đối với mọi biến đổi của đời sống. Văn học khác hẳn khoa học vì khoa học chủ yếu nhận thức cái quy luật, cái tất yếu, cái dĩ nhiên của hiện thực dưới hình thức khái niệm, phạm trù, công thức trừu tượng.

    Nhìn nhận văn học từ phạm trù cái khả nhiên giúp chúng ta có cơ sở để hiểu chức năng nhận thức đặc thù của nó, nhìn thấy cơ chế bên trong của sự phản ánh thẩm mĩ và do đó có cơ sở đánh giá đúng đắn đối với văn học.

    Nguồn: Tạp chí Sông Hương số 231 – 05 – 2008

    Những tin mới hơn

    Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sưu Tầm Những Nhận Định Hay Về Văn Học
  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Học Và Hiện Thực Trong Lý Thuyết Ký Hiệu Học Văn Hóa
  • Vấn Đề Tính Chân Thực Trong Phản Ánh Hiện Thực Của Văn Học
  • Hội Nghị “tổng Kết Công Tác Năm 2022 Và Triển Khai Nhiệm Vụ Năm 2022” Của Trung Tâm Hỗ Trợ Sáng Tác Văn Học Nghệ Thuật
  • Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam
  • Văn Học Thiếu Nhi Với Giáo Dục Đạo Đức Cho Trẻ Lứa Tuổi Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Triết Học Mác
  • Triết Học Và Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội
  • Giáo Dục Với Chức Năng Kinh Tế Sản Xuất
  • Giáo Dục Với Chức Năng Kinh Tế Sản Xuất Cac Chuc Nang Cua Giao Duc Doc
  • Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Kinh Tế
  • TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

    KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

    TRẦN NGỌC ÁNH

    VĂN HỌC THIẾU NHI

    VỚI GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

    CHO TRẺ LỨA TUỔI MẦM NON

    KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    Chuyên ngành: Văn học trẻ em

    Người hướng dẫn khoa học:

    ThS. TRẦN THỊ MINH

    HÀ NỘI – 2014

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc

    LỜI CẢM ƠN

    Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Th.S Trần Thị

    Minh – người đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiêm cứu và hoàn

    thành khóa luận tốt nghiệp.

    Tôi cũng xim chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục

    Tiểu học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã quan tâm, tạo điều kiện

    thuận lợi cho tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.

    Hà Nội, tháng 5 năm 2014

    Sinh viên

    Trần Ngọc Ánh

    TrÇn Ngäc ¸nh

    Líp K36B – MÇm non

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc

    TrÇn Ngäc ¸nh

    Líp K36B – MÇm non

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc

    LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những số

    liệu và kết quả nghiên cứu trong khoá luận này là hoàn toàn trung thực. Đề tài

    chưa được công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào khác.

    Hà Nội, tháng 5 năm 2014

    Sinh viên

    Trần Ngọc Ánh

    TrÇn Ngäc ¸nh

    Líp K36B – MÇm non

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc

    Líp K36B – MÇm non

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc

    1.2.6.1. Phương pháp sử dụng tác phẩm văn học thiếu nhi để tác động

    vào mặt tình cảm của trẻ……………………………………………………………..18

    1.2.6.2. Phương pháp sử dụng các tấm gương đạo đức trong các tác

    phẩm văn học để trẻ noi theo……………………………………………………….18

    1.2.6.3. Phương pháp khen chê đúng mực gắn với tác phẩm văn học..19

    1.3. Cơ sở ngữ văn……………………………………………………………………………20

    1.3.1. Vai trò của tác phẩm văn học đối với giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non

    ……………………………………………………………………………………………………20

    1.3.2. Một số đặc trưng cơ bản của văn học phù hợp với việc giáo dục đạo

    đức cho trẻ mầm non……………………………………………………………………..23

    1.3.2.1. Ngắn gọn và rõ ràng……………………………………………………….23

    1.3.2.2. Nghệ thuật của văn học dành cho trẻ mầm non thường không

    quá cầu kỳ, phức tạp…………………………………………………………………..25

    1.3.2.3. Mỗi tác phẩm văn họcthiếu nhi đều là một bài học đạo đức sâu

    sắc nhưng lại rất gần gũi, giúp trẻ hiểu rõ ràng……………………………..26

    1.3.3. Đặc điểm tiếp nhận văn học của trẻ mẫu giáo…………………………..27

    1.3.3.1. Trẻ em lứa tuổi mầm non giàu cảm xúc và tình cảm……………27

    1.3.3.2. Trí tưởng tượng phong phú bay bổng………………………………..27

    1.3.3.3. Tư duy hình tượng…………………………………………………………..28

    Chương 2. NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA VĂN HỌC THIẾU NHI ĐỐI VỚI

    GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ LỨA TUỔI MẦM NON……………….30

    2.1. Văn học thiếu nhi góp phần phát triển tình cảm cho trẻ lứa tuổi mầm

    non…………………………………………………………………………………………………30

    2.1.1. Văn học giúp trẻ hiểu được tình yêu thương gắn bó với ông bà, cha

    mẹ, anh chị em………………………………………………………………………………31

    2.1.2. Văn học giúp trẻ bày tỏ tình cảm thích hợp với mọi người xung

    quanh: thầy cô, bạn bè và những người lao động……………………………….41

    TrÇn Ngäc ¸nh

    Líp K36B – MÇm non

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc

    2.1.3. Văn học góp phần khơi gợi ở trẻ tình yêu đối với quê hương đất

    nước…………………………………………………………………………………………….45

    2.2. Văn học thiếu nhi góp phần giáo dục trẻ mầm non thái độ hành vi và

    cách ứng xử có văn hoá…………………………………………………………………….50

    2.1.1. Văn học giúp trẻ biết cảm thông và chia sẻ với những hoàn cảnh

    khó khăn………………………………………………………………………………………50

    2.2.2. Văn học giúp trẻ biết được các quy tắc hành vi và thói quen ứng xử

    có văn hoá, hình thành ở trẻ những phẩm chất đạo đức tốt đẹp……………53

    2.2.3.Văn học giúp trẻ biết nâng niu trân trọng những sản phẩm lao động

    do con người làm ra……………………………………………………………………….56

    KẾT LUẬN …………………………………………………………………61

    TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………………….63

    TrÇn Ngäc ¸nh

    Líp K36B – MÇm non

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc

    MỞ ĐẦU

    1. Lý do lựa chọn đề tài

    Chúng ta vẫn thường nói:”Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai “.Trẻ em

    là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của mỗi dân tộc. Trẻ em hôm

    nay là những công dân của thế giới mai sau. Bảo vệ và chăm sóc trẻ em là

    trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội.Vì vậy, quan tâm đến

    giáo dục đạo đức cho con người Việt Nam ngay từ độ tuổi mầm non chính là

    một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu góp phần hình thành nền tảng nhân cách

    con người mới.

    Cũng bởi vì: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Các em tới trường đi học đâu

    chỉ có đơn thuần học tri thức, học các phép toán cộng trừ, nhân chia, hay các

    chữ cái a, b, c,… Mà các em còn được học cách làm người, học cách làm bé

    ngoan, bé giỏi, bé vâng lời,.. Để đảm bảo cho trẻ có được một nền tảng về đạo

    đức vững chắc cho các lớp học về sau thì giai đoạn mầm non của trẻ cần được

    đặc biệt quan tâm hơn nữa. Giáo dục đạo đức có ảnh hưởng to lớn tới các mặt

    giáo dục khác. Mặt khác, đối với trẻ thơ việc hình thành những dấu ấn ban

    đầu có ý nghĩa to lớn vì nó là mầm mống đạo đức sau này của các em. Chẳng

    thế mà Macarencô – nhà giáo dục Xô Viết vĩ đại đã nói: “Những gì không có

    được ở trẻ năm tuổi thì sau này khó có thể hình thành và sự hình thành nhân

    cách ban đầu lệch lạc giáo dục lại rất khó khăn”. Có thể thấy rằng: quan tâm

    đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho sự phát triển, là chính sách hàng đầu

    của Đảng và nhà nước ta. Có rất nhiều cách khác nhau, nhiều hình thức,

    phương tiện khác nhau để giáo dục đạo đức cho trẻ lứa tuổi Mầm non. Trong

    đó, hiệu quả nhất là thông qua con đường sư phạm và bằng các tác phẩm văn

    học thiếu nhi. Đó là những tác phẩm gần gũi với đời sống tinh thần của trẻ,

    bồi bổ tư tưởng, tình cảm, đem đến sự tươi mát trong suy nghĩ của các em,

    đưa các em đến với những giá trị đạo đức tốt đẹp.

    TrÇn Ngäc ¸nh

    1

    Líp K36B – MÇm non

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc

    Văn học thiếu nhi cũng như văn học nói chung, là một loại hình nghệ

    thuật độc đáo, đó là nghệ thuật ngôn từ, đóng vai trò quan trọng trong việc

    phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Đến với văn học, trẻ được sống trong thế

    giới riêng của mình, một thế giới hấp dẫn, mới lạ với những xúc cảm tình cảm

    trong sáng hồn nhiên. Văn học không những góp phần mở rộng nhận thức cho

    trẻ về thế giới môi trường xung quanh mà còn góp phần làm giàu tâm hồn,

    hướng trẻ đến những tình cảm đạo đức tốt đẹp mà khó loại hình nghệ thuật

    nào có thể có được. Sớm tiếp xúc với văn học, trẻ thơ sẽ học được biết bao

    nhiêu điều tốt đẹp trong cách ứng xử giữa con người với con người, giữa con

    người với thiên nhiên, vạn vật xung quanh. Từ đó, trẻ có thái độ đúng đắn với

    cái tốt, cái xấu, biết yêu những điều hay lẽ phải trong văn chương cũng như

    trong cuộc sống. Văn học góp phần giáo dục cho trẻ những tình cảm tốt đẹp

    về cha mẹ, thầy cô, bạn bè và mọi người xung quanh. Thực chất là văn học

    dạy các em tập làm người – những con người chân chính có ích cho cuộc

    sống, cho xã hội. Như ông cha ta đã nói:

    Uốn cây từ thuở còn non

    Dạy con từ thuở con còn thơ ngây

    Kho tàng văn học dành cho trẻ em lứa tuổi mầm non khá phong phú và

    đa dạng về số lượng và thể loại, bao gồm cả tác phẩm dân gian, các sáng tác

    của các tác giả nước ngoài. Mỗi tác phẩm ở mỗi thể loại khác nhau đều đem

    đến cho trẻ những bài học đạo đức sâu sắc. Tuy nhiên, cho đến nay hầu như

    chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu sâu về những ảnh hưởng của

    văn học thiếu nhi đối với giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non. Trên thực tế,

    vấn đề này cũng chưa được các cô giáo quan tâm đúng mức dù mục đích giáo

    dục đạo đức cho trẻ cũng đã được các cô giáo đặt ra. Xuất phát từ những lý do

    trên và bản thân cũng là một cô mầm non trong tương lai, chúng tôi đã lựa

    chọn nghiên cứu đề tài: Văn học thiếu nhi với giáo dục đạo đức cho trẻ lứa

    tuổi mầm non để triển khai trong khóa luận tốt nghiệp này.

    TrÇn Ngäc ¸nh

    2

    Líp K36B – MÇm non

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc

    2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

    Văn học trẻ em hay văn học thiếu nhi hiểu theo nghĩa hẹp, gồm những

    tác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa học dành riêng cho các em. Trên thế

    giới, từ rất lâu đã xuất hiện các tác phẩm văn học viết cho thiếu nhi. Đã có

    nhiều tác phẩm sáng tác cho các em trở thành những tác phẩm kinh điển của

    nền văn học nhân loại, như: Truyện cổ An-đéc-xen, truyện kể của Pe-rôn, tiểu

    thuyết Không gia đình của Héc-tô Ma-lô….Với mỗi dân tộc, văn học cho các

    em có những nét riêng. Tuy nhiên, những tác phẩm hay đều gặp nhau ở một

    điểm là hướng về mục đích nhân văn, hướng tới cái thiện, cái đẹp trong cuộc

    sống. Ở Việt Nam, từ đầu thế kỷ XX bắt đầu xuất hiện các tác phẩm văn học

    viết cho thiếu nhi, nhưng phải sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nền văn

    học thiếu nhi mới chính thức được hình thành. Và cũng với mục đích giáo dục

    đạo đức cho các em, văn học thiếu nhi đã, đang phát triển và hoàn thiện mình

    trên sự chuyển mình của nền văn học nói chung.Vấn đề giáo dục đạo đức cho

    trẻ mầm non nói chung và đặc biệt là giáo dục đạo đức cho trẻ thông qua tác

    phẩm văn học nói riêng đã được một số nhà giáo dục cũng như những người

    cầm bút sáng tác cho các em quan tâm nghiên cứu.

    Trên thế giới, đã có một số nhà giáo dục kinh điển quan tâm đến vấn đề

    giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non thông qua tác phẩm văn học như:

    N.Krupxkcaia, Uxôra (Nga)… S.Avranov, I.Kotova (Bun – ga – ri)…Ở Việt

    Nam, vấn đề giáo dục đạo đức cho con người ngay từ thuở ấu thơ cũng luôn

    được chú trọng.

    Nhấn mạnh đến nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho trẻ qua thơ, truyện, tác

    giả Nguyễn Thu Thuỷ trong cuốn Giáo dục trẻ mẫu giáo qua truyện và thơ đã

    khẳng định giá trị của một tác phẩm văn học đối với nhiệm vụ giáo dục đạo đức

    cho trẻ: “Thông qua các nhân vật trong các tác phẩm văn học, trẻ nhận thức

    được khái niệm đạo đức, trẻ bộc lộ tình cảm đạo đức đúng mức đối với các nhân

    vật và lấy đó làm bài học cho việc cư xử của mình” .

    Cũng đứng trên quan điểm này, nhà nghiên cứu văn học thiếu nhi Lã Thị

    Bắc Lý trong chuyên luận Văn học thiếu nhi với giáo dục trẻ Mầm non có viết:

    “Bằng cách này hay cách khác, văn học luôn vì con người và hướng con người

    tới những tình cảm tốt đẹp. Văn học thiếu nhi cũng vậy, các sáng tác cho các

    em luôn phản ánh những cái tốt, cái đẹp, nhằm giáo dục lòng nhân ái cho các

    em (…). Giáo dục lòng nhân ái là cơ sở hàng đầu giúp trẻ xác lập được các mối

    quan hệ tích cực với môi trường xung quanh và cuộc sống để từ đó trẻ có thể

    phát triển nhân cách một cách toàn diện” .

    Nhà thơ Ngô Quân Miện cũng có những giây phút trăn trở: “Văn học

    thiếu nhi khiến cho một đứa trẻ từ một thính giả thụ động biến thành một người

    TrÇn Ngäc ¸nh

    4

    Líp K36B – MÇm non

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc

    tham gia tích cực vào các sự kiện của nhân vật vốn chỉ là chim muông, cây cỏ

    hay những vật vô tri vô giác trở thành người bạn thân thiết với chúng” .

    Trên trang báo Nhân Đạo đời sống, số ra ngày 04/ 12/ 2013, một nhà báo

    cũng có viết: “Văn học dành cho thiếu nhi là món ăn tinh thần quan trọng cho

    thiếu nhi. Những tác phẩm có giá trị có những tác động tích cực trong việc làm

    phong phú thêm đời sống tâm hồn, hoàn thiện nhân cách, góp phần bồi dưỡng,

    nâng cao định hướng thị hiếu thẩm mỹ cho lớp độc giả nhỏ tuổi” .

    Bước sang giai đoạn mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi

    “mầm non” – tức là lứa tuổi trước khi tới trường phổ thông. Ở giai đoạn này,

    những cấu tạo tâm lý đặc trưng của con người đã được hình thành trước đây đặc biệt là trong độ tuổi mẫu giáo nhỡ vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Với sự

    giáo dục của người lớn, chức năng tâm lý vẫn tiếp tục được hoàn thiện về mọi

    phương diện của hoạt động tâm lý (nhận thức, tình cảm và ý chí).

    Trẻ bắt đầu có sự bộc lộ nhạy cảm với ngôn ngữ, biết sử dụng ngôn

    ngữ như một công cụ để biểu lộ tình cảm nhu cầu cảm xúc của mình. Có trẻ

    bắt đầu thích làm thơ để biểu đạt tình cảm và miêu tả cảnh vật mà trẻ yêu quý.

    Như vậy, những xúc cảm, tình cảm của trẻ được thể hiện không chỉ qua các

    trò chơi, qua các hoạt động mà nó còn được bộc lộ rõ nét thông qua việc trẻ

    được tiếp xúc với tác phẩm văn học. Thông qua ” thế gới thứ hai” trong văn

    học, trẻ bộc lộ thái độ của mình, hình thành nên những ý niệm đạo đức. Sự

    bộc lộ tình cảm của trẻ thực sự mạnh mẽ không chỉ với cuộc sống thực, với

    những người xung quanh, mà trẻ còn tỏ thái độ dứt khoát với nhân vật, hành

    động của nhân vật trong tác phẩm thơ, truyện. Mặt khác, trẻ có tâm lý đồng

    nhất thế giới được miêu tả trong tác phẩm với thế giới thực ngoài đời nên rất

    dễ dàng chia sẻ: yêu cái tốt, ghét cái xấu. Tất cả những điều đó tạo ra mảnh

    đất thuận lợi để giáo dục những phẩm chất đạo đức sau này. Chính vì vậy,

    việc giáo dục tình cảm đúng đắn, trong sáng chính là một trong những việc

    làm quan trọng bậc nhất để hình thành nhân cách trẻ. Ở mỗi độ tuổi, việc giáo

    TrÇn Ngäc ¸nh

    8

    Líp K36B – MÇm non

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc

    dục đạo đức cụ thể là giáo dục xúc cảm, tình cảm cao đẹp cho trẻ rất khác

    nhau. Với trẻ em lứa tuổi ấu nhi, giáo dục đạo đức chính là bước đầu khơi gợi

    ở các em mối quan hệ tốt đối với những người xung quanh. Mẫu giáo nhỡ là

    độ tuổi phát triển những xúc cảm, tình cảm mãnh liệt – đây chính là tiền đề

    giúp trẻ hiểu được những điều hay lẽ phải ở lứa tuổi tiếp theo. Đến cuối tuổi

    mẫu giáo, những tình cảm xã hội xuất hiện, đây chính là cơ hội tốt để giáo

    dục cho các em tình yêu quê hương, đất nước.

    Tóm lại, giáo dục đạo đức cho trẻ lứa tuổi mầm non chính là gốc rễ để

    xây dựng nhân cách toàn diện, giúp trẻ biết làm chủ xúc cảm của mình, biết

    đồng cảm, chia sẻ với mọi người xung quanh.

    1.1.2. Đặc điểm tư duy và nhận thức của trẻ mầm non

    Tư duy là một quá trình phát hiện những thuộc tính bên trong và những

    quy luật khách quan của sự vật để tìm hiểu về một vấn đề nào đó, người ta

    cần có thái độ khách quan, càng khách quan bao nhiêu càng dễ tiến tới chân

    lý bấy nhiêu. Cũng như đời sống tình cảm và cảm xúc, tư duy và nhận thức

    của trẻ mầm non cũng được hình thành và phát triển hoàn thiện theo từng giai

    đoạn độ tuổi.

    Cuối tuổi hài nhi, trẻ bắt đầu xuất hiện những hành vi có thể coi đó là

    mầm mống của tư duy. Trẻ đã bắt đầu hình thành các mối liên hệ với các sự

    vật mà trẻ nghe, nhìn thấy và cảm nhận được.

    Đến tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ có một bước ngoặt rất cơ bản. Đó là sự

    chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong mà thực chất đó

    là việc chuyển những định hướng bên ngoài vào những hành động định hướng

    bên trong theo cơ chế nhập tâm. Do đặc điểm tư duy “vật ngã đồng nhất”, trẻ

    mầm non luôn đồng nhất thế giới xung quanh với chính bản thân mình, do đó

    tình cảm của trẻ không chỉ được thể hiện với những người thân thích, với nhân

    vật trong tác phẩm mà còn được biểu hiện sâu sắc với cả thế giới cỏ cây, hoa lá

    và những vật vô tri vô giác. Các nhà nghiên cứu tâm lý học cũng đã chỉ ra rằng:

    TrÇn Ngäc ¸nh

    9

    Líp K36B – MÇm non

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc

    Ở lứa tuổi này, khả năng bắt chước phát triển mạnh, đây chính là điều kiện

    giúp trẻ tích luỹ hành vi, phẩm chất đạo đức từ xã hội. Do đó, vai trò chăm sóc,

    giáo dục của gia đình và trường mầm non rất quan trọng, nó có ảnh hưởng lớn

    đến sự phát triển nhân cách trẻ. Trong trường mầm non, các hoạt động giáo dục

    cần lồng ghép với nhiệm vụ giáo dục đạo đức, đặc biệt là trong hoạt động cho

    trẻ làm quen với tác phẩm văn học. Với ý nghĩa đó, việc sử dụng tác phẩm văn

    học thiếu nhi để giáo dục đạo đức được coi là phương tiện hữu hiệu nhất để

    góp phần hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ.

    1.2. Cơ sở giáo dục học

    1.2.1. Mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục trẻ ở trường mầm non

    Theo “Quyết định 55 của Bộ giáo dục quy định mục tiêu, kế hoạch đào tạo

    của nhà trẻ – mẫu giáo” thì mục tiêu giáo dục mầm non được xác định là:

    “…Hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới

    XHCN Việt Nam:

    – Khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hoà cân đối.

    – Giàu lòng thương biết quan tâm, nhường nhịn giúp đỡ những người

    gần gũi (bố, mẹ, bạn bè, cô giáo ), thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên.

    – Yêu cái đẹp biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp ở xung

    quanh.

    – Thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi, có một số kỹ

    năng cơ bản (qua sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, suy luận) cần thiết để vào

    trường phổ thông, thích đi học”.

    Như vậy, mục tiêu giáo dục mầm non không phải xuất phát từ ý thức

    chủ quan mang tính áp đặt của nhà giáo dục mầm non mà chính là sự phản

    ánh, đòi hỏi của nền sản xuất hiện đại, dựa trên trình độ phát triển tâm lý sinh lý của trẻ em Việt Nam hiện nay và mai sau. Giáo dục mầm non là khâu

    đầu tiên của quá trình giáo dục thường xuyên cho mọi người, là giai đoạn đầu

    tiên cho việc hình thành và phát triển nhân cách con người. Thực tế đã chứng

    TrÇn Ngäc ¸nh

    10

    Líp K36B – MÇm non

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc

    minh rằng: Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời trẻ đã có khao

    khát tìm hiểu về thế giới xung quanh và điều này chỉ có thể thoả mãn khi trẻ

    được tiếp xúc với các tác phẩm văn học. Qua văn học, trẻ được học hỏi các

    tấm gương đạo đức tốt đẹp như vâng lời, hiếu thuận với cha mẹ, chan hoà với

    bạn bè… Tuy nhiên, khi sử dụng tác phẩm văn học để giáo dục đạo đức cho

    trẻ phải phù hợp với lứa tuổi và đạt hiệu quả giáo dục cao. Có thể lồng ghép

    giữa hai hình thức “học mà chơi – chơi mà học” để trẻ thêm hứng thú. Trong

    đó hướng nhiều đến giáo dục thẩm mĩ, giáo dục trí tuệ và phát triển ngôn ngữ.

    Giáo dục thẩm mĩ là quá trình tác động có hệ thống nhằm phát triển năng

    lực cảm thụ và nhận biết cái đẹp trong nghệ thuật, trong tự nhiên và trong đời

    sống xã hội. Giáo dục trẻ tình yêu với cái đẹp là đưa đến cho trẻ những tác phẩm

    văn học trong sáng, giản dị, ngây thơ, giàu cảm xúc, từ đó hình thành ở trẻ thị

    hiếu thẩm mỹ và những tình cảm đạo đức tốt đẹp. Để làm được điều đó, cô giáo

    phải làm tốt được nhiệm vụ giáo dục nghệ thuật, giúp trẻ đến với nghệ thuật thơ

    văn, để thơ văn lôi cuốn, hấp dẫn trẻ một cách tự nhiên.

    Giáo dục trí tuệ cũng là một nhiệm vụ quan trọng, tạo cơ hội cho việc

    hình thành những biểu tượng, những khái niệm đạo đức, niềm tin đạo đức và

    nó có mối liên hệ chặt chẽ với giáo dục thẩm mỹ.

    Giáo dục trí tuệ cũng tạo điều kiện cho ngôn ngữ phát triển nhanh. Lứa

    tuổi mầm non được đánh giá là giai đoạn bộc lộ rõ và có tính nhạy cảm khá

    cao với các hiện tượng ngôn ngữ. Vì vậy, việc chú ý phát triển ngôn ngữ có

    hệ thống cho trẻ ngay từ đầu và gắn liền với tác phẩm văn học có vai trò vô

    cùng quan trọng.

    Xuất phát từ những đặc điểm tâm lý của trẻ lứa tuổi mầm non nên mọi

    nhiệm vụ giáo dục cho trẻ lứa tuổi này cần phải được tiến hành rất sớm. Do

    TrÇn Ngäc ¸nh

    11

    Líp K36B – MÇm non

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc

    đó, việc sử dụng các tác phẩm văn học thiếu nhi nhằm giáo dục đạo đức cho

    trẻ cũng rất phù hợp và cần thiết.

    1.2.2. Vấn đề giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non

    Giáo dục đạo đức cho trẻ nhỏ là một công việc khó khăn nhưng vô

    cùng quan trọng. Dưới sự tác động sư phạm của người lớn, đứa trẻ ngay từ

    những tháng năm đầu tiên của cuộc đời đã có thể lĩnh hội một số khái niệm,

    biểu tượng đạo đức hết sức đơn giản và có hành vi phù hợp với những khái

    niệm, biểu tượng ấy. Trong khi giao tiếp với người lớn, trẻ được chứng kiến

    những hành vi của họ và sự đánh giá, cho phép “nên, không nên, được phép

    hoặc không được phép”… của người lớn. Từ đó trẻ biết được cái gì là “tốt”,

    cái gì là “xấu” theo sự đánh giá của người lớn và trẻ tiếp thu, thấm nhuần

    những biểu tượng đạo đức sơ đẳng.

    Những ấn tượng đầu tiên ấy của trẻ thường để lại những dấu vết trong

    suốt cuộc đời. Chính vì thế mà cần phải xây dựng sao cho những khái niệm

    đạo đức ban đầu, những biểu tượng ban đầu ấy thật chính xác và phản ánh

    đạo đức của xã hội đặc biệt là đạo đức tâm hồn của dân tộc Việt Nam chúng

    ta. Như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh:

    Hiền dữ phải đâu là tính sẵn

    Phần nhiều do giáo dục mà nên

    (Lời Hồ Chí Minh)

    Ở trẻ mầm non, cấu trúc tâm lý bên trong, đặc biệt là hệ thống những

    xúc cảm, tình cảm của trẻ có nhiều những biến động phức tạp, ý thức của trẻ

    đã xuất hiện nhưng chưa bền vững và vẫn chịu sự tác động của người lớn.

    Nên việc giáo dục những chuẩn mực đạo đức cho trẻ mầm non không chỉ

    được thực hiện thông qua hoạt động dạy và học mà còn phải thực hiện trong

    mọi lúc mọi nơi, qua sự gương mẫu của cô giáo và những người lớn xung

    quanh trẻ. Như vậy, giáo dục đạo đức cho trẻ lứa tuổi mầm non là quá trình tổ

    chức, hướng dẫn, kích thích trẻ tích cực tham gia vào các hoạt động để lĩnh

    TrÇn Ngäc ¸nh

    12

    Líp K36B – MÇm non

    Khãa luËn tèt nghiÖp §¹i häc

    Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc

    hội những chuẩn mực giá trị đạo đức, văn hoá, xây dựng cho trẻ những phẩm

    chất đạo đức bên trong gồm: lòng nhân ái, ý thức đạo đức đồng thời bồi

    dưỡng cho trẻ những quy tắc, hành vi ứng xử bên ngoài và bên trong thống

    nhất với nhau.

    Quá trình hướng dẫn, kích thích hoạt động tích cực của trẻ phải được tổ

    chức trong sự phối kết hợp với các hoạt động giáo dục khác, đặc biệt là hoạt

    động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học và dựa trên nền tảng truyền

    thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta.

    1.2.3. Ý nghĩa của giáo dục đạo đức cho trẻ mầm non

    Như ở trên đã phân tích, đạo đức là một hoạt động chuyên biệt, có mục

    đích của nhà giáo dục nhằm xây dựng cho trẻ những nét tính cách, những

    phẩm chất đạo đức và bồi dưỡng cho các em những tiêu chuẩn và quy tắc

    hành vi quy định thái độ của chúng với nhau, đối với gia đình, đối với người

    khác, đối với nhà nước và Tổ quốc. Giáo dục đạo đức có ý nghĩa rất quan

    trọng trong toàn bộ sự nghiệp giáo dục con người mới.

    Việc hình thành cơ sở phẩm chất đạo đức của con người phải bắt đầu ngay

    từ lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo. Giáo dục mẫu giáo là khâu đầu tiên của việc đào tạo

    nhân cách con người mới, có nhiệm vụ hình thành những cơ sở ban đầu của nhân

    cách con người mới tạo tiền đề cho sự phát triển về sau. Dưới sự hướng dẫn của

    cô giáo, trong các hoạt động ở trường mầm non, đặc biệt là hoạt động cho trẻ làm

    quen với tác phẩm văn học, trẻ sẽ hình thành những tình cảm bạn bè, tình yêu

    thương cha mẹ, ông bà, tình đoàn kết, gắn bó trong tập thể, biết chia sẻ giúp đỡ

    nhau trong cuộc sống. Từ đó, những hiểu biết, nhu cầu về đạo đức, tình cảm đạo

    đức, đặc biệt là hành vi, thói quen đạo đức ngày càng phong phú và hoàn thiện.

    Nói như V.A. Xukhomoki: “Giáo dục lòng nhân ái cần được bắt đầu ngay từ tuổi

    ấu thơ…Đó là một mặt quan trọng nhất của việc hình thành đạo đức cho trẻ”.

    TrÇn Ngäc ¸nh

    13

    Líp K36B – MÇm non

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Nhân Cách Cho Trẻ Bằng Văn Học Thiếu Nhi
  • Chức Năng Của Văn Học Là Gì? Đặc Trưng Và Vai Trò Của Văn Học
  • Phòng Giáo Dục Đào Tạo Cấp Quận/huyện Đang Có Những Nhiệm Vụ Gì?
  • Phòng Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Xã Hội Học Giáo Dục
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức Năng Giáo Dục Và Chức Năng Thẩm
  • Chứng Minh Những Giá Trị Cơ Bản Của Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Bàn Luận Về Câu Nói: “sức Mạnh Của Văn Học Dựa Trên Những Chức Năng Của Nó
  • Bàn Luận Về Vấn Đề Học Môn Văn Của Học Sinh Hiện Nay
  • Dàn Ý Bài: Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Chức Năng Giáo Dục Của Tác Phẩm Văn Học
  • Văn học là một sáng tạo của con người trong cuộc sống. Tác phẩm văn học từ xưa nay luôn luôn thể hiện và đánh dấu nền văn học của nhân loại. Thế nhưng, nhiều nhà văn, đứng trước những hoàn cảnh nghiệt ngã, lại băn khoăn tự hỏi liệu một tác phẩm văn chương có ích lợi gì khi người ta chết đói? Nói như vậy là một cách đặt lại vấn đề chức năng của văn học

    1. Nhập đề: Văn học là một sáng tạo của con người trong cuộc sống. Tác phẩm văn học từ xưa nay luôn luôn thể hiện và đánh dấu nền văn học của nhân loại. Thế nhưng, nhiều nhà văn, đứng trước những hoàn cảnh nghiệt ngã, lại băn khoăn tự hỏi liệu một tác phẩm văn chương có ích lợi gì khi người ta chết đói? Nói như vậy là một cách đặt lại vấn đề chức năng của văn học. Cho nên. những nhà lý luận văn học vẫn tiếp tục nghiên cứu về vai trò và tác dụng của văn chương. Dù công cuộc nghiên cứu về vai trò và tác dụng của văn chương. Dù công cuộc nghiên cứu ấy chưa dừng lại, nhưng ít nhất, người ta cũng thừa nhận rằng văn học có nhiều chức năng, trong đó cơ bản là: chức năng nhận thức, chức năng giáo dục và chức năng thẩm mỹ. Xác định được ý nghĩa của những khái niệm đó và phân tích một tác phẩm cụ thể để minh họa, thiết tưởng đó cũng là một cách thiết thức để tìm hiểu vai trò của văn học.

    2. Giải quyết vấn đề: Chức năng nhận thức:

    a) Thế nào là chức năng nhận thức?

    Đi từ chức năng cung cấp kiến thức: con người, trong quá trình phát triển, cần rất nhiều kiến thức: về địa lí, về lịch sử, về toán học, về vật lý, về sinh học, về xã hội, về cuộc sống, về con người. Nhìn chung, có hai loại kiến thức: kiến thức về khoa học tự nhiên và kiến thức về khoa học xã hội. Văn học cung cấp cho ta những kiến thức thuộc loại thứ hai.

    – Đến chức năng nhận thức: kiến thức là cái gì còn nằm ở dạng khách quan, còn nhận thức là có tác động chủ quan. Khi vẽ nên bức tranh hai người đánh lộn, đó là thể hiện khách quan, nhưng khi vẽ nên cảnh đó để trẻ em thấy đánh lộn là xấu, không nên thì đó là tác động chủ quan. Từ đó có thể thấy chức năng nhận thức tức là chức năng giúp người ta phân biệt cái đúng, cái sai, cái hay, cái dở, cái tốt, cái xấu. Như thế, rõ ràng là văn học không phải chỉ cung cấp cho ta những kiến thức mà qua những kiến thức tác phẩm còn hướng người đọc tới nhận thức nhất định.

    Tác phẩm văn học đem tới cho người đọc những kiến thức nhất định. Nhưng đấy không phải là mục đích cuối cùng của nhà văn. Qua một tiểu thuyết, ta có thể biết được vào thời kỳ nào đó, người ta trồng trọt như thế, kiến thức ra sao, cưới hỏi có giống hiện nay hay không. Nhưng nhà văn không ngừng lại ở đó, nhà văn muốn qua những kiến thức đó, hướng người đọc tới những nhân thức về con người, về cuộc sống.

    b) Phân tích: Lấy một bài thơ quen thuộc – bài Tây Tiến của Quang Dũng để làm sáng tỏ điều đó. Lịch sử có thể miêu tà những trận đánh, nêu lên những đặc điểm của quân đội ta thời kỳ kháng chiến chống Pháp, về ưu điểm cũng như về khuyết điểm.

    Sử học có thể mô tả con đường hành quân của đoàn binh Tây Tiến qua những địa danh cụ thể xác thực. Nhưng tuyệt nhiên, sử học không bao giờ ghi lại một cách sinh động, chân thực và hình tượng cánh đoàn quân như thế này:

    Dốc lên khúc khuỷ, dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

    Nhà thơ, qua những hình ảnh sống động ấy, giúp cho ta nhận thức được con người hành quân hết sức gian nan, và cao hơn nữa, giúp ta nhận thức rằng những người chiến sĩ trong đoàn quân Tây Tiến là những thanh niên giàu lòng hy sinh và có tinh thần chịu đựng gian khổ một cách đáng khâm phục:

    Anh bạn dãi dầu không bước nữa

    Gục lên súng mũ bỏ quên đời

    Những cái gì cho họ có khả năng chịu đựng như vậy? Bài thơ tiếp tục đẩy người đọc đi tới một hướng nhận định mới: chiến sĩ trong binh đoàn Tây Tiến là những con người tiêu hiểu của một thế hệ thanh niên Việt Nam có lòng yêu nước sâu sắc:

    Rải rác biên cương mồ viễn xứ

    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

    Áó bào thay chiếu anh về đất

    Sông Mã gầm lên khúc độc hành

    Chính vì nhận thức được như vậy nên có người đã nhìn thấy “bức chân dung tiêu biểu rất oai hùng của những chiến sĩ vô danh dám xả thân vì nghĩa lớn” – Phong Lan.

    3. Chức năng thẩm mỹ:

    a) Thế nào là chức năng thẩm mỹ? Chức năng thẩm mỹ tức là chức năng về cái đẹp. Bản chất của con người là yêu cái đẹp, thích mình đẹp và hướng về cái đẹp. Văn học cũng như những ngành nghệ thuật khác, là một trong nhiều phương tiện hướng con người tới cái đẹp. Cái đẹp làm thỏa mãn nhu cầu trái tim, nhu cầu tâm hồn của con người. Bản chất của văn học là cái đẹp – cái đẹp của ngôn ngữ, của hình tượng, của hành động – cho nên văn học đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của con người. “Tác phẩm văn học chân chính giúp cho con người phát triển những cảm xúc thẩm mỹ lành mạnh, nâng cao năng lực cảm nhận cái đẹp, nâng cao thị hiếu và lý tưởng thẩm mỉ, hiệu chỉnh những sai lầm, uốn nắn những sự không lành mạnh hay thấp kém trong quá trình cảm thụ cái đẹp. Văn học thực hiện chức năng này một cách vô tư, không áp đặt với người đọc”.

    b) Phân tích: Vậy thì, trong tác phẩm mà chúng ta thí dụ, chức năng về cái đẹp đã thể hiện như thế nào? ở trong hình ảnh:

    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

    Còn đây là một nét đẹp khác về con người:

    Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

    Có nhớ dáng người trên độc mộc

    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

    Hồn thơ tinh tế của tác giả bắt rất nhạy từ một làn sương chiều mỏng, từ một dáng hoa lau núi phất phơ đơn sơ bất chợt, rồi ông thổi hồn mình vào đó và để lại mãi mãi trong ta nỗi niềm bâng khuâng thương mến và một áng thơ đẹp

    Và cả bài Tây Tiến mang vẻ đẹp lý tưởng của mọi người thật rực rỡ. Người ta sống bằng lý tưởng, và nhìn những gian khổ mất mát bằng cái nhìn cao cả, bất cần, đôi khi ngây thơ nữa.

    4. Chức năng giáo dục:

    a) Thế nào là chức năng giáo dục? Đó là chức năng đem tới những bài học, những bổ ích của tác phẩm văn học. Nói cách khác tác phẩm văn học sẽ dạy ta những bài học thiết thực nào đấy bằng cách của nó. Có thể, qua một bài thơ, ta hiểu thế nào là tình yêu thiên nhiên, qua một tiểu thuyết ta học cách làm người cho xứng đáng. Nhưng nói như vậy là một cách nói tương đối và thoáng. Bởi vì tác phẩm không phải là những bài học giáo dục. Tác phẩm văn học còn được gọi là sự tự giáo dục. Nói cách khác, qua hình tượng nghệ thuật, mỗi một người đọc tự cảm nhận được điều bổ ích với chính mình, không nhất thiết giống với người khác. Tính giáo dục của tác phẩm văn học thông qua con đường của trái tim cho nên tác dụng của nó cực kì mãnh liệt. Nó làm thay đổi tầm hồn, làm phong phú tình cảm, làm thay đổi những suy nghĩ.

    b) Phân tích: chính bằng những hình tượng nghe thuật giàu chất thẩrn mĩ, bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng đem tới cho người đọc nhiều điều bổ ích thú vị.

    Trước hết là tình đồng đội. Rõ ràng điểm xuất phát của bài thơ này nỗi nhớ đồng đội tha thiết, mãnh liệt và chân thực. Từ sự rung động của nhà thơ, nỗi nhớ ấy làm rung động trái tim người đọc và bài học về tình yêu đồng đội được cảm nhận sâu sắc trên từng câu thơ:

    Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

    Và mặc dù nhà thơ không có một khái niệm trực tiếp nói về sự biết ơn, ca ngợi lòng biết ơn đối với những người chiến sĩ vô danh, nhưng toàn bộ bài thơ được người đọc đánh giá đó chính là tượng đài… bất tử mà nhà thơ Quang Dũng với tất cả tấm chân tình đã dựng nên để tưởng niệm những người chiến sĩ vô danh đã hy sinh vì nước… thấy được đó bức tượng đài tưởng niệm những người chiến sĩ không tên, ấy là gì, nếu không phải là bài học cụ thể mà tác phẩm nghệ thuật mang tới cho người đọc.

    Kết luận: Thực ra thì rất khó có thể phân biệt ba chức năng ấy một cách dứt khoát và rõ ràng như vậy hởi vì bản chất của nó là gắn bó chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể nghệ thuật. Nhưng ở một mức độ tương đối, để dễ dàng nhận thức, chúng ta làm công việc tách rời đó. Dù khi tách rời, các chức năng ấy, trong một tác phẩm cụ thể là bài thơ Tây Tiến, vẫn tỏ ra có mối liên hệ. Bởi vì nhận thức mà tác phẩm đem tới là cảm nhận vẻ đẹp của hình tượng.

    Chính vì những chức năng hết sức tinh tế và ảnh hưởng sâu sắc như vậy văn học luôn luôn cần thiết đối với con người trong quá trình phát triển nhân cách và đối với xã hội trong quá trình hoàn thiện.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Huy Hơn Nữa Vai Trò Của Phê Bình Văn Học
  • Giảm Trừ Chức Năng Trung Gian Của Phê Bình Văn Học
  • Mấy Vấn Đề Lý Luận Về Phê Bình Văn Học
  • Tiểu Thuyết Quốc Ngữ Đầu Thế Kỷ Xx Và Chức Năng Dự Báo Của Văn Học
  • Tính Dự Báo Của Văn Chương
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100