Ban Kiểm Soát (Board Of Supervisors) Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Ban Kiểm Soát

--- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Ban Kiểm Soát Công Ty Cổ Phần
  • Ban Kiểm Soát Công Ty Cổ Phần Khái Niệm, Đặc Điểm Và Quyền Hạn
  • Vai Trò Của Ban Kiểm Soát Trong Công Ty Cổ Phần
  • Ban Kiểm Soát Trong Công Ty Cổ Phần
  • Chức Năng Của Kiểm Toán Nội Bộ
  • Ban kiểm soát trong tiếng Anh gọi là Board of Supervisors.

    Ban kiểm soát công ty là tổ chức phụ thuộc công ty được lập ra bởi Hội đồng quản trị nhằm giúp Hội đồng quản trị kiểm tra, giám sát tính hợp pháp, chính xác và trung thực trong việc quản lí, điều hành hoạt động kinh doanh, ghi chép sổ sách kế toán thuế doanh nghiệp , báo cáo tài chính và việc chấp hành điều lệ công ty, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị và Chủ tịch Hội đồng quản trị.

    Cơ cấu của Ban kiểm soát

    Ban kiểm soát mỗi công ty thường có cơ cấu khác nhau, tuy nhiên đều bao gồm:

    – Trưởng ban kiểm soát

    – Thành viên ban kiểm soát chuyên trách

    – Thành viên ban kiểm soát không chuyên trách

    Nội bộ và nhiệm kì Ban kiểm soát

    – Ban kiểm soát thường có nhiệm kì từ 3-5 năm trùng với nhiệm kì của Hội đồng quản trị và phải do Đại hội cổ đông bầu ra sau đó Ban kiểm soát tự bầu ra các chức danh cụ thể trong nội bộ ban.

    – Các thành viên trong Ban kiểm soát có thể được bầu lại với số nhiệm kì không hạn chế.

    Điều kiện của thành viên Ban kiểm soát

    – Phải có ít nhất một thành viên có nghiệp vụ kế toán, kiểm toán

    – Có tuổi đời từ 21 trở lên, đủ năng lực và hành vi dân sự và không thuộc đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp cũng như quản lí doanh nghiệp.

    – Không phải là vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong doanh nghiệp và người quản lí khác, điểm này sẽ hạn chế các thông đồng hoặc hành vi không chuẩn của thành viên Ban kiểm soát.

    – Các thành viên trong Ban kiểm soát không được giữ các chức vụ quản lí trong công ty.

    – Thành viên Ban kiểm soát không nhất thiết phải là cổ đông hay người lao động trong công ty.

    Quyền hạn và nghĩa vụ của Ban kiểm soát

    Ban kiểm soát có những quyền hạn và nghĩa vụ như sau:

    – Kiểm soát toàn bộ hệ thống tài chính và việc thực hiện các quy chế của công ty: kiểm tra tính hợp lí, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lí, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính.

    Thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính theo các định kì của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lí của Hội đồng quản trị lên Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên.

    – Xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty, các công việc quản lí, điều hành hoạt động của công ty bất cứ khi nào nếu xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông.

    – Kiểm tra bất thường: Khi có yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông, Ban Kiểm soát thực hiện kiểm tra trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu.

    Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm tra, Ban kiểm soát phải báo cáo giải trình về những vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến Hội đồng quản trị và cổ đông và nhóm cổ đông có yêu cầu.

    – Can thiệp vào hoạt động công ty khi cần: Kiến nghị Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng Cổ đông các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lí, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.

    – Khi phát hiện có thành viên Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông, Tổng giám đốc vi phạm nghĩa vụ của người quản lí công ty phải thông báo ngay bằng văn bản với Hội đồng quản trị, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả.

    Vị thế của Ban kiểm soát trong công ty

    Ban kiểm soát có vị thế độc lập trong công ty, có thể ngang cấp với Hội đồng quản trị và trên cả Ban giám đốc. Tuy nhiên trên thực tế Ban kiểm soát thường có vị trí dưới Ban giám đốc do các thành viên trong Ban kiểm soát thường có ít cổ phần trong công ty, gần như không bao giờ là cổ đông lớn của công ty.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Tỉnh
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Tỉnh Bắc Ninh
  • Chức Năng Của Ban Kiểm Soát Trong Công Ty Cổ Phần
  • Ban Kiểm Soát Trong Công Ty Tnhh 2 Thành Viên Trở Lên
  • Hệ Thống Kiểm Soát Nội Bộ Tao Ra Nền Tảng Vững Vàng, Là Cốt Lõi Quản Trị Hiệu Quả Trong Doanh Nghiệp
  • Ban Kiểm Soát Công Ty Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Ban Kiểm Soát?

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Tỉnh, Thành Phố
  • Tổ Chức Bộ Máy Của Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Tỉnh Bắc Ninh
  • Chức Năng Hoạt Động Chính Của Máy Chấm Công Kiêm Kiểm Soát Ra Vào
  • Chức Năng Chính Của Phần Mềm Hệ Thống Điều Khiển Thiết Bị Không Dệt
  • Luận Văn Đề Tài Trình Bày Nội Dung Cơ Bản Của Chức Năng Kiểm Soát Trong Lĩnh Vực Tài Chính Tiền Tệ
  • Ban kiểm soát công ty là tổ chức phụ thuộc công ty được lập ra bởi Hội đồng quản trị nhằm giúp Hội đồng quản trị kiểm tra, giám sát tính hợp pháp, chính xác và trung thực trong việc quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, ghi chép sổ sách kế toán, báo cáo tài chính và việc chấp hành điều lệ công ty, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị và Chủ tịch Hội đồng quản trị.

    Tư vấn về nhiệm vụ và vai trò của Ban kiểm soát công ty: 0965 999 345

    Ban kiểm soát công ty là gì?

    Ban kiểm soát công ty là tổ chức phụ thuộc công ty được lập ra bởi Hội đồng quản trị nhằm giúp Hội đồng quản trị kiểm tra, giám sát tính hợp pháp, chính xác và trung thực trong việc quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, ghi chép sổ sách kế toán thuế doanh nghiệp , báo cáo tài chính và việc chấp hành điều lệ công ty, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị và Chủ tịch Hội đồng quản trị.

    Cơ cấu của Ban kiểm soát?

    • Ban kiểm soát mỗi công ty thường có cơ cấu khác nhau, tuy nhiên đều bao gồm:

    • Thành viên ban kiểm soát chuyên trách

    • Thành viên ban kiểm soát không chuyên trách

    Nội bộ và nhiệm kỳ Ban kiểm soát?

    • Ban kiểm soát thường có nhiệm kỳ từ 3-5 năm trùng với nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị và phải do Đại hội cổ đông bầu ra sau đó Ban kiểm soát tự bầu ra các chức danh cụ thể trong nội bộ ban.

    • Các thành viên trong Ban kiểm soát có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế.

    Điều kiện của thành viên Ban kiểm soát?

    • Phải có ít nhất một thành viên có nghiệp vụ kế toán, kiểm toán

    • Có tuổi đời từ 21 trở lên, đủ năng lực và hành vi dân sự và không thuộc đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp cũng như quản lý doanh nghiệp

    • Không phải là vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, tổng giám đốc trong doanh nghiệp và người quản lý khác, đểm này sẽ hạn chế các thông đồng hoặc hành vi không chuẩn của thành viên Ban kiểm soát.

    • Các thành viên trong Ban kiểm soát không được giữ các chức vụ quản lý trong công ty

    • Thành viên Ban kiểm soát không nhất thiết phải là cổ đông hay người lao động trong công ty.

    Quyền hạn và nghĩa vụ của Ban kiểm soát?

    • Kiểm soát toàn bộ hệ thống tài chính và việc thực hiện các quy chế của công ty: Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính.Thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính theo các định kỳ của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị lên Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên.

    • Xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của Công ty, các công việc quản lý, điều hành hoạt động của Công ty bất cứ khi nào nếu xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông.

    • Kiểm tra bất thường: Khi có yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông, Ban Kiểm soát thực hiện kiểm tra trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm tra, Ban kiểm soát phải báo cáo giải trình về những vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến Hội đồng quản trị và cổ đông và nhóm cổ đông có yêu cầu.

    • Can thiệp vào hoạt động công ty khi cần: Kiến nghị Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng Cổ đông các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.

    • Khi phát hiện có thành viên Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng Cổ đông, Tổng Giám đốc vi phạm nghĩa vụ của người quản lý công ty phải thông báo ngay bằng văn bản với Hội đồng quản trị, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả.

    Vị thế của Ban kiểm soát trong công ty?

    Ban kiểm soát có vị thế độc lập trong công ty, có thể ngang cấp với Hội đồng quản trị và trên cả Ban giám đốc. Tuy nhiên trên thực tế Ban kiểm soát thường có vị trí dưới Ban giám đốc do các thành viên trong Ban kiểm soát thường có ít cổ phần trong công ty, gần như không bao giờ là cổ đông lớn của công ty.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dân Sự Kiểm Soát Quân Sự
  • Lực Lượng Kiểm Soát Quân Sự Việt Nam, Những Điều Ít Biết
  • Đảng Bộ Khối Doanh Nghiệp Tỉnh Vĩnh Phúc
  • Tổ Chức Ủy Ban Kiểm Tra Đảng Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Hội Nghị Toàn Quốc Tổng Kết Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát Và Thi Hành Kỷ Luật Của Đảng Năm 2022; Triển Khai Nhiệm Vụ Năm 2022
  • Tiểu Luận Chức Năng Kiểm Soát Của Quản Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Ví Dụ Cụ Thể Về Ban Kiểm Soát Công Ty Cổ Phần
  • Công Ty Cổ Phần Có Buộc Phải Có Ban Kiểm Soát Không?
  • Quyết Định 414/tchq/qđ/tccb Năm 2003 Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn, Cơ Cấu Tổ Chức Và Mối Quan Hệ Công Tác Của Đội Kiểm Soát Hải Quan Trực Thuộc Cục Hải Quan Liên Tỉnh, Thành Phố Do Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Hải Quan Ban Hành
  • Bài Giảng Về Chức Năng Kiểm Sóat
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Ban Kiểm Soát Của Tổ Chức Tín Dụng Là Công Ty Cổ Phần, Công Ty Tnhh
  • 1 Tiểu luận Chức năng kiểm soát của quản trị 2 LỜI MỞ ĐẦU Sau khi tiến hành các chức năng hoạch định, tổ chức và lãnh đạo thì mô hình hoạt động của doanh nghiệp vẩn chưa hoàn chỉnh. Do vậy nhà quản trị phải tiến hành giám sát và đánh giá công việc nhằm hạn chế tới mức tối đa các sai sót, hay có thể nói nhà quản trị đã tiến hành chức năng kiểm soát. Kiểm soát là mối nối cuối cùng trong chuỗi các hoạt động của nhà quản trị. Kiểm soát là cách duy nhất để nhà quản trị biết được họ có đạt được mục tiêu của tổ chức đặt ra không, cũng như lý do tại sao được hoặc không đạt được. Đối với hầu hết mọi người, từ “kiểm tra”, “kiểm soát” thường mang ý nghĩa tiêu cực, kiềm chế, thúc ép, định ranh giới, theo dõi hoặc lôi kéo. Nhiều nhân viên hay khách hàng thường không bằng lòng với những hoạt động kiểm tra, kiểm soát bởi vì chúng ảnh hưởng đến giá trị của sự tự do và tính cá nhân. Vì lý do này, kiểm soát thường là tâm điểm của tranh luận và những đấu tranh chính sách trong tổ chức. Tuy nhiên, kiểm soát là cần thiết và hữu ích. Kiểm soát hiệu quả là một trong số các bí quyết để gia tăng lợi nhuận của các công ty lớn. Kiểm soát là một chức năng mà mọi nhà quản trị đều phải thực hiện dù rằng kết quả công việc của các bộ phận do họ quản lý đều đạt đúng theo kế hoạch đề ra. Nhà quản trị không thể xác định mức độ hoàn thành công việc của bộ phận nếu không đo lường được việc đã thực hiện và so sánh với tiêu chuẩn. Nó còn giúp các nhà quản trị nhận thấy những khiếm khuyết trong hệ thống của tổ chức, trên cơ sở đó có thể đưa ra những quyết định điều chỉnh kịp thời. Mặt khác, các hoạt động kiểm soát đảm bảo cho sự tồn tại và duy trì tính hiệu quả của mỗi cá nhân, mỗi nhóm, mỗi bộ phận và tổ chức. Một hệ thống kiểm soát hữu hiệu sẽ thúc đẩy và cho phép mỗi nhân viên tự kiểm soát bản thân hơn là chịu sự kiểm soát từ người khác. Chính sự tự giác sẽ giúp công việc được hiệu quả hơn. Do đó, có thể nói chức năng kiểm soát là một chức năng cơ bản của quản trị. Chính vì sự quan trọng và cần thiết này, nhóm đã quyết định chọn chức năng kiểm soát làm đề tài của bài tiểu luận. 3 I. Khái niệm và vai trò của kiểm soát I.1. Khái niệm Sau khi các mục tiêu đã được xác lập, các kế hoạch đã được hoạch định, cơ cấu tổ chức được xác định và nhân viên được tuyển dụng, đào tạo và khuyến khích làm việc thì sai sót vẫn có thể xảy ra. Để đảm bảo cho mọi việc đi đúng hướng, nhà quản trị phải giám sát và đánh giá kết quả công việc. Kết quả thực tế phải được so sánh với những mục tiêu đã xác lập trước đó để nhà quản trị có thể đưa ra những hoạt động cần thiết, đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức đi đúng quỹ đạo. Quá trình giám sát, so sánh và hiệu chỉnh là những nội dung của chức năng kiểm soát. Kiểm soát là một tiến trình gồm các hoạt động giám sát nhằm đảm bảo rằng các hoạt động đó được thực hiện theo đúng như kế hoạch và điều chỉnh những sai sót quan trọng. Tất cả các nhà quản trị đều có trách nhiệm trong tiến trình kiểm soát cho dù các bộ phận của họ có được thi hành tốt như kế hoạch đề ra hay chưa. Các nhà quản trị không thể thật sự hiểu hết các bộ phận của họ đã được thực hiện đúng hay chưa cho đến khi họ đã đánh giá những hoạt động nào đã hoàn thành và so sánh kết quả thực tế với tiêu chuẩn đã được đề ra trước đó. Theo khoa học quản trị thì thường có hai tầng kiểm soát trong một doanh nghiệp là: Kiểm soát của chủ sở hữu đối với người quản lý công ty (corporate governance) và kiểm soát của người quản lý công ty đối với toàn bộ hoạt động trong phạm vi mình quản lý (internal control). Ở tầng thứ nhất, đại hội đồng cổ đông, cơ quan quyền lực cao nhất của doanh nghiệp (công ty cổ phần), đề ra ban kiểm soát. Ở những công ty nước ngoài có quy mô lớn, thậm chí người ta lập ra một ủy ban kiểm soát (audit committee) có thể gồm 5-7 thành viên hoặc nhiều hơn nữa. Ban kiểm soát này được đại hội đồng cổ đông trả tiền, có nhiệm vụ kiểm soát tất cả những hoạt động của hội đồng quản trị 4 (HĐQT). Nếu phát hiện HĐQT có hành vi sai trái, ban kiểm soát sẽ báo cáo đại hội đồng cổ đông để cơ quan này xử lý, kể cả cách chức, miễn nhiệm HĐQT. Đến lượt mình, HĐQT cũng đề ra một ban kiểm soát để giám sát hoạt động của tổng giám đốc, trong đó có hai hoạt động quan trọng là hoạt động tài chính và việc thực thi chiến lược, nghị quyết của HĐQT… Ví dụ, HĐQT quyết năm nay chỉ đầu tư vào du lịch mà tổng giám đốc lại ôm tiền đầu tư chứng khoán thì lúc đó ban kiểm soát phải tuýt còi, uốn nắn ngay. Tuy nhiên, ở Việt Nam, phần lớn ở các công ty cổ phần, chủ tịch HĐQT kiêm luôn tổng giám đốc nên việc lập ra ban kiểm soát thứ hai này là không cần thiết. Trong trường hợp như vậy, ban kiểm soát của đại hội đồng cổ đông không chỉ có bổn phận giám sát HĐQT mà còn nhận thêm nhiệm vụ kiểm soát hoạt động của tổng giám đốc. Ở tầng kiểm soát tiếp theo, để giám sát hoạt động của cấp dưới, tổng giám đốc cũng lập ra một bộ phận kiểm soát nội bộ mà các thành viên trong đó được gọi là kiểm toán viên nội bộ (internal auditor). Những kiểm toán viên nội bộ thay mặt tổng giám đốc có thể kiểm tra bất cứ ai, bất cứ bộ phận nào tại công ty. Công việc kiểm tra của họ chủ yếu gồm ba loại: Thứ nhất là kiểm soát việc tuân thủ (pháp luật nhà nước, quy chế công ty – compliance audit). Thứ hai là kiểm soát tài chính (financial audit). Và cuối cùng là kiểm soát hoạt động (operation audit). Trong trường hợp công ty có một hệ thống quy chế nội bộ rất tốt, tức quản lý bằng quy chế nhiều hơn bằng thói quen, cảm tính thì kiểm soát nội bộ cũng gần như đồng nghĩa với kiểm soát việc tuân thủ, vì nếu tuân thủ đầy đủ quy chế tức là đã thực thi đúng phận sự. Một số phẩm chất cần có ở người kiểm soát Hoạt động kiểm soát muốn đạt hiệu quả, người được giao trọng trách kiểm soát phải hội tụ được một số phẩm chất quan trọng như sau: – Phải am hiểu ngành, nghề. Ví dụ, kiểm soát tuân thủ thì phải am hiểu về luật lệ; kiểm soát về tài chính thì phải có chuyên môn kế toán-tài chính hoặc công ty hoạt động về dầu khí thì phải có kiến thức về lĩnh vực dầu khí… 5 – Phải có tính hoài nghi nghề nghiệp. Điều này cũng giống bác sĩ nhìn đâu cũng thấy vi trùng. Người làm kiểm soát nhìn đâu cũng phải thấy sai sót, có như vậy mới phát hiện ra sai sót. – Phải khách quan (tôn trọng sự thật). Muốn khách quan thì cần phải độc lập (về kinh tế, quan hệ, công việc…). Tuy nhiên, ban kiểm soát cũng như kiểm toán nội bộ không phải là tất cả. Chúng chỉ là một bộ phận cấu thành của hệ thống kiểm soát công ty. Có ý kiến ngộ nhận rằng chúng được lập nên để chống thất thoát tiền bạc, tài sản của doanh nghiệp. Hiểu như vậy thì đơn giản quá. Một hệ thống kiểm soát hiệu quả phải đảm bảo rằng các hoạt động được hoàn thành theo đúng những phương pháp mà có thể đạt được như mục tiêu của tổ chức đề ra. Hệ thống kiểm soát hữu hiệu là một hệ thống mà ở đó mọi người đều phải làm việc hết mình và không ai dám làm bậy, đồng thời giúp doanh nghiệp hạn chế tối đa rủi ro trên con đường hướng đến mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra. Mọi cơ chế và quy chế mà doanh nghiệp đưa ra và xây dựng đều hướng đến một hệ thống kiểm soát như vậy. Mất mát tài sản chỉ là một chuyện rất nhỏ trong chuyện làm bậy đó thôi. Cũng giống như thời xưa ở Trung Quốc người ta nói có ba loại quan: quan thái bình, quan tham và quan đúng nghĩa. Quan thái bình không làm bậy nhưng không làm gì cả. Quan tham thì làm bậy. Còn quan đúng nghĩa là làm việc hết mình vì vua, vì nước. Trong doanh nghiệp cũng vậy, mọi người không làm bậy nhưng nếu không làm việc hết mình thì cũng như quan thái bình. Lúc đó thiệt hại có thể còn cao gấp hàng trăm, hàng ngàn lần tài sản thất thoát do làm bậy. Những cách tiếp cận đối với hoạt động kiểm soát Có 3 cách tiếp cận đối với hoạt động kiểm soát là: – Kiểm soát thị trường: Là một cách tiếp cận về kiểm soát trong đó sử dụng cơ chế thị trường bên ngoài như cạnh tranh giá cả, thị phần tương đối, để thiết lập nên tiêu chuẩn sử dụng trong hệ thống kiểm soát. Phương thức này thường được sử dụng bởi các tổ chức mà trong đó các sản phẩm hoặc dịch vụ của công ty rất rõ ràng và khác biệt và ở đó sự cạnh tranh trên thị trường là đáng kể. Trong những điều kiện đó, các phân bộ của một công ty thường được chuyển thành những trung tâm lợi 6 nhuận và được đánh giá bởi tỷ lệ phần trăm trong tổng lợi nhuận chung thu được mà mỗi phân bộ đó đóng góp. – Kiểm soát hành chính: là phương pháp tiếp cận tập trung vào quyền hạn dựa trên các quy định hành chính, luật lệ, thủ tục và các chính sách. Cách kiểm soát này dựa trên việc tiêu chuẩn hóa các hoạt động, bản mô tả công việc chi tiết, và các cơ chế hành chính khác như ngân quỹ đảm bảo rằng các nhân viên thể hiện cách cư xử đúng mực và đạt được các tiêu chuẩn hoạt động. – Kiểm soát nhóm: điểu chỉnh hành vi của nhân viên bằng các giá trị chia sẻ, các chuẩn mực, truyền thống, lễ nghi, niềm tin và các khía cạnh khác của văn hóa tổ chức. Hình thức này được sử dụng bởi các tổ chức trong đó các nhóm hay tổ đội được sử dụng và công nghệ thay đổi nhanh chóng. Hầu hết các tổ chức, công ty không chỉ dựa hoàn toàn vào một trong những cách kiểm soát trên khi thiết kế một hệ thống kiểm soát phù hợp. Thay vì vậy, ngoài việc sử dụng các biện pháp kiểm soát thị trường, các tổ chức lựa chọn việc lựa chọn kiểm soát hành chính hoặc kiểm soát nhóm. Điều then chốt là thiết kế một hệ thống để giúp cho các doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả và hiệu suất. I.2. Kiểm soát là hoạt động hết sức quan trọng Lý do thứ nhất, việc hoạt động có thể được hoàn thành, cấu trúc tổ chức có thể tạo nên sự thuận tiện hiệu quả để hoàn thành các mục tiêu, và nhân viên có thể được khuyến khích bởi các nhà lãnh đạo giỏi, nhưng vẫn không có sự đảm bảo nào các hoạt động sẽ được thực hiện như kế hoạch và có thể đạt được đúng như mục tiêu mà các nhà quản trị theo đuổi trong thực tế hay không. Do đó, hoạt động kiểm soát rất quan trọng vì nó là sự kết nối cuối cùng trong chức năng quản trị. Đó chính là cách duy nhất để các nhà quản trị có thể biết được mục đích của tổ chức đề ra có được thực hiện hay không. Gía trị căn bản nhất của chức năng kiểm soát, tuy nhiên phụ thuộc vào các hoạt động hoạch định và ủy quyền. Một nhà quản trị giỏi cần phải theo dõi để đảm bảo rằng những gì người khác phải làm sẽ được làm trong thực tế, và đảm bảo rằng các mục tiêu đang được thực hiện. Trên thực tế, hoạt động kiểm soát là một tiến trình liên tục và các hoạt động kiểm soát các hoạt động cung cấp 7 một sự kết nối quan trọng với việc hoạt động. Nếu các nhà quản trị không kiểm soát, họ không thể biết được các mục tiêu và các kế hoạch họ đề ra có đạt được như mong muốn hay không và hành động tiếp theo cần làm là gì. Một lý do khác để nói việc kiểm soát là quan trọng là việc các nhà quản trị ủy thác quyền hạn và ủy quyền nhân viên. Rất nhiều nhà quản trị miễn cưỡng giao quyền cho nhân viên của họ vì họ sợ rằng nhân viên của họ sẽ làm sai và người gánh trách nhiệm lại chính là họ. Do đó, nhiều nhà quản trị cố tình làm việc một mình để tránh ủy quyền hoặc trao quyền. Tuy nhiên, sự miễn cưỡng này có thể làm giảm bớt nếu các nhà quản trị xây dựng một hệ thống kiểm soát hiệu quả. Một hệ thống kiểm soát như vậy có thể cung cấp thông tin và phản hồi về hoạt động của nhân viên. Vì vậy, một hệ thống kiểm soát hiệu quả là quan trọng bởi vì các nhà quản trị cần phải ủy thác trách nhiệm và ủy quyền cho nhân viên ra các quyết định. Nhưng vì các nhà quản trị là người chịu trách nhiệm cuối cùng đối với các kết quả hoạt động, họ cũng cần một cơ chế phản hồi mà hệ thống kiểm soát có thể cung cấp cho họ. Xét riêng đến công ty cổ phần (CTCP), tại sao lại tồn tại Ban kiểm soát (BKS)? Nếu tạm coi CTCP là một “nhà nước” thu nhỏ, thì đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) đóng vai trò là cơ quan lập pháp – nơi quyết định phương hướng phát triển và những vấn đề trọng đại khác của công ty; HĐQT và BGĐ được coi là cơ quan hành pháp – nơi điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày; còn BKS đóng vai trò của cơ quan tư pháp – có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát hoạt động của HĐQT và BGĐ. Cách ví von này có thể giúp chúng ta dễ mường tượng ra vai trò của BKS trong mối quan hệ với các bộ phận khác trong CTCP, nhất là trong vai trò “kiềm chế và đối trọng” với HĐQT và BGĐ. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của BKS, trong đó có hai nguyên nhân chủ yếu là sự phức tạp trong quá trình quản lý công ty và quan hệ giữa các cổ đông và sự tách biệt giữa chủ sở hữu và người điều hành trực tiếp CTCP. 8 Khi quy mô các CTCP nhỏ, số lượng cổ đông ít, thường không có sự tách biệt giữa chủ sở hữu và người điều hành trực tiếp, mà các cổ đông thường đồng thời là người điều hành công ty, tức là ĐHĐCĐ sẽ đồng thời là thành viên của HĐQT. Tuy nhiên, khi quy mô công ty lớn hơn, số lượng cổ đông nhiều hơn, sự điều hành và quản lý công ty trở nên phức tạp và do đó, cần có một đội ngũ quản trị chuyên nghiệp. Từ đây, người điều hành trực tiếp công ty có thể không đồng thời là chủ sở hữu công ty nữa. Mối lo ngại của các cổ đông – người sở hữu thực sự của công ty – về việc điều hành công ty của HĐQT và BGĐ là một mối lo ngại chính đáng và có cơ sở. Đây là một trong những lý do dẫn đến sự ra đời của BKS. Theo điều 95, Luật Doanh nghiệp hiện hành, BKS sẽ phải được thành lập khi công ty có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty. Với các chức năng được quy định trong Luật Doanh nghiệp và điều lệ của công ty, BKS thực hiện việc giám sát HĐQT, BGĐ (giám đốc hoặc tổng giám đốc) trong việc quản lý và điều hành công ty, kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính cũng như thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hàng năm và sáu tháng của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của HĐQT. Như đã nêu ở trên, với chức năng là một “cơ quan tư pháp” trong một “nhà nước thu nhỏ”, để có thể giám sát HĐQT và BGĐ, BKS cần phải độc lập. Sự độc lập này cần được thể hiện trong việc thành lập và hoạt động của BKS. Thông qua việc thực hiện chức năng của mình, BKS sẽ đảm bảo rằng các quyết định của HĐQT và BGĐ là phù hợp với pháp luật, với các nghị quyết của ĐHĐCĐ và bảo vệ lợi ích của các cổ đông. Chính vai trò bảo vệ cổ đông, bảo vệ nhà đầu tư là lý do cho sự ra đời, tồn tại và hoạt động của BKS. I.3. Vai trò của kiểm soát – Kiểm soát nhằm làm sáng tỏ những kết quả đã thực hiện, căn cứ vào đó mà nhà quản trị xác định được thứ tự ưu tiên để từ đó có tác động điều chỉnh. 9 – Dự đoán được chiều hướng hoạt động chính của từng bộ phận hay của toàn bộ hệ thống quản trị. – Phát hiện kịp thời những bộ phận sai sót, căn cứ vào đó mà xác định trách nhiệm, quyền hạn, chức năng để có sự điều chỉnh kịp thời. – Đáp ứng được yêu cầu báo cáo cụ thể và chính xác những con số đáng tin cậy lên những nhà quản trị cấp cao để đối chiếu với mục tiêu kế hoạch đề ra. – Là những căn cứ để nhà quản trị ra quyết định cần thiết, kịp thời và chính xác nhằm giảm đến mức thấp nhất tổn thất, để đem lại hiệu quả cao nhất. II. Tiến trình kiểm soát II.1. Đo lường kết quả thực hiện Đo lường việc thực hiện nhiệm vụ là sử dụng theo các tiêu chuẩn để xác định kết quả thực hiện tại một thời điểm được xác định, để phát hiện được những sai lệch có thể xảy ra và tránh được chúng bằng những phương thức hành động thích hợp. Nếu các chỉ tiêu được vạch ra một cách thích hợp, và nếu các phương tiện có khả năng xác định một cách chính xác các cấp dưới đang làm gì, thì đánh giá việc thực hiện thực tế và khả năng thực hiện tương đối dể dàng. Có nhiều loại hoạt động khác nhau, có loại có thể xây dựng tiêu chuẩn dễ dàng, có loại hoạt động không thể định lượng được, đối với loại này đo lường kết quả thực hiện là khó khăn. Trên thực tế, để đo lường những hoạt động có thể xác định được chỉ tiêu cụ thể, người ta dựa trên những tiêu chuẩn mờ như: sức mạnh của doanh nghiệp là không có đình công, tập thể đoàn kết và làm việc tự giác, tinh thần hợp tác cao. Việc đánh giá theo tiêu chuẩn mờ cần phải được kết hợp với việc đánh giá theo tiêu chuẩn đã được định lượng rõ ràng thì việc đánh giá chung mới được coi là thích hợp. Ví dụ: nếu người ta có thể đo lường số sản phẩm của một phân xưởng sản xuất một cách tương đối dể dàng, thì ngược lại rất khó để kiểm tra công việc của Phòng Giao tế công cộng trong xí nghiệp. Gặp trường hợp này, các nhà quản trị thường dùng những tiêu chuẩn gián tiếp như là thái độ của báo chí và công chúng đối với xí nghiệp, hay uy tín của xí nghiệp trong xã hội. Đề rút ra được những kết luận đúng đắn về hoạt động và kết quả thực hiện cũng như nguyên nhân của những sai lệch, việc đo lường được lặp đi lặp lại bằng 10 những công cụ hợp lý. Tần số của sự đo lường phụ thuộc vào dạng hoạt động bị kiểm tra. Ví dụ: trong nhà máy công nghiệp, mức độ xả khói ra không khí được giám sát liên tục, nhưng sự tiến bộ trong việc thực hiện mục tiêu mở rộng sản xuất được các nàh quản trị cấp cao xem xét một hoặc hai lần trong năm. Tương tự như vậy, người chủ của một cửa hàng cần thường xuyên giám sát thái độ phục vụ của các nhân viên bán hàng nhưng chỉ xem xét tình hình cân đối tài sản một tháng hoặc một quý một lần. Vì người tiến hành giám sát, đo lường sự thực hiện với người đánh giá và ra quyết định điều chỉnh có thể khác nhau nên phải xây dựng được mối quan hệ truyền thống hợp lý giữa họ. II.2. So sánh kết quả thực hiện với chỉ tiêu Bước so sánh giúp xác định mức độ chênh lệch giữa kết quả thực tế và tiêu chuẩn. Các so sánh là cần thiết để xác định liệu rằng điều gì đang xảy ra có phải là những điều nên xảy ra hay không. Nếu sự thực hiện phù hợp với các tiêu chuẩn, nhà quản trị có thể kết luận mọi việc vẫn diễn ra theo đúng kế hoạch và không cần sự điều chỉnh. Nếu kết quả thực hiện không phù hợp với tiêu chuẩn thì sự điều chỉnh sẽ có thể là cần thiết. Sự sai lệch này có thể phát sinh theo hai chiều hướng khác nhau, hoặc thực tế lớn hơn “chuẩn” hoặc nhỏ hơn “chuẩn” qui định. Chiều hướng nào đựơc xem là hiện tượng tốt hay không tốt còn tùy thuộc vào chỉ tiêu so sánh, nếu lợi nhuận thực tế lớn hơn kế hoạch thì đó là hiện tượng tốt, ngược lại giá thành sản phẩm lớn hơn kế hoạch được xem là hiện tượng không tốt. Một số sự khác biệt như: tăng doanh thu, tăng thị phần, giảm chi phí,… được xem là tín hiệu tốt của kết quả công việc; một số khác như tỷ lệ hàng phế phẩm tăng, giảm lợi nhuận,…lại được xem là tín hiệu đáng lo ngại. Như vậy, nhà quản trị cần xác định được phạm vi thay đổi có thể chấp nhận được. Những khác biệt không nằm trong phạm vi này đều có ý nghĩa và cần quan tâm. Trong bước này, nhà quản trị cần chú ý đến phạm vi và chiều hướng của sự thay đối. 11 t t+1 t+2 t+3 t+4 t+5 t+6 Hình 1 : Phạm vi thay đổi có thể chấp nhận được Ví dụ: Tại Tom’s of Maine, nhân viên điều khiển máy có trách nhiệm đóng gói 81 ống kem mỗi phút. Nếu tất cả những nhân viên điều khiển máy đạt được hoặc vượt qua mục tiêu này, tiến trình sản xuất đang vận hành một cách hiệu quả. Nếu không có sự khác biệt rõ ràng giữa những điều đang xảy ra và những điều nên xảy ra, hoạt động sẽ tiếp tục mà không có bất kỳ sự thay đổi nào. Phải tiến hành phân tích nguyên nhân của sự sai lệch và những hậu quả của nó đối với hoạt động của doanh nghiệp để đi tới kết luận có cần tiến hành điều chỉnh hay không và nếu cần thì xây dựng được một chương trình điều chỉnh đề ra các biện pháp nhằm khắc phục sự sai lệch đó một cách có hiệu quả. Những sai lệch vượt quá mức cho phép sẽ là đáng kể và cần có sự quan tâm của nhà quản trị. Ví dụ sau đây giúp hình dung rõ hơn. Cửa hàng bách hóa Trần Nguyên kinh doanh bán lẻ một số mặt

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Quát Về Vị Trí, Vai Trò, Chức Năng, Tổ Chức, Hoạt Động Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Việt Nam
  • Chức Năng Thực Hiện Quyền Công Tố Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân
  • #quy Trình Kiểm Soát Chất Lượng (Qc) Chuẩn Cho Cấp Quản Lý
  • Nhiệm Vụ Và Công Việc Của Nhân Viên Qc Trong Nhà Máy
  • Xã Hội Học Đại Cương 2
  • Bài Giảng Chức Năng Kiểm Soát

    --- Bài mới hơn ---

  • Khoa Kiểm Soát Nhiễm Khuẩn
  • Khoa Kiểm Soát Nhiễm Khuẩn, Cơ Cấu Tổ Chức
  • Đảm Bảo Nghiệp Vụ Tinh Thông
  • Vì Sao Gỗ Pơmu Lại Tập Kết Ngay Sát Trạm Biên Phòng?
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Kiểm Soát Quân Sự (Ksqs)
  • Giảng viên: Phùng Minh Đức Khoa Quản trị Kinh doanh Tel: 0915075014 Email: [email protected] [email protected] I. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ 1. Khái niệm Kiểm soát là một tiến trình đo lường kết quả thực hiện so sánh với những điều đã được hoạch định, đồng thời sửa chữa những sai lầm để đảm bảo việc đạt được mục tiêu theo như kế hoạch hoặc các quyết định đã được đề ra. I. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ 2. Vai trò của kiểm soát là nhu cầu cơ bản nhằm hoàn thiện các quyết định trong quản trị kinh doanh. đảm bảo cho các kế hoạch được thực hiện với hiệu quả cao. đảm bảo thực thi quyền lực quản trị của những người lãnh đạo doanh nghiệp. Với nhu cầu mở rộng dân chủ trong các doanh nghiệp, kiểm soát khuyến khích chế độ ủy quyền, hợp tác mà không làm giảm khả năng kiểm soát của người lãnh đạo giúp doanh nghiệp theo sát và đối phó với sự thay đổi của môi trường. tạo tiền đề cho quá trình hoàn thiện và đổi mới. 2. Vai trò của kiểm soát II. TIẾN TRÌNH KIỂM SOÁT 1. Đo lường kết quả thực hiện 1.1. Xây dựng các tiêu chuẩn 1.2. Chọn phương pháp đo lường việc thực hiện a. Quan sát cá nhân Ưu điểm: có được thông tin trực tiếp rõ ràng (không bị chọn lọc qua người khác) về các hoạt động công việc thực tế. Nó cũng cho phép theo dõi theo diện rộng vì các hoạt động dù lớn hay nhỏ cũng đều có thể quan sát được. Hạn chế: Nó phụ thuộc vào những thiên lệch cá nhân. khá tốn kém thời gian. Tiến trình này phải chịu những phản đối. b. Báo cáo thống kê Ưu điểm: Nó không chỉ giới hạn ở những thông tin từ máy tính, mà còn bao gồm những đồ thị, biểu đồ, những con số ở bất cứ hình thức nào mà các nhà quản trị sử dụng để đánh giá thành tích. Những dữ liệu số rất dễ hình dung và hiệu quả trong việc thể hiện các mối quan hệ Nhược điểm: Những dữ liệu số cung cấp được rất ít thông tin về một hoạt động nào đó. Những báo cáo thống kê về một vài lĩnh vực chỉ đo lường về số lượng mà bỏ qua những nhân tố quan trọng khác, và thường là những nhân tố chủ quan. c. Báo cáo trực tiếp Người ta cũng có thể lấy được thông tin từ những báo cáo trực tiếp (báo cáo miệng) như qua các buổi hội nghị, họp, đối thoại trực tiếp, hay qua điện thoại. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp trong việc đo lường kết quả cũng tương tự như của phương pháp theo dõi cá nhân. Mặc dù thông tin bị chọn lọc nhưng phương pháp này nhanh, cho phép có sự phản hồi, giúp nhận thấy được cách diễn đạt về ngôn ngữ, giọng nói cũng như bản thân những từ ngữ được dùng để diễn đạt ý. Trước đây, một trong những trở ngại lớn nhất của báo cáo trực tiếp là việc soạn thảo văn bản để dùng làm tài liệu tham khảo về sau. Tuy nhiên công nghệ thông tin đã làm cho những báo cáo trực tiếp này được ghi âm lại một cách hiệu quả và vẫn tồn tại như văn bản. d. Báo cáo viết tay/bằng văn bản Cũng như báo cáo thống kê, báo cáo viết tay/bằng văn bản tuy chậm hơn nhưng lại mang tính chính thức hơn các báo cáo trực tiếp hoặc báo cáo lại. Tính chính thức này làm cho các báo cáo trở nên đầy đủ và súc tích hơn các báo cáo trực tiếp. Hơn nữa, văn bản viết tay thì dễ lưu trữ và dễ tìm. Kết luận: Với những ưu điểm và nhược điểm của bốn phương pháp đo lường được nêu ra như trên, nỗ lực kiểm soát toàn diện của các nhà quản trị nên áp dụng cả bốn phương pháp. d. Báo cáo viết tay/bằng văn bản Cũng như báo cáo thống kê, báo cáo viết tay/bằng văn bản tuy chậm hơn nhưng lại mang tính chính thức hơn các báo cáo trực tiếp hoặc báo cáo lại. Tính chính thức này làm cho các báo cáo trở nên đầy đủ và súc tích hơn các báo cáo trực tiếp. Hơn nữa, văn bản viết tay thì dễ lưu trữ và dễ tìm. Kết luận: Với những ưu điểm và nhược điểm của bốn phương pháp đo lường được nêu ra như trên, nỗ lực kiểm soát toàn diện của các nhà quản trị nên áp dụng cả bốn phương pháp. 1.3. Đo lường sự thực hiện 2. So sánh kết quả thực hiện với chỉ tiêu Bước so sánh giúp xác định mức độ chênh lệch giữa kết quả thực tế và tiêu chuẩn. Việc xác định khoảng sai lệch chấp nhận được là rất cần thiết. Những sai lệch vượt quá mức cho phép này sẽ là đáng kể và cần có sự quan tâm của nhà quản trị. 3. Tiến hành hoạt động quản trị Nhà quản trị có thể lựa chọn một trong ba hành động: không làm gì, hiệu chỉnh những kết quả thực tế, hoặc xem xét lại những tiêu chuẩn. Quá trình điều chỉnh phải tuân thủ những nguyên tắc sau: Chỉ điều chỉnh khi thật sự cần thiết. Điều chỉnh đúng mức độ, tránh tùy tiện, tránh gây tác dụng xấu. Phải tính tới hậu quả sau khi điều chỉnh. Tránh để lỡ thời cơ, tránh bảo thủ. Tùy điều kiện mà kết hợp các phương pháp điều chỉnh cho hợp lý. 3. Tiến hành hoạt động quản trị 3.1. Điều chỉnh hoạt động thực tế Nếu nguyên nhân của sự chênh lệch trong kết quả là do công việc chưa thỏa mãn, nhà quản trị cần có sự điều chỉnh. Nhà quản trị khi đưa ra quyết định hiệu chỉnh hoạt động thực tế phải đưa ra một quyết định khác: Biện pháp điều chỉnh tức thời sẽ giải quyết vấn đề ngay lập tức nhằm đưa hoạt động về quỹ đạo bình thường. Biện pháp điều chỉnh cơ bản sẽ xem xét hoạt động thực tế chênh lệch như thế nào và tại sao, từ đó tiến hành khắc phục những chênh lệch đó. 3.2. Điều chỉnh lại những tiêu chuẩn Sự sai lệch có thể là kết quả của những tiêu chuẩn không phù hợp với thực tế, có nghĩa là mục tiêu đặt ra quá cao hay quá thấp. Điều đó có thể làm mất đi động cơ làm việc của nhân viên vốn được đo bằng những tiêu chuẩn này. III. CÁC LOẠI KIỂM SOÁT 1. Kiểm soát phòng ngừa/lường trước Điểm quan trọng của kiểu kiểm soát này là đưa ra những hoạt động quản trị trước khi một vấn đề xảy ra. Kiểu kiểm soát này được mong muốn vì nó cho phép nhà quản trị ngăn chặn vấn đề chứ không phải là khắc phục sau khi những tổn thất đã xảy ra như sản phẩm kém chất lượng, mất khách hàng, giảm doanh thu… Tuy nhiên kiểu kiểm soát này đòi hỏi những thông tin chính xác, mất nhiều thời gian và rất khó thu thập được . Các hoạt động của kiểm soát phòng ngừa bao gồm việc ban hành cac quy định và nguyên tắc, các tiêu chuẩn, các thủ tục tuyển mộ và tuyển chọn nhân sự, các chương trình huấn luyện và phát triển nguồn nhân lực. Các hoạt động này có tác dụng định hướng và giới hạn đối với tất cả mọi hành vi của nhân viên và các nhà quản trị. 2. Kiểm soát tại chỗ/đồng thời/đạt – không đạt/quá trình Kiểm soát tại chỗ được áp dụng khi một hoạt động đang được tiến hành. Khi sự hoạt động kiểm soát được thực hiện trong khi công việc đang tiến hành, các nhà quản trị có thể khắc phục những vấn đề trước khi chúng trở nên tốn kém. Các thiết bị kỹ thuật (máy vi tính, máy móc điều khiển bằng vi tính…) có thể được lên chương trình để kiểm soát liên tục. Dạng kiểm soát này chỉ có hiệu quả nếu các nhà quản trị có được thông tin chính xác, kịp thời về những thay đổi của môi trường và về hoạt động. 3. Kiểm soát phản hồi Hình thức phổ biến nhất của kiểm soát là dựa trên thông tin phản hồi. Việc kiểm soát được thực hiện sau khi hoạt động kết thúc. Hạn chế chủ yếu của hình thức kiểm soát này là trước khi nhà quản trị có thông tin thì những vấn đề đã xảy ra và dẫn đến sự lãng phí hoặc thiệt hại. Ưu điểm so với việc kiểm soát đồng thời: cung cấp cho nhà quản trị đầy đủ thông tin về những nỗ lực trong việc lập kế hoạch của họ đã có hiệu quả như thế nào. có thể thúc đẩy động cơ làm việc của nhân viên. được áp dụng để làm cơ sở tiến hành khen thưởng và khuyến khích cán bộ, công nhân. IV. CÁC TIÊU CHUẨN CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT HIỆU QUẢ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Quan Về Hệ Thống Kiểm Soát Nội Bộ Trong Doanh Nghiệp
  • Hệ Thống Kiểm Soát Nội Bộ
  • Kiểm Soát Ngân Hàng: Lòng Tham Vô Hiệu Quy Định
  • Đánh Giá Hệ Thống Kiểm Soát Nội Bộ Của Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam Và Một Số Khuyến Nghị
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Ban Kiểm Soát Của Tổ Chức Tín Dụng Là Công Ty Cổ Phần, Công Ty Tnhh
  • Vinamilk Tiên Phong Từ Bỏ Ban Kiểm Soát Và Vai Trò ‘thực’ Của Chủ Tịch Hđqt Coteccons

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thống Kiểm Soát Lực Kéo Tcs
  • Tìm Hiểu Hệ Thống Kiểm Soát Lực Kéo Traction Control Trên Ô Tô
  • Tìm Hiểu Về Hệ Thống Cân Bằng Điện Tử Esp Và Hệ Thống Kiểm Soát Lực Kéo Tcs
  • Có An Toàn Khi Lái Xe Với Đèn Kiểm Soát Lực Kéo (Tcs) Bật Sáng Không?
  • Các Vấn Đề Của Hệ Thống Kiểm Soát Lực Kéo Tcs
  • CTCP Sữa Việt Nam (Vinamilk, mã chứng khoán: VNM) vừa công bố tài liệu cho ĐHĐCĐ thường niên năm 2022 với một nội dung quan trọng là bầu nhân sự mới cho HĐQT nhiệm kỳ 2022-2021.

    Số lượng thành viên HĐQT từ 6 người như nhiệm kỳ trước đã được Vinamilk đề xuất tăng lên 9 người nhằm thực hiện các nghĩa vụ của Hội đồng Quản trị theo mô hình mới, theo đó, Vinamilk sẽ thay đổi cơ cấu quản trị từ mô hình Ban Kiểm soát sang mô hình Tiểu ban Kiểm toán (tên gọi khác là Ban Kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng Quản trị).

    Danh sách ứng viên mới đã được Vinamilk công bố với hàng loạt gương mặt mới. Trong đó có sự xuất hiện của ông Nguyễn Bá Dương – Chủ tịch HĐQT của CTCP Coteccons và ông Đỗ Lê Hùng, Giám đốc kiểm toán và kiểm toán nội bộ của Big C. Ông Dương cho biết, việc ứng cử làm thành viên HĐQT độc lập của Vinamilk xuất phát từ một lời đề nghị của bà Mai Kiều Liên và cũng chưa có kế hoạch hợp tác nào với Vinamilk.

    Điều này gây bất ngờ đối với đa số nhà đầu tư nhưng theo ông Phan Lê Thành Long – Giám đốc Viện Kế toán Quản trị Công chứng Úc (CMA Australia) tại Việt Nam thì đây là điều không lạ và là tín hiệu đáng mừng trong việc thay đổi mô hình quản trị tại doanh nghiệp lớn như Vinamilk.

    Ông Long cho biết, thông lệ quốc tế về quản trị công ty khuyến nghị các công ty cổ phần, đặc biệt công ty đại chúng, xây dựng 02 mô hình quản trị.

    Một là Mô hình một cấp (1-tier board) bao gồm Đại hội cổ đông, HĐQT, Ban giám đốc, có Uỷ ban kiểm toán trực thuộc HĐQT. Mô hình này không có Ban kiểm soát, nhưng có các thành viên HĐQT độc lập đóng vai trò giám sát, nắm giữ Uỷ ban Kiểm toán (Audit Committee – AC)

    Hai là Mô hình hai cấp (2-tier board) bao gồm Đại hội cổ đông, HĐQT, Ban Kiểm soát (BKS), Ban giám đốc (BGĐ).

    Điểm mấu chốt trong cả hai mô hình quản trị này là vai trò của Bộ phận giám sát. Mô hình hai cấp với BKS đã quá quen thuộc với Việt Nam. Nhưng thế giới không còn mấy quốc gia dùng.

    Vai trò BKS quy định trong Luật doanh nghiệp 2022 rất lớn, nhưng thực tế theo khảo sát của IFC, BKS không đáp ứng được vai trò giám sát, IFC dùng một từ rất đơn giản để đánh giá tính hiệu lực của BKS ở Việt Nam là “On Paper”.

    Lý do thì có rất nhiều, trong đó quan trọng nhất là BKS bị cô lập, không được cung cấp nguồn lực, thông tin nên họ chẳng làm được gì khi được trao quyền đại diện cho cổ đông giám sát HĐQT và BGĐ.

    Từ khi Luật doanh nghiệp 2022 ra đời và có hiệu lực từ 1/7/2015, Việt Nam lần đầu tiên thừa nhận và đưa vào luật (Điều 134) một mô hình quản trị công ty “kiểu mới”, mà phần lớn các quốc gia trên thế giới đang áp dụng, đó là Mô hình một cấp, không có BKS. Nhưng rất tiếc cho đến thời điểm hôm nay chưa có bất kỳ văn bản hướng dẫn luật về mô hình này được ban hành. Do đó mô hình chưa đi vào thực tế.

    Với mô hình này, chức năng giám sát được chuyển về HĐQT, xoá bỏ BKS. HĐQT sẽ có sự tham gia của các thành viên độc lập, có uy tín và năng lực chuyên môn, đặc biệt là về kiểm soát và kiểm toán. Thông lệ tốt nhất trên thế giới về quản trị công ty được khuyến nghị là Chủ tịch HĐQT sẽ là thành viên độc lập và nắm giữ vai trò chủ nhiệm Uỷ ban kiểm toán. Uỷ ban kiểm toán là tiểu ban trực thuộc HĐQT, có tính độc lập cao, quản lý trực tiếp bộ phận kiểm toán nội bộ của công ty, thực hiện chức năng giám sát HĐQT và BGĐ. Khi đó các thành viên độc lập, Uỷ ban kiểm toán và Kiểm toán nội bộ có đầy đủ quyền lực, có nguồn lực và vị thế độc lập để thực hiện tốt vai trò giám sát của mình.

    Việc Vinamilk đưa các thành viên độc lập vào hội đồng quản trị và đệ trình đại hội cổ đông phê duyệt chuyển đổi mô hình quản trị sang mô hình một cấp là công ty tiên phong đầu tiên chuyển đổi sang một mô hình quản trị tiên tiến nhằm giúp cổ đông có khả năng giám sát tốt hơn HĐQT và BGĐ, nhằm tạo tiền đề gia tăng giá trị công ty trong hiện tại và tương lai.

    Mai Linh Theo Trí Thức Trẻ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Kiểm Toán Nội Bộ
  • Sự Khác Biệt Giữa Kiểm Soát Nội Bộ Và Kiểm Toán Nội Bộ
  • Kiểm Toán Nội Bộ Là Gì? Chức Năng Của Kiểm Toán Nội Bộ
  • Kiểm Soát Nội Bộ Là Gì? Có Vai Trò Và Chức Năng Ra Sao?
  • Nhiệm Vụ Quyền Hạn Của Ủy Ban Kiểm Tra Huyện Ủy
  • Chức Năng Của Ban Kiểm Soát Trong Công Ty Cổ Phần

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Tỉnh Bắc Ninh
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Tỉnh
  • Ban Kiểm Soát (Board Of Supervisors) Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Ban Kiểm Soát
  • Chức Năng Ban Kiểm Soát Công Ty Cổ Phần
  • Ban Kiểm Soát Công Ty Cổ Phần Khái Niệm, Đặc Điểm Và Quyền Hạn
  • Công ty cổ phần là hình thức được lựa chọn nhiều bậc nhất trong các loại hình doanh nghiệp. Một trong những ưu điểm nổi bật của loại hình này là cơ chế giám sát với ban kiểm soát là cốt lõi. Chức năng cơ bản của ban kiểm soát bao gồm:

    Kiểm soát toàn bộ hệ thống tài chính và việc thực hiện các quy chế của công ty

    Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính.Thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính theo các định kỳ của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị lên Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên.

    Xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của Công ty, các công việc quản lý, điều hành hoạt động của Công ty bất cứ khi nào nếu xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông.

    Kiểm tra các bất thường trong hoạt động của công ty

    Khi có yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông, Ban Kiểm soát thực hiện kiểm tra trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trong thời hạn mười lăm ngày,kể từ ngày kết thúc kiểm tra, Ban kiểm soát phải báo cáo giải trình về những vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến Hội đồng quản trị và cổ đông và nhóm cổ đông có yêu cầu .

    Can thiệp vào hoạt động công ty khi cần thiết

    Kiến nghị Hội đồng quản trị hoặc Đại Hội đồng Cổ đông các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.

    Khi phát hiện có thành viên Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng Cổ đông, Tổng Giám đốc vi phạm nghĩa vụ của người quản lý công ty phải thông báo ngay bằng văn bản với Hội đồng quản trị, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả.

    Ban kiểm soát là một tổ chức đã được pháp luật doanh nghiệp quy định, tuy nhiên không phải ở công ty nào Ban kiểm soát cũng thể hiện được đúng chức năng, vai trò vốn có. Điều này dẫn đến việc nhà đầu tư và cổ đông chưa được “bảo vệ” quyền lợi chính đáng.

    PHAN LAW VIETNAM Hotline: 1900.599.995 – 0794.80.8888 Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ban Kiểm Soát Trong Công Ty Tnhh 2 Thành Viên Trở Lên
  • Hệ Thống Kiểm Soát Nội Bộ Tao Ra Nền Tảng Vững Vàng, Là Cốt Lõi Quản Trị Hiệu Quả Trong Doanh Nghiệp
  • Kiểm Soát Nội Bộ Hướng Tới Quản Trị Rủi Ro Trong Các Doanh Nghiệp
  • Cơ Chế Tự Kiểm Soát Trong Tổ Chức
  • 7 Điều Cần Biết Để Sử Dụng Cruise Control
  • Hành Vi Xã Hội Và Kiểm Soát Xã Hội. Các Hình Thức Và Chức Năng Của Kiểm Soát Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Xã Hội Học Đại Cương 2
  • Nhiệm Vụ Và Công Việc Của Nhân Viên Qc Trong Nhà Máy
  • #quy Trình Kiểm Soát Chất Lượng (Qc) Chuẩn Cho Cấp Quản Lý
  • Chức Năng Thực Hiện Quyền Công Tố Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân
  • Khái Quát Về Vị Trí, Vai Trò, Chức Năng, Tổ Chức, Hoạt Động Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Việt Nam
  • Hành vi xã hội và kiểm soát xã hội (SC) là đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học tương đối trẻ – tâm lý học xã hội. Sự hiểu biết của họ là cần thiết cho mỗi người. Rốt cuộc, thành công của nó ở một mức độ lớn phụ thuộc vào khả năng xây dựng các mối quan hệ xã hội mang tính xây dựng.

    Về mức độ xã hội hóa trẻ em

    Xã hội hóa của trẻ nhỏ được gọi là chính. Một đứa trẻ đi vào thế giới. giống như một tờ giấy trắng (tabula rasa), hoàn toàn không biết gì về xã hội. Chẳng mấy chốc, anh phát hiện ra rằng không gian xung quanh mình bị người khác chiếm chỗ. Chính họ là người xây dựng các mô hình cho em bé (mô hình, ma trận) để tìm hiểu về thế giới.

    Lĩnh vực xã hội sự kiểm soát xung quanh mỗi cá nhân rất phức tạp bởi hành vi xã hội phát triển của anh ta.

    Xã hội hóa thứ cấp của đứa trẻ trùng với việc mua lại một nền giáo dục chính thức. Nhiệm vụ chính của nó là trí thức hóa, tiếp thu các kỹ năng tư duy logic. Đứa trẻ mất đi địa vị độc nhất, đặc trưng của vị trí trong gia đình, trở nên bình đẳng trong trường với các đồng tu. Đồng thời, chính ở giai đoạn giáo dục, ông nhận được những ý tưởng chính về nhà nước, về bất bình đẳng xã hội, về hệ tư tưởng thịnh hành trong xã hội. Trong suốt quá trình xã hội hóa, đứa trẻ được cha mẹ chăm sóc.

    Xã hội hóa ở tuổi trưởng thành

    Ở giai đoạn thứ ba, đặc trưng bởi sự trưởng thành xã hội, một người trưởng thành (18-60 tuổi) giành được độc lập như một tác nhân kinh tế. Anh ấy (cô ấy) cá nhân kiếm tiền để cung cấp cho cuộc sống của mình, có được gia đình riêng của mình.

    Ở giai đoạn trưởng thành, vai trò xã hội của một người có được các địa vị pháp lý khác nhau (chồng, vợ, cha, mẹ). Ông cũng thích vị thế chuyên nghiệp, chính thức. Thông qua sau này, quyền lực có thể được giao phó cho anh ta. Sự trưởng thành xã hội của một người được thể hiện ở sự tham gia tích cực của anh ta vào đời sống xã hội của các cộng đồng khác nhau xung quanh anh ta – công nghiệp, quốc gia, chung chung.

    Xã hội hóa người về hưu

    Xã hội hóa tuổi già bao gồm sự ra đi dần dần của một người từ hoạt động lao động tích cực. Ý nghĩa của nó là đi chệch khỏi đặc tính trì trệ bản ngã của tuổi nghỉ hưu, thể hiện ở:

    • giảm các biểu hiện của tinh thần;
    • cô lập về quá khứ;
    • trong sự gián đoạn của giao tiếp với hiện tại;
    • tổ chức một vòng tròn mới của truyền thông.

    Các lĩnh vực có thể có của chuyên môn này là một vị trí công cộng tích cực trong sự giáo dục của thế hệ trẻ, trong các nhóm xã hội tại nơi cư trú (ủy ban sân, hợp tác xã nhà mùa hè, v.v.)

    Sự thích nghi của con người trong xã hội là kết quả của hành vi xã hội

    Hành vi xã hội tích cực của đa số các thành viên trong xã hội cho phép họ giải quyết thành công các nhiệm vụ thích ứng quan trọng nhất ban đầu đối với một người, góp phần vào tiến bộ khoa học và kỹ thuật, tăng trưởng hạnh phúc và theo đó là mức sống.

    Về các loại hành vi xã hội

    Hành vi xã hội là có mục đích, với sự giúp đỡ của một người đạt được một mức độ định vị nhất định trong xã hội và trong một nhóm xã hội.

    Các loại hành vi xã hội khác nhau về chức năng và lợi ích:

    • đại chúng (phong trào chính trị, tôn giáo và kinh tế, tin đồn, thời trang);
    • nhóm (tập thể lao động, câu lạc bộ, sân, đồng tu, v.v.);
    • Porolevoy (mẹ, cha, macho, aksakal, con, v.v.).

    Ngoài ra, hành vi xã hội của một người được đặc trưng bởi định hướng mối quan hệ của anh ta với người khác, đó có thể là:

    • prosocial (thân thiện, gắn liền với mong muốn giúp đỡ, hợp tác);
    • cạnh tranh (mong muốn nổi bật, trở thành người giỏi nhất);
    • loại A (cáu kỉnh, yếm thế, thiếu kiên nhẫn, thù địch với mọi người);
    • loại B (thiện chí).

    Cuối cùng, việc phân loại hành vi xã hội xảy ra với một số mẫu hành vi nhất định:

    • thành tích thành công (vị trí sống tích cực);
    • tránh các thất bại (cô lập, giả định không tin tưởng);
    • tìm kiếm liên lạc hoặc tránh chúng;
    • mong muốn quyền lực, thờ ơ hoặc vâng lời nó;
    • mô hình hành vi chủ động hoặc bất lực.

    Các loại hành vi xã hội trên được phân loại là tuân thủ pháp luật. Ngoài họ, hành vi có vấn đề, lệch lạc và bất hợp pháp cũng xảy ra.

    Chúng tôi sẽ đề cập đến chúng trong bài viết này, coi các biện pháp trừng phạt là một yếu tố của thể loại kiểm soát xã hội.

    Kiểm soát xã hội là gì?

    Khái niệm này đã được chứng minh bởi nhà khoa học người Pháp T. Tarde, và cuối cùng được các nhà xã hội học người Mỹ R. Park và E. Ross đưa ra.

    Họ đã hiểu được bản chất của nó, xem xét tác động xã hội toàn diện đối với một cá nhân có hành vi lệch lạc (xã hội). Thông qua ảnh hưởng này, hành vi của anh ta đã được chuyển thành phù hợp với các chuẩn mực xã hội hiện có.

    Theo nghĩa rộng, các nhà khoa học coi kiểm soát xã hội là sự tương tác và tương quan liên tục của một cá nhân với xã hội và các nhóm xã hội. Rõ ràng, bản chất của sự kiểm soát như vậy rất quan trọng phụ thuộc vào loại hình xã hội. Một xã hội cổ xưa, toàn trị và dân chủ có những đặc điểm riêng, được thể hiện trong các tính năng của các quy tắc và chế tài xã hội.

    Hai hình thức kiểm soát xã hội

    Tùy thuộc vào sự hiện diện của địa vị xã hội, hai hình thức kiểm soát xã hội được phân biệt: không chính thức (tức là không chính thức) và chính thức.

    Nếu xã hội là cổ xưa, thì Vương quốc Anh hoàn toàn dựa trên sự lên án hoặc chấp thuận của một nhóm xã hội (thành viên gia đình, bạn bè, người quen và đồng nghiệp). Trong trường hợp này, họ đang nói về một Vương quốc Anh không chính thức.

    Trong một xã hội văn minh hơn, hành vi của các cá nhân được điều chỉnh bởi các thể chế nhà nước chuyên ngành: lập pháp và hành pháp, truyền thông. Sau này hoạt động ở cấp quốc gia và thành phố. Kiểm soát xã hội như vậy được gọi là chính thức.

    Sự kiểm soát bên ngoài quá mức đối với các hoạt động xã hội của công dân bởi quân đội, cảnh sát, tòa án và các cơ quan kiểm soát là đặc trưng của chế độ quyền lực – độc tài. Trong điều kiện như vậy, các quá trình xã hội bị biến dạng. Chúng giống như một con đường điều chỉnh một chiều. Kiểm soát xã hội nhà nước đối với các quốc gia có hệ thống toàn trị tìm cách trở nên toàn diện, nghĩa là kiểm soát toàn bộ xã hội. Một đặc điểm là trong hầu hết các trường hợp, những người xin lỗi của chế độ độc tài biện minh cho sự sáng tạo của mình bằng nhu cầu khôi phục trật tự, được cho là vì lợi ích của mọi công dân.Tuy nhiên, với cô, họ luôn xuống cấp về mặt xã hội, sự tự nhận thức và những nỗ lực ý chí cần thiết cho sự tự chủ hoàn toàn bị giảm đi.

    Trong một xã hội dân chủ, 70% quy định xã hội là tự kiểm soát. Sự phát triển của kiểm soát xã hội thường gắn liền với chế độ dân chủ quyền lực nhà nước.

    Mục đích của cả hai hình thức SC (bên ngoài và bên trong) là:

    • duy trì sự ổn định và trật tự trong xã hội;
    • tuân thủ tính liên tục trong lối sống và đặc thù của sự phát triển.

    Trong các xã hội phát triển cao, cả hai hình thức kiểm soát xã hội đồng thời cùng tồn tại, bổ sung hữu cơ cho nhau.

    Các loại kiểm soát xã hội

    Chính những nỗ lực chung của những người bị kiểm soát bởi lương tâm của chính họ là động lực chính của tiến bộ xã hội.

    Chức năng kiểm soát xã hội

    Có hai chức năng chính của kiểm soát xã hội:

    Một mặt, điều quan trọng là phải nhanh chóng và đầy đủ chống lại các nỗ lực phá hủy các giá trị xã hội. Các chức năng bảo vệ là bảo thủ trong tự nhiên. Nó đóng vai trò là nền tảng cho sự ổn định trong xã hội, kêu gọi sử dụng cẩn thận các sáng kiến ​​xã hội khác nhau. Trước hết, nó bảo vệ các giá trị nhà nước và tôn giáo, đời sống con người, quyền và nghĩa vụ và tính toàn vẹn về thể chất của công dân. Chức năng bảo vệ trực tiếp góp phần chuyển giao kinh nghiệm từ thế hệ cũ sang thế hệ trẻ.

    Với sự giúp đỡ của chức năng ổn định của kiểm soát xã hội, dự đoán và kỳ vọng về hành vi xã hội được đảm bảo. Điều này bảo tồn trật tự xã hội hiện có.

    Kiểm soát xã hội là công cụ quan trọng nhất của xã hội giúp cho sự đồng hóa và chấp nhận của mỗi người trong nền văn hóa thịnh hành. Nó là phổ quát. Rốt cuộc, hoàn toàn bất kỳ cấu trúc xã hội nào, thậm chí tồn tại trong một thời gian ngắn, là không thể nếu không có SK.

    Hệ thống kiểm soát xã hội

    Hệ thống kiểm soát xã hội bao gồm tám yếu tố:

    • hành động xã hội gây ra phản ứng môi trường đầy đủ;
    • một dẫn xuất của các giá trị xã hội hiện có, một hệ thống để đánh giá các hành động xã hội;
    • phân loại các hành động xã hội thành đáng trách và khuyến khích;
    • đánh giá nhóm đặc trưng của các tình huống xã hội phát sinh trong nhóm này (nhận thức xã hội);
    • các biện pháp trừng phạt xã hội như một phản ứng của xã hội đối với các hành động xã hội;
    • tự phân loại, tức là tự nhận dạng một người bằng cách thuộc về một nhóm nhất định trong môi trường xã hội;
    • lòng tự trọng cá nhân;
    • một đánh giá cá nhân về môi trường và hoàn cảnh mà người đó tiếp xúc với người khác.

    Về cơ chế kiểm soát xã hội

    Cơ chế kiểm soát xã hội bao gồm các chuẩn mực xã hội và các biện pháp trừng phạt.

    Các chuẩn mực xã hội (chính thức và không chính thức) quy định mọi người cách cư xử trong xã hội. Với sự giúp đỡ của họ:

    • quá trình xã hội hóa đang được điều chỉnh;
    • các cá nhân đoàn kết trong các nhóm xã hội, và các nhóm hòa nhập với xã hội;
    • kiểm soát hành vi lệch lạc.

    Theo mức độ nghiêm trọng, các tiêu chuẩn có thể được sắp xếp theo thứ tự sau: cấm kỵ (xúc phạm đền thờ, vi phạm điều răn, loạn luân), luật pháp (hành vi quy phạm của lực lượng pháp lý cao nhất), quyền và tự do, thói quen của một nhóm xã hội, truyền thống, nghi thức, phong tục.

    Họ hành động như một tiêu chuẩn, một bộ điều chỉnh cho các hành động, cảm xúc, suy nghĩ và bảo vệ các giá trị xã hội. Sau này đề cập đến các khái niệm của con người được xã hội chấp nhận về lòng yêu nước, công bằng, lòng tốt, tình yêu, tình bạn.

    Xử phạt tuân thủ kiểm soát xã hội

    Kiểm soát xã hội trong xã hội được thực hiện bởi mọi người trên cơ sở các chuẩn mực hiện có. Quy định diễn ra trên cơ sở nguyên tắc của mối quan hệ giữa chuẩn mực xã hội và các chế tài tương ứng với nó. Bị tước bỏ các biện pháp trừng phạt kèm theo, chuẩn mực xã hội rơi ra khỏi hệ thống kiểm soát xã hội, biến thành một lời kêu gọi, một khẩu hiệu, v.v.

    Các chế tài là:

    • tích cực (danh dự, danh tiếng, công nhận, khuyến khích, phê duyệt) và tiêu cực (kết luận, tịch thu tài sản phạt tiền, khiển trách, nhận xét, kết án);
    • chính thức (đến từ các tổ chức nhà nước), không chính thức (nhận từ người thân và đồng nghiệp trong các nhóm xã hội);
    • vật chất (quà tặng, tiền thưởng, tiền phạt, tịch thu) và đạo đức (bằng tốt nghiệp, giải thưởng, khiển trách).
    • lệch lạc (vi phạm là nhỏ và không bị trừng phạt);
    • phạm pháp (xử phạt của Bộ luật hành chính);
    • hình sự (chế tài của Bộ luật hình sự).

    Kết luận

    Kiểm soát xã hội là một công cụ mạnh mẽ để quản lý xã hội. Hầu hết dân số tự nguyện và không ngừng tuân thủ các chuẩn mực được thiết lập bởi xã hội.

    Hiện tại, điều này góp phần vào sự phát triển của các tổ chức siêu quốc gia, làm tăng tỷ lệ quan hệ doanh nghiệp.

    Quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra thông qua sự ủy thác của các cường quốc nhà nước cho các cơ quan siêu quốc gia. Tuy nhiên, bản chất của kiểm soát xã hội trong xã hội thông tin hầu như không thay đổi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trật Tự Xã Hội, Lệch Lạc Xã Hội Và Kiểm Soát Xã Hội
  • Kiểm Soát Xã Hội Đối Với Các Chuẩn Mực Trong Hoạt Động Khoa Học
  • Động Kinh Và Rối Loạn Cảm Xúc: Mối Liên Hệ & Cách Khắc Phục Hiệu Quả!
  • Các Rối Loạn Nhân Cách Và Hành Vi Do Bệnh Lý Não, Tổn Thương Não Và Rối Loạn Chức Năng Não
  • Bệnh Rối Loạn Thần Kinh Chức Năng Là Gì? Đối Tượng Nào Dễ Mắc Bệnh Nhất?
  • Kiểm Soát Nội Bộ Là Gì? Các Loại Kiểm Soát Nội Bộ Của Một Tổ Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Quyền Và Nhiệm Vụ Của Ban Kiểm Soát Trong Công Ty Cổ Phần
  • Bàn Về Kiểm Soát Nội Bộ Và Hiệu Quả Hoạt Động Của Các Doanh Nghiệp
  • Nhiệm Vụ Và Trách Nhiệm Của Kiểm Toán Nội Bộ
  • Nghề Kiểm Soát Nội Bộ
  • Ke Toan Noi Bo Trong Doanh Nghiep
  • Việc làm Quản lý điều hành

    Điều này, chứng tỏ rằng kiểm soát nội bộ có vai trò vô cùng quan trọng đối với trong quá trình hình thành và phát triển của một doanh nghiệp, đặc biệt là một doanh nghiệp mới còn trẻ tuổi. Bởi việc kiểm soát được rủi ro và nâng cao được hiệu quả kinh doanh chính là yếu tố cấp bách mà tổ chức cần phải thực hiện. Và kiểm soát nội bộ là một trong những kỹ năng mà một nhà quản lý cần phải nắm được, bởi họ chính là người trực tiếp điều hành bộ máy hoạt động. Là người cần phải nắm rõ được tình hình hoạt động và dựa vào đó để có được cách kiểm soát nội bộ: Xây dựng sơ đồ kiểm soát, quy trình xây dựng hệ thống, xác định nguy cơ và đánh giá mức độ rủi ro của quá trình sản xuất kinh doanh.

    Việc làm quản lý điều hành tại Hồ Chí Minh

    Đối với mỗi doanh nghiệp thì đều có những quy định, phương pháp định hướng phát triển hay quản lý nội bộ khác nhau. Tuy nhiên để có thể thực hiện được hệ thống kiểm soát nội bộ ưng ý thì các bạn cũng sẽ phải đảm bảo được các yếu tố như:

    – Môi trường làm việc: khách quan, minh bạch, chính trực, phân công trách nhiệm rõ ràng;

    – Quy trình hoạt động và kiểm soát nội bộ: được phổ biến rộng rãi toàn bộ công ty một cách rõ ràng bằng văn bản; và toàn bộ công nhân viên cần phải tuân thủ theo đúng với quy định;

    – Các hoạt động rủi ro: Phân tích chi tiết từng công nhân viên; mọi giao dịch thực hiện đều cần dựa trên sự uỷ quyền thích hợp; giao dịch quan trọng thì cần được ghi chép, thể hiện lại bằng văn bản

    Dựa theo nội dung đã được quy định tại bộ Luật Doanh nghiệp Việt Nam, thì các Công ty TNHH và CP nếu có trên 11 cổ đông thì phải thành lập Ban Kiểm soát. Điều này cũng đã phần nào thấy được vai trò cũng như mức độ quan trọng của một hệ thống kiểm soát nội bộ đối với bất cứ một doanh nghiệp nào. Vậy vai trò cụ thể của KSNB – Kiểm soát nội bộ là gì?

    Đầu tiên sẽ là tuân thủ được các quy trình, chính sách của hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty; cũng như các chính sách và quy trình kế toán. Cụ thể như: báo cáo tài chính và báo cáo quản trị…

    Điều thứ hai là phải xác định các rủi ro, rồi đưa ra nguyên nhân và hướng giải quyết của những rủi ro đó.

    Thông thường các kiểm soát nội bộ sẽ thực hiện nhiệm vụ báo cáo lên cán bộ cấp cao hơn về hiệu quả làm việc của hệ thống kiểm soát nội bộ. Bởi đây là yếu tố mà các doanh nghiệp cần phải được cập nhập thường xuyên.

    Có lẽ những nội dung được chia sẻ ở trên cũng đã là một ý có thể trả lời được câu hỏi này rồi, tuy nhiên đó chưa phải là câu trả lời đầy đủ và chính xác nhất. Bởi bất cứ một doanh nghiệp nào cũng vậy, có hệ thống nội bộ vững mạnh thì cũng có nghĩa tổ chức đó đang có nền móng rất tốt, có thể dựa vào để xây dựng, duy trì và phát triển thành một tổ chức hoàn hảo.

    – Đảm bảo tính khách quan, chính xác và rõ ràng trong của con số trong báo cáo tài chính;

    – Giảm bớt rủi ro: gian lận/ trộm cắp (bên thứ ba hoặc nhân viên của công ty), sai sót; không tuân thủ quy trình, quy định kinh doanh bộ máy doanh nghiệp… gây tổn hại cho công ty.

    – Nâng cao sự tin tưởng đối với cổ đông, nhà đầu tư bên ngoài.

    2. Các loại và giải pháp tương ứng của kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp

    – Cam kết hợp lý về lịch giao hàng: Trước khi cam kết về ngày giao hàng hoặc một cách thức khác thì Nhân viên bán hàng cần được phê duyệt.

    – Nhận đơn đặt hàng đúng với điều khoản và điều kiện: Mẫu đơn đặt hàng chuẩn và có đánh số trước cùng chữ ký duyệt của người có thẩm quyền khi chấp nhận đơn đặt hàng.

    – Áp dụng những chính sách bán chịu và kiểm tra chất lượng tín dụng hợp lý: Nhân viên bán hàng và người phê duyệt hạn mức bán không được là một người. Cần tách biệt vai trò cũng như chức năng của hai vị trí này.

    – Giao chính xác số lượng và loại sản phẩm cho đúng khách hàng: Phiếu giao hàng nên đánh số, ngoài ra nên có thể một bản ghi về số lượng hàng đã giao và để người giao hàng có thể thêm thông tin.

    – Hạch toán đầy đủ và chính xác bán hàng bằng tiền mặt: Khuyến khích khách hàng chuyển khoản để thanh toán tiền, kiểm tra độc lập về các quỹ tiền mặt, ghi chép các nghiệp vụ phát sinh về thu tiền, sử dụng máy đếm tiền để đo lường chính xác…

    – Chỉ người có thẩm quyền mới lập phiếu đề nghị mua hàng: Chuẩn hoá và đánh số Phiếu, chữ ký duyệt của người có thẩm quyền; đối chiếu đến tài khoản trên sổ cái.

    – Ngăn chặn gian lận trong việc đặt hàng nhà cung cấp: Tách biệt chức năng đặt hàng và đề nghị mua hàng, phòng thu mua sẽ độc lập với các phòng khác, đơn đặt hàng phải được đánh số…

    – Kiểm soát việc nhận tiền hoa hồng không được phép từ nhà cung cấp: Áp dụng cách thức đòi hỏi ít nhất ba báo giá từ ba nhà cung cấp độc lập; hoán đổi vị trí các nhân viên mua hàng sau một khoảng thời gian nhất định; đưa ra chính sách kỷ luật chặt chẽ nếu có hành vi vi phạm quy định.

    – Nhận đúng hàng: Tách chức năng nhận hàng với mua hàng; biên bản nhận hàng được đánh số từ trước nên được lập mỗi khi nhận hàng từ nhà cung cấp; đo lường hàng hoá; kiểm tra chất lượng; biên bản nhận hàng gửi cho phòng kế toán với đầy đủ chữ ký.

    – Ngăn chặn hoá đơn đúp/ giả do nhà cung cấp: Hoá đơn nên được đánh số theo thứ tự và số tham chiếu của đơn đặt hàng.

    – Bảo vệ hàng tồn kho: Kế toán hàng tồn kho và thủ quỹ phải được tách biệt chức năng; hàng hoá/ sản phẩm nhập và xuất kho phải có phiếu nhập và xuất hàng kèm chữ ký thủ kho, nên dán nhãn hàng tồn kho để hàng hoá không thất lạc, sử dụng phiếu lưu chuyển sản phẩm; phát hiện chênh lệch thì kiểm tra kỹ càng.

    – Lưu giữ bản đăng ký tài sản cố định đầy đủ: Phòng kế toán nên lưu giữ bản đăng ký tài sản cố định để đối chiếu với bản đăng ký tài sản cố định; tiến hành kiểm kê tất cả tài sản cố định theo định kỳ; cập nhật bản đăng ký TSCĐ.

    – Kiểm soát tiền mặt: Tạo sổ quỹ ghi thu – chi tiền mặt và quản lý tiền mặt; đưa ra hạn mức thanh toán tiền mặt; Thường xuyên kiểm tra số dư tiền mặt trên sổ cái với sổ quỹ tiền mặt do thủ quỹ lập; Kế toán và thủ quỹ làm việc minh bạch.

    – Kiểm soát nhân viên thực hiện việc chuyển khoản/ rút tiền ngân hàng mà không được phép: Tăng công đoạn chữ ký cho việc chuyển tiền vượt quá một khoản nào đó (Kế toán Trưởng/ Giám đốc Tài chính/ Tổng Giám đốc).

    – Bảo vệ cơ sở dữ liệu và tài liệu của công ty: Lập bản sao dự phòng Các tệp tin và bản ghi; Quy trình lập bản sao dự phòng cần được lên kế hoạch chi tiết; Các dữ liệu quan trọng nên được cất giữ ở máy chủ trung tâm, hệ thống lưu giữ mạng (sử dụng RAID); và không nên lưu giữ ở các máy tính riêng lẻ.

    – Bảo vệ hệ thống máy tính: Cài đặt phần mềm diệt virus, không chạy phần mềm nào khi không có bản quyền/ tự chạy mà không được sự phê chuẩn của bộ quản lý IT phù hợp.

    Mỗi doanh nghiệp đều lựa chọn cho riêng mình cách kiểm soát nội bộ khác nhau, miễn sao nó phù hợp với văn hóa, quy định cùng với mục đích kinh doanh của tổ chức. Tuy nhiên với những thông tin chia sẻ ở trên về Kiểm soát nội bộ là gì? hy vọng đã mang lại hữu ích với bạn!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Ban Kiểm Soát Nội Bộ Trong Doanh Nghiệp
  • Cơ Cấu Tổ Chức Của Thanh Tra Bộ
  • Bộ Nội Vụ Có Nhiệm Vụ Quyền Hạn Như Thế Nào Trong Công Tác Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức?
  • Nghị Định Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Nội Vụ
  • Nghị Định Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Bộ Nội Vụ Số 58/2014/nđ
  • Chức Năng Ban Kiểm Soát Công Ty Cổ Phần

    --- Bài mới hơn ---

  • Ban Kiểm Soát Công Ty Cổ Phần Khái Niệm, Đặc Điểm Và Quyền Hạn
  • Vai Trò Của Ban Kiểm Soát Trong Công Ty Cổ Phần
  • Ban Kiểm Soát Trong Công Ty Cổ Phần
  • Chức Năng Của Kiểm Toán Nội Bộ
  • Quy Định Về Ban Kiểm Soát, Kiểm Soát Viên Trong Công Ty Cổ Phần
  • 1. Ban kiểm soát thực hiện giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty; chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông trong thực hiện các nhiệm vụ được giao.

    2. Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính.

    3. Thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hàng năm và sáu tháng của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị.

    Trình báo cáo thẩm định báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh hàng năm của công ty và báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị lên Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên.

    4. Xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty, các công việc quản lý, điều hành hoạt động của công ty bất cứ khi nào nếu xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 79 của Luật này.

    5. Khi có yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 79 của Luật này, Ban kiểm soát thực hiện kiểm tra trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm tra, Ban kiểm soát phải báo cáo giải trình về những vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến Hội đồng quản trị và cổ đông hoặc nhóm cổ đông có yêu cầu.

    Việc kiểm tra của Ban kiểm soát quy định tại khoản này không được cản trở hoạt động bình thường của Hội đồng quản trị, không gây gián đoạn điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.

    6. Kiến nghị Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.

    7. Khi phát hiện có thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc vi phạm nghĩa vụ của người quản lý công ty quy định tại Điều 119 của Luật này thì phải thông báo ngay bằng văn bản với Hội đồng quản trị, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả.

    8. Thực hiện các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này, Điều lệ công ty và quyết định của Đại hội đồng cổ đông.

    9. Ban kiểm soát có quyền sử dụng tư vấn độc lập để thực hiện các nhiệm vụ được giao.

    Ban kiểm soát có thể tham khảo ý kiến của Hội đồng quản trị trước khi trình báo cáo, kết luận và kiến nghị lên Đại hội đồng cổ đông.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ban Kiểm Soát (Board Of Supervisors) Là Gì? Vai Trò Và Chức Năng Của Ban Kiểm Soát
  • Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Tỉnh
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Tỉnh Bắc Ninh
  • Chức Năng Của Ban Kiểm Soát Trong Công Ty Cổ Phần
  • Ban Kiểm Soát Trong Công Ty Tnhh 2 Thành Viên Trở Lên
  • Adf: Chức Năng Quyết Định Kiểm Soát Truy Cập

    --- Bài mới hơn ---

  • Đà Kiềng Là Gì? Công Dụng Của Đà Kiềng Trong Xây Dựng
  • Máy In Đa Năng Và Tầm Quan Trọng Của Khay Adf & Dadf
  • Hướng Dẫn Thiết Lập Chức Năng Auto Correct Trong Word
  • Cách Thiết Lập Auto Correct Trong Word
  • Hướng Dẫn Thiết Lập Autocorrect Trong Excel
  • ADF có nghĩa là gì? ADF là viết tắt của Chức năng quyết định kiểm soát truy cập. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của Chức năng quyết định kiểm soát truy cập, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của Chức năng quyết định kiểm soát truy cập trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của ADF được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài ADF, Chức năng quyết định kiểm soát truy cập có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

    ADF = Chức năng quyết định kiểm soát truy cập

    Tìm kiếm định nghĩa chung của ADF? ADF có nghĩa là Chức năng quyết định kiểm soát truy cập. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của ADF trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của ADF bằng tiếng Anh: Chức năng quyết định kiểm soát truy cập. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

    Như đã đề cập ở trên, ADF được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho Chức năng quyết định kiểm soát truy cập. Trang này là tất cả về từ viết tắt của ADF và ý nghĩa của nó là Chức năng quyết định kiểm soát truy cập. Xin lưu ý rằng Chức năng quyết định kiểm soát truy cập không phải là ý nghĩa duy chỉ của ADF. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của ADF, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của ADF từng cái một.

    Ý nghĩa khác của ADF

    Bên cạnh Chức năng quyết định kiểm soát truy cập, ADF có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của ADF, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của Chức năng quyết định kiểm soát truy cập bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của Chức năng quyết định kiểm soát truy cập bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Các Kiểu Khay Nạp Giấy Tự Động Adf Trên Máy In Đa Năng
  • Khay Adf Là Gì? Tác Dụng Và Hướng Dẫn Sử Dụng Khay Adf
  • Adf: Tự Động Xác Định Chức Năng
  • Aux Là Gì Trong Tiếng Anh? Bí Quyết Kết Nối Cổng Aux Đơn Giản Nhất
  • Cổng Aux Là Gì? Chức Năng Của Cổng Kết Nối Aux Là Gì?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • CẦM ĐỒ TẠI F88
    15 PHÚT DUYỆT
    NHẬN TIỀN NGAY

    VAY TIỀN NHANH
    LÊN ĐẾN 10 TRIỆU
    CHỈ CẦN CMND

    ×