Chức Năng Của Hồng Cầu

--- Bài mới hơn ---

  • Cấu Tạo Và Chức Năng Hồng Cầu
  • Trình Bày Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hệ Tuần Hoàn
  • Cách Tạo Liên Kết Hyperlink Trong Văn Bản Word
  • Tạo Liên Kết Hyperlink Trong Word
  • Cách Chèn Link Liên Kết Vào File Word, Chèn Hyperlink Trong Văn Bản Wo
  • 1. Hồng cầu là gì?

    Hồng cầu (hay hồng huyết cầu) là thành phần chiếm số lượng lớn trong tế bào máu (96%), có chứa huyết sắc tố giúp cho máu có màu đỏ.

    Cấu tạo hồng cầu

    Trước đây, dưới góc nhìn của kính hiển vi quang học hồng cầu được thấy có hình tròn nên được cho rằng các tế bào đó đều hình cầu, tạo thành nguồn gốc tên gọi “hồng cầu”.

    Đến ngày nay dưới kính hiển vi điện tử, tế bào hình cầu hiển thị rõ hình dạng đĩa lõm hai mặt với đường kính khoảng 7,8 micromet, độ dày khoảng 2,5 micromet ở chỗ dày nhất và không quá 1 micromet ở trung tâm. Thể tích trung bình của hồng cầu trong khoảng 76 – 96 micromet3. Do có màng tế bào hồng cầu dẻo dai bao bọc nên hồng cầu có khả năng biến dạng rất cao mà không bị vỡ rách khi di chuyển qua các mao mạch.

    Thành phần chính của tế bào hồng cầu là hemoglobin, một protein giàu sắt tạo màu đỏ cho máu khi sắt liên kết với oxy. Mỗi phân tử hemoglobin bao gồm 4 nguyên tử sắt và mỗi nguyên tử sẽ liên kết với 1 phân tử oxy và 2 nguyên tử oxy. Khoảng 33% của 1 tế bào hồng cầu là hemoglobin, thường có mật độ 14 g/dL ở nữ giới và 15,5 g/dL ở nam giới.

    Số lượng hồng cầu trong cơ thể người

    Để tính toán số lượng hồng cầu trong máu, người ta sử dụng chỉ số RBC (Red Blood Cell) khi xét nghiệm. Giá trị chỉ số RBC thường thấy nằm trong khoảng từ 4,2 – 5,9 triệu tế bào/cm³. Giá trị chuẩn của chỉ số RBC thay đổi tùy theo đối tượng được xét nghiệm:

    • Ở nam giới: 4.5 – 6.5 M/µl.
    • Ở nữ giới: 3.9 – 5.6 M/µl
    • Ở trẻ sơ sinh: khoảng 3.8 M/µl

    Số lượng hồng cầu có thể thay đổi trong một số trường hợp sinh lý: ở trẻ em ngưỡng hồng cầu được cho là cao còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố tuổi và giới tính. Hiện tượng số lượng hồng cầu vượt chuẩn thường xuất hiện ở những người sống ở vùng núi cao hoặc các vận động viên sử dụng doping.

    2. Công dụng của Hồng cầu

    Tế bào hồng cầu có vai trò quan trọng trong việc vận chuyển khí oxy (O2) từ phổi đến các tế bào trong cơ thể và nhận lại khí cacbonic (CO2) từ các mô lên đào thải ở phổi (loại bỏ khí CO2). Chức năng của hồng cầu có những tác động lớn đến các hoạt động khác nhau của cơ thể:

    • Màng tế bào hồng cầu có cấu tạo từ các lipid và protein cần thiết cho chức năng sinh lý, đồng thời thông qua hệ tuần hoàn hoạt động trong mạng lưới mao mạch.
    • Hồng cầu có trong máu giúp vận chuyển các axit béo, axit amin, glucose từ mao ruột non đến các tế bào và các tổ chức trong cơ thể. Máu mang cặn bã của quá trình chuyển hóa đến các cơ quan bài tiết.
    • Nếu đủ lượng hồng cầu, da và niêm mạc (lưỡi, kết mạc mắt, nướu răng..) sẽ có màu hồng đặc trưng. Ngược lại khi thiếu hồng cầu (thiếu máu, mất máu), máu không cung cấp đủ oxy cho các mô và cơ quan để hoạt động hiệu quả. Người bệnh sẽ có dấu hiệu da và niêm mạc nhợt nhạt, cảm giác mệt mỏi, giảm khả năng lao động, kém tập trung..
    • Mức hồng cầu bất thường có khả năng là dấu hiệu của tình trạng thiếu máu, mất nước, xuất huyết hoặc các chứng rối loạn khác về hồng huyết cầu.
    • Chỉ số RBC giảm dưới chuẩn thường xuất hiện ở những người già, phụ nữ mang thai, hoặc là dấu hiệu cho biết bệnh nhân bị thấp khớp cấp, suy tủy, thận và ung thư.

    3. Các vấn đề thường gặp

    • Thiếu máu tán huyết
    • Thiếu máu
    • Đa hồng cầu nguyên phát
    • Hồng cầu lưỡi liềm

    4. Những vấn đề cần lưu ý

    Vòng đời của hồng cầu

    Hồng cầu được sinh ra từ tủy xương và phát triển qua nhiều giai đoạn:

    • Tiền nguyên hồng cầu
    • Nguyên hồng cầu ưa kiềm
    • Nguyên hồng cầu đa sắc
    • Nguyên hồng cầu ưa acid
    • Hồng cầu lưới
    • Hồng cầu trưởng thành

    Các giai đoạn phát triển từ tế bào tiền nguyên hồng cầu đến hồng cầu lưới đều diễn ra trong tuỷ xương. Sau đó hồng cầu lưới được phóng thích ra máu ngoại vi 24 – 48 giờ thì mạng lưới biến mất và trở thành hồng cầu trưởng thành. Theo thời gian màng hồng cầu mất dần tính mềm dẻo và cuối cùng hồng cầu sẽ vỡ khi đi qua các mao mạch nhỏ của lách.

    Hồng cầu bình thường có đời sống trung bình từ 90 – 120 ngày, ước tính theo quy luật mỗi ngày có đến 200 – 400 tỷ hồng cầu chết đi. Hồng cầu già sẽ bị tiêu hủy ở gan và lách, sau đó tủy xương sẽ tiết ra một đợt tế bào hồng cầu mới để thay thế và duy trì lượng hồng cầu đã mất trong cơ thể.

    Chỉ số đánh giá tế bào hồng cầu

    Để tính toán chất lượng tế bào hồng cầu và đưa ra những chẩn đoán về thể trạng người bệnh, người ta sử dụng hai chỉ số chính:

    Thể tích trung bình của một hồng cầu (MCV)

    Là chỉ số dùng để đánh giá kích thước hồng cầu: lớn, nhỏ hay bình thường. Giá trị bình thường của chỉ số này là từ 80 – 100 femtoliter (fl). Nếu sau xét nghiệm chỉ số MVP có dấu hiệu:

    • Thấp hơn bình thường: định bệnh hồng cầu nhỏ, thường gặp trong bệnh thiếu máu, Thalassemia, thậm chí là suy thận mạn tính hay nhiễm độc chì.
    • Cao hơn bình thường: định bệnh hồng cầu to, thường gặp ở những người nghiện rượu, bệnh gan, suy giáp, hoặc do thiếu hụt vitamin B12, thiếu acid folic, chứng tăng hồng cầu.

    Lượng huyết sắc tố trung bình trong một hồng cầu (MCH)

    Là chỉ số dùng để đánh giá màu sắc hồng cầu: màu đậm, lợt hay bình thường. Giá trị bình thường của chỉ số này là từ 27 – 32 picogram (pg). Nếu sau xét nghiệm chỉ số MCH có dấu hiệu:

    • Nhỏ hơn bình thường: xác định bệnh hồng cầu nhược sắc (lợt màu). Thường gặp trong bệnh thiếu chất sắt hay người mang gen Thalassemia…
    • Cao hơn bình thường: xác định bệnh hồng cầu ưu sắc (đậm màu). Thường gặp ở những người nghiện rượu, bệnh lý gan, thiếu vitamin B12, acid folic..

    Nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCHC)

    Là chỉ số thể hiện nồng độ trung bình của huyết sắc tố được tính trong một đơn vị thể tích máu, giá trị MCHC bình thường ở trong khoảng từ 32% – 36%. Nếu sau xét nghiệm chỉ số MCHC có dấu hiệu:

    • Nhỏ hơn 32%: có thể cơ thể bạn đã bị thiếu máu.
    • Lớn hơn 36%: đó là dấu hiệu cho thấy cơ thể có thể thiếu máu tăng sắc hồng cầu bình thường, do chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng hoặc do xuất hiện các yếu tố ngưng kết lạnh.

    Cách gia tăng số lượng hồng cầu

    Với một vòng đời chỉ độ 120 ngày, hồng cầu là một trong những loại tế bào được thay thế nhiều nhất trong cơ thể. Do vậy để sản sinh lượng hồng cầu đủ cho các hoạt động của cơ thể, vai trò dinh dưỡng, chế độ ăn rất quan trọng:

    • Bổ sung vitamin B12 trong thức ăn chủ yếu là thịt, trứng, sữa. Nhu cầu cần mỗi ngày là từ 1 – 3 mg.
    • Axit folic (hay vitamin B9) hỗ trợ quá trình sản sinh tế bào hồng cầu bình thường. Thường có trong các ngũ cốc, đậu, loại rau xanh màu đậm, trái cây như chuối, dưa gang, chanh, cũng như dồi dào trong gan, thận bò.
    • Tăng cường ăn các thực phẩm giàu sắt như: các loại hạt, đậu phụ, gan, thịt đỏ (bò, cừu,..), hàu, trai, sò điệp, ốc, quả lựu, củ cải đường,….Ngoài ra có thể bổ sung sắt thông qua thực phẩm chức năng như viên uống bổ sung sắt có sẵn với liều 50 -100 mg, có thể uống 2-3 lần mỗi ngày.
    • Vitamin A (Retinol) giúp cho sự phát triển tế bào gốc của hồng cầu trong tủy xương, giúp tế bào hồng cầu đang phát triển có thể tiếp cận đủ lượng sắt cần thiết cho việc tạo ra hemoglobin. Vitamin A thường có trong khoai lang, bí đỏ, cà rốt, rau lá xanh đậm, các loại hoa quả như bưởi, dưa hấu, dưa vàng..

    Ngoài ra người bệnh cần chú ý hướng tới lối sống lành mạnh:

    • Tập thể dục hàng ngày: tốt cho những người có nồng độ tế bào hồng cầu thấp. Các bài tập tim mạch như đi bộ nhanh, chạy bộ và bơi lội giúp cơ thể thấm mệt và nạp thêm một lượng lớn oxy, kích thích sản sinh tế bào hồng cầu và hemoglobin.
    • Bỏ thói quen xấu (hút thuốc, uống rượu bia): Hút thuốc lá có thể cản trở tuần hoàn máu khiến máu khó lưu thông đúng cách và khó đưa khí oxy đến các bộ phận khác trong cơ thể. Việc tiêu thụ đồ uống chứa cồn có thể khiến máu đặc và chậm lưu thông, dẫn đến thiếu oxy trong máu, giảm sản sinh tế bào hồng cầu và sản sinh ra tế bào hồng cầu chưa trưởng thành.
    • Truyền máu nếu cần thiết: Nếu cảm thấy cơ thể thiếu máu trầm trọng mà việc hấp thụ qua ăn uống không khả quan, bạn có thể đề xuất bác sĩ khám và chỉ định truyền máu nếu cần thiết.
    • Khám sức khỏe định kỳ: khám sức khỏe thường xuyên tối thiểu 1 lần/năm là cách tốt nhất để biết tình trạng số lượng tế bào hồng cầu. Thông qua xét nghiệm máu ta có thể sàng lọc vấn đề tiềm ẩn dẫn đến tình trạng tế bào hồng cầu thấp.

    Nguồn: Vinmec

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoạch Định Là Gì Và Những Đặc Điểm Của Hoạch Định
  • Hướng Dẫn Cách Cài Đặt Ghi Âm Cuộc Gọi Trên Iphone 6, Iphone 6 Plus
  • 5 Cách Ghi Âm Cuộc Gọi Trên Iphone Đơn Giản Nhất
  • Mách Nhỏ Bạn Cách Ghi Âm Trên Iphone Và Ipad Dễ Dàng Nhất
  • Hướng Dẫn Cách Bật Ghi Âm Trên Iphone
  • Chức Năng Của Hồng Cầu Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Chứng Minh Sự Phù Hợp Trong Cấu Tạo Và Chức Năng Của Các Tế Bào Máu
  • Các Thành Phần Của Máu, Lượng Máu Trong Cơ Thể Người Bình Thường Là Bao Nhiêu?
  • Trình Bày Thành Phần Cấu Tạo Và Chức Năng Của Máu ? Vì Sao Huyết Tương Và Hồng Cầu Thực Hiện Được Chức Năng Đó? Mọi Người Giúp Em Ạ
  • Câu Nghi Vấn (Tiếp Theo)
  • Soạn Bài: Câu Nghi Vấn (Tiếp Theo)
  • Máu là gì?

    Máu là một yếu tố cơ bản để đảm bảo sự phát triển và hoạt động đúng đắn của cơ thể chúng ta. Nhờ chất lỏng này, tất cả các yếu tố cần thiết được vận chuyển để các tế bào của chúng ta được oxy hóa, nuôi dưỡng, loại bỏ tất cả các độc tố và tất cả các cơ quan và mô của chúng ta hoạt động chính xác.

    Do đó, chúng ta có thể định nghĩa máu là mô, ở trạng thái lỏng, kết nối toàn bộ cơ thể với nhau và hoạt động trong việc vận chuyển các chất dinh dưỡng và vật liệu thiết yếu cho sự sống của chúng ta (như oxy) đến tất cả các bộ phận của cơ thể, trong khi thu gom chất thải (như carbon dioxide) từ các mô và tế bào để có thể loại bỏ chúng qua phổi. Máu cũng bảo vệ cơ thể chúng ta khỏi nhiễm trùng và các bệnh mà vi khuẩn có thể gây ra.

    Nhờ có nó, các kháng thể được tạo ra giúp chúng ta loại bỏ vi trùng và vi rút có thể được cài đặt trong chúng ta. Và, như thể điều đó là không đủ, máu cũng hoạt động như một chất điều chỉnh, vì nó theo dõi và duy trì nhiệt độ cơ thể của chúng ta, quản lý mức nước và muối và cân bằng huyết áp.

    Tóm lại, ba chức năng cơ bản của máu là vận chuyển, bảo vệ và điều tiết. Vì tất cả những lý do này, máu, không nghi ngờ gì, là một trong những mô quan trọng và quan trọng nhất của cơ thể chúng ta.

    Thành phần của máu

    Nhưng máu không chỉ là một chất lỏng màu đỏ và nhớt – được gọi là huyết tương -, cũng có nhiều yếu tố tạo nên và có ý nghĩa với mục tiêu của máu trong cơ thể chúng ta, mỗi loại có chức năng riêng.

    Để hiểu thành phần của máu, chúng ta phải phân biệt giữa hai phần khác nhau: huyết tương, đó là chất lỏng bao gồm 92% nước và các yếu tố cần thiết khác như enzyme, hormone, kháng thể, chất dinh dưỡng, muối, protein, khí … và các tế bào máu trong đó. Cụ thể đây là những tế bào máu mà chúng ta sẽ tìm thấy trong huyết tương và do đó, là một phần của máu và chiếm 45% thể tích máu:

    • Tế bào hồng cầu: còn được gọi là hồng cầu hoặc hồng cầu. Máu chứa từ 4 đến 5 triệu tế bào hồng cầu mỗi mm3. Mục tiêu chính của nó là vận chuyển oxy đến các mô khác nhau của cơ thể.
    • Tiểu cầu: có từ 200.000 đến 400.000 mỗi mm3. Chúng là những mảnh nhỏ của các tế bào máu chịu trách nhiệm hình thành cục máu đông sẽ giúp chúng ta chữa lành vết thương và ngăn chảy máu. Chúng được sản xuất bởi tủy xương.
    • Bạch cầu: còn được gọi là bạch cầu. Máu đếm từ 6.000 đến 9.000 tế bào bạch cầu mỗi mm3. Chúng ta có thể phân biệt giữa một số bạch cầu và mỗi loại có một chức năng cụ thể trong sự bảo vệ của sinh vật của chúng ta.

    Chức năng của hồng cầu

    Các tế bào hồng cầu, còn được gọi là hồng cầu, hồng cầu hoặc hồng cầu, là một phần của các tế bào máu cơ bản cùng tồn tại trong huyết tương. Chúng bao gồm globulin và hemoglobin, nghĩa là một cấu trúc phân tử, có chức năng chính là:

    • Vận chuyển oxy đến các mô khác nhau của cơ thể
    • Thu gom carbon dioxide để loại bỏ chất thải độc hại

    Ngoài ra, loại tế bào này còn tạo ra màu đỏ cho máu vì chúng không có nhân và tế bào chất của chúng được hình thành từ huyết sắc tố, tạo ra màu sắc cho hình cầu và máu. Giống như các tế bào bạch cầu, hoạt động trong việc bảo vệ cơ thể chúng ta, các tế bào hồng cầu cũng có nguồn gốc từ tủy xương. Nhìn bằng mắt thường, chúng ta có thể xác định rằng chúng là những tế bào màu đỏ tương tự như đĩa biconcave (hình bầu dục) không có nhân và chúng có đường kính khoảng 0, 007 mm.

    Như chúng tôi đã chỉ ra ở trên, trong máu của chúng tôi có từ 4 đến 5 triệu tế bào hồng cầu trên một milimét khối, chỉ sống được 120 ngày và được loại bỏ thông qua việc giải phóng bilirubin. Các mô tạo máu của tủy xương chịu trách nhiệm sản xuất hàng triệu tế bào hồng cầu mỗi ngày để máu của chúng ta luôn có các chất mang xác thực có thể thực hiện công việc cho ăn và oxy hóa tất cả các tế bào của cơ thể, để giữ cho chúng ta khỏe mạnh.

    Bệnh ảnh hưởng đến hồng cầu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Định Chính Phủ Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư
  • Những Điểm Mới Trong Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Khoa Học Và Công Nghệ
  • Chính Phủ Ban Hành Nghị Định Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Kh&cn
  • Hoạch Định Chiến Lược (Strategic Planning) Là Gì? Khó Khăn Trong Hoạch Định
  • Chương V. Chức Năng Điều Khiển
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Hồng Cầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Trình Bày Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hệ Tuần Hoàn
  • Cách Tạo Liên Kết Hyperlink Trong Văn Bản Word
  • Tạo Liên Kết Hyperlink Trong Word
  • Cách Chèn Link Liên Kết Vào File Word, Chèn Hyperlink Trong Văn Bản Wo
  • Tạo Các Liên Kết (Link) Trong Ms Word
  • Hồng cầu chiếm hơn 99% trong các thành phần hữu hình của máu. Ở động vật như cá, lưỡng cư, bò sát, chim, hồng cầu hình bầu dục có nhân; ở đa số thú khác hồng cầu dạng hình đĩa lõm hai mặt và không có nhân như hồng cầu của người. Hồng cầu trưởng thành, lưu thông trong máu là tế bào không có nhân. Ở người trong điều kiện tự nhiên, hồng cầu có hình đĩa hai mặt lõm, đường kính 7-8 μm, bề dày phần ngoại vi 2-2,5 μm và phần trung tâm 1 μm, thể tích trung bình 90-95 μm3. Hình dạng này có hai lợi điểm như sau:

    + Tăng diện tích bề mặt tiếp xúc làm tăng khả năng khuếch tán khí thêm 30% so với hồng cầu cùng thể tích mà có dạng hình cầu.

    + Làm cho hồng cầu trở nên cực kỳ mềm dẻo, có thể đi qua các mao mạch hẹp mà không gây tổn thương mao mạch cũng như bản thân hồng cầu.

    Cấu trúc của hồng cầu đặc biệt thích ứng với chức năng vận chuyển khí oxy.

    Thành phần chung của hồng cầu gồm: nước 63-67%, chất khô 33-37% trong đó: prôtêin 28%; các chất có nitơ 0,2%, ure 0,02%, glucid 0,075%, lipid và lecithin, cholesterol 0,3%.

    Thành phần chính của hồng cầu là hemoglobin (Hb), chiếm 34% trọng lượng (nồng độ 34 g/dl). Cấu trúc của hồng cầu đặc biệt với nhiều thành phần khác nhau. Hai thành phần quan trọng nhất của hồng cầu được nghiên cứu nhiều đó là màng hồng cầu và hemoglobin. Màng hồng cầu mang nhiều kháng nguyên nhóm máu. Hemoglobin là thành phần quan trọng trong sự vận chuyển khí của máu.

    Ở các loài động vật khác nhau, số lượng hồng cầu khác nhau.

    Ở người bình thường, số lượng hồng cầu trong máu ngoại vi là:

    – Nam : 5.400.000 ± 300.000 /mm3

    – Nữ : 4.700.000 ± 300.000/mm3

    Số lượng hồng cầu thay đổi trong các điều kiện cụ thể. Tăng chút ít sau bữa ăn, vào mùa lạnh, khi lao động nặng, khi mất mồ hôi hoặc ở độ cao hơn 700mm so với mặt biển. Ở trẻ sơ sinh, số lượng hồng cầu cao trong vòng một hai tuần đầu, sau đó có hiện tượng vỡ hồng cầu gây vàng da sinh lý. Số lượng hồng cầu giảm khi uống nước nhiều, cuối kỳ kinh nguyệt của phụ nữ, ở các trạng thái bệnh lý như xuất huyết, bệnh thiếu máu.

    3. Ðộ bền thẩm thấu của màng hồng cầu và tốc độ lắng hồng cầu

    – Ðộ bền thẩm thấu của màng hồng cầu Màng hồng cầu là một màng bán thấm. Nước có thể qua màng hồng cầu khi áp suất thẩm thấu bên trong và bền ngoài hồng cầu khác nhau. Người ta xác định sức bền hồng cầu bằng dung dịch muối NaCl nhược trương có nồng độ khác nhau (phương pháp Hamberger).

    Hồng cầu trong dung dịch muối NaCl nhược trương bị trương to lên và vỡ ra do nước từ dung dịch muối vào trong hồng cầu. Khi hồng cầu vỡ, hemoglobin giải phóng vào dung dịch và làm cho nó có màu hồng. Một số hồng cầu vỡ trong dung dịch muối NaCl nhược trương 0,44%. Nồng độ muối NaCl 0,44% được gọi là sức bền tối thiểu của hồng cầu. Toàn bộ hồng cầu vỡ hết trong dung dịch NaCl nhược trương 0,34%. Nồng độ muối NaCl 0,34% được gọi là sức bền tối đa của hồng cầu. Hồng cầu có thể bền trong dung dịch nước sinh lý 0,9% NaCl.

    Ðộ bền hồng cầu tăng sau khi cắt lách và giảm trong bệnh vàng da huyết tán.

    Máu được chống đông đặt trên ống nghiệm, hồng cầu lắng xuống dưới, huyết tương nổi lên trên. Vì tỷ trọng của hồng cầu (1,097) cao hơn tỷ trọng của huyết tương (1,028). Khi có quá trình viêm nhiễm diễn ra trong cơ thể làm hàm lượng các prôtêin thay đổi, cân bằng điện tích prôtêin huyết tương thay đổi, điện tích màng hồng cầu cũng bị biến đổi theo, hồng cầu dễ dính lại với nhau hơn và làm cho nó lắng nhanh hơn. Như vậy tốc độ lắng máu càng cao thì quá trình viêm đang diễn ra trong cơ thể càng mạnh. Chỉ số tốc độ lắng hồng cầu là chiều cao cột huyết tương tính bằng milimét (mm) trong 1 giờ, 2 giờ và 24 giờ.

    Hemoglobin còn gọi huyết sắc tố, đó là chromo prôtêin gồm hai thành phần là nhân heme và globin (hình 2.2).

    Heme là một sắc tố đỏ. Mỗi heme gồm một vòng porphyrin và một ion Fe ++ chính giữa. Porphyrin là phổ biến trong thế giới sinh vật. Porphyrin kết hợp với Mg++ tạo thành chất diệp lục của thực vật. Một phân tử hemoglobin có bốn nhân heme, chiếm 5%. Hem có thể kết hợp với nhiều chất khác nhau. Nếu hem kết hợp với globin thì tạo thành Hb.

    Nếu kết hợp với albumin, NH3, pyridin, nicotin… tạo nên chất gọi là hemochromogen. Hem phản ứng với NaCl trong môi trường acid tạo ra cloruahem (hemin). Phản ứng này được sử dụng trong pháp y.

    Globin là một prôtêin gồm bốn chuỗi polypeptid giống nhau từng đôi một. Hemoglobin người bình thường là HbA gồm hai chuỗi α và hai chuỗi β. Hemoglobin thời kỳ bào thai là HbF gồm hai chuỗi α và hai chuỗi γ.

    Sự bất thường của các chuỗi globin sẽ làm thay đổi đặc điểm sinh lý của phân tử Hb. Ví dụ, trong bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm, acid amin valin thay thế cho glutamic tại một vị trí trong mỗi chuỗi β làm HbA trở thành HbS.

    Nồng độ hemoglobin của người bình thường là:

    Nam : 13,5-18 g/100ml (g%); Nữ : 12-16 g/100ml (g%)

    Trẻ em : 14-20 g/100ml (g%)

    Ở một số loài động vật hàm lượng Hb như sau: lợn 10,6 g%; bò cái 11,0 g%; ngựa 13,6 g%. Ở động vật Hb chứa sắt giống nhau khoảng 0,33%. Cứ 1 nguyên tử gam sắt kết hợp được tối đa 1 phân tử gam O 2. Lượng O 2 này đủ cho nhu cầu hoạt động bình thường cảu cơ thể.

    – Chức năng vận chuyển khí

    Hồng cầu vận chuyển oxy từ phổi đến tổ chức nhờ phản ứng sau :

    Trong đó oxy được gắn lỏng lẻo với ion Fe++. Ðây là phản ứng thuận nghịch, chiều phản ứng do phân áp oxy quyết định. Trong phân tử Hb, oxy không bị ion hoá mà nó được vận chuyển dưới dạng phân tử O 2. HbO 2 có màu đỏ tươi đặc trưng cho máu động mạch.

    * Khi hít phải không khí nhiều CO (carbon monoxide), hemoglobin sẽ kết hợp CO để tạo ra carboxyhemoglobin theo phản ứng :

    Ái lực của Hb đối với CO gấp 210 lần đối với oxy, vì vậy một khi đã kết hợp với CO thì Hb không còn khả năng vận chuyển oxy nữa.

    Dấu hiệu đầu tiên là da đỏ sáng, bệnh nhân rơi vào trạng thái kích thích, rồi buồn ngủ, hôn mê và tử vong.

    Khí CO thường được sinh ra khi đốt cháy nhiên liệu không hoàn toàn. Ðiều trị bằng cách đưa bệnh nhân ra khỏi môi trường nhiều CO, đồng thời cho thở oxy phân áp cao để tái tạo lại oxyhemoglobin. Lượng CO trong không khí là chỉ số đo mức độ ô nhiễm môi trường.

    * Khi máu tiếp xúc với những thuốc hoặc hoá chất có tính oxy hoá, ion Fe++ trong nhân heme chuyển thành Fe+++ và hemoglobin trở thành methemoglobin không còn khả năng vận chuyển oxy. Methemoglobin khi hiện diện trong máu nhiều sẽ gây triệu chứng xanh tím. Tình trạng này xảy ra khi ngộ độc một số dẫn chất của anilin, sulfonamide, phenacetin, nitroglycerin, nitrate trong thực phẩm …

    + Vận chuyển khí carbonic

    Hồng cầu vận chuyển CO2 từ tổ chức về phổi theo phản ứng sau:

    CO 2 được gắn với nhóm NH 2 của globin. Ðây cũng là phản ứng thuận nghịch, chiều phản ứng do phân áp CO 2 quyết định. HbCO 2 có màu đỏ thẫm, đặc trưng cho máu tĩnh mạch. Chỉ khoảng 20% CO 2 được vận chuyển dưới hình thức này, còn lại là do muối kiềm của huyết tương vận chuyển.

    – Hemoglobin có tính chất đệm. Hệ đệm hemoglobin là một trong các hệ đệm quan trọng của máu, đó là hệ đệm HHb/KHb và hệ đệm HHbCO 2/KHbO 2.

    Ðời sống trung bình của hồng cầu trong máu ngoại vi là 120 ngày. Theo thời gian, màng hồng cầu sẽ mất dần tính mềm dẻo và cuối cùng hồng cầu sẽ vỡ khi đi qua các mao mạch nhỏ của lách. Hemoglobin phóng thích ra từ hồng cầu vỡ sẽ bị thực bào bởi các đại thực bào cố định của gan, lách và tuỷ xương.

    Ðại thực bào sẽ giải phóng sắt vào máu. Sắt này cùng với sắt từ thức ăn do ruột non hấp thu, được vận chuyển dưới dạng transferrin đến tuỷ xương để tạo hồng cầu mới, hoặc đến gan và các mô khác để dự trữ dưới dạng ferritin và hemosiderin.

    Phần porphyrin của heme sẽ được chuyển hoá qua nhiều giai đoạn trong đại thực bào để tạo thành sắc tố bilirubin, chất này được giải phóng vào máu, đến gan rồi bài tiết vào mật. Sự chuyển hoá của bilirubin sẽ được nghiên cứu kỹ trong chương tiêu hoá.

    Ngoài ra phần globin của hemoglobin được chuyển hoá như các prôtêin khác trong cơ thể tạo thành các acid amin, sau đó được sử dụng để tổng hợp các prôtêin cho cơ thể.

    Theo GT Sinh lí ĐV và người

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Hồng Cầu
  • Hoạch Định Là Gì Và Những Đặc Điểm Của Hoạch Định
  • Hướng Dẫn Cách Cài Đặt Ghi Âm Cuộc Gọi Trên Iphone 6, Iphone 6 Plus
  • 5 Cách Ghi Âm Cuộc Gọi Trên Iphone Đơn Giản Nhất
  • Mách Nhỏ Bạn Cách Ghi Âm Trên Iphone Và Ipad Dễ Dàng Nhất
  • Chức Năng Của Bạch Cầu, Hồng Cầu, Tiểu Cầu Câu Hỏi 1358422

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Thức Máu Của Người Bình Thường Tiểu Cầu Bạch Cầu Hồng Cầu
  • Hội Chứng Tăng Bạch Cầu Ưa Acid
  • Bệnh Phổi Bạch Cầu Hạt Ưa Acid
  • Những Điều Bạn Nên Biết Về Sinh Lí Của Bạch Cầu (Phần 2)
  • Vai Trò, Đặc Tính Và Chức Năng Của Bạch Cầu Là Gì?
  • Vai trò của hồng cầu

    -Hồng cầu chiếm số lượng nhiều nhất, chứa huyết sắc tố (chất làm cho máu có màu đỏ).

    -Nhiệm vụ của hồng cầu là vận chuyển khí oxy (O2) từ phổi đến các mô, đi khắp mọi nơi trong cơ thể. Dọc đường, hồng cầu tiếp thu chất thải và đem trở lại phổi, nhận lại khí cacbonic (CO2) từ các mô trở về phổi để đào thải.

    -Vòng đời trung bình của hồng cầulà 120 ngày, hồng cầu già sẽ bị tiêu hủy ở lách và gan. Tủy xương sẽ có nhiệm vụ sinh các hồng cầu mới để thay thế và duy trì lượng hồng cầu đã mất trong cơ thể.

    -Nếu thiếu hồng cầu, con người cảm thấy mệt mỏi và yếu sức. Có người dễ bị mệt và tái xanh, vì cơ thể không có đủ lượng oxy cần thiết. Tình trạng thiếu hồng cầu gọi là thiếu máu.

    -Bạch cầu có chức năng bảo vệ cơ thể bằng cách phát hiện và tiêu diệt các “nhân tố” gây bệnh. Bạch huyết bào-T (T-lymphocytes) làm nhiệm vụ điều khiển hệ miễn nhiễm; có thể diệt siêu vi khuẩn và tế bào ung thư.

    -Bạch cầu trung tính (Neutrophils) chống viêm nhiễm, tiêu diệt vi khuẩn và xử lý mô bị tổn thương. Loại bạch cầu làm nhiệm vụ thực bào tức là “ăn” các “nhân tố” lạ, có loại làm nhiệm vụ “ghi nhớ” để nếu lần sau “nhân tố” lạ này xâm nhập sẽ bị phát hiện và cơ thể sẽ nhanh chóng sinh ra một lượng lớn bạch cầu tiêu diệt chúng.

    -Bạch huyết bào-B (B-lymphocytes) tiết ra các kháng thể lưu hành trong máu để bảo vệ cơ thể… Bạch cầu cũng được sinh ra tại tủy xương như hồng cầu. Không chỉ lưu hành chủ yếu trong máu; có một lượng khá lớn bạch cầu cư trú ở các mô của cơ thể để làm nhiệm vụ bảo vệ.

    -Bạch cầu đơn nhân to (Monocytes) kết hợp với bạch huyết bào để chống lại viêm nhiễm; cần thiết cho việc sản sinh kháng thể.

    -Tình trạng thiếu bạch cầu làm cho con người thường hay bị viêm nhiễm và nếu bị viêm nhiễm thì bị nặng hơn, có khi nguy hiểm đến tính mạng. Có nhiều loại bạch cầu khác nhau với vòng đời từ một tuần đến vài tháng.

    -Chức năng chính của tiểu cầu là góp phần vào sự cầm máu; tức là quá trình dừng chảy máu tại nơi nội mạc mạch máu (thành trong của mạch máu hay mạch bạch huyết) bị thương. Khi đó chúng sẽ tập trung tại vết thương và trừ khi lỗ hổng quá lớn, tiểu cầu sẽ bịt lỗ này lại

    -Quá trình có 3 giai đoạn:

    +Kết dính: Tiểu cầu kết dính với các chất bên ngoài nội mạc.

    +Phát động: Chúng thay đổi hình dạng, kích hoạt thụ quan và tiết ra các tín hiệu hóa học.

    +Tập hợp, chúng kết nối với nhau thông qua cầu thụ quan.

    -Sự hình thành các “nút tiểu cầu” này (sự cầm máu sơ cấp) thường kết hợp với sự cầm máu thứ cấp bằng tơ huyết (fibrin) tổng hợp.

    -Thiếu tiểu cầu có thể làm cho con người thường hay bị chảy máu mũi; khi bị cắt thì chảy máu lâu dứt, bị bầm bất bình thường hoặc đi cầu, đi tiểu ra máu, da bị chảy máu.

    -Trong trường hợp trầm trọng, khi lượng tiểu cầu xuống quá thấp; các cơ quan nội tạng và não bộ có thể bị xuất huyết. Toán y khoa điều trị sẽ báo quý vị biết khi lượng tiểu cầu của quý vị sụt giảm.

    -Ngoài ra tiểu cầu còn có vai trò làm cho thành mạch mềm mại; dẻo dai nhờ chức năng tiểu cầu làm “trẻ hóa” tế bào nội mạc. Vòng đời của tiểu cầu khoảng 7 – 10 ngày. Cũng giống như hồng cầu và bạch cầu, tủy xương là nơi sinh ra tiểu cầu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bệnh Da Tăng Bạch Cầu Đa Nhân Trung Tính Có Sốt Cấp Tính
  • Viêm Da Mủ Hoại Thư Là Gì ?
  • Tế Bào Lympho B: Những Điều Cần Biết
  • Ý Nghĩa Chỉ Số Xét Nghiệm Bạch Cầu Mono Trong Máu
  • Chọn Mitsubishi Outlander 2022 Hay Hyundai Tucson 2022?
  • Đặc Điểm Và Chức Năng Của Hồng Cầu (Hồng Cầu) / Y Học Và Sức Khỏe

    --- Bài mới hơn ---

  • Hồng Cầu Sống Được Bao Lâu Thì Chết?
  • Vì Sao Hồng Cầu Có Chức Năng Vận Chuyển O2 Và Co2
  • Hướng Dẫn Cách Đọc Kết Quả Xét Nghiệm Tổng Phân Tích Tế Bào Máu Trên Máy Tự Động
  • Ý Nghĩa Các Chỉ Số Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Tuyến Giáp
  • Chỉ Số Hồng Cầu Lưới Thực (Corrected Reticulocyte Count
  • Tế bào hồng cầu, còn được gọi là hồng cầu hoặc hồng cầu, là những tế bào được tìm thấy trong một tỷ lệ lớn hơn trong máu. Đây là những đơn vị giải phẫu cơ bản cho tất cả các chức năng quan trọng của chúng tôi. Trong số những thứ khác Vận chuyển oxy và phân phối chất dinh dưỡng qua cơ thể.

    Hồng cầu là gì?

    Hồng cầu là những tế bào màu đỏ tạo nên máu của chúng ta. Trên thực tế, thuật ngữ “hồng cầu” xuất phát từ tiếng Hy Lạp “erythrós” có nghĩa là màu đỏ và từ “kytos” có nghĩa là tế bào.

    Còn được gọi là hồng cầu, hồng cầu là một trong những thành phần chính của máu, có chức năng không thể thiếu để duy trì các hệ thống khác nhau của sinh vật chúng ta. Để phân tích chi tiết hơn, chúng ta sẽ thấy ngay từ đầu máu là gì và chức năng và thành phần của nó là gì.

    Máu và thành phần chính của nó

    Máu là chất lỏng chảy qua cơ thể chúng ta, có thành phần đặc hơn nước, hơi nhớt và nhiệt độ trung bình của nó là 38 độ C (hơn một độ so với nhiệt độ cơ thể). Lượng lít máu mà mỗi người chúng ta có phụ thuộc rất lớn vào kích thước và cân nặng của chúng ta.

    Chức năng chính của nó là vận chuyển oxy từ phổi đến các tế bào của cơ thể, vận chuyển hormone, cung cấp cho tế bào các chất dinh dưỡng cụ thể, loại bỏ các chất thải và giữ cho cơ thể cân bằng tự nhiên (ví dụ: độ pH và nhiệt độ).

    Mặt khác, có nhiều tế bào tạo nên chất lỏng này. 55% máu là huyết tương, một chất lỏng hơi vàng bao gồm 90% nước và protein, chất điện giải, vitamin, glucose, axit amin và các chất dinh dưỡng khác bằng 10%. 45% máu khác của chúng ta là các loại tế bào khác nhau.

    99% nửa kia bao gồm các tế bào hồng cầu mà chúng ta gọi là hồng cầu hoặc hồng cầu. Phần còn lại (1%) là các tế bào trắng, còn được gọi là bạch cầu; và tiểu cầu, còn được gọi là huyết khối. Do đó, 84% tổng số tế bào của cơ thể người là hồng cầu.

    Chức năng của hồng cầu

    Hồng cầu có hình dạng của các đĩa nhỏ với các khe. Chúng linh hoạt, nghĩa là chúng có thể uốn cong dễ dàng để lưu thông qua các mạch máu hẹp nhất.

    Không giống như các tế bào khác, hồng cầu không có nhân. Những gì họ có là huyết sắc tố, một protein chịu trách nhiệm vận chuyển oxy qua máu, và cũng chịu trách nhiệm cho màu đỏ của máu. Trong số các chức năng chính của hồng cầu là:

    • Thu thập oxy từ không khí chúng ta hít vào và mang nó qua các mạch máu của phổi đến tất cả các bộ phận của cơ thể.
    • Họ thu thập carbon dioxide và đưa nó trở lại phổi, cho phép chúng tôi trục xuất nó khi thở ra.
    • Chúng giải phóng hydro và nitơ, giúp giữ cho độ PH trong máu ổn định.
    • Thông qua những điều trên, các mạch máu mở rộng và huyết áp giảm.

    Mặt khác, sự thiếu hụt trong việc sản xuất hồng cầu, hoặc sự phá hủy tăng tốc của chúng, là nguyên nhân gây thiếu máu; trong khi sự dư thừa trong quá trình sản xuất các tế bào này tạo ra đa hồng cầu hoặc hồng cầu.

    Quy trình sản xuất tế bào máu

    Các tế bào gốc chịu trách nhiệm tạo ra các phần rắn nhất của máu. Từ sự phát triển nhiều giai đoạn, các tế bào gốc được chuyển đổi thành tế bào máu hoặc tiểu cầu.

    Sau khi hoàn thành sự phát triển của chúng, chúng được giải phóng vào dòng máu duy trì một lượng tế bào tiền thân cho phép tái sinh. Quá trình cuối cùng này được điều chỉnh bởi các chất: hormone erythropoietin (được sản xuất ở thận) chịu trách nhiệm sản xuất các tế bào hồng cầu, và cytokine giúp sản xuất các tế bào bạch cầu.

    Glucose rất cần thiết cho quá trình trao đổi chất của nó (vì nó không có nhân hoặc ty thể), điều đó có nghĩa là một số con đường chính là glycolysis và con đường khử hemoglobin..

    Ở người lớn, hầu hết các tế bào máu xảy ra trong tủy xương, Mặc dù trong trường hợp hồng cầu, đặc biệt là tế bào lympho, sự trưởng thành xảy ra trong các hạch bạch huyết.

    Hồng cầu có vòng đời khoảng 120 ngày. Sau thời gian này, chúng bị phá vỡ trong tủy xương, lá lách hoặc gan, thông qua một quá trình được gọi là tan máu. Trong quá trình này, chúng được bảo tồn các yếu tố cơ bản của hồng cầu, như sắt và globin, sau đó được tái sử dụng.

    • Capellera-Garcia, S. và Flygare, J. (2016). Xác định các yếu tố tối thiểu cần thiết cho hồng cầu thông qua chuyển đổi dòng dõi trực tiếp. Đại diện tế bào, 14-15 (11): 2550-2560.
    • Từ nguyên Erythrocyte (2018). Etimologiasdechile. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2022. Có sẵn tại http://etimologias.dechile.net/?eritrocito.
    • Hồng cầu (Hồng cầu) (2014). Viện Ung thư Quốc gia. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2022. Có sẵn tại https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmedhealth/PMHT0022014/.
    • Máu làm gì? (2015). Hoa Kỳ Thư viện Y khoa Quốc gia. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2022. Có sẵn tại https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmedhealth/PMH0072576/.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hồng Cầu Là Gì Và Vai Trò Của Hồng Cầu Với Sức Khỏe
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Hồng Cầu Là Gì. Erythrocytes
  • Số Lượng Hồng Cầu Bình Thường Là Bao Nhiêu?
  • Hồng Cầu Là Gì? Các Chỉ Số Xét Nghiệm Hồng Cầu
  • Mọi Thứ Bạn Cần Biết Về Sinh Lý Của Hồng Cầu (Phần 1)
  • Nêu Chức Năng Của Huyết Tương, Bạch Cầu, Hồng Cầu, Tiểu Cầu?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Cấu Tạo, Chức Năng Của Tiểu Cầu Và Bạch Cầu Là Gì?
  • Vai Trò Của Hồng Cầu, Bạch Cầu, Tiểu Cầu Trong Cơ Thể
  • Bạch Cầu Ái Toan: Những Điều Cần Biết
  • Tăng Bạch Cầu Ái Toan Là Gì? Có Nguy Hiểm Không?
  • Tăng Bạch Cầu Ái Toan Trong Các Bệnh Nhiễm Khuẩn
  • 1. Vai trò của huyết tương là đưa các chất dinh dưỡng đến các mô và đưa các chất cặn bã từ các mô về các cơ quan bài tiết ra bên ngoài. Bên cạnh đó, vai trò của các tế bào máu gồm bài tiết, bảo vệ, điều hoà và dinh dưỡng.

    2. Vai trò của hồng cầu

    • Hồng cầu chiếm số lượng nhiều nhất, chứa huyết sắc tố (chất làm cho máu có màu đỏ).
    • Nhiệm vụ của hồng cầu là vận chuyển khí oxy (O2) từ phổi đến các mô, đi khắp mọi nơi trong cơ thể. Dọc đường, hồng cầu tiếp thu chất thải và đem trở lại phổi, nhận lại khí cacbonic (CO2) từ các mô trở về phổi để đào thải.
    • Vòng đời trung bình của hồng cầu là 120 ngày, hồng cầu già sẽ bị tiêu hủy ở lách và gan. Tủy xương sẽ có nhiệm vụ sinh các hồng cầu mới để thay thế và duy trì lượng hồng cầu đã mất trong cơ thể.
    • Nếu thiếu hồng cầu, con người cảm thấy mệt mỏi và yếu sức. Có người dễ bị mệt và tái xanh, vì cơ thể không có đủ lượng oxy cần thiết. Tình trạng thiếu hồng cầu gọi là thiếu máu.
    • 3. Vai trò của tiểu cầu
    • Tiểu cầu là những mảnh tế bào rất nhỏ hỗ trợ chức năng cầm máu bằng cách tạo các cục máu đông bịt các vết thương ở thành mạch máu. Nếu mạch máu bị tổn thương (thí dụ như bị cắt hay bầm tím), các tiểu cầu sẽ dồn đến điểm này và bám dính vào nhau, tạo thành ‘nút chặn vết hở’.
    • Thiếu tiểu cầu, có thể làm cho con người thường hay bị chảy máu mũi, khi bị cắt thì chảy máu lâu dứt, bị bầm bất bình thường, hoặc đi cầu, đi tiểu ra máu, da bị chảy máu.
    • Trong trường hợp trầm trọng, khi lượng tiểu cầu xuống quá thấp, các cơ quan nội tạng và não bộ có thể bị xuất huyết. Toán y khoa điều trị sẽ báo quý vị biết khi lượng tiểu cầu của quý vị sụt giảm.
    • Ngoài ra, tiểu cầu còn có vai trò làm cho thành mạch mềm mại, dẻo dai nhờ chức năng tiểu cầu làm “trẻ hóa” tế bào nội mạc. Vòng đời của tiểu cầu khoảng 7 – 10 ngày. Cũng giống như hồng cầubạch cầu, tủy xương là nơi sinh ra tiểu cầu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Quan Về Hệ Bạch Huyết
  • Rối Loạn Chức Năng Bạch Huyết (Phù Bạch Huyết)
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Hạch Bạch Huyết
  • Chức Năng Của Hệ Bạch Huyết Suy Yếu Phải Làm Sao?
  • Hạch Bạch Huyết Là Gì? Vai Trò, Cấu Tạo
  • Hồng Cầu Là Gì? Các Chỉ Số Xét Nghiệm Hồng Cầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Số Lượng Hồng Cầu Bình Thường Là Bao Nhiêu?
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Hồng Cầu Là Gì. Erythrocytes
  • Hồng Cầu Là Gì Và Vai Trò Của Hồng Cầu Với Sức Khỏe
  • Đặc Điểm Và Chức Năng Của Hồng Cầu (Hồng Cầu) / Y Học Và Sức Khỏe
  • Hồng Cầu Sống Được Bao Lâu Thì Chết?
  • 1. Đặc điểm của hồng cầu

    Hồng cầu là các tế bào không nhân có hình dạng như đĩa lõm hai mặt, được sinh ra trong tủy xương, lưu hành trong máu thực hiện các chức năng sống và bị phá hủy trong lách. Đời sống trung bình của các tế bào hồng cầu khoảng 120 ngày.

    Hồng cầu đảm nhiệm chức năng chính là vận chuyển oxy từ phổi tới các mô nhờ hemoglobin chứa trong tế bào.

    Sản xuất hồng cầu được kích thích bởi một hormon do thận bài tiết là erythropoietin, nồng độ hormone sẽ tăng khi có tình trạng thiếu oxy.

    Hình 1: Hồng cầu có hình đĩa lõm 2 mặt thực hiện chức năng chính là vận chuyển oxy trong cơ thể

    Có thể gặp các hình thái bất thường của hồng cầu trong trường hợp cơ thể mắc bệnh lý bằng cách quan sát trên tiêu bản giọt máu đàn. Một số hình thái bất thường của hồng cầu bao gồm:

    – Hồng cầu hình bia: hồng cầu có hình bia bắn, vùng trung tâm đậm màu được bao quanh bởi vùng nhạt màu. Thường thấy ở những bệnh nhân mắc bệnh Thalassemia, thiếu máu thiếu sắt.

    – Hồng cầu hình giọt nước: hồng cầu có hình dạng như giọt nước hay quả lê. Thường thấy ở những người bị bệnh Thalassemia.

    – Hồng cầu hình răng cưa: phía ngoài hồng cầu có các răng cưa ngắn, đều nhau và nhạt màu hơn phía trong. Gặp trong trường hợp tăng ure máu, thiếu máu tan máu.

    – Hồng cầu hình cầu: hình tròn, không có khoảng trắng ở trung tâm, đậm màu hơn so với các hồng cầu bình thường. Gặp trong truyền máu hay bệnh hồng cầu hình cầu.

    – Ngoài ra có thể gặp các hồng cầu to nhỏ kích thước khác nhau, các mảnh vỡ hồng cầu khi cơ thể có thiếu máu.

    Hình 2: Các hình dạng bất thường của hồng cầu gặp trong một số bệnh lý mắc phải

    2. Các chỉ số trong xét nghiệm hồng cầu

    Các chỉ số của hồng cầu bao gồm: số lượng hồng cầu, thể tích khối hồng cầu (Hct), lượng huyết sắc tố (Hb), thể tích trung bình hồng cầu, lượng huyết sắc tố trung bình hồng cầu, nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu.

    Các chỉ số này được sử dụng để xác định sự bình thường hay bất thường của dòng hồng cầu, bao gồm số lượng và kích thước của hồng cầu, lượng huyết sắc tố tổng và lượng huyết sắc tố trung bình chứa trong hồng cầu cũng như đánh giá sự tương quan giữa các yếu tố này.

    Các xét nghiệm này cho phép đánh giá mức độ thiếu máu và phân loại thiếu máu.

    – Số lượng hồng cầu: đếm số lượng hồng cầu giúp đánh giá khả năng hoạt động của tủy xương và hỗ trợ chẩn đoán một tình trạng bệnh lý trên lâm sàng.

    Giá trị bình thường :

    + Với nam: 4.3 – 5.7 T/L.

    + Với nữ: 3.9 – 5.0 T/L.

    – Thể tích khối hồng cầu (Hct): cho biết tỷ lệ giữa khối hồng cầu trong máu toàn phần.

    Giá trị bình thường: 0.37 – 0.42 L/L.

    – Lượng huyết sắc tố (Hb): tiêu chuẩn vàng để đánh giá tình trạng thiếu máu

    Giá trị bình thường: 120 – 155 g/L.

    – Thể tích trung bình hồng cầu (MCV): giá trị này cho phép đánh giá kích thước trung bình hồng cầu. Nếu MCV tăng, hồng cầu có kích thước lớn hơn bình thường; nếu MCV giảm đi, hồng cầu có kích thước nhỏ hơn bình thường còn MCV trong giới hạn bình thường là hồng cầu có kích thước bình thường.

    + Giá trị tham chiếu: 85 – 95 fl.

    – Lượng huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCH): tính lượng hemoglobin có trong hồng cầu. Nếu MCH giảm chứng tỏ hồng cầu nhược sắc, nếu MCH trong giới hạn bình thường có nghĩa hồng cầu bình sắc.

    + Giá trị tham chiếu: 28 – 32 pg.

    Hình 3: Xét nghiệm hồng cầu sử dụng máu tĩnh mạch được chống đông EDTA

    – Nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCHC): là hàm lượng hemoglobin trung bình trong một đơn vị máu.

    + Giá trị tham chiếu: 320 – 360 g/L.

    Giảm nồng độ MCHC nghĩa là hồng cầu nhược sắc gặp trong bệnh thiếu máu do thiếu sắt và Thalassemia, khi giá trị MCHC trong giới hạn bình thường là hồng cầu bình sắc.

    MCH và MCHC giúp mô tả các loại thiếu máu gồm:

    – Thiếu máu bình sắc hồng cầu bình thường: khi lượng huyết sắc tố giảm, MCV, MCH và MCHC trong giới hạn bình thường. Thường thấy ở những người chảy máu.

    – Thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ: khi MCV, MCH và MCHC giảm. Thường gặp trong bệnh thiếu máu thiếu sắt, người bệnh Thalassemia, nhiễm độc chì.

    – Thiếu máu bình sắc hồng cầu to: khi MCV tăng, MCH bình thường hoặc tăng và MCHC bình thường. Thường gặp trong thiếu máu do thiếu vitamin B12 và acid folic.

    3. Các nguyên nhân làm sai lệch kết quả xét nghiệm hồng cầu

    Các nguyên nhân có thể dẫn đến sai lệch kết quả xét nghiệm như:

    – Mẫu bệnh phẩm bị vỡ hồng cầu có thể làm thay đổi kết quả xét nghiệm.

    – Các yếu tố có thể làm thay đổi kết quả xét nghiệm bao gồm: độ tuổi, vị trí địa lý (người sống ở vùng cao), hoạt động thể lực, tình trạng thai nghén.

    – Một số chỉ số có thể bị thấp giả tạo do có mặt yếu tố ngưng kết lạnh trong huyết tương hoặc cao giả tạo khi có tình trạng mất nước

    – Một số thuốc làm tăng số lượng hồng cầu: Corticosteroid, cosyntropin, danazol, các thuốc lợi tiểu nhóm thiazid.

    – Các thuốc làm giảm số lượng hồng cầu: acetaminophen, acyclovir, thuốc điều trị sốt rét, kháng sinh, hóa chất điều trị ung thư, thuốc tiêu fibrin,…

    4. Xét nghiệm hồng cầu ở đâu?

    Xét nghiệm hồng cầu là một xét nghiệm phổ biến, thường được chỉ định khi thực hiện kiểm tra sức khỏe hay để chẩn đoán một bệnh lý đang mắc phải. Xét nghiệm này được thực hiện ở hầu hết tất cả các cơ sở khám chữa bệnh. Tuy nhiên bạn nên chọn những cơ sở uy tín an toàn để thực hiện xét nghiệm. Nếu như bạn vẫn đang băn khoăn không biết nên làm xét nghiệm ở đâu thì Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC sẽ là một sự lựa chọn đúng đắn dành cho bạn.

    Hình 4: Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC – địa chỉ khám chữa bệnh tin cậy dành cho bạn

    Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC với trên 24 năm kinh nghiệm hoạt động khám chữa bệnh đã trở thành trung tâm xét nghiệm uy tín hàng đầu tại miền Bắc, được nhiều người tin tưởng và lựa chọn.

    Bệnh viện sở hữu đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong nhiều lĩnh vực, đội ngũ bác sĩ tâm huyết hết lòng vì người bệnh. Cơ sở trang thiết bị của bệnh viện bao gồm hệ thống máy móc hiện đại tiên tiến nhất. Kết quả được kiểm duyệt bài bản theo quy trình để đảm bảo kết quả đến tay bạn sẽ là tin cậy nhất.

    Đăng ký khám tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC xin vui lòng gọi điện đến số 1900565656 hoặc truy cập vào website của bệnh viện: chúng tôi để chúng tôi có cơ hội chăm sóc sức khỏe cho bạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mọi Thứ Bạn Cần Biết Về Sinh Lý Của Hồng Cầu (Phần 1)
  • Chức Năng Của Các Tế Bào Máu Và Huyết Tương
  • Phân Tích Môi Trường Bên Ngoài, Môi Trường Bên Trong Của Doanh Nghiệp
  • Hãy Nêu Và Giải Thích Các Yếu Tố Bất Ngờ Ảnh Hưởng Đến Hoạch Định
  • Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Công Tác Tổ Chức, Thực Hiện Và Kiểm Soát Hoạch Định
  • Nêu Chức Năng Của Huyết Tương, Hồng Cầu, Bạch Cầu Và Tiểu Cầu? Câu Hỏi 1275576

    --- Bài mới hơn ---

  • Chỉ Ra Các Đặc Điểm Phù Hợp Với Chức Năng Của Hồng Cầu Và Bạch Cầu Câu Hỏi 86589
  • “tìm Hiểu” Bookmark Là Gì? Cách Lưu Bookmark Trên Chrome, Firefox, Cốc Cốc…
  • Bookmark Là Gì? Cách Lưu Bookmark Trên Chrome, Firefox, Cốc Cốc
  • Cấu Trúc Bộ Máy Golgi Và Bảng Chức Năng. Cấu Trúc, Chức Năng Và Đặc Điểm Của Phức Hợp Golgi
  • Nêu Cảm Nhận Về Đoạn Cuối Bài Thơ Đồng Chí
  • -Hồng cầu chiếm số lượng nhiều nhất, chứa huyết sắc tố (chất làm cho máu có màu đỏ)

    Nhiệm vụ của hồng cầu là vận chuyển khí oxy (O2) từ phổi đến các mô, đi khắp mọi nơi trong cơ thể.

    Hồng cầu tiếp thu chất thải và đem trở lại phổi, nhận lại khí cacbonic (CO2) từ các mô trở về phổi để đào thải. Nếu thiếu hồng cầu, con người cảm thấy mệt mỏi và yếu sức. Tình trạng thiếu hồng cầu gọi là thiếu máu.

    -Tiểu cầu là những mảnh tế bào rất nhỏ hỗ trợ chức năng cầm máu bằng cách tạo các cục máu đông bịt các vết thương ở thành mạch máu.

    Thiếu tiểu cầu, có thể làm cho con người thường hay bị chảy máu mũi, khi bị cắt thì chảy máu lâu dứt, để lâu nếu không sơ cứu kịp sẽ dẫn đến mất máu .

    -Bạch cầu có chức năng bảo vệ cơ thể bằng cách phát hiện và tiêu diệt các “nhân tố” gây bệnh, có thể diệt siêu vi khuẩn và tế bào ung thư.

    +Bạch cầu trung tính (Neutrophils) chống viêm nhiễm, tiêu diệt vi khuẩn và xử lý mô bị tổn thương. Loại bạch cầu làm nhiệm vụ thực bào tức là “ăn” các “nhân tố” lạ.

    +Bạch huyết bào-B (B-lymphocytes) tiết ra các kháng thể lưu hành trong máu để bảo vệ cơ thể… Bạch cầu cũng được sinh ra tại tủy xương như hồng cầu.

    +Bạch cầu đơn nhân to (Monocytes) kết hợp với bạch huyết bào để chống lại viêm nhiễm, cần thiết cho việc sản sinh kháng thể.

    Tình trạng thiếu bạch cầu làm cho con người thường hay bị viêm nhiễm và nếu bị viêm nhiễm thì bị nặng hơn, có khi nguy hiểm đến tính mạng.

    – Đây là phần dung dịch, có màu vàng, thành phần chủ yếu là nước; ngoài ra còn còn có thành phần khác như: đạm, mỡ, đường, vitamin, muối khoáng, các men…

    +Huyết tương thay đổi thường xuyên theo tình trạng sinh lý trong cơ thể. Nếu đơn vị máu có huyết tương “đục” sẽ không được sử dụng vì có thể gây sốc, gây dị ứng cho người bệnh.

    -Huyết tương có vai trò vận chuyển các nguyên liệu quan trọng của cơ thể, như glucose, sắt, oxy, hormon, protein… Mỗi lít huyết tương chứa khoảng 75g protein.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Bạch Cầu Ái Toan Trong Các Bệnh Nhiễm Khuẩn
  • Tăng Bạch Cầu Ái Toan Là Gì? Có Nguy Hiểm Không?
  • Bạch Cầu Ái Toan: Những Điều Cần Biết
  • Vai Trò Của Hồng Cầu, Bạch Cầu, Tiểu Cầu Trong Cơ Thể
  • Đặc Điểm Cấu Tạo, Chức Năng Của Tiểu Cầu Và Bạch Cầu Là Gì?
  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Hồng Cầu Là Gì. Erythrocytes

    --- Bài mới hơn ---

  • Hồng Cầu Là Gì Và Vai Trò Của Hồng Cầu Với Sức Khỏe
  • Đặc Điểm Và Chức Năng Của Hồng Cầu (Hồng Cầu) / Y Học Và Sức Khỏe
  • Hồng Cầu Sống Được Bao Lâu Thì Chết?
  • Vì Sao Hồng Cầu Có Chức Năng Vận Chuyển O2 Và Co2
  • Hướng Dẫn Cách Đọc Kết Quả Xét Nghiệm Tổng Phân Tích Tế Bào Máu Trên Máy Tự Động
  • Erythrocytes là những tế bào máu không nhân chuyên biệt cao. Hạt nhân của chúng bị mất đi trong quá trình trưởng thành. Tế bào sinh dục có hình dạng một đĩa hai mặt lồi. Trung bình, đường kính của chúng là khoảng 7,5 micron, và độ dày ở ngoại vi là 2,5 micron. Nhờ hình dạng này, bề mặt của hồng cầu tăng lên để khuếch tán khí. Ngoài ra, độ dẻo của chúng tăng lên. Do tính dẻo cao, chúng bị biến dạng và dễ dàng đi qua các mao quản. Ở hồng cầu già và bệnh lý, độ dẻo thấp. Do đó, chúng được giữ lại trong các mao mạch của mô lưới của lá lách và bị phá hủy ở đó.

    Màng của hồng cầu và không có nhân cung cấp chức năng chính của chúng – vận chuyển oxy và tham gia vận chuyển carbon dioxide. Màng hồng cầu không thấm nước với các cation khác ngoài kali, và tính thấm của nó đối với các anion clo, anion bicarbonat và anion hydroxyl lớn hơn một triệu lần. Ngoài ra, nó cho phép các phân tử oxy và carbon dioxide đi qua tốt. Màng chứa tới 52% protein. Đặc biệt, glycoprotein xác định nhóm máu và cung cấp điện tích âm của nó. Nó được tích hợp Na-K-ATP-ase, giúp loại bỏ natri khỏi tế bào chất và bơm vào các ion kali. Phần lớn hồng cầu là chemoprotein huyết sắc tố… Ngoài ra, tế bào chất còn chứa các enzym carbonic anhydrase, phosphatase, cholinesterase và các enzym khác.

    Chức năng của hồng cầu:

    1. Chuyển oxy từ phổi đến các mô.

    2. Tham gia vận chuyển CO 2 từ mô đến phổi.

    3. Vận chuyển nước từ các mô đến phổi, nơi nó được thải ra ngoài dưới dạng hơi nước.

    4. Tham gia vào quá trình đông máu, giải phóng các yếu tố đông máu của hồng cầu.

    5. Chuyển các axit amin trên bề mặt của nó.

    6. Tham gia vào quá trình điều hòa độ nhớt của máu do tính dẻo. Do khả năng biến dạng của chúng, độ nhớt của máu trong các mạch nhỏ thấp hơn ở các mạch lớn.

    Một microlit máu của đàn ông chứa 4,5-5,0 triệu hồng cầu (4,5-5,0 * 10 12 / l). Phụ nữ 3,7-4,7 triệu (3,7-4,7 * 10 12 / l).

    Số lượng tế bào hồng cầu được tính bằng phòng của Goryaev… Để làm được điều này, máu trong máy trộn hồng cầu đặc biệt dành cho hồng cầu được trộn với dung dịch natri clorua 3% theo tỷ lệ 1: 100 hoặc 1: 200. Sau đó, một giọt hỗn hợp này được đặt trong một buồng lưới. Nó được tạo ra bởi phần nhô ra giữa của buồng và nắp trượt. Chiều cao buồng 0,1 mm. Trên gờ giữa có lưới tạo thành các ô vuông lớn. Một số ô vuông này được chia thành 16 ô nhỏ. Mỗi cạnh của hình vuông nhỏ là 0,05 mm. Do đó, thể tích của hỗn hợp ở trên hình vuông nhỏ sẽ là 1/10 mm * 1 / 20mm * 1 / 20mm u003d 1 / 4000mm 3.

    Sau khi làm đầy buồng, dưới kính hiển vi, đếm số lượng hồng cầu trong 5 ô vuông lớn đó, chúng được chia thành những ô nhỏ, tức là trong 80 cái nhỏ. Sau đó, số lượng hồng cầu trong một microlit máu được tính theo công thức:

    X u003d 4000 * a * b / b.

    Trong đó a là tổng số lượng hồng cầu thu được bằng cách đếm; b – số ô vuông nhỏ đã thực hiện phép đếm (b u003d 80); c – độ pha loãng máu (1: 100, 1: 200); 4000 là nghịch đảo của thể tích chất lỏng trên hình vuông nhỏ.

    Để đếm nhanh với một số lượng lớn các phân tích, hãy sử dụng quang điệnmáy đo hồng cầu… Nguyên tắc hoạt động của chúng dựa trên việc xác định độ trong suốt của huyền phù hồng cầu bằng cách sử dụng chùm ánh sáng truyền từ nguồn đến một cảm biến nhạy sáng. Nhiệt lượng kế quang điện. Sự gia tăng hàm lượng các tế bào hồng cầu trong máu được gọi là tăng hồng cầu hoặc là ; giảm bớt – giảm hồng cầu hoặc là … Những thay đổi này có thể là tương đối hoặc tuyệt đối. Ví dụ, sự giảm xuống tương đối số lượng của chúng xảy ra khi giữ nước trong cơ thể và tăng lên – khi mất nước. Sự sụt giảm tuyệt đối trong nội dung của hồng cầu, tức là thiếu máu, quan sát thấy có mất máu, rối loạn tạo máu, phá hủy hồng cầu bởi chất độc tan máu, hoặc khi truyền máu không tương thích.

    Tan máu – Đây là sự phá hủy màng hồng cầu và giải phóng hemoglobin vào huyết tương. Kết quả là máu trở nên trong suốt.

    Có các loại tan máu sau:

    1. Tại nơi xuất xứ:

    · Nội sinh, I E. ở sinh vật.

    · Ngoại sinh bên ngoài của nó. Ví dụ, trong một chai máu, máy tim phổi.

    2. Theo bản chất:

    · Sinh lý học… Nó đảm bảo tiêu diệt các dạng hồng cầu cũ và bệnh lý. Có hai cơ chế. Tan máu nội bào xảy ra trong các đại thực bào của lá lách, tủy xương, tế bào gan. Nội mạch – trong các mạch nhỏ, từ đó hemoglobin được vận chuyển đến các tế bào gan với sự trợ giúp của haptoglobin protein huyết tương. Ở đó, huyết sắc tố hemoglobin được chuyển thành bilirubin. Khoảng 6-7 g hemoglobin bị phá hủy mỗi ngày.

    3. Theo cơ chế xảy ra:

    · Hóa chất… Nó xảy ra khi hồng cầu tiếp xúc với các chất phân giải lipid màng. Đây là rượu, ete, cloroform, axit kiềm, v.v. Đặc biệt, trong trường hợp ngộ độc với một liều lượng lớn axit axetic, sẽ xảy ra tình trạng tan máu nghiêm trọng.

    · Nhiệt độ… Ở nhiệt độ thấp, các tinh thể nước đá hình thành trong hồng cầu, phá hủy màng của chúng.

    · Cơ khí… Nó được quan sát thấy trong quá trình vỡ màng ối cơ học. Ví dụ, khi lắc một chai máu hoặc bơm nó bằng máy tim phổi.

    · Sinh học… Xảy ra dưới tác động của các yếu tố sinh học. Những chất độc tan máu của vi khuẩn, côn trùng, rắn. Do truyền máu không tương thích.

    · Thẩm thấu… Nó xảy ra khi hồng cầu đi vào môi trường có áp suất thẩm thấu thấp hơn áp suất của máu. Nước xâm nhập vào các tế bào hồng cầu, chúng phồng lên và vỡ ra. Nồng độ natri clorua mà 50% của tất cả các hồng cầu bị tan máu là một thước đo sức đề kháng thẩm thấu của chúng. Nó được xác định trong phòng khám để chẩn đoán các bệnh gan, thiếu máu. Độ bền thẩm thấu ít nhất phải là 0,46% NaCl.

    Plasmolysis xảy ra khi hồng cầu được đặt trong môi trường có áp suất thẩm thấu lớn hơn áp suất của máu. Đây là sự co lại của các tế bào hồng cầu. Nó được sử dụng để đếm hồng cầu.

    E R I T R O C VÀ T

    (Tiếng Hy Lạp erythoros – đỏ, cytus – tế bào) là một tế bào máu không nhân chứa hemoglobin. Nó có dạng một đĩa hai mặt lõm với đường kính 7-8 micron, dày 1-2,5 micron. Chúng rất mềm dẻo và đàn hồi, dễ dàng biến dạng và đi qua các mao mạch máu có đường kính nhỏ hơn đường kính của hồng cầu. Hình thành trong tủy xương đỏ, bị phá hủy ở gan và lá lách. Tuổi thọ của hồng cầu là 100-120 ngày. Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, hồng cầu có nhân và được gọi là hồng cầu lưới. Khi trưởng thành, nhân được thay thế bằng sắc tố hô hấp – hemoglobin, chiếm 90% chất khô của hồng cầu.

    Nồng độ máu bình thường ở nam giới là 4 – 5 · 10 12 / l, ở nữ giới là 3,7 – 5 · 10 12 / l, ở trẻ sơ sinh lên đến 6 · 10 12 / l. Sự gia tăng số lượng hồng cầu trên một đơn vị thể tích máu được gọi là chứng tăng hồng cầu (chứng đa hồng cầu, chứng đa hồng cầu), giảm được gọi là chứng giảm hồng cầu. Tổng diện tích bề mặt của tất cả các hồng cầu ở người trưởng thành là 3000-3800 m2, gấp 1500-1900 lần bề mặt của cơ thể.

    Các chức năng của tế bào hồng cầu:

    1) hô hấp – do hemoglobin tự gắn vào O 2 và CO 2;

    2) dinh dưỡng – sự hấp phụ các axit amin trên bề mặt của nó và phân phối chúng đến các tế bào của cơ thể;

    3) bảo vệ – sự gắn kết các chất độc bằng các chất chống độc trên bề mặt của chúng và tham gia vào quá trình đông máu;

    4) enzym – chuyển các enzym khác nhau: carbonic anhydrase (anhydrase carbonic), true cholinesterase, v.v.;

    5) đệm – duy trì pH máu trong khoảng 7,36-7,42 bằng cách sử dụng hemoglobin;

    6) sáng tạo – chuyển các chất thực hiện tương tác giữa các tế bào, đảm bảo duy trì cấu trúc của các cơ quan và mô. Ví dụ, trong trường hợp tổn thương gan ở động vật, hồng cầu bắt đầu vận chuyển nucleotide, peptide, axit amin từ tủy xương đến gan, chúng phục hồi cấu trúc của cơ quan này.

    Hemoglobin là thành phần chính của hồng cầu và cung cấp:

    1) chức năng hô hấp của máu do sự chuyển O 2 từ phổi đến các mô và CO 2 từ tế bào đến phổi;

    2) điều chỉnh phản ứng tích cực (pH) của máu, sở hữu các đặc tính của axit yếu (75% khả năng đệm của máu).

    Theo cấu trúc hóa học của nó, hemoglobin là một protein phức tạp – một chromoprotein, bao gồm một protein globin và một nhóm heme giả (bốn phân tử). Heme chứa một nguyên tử sắt có khả năng gắn và nhường phân tử oxy. Trong trường hợp này, hóa trị của sắt không thay đổi, tức là nó vẫn hóa trị hai.

    Thông thường, máu người lý tưởng nên chứa 166,7 g / l hemoglobin. Trung bình ở nam giới hàm lượng huyết sắc tố bình thường là 130-160 g / l, ở nữ giới là 120-140 g / l. Hàm lượng hemoglobin trong máu giảm là thiếu máu, chất chỉ thị màu là mức độ bão hòa của hồng cầu với hemoglobin. Thông thường, nó là 0,86-1. Sự giảm chất chỉ thị màu thường xảy ra khi cơ thể thiếu sắt – thiếu máu do thiếu sắt, tăng trên 1,0 – khi thiếu vitamin B 12 và axit folic. 1 g hemoglobin liên kết với 1,34 ml oxy. Sự khác biệt về hàm lượng hồng cầu và huyết sắc tố ở nam và nữ được giải thích là do tác dụng kích thích tạo máu của hormon sinh dục nam và tác dụng ức chế của hormon sinh dục nữ. Hemoglobin được tổng hợp bởi nguyên bào hồng cầu và nguyên bào sinh tủy xương. Khi hồng cầu bị phá hủy, hemoglobin, sau khi heme phân cắt, sẽ chuyển thành sắc tố mật – bilirubin. Sau đó đi vào ruột với mật, nơi nó biến thành stercobilin và urobilin, được bài tiết qua phân và nước tiểu. Trong ngày, khoảng 8 g hemoglobin bị phá hủy và chuyển thành sắc tố mật, tức là khoảng 1% hemoglobin trong máu.

    Cơ xương và cơ tim chứa hemoglobin cơ được gọi là myoglobin. Nhóm giả của nó – heme giống với cùng một nhóm của phân tử hemoglobin trong máu, và phần protein – globin có trọng lượng phân tử thấp hơn so với protein hemoglobin. Myoglobin liên kết tới 14% tổng lượng oxy trong cơ thể. Mục đích của nó là cung cấp oxy cho cơ làm việc tại thời điểm co lại, khi lưu lượng máu trong đó giảm hoặc ngừng.

    Thông thường, hemoglobin được chứa trong máu dưới dạng ba hợp chất sinh lý:

    1) oxyhemoglobin (HbO 2) – huyết sắc tố đã thêm O 2; có trong máu động mạch, làm cho nó có màu đỏ tươi;

    2) giảm, hoặc giảm, hemoglobin, deoxyhemoglobin (Hb) – oxyhemoglobin, từ bỏ O 2; được tìm thấy trong máu tĩnh mạch, có màu sẫm hơn máu động mạch;

    3) carbhemoglobin (HbCO 2) – một hợp chất của hemoglobin với carbon dioxide; chứa trong máu tĩnh mạch.

    Hemoglobin cũng có khả năng tạo thành các hợp chất bệnh lý.

    Ái lực của sắt hemoglobin đối với carbon monoxide vượt quá ái lực của nó với O 2, vì vậy ngay cả 0,1% carbon monoxide trong không khí cũng dẫn đến việc chuyển đổi 80% hemoglobin thành carboxyhemoglobin, chất không thể gắn O 2; nguy hiểm đến tính mạng. Ngộ độc carbon monoxide nhẹ là một quá trình có thể đảo ngược. Hít phải oxy tinh khiết làm tăng tốc độ phân hủy carboxyhemoglobin lên 20 lần.

    Methemoglobin (MetHb) là một hợp chất, trong đó, dưới tác động của chất oxy hóa mạnh (anilin, muối berthollet, phenacetin, v.v.), heme sắt được chuyển từ hóa trị hai sang hóa trị ba. Khi một lượng lớn methemoglobin tích tụ trong máu, quá trình vận chuyển oxy đến các mô bị gián đoạn và có thể tử vong.

    L E J K O C VÀ T

    (Tiếng Hy Lạp leukos – màu trắng, cytus – tế bào), hoặc tế bào máu trắng, là một tế bào nhân không màu và không chứa hemoglobin. Kích thước của bạch cầu là 8-20 micron. Hình thành ở tủy đỏ, hạch bạch huyết, lá lách, nang bạch huyết. Bình thường, 1 lít máu chứa bạch cầu từ 4 – 9 · 10 9 / l. sự gia tăng số lượng bạch cầu trong máu được gọi là tăng bạch cầu, giảm được gọi là giảm bạch cầu. Tuổi thọ của bạch cầu trung bình là 15-20 ngày, tế bào lympho – 20 năm hoặc hơn. Một số tế bào bạch huyết sống trong suốt cuộc đời của một người.

    Bạch cầu được chia thành hai nhóm: bạch cầu hạt (có hạt) và bạch cầu không hạt (không hạt). Nhóm bạch cầu hạt bao gồm bạch cầu trung tính, bạch cầu ái toan và ưa bazơ, nhóm bạch cầu hạt bao gồm tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân. Khi đánh giá những thay đổi về số lượng bạch cầu trong phòng khám, tầm quan trọng quyết định không quá nhiều đối với những thay đổi về số lượng của chúng cũng như những thay đổi trong mối quan hệ giữa các loại tế bào khác nhau. Tỷ lệ phần trăm các dạng bạch cầu riêng lẻ trong máu được gọi là công thức bạch cầu, hoặc biểu đồ bạch cầu.

    Máu người là một chất lỏng bao gồm huyết tương và tiểu thể, hoặc các tế bào máu, lơ lửng trong đó, chiếm khoảng 40-45% tổng thể tích. Chúng nhỏ và chỉ có thể quan sát được dưới kính hiển vi.

    Có một số loại tế bào máu có các chức năng cụ thể. Một số trong số chúng chỉ hoạt động trong hệ thống tuần hoàn, trong khi những người khác vượt ra ngoài hệ thống tuần hoàn. Điểm chung của chúng là đều được hình thành trong tủy xương từ tế bào gốc, quá trình hình thành diễn ra liên tục, tuổi thọ có hạn.

    Tất cả các tế bào máu được chia thành màu đỏ và trắng. Loại thứ nhất là hồng cầu, chiếm phần lớn tất cả các tế bào, loại thứ hai là bạch cầu.

    Tiểu cầu cũng được coi là tế bào máu. Những tiểu cầu nhỏ này không thực sự là tế bào hoàn chỉnh. Chúng là những mảnh nhỏ tách ra từ các tế bào lớn – tế bào megakaryocyte.

    Các tế bào hồng cầu được gọi là hồng cầu. Đây là nhóm tế bào lớn nhất. Chúng mang oxy từ hệ thống hô hấp đến các mô và tham gia vào quá trình vận chuyển carbon dioxide từ các mô đến phổi.

    Nơi hình thành hồng cầu là tủy xương đỏ. Chúng sống trong 120 ngày và bị tiêu diệt trong lá lách và gan.

    Chúng được hình thành từ các tế bào tiền thân – nguyên bào hồng cầu, trước khi được chuyển thành hồng cầu, chúng sẽ trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau và phân chia nhiều lần. Như vậy, có tới 64 tế bào hồng cầu được hình thành từ nguyên bào hồng cầu.

    Tế bào biểu bì không có nhân và có hình dạng giống như một cái đĩa lõm ở cả hai bên, đường kính trung bình khoảng 7-7,5 micron, và độ dày ở các cạnh là 2,5 micron. Hình dạng này làm tăng độ dẻo cần thiết để đi qua các bình nhỏ và diện tích bề mặt cho sự khuếch tán khí. Các hồng cầu già mất tính dẻo, đó là lý do tại sao chúng nằm trong các mạch nhỏ của lá lách và bị phá hủy ở đó.

    Phần lớn tế bào chất của hồng cầu được chiếm bởi hemoglobin, bao gồm protein và sắt heme, làm cho máu có màu đỏ. Phần phi protein bao gồm bốn phân tử heme với một nguyên tử Fe trong mỗi phân tử. Nhờ có huyết sắc tố mà hồng cầu có khả năng vận chuyển oxy và loại bỏ khí cacbonic. Trong phổi, một nguyên tử sắt liên kết với một phân tử oxy, hemoglobin chuyển thành oxyhemoglobin, làm cho máu có màu đỏ tươi. Trong các mô, hemoglobin nhường oxy và gắn carbon dioxide, biến thành carbohemoglobin, kết quả là máu trở nên sẫm màu. Trong phổi, carbon dioxide được tách ra khỏi hemoglobin và được phổi bài tiết ra bên ngoài, oxy đi vào lại liên kết với sắt.

    Ngoài hemoglobin, tế bào chất của hồng cầu còn chứa nhiều enzym khác nhau (phosphatase, cholinesterase, carbonic anhydrase, v.v.).

    Màng hồng cầu có cấu trúc khá đơn giản, so với màng của các tế bào khác. Nó là một lưới mỏng đàn hồi giúp trao đổi khí nhanh chóng.

    Trên bề mặt hồng cầu là các loại kháng nguyên quyết định yếu tố Rh và nhóm máu. Yếu tố Rh có thể dương tính hoặc âm tính tùy thuộc vào sự hiện diện hay vắng mặt của kháng nguyên Rh. Nhóm máu phụ thuộc vào kháng nguyên nào trên màng: 0, A, B (nhóm thứ nhất là 00, nhóm thứ hai là 0A, nhóm thứ ba là 0B, nhóm thứ tư là AB).

    Trong máu của một người khỏe mạnh, có thể có một lượng nhỏ các tế bào hồng cầu chưa trưởng thành được gọi là hồng cầu lưới. Số lượng của chúng tăng lên khi mất máu đáng kể, khi cần thay thế tế bào hồng cầu và tủy xương không có thời gian để sản xuất chúng, do đó nó giải phóng các tế bào chưa trưởng thành, tuy nhiên có khả năng thực hiện các chức năng vận chuyển oxy của tế bào hồng cầu.

    Bạch cầu là những tế bào bạch cầu có nhiệm vụ chính là bảo vệ cơ thể khỏi những kẻ thù bên trong và bên ngoài.

    Chúng thường được chia thành bạch cầu hạt và bạch cầu hạt. Nhóm đầu tiên là tế bào hạt: bạch cầu trung tính, bạch cầu ưa bazơ, bạch cầu ái toan. Nhóm thứ hai không có hạt trong tế bào chất, bao gồm tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân.

    Đây là nhóm bạch cầu lớn nhất – chiếm tới 70% tổng số bạch cầu. Bạch cầu trung tính có tên như vậy là do các hạt của chúng được nhuộm bằng thuốc nhuộm với phản ứng trung tính. Độ hạt của nó là tốt, các hạt có màu nâu tím.

    Nhiệm vụ chính của bạch cầu trung tính là thực bào, bao gồm việc bắt giữ các vi khuẩn gây bệnh và các sản phẩm phân hủy mô và tiêu diệt chúng bên trong tế bào với sự trợ giúp của các enzym lysosome trong hạt. Các tế bào hạt này chống lại chủ yếu là vi khuẩn và nấm và ở mức độ thấp hơn là vi rút. Mủ bao gồm bạch cầu trung tính và tàn tích của chúng. Các enzym lysosome được giải phóng trong quá trình phá vỡ bạch cầu trung tính và làm mềm các mô lân cận, do đó hình thành một tụ điểm có mủ.

    Neutrophil là một tế bào nhân hình tròn, có đường kính 10 micron. Hạt nhân có thể ở dạng hình que hoặc gồm nhiều đoạn (từ 3 đến 5 đoạn), nối với nhau bằng các sợi. Sự gia tăng số lượng các phân đoạn (lên đến 8-12 hoặc nhiều hơn) cho thấy bệnh lý. Do đó, bạch cầu trung tính có thể bị đâm hoặc phân đoạn. Đầu tiên là các tế bào non, thứ hai là trưởng thành. Tế bào có nhân phân đoạn chiếm 65% tổng số bạch cầu, tế bào đâm trong máu của người khỏe mạnh – không quá 5%.

    Trong tế bào chất có khoảng 250 loại hạt chứa các chất do đó bạch cầu trung tính thực hiện các chức năng của nó. Đây là các phân tử protein ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất (enzym), các phân tử điều hòa kiểm soát công việc của bạch cầu trung tính, chất tiêu diệt vi khuẩn và các tác nhân có hại khác.

    Các bạch cầu hạt này được hình thành trong tủy xương từ các nguyên bào tủy bạch cầu trung tính. Một tế bào trưởng thành sẽ lưu lại trong não 5 ngày, sau đó đi vào máu và sống ở đây đến 10 giờ. Từ giường mạch, bạch cầu trung tính đi vào các mô, nơi chúng ở trong hai hoặc ba ngày, sau đó chúng đi vào gan và lá lách, nơi chúng bị phá hủy.

    Chức năng chính của chúng là giải phóng histamine và heparin và tham gia vào việc hình thành các phản ứng viêm và dị ứng, bao gồm cả loại tức thời (sốc phản vệ). Ngoài ra, chúng có khả năng làm giảm đông máu.

    Hình thành trong tủy xương từ các nguyên bào tủy ưa base. Sau khi trưởng thành, chúng đi vào máu, ở đó trong khoảng hai ngày, sau đó đi vào các mô. Điều gì xảy ra tiếp theo vẫn chưa rõ.

    Các bạch cầu hạt này chiếm khoảng 2-5% tổng số bạch cầu. Hạt của chúng được nhuộm bằng thuốc nhuộm có tính axit – eosin.

    Chúng có hình tròn và nhân có màu yếu, bao gồm các đoạn có cùng kích thước (thường là hai, ít thường là ba). Về đường kính, bạch cầu ái toan đạt 10-11 micron. Tế bào chất của chúng được sơn màu xanh lam nhạt và gần như không thể nhìn thấy giữa một số lượng lớn các hạt tròn lớn màu vàng đỏ.

    Những tế bào này được hình thành trong tủy xương, tiền thân của chúng là nguyên bào bạch cầu ái toan. Hạt của chúng chứa các enzym, protein và phospholipid. Bạch cầu ái toan trưởng thành sống trong tủy xương vài ngày, sau khi vào máu nó ở trong đó đến 8 giờ, sau đó di chuyển vào các mô tiếp xúc với môi trường bên ngoài (màng nhầy).

    Đây là những tế bào tròn có nhân lớn chiếm phần lớn tế bào chất. Đường kính của chúng từ 7 đến 10 micron. Nhân có hình tròn, hình bầu dục hoặc hình hạt đậu, có cấu tạo thô ráp. Chúng bao gồm các cục oxychromatin và basiromatin, giống như các cục u. Hạt nhân có thể có màu tím sẫm hoặc tím nhạt, đôi khi có những đốm sáng ở dạng nucleoli. Tế bào chất có màu xanh nhạt, xung quanh nhân có màu nhạt hơn. Ở một số tế bào lympho, tế bào chất có dạng hạt azurophilic, khi nhuộm sẽ chuyển sang màu đỏ.

    Có hai loại tế bào lympho trưởng thành lưu thông trong máu:

    • Thu hẹp huyết tương. Chúng có một nhân thô, màu tím sẫm và tế bào chất ở dạng một vành hẹp màu xanh lam.
    • Plasma rộng. Trong trường hợp này, nhân có màu nhạt hơn và hình dạng giống hạt đậu. Vành của tế bào chất đủ rộng, có màu xanh xám, có các hạt ausurophilic hiếm.

    Từ các tế bào lympho không điển hình trong máu, bạn có thể tìm thấy:

    • Tế bào nhỏ với tế bào chất và nhân pyknotic khó nhìn thấy.
    • Tế bào có không bào trong tế bào chất hoặc nhân.
    • Tế bào có nhân hình thùy, hình thận, có gai.
    • Nhân trần.

    Tế bào lympho được hình thành trong tủy xương từ các nguyên bào lympho và trong quá trình trưởng thành chúng sẽ trải qua nhiều giai đoạn phân chia. Sự trưởng thành đầy đủ của nó xảy ra ở tuyến ức, các hạch bạch huyết và lá lách. Tế bào bạch huyết là tế bào miễn dịch cung cấp các phản ứng miễn dịch. Có tế bào lympho T (80% tổng số) và tế bào lympho B (20%). Lần đầu tiên trưởng thành ở tuyến ức, lần thứ hai ở lá lách và các hạch bạch huyết. Tế bào lympho B có kích thước lớn hơn tế bào lympho T. Tuổi thọ của những bạch cầu này lên đến 90 ngày. Máu đối với họ là một phương tiện vận chuyển mà qua đó họ đến các mô, nơi họ cần sự giúp đỡ.

    Các hoạt động của tế bào lympho T và tế bào lympho B là khác nhau, mặc dù cả hai đều tham gia vào việc hình thành các phản ứng miễn dịch.

    Các vi khuẩn trước đây tham gia vào việc tiêu diệt các tác nhân có hại, thường là virus, bằng cách thực bào. Các phản ứng miễn dịch mà chúng tham gia là sự đề kháng không đặc hiệu, vì hoạt động của tế bào lympho T là giống nhau đối với tất cả các tác nhân có hại.

    Theo các hoạt động được thực hiện, tế bào lympho T được chia thành ba loại:

    • T-helpers. Nhiệm vụ chính của chúng là giúp đỡ các tế bào lympho B, nhưng trong một số trường hợp, chúng có thể hoạt động như những kẻ giết người.
    • Những kẻ giết người. Chúng tiêu diệt các tác nhân gây hại: ngoại lai, tế bào ung thư và tế bào đột biến, tác nhân lây nhiễm.
    • T-ức chế. Ức chế hoặc ngăn chặn các phản ứng quá tích cực của tế bào lympho B.

    Tế bào lympho B hoạt động khác nhau: chúng tạo ra kháng thể – các globulin miễn dịch chống lại các tác nhân gây bệnh. Điều này xảy ra theo cách sau: để phản ứng với tác động của các tác nhân có hại, chúng tương tác với bạch cầu đơn nhân và tế bào lympho T và biến thành tế bào huyết tương tạo ra kháng thể nhận biết kháng nguyên tương ứng và liên kết chúng. Đối với mỗi loại vi sinh vật, các protein này là đặc hiệu và chỉ có khả năng tiêu diệt một số loài nhất định, do đó khả năng đề kháng mà các tế bào lympho này hình thành là đặc hiệu và nó chủ yếu chống lại vi khuẩn.

    Các tế bào này cung cấp sức đề kháng của cơ thể đối với một số vi sinh vật có hại, thường được gọi là khả năng miễn dịch. Tức là khi gặp tác nhân có hại, tế bào lympho B sẽ tạo ra các tế bào ghi nhớ hình thành nên sức đề kháng này. Điều tương tự – sự hình thành các tế bào trí nhớ – cũng đạt được bằng cách tiêm vắc xin chống lại các bệnh truyền nhiễm. Trong trường hợp này, một vi khuẩn yếu được đưa vào để một người có thể dễ dàng chịu đựng bệnh tật, và kết quả là, các tế bào trí nhớ được hình thành. Chúng có thể tồn tại suốt đời hoặc trong một thời gian nhất định, sau đó phải tiêm nhắc lại.

    Bạch cầu đơn nhân là tế bào lớn nhất trong số các tế bào bạch cầu. Số lượng của chúng dao động từ 2 đến 9% tổng số bạch cầu. Đường kính của chúng đạt tới 20 micron. Nhân của tế bào đơn nhân lớn, chiếm gần như toàn bộ tế bào chất, nó có thể tròn, hình hạt đậu, hình nấm hoặc hình bướm. Khi nhuộm, nó chuyển sang màu đỏ tím. Tế bào chất có màu khói, hơi xanh xám, ít khi có màu xanh lam. Nó thường có hạt mịn azurophilic. Nó có thể chứa không bào (khoảng trống), hạt sắc tố, tế bào thực bào.

    Bạch cầu đơn nhân được tạo ra trong tủy xương từ các nguyên bào đơn nhân. Sau khi trưởng thành, chúng ngay lập tức xuất hiện trong máu và ở đó đến 4 ngày. Một số bạch cầu chết đi, một số di chuyển đến các mô, nơi chúng trưởng thành và biến thành đại thực bào. Đây là những tế bào lớn nhất với một nhân lớn hình tròn hoặc bầu dục, tế bào chất màu xanh lam và một số lượng lớn không bào, khiến chúng có vẻ như bọt. Tuổi thọ của đại thực bào là vài tháng. Chúng có thể thường xuyên ở một nơi (tế bào cư trú) hoặc di chuyển (lang thang).

    Bạch cầu đơn nhân tạo thành các phân tử và enzym điều hòa. Chúng có khả năng tạo ra phản ứng viêm, nhưng cũng có thể ức chế nó. Ngoài ra, chúng còn tham gia vào quá trình chữa lành vết thương, giúp đẩy nhanh quá trình lành thương và góp phần phục hồi các sợi thần kinh và mô xương. Chức năng chính của chúng là thực bào. Bạch cầu đơn nhân tiêu diệt vi khuẩn có hại và ức chế sự sinh sôi của vi rút. Chúng có thể thực hiện các lệnh, nhưng không thể phân biệt giữa các kháng nguyên cụ thể.

    Những tế bào máu này là những tấm nhỏ, không có nhân và có thể có hình tròn hoặc hình bầu dục. Trong quá trình kích hoạt, khi chúng ở thành mạch bị tổn thương, chúng sẽ hình thành các khối phát triển, vì vậy chúng trông giống như những ngôi sao. Tiểu cầu chứa các vi ống, ti thể, ribosome, các hạt đặc hiệu chứa các chất cần thiết cho quá trình đông máu. Các tế bào này được trang bị một màng ba lớp.

    Tiểu cầu được sản xuất trong tủy xương, nhưng theo một cách hoàn toàn khác với các tế bào khác. Tiểu cầu được hình thành từ các tế bào não lớn nhất – megakaryocytes, đến lượt nó, được hình thành từ các megakaryoblasts. Megakaryocytes có một tế bào chất rất lớn. Sau khi tế bào trưởng thành, các màng xuất hiện trong nó, chia nó thành các mảnh, bắt đầu tách ra, và do đó xuất hiện các tiểu cầu. Chúng ra khỏi tủy xương vào máu, tồn tại trong 8 – 10 ngày, sau đó chết ở lá lách, phổi, gan.

    Tiểu cầu có thể có các kích thước khác nhau:

    • nhỏ nhất là dạng vi mô, đường kính của chúng không quá 1,5 micron;
    • normoforms đạt 2-4 micron;
    • macroforms – 5 microns;
    • megaloforms – 6-10 micron.

    Tiểu cầu thực hiện một chức năng rất quan trọng – chúng tham gia vào quá trình hình thành cục máu đông, đóng các tổn thương trong mạch, từ đó ngăn máu chảy ra ngoài. Ngoài ra, chúng còn duy trì tính toàn vẹn của thành mạch, thúc đẩy khả năng phục hồi nhanh nhất sau khi bị hư hại. Khi bắt đầu chảy máu, các tiểu cầu sẽ bám vào rìa tổn thương cho đến khi lỗ này đóng lại hoàn toàn. Các mảng bám bắt đầu bị phá vỡ và tiết ra các enzym ảnh hưởng đến huyết tương. Kết quả là, các sợi fibrin không hòa tan được hình thành bao phủ chặt chẽ vị trí bị thương.

    Phần kết luận

    Tế bào máu có cấu trúc phức tạp, và mỗi loài thực hiện một công việc cụ thể: từ vận chuyển khí và chất đến sản xuất kháng thể chống lại vi sinh vật lạ. Các thuộc tính và chức năng của chúng hiện chưa được hiểu đầy đủ. Đối với hoạt động bình thường của con người, cần một lượng nhất định của mỗi loại tế bào. Theo những thay đổi về số lượng và chất lượng của chúng, các bác sĩ có cơ hội để nghi ngờ sự phát triển của bệnh lý. Thành phần của máu là điều đầu tiên bác sĩ kiểm tra khi bệnh nhân áp dụng.

    cảm ơn

    Trang web cung cấp thông tin cơ bản chỉ cho mục đích thông tin. Việc chẩn đoán và điều trị bệnh cần được thực hiện dưới sự giám sát của bác sĩ chuyên khoa. Tất cả các loại thuốc đều có chống chỉ định. Cần phải có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa!

    Máu là một mô liên kết lỏng chứa đầy toàn bộ hệ thống tim mạch của con người. Lượng của nó trong cơ thể của một người trưởng thành đạt 5 lít. Nó bao gồm một phần chất lỏng được gọi là huyết tương và các yếu tố tiểu thể như bạch cầu, tiểu cầu và hồng cầu… Trong bài này chúng ta sẽ nói cụ thể về tế bào hồng cầu, cấu trúc, chức năng, phương thức hình thành của chúng, v.v.

    Hồng cầu là gì?

    Thuật ngữ này xuất phát từ 2 từ ” erythos“Và” kytos“, Được dịch từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là” đỏ“Và” ngăn chứa, lồng“. Erythrocytes là tế bào hồng cầu trong máu của người, động vật có xương sống và cả một số động vật không xương sống, được giao phó những chức năng rất đa dạng và rất quan trọng.

    Hình thành tế bào đỏ

    Các tế bào này được hình thành trong tủy xương đỏ. Ban đầu, quá trình tăng sinh xảy ra ( tăng sinh mô bằng cách nhân lên tế bào). Sau đó từ tế bào gốc tạo máu ( tế bào – tổ tiên của quá trình tạo máu) một megaloblast ( cơ thể lớn màu đỏ, chứa một nhân và một lượng lớn hemoglobin), đến lượt nó, nguyên bào hồng cầu ( tế bào nhân), và sau đó là normocyte ( cơ thể có kích thước bình thường). Ngay sau khi một tế bào hình cầu mất nhân, nó lập tức biến thành hồng cầu lưới – tiền thân của tế bào hồng cầu. Hồng cầu lưới đi vào máu và được biến đổi thành hồng cầu. Mất khoảng 2 – 3 giờ để biến đổi nó.

    Kết cấu

    Các tế bào máu này được đặc trưng bởi hình dạng hai lõm và màu đỏ, do sự hiện diện của một lượng lớn hemoglobin trong tế bào. Chính hemoglobin tạo nên phần lớn các tế bào này. Đường kính của chúng thay đổi từ 7 đến 8 micron, nhưng độ dày của chúng đạt 2 – 2,5 micron. Nhân trong tế bào trưởng thành không có, làm tăng đáng kể bề mặt của chúng. Ngoài ra, việc không có lõi đảm bảo sự xâm nhập nhanh chóng và đồng đều của oxy vào cơ thể. Tuổi thọ của các tế bào này là khoảng 120 ngày. Tổng bề mặt của các tế bào hồng cầu của con người vượt quá 3000 mét vuông. Bề mặt này gấp 1500 lần bề mặt của toàn bộ cơ thể con người. Nếu bạn đặt tất cả các tế bào màu đỏ của một người trong một hàng, thì bạn có thể nhận được một chuỗi, chiều dài của nó sẽ là khoảng 150.000 km. Sự phá hủy các cơ quan này xảy ra chủ yếu ở lá lách và một phần ở gan.

    Chức năng

    1. Bổ dưỡng: thực hiện việc chuyển các axit amin từ các cơ quan của hệ tiêu hóa đến các tế bào của cơ thể;

    2. Enzym: là chất mang các enzym khác nhau ( chất xúc tác protein cụ thể);

    3. Hô hấp: chức năng này được thực hiện bởi hemoglobin, có thể tự gắn vào và thải ra cả oxy và carbon dioxide;

    4. Bảo vệ: liên kết các chất độc do sự hiện diện trên bề mặt của chúng các chất đặc biệt có nguồn gốc protein.

    Thuật ngữ được sử dụng để mô tả các ô này

    • Tăng tế bào vi mô – kích thước trung bình của hồng cầu nhỏ hơn bình thường;
    • Tăng tế bào vĩ mô – kích thước trung bình của hồng cầu lớn hơn bình thường;
    • Tăng bạch cầu – kích thước trung bình của các tế bào hồng cầu là bình thường;
    • Anisocytosis – Kích thước của các tế bào hồng cầu là khác nhau đáng kể, một số quá nhỏ, một số khác lại rất lớn;
    • Poikilocytosis – hình dạng của các tế bào thay đổi từ bình thường đến hình bầu dục, hình lưỡi liềm;
    • Normochromia – Các tế bào hồng cầu có màu bình thường, đó là dấu hiệu của mức bình thường của hemoglobin trong đó;
    • Giảm sắc tố – Các tế bào hồng cầu có màu yếu, chứng tỏ huyết sắc tố trong đó ít hơn bình thường.

    Tỷ lệ lún (ESR)

    Tốc độ lắng hồng cầu hay ESR là một chỉ số khá nổi tiếng trong chẩn đoán trong phòng thí nghiệm, có nghĩa là tốc độ tách máu không đông, được đặt trong một mao mạch đặc biệt. Máu được chia thành 2 lớp – dưới và trên. Lớp dưới bao gồm các tế bào hồng cầu lắng đọng, trong khi lớp trên là huyết tương. Chỉ số này thường được đo bằng milimét trên giờ. Giá trị ESR phụ thuộc trực tiếp vào giới tính của bệnh nhân. Ở trạng thái bình thường, ở nam giới, chỉ số này là từ 1 đến 10 mm / giờ, nhưng ở phụ nữ – từ 2 đến 15 mm / giờ.

    Với sự gia tăng các chỉ số, chúng ta đang nói về những vi phạm của cơ thể. Có ý kiến u200bu200bcho rằng trong hầu hết các trường hợp, ESR tăng dựa trên sự gia tăng tỷ lệ các hạt protein lớn và nhỏ trong huyết tương. Ngay khi nấm, vi rút hoặc vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể, mức độ kháng thể bảo vệ ngay lập tức tăng lên, dẫn đến thay đổi tỷ lệ protein trong máu. Do đó, ESR đặc biệt thường tăng lên so với nền của các quá trình viêm như viêm khớp, viêm amidan, viêm phổi, v.v. Chỉ số này càng cao thì quá trình viêm càng rõ rệt. Với một đợt viêm nhẹ, chỉ số tăng lên 15 – 20 mm / giờ. Nếu quá trình viêm nghiêm trọng, nó sẽ tăng lên đến 60 – 80 mm / giờ. Nếu trong quá trình điều trị, chỉ số bắt đầu giảm, điều đó có nghĩa là phương pháp điều trị đã được lựa chọn chính xác.

    Ngoài các bệnh viêm nhiễm, sự gia tăng ESR có thể xảy ra với một số bệnh không do viêm, cụ thể là:

    • Sự hình thành ác tính;
    • Bệnh nặng của gan và thận;
    • Bệnh lý máu nghiêm trọng;
    • Truyền máu thường xuyên;
    • Liệu pháp vắc xin.

    Thông thường, chỉ số này tăng lên trong kỳ kinh nguyệt, cũng như khi mang thai. Việc sử dụng một số loại thuốc cũng có thể làm tăng ESR.

    Tan máu – nó là gì?

    Tan máu là quá trình phá hủy màng tế bào hồng cầu, do đó hemoglobin được giải phóng vào huyết tương và máu trở nên trong suốt.

    Các chuyên gia hiện đại phân biệt các loại tan máu sau:

    1. Theo bản chất của dòng chảy:

    • Sinh lý học: xảy ra sự phá hủy các dạng hồng cầu cũ và bệnh lý. Quá trình tiêu diệt chúng được ghi nhận trong các mạch nhỏ, đại thực bào ( tế bào có nguồn gốc trung mô) tủy xương và lá lách, cũng như trong các tế bào gan;
    • Bệnh lý: chống lại nền của một trạng thái bệnh lý, các tế bào trẻ khỏe mạnh bị phá hủy.

    2. Tại nơi xuất xứ:

    • Nội sinh: tan máu xảy ra bên trong cơ thể con người;
    • Ngoại sinh: sự tán huyết được thực hiện bên ngoài cơ thể ( ví dụ, trong một chai máu).

    3. Theo cơ chế xuất hiện:

    • Cơ khí: lưu ý trong trường hợp vỡ cơ học của màng ( ví dụ, một chai máu phải được lắc);
    • Hóa chất: ghi nhận khi hồng cầu tiếp xúc với các chất có xu hướng hòa tan lipid ( chất béo) màng. Những chất này bao gồm ete, kiềm, axit, rượu và cloroform;
    • Sinh học: quan sát được khi tiếp xúc với các yếu tố sinh học ( chất độc côn trùng, rắn, vi khuẩn) hoặc bằng cách truyền máu không tương thích;
    • Nhiệt độ: ở nhiệt độ thấp, các tinh thể nước đá hình thành trong hồng cầu, có xu hướng làm vỡ màng tế bào;
    • Thẩm thấu: xảy ra khi hồng cầu đi vào môi trường có độ thẩm thấu thấp hơn ( nhiệt động lực học) sức ép. Ở áp suất này, các tế bào sưng lên và vỡ ra.

    Hồng cầu

    Tổng số lượng tế bào này trong máu người là rất lớn. Vì vậy, ví dụ, nếu cân nặng của bạn khoảng 60 kg, thì bạn có ít nhất 25 nghìn tỷ tế bào hồng cầu trong máu. Con số này rất lớn, vì vậy để thuận tiện và thực tế, các chuyên gia không tính mức độ chung của các tế bào này mà tính số lượng của chúng trong một lượng máu nhỏ, cụ thể là tính bằng 1 milimét khối của nó. Điều quan trọng cần lưu ý là các tiêu chuẩn cho nội dung của các tế bào này được xác định bởi một số yếu tố cùng một lúc – tuổi, giới tính và nơi cư trú của bệnh nhân.

    Số lượng hồng cầu

    Lâm sàng ( chung) xét nghiệm máu .

    • Đối với phụ nữ – từ 3,7 đến 4,7 nghìn tỷ mỗi lít;
    • Đối với nam giới – từ 4 đến 5,1 nghìn tỷ mỗi lít;
    • Đối với trẻ em trên 13 tuổi – từ 3,6 đến 5,1 nghìn tỷ trong 1 lít;
    • Đối với trẻ em từ 1 đến 12 tuổi – từ 3,5 đến 4,7 nghìn tỷ đồng trong 1 lít;
    • Đối với trẻ em trong 1 năm – từ 3,6 đến 4,9 nghìn tỷ trong 1 lít;
    • Ở trẻ em trong sáu tháng – từ 3,5 đến 4,8 nghìn tỷ trong 1 lít;
    • Ở trẻ em trong 1 tháng – từ 3,8 đến 5,6 nghìn tỷ trong 1 lít;
    • Trẻ em vào ngày đầu tiên của cuộc đời – từ 4,3 đến 7,6 nghìn tỷ trong 1 lít.

    Mức độ cao của các tế bào trong máu của trẻ sơ sinh là do trong quá trình phát triển trong tử cung, cơ thể của trẻ cần nhiều hồng cầu hơn. Chỉ bằng cách này, thai nhi mới có thể nhận được lượng oxy cần thiết trong điều kiện nồng độ tương đối thấp trong máu của mẹ.

    Mức độ hồng cầu trong máu của phụ nữ mang thai

    Thông thường, số lượng cơ thể này giảm nhẹ khi mang thai, điều này hoàn toàn bình thường. Đầu tiên, trong quá trình mang thai, một lượng lớn nước được giữ lại trong cơ thể phụ nữ, nước này sẽ đi vào máu và làm loãng nó. Ngoài ra, các sinh vật của hầu hết các bà mẹ tương lai không nhận được đủ lượng sắt, do đó sự hình thành các tế bào này lại giảm đi.

    Tăng mức độ hồng cầu trong máu

    Một tình trạng đặc trưng bởi sự gia tăng mức độ hồng cầu trong máu được gọi là máu đỏ tươi, tăng hồng cầu hoặc là bệnh đa hồng cầu.

    Những lý do phổ biến nhất cho sự phát triển của tình trạng này là:

    • Bệnh thận đa nang ( một căn bệnh trong đó các u nang xuất hiện và tăng dần ở cả hai thận);
    • COPD (bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính – hen phế quản, khí phế thũng, viêm phế quản mãn tính);
    • Hội chứng Pickwick ( béo phì kèm theo suy phổi và tăng huyết áp động mạch, tức là tăng huyết áp liên tục);
    • Thận ứ nước ( sự mở rộng liên tục tiến triển của bể thận và đài hoa trên nền của dòng nước tiểu bị suy giảm);
    • Liệu pháp steroid;
    • Dị tật tim bẩm sinh hoặc mắc phải;
    • Ở trên vùng núi cao;
    • Hẹp ( sự thắt chặt) động mạch thận;
    • U ác tính;
    • Hội chứng Cushing ( một tập hợp các triệu chứng xảy ra với sự gia tăng quá mức lượng steroid

    Trong phần này, chúng ta đang nói về kích thước, số lượng và hình dạng của hồng cầu, về hemoglobin: cấu trúc và tính chất của nó, về sức đề kháng của hồng cầu, về phản ứng lắng hồng cầu – ROE.

    Tế bào sinh dục.

    Kích thước, số lượng và hình dạng của hồng cầu.

    Erythrocytes – tế bào hồng cầu – thực hiện chức năng hô hấp trong cơ thể. Kích thước, số lượng và hình dạng của hồng cầu thích nghi tốt với việc thực hiện nó. Hồng cầu của con người là những tế bào nhỏ có đường kính 7,5 micron. Số lượng của chúng rất lớn: tổng cộng có khoảng 25×10 12 hồng cầu lưu thông trong máu người. Thường xác định số lượng hồng cầu trong 1 mm 3 máu. Đó là 5.000.000 đối với nam và 4.500.000 đối với nữ. Tổng bề mặt của hồng cầu là 3200 m2, gấp 1500 lần bề mặt của cơ thể người.

    Hồng cầu có dạng hình đĩa hai lõm. Hình dạng này của hồng cầu góp phần làm cho nó bão hòa với oxy tốt hơn, vì bất kỳ điểm nào của nó đều cách bề mặt không quá 0,85 micron. Nếu hồng cầu có hình dạng như một quả bóng, tâm của nó sẽ cách bề mặt 2,5 micron.

    Hemoglobin, cấu trúc và tính chất của nó.

    Hemoglobin (Hb) – sắc tố hô hấp của máu người – bao gồm một nhóm hoạt động, bao gồm bốn phân tử heme và chất mang protein – globin. Heme chứa sắt hóa trị hai, chất này quyết định khả năng vận chuyển oxy của hemoglobin. Một gam hemoglobin chứa 3,2-3,3 mg sắt. Globin bao gồm chuỗi polypeptide alpha và beta gồm 141 axit amin. Các phân tử hemoglobin nằm rất chặt chẽ trong hồng cầu, do đó tổng lượng hemoglobin trong máu khá lớn: 700-800 g. 100 ml máu ở nam giới chứa khoảng 16% hemoglobin, ở nữ giới – khoảng 14%. Người ta đã chứng minh rằng không phải tất cả các phân tử hemoglobin đều giống nhau trong máu người. Có huyết sắc tố A1 chiếm tới 90% tổng lượng huyết cầu tố trong máu, huyết sắc tố A2 (2-3%) và A3. Các loại hemoglobin khác nhau khác nhau về trình tự các axit amin trong globin.

    Khi tiếp xúc với không phải hemoglobin bởi các thuốc thử khác nhau, globin bị tách ra và các dẫn xuất heme khác nhau được hình thành. Dưới sự lắc lư của các axit hoặc kiềm khoáng yếu, huyết sắc tố hemoglobin được chuyển thành hematin. Khi heme tiếp xúc với axit axetic đậm đặc với sự có mặt của NaCl, một chất kết tinh được gọi là hemin được hình thành. Do tinh thể gemin có hình dạng đặc trưng nên việc xác định chúng là rất quan trọng trong thực hành pháp y để phát hiện các vết máu trên bất kỳ vật thể nào.

    Một đặc tính cực kỳ quan trọng của hemoglobin, quyết định tầm quan trọng của nó trong cơ thể, là khả năng kết hợp với oxy. Sự kết hợp của hemoglobin với oxy được gọi là oxyhemoglobin (HbO 2). Một phân tử hemoglobin có thể liên kết 4 phân tử oxy. Oxyhemoglobin là một hợp chất dễ vỡ, dễ phân ly thành hemoglobin và oxy. Do tính chất của hemoglobin nên dễ kết hợp với oxy và cũng dễ cho đi, mô được cung cấp oxy. Trong mao mạch của phổi, oxyhemoglobin được hình thành, trong mao mạch của các mô nó phân ly cùng với sự hình thành hemoglobin và oxy lại được tế bào tiêu thụ. Việc cung cấp oxy cho tế bào là giá trị chính của hemoglobin, và cùng với nó là hồng cầu.

    Khả năng chuyển đổi của hemoglobin thành oxyhemoglobin và ngược lại có tầm quan trọng lớn trong việc duy trì pH máu không đổi. Hệ thống hemoglobin-oxyhemoglobin là một hệ thống đệm máu.

    Sự kết hợp của hemoglobin với carbon monoxide (carbon monoxide) được gọi là carboxyhemoglobin. Không giống như oxyhemoglobin, chúng dễ dàng phân ly thành hemoglobin và oxy, carboxyhemoglobin phân ly rất yếu. Do đó, khi có carbon monoxide trong không khí, hầu hết hemoglobin liên kết với nó, đồng thời làm mất khả năng vận chuyển oxy. Điều này dẫn đến sự hô hấp của các mô bị suy giảm, có thể dẫn đến tử vong.

    Khi hemoglobin tiếp xúc với các oxit nitơ và các chất oxi hóa khác, methemoglobin được hình thành, giống như carboxyhemoglobin, không thể hoạt động như một chất mang oxy. Hemoglobin có thể được phân biệt với các dẫn xuất carboxy- và methemoglobin của nó bằng sự khác biệt về phổ hấp thụ. Phổ hấp thụ của hemoglobin được đặc trưng bởi một dải rộng. Oxyhemoglobin có hai dải hấp thụ trong quang phổ, các dải này cũng nằm ở phần màu xanh lục của quang phổ.

    Kháng tế bào sinh dục.

    Các tế bào hồng cầu chỉ giữ được chức năng của chúng trong dung dịch đẳng trương. Trong các dung dịch ưu trương, việc vận chuyển hồng cầu đi vào huyết tương, dẫn đến co rút và mất chức năng của chúng. Trong dung dịch giảm trương lực, nước từ huyết tương tràn vào hồng cầu, hồng cầu này phồng lên, vỡ ra và hemoglobin được giải phóng vào huyết tương. Sự phá hủy các tế bào hồng cầu trong dung dịch giảm trương lực được gọi là tan máu, và máu bị tan máu được gọi là dầu bóng vì màu đặc trưng của nó. Cường độ tan máu phụ thuộc vào sức đề kháng của hồng cầu. Sức đề kháng của hồng cầu được xác định bởi nồng độ của dung dịch NaCl, tại đó quá trình tan máu bắt đầu, đặc trưng cho sức đề kháng tối thiểu. Nồng độ của dung dịch mà tại đó tất cả các tế bào hồng cầu bị phá hủy quyết định sức đề kháng tối đa. Ở người khỏe mạnh, sức đề kháng tối thiểu được xác định bằng nồng độ muối ăn 0,30-0,32, tối đa – 0,42-0,50%. Sức đề kháng của hồng cầu không giống nhau ở các trạng thái chức năng khác nhau của cơ thể.

    Phản ứng lắng hồng cầu – ROE.

    Máu là một hệ thống treo ổn định của các tiểu thể. Tính chất này của máu gắn liền với điện tích âm của hồng cầu, cản trở quá trình kết dính – kết tụ của chúng. Quá trình này rất yếu trong việc di chuyển máu. Sự tích tụ của hồng cầu ở dạng cột đồng xu, có thể nhìn thấy trong máu mới giải phóng, là hệ quả của quá trình này.

    Nếu máu, trộn với dung dịch ngăn đông máu, được đặt trong một ống mao dẫn có chia độ, thì các hồng cầu, đang trong quá trình kết tụ, sẽ lắng xuống đáy của mao mạch. Lớp trên cùng của máu, không còn hồng cầu, trở nên trong suốt. Chiều cao của cột huyết tương không nhuộm màu này quyết định phản ứng lắng hồng cầu (ESR). Giá trị ROE ở nam giới là từ 3 đến 9 mm / h, ở nữ giới – từ 7 đến 12 mm / h. Ở phụ nữ mang thai, ROE có thể tăng lên đến 50 mm / h.

    Quá trình tập hợp tăng mạnh khi có sự thay đổi thành phần protein của huyết tương. Sự gia tăng số lượng globulin trong máu trong các bệnh viêm nhiễm đi kèm với sự hấp phụ của chúng bởi hồng cầu, giảm điện tích của globulin và thay đổi tính chất bề mặt của chúng. Điều này giúp tăng cường quá trình tập hợp hồng cầu, kéo theo sự gia tăng ROE.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Số Lượng Hồng Cầu Bình Thường Là Bao Nhiêu?
  • Hồng Cầu Là Gì? Các Chỉ Số Xét Nghiệm Hồng Cầu
  • Mọi Thứ Bạn Cần Biết Về Sinh Lý Của Hồng Cầu (Phần 1)
  • Chức Năng Của Các Tế Bào Máu Và Huyết Tương
  • Phân Tích Môi Trường Bên Ngoài, Môi Trường Bên Trong Của Doanh Nghiệp
  • Hồng Cầu Là Gì Và Vai Trò Của Hồng Cầu Với Sức Khỏe

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Và Chức Năng Của Hồng Cầu (Hồng Cầu) / Y Học Và Sức Khỏe
  • Hồng Cầu Sống Được Bao Lâu Thì Chết?
  • Vì Sao Hồng Cầu Có Chức Năng Vận Chuyển O2 Và Co2
  • Hướng Dẫn Cách Đọc Kết Quả Xét Nghiệm Tổng Phân Tích Tế Bào Máu Trên Máy Tự Động
  • Ý Nghĩa Các Chỉ Số Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Tuyến Giáp
  • 1. Hồng cầu là gì?

    Trong cơ thể, máu là dạng mô lỏng, gồm có hai phần: Tế bào và huyết tương. Trong đó, tế bào gồm hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu. Còn huyết tương chính là các yếu tố đông máu, kháng thể, protein, nội tiết tố, muối khoáng và nước.

    Trước đây, dưới kính hiển vi quang học, người ta thấy rằng hồng cầu có hình tròn – đây cũng là nguồn gốc tên gọi “hồng cầu”. Nhưng hiện nay với kỹ thuật hiện đại, kính hiển vi điện tử đã giúp các nhà nghiên cứu thấy rõ hơn về hình dạng của hồng cầu. Nó chính là một dạng tế bào có hình đĩa hai mặt lõm, với kích thước rất nhỏ mà mắt thường không nhìn thấy được.

    Hồng cầu hiếm số lượng nhiều nhất trong máu.

    Hình dạng của hồng cầu chính là điều kiện thuận lợi để tăng diện tích bề mặt tiếp xúc và tăng khả năng khuếch tán oxy, đồng thời làm cho những tế bào này có thể dễ dàng vận chuyển oxy đi khắp cơ thể.

    Hồng cầu chiếm số lượng nhiều nhất trong máu và có chứa huyết sắc tố khiến máu có màu đỏ. Thành phần chính của hồng cầu là hemoglobin (Hb), chiếm 34% trọng lượng.

    Với những người bình thường, số lượng hồng cầu trong máu ngoại vi là:

    Tuy nhiên, số lượng hồng cầu có thể thay đổi. Chẳng hạn ở trẻ sơ sinh, 2 tuần đầu tiên, các bé thường có lượng hồng cầu rất cao, sau đó, có thể xảy ra tình trạng vỡ hồng cầu – đây cũng là nguyên nhân của hiện tượng vàng da sinh lý của trẻ sơ sinh. Bên cạnh đó, những người lao động nặng hoặc người sống trên vùng cao thì số lượng hồng cầu cũng có thể nhiều hơn những người khác.

    2. Chức năng của hồng cầu

    Hồng cầu được sinh ra từ tủy xương với nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, trải qua các quá trình mới trở thành hồng cầu trưởng thành.

    Hồng cầu thường có tuổi đời từ 90 đến 120 ngày. Hồng cầu già sẽ bị tiêu hủy ở gan và lách. Trung bình mỗi ngày sẽ có khoảng 200 – 400 tỷ hồng cầu chết đi. Tiếp theo đó, tủy xương sẽ tiết ra một đợt tế bào hồng cầu mới để thay thế hồng cầu đã chết.

    Thiếu hồng cầu khiến cho cơ thể bị thiếu máu gây ra hiện tượng mệt mỏi.

    Chức năng của hồng cầu chính là vận chuyển khí oxy từ phổi đến các tế bào trong cơ thể và đồng thời nhận lại khí cacbonic từ các mô lên đào thải ở phổi. Có thể hiểu rằng, hồng cầu có vai trò quan trọng và có những tác động lớn đến các hoạt động của cơ thể:

    Hồng cầu giúp vận chuyển các axit béo, axit amin và glucose từ các vi nhung mao ruột non đến các tế bào và các tổ chức trong cơ thể. Tiếp đó, máu sẽ mang cặn bã của quá trình chuyển hóa này đến các cơ quan bài tiết.

    Đủ lượng hồng cầu cần thiết thì da và niêm mạc sẽ có màu hồng khỏe mạnh, rất đặc trưng. Nhưng trong trường hợp thiếu hồng cầu, mà chúng ta vẫn gọi nôm na là thiếu máu hoặc mất máu thì sẽ có hiện tượng là da, niêm mạc nhợt nhạt, người uể oải, mệt mỏi, lao động kém tập trung,…

    Nếu số lượng hồng cầu bất thường thì có thể là tình trạng thiếu máu, xuất huyết hoặc những rối loạn hồng cầu khác.

    3. Làm thế nào để gia tăng số lượng hồng cầu?

    Hồng cầu có vòng đời khoảng 120 ngày và là một trong những loại tế bào được thay thế nhiều nhất của cơ thể. Chính vì thế, mỗi chúng ta cần phải chú ý đến chế độ dinh dưỡng để cơ thể có thể sản sinh đủ hồng cầu. Bạn nên:

    Bổ sung thường xuyên các loại thực phẩm như thịt, trứng, sữa,…

    Bổ sung Axit folic từ các loại rau màu xanh đậm, các loại ngũ cốc, một số loại trái cây như chuối và dưa gang, hay gan, thận bò.

    Nên tăng cường bổ sung các thực phẩm chứa nhiều sắt như các loại thịt đỏ, đậu phụ, gan, hàu, trai, củ cải đường,… Bên cạnh đó, một số trường hợp có thể được bác sĩ chỉ định bổ sung sắt bằng thực phẩm chức năng. Tuy nhiên, không nên lạm dụng, tuyệt đối tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ.

    Bổ sung vitamin A giúp những hồng cầu đang phát triển tiếp cận đủ lượng sắt cần thiết để tạo ra hemoglobin. Một số thực phẩm giàu vitamin A như khoai lang, rau lá xanh đậm, bí đỏ, cà rốt, bưởi, dưa hấu, dưa vàng,…

    Bổ sung hồng cầu bằng việc tiêu thụ đa dạng các loại thực phẩm.

    Bên cạnh việc bổ sung thực phẩm, chúng ta cũng nên thực hiện lối sống lành mạnh:

    Thường xuyên vận động, tập luyện: Đây là điều cần thiết đối với những người có tế bào hồng cầu thấp. Bạn có thể đi bộ nhanh, chạy bộ hoặc bơi lội để kích thích cơ thể sản sinh tế bào hồng cầu và hemoglobin.

    Bỏ thói quen sử dụng chất kích thích: Những thói quen xấu bao gồm hút thuốc lá, uống rượu bia sẽ khiến máu không được lưu thông đúng cách và khó đưa oxy đến những bộ phận của cơ thể, đồng thời giảm sản sinh tế bào hồng cầu.

    Truyền máu: Trong trường hợp cần thiết, khi cơ thể thiếu máu trầm trọng và bổ sung dinh dưỡng cũng không bổ sung đủ lượng máu cần thiết, bác sĩ có thể chỉ định truyền máu.

    Nên khám sức khỏe định kỳ để biết rõ về tình trạng sức khỏe.

    Khám sức khỏe định kỳ: Đây là cách tốt nhất để biết rõ về tình trạng sức khỏe hiện tại của bạn, trong đó bao gồm cả số lượng tế bào hồng cầu. Bên cạnh đó, xét nghiệm máu cũng có thể cho biết những nguy cơ tiềm ẩn có thể dẫn đến tình trạng tế bào hồng cầu thấp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Hồng Cầu Là Gì. Erythrocytes
  • Số Lượng Hồng Cầu Bình Thường Là Bao Nhiêu?
  • Hồng Cầu Là Gì? Các Chỉ Số Xét Nghiệm Hồng Cầu
  • Mọi Thứ Bạn Cần Biết Về Sinh Lý Của Hồng Cầu (Phần 1)
  • Chức Năng Của Các Tế Bào Máu Và Huyết Tương
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100