Top 16 # Xem Nhiều Nhất Chức Năng Hệ Tuần Hoàn Của Thằn Lằn / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Trình Bày Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hệ Tuần Hoàn / 2023

-Chức năng của hệ tuần hoàn :

+Vận chuyển oxygen và chất dinh dưỡng đến các cơ quan trong cơ thể +Mang các chất thải của quá trình trao đổi chất đến các cơ quan bài tiết +Có vai trò trong hệ miễn dịch chống lại sự nhiễm khuẩn +Vận chuyển hormone -Cấu tạo:

+Dịch tuần hoàn: còn gọi là máu, dùng để vận chuyển oxygen và chất dinh dưỡng, khí O2 đến các tế bào cũng như mang chất thải từ tế bào trở về và thoát ra ngoài bằng các cơ quan bài tiết. +Tim: tạo sự chênh lệch về áp suất để làm cho máu lưu thông. +Mạch máu: dùng để vận chuyển máu. +Các van: đảm bảo dòng chảy của máu theo một hướng nhất định.

3

– Đưa nạn nhân ra khỏi chỗ đông người và tiến hành hô hấp nhân tạo bằng phương pháp hà hơi thổi ngạt. – Đặt nạn nhân nằm ngửa, đầu ngửa ra phía sau – Bịt mũi nạn nhân bằng 2 ngón tay – Tự hít 1 hơi đầy lồng ngực rồi ghé môi sát miệng nạn nhân và thổi hết sức vào phổi nạn nhân, không để không khí thoát ra ngoài chỗ tiếp xúc với miệng. – Ngừng thổi để hít vào rồi lại thổi tiếp – Thổi liên tục 12-20 lần/phút cho tới khi quá trình tự hô hấp của nạn nhân được ổn định bình thường.

5

-Ăn đúng cách là ăn phải đúng giờ, khoảng cách bữa ăn đều, không để quá đói, bữa ăn tối cách giờ đi ngủ khoảng 3 tiếng, không nên ăn quá no, ăn uống vệ sinh, ăn thức ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng: protid, lipid, glucid, vitamin gồm thịt, cá, trứng, sữa, rau xanh hoa quả không nên ăn thức ăn chua cay, khi ăn phải nhai kỹ và sau khi ăn phải nghỉ ít nhất là 30 phút. Trong khi ăn phải tập trung không nên căng thẳng, cáu gắt, không nên vừa ăn vừa đọc báo đọc sách và xem vô tuyến.

-Trong khoang miệng của chúng ta có chứa nhiều vi khuẩn. Vi khuẩn lợi dụng chất đường trong thức ăn để tạo ra một loại đốm khuẩn nằm ở vị trí giữa khe răng và răng. Những đốm khuẩn này trở thành nơi trú ngụ của vi khuẩn. Chúng tồn tại trong các đốm khuẩn sinh sôi và nảy nở. Cứ thế, vi khuẩn tạo ra nhiều đốm khuẩn. Ngoài ra, thức ăn còn tạo ra một chất có tính axit. Đừng cho rằng răng của chúng ta là cứng. Răng là thứ sợ axit nhất. Bởi vì, axit sẽ bào mòn canxi của răng, khiến cho răng bị đi. Ban ngày, miệng của chúng ta hoạt động rất nhiều, có thể tiết ra lượng lớn dịch nước bọt khiến cho đường có thể hoà tan. Ngoài ra, sự ma sát khi mồm hoạt động còn có thể làm giảm cơ hội hình thành đốm khuẩn. Vì vậy, ban ngày những phần tử xấu không có cơ hội hoạt động. Nhưng, khi chúng ta ngủ, sự hoạt động của miệng ít đi, những phần tử xấu thừa cơ nổi loạn. Vì thế, trước khi đi ngủ không ăn vật đặc biệt là những đồ ăn có chứa nhiều đường như kẹo.

3 Nhân Tố Đảm Bảo Chức Năng Hệ Tuần Hoàn / 2023

Hệ tuần hoàn có chức năng quan trọng, duy trì sự sống của cơ thể. Để đảm bảo chức năng hệ tuần hoàn được duy trì cần có 3 yếu tố quan trong bao gồm thể tích tuần hoàn, mạch máu và tim. Chỉ một sự thay đổi trong các yếu tố trên có thể ảnh hưởng tới chức năng hệ tuần hoàn.

1. Chức năng hệ tuần hoàn là gì?

Hệ tuần hoàn chứa các thành phần quan trọng của cơ thể, có các chức năng chính bao gồm:

Vận chuyển các chất dinh dưỡng và oxy cho tế bào.

Vận chuyển các chất là sản phẩm bài tiết ra khỏi tế bào.

Vai trò trong hệ miễn dịch giúp cơ thể chống lại các bệnh lý nhiễm khuẩn.

Vận chuyển hormon tới cơ quan đích.

Điều hòa thân nhiệt do nguồn máu nóng sưởi ấm các cơ quan và làm nhiệm vụ thải nhiệt cho cơ thể, ổn định độ PH và duy trì cân bằng nội mô.

Hệ tuần hoàn gồm có hệ tuần hoàn lớn và hệ tuần hoàn nhỏ:

Vòng tuần hoàn phổi: Máu sau khi trao đổi oxy tại tế bào, đã bị khử oxy được đưa vào tâm nhĩ phải, từ đây máu được chuyển sang tâm thất phải và được bơm vào động mạch phổi để đi lên phổi. Ở phổi, máu giải thoát khí CO2 và hấp thụ oxy rồi quay trở lại tim qua tĩnh mạch phổi.

Vòng tuần hoàn hệ thống: Máu từ vòng tuần hoàn phổi qua tĩnh mạch phổi là máu giàu oxy vào tâm nhĩ trái, rồi từ nhĩ trái xuống tâm thất trái. Máu được tim co bóp đẩy từ tâm thất trái vào động mạch chủ để phân phối đi khắp cơ thể. Sau khi trao đổi chất với các tế bào tại các mô trong cơ thể, máu trở lại tâm nhĩ phải qua tĩnh mạch chủ trên và tĩnh mạch chủ dưới kết thúc vòng đại tuần hoàn.

Chức năng hệ tuần hoàn vô cùng quan trọng đối với cơ thể, duy trì sự sống cho cơ thể. Để đảm bảo các chức năng này thì cần có những yếu tố quan trọng, nhằm duy trì và đảm bảo vận hành hệ thống tuần hoàn tốt nhất.

2. Yếu tố đảm bảo chức năng hệ tuần hoàn

Để đảm sự hoạt động và đảm bảo được những chức năng của hệ tuần hoàn cần có sự hoàn chỉnh của 3 yếu tố gồm tim, hệ mạch và thể tích tuần hoàn.

2.1 Thể tích tuần hoàn

Thể tích tuần hoàn còn gọi là máu, dùng để vận chuyển oxygen và chất dinh dưỡng, khí O2 đến các tế bào, mang chất thải từ tế bào trở về và thoát ra ngoài bằng các cơ quan bài tiết như đường hô hấp, qua thận.

Khi có một nguyên nhân nào đó dẫn tới giảm thể tích tuần hoàn sẽ gây ra tình trạng sốc giảm khối lượng tuần hoàn. Sốc giảm tuần hoàn là một tình trạng đe dọa tính mạng do suy tuần hoàn, khiến cho việc cung cấp oxy không đủ để đáp ứng nhu cầu trao đổi chất của tế bào gây ra tình trạng thiếu oxy tế bào và mô.

Thể tích tuần hoàn có thể giảm khi bị mất nước, mất máu, tiêu chảy, sốt…

Nếu tình trạng mất dịch trong cơ thể diễn ra nhanh hoặc kéo dài thì sẽ dẫn tới sốc, cần được bù dịch khi mất bằng đường uống hoặc tiêm truyền để đảm bảo chức năng tuần hoàn.

2.2 Tim

Tim nằm trong lồng ngực, có trục lệch trái, là một khối cơ rỗng, trọng lượng tim khoảng 300gram, được chia thành 4 buồng gồm 2 tâm nhĩ và 2 tâm thất:

Nhĩ phải và nhĩ trái, thành mỏng, nhận máu tĩnh mạch, đưa xuống tâm thất.

Tâm thất phải và tâm thất trái, thành dày, bơm máu vào động mạch với áp lực cao. Thành tâm thất trái dày gấp hai lần so với thành thất phải, do áp lực đưa máu vào động mạch chủ lớn.

Hai tâm nhĩ ngăn cách nhau bởi vách liên nhĩ, hai tâm thất ngăn cách nhau bởi vách liên thất.

Giữa tâm thất và tâm nhĩ được ngăn cản bởi các van nhĩ thất. Bên trái có van hai lá ngăn cách tâm nhĩ trái và tâm thất trái, bên phải có van ba lá ngăn cách tâm thất phải và nhĩ phải. Nó giúp máu chảy theo một chiều từ nhĩ xuống thất.

Chức năng chính của tim là khi tim co bóp thì tạo áp lực đẩy máu vào trong động mạch, từ đó đi nuôi dưỡng cơ thể. Tim được hoạt động theo cơ chế tự động, điều hòa nhờ hệ thống thần kinh thực vật và được nuôi dưỡng bởi hệ thống động mạch vành.

2.3 Hệ mạch

Hệ mạch máu có chức năng vận chuyển máu tới cơ quan và từ cơ quan về tim. Hệ mạch gồm có động mạch, tiểu động mạch, mao mạch, tĩnh mạch và tiểu tĩnh mạch.

Động mạch có chức năng đưa máu từ tim tới các cơ quan, chức năng vận chuyển máu dưới áp suất lớn, do đó cấu tạo thành động mạch gồm 3 lớp cơ rất chắc khỏe và có khả năng chun giãn để tạo áp lực co bóp đẩy máu lưu thông. Khi xa dần tim động mạch chia thành các nhánh nhỏ mang chất dinh dưỡng và oxy đi nuôi dưỡng mô cơ quan. Huyết áp động mạch là áp suất máu trong động mạch, máu chảy được trong động mạch là kết quả của hai lực đối lập, lực đẩy máu của tim và lực cản của thành động mạch. Huyết áp động mạch duy trì ổn định thì máu từ động mạch có thể đến nuôi dưỡng các cơ quan, ngược lại nếu huyết áp thấp dẫn tới máu không nuôi dưỡng được cơ quan có thể dẫn tới tử vong. Còn nếu huyết áp động mạch quá cao gây ra áp lực lớn lên thành mạch, có nguy cơ vỡ thành mạch, nếu vỡ thành mạch tại não gây xuất huyết não…

Tiểu động mạch: Là các nhánh nhỏ cuối cùng của hệ động mạch, hoạt động như các van điều hòa lượng máu tới mao mạch tùy theo nhu cầu máu của cơ quan đó. Thành mạch có thể đóng tịt dòng máu hoặc mở rộng để máu qua nhiều nhờ sức mạnh của thành tiểu động mạch.

Mao mạch: Mao mạch có đặc tính là thành mỏng và có thể thấm được các phân tử nhỏ. Tại mao mạch các chất dinh dưỡng, khi, chúng tôi đổi chất với mô.

Tiểu tĩnh mạch: Từ mao mạch, máu đổ vào những mạch máu với thành mỏng gọi là tiểu tĩnh mạch.

Tĩnh mạch: Tiểu tĩnh mạch tập trung thành những tĩnh mạch lớn. Thành tĩnh mạch có 3 lớp giống như động mạch nhưng mỏng và dễ giãn rộng hơn. Các lớp của thành tĩnh mạch gồm:

Lớp trong cùng là lớp tế bào nội mạc với từng đoạn nhô ra tạo thành những nếp gấp hình bán nguyệt đối diện nhau tạo thành van tĩnh mạch, mục đích để hướng cho máu chảy một chiều về tim. Các van tĩnh mạch thì có ở các tĩnh mạch chi và không có van ở các tĩnh mạch nhỏ, tĩnh mạch từ não hoặc tĩnh mạch từ các tạng.

Lớp giữa gồm những sợi liên kết và sợi cơ.

Lớp ngoài mỏng gồm những sợi liên kết chun giãn. Có khả năng chun giãn tốt.

Như vậy để đảm bảo được chức năng tuần hoàn thì cần 3 yếu tố quan trọng là tim, hệ mạch và thể tích tuần hoàn. Một sự thay đổi bất thường ở một trong 3 yếu tố đều gây ra sự suy giảm chức năng của hệ tuần hoàn, có thể nguy hiểm tới tính mạng của người bệnh.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện không những đảm bảo chất lượng chuyên môn với đội ngũ y bác sĩ đầu ngành, hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại. Bệnh viện cung cấp dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp, không gian khám chữa bệnh văn minh, lịch sự, an toàn và tiệt trùng tối đa.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Bài viết tham khảo nguồn: Hội Tim học Việt Nam

Mao Mạch: Hệ Vi Tuần Hoàn Quan Trọng Của Cơ Thể / 2023

Mỗi cơ quan có một mạng lưới vi tuần hoàn đặc biệt, phù hợp với nhu cầu riêng của mình. Thường động mạch nuôi cơ quan chia nhánh từ 6 đến 8 lần thành tiểu động mạch. Các tiểu động mạch có đường kính trong dưới 20 µm.

Thành mạch không có cơ trơn. Đường kính vào khoảng 5 – 10 um. Kích thước đủ để một hồng cầu ép minh kéo dài ra để đi qua. Cấu trúc của nó cũng thay đổi tùy mô.

Đầu mạch có cơ vòng giúp mạch có thể co thắt, đóng mở mạch máu.

Thành có một lớp tế bào nội mô, bên ngoài là màng đáy.

Giữa các tế bào nội mô có những khe liên bào. Giúp thông giữa trong và ngoài mạch. Các khe chiếm khoảng 1/1.000 tổng diện tích của mao mạch. Hầu hết nước và điện giải có thể xuyên qua khe.

Tại mao mạch, máu không qua liên tục mà từng đợt. Đó là do sự co thắt các cơ vòng tiền mao mạch và cơ trơn ở thành các mạch nối thẳng. Các cơ này co giãn với chu kỳ 5- 10 lần/phút. Yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự đóng mở này là nồng độ oxy của mô. Nhu cầu sử dụng càng lớn, thì lượng máu đến mô càng lớn. Đó là hiện tượng tự điều chỉnh tại mao mạch.

Ngoài ra, còn có các mạch nối thẳng từ tiểu động mạch sang tiểu tĩnh mạch mà không qua mạng lưới mao mạch.

Ở một thời điểm nhất định, chỉ có 5% máu tuần hoàn là trong mao mạch. Nhưng 5% này là phần quan trọng nhất. Ví tại đó có sự trao đổi các chất : dinh dưỡng, oxy, CO, giữa máu và mô. Có khoảng 10 tỷ mao mạch. Tổng diện tích trao đổi vào khoảng 500 – 700 m2. Rất hiếm khi một tế bào có chức năng của cơ thể mà ở cách xa mao mạch. Bất kỳ tế bào hoạt động chức năng nào cũng có một mao mạch nuôi nó không cách xa quá 20 đến 30 µm

Các mao mạch riêng lẻ là một phần của giường mao mạch. Đó là một mạng lưới đan xen các mạch máu cung cấp cho các mô và cơ quan. Mô càng hoạt động mạnh thì càng cần nhiều mao mạch. Chúng giúp cung cấp chất dinh dưỡng và mang đi các sản phẩm của quá trình trao đổi chất.

Phân nhánh từ tiểu động mạch. Cung cấp sự trao đổi giữa mô và máu.

Một loại mạch máu có lỗ thông được tìm thấy ở : gan, tủy xương, tuyến yên trước và các cơ quan não thất. . Chúng là những mạch ngắn nối trực tiếp các tiểu động mạch và tĩnh mạch ở hai đầu đối diện của giường. Chúng được tìm thấy chủ yếu trong vi tuần hoàn mạc treo.

Có đường kính lớn hơn một chút so với mao mạch máu. Chúng có các đầu đóng (không giống như các mao mạch máu mở ở một đầu vào tiểu động mạch và mở ở đầu kia với các tiểu tĩnh mạch). Cấu trúc này cho phép chất lỏng kẽ chảy vào chúng nhưng không chảy ra ngoài. Các mạch này có áp suất bên trong lớn hơn mạch máu. Do nồng độ protein huyết tương trong bạch huyết lớn hơn.

Có 3 loại mao mạch chính:

Liên tục có nghĩa là: các tế bào nội mô ở lớp lót không bị gián đoạn. Chúng chỉ cho phép các phân tử nhỏ hơn đi qua. Chẳng hạn như: nước và ion, đi qua các khe gian bào của chúng. Các phân tử hòa tan trong lipid có thể khuếch tán thụ động qua màng tế bào nội mô,dọc theo gradient nồng độ. Dạng này có ở tất cả các tế bào ngoại trừ biểu mô và sụn. Tế bào nội mô ở dạng này đặc biệt trải khắp hệ thần kinh trung ương và tới tuyến ức thì hợp lại với nhau bằng một liên kết chặt chẽ. Những mạch máu này có đặc điểm bị hạn chế khả năng thẩm thấu.

Dạng liên tục có thể được chia thành hai loại phụ:

Mao mạch có nhiều túi vận chuyển: được tìm thấy chủ yếu ở cơ xương, ngón tay, tuyến sinh dục và da.

Mao mạch có một vài túi vận chuyển: chủ yếu được tìm thấy trong hệ thần kinh trung ương. Chúng là thành phần cấu tạo nên hàng rào máu não.

Các mạch máu biến tính có các lỗ được gọi là fenestrae (tiếng Latinh có nghĩa là “cửa sổ”) trong các tế bào nội mô. Chúng có đường kính 60-80 nm. Được kéo dài bởi một màng ngăn gồm các sợi hướng tâm. Điều này cho phép các phân tử nhỏ và một lượng protein hạn chế khuếch tán. Trong cầu thận có các tế bào không có màng ngăn. Các tế bào này có các lỗ khe với chức năng tương tự như cơ hoành của các mao mạch. Cả hai loại mạch máu này đều có lớp nền liên tục. Chúng chủ yếu nằm trong: các tuyến nội tiết, ruột, tuyến tụy và các cầu thận.

Đây là một loại mạch máu có lỗ hở đặc biệt. Chúng có đường kính rộng hơn 30-40 μm; lỗ mở rộng hơn trong nội mô. Các mạch máu biến đổi có màng ngăn che lỗ. Trong khi đó mạch máu dạng xoang không có màng ngăn và chỉ có lỗ thông. Những loại mạch máu này cho phép các tế bào: hồng cầu, bạch cầu và các protein huyết thanh khác nhau đi qua. Máu di chuyển qua mao mạch kiểu xoang tương đối chậm. Điều này làm tăng thời gian cho sự trao đổi qua thành mạch.

Các mao mạch này thiếu các túi tế bào hình ống. Do đó sử dụng các khoảng trống có trong các điểm nối tế bào để chuyển giao giữa các tế bào nội mô , giúp xuyên màng. Mạch máu dạng xoang chủ yếu được tìm thấy ở :gan, tủy xương, lá lách và các cơ quan quanh não thất.

Mao mạch không hoạt động như một đơn vị riêng lẻ . Chúng giống như một mạng lưới liên kết với nhau gọi là mạng lưới mao mạch ; hoặc đám rối mao mạch. Một tiểu động mạch chung tạo nên hàng chục mao mạch đổ vào nhiều tiểu tĩnh mạch.

Lối vào của mỗi mạch máu được bảo vệ bằng một đai cơ trơn . Gọi là cơ thắt bên của mao mạch. Sự co thắt của những tế bào cơ trơn làm thắt lại và thu hẹp đường kính của lối vào mạch máu. Do đó làm giảm dòng chảy của máu. Sự nới lỏng của của cơ thắt mở rộng lối vào, cho phép máu đi vào mạch nhanh hơn.

Mạng lưới mao mạch có thể được cung cấp máu từ nhiều hơn một động mạch. Chúng đi vào vùng này và hợp lại trước khi tạo nên tiểu động mạch. Sự hợp lại của hai động mạch nhánh cung cấp cho mạng lưới mao mạch, là một ví dụ cho sự nối liền với nhau của động mạch. Sự liên kết giữa các động mạch trước và sau tâm thất của tim là sự nối liền của hai động mạch

Nơi nối tiếp của động – tĩnh mạch : là mối quan hệ trực tiếp giữa tiểu động mạch và tiểu tĩnh mạch. Khi nơi nối tiếp của động – tĩnh mạch được mở rộng, máu sẽ bỏ qua mạng lưới mao mạch; chảy trực tiếp vào tuần hoàn tĩnh mạch.

Mặc dù bình thường máu chảy từ tiểu động mạch đến tiểu tĩnh mạch với một tỷ lệ không thay đổi. Nhưng dòng chảy trong mỗi mao mạch thì hầu như thay đổi. Mỗi cơ thắt bên mao mạch lần lượt thay nhau co thắt và giãn ra, có thể mười hai lần mỗi phút.

Tác dụng của mạng lưới là máu có thể đến tiểu tĩnh mạch bởi một đường truyền hiện tại và một đường truyền khác sau đó. Chu kỳ co thắt và giãn ra của cơ trơn làm thay đổi sự lưu thông của máu qua mạng lưới vi tuần hoàn được gọi là vận mạch.

Sự vận mạch điều khiển cục bộ sự thay đổi của nồng độ hóa chất và chất khí hòa tan trong dịch kẽ.

Khi bạn đang nghỉ ngơi, máu lưu thông qua khoảng 25 phần trăm mạch trong mạng lưới mao mạch của cơ thể. Hệ tim mạch không chứa đủ máu để duy trì dòng máu chảy tới tất cả mao mạch trong tất cả mạng lưới cùng một lúc.

Chúng kết nối tiểu động mạch với tiểu tĩnh mạch. Nhờ đó cho phép trao đổi chất dinh dưỡng và chất thải giữa máu và tế bào mô, cùng với dịch kẽ. Sự trao đổi này xảy ra bằng cách khuếch tán thụ động và bằng quá trình ẩm bào. Ẩm bào được sử dụng cho protein và một số lipid. Quan trọng là các tế bào bạch cầu có thể di chuyển qua các điểm nối giữa các tế bào để sửa chữa tổn thương và chống lại nhiễm trùng. Con đường này cũng được sử dụng bởi các tế bào ung thư di căn.

3 ba cơ chế hoạt động là : khuếch tán, ẩm bào và siêu lọc.

Khuếch tán là phương thức quan trọng nhất của trao đổi chất giữa huyết tương và dịch kẽ. Khi máu chảy qua lòng mạch, một lượng nước và chất hòa tan khuếch tán qua thành mao mạch.

Sự khuếch tán là do các chuyển động nhiệt của phân tử nước và chất hòa tan di chuyển theo hai chiều. Chủ yếu do áp suất đẩy ra khỏi mao mạch vào dịch kẽ và áp suất keo của protein huyết tương. Áp suất keo có tác dụng giữ nước và các chất hòa tan ở lại trong mao mạch.

Các hình thức khuếch tán:

Khuếch tán qua màng tế bào nội mô: các chất tan trong mô sẽ khuếch tán trực tiếp qua màng tế bào. Không cần qua các khe hở. O2, CO2,.. di chuyển qua cơ chể này.

Khuếch tán qua khe: có nhiều chất cần cho mô, tan trong nước, nhưng khó qua màng lipit của tế bào nội mô như : Na’, CI’, glucoz, … sẽ khuếch tán qua khe.

Khuếch tán qua màng và khe: nước được khuếch tán nhanh theo hai chiều qua màng và các khe. Nhịp độ di chuyển nước qua màng gấp 80 lần nhịp độ huyết tương chảy dọc mao mạch.

Sự khuếch tán qua màng mạch máu ngoài hai loại áp suất trên còn tùy thuộc:

Kích thước của vật chất

Tính thấm của thành mạch: khác nhau tùy loại mô

Bậc thang nồng độ

Nhịp độ khuếch tán chính qua màng mạch.

Nhiều chất có trọng lượng phân tử lớn (lớn hơn 7 nm) như: phân tử lipoprotein, các phân tử polysaccharide lớn như dextran, proteoglycan…không thể qua các khe. Chúng thường có thể qua màng một ít bằng cơ chế ẩm bào.

Động học của trao đổi chất qua thành mao mạch phụ thuộc bốn loại lực chi phối là: áp suất thủy tĩnh mao mạch, áp suất thủy tĩnh dịch kẽ, áp suất keo mao mạch, áp suất keo dịch kẽ.

Mao mạch là các mạch máu/ mạch bạch huyết nhỏ, nhưng đóng vai trò quan trọng đối với hệ tuần hoàn. Các mạch máu này là nơi đảm bảo chức năng chính của hệ mạch. Đó là nơi xảy ra sự trao đổi nước, 02, C02, chất dinh dưỡng và các chất thải giữa máu và các mô xung quanh chúng. Hoạt động của mao mạch giúp hệ tuần hoàn được vận hành một cách hiệu quả và chính xác trong việc nuôi dưỡng và đào thải các chất của cơ thể.

Bác sĩ Trương Mỹ Linh

Khám Phá Những Điều Thú Vị Về Hệ Tuần Hoàn Của Chúng Ta / 2023

Hệ tuần hoàn của chúng ta bao gồm tim và hệ thống mạch máu, là hệ cơ quan quan trọng bậc nhất trong cơ thể. Chức năng chính của hệ tuần hoàn là vận chuyển máu, mang chất dinh dưỡng, dưỡng khí và kích thích tố đến và đi từ các tế bào khắp cơ thể.

1. Hệ thống tuần hoàn rất dài

Tổng chiều dài tất cả các mạch máu, bao gồm động mạch, mao mạch và tĩnh mạch trong cơ thể một người lớn dài khoảng 100.000 km. Và các mao mạch (mạch máu nhỏ nhất, nối động mạch và tĩnh mạch) chiếm 80% trong tổng chiều dài này. Một điều thú vị nữa là với chiều dài này, mạch máu của một người có thể quấn 2.5 vòng quanh chu vi trái đất (40.000 km).

2. Các tế bào hồng cầu phải tự bóp méo để đi qua mao mạch

Mao mạch là hệ thống mạch máu nhỏ nhất, là chặng trao đổi chất giữa máu và tế bào. Mao mạch rất nhỏ, đường kính trung bình khoảng 8 micromet, bằng khoảng một phần mười đường kính của một sợi tóc. Các tế bào hồng cầu đường kính tương tự nên để đi qua được mao mạch, các hồng cầu phải tự thay đổi hình dạng, bóp méo lại. Chính điều này làm hồng cầu cần nhiều thời gian hơn, di chuyển chậm hơn trong mao mạch, tạo điều kiện cho sự trao đổi chất diễn ra dễ dàng hơn.

3. Cơ thể càng lớn nhịp tim càng chậm

Có một quy luật trong tự nhiên ở dộng vật là: nhịp tim tỉ lệ nghịch với kích thước cơ thể. Nói chung, các động vật có kích thước cơ thể càng lớn thì nhịp tim càng chậm.Một người trưởng thành có một nhịp tim khi nghỉ khoảng 75 nhịp/ phút, tương tự như một con cừu trưởng thành.

Nhịp tim của cá voi xanh có kích thước như một chiếc xe cồng kềnh lại chỉ khoảng 5 nhịp/ phút, trong khi một con chuột chù có nhịp tim khoảng 1.000 nhịp mỗi phút.

4. Cơ tim có tính tự động

Điều này có nghĩa là cơ tim có thể co bóp mà không cần sự điều khiển của cơ thể. Chẳng có gì lạ nếu bạn tách một quả tim một con vật ra khỏi cơ thể mà nó vẫn đập. Hay thậm chí, chỉ cần một mẫu cơ tim, sau khi tách khỏi cơ thể, nuôi trong môi trường dinh dưỡng vẫn sẽ co bóp theo nhịp.

Điều này được giải thích do tim có hệ thống dẫn truyền tự động, giúp tim hoạt động độc lập, những vẫn chịu ảnh hưởng của hệ thần kinh.

5. Con người đã nghiên cứu hệ tuần hoàn hàng nghìn năm nay

Các y văn được biết đến sớm nhất viết về hệ tuần hoàn là của Ebers Papyrus, một tài liệu y học Ai Cập có niên đại từ thế kỷ 16 trước Công nguyên. Trang giấy cói mô tả sự kết nối giữa trái tim và các động mạch, và nói rằng, sau khi ta hít không khí vào phổi, không khí đi vào trung tâm và sau đó chảy vào các động mạch.

Một điều thú vị, người Ai Cập cổ đại tin rằng trái tim, chứ không phải là bộ não, là nguồn gốc của cảm xúc, trí tuệ và bộ nhớ. Trên thực tế, trong quá trình ướp xác, người Ai Cập cẩn thận lấy ra và lưu trữ các cơ quan quan trọng trong cơ thể (bao gồm cả tim) nhưng không tách não mà loại bỏ nó khỏi cơ thể (họ dùng 1 que sắt, chọc cho não chảy ra từ lỗ mũi).

6. Người ta quan niệm sai lầm về cấu trúc hệ tuần hoàn trong 1500 năm

Trong thế kỷ thứ 2, các bác sĩ và triết gia Hy Lạp, tiêu biểu là Galen, đã đưa ra một mô hình hệ thống tuần hoàn. Họ cho rằng hệ tuần hoàn gồm tĩnh mạch và động mạch, và cho rằng hai loại có chức năng khác nhau. Tuy nhiên, họ lại cho rằng hệ thống tuần hoàn bao gồm hai hệ thống một chiều phân phối máu (chứ không phải là một hệ thống thống nhất), và gan là cơ quan sản xuất máu tĩnh mạch. Họ chỉ nghĩ rằng trái tim là một cơ quan hút máu, chứ không phải là cơ quan bơm máu.

Lý thuyết của Galen trị vì trong y học phương Tây cho đến những năm 1600, khi bác sĩ Anh William Henry mô tả và chứng minh sự lưu thông máu trong hệ tuần hoàn.

7. Hồng cầu là những tế bào đặc biệt

Không giống hầu hết các tế bào trong cơ thể, hồng cầu là những tế bào không nhân. Chúng đơn thuần chỉ là một khung protein được phủ bởi một màng tế bào, bên trong chưa đầy hemoglobin và các bào quan trừ nhân tế bào. Chính vì thế mà hồng cầu không thể phân chia. Hồng cầu được tạo ra ở tủy xương, giải phóng vào máu, có đời sống khoảng 120 ngày và được tiêu hủy ở gan, lách và tủy xương.

8. Chấm dứt một mối quan hệ tình cảm có thể làm trái tim tan vỡ

Điều này không chỉ đúng về mặt tình cảm, nó còn đúng trên góc độ khoa học. Theo nghiên cứu, khi một mối quan hệ tan vỡ, cơ thể trái qua quá trình stress tâm lý, và đáp ứng lại với quá trìn này bằng cách tăng gánh hệ tuần hoàn, tăng tưới máu cơ quan. Đồng nghĩa với việc tim và hệ mạch máu phải làm việc với công suất lớn hơn. Nếu đáp ứng mạnh, bạn sẽ cảm thấy các triệu chứng như khó thở, tức ngực, hồi hộp, đánh trống ngực…Stress này không gây tan vỡ tim ngay, nhưng có ảnh hưởng không tốt đến hệ tim mạch.

9. Máu người có nhiều màu sắc khác nhau nhưng không có màu xanh

Ở điều kiện sinh lý, máu động mạch có màu đỏ tươi, còn máu tĩnh mạch có màu đỏ thẫm. Ở một số điều kiện bệnh lý, máu có thể thay đổi màu sắc chút ít. Mặc dù các tĩnh mạch nhìn bên ngoài có màu xanh, nhưng đó hoàn toàn là màu sắc của lớp cơ tĩnh mạch và lớp da bên ngoài, không phải là màu sắc của máu.

10. Sống trong không gian ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn

Con người, từ thuở sơ khai, tồn tại và thích nghi trong môi trường trọng lực của trái đất, và cấu tạo hệ tuần hoàn cũng không nằm ngoài sự thích nghi đó. Thể hiện rõ nhất bằng việc huyết áp chi trên thường thấp hơn chi dưới, khi nằm thường thấp hơn khi đứng. Ngoài ra, vì máu có xu hướng bị kéo bởi trọng lực, nên hệ tĩnh mạch có hệ thống van 1 chiều, giúp dòng máu lưu thông ổn định trong cơ thể. Khi ra ngoài không gian, sự thích nghi này bị đảo lộn do trọng lực bị triệt tiêu, ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn.

bài viết sửa dụng ảnh demo of i-class