Quyền Hành Pháp Của Chính Phủ Theo Hiến Pháp 2013

--- Bài mới hơn ---

  • Quyền Hành Pháp Theo Hiến Pháp Năm 2013: Những Vấn Đề Cần Tiếp Tục Hoàn Thiện
  • Cơ Quan Hành Pháp Là Gì? Hệ Thống Cơ Quan Hành Pháp Của Việt Nam
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Bộ Máy Nhà Nước
  • Chức Năng Quản Lý Văn Hóa, Giáo Dục Của Nhà Nước Việt Nam Giai Đoạn Hội Nhập Quốc Tế
  • Chuyên Đề 3: Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Của Dân, Do Dân, Vì Dân
  • 1. Quyền hành pháp của Chính phủ là một bộ phận của quyền lực Nhà nước được giao cho Chính phủ – cơ quan hành chính nhà nước cao nhất nhằm tổ chức việc thi hành pháp luật, hoạch định và điều hành chính sách quốc gia.

    Quyền hành pháp của Chính phủ có những đặc điểm riêng biệt:

    – Thứ nhất: Quyền hành pháp của Chính phủ có tính độc lập tương đối với các nhánh quyền lực nhà nước khác song vẫn đặt dưới sự giám sát tối cao của Quốc hội.

    Do cơ quan quyền lực nhà nước lập ra, nhưng không có nghĩa là quyền hành pháp của Chính phủ chỉ là quyền phái sinh từ cơ quan quyền lực. Quyền hành pháp của Chính phủ đặt trong mối quan hệ với quyền lập pháp của Quốc hội và quyền tư pháp của Tòa án có tính độc lập, tác động qua lại và kiểm soát lẫn nhau.

    Tuy có tính độc lập tương đối trong mối quan hệ với các nhánh quyền lực nhà nước khác, nhưng với bản chất là cơ quan chấp hành của Quốc hội cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; thì trong khuôn khổ nhất định, quyền hành pháp của Chính phủ phải chịu sự kiểm soát, giám sát tối cao của Quốc hội. Tính chất quyền lực nhà nước cao nhất của Quốc hội xuất phát từ tính chất trực tiếp đại diện cao nhất cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của toàn thể nhân dân. Theo Hiến pháp năm 2013, Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Do vậy, hoạt động của Chính phủ – cơ quan thực hiện quyền hành pháp; cũng phải đặt trong quyền giám sát tối cao này của Quốc hội. Điều này được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau: Chính phủ “chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước”, còn Quốc hội “xét báo cáo công tác của Chính phủ”, “bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ”; Ủy ban Thuờng vụ Quốc hội với tư cách là cơ quan thường trực của Quốc hội, trong mối quan hệ với Chính phủ có quyền: “Đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ… trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ… trái với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội”…

    – Thứ hai: Quyền hành pháp của Chính phủ đóng vai trò cơ bản và quan trọng nhất trong việc hoạch định, tổ chức và thực thi chính sách và pháp luật.

    Trong Hiến pháp năm 2013, mặc dù là lần đầu tiên quyền hành pháp của Chính phủ được hiến định, nhưng có thể nói xuyên suốt trong lịch sử kể từ khi Chính phủ được thành lập kể từ năm 1945 cho tới nay, những nhiệm vụ, quyền hạn này của Chính phủ luôn là những nhiệm vụ chủ yếu, then chốt để Chính phủ bảo đảm hiệu quả hoạt động, quản lý điều hành trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Việc quy định nhiệm vụ của Chính phủ trong Hiến pháp mới cũng chính là sự ghi nhận những kết quả to lớn đã đạt được, đồng thời khẳng định vai trò của Chính phủ trong việc hoạch định, tổ chức và thực thi chính sách và pháp luật. Bởi, so với các chủ thể khác chỉ thực hiện quyền hành pháp trên một số lĩnh vực và bó hẹp trong những đơn vị hành chính lãnh thổ thuộc phạm vi quản lý của chính quyền địa phương, thì Chính phủ là cơ quan thống nhất thực hiện việc quản lý, điều hành, lãnh đạo các hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội về: Kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ; thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia… Cùng với đó, Chính phủ với bộ máy quản lý rộng khắp từ Trung ương tới địa phương thực thi quyền hành pháp trải rộng trên khắp các đơn vị hành chính, lãnh thổ.

    – Thứ ba: Quyền hành pháp của Chính phủ có mục tiêu phục vụ nhân dân, đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân.

    Tư tưởng quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân đã được đề cập ngay từ những ngày đầu đất nước giành được độc lập. Nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước. Toàn bộ quyền lực nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân, do nhân dân ủy quyền cho bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phụng sự lợi ích của nhân dân. Bộ máy nhà nước được thiết lập là bộ máy thừa hành ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước là công bộc của nhân dân. Chính vì lẽ đó, Chính phủ với vị trí là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, cơ quan thực hiện quyền hành pháp có nhiệm vụ tổ chức thi hành Hiến pháp, pháp luật, xây dựng và hoạch định chính sách, thống nhất quản lý mọi mặt của đời sống xã hội không thể tách rời mục tiêu hướng tới nhân dân, phục vụ nhân dân nhằm bảo vệ quyền và lợi ích, tính mạng và tài sản của nhân dân qua đó góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Đây chính là sự bảo đảm quan trọng cho hoạt động của Chính phủ trong giai đoạn hiện nay cũng như trong các giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước.

    Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XIII thông qua Hiến pháp năm 2013 ngày 28-11-2013.

    2. Nội dung quyền hành pháp của Chính phủ bao gồm những hoạt động mà thông qua đó quyền hành pháp của Chính phủ được triển khai để thực thi pháp luật và tiến hành các hoạt động quản lý, điều hành, phục vụ xã hội.

    Một là, dựa theo các lĩnh vực, quyền hành pháp của Chính phủ gồm có các nội dung cơ bản sau:

    – Bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội: Đây là chức năng đặc thù của quyền hành pháp của Chính phủ, có ý nghĩa rất quan trọng nhưng đồng thời cũng hết sức phức tạp, được tiến hành thường xuyên về thời gian, rộng khắp về không gian, địa điểm và có tác động trực tiếp tới tất cả mọi người dân, mọi tổ chức.

    – Quản lý, điều hành: Nội dung này của quyền hành pháp rất rộng, xuyên suốt tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, an ninh, quốc phòng… với các mặt hoạt động phong phú và phức tạp.

    – Tổ chức thực thi pháp luật: Với tính chất là cơ quan chấp hành của cơ quan lập pháp, Chính phủ phải tiến hành các hoạt động của mình phù hợp với quy định pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành, áp dụng đúng đắn pháp luật để giải quyết các công việc cụ thể thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, đồng thời phải tiến hành các hoạt động để bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện trong thực tế đời sống. Bên cạnh đó, Chính phủ còn có chức năng lập quy, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa, giải thích, hướng dẫn thực hiện các văn bản pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành, kịp thời điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh, đáp ứng nhu cầu quản lý, điều hành.

    – Bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân: Nội dung này của quyền hành pháp bao gồm nhiều hoạt động cụ thể và được tiến hành một cách chủ động, linh hoạt bằng nhiều phương pháp khác nhau như theo dõi, kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời cũng là những hoạt động thường nhật được tiến hành theo đề nghị, yêu cầu của công dân.

    – Xem xét, xử lý các vi phạm: Nội dung tài phán là mặt hoạt động không thể thiếu để tiến hành xem xét và xử lý đối với các vi phạm của công dân hoặc nhân viên của bộ máy nhà nước, khi các vi phạm này chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc trách nhiệm dân sự. Chức năng này có ý nghĩa quan trọng, nó bảo đảm cho quyền hành pháp của Chính phủ được tôn trọng, qua đó bảo vệ trật tự xã hội, bảo đảm kỷ luật lao động và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

    – Tổ chức bộ máy hành pháp: Để xây dựng được bộ máy hành pháp mạnh, gọn nhẹ, trước hết là phải có cơ sở pháp lý vững chắc và đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Các văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và bộ máy hành pháp nói riêng do cơ quan lập pháp ban hành giữ vị trí đặc biệt quan trọng, đồng thời đòi hỏi phải có sự cụ thể hoá bằng các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành pháp.

    Hai là, dựa theo tính chất, mức độ thì quyền hành pháp của Chính phủ bao gồm hai nội dung cơ bản:

    – Quyền hành pháp chính trị

    Quyền hành pháp chính trị của Chính phủ có thể được hiểu là một bộ phận của quyền lực nhà nước được giao cho Chính phủ nhằm tổ chức việc thi hành pháp luật, hoạch định và điều hành chính sách quốc gia thông qua việc ban hành các chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Cụ thể hóa quyền hành pháp, Điều 96 Hiến pháp năm 2013 đã quy định các nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ để thực thi quyền hành pháp:

    Thứ nhất, khẳng định vai trò hoạch định chính sách của Chính phủ: “Đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn…”.

    Thứ hai, quy định một cách cụ thể hơn quyền sáng tạo pháp luật của Chính phủ, theo đó Chính phủ có nhiệm vụ: “Trình dự án luật, dự án ngân sách nhà nước và các dự án khác trước Quốc hội; trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội”.

    Bên cạnh quyền trình dự án luật, pháp lệnh, Hiến pháp còn quy định quyền ban hành văn bản pháp luật của Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ như một nhiệm vụ, quyền hạn độc lập của chức năng hành pháp: “Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các văn bản trái pháp luật theo quy định của luật” (Điều 100).

    Thứ ba, quy định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong việc tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật, theo đó Chính phủ: “Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước”.

    Thứ tư, quy định thi hành “các biện pháp cần thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của nhân dân”. Đây là quy định mới và là một công cụ quan trọng để Chính phủ thực thi có hiệu quả những nhiệm vụ, quyền hạn đã được hiến định của mình.

    – Quyền lực hành chính điều hành

    Là quyền điều hành, tổ chức đưa các chính sách và pháp luật vào đời sống xã hội bằng các hoạt động mang tính tổ chức pháp lý khác nhau. Quyền hành chính điều hành thuộc về cá nhân người đứng đầu cơ quan hành chính, là quyền lực trong hành động để thực hiện quyền hành pháp thông qua việc ban hành các quyết định hành chính – quyết định cá biệt và thực hiện các hành vi hành chính để quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, đời sống nội bộ trong bộ máy hành chính nhà nước. Hiến pháp năm 2013 trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý trong các bản Hiến pháp trước đây, cũng đã có những sự bổ sung mới thể hiện rõ nét hơn quyền hành chính điều hành của Chính phủ trên một số phương diện cụ thể sau:

    Một là, Hiến pháp quy định: Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Nhưng vị trí của quy định này có sự điều chỉnh rất mới về kỹ thuật lập hiến, khi được đưa lên vị trí đầu tiên trong nội dung quy định của Hiến pháp về tính chất, vị trí, chức năng của Chính phủ, bảo đảm sự đồng bộ, logic với quy định về Quốc hội (là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam) và Tòa nhân dân dân (là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam). Đồng thời, là một bước chuyển rất cơ bản trong nhận thức về phân công quyền lực, về vị trí, vai trò của Chính phủ trong các mối quan hệ quyền lực, nhấn mạnh và đề cao tính chất, vị trí, chức năng của Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

    Hai là, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục đề cao vai trò của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời nhấn mạnh hơn vị trí của người đứng đầu Chính phủ, đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương.

    Ths. Cao Việt Cường (Ban Nội chính Trung ương)

    Ths. Phạm Thị Hồng Mai (Văn phòng Chính phủ)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cơ Quan Hành Pháp Là Gì ? Khái Niệm Về Cơ Quan Hành Pháp
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Phân Loại Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước
  • Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Là Gì? Đặc Điểm Và Phân Loại
  • Hình Thức Và Phương Pháp Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Khái Niệm Và Các Hình Thức Của Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Ban Hành Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Thanh Tra Chính Phủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Kế Hoạch Thực Hiện Chức Năng, Nhiệm Vụ Bộ Tư Pháp Theo Nghị Định Của Chính Phủ
  • Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Của Bộ Công An
  • Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công An
  • Triển Khai Nghị Định Của Chính Phủ Về Cơ Cấu Tổ Chức Bộ Công An
  • Nghị Định Chức Năng Nhiệm Vụ Bộ Công Thương
  • Chính phủ vừa quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ (TTCP).

    Chính phủ quy định, TTCP là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước; thực hiện hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật.

    TTCP thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 1.9.2016 của Chính phủ.

    TTCP còn có nhiệm vụ kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của các kết luận thanh tra và quyết định xử lý sau thanh tra của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và của Chánh Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ, Chánh Thanh tra cấp tỉnh khi cần thiết.

    Quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Bộ trưởng kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật khi được Thủ tướng Chính phủ giao; quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra tỉnh kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật…

    Về phòng, chống tham nhũng, TTCP có nhiệm vụ tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn công tác thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng và phòng, chống tham nhũng trong công tác thanh tra; thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng tại các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo thẩm quyền hoặc chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong việc phát hiện hành vi tham nhũng; thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng; đôn đốc việc xử lý người có hành vi tham nhũng theo quy định của pháp luật và theo phân cấp quản lý cán bộ của Đảng và Chính phủ…

    Về cơ cấu tổ chức, Chính phủ quy định TTCP gồm có 19 đơn vị.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Văn Hóa Thể Thao Và Du Lịch
  • Mô Tả Công Việc Vị Trí Kế Toán Viên
  • Mô Tả Công Việc Của Kế Toán Nội Bộ
  • Kế Toán Nội Bộ Và Công Việc Của Kế Toán Nội Bộ
  • Ban Kiểm Soát Công Ty Cổ Phần Có Những Nhiệm Vụ Quyền Hạn Gì?
  • Chỉ Đạo, Điều Hành Của Chính Phủ, Thủ Tướng Chính Phủ Ngày 27/1/2021

    --- Bài mới hơn ---

  • Tham Luận “Vai Trò Của Đoàn Thể Chính Trị Tham Gia Công Tác Xây Dựng Đảng Tại Cung Văn Hóa”.
  • Việt Nam Sắp Vào Thời Kỳ “bùng Nổ Dân Số”
  • Thực Trạng Dân Số Việt Nam Và Ý Nghĩa Giải Quyết Vấn Đề Dân Số
  • Bùng Nổ Dân Số Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Triển Khai Giải Pháp Quản Lý, Bảo Vệ Rừng Đặc Dụng, Phòng Hộ
  • Thủ tướng chỉ đạo công tác điều hành giá năm 2022

    Trong đó, chú trọng các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, giữ ổn định mặt bằng giá để ổn định sản xuất, sinh hoạt của người dân, thực hiện các chính sách an sinh xã hội cho các đối tượng khó khăn; chủ động, phối hợp chặt chẽ nghiêm túc triển khai thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ – Trưởng ban Chỉ đạo điều hành giá; tăng cường công tác kiểm tra chuyên ngành, chuyên đề về giá, giám sát giá cả thị trường để kịp thời tham mưu cho các cấp có thẩm quyền điều hành giá cả cho phù hợp với nguyên tắc thị trường và điều hành kinh tế vĩ mô.

    Tăng cường rà soát xác định những nội dung còn chồng chéo, có cách hiểu khác nhau của các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện các quy định quản lý nhà nước về giá để tạo sự đồng bộ, liền mạch trong tổ chức triển khai tại các cấp; đặc biệt là việc thống nhất nguyên tắc chung để tạo thuận lợi cho quá trình áp dụng thi hành pháp luật về giá, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về giá; hoàn thiện định mức kinh tế kĩ thuật làm cơ sở xác định giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước, nhất là các dịch vụ sự nghiệp công thực hiện điều chỉnh giá theo lộ trình.

    Theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả thị trường các mặt hàng thiết yếu nhất là đối với một số mặt hàng thiết yếu có nhu cầu tiêu dùng cao vào dịp cuối năm. Chủ động chuẩn bị các nguồn hàng dự trữ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thường tăng cao vào dịp cuối năm trên địa bàn cả nước; đặc biệt chú trọng việc chuẩn bị hàng hóa, nhu yếu phẩm phục vụ sinh hoạt của người dân tại các địa phương miền Trung chịu ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ, sạt lở đất, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng, sốt giá cục bộ ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống người dân.

    Tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác dự báo, phân tích giá cả

    Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác dự báo, phân tích giá cả, cung cầu thị trường và nâng cao chất lượng xây dựng các kịch bản điều hành giá theo tháng/quý/năm để có phương án điều hành giá phù hợp từng giai đoạn đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát. Trong đó, chú trọng việc đánh giá, tính toán, xây dựng kịch bản điều hành giá đối với các mặt hàng do Nhà nước quản lý. Trường hợp xem xét điều chỉnh trong năm 2022 cần chủ động tính toán, đánh giá liều lượng và mức độ điều chỉnh cho phù hợp và báo cáo Trưởng ban Chỉ đạo điều hành giá cho ý kiến chỉ đạo kịp thời. Việc điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý nên tận dụng các tháng có CPI tăng thấp để điều chỉnh giá nhằm hạn chế lạm phát kỳ vọng; không nên dồn vào các tháng cuối năm do nhu cầu tiêu dùng cao cũng như sẽ tạo áp lực điều hành lạm phát cho trung hạn.

    Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về chủ trương, biện pháp bình ổn giá, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, góp phần tạo sự đồng thuận trong xã hội để hạn chế tối đa các tác động tăng giá do yếu tố tâm lý, kỳ vọng lạm phát.

    Điều hành chính sách tài khóa chủ động, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, đồng thời góp phần hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và đời sống của người dân chịu ảnh hưởng của đại dịch COVID-19. Tiếp tục kiểm soát lạm phát cơ bản trong năm 2022 dưới 2,5% để tạo cơ sở cho việc kiểm soát lạm phát chung.

    Bộ Công Thương tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính điều hành giá xăng dầu linh hoạt, bảo đảm giá xăng dầu trong nước theo nguyên tắc thị trường, bám sát diễn biến giá thành phẩm xăng dầu thế giới, sử dụng hợp lý Quỹ Bình ổn giá xăng dầu, góp phần kiểm soát lạm phát, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, đời sống của người dân. Nghiên cứu, xây dựng các phương án giá điện trong năm 2022 theo quy định trên cơ sở đánh giá kỹ các chi phí đầu vào, kế hoạch cung cấp điện, chi phí dự kiến và các khoản chi phí chưa được tính vào giá điện (nếu có) để xây dựng phương án điều hành.

    Triển khai các biện pháp nhằm bình ổn giá thịt lợn

    Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương tiếp tục theo dõi sát diễn biến tình hình thị trường, cung cầu mặt hàng thịt lợn, đặc biệt là trong các thời điểm cuối năm, cận Tết Nguyên đán; triển khai các biện pháp kịp thời nhằm bình ổn giá, cần có đánh giá để phối hợp Bộ Công Thương điều hòa cung cầu không để xảy ra tình trạng thiếu hàng vào thời điểm lễ, Tết. Bộ Công Thương tiếp tục chỉ đạo Sở Công Thương các địa phương xây dựng, thực hiện Chương trình bình ổn thị trường dịp cuối năm và Tết Nguyên đán, trong đó tập trung nguồn lực thực hiện kiểm soát khâu trung gian để triển khai các chương trình bình ổn thị trường mặt hàng thịt lợn.

    Bộ Y tế sớm hoàn tất việc rà soát, phân loại dịch vụ và định mức kinh tế kỹ thuật, tính toán, đề xuất với Ban Chỉ đạo điều hành giá về phương án triển khai bước 3 (kết cấu chi phí quản lý trong giá dịch vụ) vào thời điểm phù hợp và nên thực hiện điều chỉnh trong quý III/2021 nếu các điều kiện kinh tế, xã hội cho phép.

    Bộ Giao thông vận tải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về việc kê khai, niêm yết giá và việc bán vé đúng giá niêm yết đối với các đơn vị kinh doanh vận tải; tổ chức đánh giá Thông tư số 17/2019/TT-BGTVT ngày 03/5/2019 quy định khung giá dịch vụ vận chuyển hành khách nội địa; trường hợp cần thiết phải điều chỉnh thì báo cáo Ban Chỉ đạo điều hành giá xem xét, quyết định trên cơ sở kiểm soát lạm phát; thông tin tuyên truyền để tạo sự đồng thuận tránh gây lạm phát tâm lý kỳ vọng.

    Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Tài chính rà soát, kiểm soát chặt chẽ phương án kê khai giá sách giáo khoa lớp 2, lớp 6 theo chương trình giáo dục phổ thông mới theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 9130/VPCP-KTTH ngày 2/11/2020 và đánh giá chương trình sách giáo khoa theo Nghị quyết của Quốc hội để đề xuất phương án quản lý giá sách giáo khoa nhằm mục tiêu bình ổn giá, đảm bảo an sinh xã hội gửi Bộ Tài chính tổng hợp, sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật theo quy định. Khẩn trương xây dựng và ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 86/2015/NĐ-CP. Tính toán, đánh giá mức điều chỉnh năm 2022.

    Quản lý, khai thác cảng hàng không, sân bay

    Chính phủ vừa ban hành Nghị định 05/2021/NĐ-CP quản lý, khai thác cảng hàng không sân bay.

    Trong đó, về nguyên tắc quản lý, khai thác cảng hàng không, sân bay, bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; bảo đảm an ninh, an toàn hàng không. Bảo đảm phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước tại cảng hàng không, sân bay; giữa các cơ quan, đơn vị hàng không dân dụng và quân sự tại sân bay dùng chung dân dụng và quân sự.

    Người khai thác cảng hàng không, sân bay trực tiếp khai thác sân bay trừ các công trình do doanh nghiệp bảo đảm hoạt động bay khai thác; chịu trách nhiệm đảm bảo toàn bộ các hoạt động khai thác, an ninh, an toàn tại sân bay và được cấp Giấy chứng nhận khai thác cảng hàng không, sân bay.

    Bảo đảm dây chuyền hoạt động cảng hàng không, sân bay thống nhất, đồng bộ, liên tục, hiệu quả. Bảo đảm chất lượng dịch vụ, cạnh tranh lành mạnh, văn minh, lịch sự, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hàng không dân dụng cảng hàng không, sân bay.

    Trường hợp nhà nước cần trưng dụng một phần hoặc toàn bộ kết cấu hạ tầng cảng hàng không, sân bay, nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản.

    Công trình thuộc kết cấu hạ tầng hàng không, sân bay được kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất và bảo trì đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn thiết kế, tiêu chuẩn khai thác áp dụng, tài liệu khai thác đã được ban hành.

    Việc quản lý tài sản kết cấu hạ tầng hàng không do nhà nước đầu tư, quản lý và tài sản kết cấu hạ tầng hàng không gắn với mặt đất, mặt nước chưa tính thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp thì thực hiện theo pháp luật về quản lý tài sản công.

    Nghị định có hiệu lực từ 10/3/2021.

    Kéo dài thời gian hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp đến hết năm 2022

    Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành quyết định sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 22/2019/QĐ-TTg ngày 26/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp.

    Theo đó, kéo dài thời gian thực hiện hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp. Cụ thể, thời gian thực hiện hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp từ ngày Quyết định số 22/2019/QĐ-TTg có hiệu lực (26/6/2019) đến hết ngày 31/12/2021 (quy định cũ 31/12/2020).

    Quyết định cũng sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 4 về mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp. Cụ thể, cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định của pháp luật về chuẩn nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2022 – 2025 được hỗ trợ 90% phí bảo hiểm nông nghiệp.

    Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo

    Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT đến năm 2030.

    Chiến lược đặt mục tiêu đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT, đưa TTNT trở thành lĩnh vực công nghệ quan trọng của Việt Nam trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đến năm 2030, Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, phát triển các giải pháp và ứng dụng TTNT trong khu vực ASEAN và trên thế giới.

    Mục tiêu đến năm 2030 đưa TTNT trở thành lĩnh vực công nghệ quan trọng của Việt Nam; phấn đấu Việt Nam nằm trong nhóm 4 nước dẫn đầu trong khu vực ASEAN và nhóm 50 nước dẫn đầu trên thế giới về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT; xây dựng được 10 thương hiệu TTNT có uy tín trong khu vực; phát triển được 03 trung tâm quốc gia về lưu trữ dữ liệu lớn và tính toán hiệu năng cao; kết nối được các hệ thống trung tâm dữ liệu, trung tâm tính toán hiệu năng cao trong nước tạo thành mạng lưới chia sẻ năng lực dữ liệu lớn và tính toán phục vụ TTNT.

    Hình thành được 50 bộ dữ liệu mở, liên thông và kết nối trong các ngành kinh tế, lĩnh vực kinh tế – xã hội phục vụ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng TTNT.

    Đến năm 2030, Việt Nam hình thành được 3 trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia về TTNT; có ít nhất 01 đại diện nằm trong bảng xếp hạng nhóm 20 cơ sở nghiên cứu và đào tạo về TTNT dẫn đầu trong khu vực ASEAN…

    Triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính

    Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

    Kế hoạch nhằm tổ chức tốt việc triển khai thi hành Luật trên phạm vi cả nước; làm tốt công tác tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ người làm công tác xử lý vi phạm hành chính; xác định trách nhiệm và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc hoàn thiện thể chế, xây dựng các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo đảm thống nhất, đồng bộ, kịp thời và tăng cường hơn nữa hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý và thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong giai đoạn hiện nay.

    Nội dung Kế hoạch gồm: Tổ chức hội nghị triển khai thi hành Luật; tuyên truyền, phổ biến nội dung của Luật; rà soát, xây dựng, sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với Luật; tổ chức tập huấn và bồi dưỡng nghiệp vụ; kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

    Bình Phước phấn đấu trở thành địa phương đi đầu về phát triển nông nghiệp công nghệ cao

    Tỉnh Bình Phước thúc đẩy phát triển hướng đến trở thành một trong những địa phương tiên phong về phát triển nông nghiệp công nghệ cao, phát triển cây công nghiệp nâng cao hiệu quả nông nghiệp, tạo chuỗi sản xuất lớn.

    Nội dung trên được nêu tại Thông báo Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Bình Phước.

    Mặc dù năm 2022 bị tác động nghiêm trọng bởi đại dịch COVID-19, nhưng với ý chí vươn lên mạnh mẽ, sự chung sức, đồng lòng, đoàn kết, quyết tâm cao của tập thể lãnh đạo, Đảng bộ, chính quyền, người dân, doanh nghiệp, tỉnh Bình Phước đã đạt được nhiều kết quả tích cực, chuyển biến toàn diện trong phát triển kinh tế – xã hội, đóng góp vào kết quả chung của cả nước qua những điểm sáng đáng ghi nhận với 21/24 chỉ tiêu kinh tế – xã hội đạt và vượt kế hoạch đề ra; tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 7,51%; sản xuất công nghiệp tăng 12,5%, giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng 10,3%; kim ngạch xuất khẩu tăng 7,3% so với năm 2022. Cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính được triển khai quyết liệt, đạt những bước tiến đáng khích lệ; lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm…

    Bên cạnh những kết quả đạt được, tỉnh Bình Phước còn tồn tại những bất cập: tốc độ tăng trưởng kinh tế không đạt kế hoạch đề ra; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh còn hạn chế; số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động và giải thể tăng cao; tiến độ thực hiện một số dự án đầu tư công còn chậm…

    Để khắc phục được những bất cập trên và phấn đấu đạt được các mục tiêu đề ra, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu Đảng bộ, chính quyền, nhân dân tỉnh Bình Phước cần chung sức, đồng lòng quán triệt thực hiện hiệu lực, hiệu quả các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Nghị quyết của Chính phủ, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI nhiệm kỳ 2022 – 2025. Trước mắt tập trung thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng chống dịch hiệu quả, vừa nỗ lực phục hồi phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân; khẩn trương ban hành và triển khai thực hiện đồng bộ, quyết liệt chương trình hành động, thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ.

    Thúc đẩy phát triển hướng đến trở thành một trong những địa phương tiên phong về phát triển nông nghiệp công nghệ cao, phát triển cây công nghiệp nâng cao hiệu quả nông nghiệp, tạo chuỗi sản xuất lớn, hình thành và thu hút nhiều doanh nghiệp có thương hiệu, tiềm năng và thế mạnh; phấn đấu có nhiều thương hiệu nổi tiếng, uy tín trên địa bàn Tỉnh.

    Tận dụng sự hỗ trợ của Trung ương, các chính sách ưu đãi hiện hành của Nhà nước, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; nhanh chóng xây dựng quy hoạch tỉnh thời kỳ 2022 – 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, gắn với quy hoạch vùng Đông Nam bộ và liên kết phát triển với các tỉnh, thành phố trong khu vực. Huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng, đảm bảo đồng bộ, ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông kết nối liên vùng có ý nghĩa chiến lược và mang tính đột phá. Trong đó, xây dựng chương trình hành động cụ thể để triển khai 10 dự án trọng điểm đã xác định trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XI.

    Xây dựng chính quyền điện tử, đô thị thông minh

    Thủ tướng yêu cầu tỉnh tiếp tục cải cách mạnh mẽ, tạo đột phá trong cải cách hành chính, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả bộ máy; tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, xây dựng chính quyền điện tử, đô thị thông minh, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng minh bạch, thật sự hấp dẫn các nhà đầu tư. Xây dựng chính quyền các cấp “kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả” phục vụ nhân dân và doanh nghiệp.

    Tiếp tục đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đội ngũ lao động kỹ thuật, công nhân lành nghề, có tác phong công nghiệp, có ý thức tổ chức kỷ luật đáp ứng nhu cầu lao động cho các khu, cụm công nghiệp; đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư; xây dựng văn hóa và con người Việt Nam, giữ gìn tiếp nối truyền thống phong trào công nhân “Phú Riềng Đỏ”; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, thực hiện tốt chính sách giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội.

    Nâng cao cảnh giác, không được chủ quan, lơ là, thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch bệnh COVID-19 theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ban chỉ đạo Trung ương. Với đường biên giới dài với nước bạn, tỉnh cần hết sức lưu ý, chỉ đạo lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát chặt chẽ đối với người nhập cảnh và phương tiện, hàng hóa, kiểm soát biên giới tại các cửa khẩu, lối mở để phòng, chống dịch COVID-19, tránh dịch bệnh lây lan.

    Huy động nguồn lực xã hội phát triển các dịch vụ chăm sóc người cao tuổi

    Đó là nội dung tại Thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Chủ tịch Ủy ban quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2022, nhiệm vụ trọng tâm năm 2022 của Ủy ban quốc gia.

    Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đẩy mạnh việc thực hiện Luật Người cao tuổi; có giải pháp huy động nguồn lực xã hội phát triển các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ người cao tuổi và tăng cường an sinh xã hội đối với người cao tuổi ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn; rà soát, đánh giá các chương trình, dự án hỗ trợ người cao tuổi, đề xuất giải pháp phân bổ lại nguồn lực, giảm dần hỗ trợ trực tiếp sang hình thức hỗ trợ gián tiếp thông qua chính sách về bảo hiểm xã hội; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2022-2030.

    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 29/3/2017 của Thủ tướng Chính phủ về “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình”; Chương trình giáo dục đời sống gia đình; thực hiện Chương trình phối hợp “Đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch của người cao tuổi và tham gia xây dựng, phát triển gia đình bền vững giai đoạn 2022-2021”.

    Bộ Giao thông vận tải tiếp tục tăng cường chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện giảm giá vé, hỗ trợ người cao tuổi khi tham gia phương tiện giao thông công cộng; tăng cường các giải pháp để người cao tuổi tiếp cận với phương tiện giao thông, nhà ga, bến đỗ.

    Bộ Xây dựng hướng dẫn, triển khai Luật Kiến trúc bảo đảm các công trình thiết kế phù hợp với đặc điểm, nhu cầu sử dụng, tạo môi trường thân thiện với người cao tuổi; tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ nhà ở phòng, tránh bão, lũ đối với hộ nghèo, cận nghèo, ưu tiên hộ có người cao tuổi.

    Bảo hiểm xã hội Việt Nam phối hợp với các Bộ, ngành, đoàn thể, hội tuyên truyền, nâng cao tỷ lệ người dân tham gia Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội trong đó có người cao tuổi; phối hợp với Bộ Y tế triển khai chính sách Bảo hiểm y tế nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân, người cao tuổi; ứng dụng công nghệ thông tin thực hiện tốt việc giải quyết, chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế cho người tham gia, ưu tiên người cao tuổi.

    Vận động người dân tham gia BHXH chuẩn bị tích lũy cho tuổi già

    Phó Thủ tướng yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền về luật pháp, chính sách đối với người cao tuổi; vận động người dân tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, chuẩn bị tích lũy cho tuổi già từ khi còn trẻ; có giải pháp huy động nguồn lực để hỗ trợ cấp thẻ Bảo hiểm y tế cho 5% người cao tuổi chưa có thẻ Bảo hiểm y tế; huy động khối doanh nghiệp, khu vực tư nhân tham gia đầu tư vào công tác chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi.

    Thực hiện tốt công tác trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi; phân bổ nguồn lực đảm bảo thực hiện đầy đủ các chính sách về người cao tuổi theo quy định; lồng ghép, xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Luật, Chương trình quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2022 – 2030; Đề án nhân rộng mô hình câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau giai đoạn đến 2025; tháng hành động vì người cao tuổi; chúc thọ, mừng thọ, thăm hỏi, tặng quà người cao tuổi nghèo, cô đơn không có người phụng dưỡng.

    Sắp xếp lại Quỹ chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi tại cơ sở theo quy định tại Nghị định số 93/2019/NĐ-CP; có giải pháp vận động nguồn lực, hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế cho người cao tuổi chưa có bảo hiểm y tế từ nguồn quỹ trên; lập hồ sơ theo dõi sức khỏe, bố trí kinh phí khám sức khỏe ban đầu cho người cao tuổi tại cơ sở; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện miễn giảm giá vé, phí dịch vụ đối với người cao tuổi tham gia giao thông, thăm quan, vui chơi, giải trí và các quy định khác của Luật Người cao tuổi./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Bình Ổn Giá
  • Làm Thế Nào Khi Đối Thủ Bán Phá Giá ?
  • 3 Phương Pháp Định Giá Sản Phẩm Thông Dụng Nhất – Làm Kinh Doanh Tuyệt Đối Không Nên Bỏ Qua
  • Những Phương Pháp Định Giá Sản Phẩm Trong Marketing
  • 5 Bước Xây Dựng Chiến Lược Giá Hiệu Quả Cho Doanh Nghiệp
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Chính Phủ

    --- Bài mới hơn ---

  • 6 Nhiệm Vụ Trọng Tâm Của Văn Phòng Chính Phủ Năm 2022
  • Trang Điện Tử Huyện Ủy A Lưới
  • Triển Khai Nghị Định Của Chính Phủ Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Tổ Chức Bộ Máy Bộ Công An
  • Kế Hoạch Sửa Đổi, Bổ Sung Các Nghị Định Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Bộ, Cơ Quan Ngang Bộ
  • Nghị Định Mới Quy Định Nhiệm Vụ Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Y Tế
  • (Theo Nghị định số 74/2012/NĐ-CP ngày 29/9/2012)

    Vị trí và chức năng

    Văn phòng Chính phủ là cơ quan ngang Bộ, là bộ máy giúp việc của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.

    Văn phòng Chính phủ có chức năng tham mưu tổng hợp, giúpChính phủ tổ chức các hoạt động chung của Chính phủ; tham mưu tổng hợp, giúp Thủ tướng Chính phủ (bao gồm các Phó Thủ tướng Chính phủ) lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở; bảo đảm thông tin, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và cung cấp thông tin cho công chúng theo quy định của pháp luật; bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

    Nhiệm vụ và quyền hạn

    Văn phòng Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:

    1. Tham mưu tổng hợp, giúp Chính phủ:

    a) Xây dựng và quản lý chương trình công tác của Chính phủ theo quy định của pháp luật;

    đ) Xây dựng các đề án, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và các báo cáo khi được Chính phủ giao;

    2. Tham mưu tổng hợp, giúp Thủ tướng Chính phủ:

    đ) Xây dựng các đề án, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật khi được Thủ tướng Chính phủ giao;

    g) Chủ trì soạn thảo, biên tập hoặc chỉnh sửa lần cuối các dự thảo báo cáo, các bài phát biểu quan trọng của Thủ tướng Chính phủ;

    h) Giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện công tác phối hợp giữa Chính phủ với các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị – xã hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

    3. Bảo đảm thông tin:

    a) Bảo đảm thông tin phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; quản lý và duy trì hệ thống thông tin hành chính điện tử Chính phủ phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;

    c) Cung cấp và tiếp nhận thông tin của công chúng về các hoạt động chủ yếu, những quyết định quan trọng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội nổi bật mà dư luận quan tâm theo quy định pháp luật và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ;

    d) Thực hiện nhiệm vụ phát ngôn của Chính phủ theo quy định của pháp luật ;

    đ) Quản lý, xuất bản và phát hành Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

    e) Quản lý tổ chức và hoạt động của Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

    4. Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

    5. Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản khác thuộc thẩm quyền của Văn phòng Chính phủ theo quy định của pháp luật .

    6. Tổ chức việc phát hành và quản lý các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

    7. Tổng kết, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về công tác văn phòng đối với Văn phòng các Bộ, ngành, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    8. Về công chức:

    a) Công chức Văn phòng Chính phủ phải là những người có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, am hiểu về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách, theo dõi; được áp dụng chế độ, chính sách đãi ngộ theo quy định của pháp luật;

    b) Văn phòng Chính phủ được đề nghị quyết định điều động công chức đang công tác ở các Bộ, ngành, cơ quan, địa phương về làm việc tại Văn phòng Chính phủ theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

    Các Bộ, ngành, cơ quan, địa phương có trách nhiệm tạo điều kiện để công chức được thuyên chuyển công tác về Văn phòng Chính phủ.

    9. Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế; thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật; đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức, viên chức Văn phòng Chính phủ và các tổ chức tư vấn, chỉ đạo, phối hợp liên ngành do Thủ tướng Chính phủ giao .

    10. Quản lý tài chính, tài sản, các dự án, công tác nghiên cứu khoa học.

    11. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao hoặc theo quy định của pháp luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Tỉnh Ủy
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Tổ Chức Bộ Máy Của Văn Phòng Tỉnh Ủy
  • Nhà Sản Xuất Công Bố Chức Năng Của Bộ Lưu Điện Ups
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Giao Thông Vận Tải
  • Cấu Tạo Và Chức Năng Của Bộ Điều Khiển Servo Invt
  • Phân Biệt Vị Trí, Vai Trò, Chức Năng Của Chính Phủ, Thủ Tướng Chính Phủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Quốc Hội Là Cơ Quan Gì? Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Quốc Hội Việt Nam?
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Đoàn Đại Biểu Quốc Hội
  • Chủ Tịch Quốc Hội: Cơ Quan Chức Năng Đang Xem Xét Vụ Án Hồ Duy Hải
  • Chân Dung Chủ Tịch Quốc Hội Việt Nam Qua Các Thời Kỳ (1946
  • Chủ Tịch Quốc Hội Gợi Ý Thành Lập Bộ Thanh Niên
  • Như vậy, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, thì Chính phủ phải có đủ quyền hành pháp, và luật pháp phải trao cho Chính phủ cơ chế chủ động, linh hoạt trong việc tổ chức thực thi quyền hành pháp để quản lý có hiệu lực, hiệu quả, minh bạch mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội đang ngày càng trở nên phức tạp và biến đổi nhanh, khó lường. Chính vì vậy, để phát triển hợp lôgích quy định của Hiến pháp 1992 về tính chất, vị trí của Chính phủ, thì trong lần sửa đổi Luật Tổ chức Chính phủ tới đây, cần xác định rõ: Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, là cơ quan hành pháp và hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Phân biệt sự khác nhau về tính chất, vị trí, vai trò, chức năng, thẩm quyền của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ

    Cùng với việc khôi phục lại vị trí, vai trò của “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[1], Hiến pháp 1992 đã tạo lập cơ sở pháp lý cao nhất cho việc hình thành một thiết chế mới của hệ thống hành chính nhà nước, đó là thiết chế Thủ tướng Chính phủ. Thiết chế này cùng với thiết chế Chính phủ thay thế cho thiết chế Hội đồng Bộ trưởng trước đó theo Hiến pháp 1980. Đây là bước cải cách có ý nghĩa rất quan trọng đối với hành pháp và hành chính nhà nước nhằm thúc đẩy và nâng cao tính linh hoạt, nhạy bén trong quản lý, điều hành của bộ máy hành chính, thích ứng với yêu cầu của quá trình chuyển đổi cơ chế từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Mặc dù có cùng vị trí trung tâm và cao nhất trong hệ thống hành chính nhà nước, song thiết chế Chính phủ và thiết chế Thủ tướng Chính phủ có sự khác nhau, sự khác nhau có thể phân biệt được và cần thiết phải được phân biệt và tách bạch ở mức độ nhất định để tạo cơ sở cho việc phân định rõ chức năng, thẩm quyền và nhất là để hình thành và thúc đẩy các nhân tố nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của cả 2 thiết chế quan trọng này trong quản lý, điều hành mọi mặt hoạt động của đất nước.

    Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001 có một chương riêng quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ và một chương riêng quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, cả trong nhận thức và thực tiễn thực hiện các quy định này, vẫn chưa có sự phân biệt được rành mạch về sự thống nhất và sự khác nhau về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của 2 thiết chế trung tâm và cao nhất này của hệ thống hành chính nhà nước.

    Với tư cách là người đứng đầu Tập thể Chính phủ, Thủ tướng có quyền triệu tập và chủ trì các phiên họp của Chính phủ; chủ trì chuẩn bị các quyết định của Tập thể Chính phủ, mà sản phẩm chủ yếu là các nghị định, nghị quyết của Chính phủ chứa đựng các quyết định về chính sách. Tuy là người đứng đầu, nhưng Thủ tướng cũng chỉ là một thành viên của Chính phủ – một thành viên có đặc quyền quyết định khi biểu quyết của Tập thể Chính phủ có số phiếu ngang nhau. Thủ tướng không phải là Thủ trưởng của các thành viên Chính phủ, quan hệ giữa Thủ tướng với các thành viên Chính phủ không phải là quan hệ lãnh đạo và bị lãnh đạo, do đó không có việc Thủ tướng lãnh đạo “các thành viên Chính phủ” như quy định tại Điều 20 của Luật Tổ chức Chính phủ. Mặt khác, theo quy định tại Điều 4 của Luật Tổ chức Chính phủ “Thủ tướng chịu trách nhiệm trước Qu c hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước”, thì Thủ tướng không phải chịu trách nhiệm trước Tập thể Chính phủ, tức là quan hệ giữa Thủ tướng với Tập thể Chính phủ không phải là mối quan hệ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Đương nhiên, là một thành viên như các thành viên khác, Thủ tướng có trách nhiệm chấp hành các quyết định của Tập thể Chính phủ.

    Thủ tướng đứng đầu Chính phủ còn với tư cách là người đứng đầu hệ thống cơ quan hành pháp và hành chính nhà nước, có vai trò lãnh đạo, điều hành hoạt động của toàn bộ hoạt động của bộ máy hành chính từ Trung ương đến cơ sở để thực hiện các quyết định của Quốc hội và của Tập thể Chính phủ. Do vậy, quan hệ giữa Thủ tướng với các thủ trưởng các bộ, ngành và với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp là quan hệ trên dưới theo chế độ thủ trưởng.

    Như vậy thực chất của việc “Thủ tướng lãnh đạo công tác của Chính phủ…” là Thủ tướng thực hiện 2 loại công việc:

    – Thứ nhất là triệu tập và chủ toạ, điều khiển các phiên họp của Chính phủ. Trong loại việc này Thủ tướng hoạt động với tư cách là người đứng đầu Tập thể Chính phủ (Chủ tịch Hội đồng Chính phủ);

    – Thứ hai là chỉ đạo, điều hành các hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước theo thẩm quyền độc lập được Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ trao cho cá nhân Thủ tướng với tư cách là người đứng đầu.

    Thực tế hiện nay, vị trí, vai trò của Thủ tướng với tư cách là người đứng đầu hệ thống hành chính chưa được nhận thức và phát huy một cách đầy đủ, nhất là trong vấn đề nhân sự và tổ chức bộ máy, làm cho hoạt động bộ máy hành chính thiếu thống nhất và không thông suốt.

    Về mối quan hệ giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với các Bộ, ngành.

    Việc đề cao trách nhiệm và quyền hạn của Thủ tướng là thể hiện sự coi trọng vị trí, vai trò của người đứng đầu Chính phủ trong việc thúc đẩy toàn bộ hoạt động của Chính phủ, bảo đảm các chức năng của Chính phủ được thực hiện một cách có hiệu quả và phù hợp với sự vận động, biến đổi nhanh chóng các mặt đời sống kinh tế – xã hội. Đề cao trách nhiệm của cá nhân Thủ tướng và từng thành viên Chính phủ là tạo cơ sở cho việc thiết lập một trong cơ chế hoạt động của Chính phủ, tạo ra động lực mới cho hoạt động quản lý, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở kết hợp giữa trách nhiệm của Tập thể Chính phủ với việc đề cao quyền hạn và trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng và mỗi thành viên Chính phủ để thực hiện những nhiệm vụ và sử dụng những quyền hạn của Chính phủ được Hiến pháp và Luật quy định.

    Trong bối cảnh đó, người đứng đầu Chính phủ có vai trò rất quan trọng trong việc lãnh đạo, điều hành các hoạt động chung của Chính phủ, điều phối các chức năng của các Bộ trưởng thông qua hệ thống thể chế; kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, chính sách, thể chế; giải quyết các vấn đề quan trọng liên ngành; các tranh chấp giữa các Bộ. Thủ tướng trở thành nhân tố điều hoà các mục tiêu chung và thúc đẩy toàn bộ hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính trong việc thực hiện các chức năng, thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

    Tuy nhiên, thực tế cho thấy Chính phủ chưa thoát ra khỏi “bộ khung thép” thứ bậc của nền hành chính truyền thống tập trung bao cấp tồn tại trong thời gian dài, ăn sâu vào nếp nghĩ, phong cách làm việc. Việc chuyển sang một mô hình quản lý mới phi tập trung, năng động, linh hoạt và hiệu lực, hiệu quả hơn, dựa trên một cơ cấu phân cấp mạnh mẽ, bảo đảm phù hợp giữa các mục tiêu và nguồn lực là rất khó khăn, gặp nhiều trở lực. Khi mà tiến trình của công cuộc cải cách hành chính diễn ra chậm chạp, thì vận hành của hệ thống thể chế trong điều kiện kinh tế – xã hội đang trong quá trình chuyển đổi chưa thể tạo ra được sự tách bách giữa chức năng hoạch định chính sách với chức năng tổ chức thực hiện chính sách trong toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính là điều đương nhiên, mà ngược lại còn lẫn lộn, chồng chéo gây ra những rối loạn chức năng làm giảm hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước.

    Thực tế cho thấy, đối với tập thể Chính phủ vấn đề lớn nhất là nâng cao hơn nữa chất lượng công tác hoạch định chính sách, giải quyết các vấn đề có tính chiến lược, bảo đảm tính nhạy bén, kịp thời, và khả thi của các chủ trương, chính sách được ban hành. Thời gian qua công tác này thực hiện chưa đầy đủ theo trách nhiệm và chức năng, nhất là trong việc giải quyết những vướng mắc của quá trình đổi mới; việc nghiên cứu hoạch định cơ chế, chính sách của Chính phủ còn quá phụ thuộc vào đề xuất, tham mưu và sự chuẩn bị của các bộ, ngành.

    Sự chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng Chính phủ nói chung là có tính chất chiến lược, phải đặt ở tầm vĩ mô và được thực hiện thông qua việc xây dựng và ban hành thể chế. Do vậy, Thủ tướng phải được giải phóng khỏi thẩm quyền của mình trách nhiệm giải quyết các công việc sự vụ, các vụ việc cụ thể, và nói chung là các công việc về thực thuộc trách nhiệm giải quyết của các bộ, ngành. Cần phải chấm dứt tình trạng các Bộ trưởng dồn các công việc thuộc thẩm quyền của mình lên cho Thủ tướng giải quyết. Ngược lại, cũng khắc phục tình trạng có những việc thuộc thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết của các Bộ, ngành mà các Bộ, ngành đó hoàn toàn có đủ khả năng xử lý thì lại do Thủ tướng giải quyết. Phải sử dụng tích cực có hiệu quả cơ chế phân công, phân cấp, uỷ quyền để chuyển các công việc sự vụ, cụ thể, đang thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, cho các Bộ, ngành, chính quyền địa phương giải quyết. Thủ tướng tập trung vào việc chỉ đạo, điều phối công việc giữa các Bộ, giải quyết các vấn đề vượt quá thẩm quyền của Bộ trưởng và trực tiếp chỉ đạo xử lý đối với một số công việc lớn, đột xuất, các sự cố nghiêm trọng như thiên tai, dịch bệnh lớn… vượt khỏi tầm giải quyết của Bộ, ngành, cần thiết phải sử dụng quyền lực của Thủ tướng để tập trung, phối hợp các nguồn lực từ nhiều Bộ, ngành, địa phương mới có thể giải quyết một cách có hiệu quả trong một thời gian nhất định. Đồng thời, phải tăng cường công tác đôn đốc, kiểm tra của Thủ tướng đối với các Bộ ngành, địa phương, cơ sở trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước, các quyết định của Chính phủ; thiết lập và duy trì trật tự, kỷ cương, kỷ luật trong hệ thống hành chính.

    Việc giải phóng khỏi phạm vi thẩm quyền của Thủ tướng những công việc về bản chất thuộc về trách nhiệm và thẩm quyền giải quyết của các Bộ, ngành để Thủ tướng tập trung vào các công việc đích thực thuộc trách nhiệm của mình là cơ sở có tính chất nền tảng cho việc chấn chỉnh lại phương thức hoạt động và chế độ làm việc của người đứng đầu Chính phủ cũng như của cơ quan làm việc của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ là Văn phòng Chính phủ. Từ đó mà giảm thiểu nhu cầu của Thủ tướng trong việc phải sử dụng hình thức chỉ đạo, điều hành thông qua các cuộc họp, công văn hành chính, để xử lý công việc thuộc trách nhiệm của mình phải giải quyết.

    Trong điều kiện quá tập trung quyền lực quản lý vào người đứng đầu Chính phủ, nhất là những công việc có tính chất xin – cho, công việc sự vụ, cụ thể… thì sự chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng nhằm giải quyết những công việc này trở nên có hiệu quả khi thông qua các cuộc họp. Cách thức giải quyết này được các Bộ, ngành, địa phương có vấn đề cần trình Thủ tướng quyết định rất muốn sử dụng, nó cho phép vượt qua các thủ tục quy định rườm rà và thái độ, phong cách làm việc lề mề của các cơ quan tham gia phối hợp, cơ quan thẩm định, thẩm tra khi cơ quan muốn trình giải quyết theo trình tự, thủ tục quy định.

    Việc quy định trình tự, thủ tục giải quyết các công việc thuộc thẩm quyền của Thủ tướng do các Bộ, ngành, chính quyền địa phương trình mặc dù đã được quan tâm cải tiến rất nhiều, thể hiện rõ trong các Quy chế làm việc mới của Chính phủ ban hành trong các năm 1998, 2003. Tuy nhiên, quy trình xem xét, ra quyết định của Thủ tướng quá lệ thuộc vào cơ chế phối hợp của các Bộ, ngành, mà thực chất phải gọi là cơ chế thoả thuận, bởi vì phối hợp ở đây thực tế có khi không phải nhằm trách sự chồng chéo, đem lại những thông tin hữu ích cho việc hoạch định chính sách, tìm kiếm sự hợp lý, tạo lập tính khả thi của đề án mà là nhằm đạt được sự thoả thuận, chưa thoả thuận được thì phải phối hợp đi phối hợp lại nhiều lần dưới nhiều hình thức, trong đó có việc gia tăng các cuộc họp, làm cho thời gian ra quyết định bị kéo dài ra. Không ít quyết định nhằm xử lý những vấn đề có tính chất tình thế, nhưng đến khi văn bản được ban hành và triển khai thực hiện thì không còn nhiều tác dụng nữa, các biện pháp tình thế mất ý nghĩa, do thời gian chuẩn bị quá lâu. Việc tham mưu của Bộ trưởng cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc xây dựng và ban hành, cũng như chỉ đạo thực hiện chính sách, thể chế quản lý còn quá chú trọng vào việc phối hợp với các Bộ, ngành khác có nguyên nhân cơ bản là chưa đề cao vai được trò và trách nhiệm của các Bộ trưởng trong việc thực hiện quyền hạn và trách nhiệm quản lý nhà nước của mình đối với những vấn đề thuộc ngành, lĩnh vực được phân công; chưa mạnh dạn giao quyền cho Bộ trưởng, cũng như chưa tăng cường trách nhiệm của Bộ trưởng trong việc quyết định các vấn đề thuộc chức năng và thẩm quyền của Bộ. Mặt khác, điều này phản ánh một thực tế là hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ còn quá lệ thuộc vào các bộ, ngành, nói cách khác, sâu xa hơn, đó là chưa có sự phân định rành mạch giữa hoạch định chính sách với tổ chức thực thi chính sách trong hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương.

    Một số kiến nghị

    1 – Để tiếp tục cải tiến, nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả hoạt động của Chính phủ trên các vấn đề thuộc chức năng, thẩm quyền do Tập thể Chính phủ quyết định theo quy định của Hiến pháp và các đạo luật, cần chuyên nghiệp hoá hoạt động của Tập thể Chính phủ và của các thành viên Chính phủ. Muốn vậy, ít nhất có 3 vấn đề then chốt đòi hỏi phải giải quyết đồng thời sau đây:

    – Thứ nhất: trong hoạt động của Bộ trưởng – Thành viên Chính phủ cần phải tách bạch vai trò chính trị (chính khách) và vai trò điều hành hành chính các hoạt động hàng ngày đối với bộ máy của Bộ ngành được giao phụ trách. Theo đó, hình thành chức danh Tổng Thư ký bộ là một công chức có thẩm quyền thay mặt Bộ trưởng trực tiếp điều hành và giải quyết các công việc hành chính hàng ngày của bộ, để Bộ trưởng tập trung vào các công việc chung của Chính phủ.

    – Thứ hai: để từng bước tách bạch chức năng hoạch định chính sách với chức năng tổ chức thực thi chính sách trong hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương, khắc phục dần sự phụ thuộc quá nhiều của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ vào các bộ, ngành trong hoạch định chính sách, xây dựng thể chế quản lý như hiện nay, thì cần phải hình thành bên cạnh Chính phủ, Thủ tướng những tổ chức tư vấn mạnh để giúp Chính phủ, Thủ tướng nghiên cứu, hoạch định những chủ trương, chính sách quan trọng trong quản lý, điều hành vĩ mô.

    – Thứ ba: tăng thêm số lượng các phiên họp định kỳ của Chính phủ. Mỗi phiên họp Chính phủ có thể từ 2 đến 3 ngày như hiện nay, nhưng ít nhất là nên có 2 phiên họp Chính phủ một tháng (thay vì như hiện nay 01 tháng một phiên). Tiến tới phải như các nước, Nội các 1 tuần họp một lần.

    2 – Để phát huy mạnh mẽ vai trò, chức năng của Thủ tướng Chính phủ với tư cách là người đứng đầu Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước, khắc phục tình trạng quyền lực hành pháp bị chia cắt theo lãnh thổ như hiện nay, và tạo cơ sở tiền đề bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của hệ thống hành chính, thì một mặt cần cải biến tính chất, vai trò của Hội đồng nhân dân các cấp theo hướng không còn là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương nữa mà chỉ còn là cơ quan tự quản của địa phương; mặt khác qu n trọng hơn là cần phải bỏ chế định Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hình thành thiết chế Chủ tịch tỉnh, Thị trưởng thành phố là người đứng đầu hành chính ở các tỉnh, thành phố do Thủ tướng bổ nhiệm, điều động và cách chức. Tương tự như vậy đối với các cấp huyện: bỏ chế độ Hội đồng nhân dân, hình thành thiết chế Chủ tịch huyện do Chủ tịch tỉnh bổ nhiệm, điều động và cách chức. Riêng đối với cấp xã, thì cần bảo đảm ở mức độ nhất định quyền tự chủ, tự quản của loại hình đơn vị hành chính này phù hợp với các giá trị truyền thống lịch sử có thể và cần thiết phải duy trì và phát huy.

    3 – Đổi mới mạnh mẽ tổ chức và hoạt động của Văn phòng Chính phủ phù hợp với tính chất, vai trò và phương thức hoạt động của Chính phủ và của Thủ tướng Chính phủ.

    Bộ máy làm việc và cán bộ giúp việc Chính phủ và Thủ tướng có những điểm giống nhau, những cũng có những chỗ khác nhau rất cơ bản. Điều này đòi hỏi phải được tính đến khi nghiên cứu đổi mới tổ chức bộ máy và cán bộ của Văn phòng Chính phủ, theo hướng nên hình thành rõ 3 bộ phận:

    – Bộ phận phục vụ các hoạt động của Tập thể Chính phủ, trước hết là chuẩn bị chương trình hoạt động của Chính phủ, chuẩn bị nội dung và tổ chức các cuộc họp của Chính phủ và thực hiện các quy trình thủ tục ra quyết định của Chính phủ;

    – Bộ phận trực tiếp giúp việc Thủ tướng có trách nhiệm giúp Thủ tướng nghiên cứu các vấn đề về chính sách và thực hiện các chức năng và trách nhiệm chỉ đạo, điều hành. Bộ phận này đòi hỏi một đội ngũ cán bộ có chất lượng cao về chính trị, có trình độ nghiên cứu đề xuất chính sách, có năng lực và kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý nhà nước.

    – Bộ phận quản trị chăm lo các điều kiện vật chất, kỹ thuật và hậu cần phục vụ các hoạt động hàng ngày của Chính phủ và Thủ tướng, các Phó Thủ tướng. Hoạt động của bộ phận này có thể từng bước xã hội hoá để nâng cao chất lượng và hiệu quả phục vụ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mối Quan Hệ Giữa Quốc Hội Và Chính Phủ Theo Pháp Luật Hiện Hành Của Việt Nam.
  • Vị Trí, Chức Năng Của Chính Phủ Trong Hiến Pháp Năm 2013, Những Điểm Mới
  • Những Nội Dung Mới Về Quốc Hội Trong Hiến Pháp Năm 2013 Và Việc Tiếp Tục Thể Chế Hóa Vào Các Đạo Luật (Gs, Ts. Trần Ngọc Đường)
  • Điểm Mới Về Vị Trí, Chức Năng Của Quốc Hội Trong Hiến Pháp Năm 2013
  • #1 Những Điểm Mới Về Quốc Hội Theo Hiến Pháp Năm 2013
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Thanh Tra Chính Phủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Định Quy Định Chức Năng Nhiệm Vụ Của Thanh Tra Chính Phủ Số 83/2012/nđ
  • Những Khó Khăn, Hạn Chế Trong Việc Thực Hiện Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Thanh Tra Chính Phủ Trong Phòng Ngừa,…
  • Ban Hành Nghị Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Hai Bộ
  • Nghị Định Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ Công Thương
  • Ban Kiểm Soát Công Ty Cổ Phần Có Những Nhiệm Vụ Quyền Hạn Gì?
  • CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA THANH TRA CHÍNH PHỦ

    Thanh tra Chính phủ là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước; thực hiện hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật.

    Thanh tra Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:

    1. Trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Thanh tra Chính phủ đã được phê duyệt và các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật khác theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

    2. Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Định hướng chương trình thanh tra hàng năm, các dự thảo quyết định, chỉ thị, các văn bản khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ và tổ chức triển khai thực hiện.

    3. Ban hành thông tư, quyết định, chỉ thị và các văn bản khác về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.

    4. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, định hướng chương trình đã được phê duyệt về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.

    5. Về thanh tra:

    a) Lập kế hoạch thanh tra của Thanh tra Chính phủ; hướng dẫn Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ (sau đây gọi tắt là Thanh tra Bộ), Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Thanh tra tỉnh) xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra;

    c) Thanh tra vụ việc khác do Thủ tướng Chính phủ giao;

    d) Kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của các kết luận thanh tra và quyết định xử lý sau thanh tra của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và của Chánh Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ, Chánh Thanh tra cấp tỉnh khi cần thiết;

    đ) Quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Bộ trưởng kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật khi được Thủ tướng Chính phủ giao; quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chánh Thanh tra Bộ, Chánh Thanh tra tỉnh kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật;

    e) Đề nghị Bộ trưởng, yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiến hành thanh tra trong phạm vi quản lý của Bộ, của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không đồng ý thì có quyền ra quyết định thanh tra, báo cáo và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về quyết định của mình;

    g) Chủ trì xử lý việc chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa cơ quan Thanh tra các Bộ; giữa Thanh tra bộ với Thanh tra tỉnh ;

    h) Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra của Thanh tra Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ;

    i) Xem xét xử lý vấn đề mà Chánh Thanh tra bộ không nhất trí với Bộ trưởng, Chánh Thanh tra tỉnh không nhất trí với Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về công tác thanh tra. Trường hợp Bộ trưởng không đồng ý với kết quả xử lý của Tổng Thanh tra Chính phủ thì Tổng Thanh tra Chính phủ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định;

    k) Kiến nghị Bộ trưởng đình chỉ việc thi hành hoặc hủy bỏ quy định do bộ mình ban hành trái với quy định của cơ quan nhà nước cấp trên, của Tổng Thanh tra Chính phủ về công tác thanh tra; trường hợp Bộ trưởng không đình chỉ hoặc không hủy bỏ văn bản đó thì trình Thủ tướng Chính phủ quyết định;

    l) Đình chỉ việc thi hành và đề nghị Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trái với quy định của cơ quan nhà nước cấp trên, của Tổng Thanh tra Chính phủ về công tác thanh tra;

    Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, ban hành quy định cho phù hợp với yêu cầu quản lý; kiến nghị đình chỉ hoặc huỷ bỏ quy định trái pháp luật phát hiện qua công tác thanh tra;

    n) Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét trách nhiệm, xử lý người thuộc quyền quản lý của Thủ tướng Chính phủ có hành vi vi phạm pháp luật phát hiện qua thanh tra hoặc không thực hiện kết luận, quyết định xử lý về thanh tra; yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức xem xét trách nhiệm, xử lý người thuộc quyền quản lý của cơ quan, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật phát hiện qua thanh tra hoặc không thực hiện kết luận, quyết định xử lý về thanh tra.

    6. Về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo:

    a) Tổ chức việc tiếp công dân; tiếp nhận, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo; giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật;

    c) Xác minh nội dung tố cáo, kết luận nội dung xác minh, kiến nghị biện pháp xử lý tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Thủ tướng Chính phủ khi được giao;

    d) Xem xét, kết luận việc giải quyết tố cáo mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết nhưng có dấu hiệu vi phạm pháp luật; trường hợp kết luận việc giải quyết tố cáo có vi phạm pháp luật thì kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, giải quyết lại;

    đ) Giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật.

    7. Về phòng, chống tham nhũng:

    a) Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn công tác thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng và phòng, chống tham nhũng trong công tác thanh tra;

    b) Thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo thẩm quyền hoặc chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong việc phát hiện hành vi tham nhũng; thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng; đôn đốc việc xử lý người có hành vi tham nhũng theo quy định của pháp luật và theo phân cấp quản lý cán bộ của Đảng và Chính phủ;

    c) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng hệ thống dữ liệu chung về phòng, chống tham nhũng;

    d) Phối hợp với Kiểm toán Nhà nước, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trong việc cung cấp, trao đổi thông tin, tài liệu, kinh nghiệm về công tác phòng, chống tham nhũng; tổng hợp, đánh giá, dự báo tình hình tham nhũng và kiến nghị chính sách, giải pháp phòng, chống tham nhũng .

    9. Yêu cầu Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo tình hình, kết quả công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.

    10. Tổng hợp, báo cáo kết quả về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Chính phủ; tổng kết kinh nghiệm về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.

    11. Thực hiện hợp tác quốc tế về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.

    12 . Tổ chức, chỉ đạo thực hiện chương trình, kế hoạch nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng.

    13. Quyết định và tổ chức thực hiện kế hoạch cải cách hành chính của Thanh tra Chính phủ theo chương trình, kế hoạch cải cách hành chính nhà nước của Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

    14. Chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành văn bản hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, biên chế của các cơ quan thanh tra nhà nước.

    15. Chỉ đạo về công tác, hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra; bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thanh tra; thực hiện việc quản lý, bổ nhiệm các ngạch công chức thanh tra theo quy định của pháp luật ; cấp thẻ thanh tra viên cho công chức, sỹ quan được bổ nhiệm vào các ngạch thanh tra viên trong toàn ngành Thanh tra ; ban hành tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra Bộ và Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra tỉnh.

    Thống nhất với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chánh Thanh tra Bộ, cơ quan ngang Bộ và Chánh Thanh tra cấp tỉnh.

    16. Quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế; cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của Thanh tra Chính phủ theo quy định của pháp luật.

    17. Quản lý và chỉ đạo hoạt động đối với các tổ chức sự nghiệp trực thuộc theo quy định của pháp luật.

    18. Quản lý tài chính, tài sản được giao và tổ chức thực hiện ngân sách được phân bổ theo quy định của pháp luật.

    19. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao hoặc theo quy định của pháp luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Thanh Tra Tỉnh Sơn La
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Cơ Quan Thanh Tra, Giám Sát Ngân Hàng
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Thanh Tra Huyện
  • Liên Hệ, Chức Năng, Nhiệm Vụ Chính Của Văn Phòng Sở
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Văn Phòng Sở
  • Vị Trí, Chức Năng Của Chính Phủ Trong Hiến Pháp Năm 2013

    --- Bài mới hơn ---

  • Thủ Tướng Chính Phủ Quyết Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Ban Quản Lý Khu Kinh Tế Vân Đồn
  • Quy Định Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bộ, Cơ Quan Ngang Bộ
  • Phân Loại Chi Phí Theo Chức Năng Hoạt Động
  • Kế Toán Quản Trị Chi Phí Trong Doanh Nghiệp Việt Nam Hiện Nay
  • Khái Niệm Chi Phí Và Phân Loại Chi Phí Trong Kế Toán Quản Trị
  • Ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta – Hiến pháp năm 1946 – để thực hiện chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt của Nhân dân và thể hiện tính thống nhất của quyền lực nhà nước, Điều 22 đã quy định “Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Nghị viện bầu ra Chính phủ – cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của toàn quốc.

    Đến Hiến pháp năm 1959, tại Điều 71 quy định “Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Với quy định này, Hiến pháp năm 1959 đã thể hiện quyền lực nhà nước tập trung vào hệ thống cơ quan dân cử. Hội đồng Chính phủ vẫn được xác định là cơ quan hành chính nhà nước, nhưng đồng thời cũng là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định tính chất chấp hành của Hội đồng Bộ trưởng trước Quốc hội, nhưng vị trí, chức năng của cơ quan này đã có sự thay đổi: “Hội đồng Bộ trưởng là Chính phủ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan chấp hành và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” (Điều 104). Các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng đều do Quốc hội bầu, bãi nhiệm và miễn nhiệm. Hội đồng Bộ trưởng không chỉ chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng Nhà nước.

    Đến năm 1992, bên cạnh việc đổi tên Hội đồng Bộ trưởng thành Chính phủ, Hiến pháp năm 1992 đã xác định lại vị trí của Chính phủ: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 109). Đến Hiến pháp năm 2013, với quy định Chính phủ là “cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội” (Điều 94), so với Hiến pháp năm 1992 vị trí của Chính phủ có 02 điểm mới đáng chú ý:

    Thứ nhất, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến của Nhà nước ta, Hiến pháp đã chính thức thừa nhận Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Cùng với các quy định: Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, quy định Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp được coi là bước tiến quan trọng trong việc tạo cơ sở hiến định nhằm cụ thể hóa nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vừa chỉ rõ Chính phủ không chỉ là cơ quan chấp hành của Quốc hội mà còn tạo cho Chính phủ có đầy đủ vị thế và thẩm quyền độc lập nhất định trong quan hệ với cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp; thực hiện sự kiểm soát đối với cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp để quyền lực nhà nước được thực hiện đúng đắn, hiệu quả vì mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước. Đồng thời cũng tạo điều kiện để Nhân dân, người chủ của quyền lực nhà nước có cơ sở để kiểm soát và đánh giá hiệu lực, hiệu quả của mỗi cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực được Nhân dân giao phó.

    Thứ hai, về vị trí tính chất pháp lý đã đặt nội dung “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” lên trước nội dung “là cơ quan chấp hành của Quốc hội”. Đây không chỉ đơn giản là việc thay đổi trật tự câu chữ mà chính là sự đề cao quyền hành pháp của Chính phủ, tạo cơ sở để xây dựng một Chính phủ phát triển, có khả năng chủ động, sáng tạo cao trong quản lý điều hành các mặt kinh tế – xã hội của đất nước; là cơ sở hiến định để xác lập trật tự trong tổ chức và hoạt động của nền hành chính quốc gia thống nhất, thông suốt, hiệu lực, kỷ cương. Theo đó, Chính phủ phải là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc hoạch định, xây dựng các chiến lược, kế hoạch phát triển, các dự án luật, pháp lệnh trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, đồng thời cũng là cơ quan thống nhất quản lý, chỉ đạo, điều hành việc thực hiện các chiến lược, kế hoạch phát triển, các dự án luật, pháp lệnh sau khi được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua trên phạm vi toàn quốc. Cùng với việc chính thức khẳng định vị trí của Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục quy định Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội.

    Quy định này đã phản ánh sự gắn bó chặt chẽ và thống nhất trong việc thực hiện quyền lập pháp và quyền hành pháp của Nhà nước ta. Là cơ quan chấp hành của Quốc hội (cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất), Chính phủ không chỉ có nhiệm vụ tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước (khoản 1 Điều 96), báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước mà còn có trách nhiệm giải trình trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Thông qua xem xét báo cáo công tác của Chính phủ, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý, điều hành của Chính phủ.

    Còn Chính phủ có thẩm quyền đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; trình dự án luật, dự án ngân sách nhà nước và các dự án khác trước Quốc hội; trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội (khoản 2 Điều 96); ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các văn bản trái pháp luật theo quy định của luật (Điều 100); thống nhất quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thi hành lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân dân (khoản 3 Điều 96); bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội (khoản 6 Điều 96); tổ chức đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước; quyết định việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ, trừ điều ước quốc tế trình Quốc hội phê chuẩn quy định tại khoản 14 Điều 70 (khoản 7 Điều 96)…

    Cùng với việc đổi mới quy định về vị trí của Chính phủ, Hiến pháp năm 2013 đã sửa đổi, bổ sung các quy định về cơ chế thực hiện quyền lực, phù hợp với tính chất, vai trò của từng thiết chế: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Đối với Chính phủ, Hiến pháp khẳng định nguyên tắc Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số, đồng thời xác lập mối quan hệ trách nhiệm giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Quốc hội về hoạt động của Chính phủ và những nhiệm vụ được giao; báo cáo công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước (khoản 2 Điều 95).

    Cùng đó, Hiến pháp cũng quy định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ đối với công tác của Chính phủ và việc xây dựng chính sách, tổ chức thi hành pháp luật, về hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước: Thủ tướng Chính phủ “lãnh đạo công tác của Chính phủ; lãnh đạo việc xây dựng chính sách và tổ chức thi hành pháp luật”, “lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính từ trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia”, “đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ”; bổ sung thẩm quyền “quyết định và chỉ đạo việc đàm phán, chỉ đạo việc ký, gia nhập điều ước quốc tế thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên” (khoản 5 Điều 98) v.v…

    Về mối quan hệ phối hợp, kiểm soát quyền lực giữa Chính phủ với Tòa án nhân dân, Hiến pháp năm 2013 không có quy định trực tiếp về cơ chế phối hợp, kiểm soát quyền lực giữa Chính phủ với Tòa án nhân dân. Tuy nhiên, để thực hiện nhiệm vụ “cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Chính phủ có trách nhiệm quản lý về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và chế độ công vụ, công chức (thống nhất quản lý biên chế công chức, biên chế sự nghiệp và quản lý cán bộ, công chức, viên chức, tổ chức thực hiện chế độ tiền lương, phụ cấp và các chế độ chính sách khác đối với cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước, trong đó có Tòa án nhân dân, từ trung ương đến địa phương; thống nhất quản lý việc sử dụng ngân sách nhà nước, công sở, công sản và thực hiện chế độ tài chính theo quy định của pháp luật).

    Đồng thời, phối hợp với Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp, pháp luật, giữ vững kỷ cương pháp luật nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội và các chủ trương, chính sách của Nhà nước; đề nghị Tòa án nhân dân xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án nếu thấy bản án, quyết định đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Về phía Tòa án nhân dân, là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, Tòa án nhân dân thực hiện chức năng kiểm soát việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp thông qua nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Hiến pháp và luật. Cụ thể, Tòa án nhân dân có thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước (hành pháp) và cá nhân có thẩm quyền của các cơ quan đó; phán quyết về các vi phạm quyền con người; kiến nghị sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, mâu thuẫn với các văn bản pháp luật khác hoặc không phù hợp với thực tiễn; kiến nghị cơ quan, tổ chức áp dụng khắc phục nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm hoặc vi phạm pháp luật tại cơ quan, tổ chức đó./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Định Vị Trí, Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Bộ Trưởng Trong Cơ Cấu Chính Phủ
  • Quản Trị Văn Phòng Là Gì?
  • 5 Chức Năng Của Phần Mềm Quản Lý Nhân Sự Hrm
  • 11 Chức Năng Quản Lý Nhân Sự Thúc Đẩy Doanh Nghiệp Phát Triển
  • Erp Phần Mềm Hỗ Trợ Quản Lý Nhân Sự Và Tính Lương Hiệu Quả
  • Thẩm Quyền Của Chính Phủ Theo Hiến Pháp 2013 Và Luật Tổ Chức Chính Phủ 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiểu Luận Luật Hiến Pháp
  • Vai Trò Và Đặc Điểm Hoạt Động Của Đại Biểu Quốc Hội
  • Bài Giảng Luật Hiến Pháp Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Vị Trí, Chức Năng Của Tòa Án Nhân Dân Trong Hiến Pháp Năm 2013
  • Vị Trí Pháp Lý Của Quốc Hội Trong Mối Quan Hệ Với Chính Phủ, Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Và Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao
  • Ngày đăng: 23/12/2017 03:17

    Thẩm quyền của một cơ quan nhà nước là một khái niệm mang tính hệ thống, bao gồm các nghĩa vụ (trước nhà nước) và các quyền (đối với các đối tượng quản lý) thực hiện các nhiệm vụ, chức năng, các vấn đề nhất định… và các quyền hạn cụ thể để thực hiện các quyền và nghĩa vụ chung đó (như: quyền ban hành văn bản pháp luật, thực hiện các biện pháp cưỡng chế, các hoạt động mang tính tổ chức kỹ thuật…).

    So với Hiến pháp năm 1992, thẩm quyền của Chính phủ theo Hiến pháp năm 2013 có một số điểm mới chủ yếu sau đây:

    1) Về đơn vị hành chính: bỏ quyền hạn quyết định việc điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương vì quyền hạn này đã được Hiến pháp 2013 trao cho UBTVQH (khoản 8 Điều 74); thay vào đó, bổ sung quyền hạn trình UBTVQH quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh (khoản 4); ngoài ra bổ sung quyền hạn trình Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.

    2) Bổ sung tại khoản 2 quyền hạn đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, UBTVQH quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều này. Đây là quyền hạn đặc trưng để thực hiện quyền hành pháp.

    3) Bổ sung tại khoản 4 quyền hạn trình Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ. Trước đây quyền hạn này Hiến pháp 1992 trao cho Thủ tướng Chính phủ.

    Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 95 Hiến pháp 2013 đã quy định nguyên tắc “Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số”, nên mọi quyết định thuộc thẩm quyền của Chính phủ (được hiểu là “thẩm quyền chung của Chính phủ”), về nguyên tắc, đều được quyết định theo đa số trên phiên họp toàn thể của Chính phủ. Tuy nhiên, thực tế lại không phản ánh đúng quy định này. Chỉ đơn cử: để thực hiện quy định tại khoản 1, 6 Điều 96 Hiến pháp 2013 thì không chỉ Chính phủ (nói chung), bao gồm cả tập thể Chính phủ, Thủ tướng và mọi thành viên khác, mà cả hệ thống bộ máy hành chính, phải chung sức thực hiện.

    1. Đề nghị của Chính phủ về xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết trình Quốc hội, UBTVQH; các dự án luật, nghị quyết trình Quốc hội, dự án pháp lệnh, nghị quyết trình UBTVQH.

    2. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội dài hạn và hàng năm; dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương hằng năm; quyết toán ngân sách nhà nước.

    3. Tình hình kinh tế – xã hội hằng tháng, 06 tháng, cả năm và những nhiệm vụ, giải pháp chỉ đạo, điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

    4. Cơ cấu tổ chức của Chính phủ; việc thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ; việc thành lập, sáp nhập, giải thể cơ quan thuộc Chính phủ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.

    5. Chương trình công tác của Chính phủ hằng năm; kiểm điểm công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và việc thực hiện Quy chế làm việc của Chính phủ.

    7. Những vấn đề cần thiết khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. (Điều 4).

    2. Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ

    Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ được quy định tại Điều 98 Hiến pháp năm 2013:

    Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

    1. Lãnh đạo công tác của Chính phủ; lãnh đạo việc xây dựng chính sách và tổ chức thi hành pháp luật;

    2. Lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia;

    3. Trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thứ trưởng, chức vụ tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; phê chuẩn việc bầu, miễn nhiệm và quyết định điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

    4. Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, UBND, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị UBTVQH bãi bỏ;

    5. Quyết định và chỉ đạo việc đàm phán, chỉ đạo việc ký, gia nhập điều ước quốc tế thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà XHCN Việt Nam là thành viên;

    6. Thực hiện chế độ báo cáo trước Nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền giải quyết của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.

    Trong nội dung điều này có thể thấy đa phần là quyền hạn cụ thể (chữ in nghiêng), còn lại là các quyền và nghĩa vụ chung (chữ in đứng) và như vậy là phù hợp vì cá nhân Thủ tướng cần được trao quyền giải quyết những công việc có tính chất cấp bách và cụ thể, ngoài những quyền hạn đặc trưng cho vai trò của người đứng đầu Chính phủ. Quy định của Khoản 6 Điều này nhằm phát huy tính dân chủ, công khai, thắt chặt quan hệ giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với Nhân dân, tuy nhiên, đáng tiếc việc thực hiện các quy định này trên thực tế không thật sự rõ ràng.

    Quy định của Hiến pháp năm 2013 cho thấy sự tăng cường vai trò của Thủ tướng Chính phủ. Hiến pháp bổ sung thêm cho Thủ tướng quyền quyết định và chỉ đạo việc đàm phán, chỉ đạo việc ký, gia nhập điều ước quốc tế thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà XHCN Việt Nam là thành viên (khoản 5 Điều 98).

    Bên cạnh đó, Luật năm 2022 còn trao cho Thủ tướng Chính phủ “quyết định các vấn đề khi còn có ý kiến khác nhau giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ” (khoản 1 điểm c, Điều 28); “Trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định giao quyền Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong trường hợp khuyết Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định giao quyền Chủ tịch UBND cấp tỉnh theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong trường hợp khuyết Chủ tịch UBND cấp tỉnh” (khoản 5 Điều 28);

    Ngoài ra, Quy chế năm 2022 quy định: “Trong trường hợp xét thấy cần thiết do tính chất quan trọng, cấp bách của công việc, Thủ tướng Chính phủ trực tiếp chỉ đạo giải quyết công việc thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh” (điểm e khoản 2, Điều 5). Quy định này xuất phát từ tính chất của vị trí, vai trò chỉ đạo, điều hành hoạt động hành chính, bảo đảm sự thông suốt, kịp thời trong hoạt động hành chính của Thủ tướng Chính phủ.

    Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, quy định về thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong Hiến pháp năm 2013, Luật năm 2022 còn một số hạn chế sau đây:

    1) Hiến pháp năm 2013 không phân định rõ thẩm quyền chung của Chính phủ với thẩm quyền của tập thể Chính phủ, do đó, nếu đặt Điều 96 Hiến pháp 2013 bên cạnh Điều 98 (mà không so sánh nội dung), thì dường như thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ hoàn toàn độc lập với thẩm quyền chung của Chính phủ. Thực tế, như đã phân tích, thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ chỉ là để thực hiện thẩm quyền chung của Chính phủ, cũng như thẩm quyền của tập thể Chính phủ, bộ trưởng (với tư cách thủ trưởng bộ), UBND…

    2) Khoản 2 Điều 5 Luật năm 2022 về “Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Chính phủ” quy định: “Phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ…”. Quy định như vậy vô hình chung đã xếp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ vào một thiết chế có chung thẩm quyền. Trong khi đó, Chính phủ có “thẩm quyền chung” và có hình thức hoạt động quan trọng của tập thể Chính phủ (gọi là “thẩm quyền của tập thể Chính phủ”), còn Thủ tướng Chính phủ có “thẩm quyền riêng”.

    Đúng ra, mục đích của quy định nêu trên là nhằm phân định rõ thẩm quyền giữa hình thức hoạt động của tập thể Chính phủ với hình thức hoạt động của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, UBND… trong thực hiện thẩm quyền của Chính phủ nói chung, tức là thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhánh hành pháp, của quản lý nhà nước. Vì vậy, để khắc phục hạn chế này, cần sửa đổi khoản 2 Điều 5 Luật năm 2022 như sau: “Phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giữa tập thể Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với tư cách là thủ trưởng bộ” (vì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với tư cách là thành viên Chính phủ thì không có thẩm quyền riêng của mình).

    3) Bên cạnh sự cần thiết khôi phục lại Điều 19 Luật năm 2001 về những vấn đề thuộc thẩm quyền chung của Chính phủ phải được bàn bạc tập thể và biểu quyết theo đa số trên phiên họp Chính phủ, một vấn đề quan trọng khác là, Luật năm 2022 cần bổ sung quy định về vai trò “lấp lỗ hổng về thẩm quyền” của Thủ tướng Chính phủ đó là: “Thủ tướng Chính phủ có quyền giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ, trừ những vấn đề phải được giải quyết trên phiên họp của Chính phủ theo Điều…”.

    Cần lưu ý rằng, các Phó Thủ tướng Chính phủ không có thẩm quyền “riêng”, mà chỉ là người giúp Thủ tướng Chính phủ, được Thủ tướng Chính phủ phân công phụ trách một số lĩnh vực công tác. Các bộ trưởng, với tư cách là thủ trưởng của bộ thì bộ trưởng có có thẩm quyền riêng, nhưng với tư cách là thành viên Chính phủ cũng không có thẩm quyền “riêng”. Nói cách khác, ngoài phiên họp của tập thể Chính phủ, thì gánh nặng thực hiện thẩm quyền của Chính phủ (nói chung) được trao cho Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ.

    Tóm lại, để phân định thẩm quyền hợp lý trong nhánh hành pháp, quản lý nhà nước, cần phải có các sửa đổi sau đây:

    Thứ nhất, quy định về thẩm quyền chung của Chính phủ (không nên ghi là “thẩm quyền của Chính phủ” vì dễ nhầm lẫn với bộ phận thẩm quyền chung của Chính phủ phải được bàn bạc tập thể và biểu quyết theo đa số), tức là chỉ thay đổi tên điều, không bàn về nội dung; điều này thực chất là quy định về tất cả những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của quyền hành pháp, quản lý nhà nước.

    Thứ ba, quy định về thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, theo đó: “Thủ tướng Chính phủ có quyền giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền chung của Chính phủ, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của tập thể Chính phủ”. Đồng thời, quy định Thủ tướng Chính phủ có quyền giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của bộ trưởng, UBND, Chủ tịch UBND cấp tỉnh nhưng chỉ trong trường hợp các chủ thể này không giải quyết được hay giải quyết không kịp thời, không đạt yêu cầu và sau đó báo cáo Chinh phủ trong phiên họp gần nhất.

    PGS, TS. Nguyễn Cửu Việt, Nguyên Giảng viên trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

    Vì Chính phủ vốn là một tập thể, do đó có thể lập luận rằng, “thẩm quyền của tập thể Chính phủ” chính là “thẩm quyền của Chính phủ”.

    Theo: nclp.org.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vị Trí , Vai Trò, Chức Năng Của Chính Phủ Theo Hiến Pháp 2013
  • Quốc Hội Là Cơ Quan Đại Biểu Cao Nhất Của Nhân Dân, Cơ Quan Quyền Lực Nhà Nước Cao Nhất Của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Trước Thềm Kỳ Họp Đại Hội Đồng Lhq: ‘việt Nam Được Đánh Giá Là Một Đối Tác Mạnh Của Lhq’
  • Câu Nào Sau Đây Sai Khi Nói Về Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc
  • Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc Kỷ Niệm Ngày Liên Hợp Quốc
  • Chức Năng Của Phòng Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Phòng Tổ Chức Hành Chính
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Sơ Đồ Tổ Chức Phòng Hành Chính Nhân Sự
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Phòng Hành Chính
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Phòng Hành Chính Tổng Hợp
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Phòng Tổ Chức Hành Chính
  • Với mỗi DN, phòng hành chính là bộ phận không thể thiếu. Tuy nhiên rất nhiều người thực sự vẫn chưa hiểu được hết những công việc nào thuộc chức năng của phòng hành chính.

    • Tiếp nhận và xử lý các công việc nội bộ trong DN.
    • Tiếp khách, xử lý các công văn khách hàng gửi tới
    • Tổ chức hội thảo, hội nghị công ty
    • Soạn thảo các văn bản
    • Lưu trữ, phát hành văn bản, con dấu có tính chất pháp lý và chịu trách nhiệm trước ban giám đốc và pháp luật về tính pháp lý.
    • Lên kế hoạch tuyển dụng và tổ chức tuyển dụng nhân sự
    • Giải quyết các chế độ cho người lao động theo đúng quy định của công ty và luật lao động
    • Tổ chức khen thưởng, phê bình
    • Tổ chức các lớp đào tạo năng lực cho các nhân viên
    • Đảm bảo an toàn lao động, cháy nổ, vệ sinh trong toàn công ty
    • Kiểm tra và lên kế hoạch tập huấn về việc bảo hộ lao động
    • Tổ chức khám, kiểm tra sức khỏe thường xuyên cho người lao động
    • Bảo vệ an ninh trật tự, tài sản của công ty và CBCNV
    • Là lực lượng chính trong lực lượng xung kích phòng chống thiên tai, hỏa hoạn.
    • Quản lý nhân lực thực hiện theo luật nghĩa vụ quân sự.

    Đảm nhận toàn bộ các công tác về an toàn thực phẩm, văn phòng phẩm…

    Chấp hành thực hiện các công việc đột xuất theo chỉ thị của cấp trên.

    Để hiểu rõ và chi tiết hơn về công việc phòng hành chính các bạn hãy tham khảo khóa học: ” Nghiệp vụ Hành chính – Văn phòng và Quản lý nhân sự từ A-Z”

    Khóa học sẽ giúp bạn:

    • Nắm được toàn bộ các kiến thức về pháp luật thuế TNCN hiện hành và chính sách về lao động – tiền lương
    • Nắm vững các kỹ năng soạn thảo văn bản hành chính, các quy định về thể thức văn bản hành chính, kỹ thuật trình bày, bố cục của các văn bản hành chính, cũng như thành thạo các thao tác căn chỉnh, định dạng và trình bày các văn bản hành chính một cách chuyên nghiệp nhất.
    • Nắm được các kỹ năng về quản lý và tuyển dụng nhân sự
    • Biết cách xây dựng nội quy lao động, quy chế lương, thưởng trong doanh nghiệp và nắm rõ quy trình, các bước khai trình, lập báo cáo sử dụng lao động định kỳ, cách xây dựng, đăng ký thang bảng lương cũng như là thỏa ước lao động tập thể, đăng ký thỏa ước lao động tập thể.
    • Hiểu về phần mềm kê khai bảo hiểm xã hội (KBHXH) và hệ thống nộp hồ sơ bảo hiểm điện tử của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
    • Biết cách đăng ký mã số thuế TNCN, đăng ký mã số thuế người phụ thuộc và cách tính toán thuế TNCN
    • Đặc biệt sẽ có thể tự tạo ra được các file ứng dụng Excel trong quản lý Nhân sự – Chấm công – Tiền lương và trong quản lý cấp phát đồ dùng văn phòng. Ngoài ra còn nắm được và thành thạo các kỹ năng văn phòng cần thiết khác như: Outlook, gmail, google driver, google form, short link…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mô Tả Công Việc Phòng Kinh Doanh
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Các Phòng Ban
  • Bạn Có Biết Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Kinh Doanh Là Gì?
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Kinh Doanh Là Gì Trong Thế Giới Phẳng?
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Vai Trò Phòng Kinh Doanh
  • Vị Trí , Vai Trò, Chức Năng Của Chính Phủ Theo Hiến Pháp 2013

    --- Bài mới hơn ---

  • Thẩm Quyền Của Chính Phủ Theo Hiến Pháp 2013 Và Luật Tổ Chức Chính Phủ 2022
  • Tiểu Luận Luật Hiến Pháp
  • Vai Trò Và Đặc Điểm Hoạt Động Của Đại Biểu Quốc Hội
  • Bài Giảng Luật Hiến Pháp Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Vị Trí, Chức Năng Của Tòa Án Nhân Dân Trong Hiến Pháp Năm 2013
  • Vị Trí , Vai Trò, Chức Năng Của Chính Phủ Theo Hiến Pháp 2013, Thực Tế Quyền Và Nghĩa Vụ Cơ Bản Của Công Dân Theo Hiến Pháp 2013, Tiểu Luận Hiến Pháp:bảo Đảm Thục Hiện Văn Hóa Giáo Dục Của Con Người Trong Hiến Pháp 2013, Chế Độ Chính Trị Trong Hiến Pháp 2013, Các Chế Định Chính Trị Cơ Bản Của Hiến Pháp 2013, Sống Và Làm Việc Theo Hiến Pháp Và Pháp Luật, Pháp Luật Về Tuyển Dụng Viên Chức ở Vn Hiện Nay Trạg Và Giải Pháp, Bản Dự Thảo Hiến Pháp Năm 2013, Một Số Chế Định Cơ Bản Của Hiến Pháp 2013, Toàn Văn Hiến Pháp 2013, Tờ Trình Hiến Pháp 2013, Hiến Pháp Năm 2013 Bổ Sung, Đề Cương Hiến Pháp 2013, Câu 9 Bài Thi Tìm Hiểu Hiến Pháp Năm 2013, Các Chế Định Cơ Bản Hiến Pháp Năm 2013, Các Nội Dung Sửa Đổi Của Hiến Pháp 2013, Bản Dự Thảo Hiến Pháp 2013, Nội Dung Sửa Đổi Hiến Pháp Năm 2013, Dự Thảo Hiến Pháp 2013, Nội Dung Hiến Pháp Sửa Đổi 2013, Các Chế Định Cơ Bản Của Hiến Pháp 2013, Nội Dung Sửa Đổi Của Hiến Pháp 2013, Tờ Khai Yêu Cầu Cấp Phiếu Lý Lịch Tư Pháp (theo Mẫu 03/2013/tt-lltp), Các Chế Định Trong Hiến Pháp Năm 2013, Hướng Dẫn Thi Hành Hiến Pháp 2013, Dự Thảo Hiến Pháp 1992 Sửa Đổi Năm 2013, Những Nội Dung Sửa Đổi Của Hiến Pháp 2013, Điều 4 Dự Thảo Hiến Pháp 2013, Nội Dung Sửa Đổi Bổ Sung Hiến Pháp 2013, Nội Dung Hiến Pháp 1992 Sửa Đổi Bổ Sung 2013, Quyền Con Người Trong Hiến Pháp 2013, Quyền Sống Trong Hiến Pháp 2013, Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Dân Trong Hiến Pháp 2013, Tiểu Luận Về Quyền Con Người Trong Hiến Pháp 2013, Mẫu Di Chúc Theo Quy Định Của Pháp Luật, Vụ án Về Người Lập Di Sản Thừa Kế Theo Di Chúc Khi Bị Mất Năng Lực Hành Vi Dân Sự, – Thực Hiện Đổi Mới Căn Bản Khi Thực Hiện Một Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Một Đơn Vị Trong Trường Đh., Ngữ Pháp Chức Năng, Thừa Kế Thế Vị Theo Pháp Luật Việt Nam Hiện Hành, Dẫn Luận Ngữ Pháp Chức Năng, Ngữ Pháp Chức Năng Hoàng Văn Vân, Vị Trí Pháp Lí, Chức Năng Của Quốc Hôj, Phân Tích 6 Chức Năng Của Marketing Hiện Đại, Bien Phap To Chuc Day Hoc Nhom Theo Mo Hinh Truong Hoc Moi Viet Nam, Tình Huống Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Đất Đai Theo Luật Đất Đai 2013, Vị Trí Pháp Lí Và Chức Năng Của Chủ Tịch Nước, Module 19 Tổ Chức Hoạt Động Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non Theo Thong Tư 12, Module 19 Tổ Chức Hoạt Động Giáo Dục Kỹ Năng Sống Theo Thông Tư 12, Thực Tế Hoạt Động Của ủy Ban Nhân Dân Theo Qui Định Của Pháp Luật Hiện Hành, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Và Làm Theo Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh, Đề án Đổi Mới Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Tổ Chức Thi Hành Pháp Luật, Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Số 16/nq-cp Ngày 14/01/2013 Của Chính Phủ, Công Tác Lãnh Đạo Thực Hiện Chủ Chương Của Đảng , Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Và Thực Hien Chỉ, Công Tác Lãnh Đạo Thực Hiện Chủ Chương Của Đảng , Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Và Thực Hien Chỉ, Cong Tac Lanh Đạo Thực Hiện Chủ Truong Của Đang Chính Sach Pháp Luạt Nhà Nươc Va Thực Hiện Chỉ Thj N, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên Hiện Nay, Biện Pháp Tổ Chức Thực Hiện Xây Dựng Thôn Bản Vững Mạnh, Trình Bày So Sánh Về Vị Trí Pháp Lý Và Chức Năng Cơ Bản Của Quốc Hội, Chủ Tịch Nước, Phương Thức Giải Quyết Các Tranh Chấp Kinh Tế Theo Qui Định Của Pháp Luật Hiện Nay, Biện Pháp Phát Triển Kỹ Năng Hợp Tác Cho Trẻ Mẫu Giáo 4-5 Tuổi Trong Trò Chơi Đóng Vai Theo Chủ Đề, Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Chủ Trương Đường Lối Thoát, Theo Em Chính Sách Văn Hóa Giáo Dục Của Pháp, Báo Cáo Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết Số 16/nq-cp Ngày 14/01/2013 Của Chính Phủ Ban Hành Chương Trìn, Giai Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thực Hiện Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Trong Quân Đội, 5 Chức Năng Cơ Bản Của Văn Bản Hành Chính, Chức Năng Cơ Bản Của Hệ Thống Tài Chính, Hãy Kể Tên Và Chức Năng Các Bộ Phận Chính Của Máy Tính, Chức Năng Của Hành Chính Nhà Nước, Chức Năng Chính Của Hệ Điều Hành, Phương Trình Hóa Học Nào Sau Đây Thể Hiện Cách Điều Chế Cu Theo Phương Pháp Th, Thuc Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Hội Họp, Tổ Chức Sự Kiện Cấp Phòng, Hướng Dẫn Thực Hiện Luật Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương, Văn Bản Hướng Dẫn Thực Hiện Luật Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương, Báo Cáo Sơ Kết 03 Năm Thực Hiện Luật Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương Năm 2022, Bài Thu Hoạch Biện Pháp Tổ Chức Thực Hiện Xây Dựng Thôn Bản Vững Mãnh Mạnh , Hướng Dẫn Thực Hiện Chế Độ Phụ Cấp Chức Vụ Lãnh Đạo Đối Với Cán Bộ Công Chức Viên Chức, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Luật Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương Năm 2022, Bài Báo Cáo Về Cơ Cấu Tổ Chức, Chức Năng Nhiệm Vụ Và Hoạt Động Của Tổ Chức Hành Nghề Công Chứng, Việc Thực Hiện Chính Sách, Pháp Luật Về Phòng, Chống Xâm Hại Trẻ Em, Văn Bản Pháp Luật Nào Điều Chỉnh Quá Trình Ký Kết Thực Hiện Và Giải Quyết , Đề Xuất Kiến Nghị Những Giải Pháp Để Tổ Chức Thực Hiện Nghị Quyết Trong Thời Gian Tới, Đề Xuất Kiến Nghị Các Giải Pháp Tổ Chức Thực Hiện Nghị Tư 5 Khóa 12 Tại Cơ Quan Trường Thcs Quyết Tr, Uyển Dụng Và Bổ Nhiệm Chính Bạn Làm Công Chức Phụ Trách Mảng Tư Pháp – Hộ Tịch Tại ủy Ban Nhân Dân C, Uyển Dụng Và Bổ Nhiệm Chính Bạn Làm Công Chức Phụ Trách Mảng Tư Pháp – Hộ Tịch Tại ủy Ban Nhân Dân C, Nâng Cao Hiệu Năng Chuyển Giao Trong Mạng Mobile Ip, 2013, Đơn Đăng Ký Dự Tuyển Viên Chức Theo Mẫu Số 01 Ban Hành Kèm Theo Thông Tư Số 15, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Tài Liệu Tiểu Luận Lớp Bồi Dưỡng Theo Tiêu Chuẩn Chức Danh Nghề Nghiệp Bác Sĩ Chính Hạng Ii, 29/2013/nĐ-cp Ngày 08 Tháng 4 Năm 2013 Của Chính Phủ Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Nghị Định Số 9, 29/2013/nĐ-cp Ngày 08 Tháng 4 Năm 2013 Của Chính Phủ Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Nghị Định Số 9, Nghị Định Số 78/2013/nĐ-cp Ngày 17 Tháng 7 Năm 2013 Của Chính Phủ Về Minh Bạch Tài Sản Thu Nhập, Nghị Định Số 81/2013/nĐ-cp Ngày 19 Tháng 7 Năm 2013 Của Chính Phủ, Nghị Định 81/2013/nĐ-cp Ngày 19/7/2013 Của Chính Phủ, Công Tác Lãnh Đạo Thực Hieenjchur Trương Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Nhà Nwowcsvaf Thực Hiện Chỉ T, Cong Tác Lanh Đao Thuc Hiện Chu Trường Cua Đảng Chinh Sách Pháp Luật Của Nha Nước Trong Cong Tác Gia, Báo Cáo Sơ Kết 3 Năm Thực Hiện Cuôc Vận Động Phát Huy Truền Thống, Công Hiến Tài Năng, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Đo Lường Sự Hài Lòng Của Người Dân, Tổ Chức Đối Với Sự Phục Vụ Của Cơ Quan, Đơn Vị Có Chức Năng Giải, Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Cơ Cấu Tổ Chức Của Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam, Báo Cáo Sơ Kết Thực Hiện Cuộc Vận Động Phát Huy Truyền Thống, Cống Hiến Tài Năng, Xứng Danh Bộ Đội C,

    Vị Trí , Vai Trò, Chức Năng Của Chính Phủ Theo Hiến Pháp 2013, Thực Tế Quyền Và Nghĩa Vụ Cơ Bản Của Công Dân Theo Hiến Pháp 2013, Tiểu Luận Hiến Pháp:bảo Đảm Thục Hiện Văn Hóa Giáo Dục Của Con Người Trong Hiến Pháp 2013, Chế Độ Chính Trị Trong Hiến Pháp 2013, Các Chế Định Chính Trị Cơ Bản Của Hiến Pháp 2013, Sống Và Làm Việc Theo Hiến Pháp Và Pháp Luật, Pháp Luật Về Tuyển Dụng Viên Chức ở Vn Hiện Nay Trạg Và Giải Pháp, Bản Dự Thảo Hiến Pháp Năm 2013, Một Số Chế Định Cơ Bản Của Hiến Pháp 2013, Toàn Văn Hiến Pháp 2013, Tờ Trình Hiến Pháp 2013, Hiến Pháp Năm 2013 Bổ Sung, Đề Cương Hiến Pháp 2013, Câu 9 Bài Thi Tìm Hiểu Hiến Pháp Năm 2013, Các Chế Định Cơ Bản Hiến Pháp Năm 2013, Các Nội Dung Sửa Đổi Của Hiến Pháp 2013, Bản Dự Thảo Hiến Pháp 2013, Nội Dung Sửa Đổi Hiến Pháp Năm 2013, Dự Thảo Hiến Pháp 2013, Nội Dung Hiến Pháp Sửa Đổi 2013, Các Chế Định Cơ Bản Của Hiến Pháp 2013, Nội Dung Sửa Đổi Của Hiến Pháp 2013, Tờ Khai Yêu Cầu Cấp Phiếu Lý Lịch Tư Pháp (theo Mẫu 03/2013/tt-lltp), Các Chế Định Trong Hiến Pháp Năm 2013, Hướng Dẫn Thi Hành Hiến Pháp 2013, Dự Thảo Hiến Pháp 1992 Sửa Đổi Năm 2013, Những Nội Dung Sửa Đổi Của Hiến Pháp 2013, Điều 4 Dự Thảo Hiến Pháp 2013, Nội Dung Sửa Đổi Bổ Sung Hiến Pháp 2013, Nội Dung Hiến Pháp 1992 Sửa Đổi Bổ Sung 2013, Quyền Con Người Trong Hiến Pháp 2013, Quyền Sống Trong Hiến Pháp 2013, Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Dân Trong Hiến Pháp 2013, Tiểu Luận Về Quyền Con Người Trong Hiến Pháp 2013, Mẫu Di Chúc Theo Quy Định Của Pháp Luật, Vụ án Về Người Lập Di Sản Thừa Kế Theo Di Chúc Khi Bị Mất Năng Lực Hành Vi Dân Sự, – Thực Hiện Đổi Mới Căn Bản Khi Thực Hiện Một Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Một Đơn Vị Trong Trường Đh., Ngữ Pháp Chức Năng, Thừa Kế Thế Vị Theo Pháp Luật Việt Nam Hiện Hành, Dẫn Luận Ngữ Pháp Chức Năng, Ngữ Pháp Chức Năng Hoàng Văn Vân, Vị Trí Pháp Lí, Chức Năng Của Quốc Hôj, Phân Tích 6 Chức Năng Của Marketing Hiện Đại, Bien Phap To Chuc Day Hoc Nhom Theo Mo Hinh Truong Hoc Moi Viet Nam, Tình Huống Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Đất Đai Theo Luật Đất Đai 2013, Vị Trí Pháp Lí Và Chức Năng Của Chủ Tịch Nước, Module 19 Tổ Chức Hoạt Động Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non Theo Thong Tư 12, Module 19 Tổ Chức Hoạt Động Giáo Dục Kỹ Năng Sống Theo Thông Tư 12, Thực Tế Hoạt Động Của ủy Ban Nhân Dân Theo Qui Định Của Pháp Luật Hiện Hành, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Và Làm Theo Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quốc Hội Là Cơ Quan Đại Biểu Cao Nhất Của Nhân Dân, Cơ Quan Quyền Lực Nhà Nước Cao Nhất Của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Trước Thềm Kỳ Họp Đại Hội Đồng Lhq: ‘việt Nam Được Đánh Giá Là Một Đối Tác Mạnh Của Lhq’
  • Câu Nào Sau Đây Sai Khi Nói Về Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc
  • Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc Kỷ Niệm Ngày Liên Hợp Quốc
  • Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100