Top 19 # Xem Nhiều Nhất Chức Năng Giao Tiếp Trong Văn Học / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Chức Năng Giao Tiếp Trong Tâm Lý / 2023

Giao tiếp là một quá trình đa cấp phức tạp trong việc xây dựng mối quan hệ giữa con người. Không ai sẽ có một mong muốn để đặt câu hỏi về thực tế rằng truyền thông liên tục được kết nối với việc trao đổi thông tin, sự hiểu biết và nhận thức giữa các đối thoại. Các nhà tâm lý học tin rằng tầm quan trọng và nhu cầu của một người trong giao tiếp là điều kiện không thể thiếu cho sự hình thành và phát triển của cá nhân.

Như bạn đã biết, các chức năng giao tiếp trong tâm lý học rất nhiều, chúng mang các tải ngữ nghĩa khác nhau, nhưng mục đích luôn luôn là tương tự – tương tác với mọi người.

Các chức năng chính của truyền thông trong tâm lý học:

Chức năng giao tiếp của truyền thông.

Chức năng nhận thức của giao tiếp.

Chức năng tâm lý của giao tiếp.

Chức năng thông tin liên lạc.

Chức năng giao tiếp sáng tạo.

Các tính năng chính

Phổ biến nhất, ở cấp độ bản năng được sử dụng là chức năng giao tiếp của truyền thông . Tải trọng ngữ nghĩa của hàm là chuyển giao các kỹ năng, kiến ​​thức, kỹ năng của một người giữa các đối thoại. Một người tìm kiếm không chỉ để chia sẻ thông tin, mà còn để đảm bảo rằng người đối thoại hiểu nó.

Chức năng thông tin của truyền thông , theo các nhà lý thuyết, bao gồm trong việc truyền tải thông điệp bằng miệng.

Chức năng giao tiếp phi tiêu chuẩn và sáng tạo nhất là khi tương tác (tạo và phát triển dự án, tìm giải pháp mới hoặc viết bài thi dài hạn và bằng tốt nghiệp), mọi người xuất hiện một cái gì đó mới mẻ, độc đáo.

Từ bài viết bạn đã học về các chức năng cơ bản của giao tiếp trong tâm lý học, bây giờ khi bạn tiếp xúc với mọi người, bạn, nhớ chúng, sẽ có thể nhận được nhiều lợi ích hơn, cảm xúc tích cực và sự hài lòng. Hãy nhớ các chức năng giao tiếp, họ chắc chắn sẽ giúp bạn tìm thấy các điểm liên lạc với người đối thoại nhanh hơn và hiệu quả hơn.

Related Articles

Our users choice

Useful and amazing

Luận Văn: Kỹ Năng Giao Tiếp Của Học Sinh Trung Học, Hay, 9Đ / 2023

, ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Download luận văn thạc sĩ ngành tâm lí học với đề tài: Thực trạng kỹ năng giao tiếp bạn bè của học sinh lứa tuổi trung học cơ sở trường Vừa học- Vừa làm 15-5 Thành phố Hồ Chí Minh

1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thu Hà LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC Thành phố Hồ Chí Minh- 2012

2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thu Hà Chuyên ngành : Tâm lý học Mã số : 60 31 80 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. ĐỖ HẠNH NGA Thành phố Hồ Chí Minh- 2012

3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong một công trình nào khác. Tác giả Nguyễn Thu Hà

4. LỜI CẢM ƠN Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến TS Đỗ Hạnh Nga, người đã nhiệt tình động viên, khuyến khích, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô ở trường Đại học Sư phạm, Khoa Tâm lý- Giáo dục đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi được học tập và thực hiện Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô trường Vừa học vừa làm 15-5 đã giúp đỡ nhiệt tình trong suốt quá trình chúng tôi thực hiện nghiên cứu tại quý Trường. Nguyễn Thu Hà

6. Chương 3: THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO KỸ NĂNG LẮNG NGHE CỦA HỌC SINH LỨA TUỔI TRUNG HỌC CƠ SỞ TRƯỜNG VỪA HỌC VỪA LÀM 15-5 TPHCM …………………………………………79 3.1. Mục đích thử nghiệm ……………………………………………………………………………..79 3.2. Khách thể thử nghiệm …………………………………………………………………………….79 3.3. Nội dung thử nghiệm ……………………………………………………………………………..79 3.4. Tổ chức thử nghiệm ……………………………………………………………………………….83 3.5. Phân tích kết quả nghiên cứu thử nghiệm………………………………………………….84 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……………………………………………………………………..97 TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………………100

7. DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ĐLC : Độ lệch tiêu chuẩn ĐTB : Điểm trunh bình KNGT : Kỹ năng giao tiếp KNLQ : Kỹ năng làm quen KNLN : Kỹ năng lắng nghe KNGQXĐ : Kỹ năng giải quyết xung đột TPHCM : Thành phố Hồ Chí Minh THCS : Trung học cơ sở VHVL : Vừa học vừa làm

8. DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU Bảng 2.1a. Phân bố về giới tính, thời gian học tập ……………………………………………47 Bảng 2.1b. Phân bố về kết quả học tập ……………………………………………………………48 Bảng 2.2. Hoàn cảnh gia đình của học sinh lứa tuổi THCS trường Vừa học-vừa làm 15-5…………………………………………………………………………………….48 Bảng 2.3a. Mức độ hiểu biết của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 về KNGT bạn bè …………………………………………………………………………….49 Bảng 2.3b. Mức độ hiểu biết của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 về KNGT bạn bè …………………………………………………………………………….50 Bảng 2.4a. Mức độ hiểu biết của HS lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 đối với các kỹ năng bộ phận của KNGT …………………………………………………..51 Bảng 2.4b. Mức độ hiểu biết của HS lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 đối với các kỹ năng của KNGT ………………………………………………………………52 Bảng 2.5a. Mức độ đánh giá của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 về vai trò của KNGT bạn bè……………………………………………………………..54 Bảng 2.5b. Mức độ đánh giá của HS lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 về vai trò của KNGT ở những nội dung cụ thể ……………………………………………..55 Bảng 2.6. Mức độ quan tâm rèn luyện của HS lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 đối với KNGT…………………………………………………………………………….56 Bảng 2.7. Mức độ hiểu biết của học sinh đối với các kỹ năng bộ phận KNGT bạn bè theo giới tính………………………………………………………………………….57 Bảng 2.8. Tự đánh giá của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 về các kỹ năng bộ phận KNGT bạn bè…………………………………………………………58 Bảng 2.9. Biểu hiện KNLQ của học sinh lứa tuổi THCS Trường VHVL 15-5 ….59 Bảng 2.10. Cách ứng xử trong tình huống cụ thể của KNLQ của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5……………………………………………………………61 Bảng 2.11. Biểu hiện KNLN của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5…..62 Bảng 2.12. Cách ứng xử trong tình huống cụ thể của KNLN của học sinh THCS trường VHVL 15-5……………………………………………………………………..64

9. Bảng 2.13. Biểu hiện KNGQXĐ của thiếu niên Trường VHVL 15-5 ………………..66 Bảng 2.14. Cách ứng xử trong tình huống cụ thể của KNGQXĐ của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 …………………………………………………….68 Bảng 2.15. Sự khác biệt mức độ biểu hiện các kỹ năng bộ phận của KNGT bạn bè của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 theo giới tính…………69 Bảng 2.16. Những khó khăn của các em học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15- 5 trong quá trình rèn luyện KNGT bạn bè………………………………………70 Bảng 2.17. Các nhóm nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả rèn luyện KNGT bạn bè của HS lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5…………………………………….71 Bảng 2.18. Các yếu tố thuộc nhà trường ảnh hưởng đến KNGT bạn bè của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 ……………………………………………….72 Bảng 2.19. Các yếu tố thuộc về giáo viên ảnh hưởng đến KNGT bạn bè của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5…………………………………………73 Bảng 2.20. Các yếu tố thuộc về học sinh ảnh hưởng đến KNGT bạn bè của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5…………………………………………74 Bảng 2.21. Biện pháp nâng cao kỹ năng giao tiếp bạn bè cho học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5……………………………………………………………75 Bảng 3.1. So sánh mức độ nhận thức về KNLN của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm trước thử nghiệm …………………………………………………………….84 Bảng 3.2. So sánh mức độ biểu hiện KNLN của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 giữa nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm trước thử nghiệm ………………………………………………………………………………………85 Bảng 3.3. So sánh mức độ biểu hiện KNLN của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 giữa nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm trước thử nghiệm ở từng biểu hiện cụ thể …………………………………………………….86 Bảng 3.4. So sánh mức độ nhận thức KNLN của học sinh ở nhóm đối chứng trước và sau thử nghiệm ………………………………………………………………87 Bảng 3.5. So sánh mức độ biểu hiện KNLN của học sinh ở nhóm đối chứng trước và sau thử nghiệm……………………………………………………………………….88

10. Bảng 3.6. So sánh mức độ biểu hiện KNLN của học sinh ở nhóm đối chứng trước và sau thử nghiệm ở từng biểu hiện cụ thể……………………………………..88 Bảng 3.7. So sánh mức độ nhận thức KNLN của học sinh ở nhóm thử nghiệm trước và sau thử nghiệm ………………………………………………………………89 Bảng 3.8. So sánh mức độ biểu hiện KNLN của học sinh ở nhóm thử nghiệm trước và sau thử nghiệm ………………………………………………………………90 Bảng 3.9. So sánh mức độ biểu hiện KNLN của học sinh ở nhóm thử nghiệm trước và sau thử nghiệm ở từng biểu hiện cụ thể …………………………….91 Bảng 3.10. So sánh mức độ nhận thức KNLN của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm sau thử nghiệm ……………………………………………………………….92 Bảng 3.11. So sánh mức độ biểu hiện KNLN của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm sau thử nghiệm ……………………………………………………………….92 Bảng 3.12. So sánh mức độ biểu hiện KNLN của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm sau thử nghiệm ở từng biểu hiện cụ thể ……………………………..93

11. DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1. Mức độ hiểu biết của học sinh đối với các kỹ năng bộ phận KNGT bạn bè ……………………………………………………………………………………51 Biểu đồ 2.2. Tự đánh giá của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 về các kỹ năng của KNGT bạn bè……………………………………………………….59 Biểu đồ 3.1. Mức độ KNLN của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 giữa nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm trước thử nghiệm ………87 Biểu đồ 3.2. Mức độ KNLN của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 giữa nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm sau thử nghiệm………….94

12. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giáo dục trong nhà trường có vai trò quan trọng không những trong việc cung cấp tri thức cần thiết mà còn hình thành các kỹ năng nhất định cho người học. Điều 2, Luật Giáo dục Việt Nam 2005 nêu rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp”1 . Như vậy, hình thành nhân cách, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục. Bạo lực học đường đang bùng phát và gia tăng đến mức báo động. Mức độ nghiêm trọng của nó khiến dư luận xã hội phải nhìn nhận bạo lực học đường như là một vấn nạn cần chung tay phòng chống. Chuyện bạo lực trong trường học làm bộc lộ ra nhiều lỗ hỗng trong công tác giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp cho các em học sinh trong nhà trường.2 Xung đột, mâu thuẫn nảy sinh trong nhóm bạn bè nếu không được giải quyết thỏa đáng sẽ là nguồn gốc nảy sinh bạo lực. Do đó, hình thành kỹ năng giao tiếp bạn bè cho học sinh trở thành nhiệm vụ cấp thiết của ngành giáo dục và toàn xã hội. Học sinh lứa tuổi THCS là lứa tuổi có nhiều biến động về tâm sinh lý với hoạt động chủ đạo là giao tiếp bạn bè. Đối với học sinh lứa tuổi trung học cơ sở ở trường 15-5, kỹ năng giao tiếp tốt sẽ giúp các em chung sống, học tập cùng bạn bè. Hơn nữa, giao tiếp tốt sẽ tạo ra động lực bên trong cho sự phát triển tâm lý, nhân cách cho các em. Trường Vừa học-Vừa làm 15-5 là nơi nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em hoàn cảnh gia đình khó khăn và các em không có người nuôi dưỡng. Tâm lý trẻ sống tại trường 15-5 có nhiều điểm khác biệt so với trẻ sống tại gia đình, đặc biệt là cách cư xử với bạn bè và những người xung quanh. Các em lứa tuổi trung học cơ sở ở trường Vừa học- Vừa làm 15-5 là những em cùng chung sống, học tập với nhau nên 1 Luật Giáo dục Việt Nam năm 2005 2 www.phapluattp.vn

13. 2 giao tiếp bạn bè là hoạt động thường xuyên trong đời sống của các em. Trong khi đó thầy cô không thể thay thế hoàn toàn bố mẹ để uốn nắn các em. Vì thế, nghiên cứu kỹ năng giao tiếp bạn bè của các em và đề xuất những biện pháp giáo dục giúp các em phát triển tâm lý bình thường và hòa nhập tốt với xã hội là cần thiết và có ý nghĩa. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp của học sinh, xung đột tâm lý trong giao tiếp bạn bè lứa tuổi trung học cơ sở nhưng các công trình chưa đi sâu tìm hiểu kỹ năng giao tiếp bạn bè của học sinh trung học cơ sở trong các trường chuyên biệt. Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: ‘Thực trạng kỹ năng giao tiếp bạn bè của học sinh lứa tuổi trung học cơ sở trường Vừa học- Vừa làm 15-5 Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện. 2. Mục đích nghiên cứu Xác định thực trạng kỹ năng giao tiếp bạn bè của học sinh lứa tuổi trung học cơ sở Trường VHVL 15-5 chúng tôi và tìm hiểu một số nguyên nhân của thực trạng trên. Từ đó xây dựng và thử nghiệm một số biện pháp tác động nhằm nâng cao kỹ năng lắng nghe cho học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5. 3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Kỹ năng giao tiếp bạn bè của học sinh lứa tuổi trung học cơ sở. 3.2. Khách thể nghiên cứu – Khách thể nghiên cứu chính là học sinh lứa tuổi trung học cơ sở Trường VHVL 15-5 chúng tôi – Khách thể nghiên cứu bổ trợ là cán bộ quản lý, giáo viên (những người trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục các em) trường VHVL 15-5 chúng tôi 4. Giả thuyết khoa học Kỹ năng giao tiếp bạn bè của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 TPHCM đạt mức độ chưa cao, đặc biệt là kỹ năng lắng nghe. Nếu tìm ra biện pháp tác động phù hợp thì có thể nâng cao kỹ năng lắng nghe vì thế có thể sẽ nâng cao KNGT bạn bè cho các em.

14. 3 5. Nhiệm vụ nghiên cứu – Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về kỹ năng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giao tiếp bạn bè lứa tuổi trung học cơ sở. – Khảo sát thực trạng kỹ năng giao tiếp bạn bè của học sinh lứa tuổi trung học cơ sở Trường VHVL 15-5 chúng tôi – Đề xuất một số biện pháp và thử nghiệm nhằm nâng cao kỹ năng lắng nghe cho học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5. 6. Phạm vi nghiên cứu 6.1. Phạm vi về mặt nội dung – Nghiên cứu một số kỹ năng giao tiếp bạn bè của học sinh như: kỹ năng làm quen, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng giải quyết xung đột. – Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp bạn bè trong hoạt động học tập, và trong môi trường sống tại khuôn viên Trường VHVL 15-5 chúng tôi 6.2. Phạm vi về mặt khách thể Trong đề tài này, khách thể nghiên cứu là 100 học sinh Trường VHVL 15-5 TPHCM lứa tuổi trung học cơ sở. 7. Phương pháp nghiên cứu 7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận Tiến hành phân tích các đề tài nghiên cứu lý luận, nghiên cứu thực tiễn trong và ngoài nước về kỹ năng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giao tiếp bạn bè. Hệ thống hóa các lý thuyết nói trên để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài. 7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài. Sử dụng bảng hỏi nhằm: – Tìm hiểu nhận thức của học sinh trung học cơ sở trường VHVL 15-5 về kỹ năng giao tiếp bạn bè. – Tìm hiểu tự đánh giá của học sinh lứa tuổi trung học cơ sở Trường VHVL 15-5 về kỹ năng giao tiếp bạn bè.

16. 5 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Giao tiếp là một phạm trù trong khoa học nghiên cứu về tâm lý con người. Giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người. Do đó, giao tiếp và kỹ năng giao tiếp từ trước đến nay được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả. Nghiên cứu giao tiếp đã đạt được những thành tựu nhất định. Có thể điểm qua một vài nghiên cứu như sau: 1.1.1. Ngoài nước Những nghiên cứu của S.Freud về sự đồng nhất hóa để lý giải, phân tích các giấc mơ và một số quá trình ở trẻ em như sự bắt chước các khuôn mẫu của “những người quan trọng khác”, sự hình thành cái “siêu tôi”, tiếp nhận vai trò nam, nữ…đã cho thấy cơ chế đồng nhất hóa đảm bảo mối lien hệ qua lại giữa các chủ thể trong nhóm xã hội, từ đó tạo ra sự đồng nhất cảm xúc, thấu cảm, tiếp thu tình cảm của người khác. Trong giao tiếp, sự đồng nhất này là vô cùng quan trọng vì nó cho phép cá nhân hiểu được tâm lý của một người xa lạ với cái tôi của cá nhân. Theo Freud, trong một số trường hợp thì sự đồng nhất cảm xúc mang tính chất “truyền nhiễm tâm lý” và rất đặc trưng cho đám đông hợp quần. [17] Tâm lý học Gestalt quan tâm đến hiện tượng giao tiếp như một cấu trúc trọn vẹn. Họ phân tích giao tiếp thành các yếu tố và đặt chúng trong hệ thống các yếu tố rộng hơn, các quan hệ xã hội. Khi nghiên cứu các yếu tố giao tiếp, nhà tâm lý học Pháp Bateson đã phân biệt thành hai hệ thống giao tiếp là giao tiếp đối xứng và giao tiếp bổ sung. Theo ông, mọi giao tiếp đều biểu hiện ra ở một trong những phương thức ấy, nó thể hiện tính hệ thống khi thiết lập được sự bình đẳng hay sự tương hỗ và tính bổ sung khi thể hiện sự khác nhau. [26] Ngành Tâm lý học của Liên Xô (cũ) cũng nghiên cứu vấn đề giao tiếp nhưng theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau: Hướng thứ nhất: Nghiên cứu lý luận chung về giao tiếp như bản chất, cấu trúc, cơ chế giao tiếp, phương pháp luận nghiên cứu giao tiếp, mối quan hệ giữa giao tiếp và hoạt động….Hướng nghiên cứu này thể hiện trong nhiều công trình

17. 6 nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) như “Về bản chất giao tiếp người” (1973) của Xacopnhin, “Tâm lý học về các mối quan hệ qua lại trong nhóm nhỏ” (1976) của I.L.Kolominxki, “Tâm lý học giao tiếp” (1978) của A.N.Leoncheiv, “Giao tiếp trong tâm lý học” (1981) của K.Platonov, “Phạm trù giao tiếp và hoạt động trong tâm lý học” của B.P.Lomov. Hướng nghiên cứu này tồn tại hai luồng quan điểm khác nhau: – Quan điểm thứ nhất cho rằng giao tiếp có thể là một dạng hoạt động hoặc có thể là một phương thức, điều kiện của hoạt động. Đại diện cho quan điểm theo xu hướng này là A.N.Leonchiev. – Quan điểm thứ hai cho rằng hoạt động và giao tiếp là những phạm trù tương đối độc lập trong quá trình thống nhất của đời sống con người. Phạm trù “hoạt động” phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể- khách thể, phạm trù “giao tiếp” phản ánh mối quan hệ chủ thể- chủ thể.[25] Hướng thứ hai: Nghiên cứu các dạng giao tiếp nghề nghiệp trong đó giao tiếp sư phạm là một loại giao tiếp nghề nghiệp được nhiều nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu. Có thể kể đến một vài tác giả có những nghiên cứu về giao tiếp sư phạm như A.A.Leonchiev với “Giao tiếp sư phạm” (1979), A.V. Petropxki với “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm”… Học thuyết về nhu cầu của A.Maslow đưa ra hệ thống năm bậc về nhu cầu của con người: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu cái tôi, nhu cầu tự thể hiện. Trong quá trình giao tiếp, cần có khả năng nhận diện và khơi gợi ở người khác những nhu cầu vì thông qua giao tiếp các chủ thể mới có thể được thỏa mãn và làm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân.[20]. Học thuyết giao tiếp liên nhân cách cho rằng giao tiếp là sự trao đổi thông tin về những quan điểm, ý kiến, cảm xúc và ngay cả những “cái tôi” của chính bản thân. Mức độ hiểu biết về bản thân, về người trong giao tiếp là yếu tố quan trọng giúp giao tiếp thành công. Sự hiểu biết người khác và hiểu biết về chính bản thân của chủ thể giao tiếp được minh họa bằng bốn khu vực khác nhau trong quan hệ giữa việc tự nhận thức về mình và nhận thức về người khác. Khoảng không nhận

18. 7 thức về mình rõ ràng và những khoảng không người khác hiểu về mình sẽ tạo ra hiệu ứng tương tác tâm lý tích cực trong giao tiếp. Thông qua trao đổi thông tin với nhau, các cá nhân trong giao tiếp mới có thể hiểu biết về bản thân mình và người khác. Điều này được xây dựng trên cơ sở lòng tin trong giao tiếp giữa các chủ thể. [20] Đề cập đến vấn đề giao tiếp trong quản lý, trong những công trình nghiên cứu về giao tiếp nổi bật lên có ba loại lý thuyết là thuyết X, thuyết Y và thuyết Z. Thuyết X và thuyết Y do Douglas McGregor đưa ra là hai hệ thống giả thuyết về bản chất con người. Theo McGregor công tác quản lý phải bắt đầu từ câu hỏi là các nhà quản lý có thể nhìn nhận bản thân họ như thế nào trong mối liên hệ với người khác. Do đó, cần nhìn nhận rõ bản chất của con người trong giao tiếp để có cách quản lý hiệu quả. Thuyết Z do Sve Lung Stendt xây dựng chủ trương phóng túng trong việc quản lý con người để giảm mức tối thiểu sự chỉ huy nhằm gây tính tự lập, tự chủ của người dưới quyền để giúp họ thi thố sáng kiến, tính sáng tạo và chịu trách nhiệm. Quan điểm của thuyết này chủ yếu dựa trên niềm tin và sự tinh tế trong quan hệ giao tiếp trong quá trình quản lý. [20] Học thuyết giao tiếp xã hội bắt nguồn từ tâm lý ngôn ngữ học, xã hội học và tâm lý học hiện sinh, nhấn mạnh vai trò của các năng lực giao tiếp, năng lực và cái tôi của cá nhân trong mối quan hệ giữa xã hội và cá nhân trong quá trình xã hội hóa- quá trình hình thành cá thể người với tư cách là một cơ cấu sinh học mang tính người thích nghi với cuộc sống xã hội; qua đó, hấp thụ và phát triển những năng lực người đặc trưng trưởng thành như một nhân cách xã hội duy nhất không lặp lại.[17] Kỹ năng giao tiếp được nhiều nhà Tâm lý học quan tâm nghiên cứu. Có thể kể đến một vài nghiên cứu sau: IP.Dakharov nghiên cứu đề ra trắc nghiệm 10 KNGT gồm các kỹ năng như kỹ năng tiếp xúc; kỹ năng thiết lập quan hệ; kỹ năng biết cân bằng nhu cầu bản thân và đối tượng trong quá trình giao tiếp; kỹ năng nghe đối tượng; kỹ năng tự kiềm chế, kiểm tra người khác; kỹ năng tự chủ cảm xúc hành vi; kỹ năng diễn đạt dễ hiểu, cụ thể; kỹ năng linh hoạt, mềm dẻo trong giao tiếp; kỹ năng thuyết phục; kỹ

19. 8 năng chủ động điều khiển quá trình giao tiếp; kỹ năng nhạy cảm trong giao tiếp. [15] Dale Carnegie trong cuốn “Đắc nhân tâm” (2002) đã trình bày những nghệ thuật, những bí quyết trong quan hệ giao tiếp giữa con người với con người. Theo ông, để thu hút được đối tượng giao tiếp, con người phải có nghệ thuật và KNGT nhất định như kỹ năng thể hiện sự quan tâm, kỹ năng biểu hiện cảm xúc, kỹ năng lắng nghe…[4] Tóm lại, các công trình nghiên cứu về giao tiếp kể trên đã nghiên cứu vấn đề giao tiếp theo các khía cạnh: vai trò của giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người, vai trò của giao tiếp trong sự tồn tại của xã hội loài người, nghiên cứu bản chất của giao tiếp, nghiên cứu các vấn đề chung của giao tiếp. 1.1.2. Trong nước Tác giả Nguyễn Đình Xuân đã nghiên cứu giao tiếp trong quản lý với các KNGT như kỹ năng lựa chọn địa điểm, thời gian tiếp khách, kỹ năng làm chủ cảm xúc của mình trong tiếp xúc, kỹ năng nghe và dẫn dắt người nói để thu thập thông tin, kỹ năng nói ngắn gọn…[42] Giáo trình “Những cơ sở khoa học của quản lý kinh tế” (1985) của Mai Hữu Khuê đã nêu ra những kỹ năng mà người lãnh đạo cần có là kỹ năng hiểu nhu cầu lo lắng của đối tượng, kỹ năng thể hiện sự quan tâm với cấp dưới, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng nghiên cứu con người. [19] Nguyễn Đình Chỉnh, Phạm Ngọc Uyển trong “Tâm lý học quản lý” (1998) đề cập đến vấn đề giao tiếp, giao tiếp sư phạm và giao tiếp quản lý trong đó nêu lên KNGT sư phạm với cấu trúc bao gồm các thành phần như biết định hướng, hiểu được các dấu hiệu bề ngoài và ngôn ngữ trong giao tiếp, biết điều khiển quá trình giao tiếp. [3] Luận án Tiến sĩ “Khó khăn tâm lý của học sinh đầu lớp 1” (2009) của Vũ Ngọc Hà (Viện Tâm lý học) đã chỉ ra thực trạng các khó khăn tâm lý mà học sinh gặp phải khi vào lớp 1, trong đó có khó khăn về sự thiết lập quan hệ giao tiếp với bạn xuất phát chủ yếu từ sự thiếu hụt KNGT.

20. 9 Luận án phó tiến sỹ của Nguyễn Thị Thanh Bình ” Nghiên cứu một số trở ngại tâm lý trong giao tiếp của sinh viên với học sinh khi thực tập tốt nghiệp” (Hà Nội, 1996) Luận văn thạc sỹ Tâm lý học “Tự đánh giá về KNGT của thiếu niên trong giao tiếp với bạn” (2005) của Vũ Thị Lý nghiên cứu về thực trạng tự đánh giá về KNGT của thiếu niên trong giao tiếp với bạn. Từ đó đề xuất một số biện pháp tác động nhằm nâng cao kỹ năng tự đánh giá của thiếu niên trong giao tiếp với bạn. Kết quả nghiên cứu của Hà Thị Thư (Trường Đại học Lao động- xã hội) về “Các kỹ năng cơ bản trong hoạt động nghề nghiệp của cán bộ xã hội” (tạp chí Tâm lý học số 4-2008) nghiên cứu các kỹ năng cơ bản cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của người cán bộ xã hội trong đó đề cập đến các kỹ năng cần thiết của người cán bộ xã hội như kỹ năng lắng nghe, kỹ năng quan sát, … Nội dung tập trung vào đối tượng giao tiếp của học sinh, sinh viên; phạm vi, nội dung, nhu cầu giao tiếp; một số trở ngại tâm lý khi giao tiếp; một số kỹ năng giao tiếp của cá nhân. Luận văn Thạc sĩ “Đặc điểm giao tiếp của học sinh trung học cơ sở trường phổ thông dân tộc nội trú huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La” (2001) của Nguyễn Quang Sáng nghiên cứu lý luận cơ bản về giao tiếp như khái niệm, bản chất, vai trò của giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, trên cơ sở đó tìm hiểu đặc điểm giao tiếp của thiếu niên phổ thông dân tộc nội trú. Đồng thời tác giả thử nghiệm một số biện pháp sư phạm nhằm mở rộng phạm vi, đối tượng giao tiếp của học sinh. Bài viết “Một số biểu hiện của tình trạng thiếu kỹ năng sống của trẻ em hiện nay” (Tạp chí Tâm lý học số 8-2010) của Nguyễn Thị Hoa (Viện Tâm lý học) đề cập đến sự yếu kém về KNGT của trẻ em hiện nay thể hiện qua việc chưa biết lắng nghe tích cực, chưa biết trình bày ý kiến của mình một cách hợp lý, ít có khả năng thấu cảm, cảm thông và chia sẻ với người khác. Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học (2005) của Vũ Thị Lý “Tự đánh giá về kỹ năng giao tiếp của thiếu niên trong giao tiếp với bạn”. Luận văn nghiên cứu thực trạng tự đánh giá về khả năng giao tiếp của thiếu niên trong giao tiếp với bạn bè và

21. 10 các yếu tố ảnh hưởng đến tự đánh giá của thiếu niên trong giao tiếp với bạn. Từ đó đề xuất một số biện pháp tác động nhằm nâng cao kỹ năng tự đánh giá của thiếu niên trong giao tiếp với bạn. Các giáo trình Tâm lý học lứa tuổi của Lê Văn Hồng (1996), Vũ Thị Nho (1999) đều có đề cập đến một số đặc điểm giao tiếp của thiếu niên như nhu cầu giao tiếp, đối tượng giao tiếp, nội dung giao tiếp. Do hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này là giao tiếp với bạn bè cùng tuổi nên các tác giả chỉ tập trung khai thác mặt lý luận của các đặc điểm này xung quanh đối tượng giao tiếp là bạn bè. Như vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu về giao tiếp và KNGT trên nhiều lĩnh vực xã hội, khẳng định sự cần thiết của KNGT đối với đời sống. KNGT đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công của mỗi con người, do đó việc nghiên cứu KNGT là cần thiết. Những nghiên cứu trên đã góp phần định hướng cho nghiên cứu này. Qua tìm hiểu của tác giả thì hiện nay những nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của trẻ lang thang, mồ côi chủ yếu tập trung ở lĩnh vực xã hội học, công tác xã hội. Trong đó, các tác giả tập trung thống kê số lượng trẻ mồ côi, lang thang, đặc điểm của trẻ từ đó đề xuất một số biện pháp cho các Mái ấm, nhà mở, giáo dục viên chăm sóc và giáo dục trẻ tốt hơn. Các nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp của trẻ lang thang, mồ côi sống tại các trung tâm còn rất ít. Các nghiên cứu về đặc điểm tâm lý, đặc điểm giao tiếp của trẻ mồ côi, lang thang trong lĩnh vực tâm lý học còn rất hạn chế. Có thể điểm qua một vài nghiên cứu sau: Nguyễn Quang Uẩn (2000)- “Trẻ lang thang và nhu cầu tâm lý của các em” cho rằng trẻ em lang thang có nhu cầu giao lưu rất lớn. Nhưng các em có những quan hệ giao lưu phức tạp trên đường phố dễ dàng bắt chước những hành vi trái quy tắc xã hội. Vì thế việc giao lưu của trẻ lang thang đường phố dễ dàng đem lại những suy thoái, biến chất trong tâm hồn trẻ.

23. 12 việc tiếp xúc thân thể của con người trong quá trình tác động qua lại về mặt vật lý và chuyển dịch không gian [1]. Nhà tâm lý học xã hội Mỹ T.Sibutanhi nghiên cứu khái niệm liên lạc như là hoạt động đảm bảo cho sự giúp đỡ lẫn nhau, phối hợp hành động và thích ứng hành vi của các cá thể tham gia quá trình giao tiếp. Ông cho rằng “Liên lạc trước hết là phương pháp hoạt động làm giản đơn hóa sự thích ứng hành vi lẫn nhau của con người. Những cử chỉ và âm điệu khác nhau trở thành liên lạc, khi con người sử dụng vào các tình thế tác động qua lại” .[33,tr.126] Giao tiếp có mặt trong mọi hoạt động của con người. Trong hoạt động người ta hình thành động cơ, mục đích, hứng thú, nguyện vọng, say mê, tình cảm…Chính vì thế, trong hoạt động, con người đã xác lập được các quan hệ giữa người này với người khác, giữa nhóm này với nhóm khác, giữa thế hệ trước với thế hệ sau, từ đó nảy sinh, phát triển tâm lý người. Vì vậy, giao tiếp là điều kiện tất yếu của sự tồn tại, sự hình thành và phát triển tâm lý người. Từ đây, A.N.Leonchiev đưa ra định nghĩa giao tiếp như sau: “Đó là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng những phương tiện đặc thù, mà trước hết là ngôn ngữ.”[24, tr370]. L.P.Bueva coi: “Giao tiếp không chỉ là một quá trình tinh thần mà còn là quá trình vật chất, quá trình xã hội, trong đó diễn ra sự trao đổi hoạt động, kinh nghiệm, sản phẩm của hoạt động” [2, tr.166] Ở góc độ nhận thức, L.X.Vugotxki cho rằng giao tiếp là quá trình chuyển giao tư duy và cảm xúc [38]. K.K.Platonov cho rằng: “Giao tiếp là những mối liên hệ có ý thức của con người trong cộng đồng loài người.” [2, tr.165] Xem xét giao tiếp là sự thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người hay giữa nhân cách này với nhân cách khác trong mối quan hệ liên nhân cách, B.Ph.Lomov cho rằng: “Giao tiếp là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với tư cách chủ thể”.[25] Dưới góc độ nhân cách, V.N.Miaxixev cho rằng: “Giao tiếp là một quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa các nhân cách cụ thể”. Theo Ia.L.Kolominxki: “Giao tiếp là sự tác động qua lại có đối tượng và thông tin giữa con người với con người,

24. 13 trong đó những quan hệ nhân cách được thực hiện, bộc lộ và hình thành”. [2, tr.166] K.Berlo (1960) định nghĩa: “Giao tiếp của con người là một quá trình có chủ định hay không có chủ định, có ý thức hay không có ý thức mà trong đó các cảm xúc và tư tưởng được diễn đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ. Giao tiếp của con người diễn ra ở các mức độ: trong con người, giữa con người với con người và công cộng. Giao tiếp của con người là một quá trình năng động, bất thuận nghịch, tác động qua lại và có tính chất ngữ cảnh”. [10, tr.10] Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp mới được nghiên cứu từ những năm 1970 đến những năm 1980, có những khái niệm về giao tiếp được các tác giả đề xuất. Định nghĩa về giao tiếp của Phạm Minh Hạc: “Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ người – người để hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa người ta với nhau”.[ 2, tr.166] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bích: “Giao tiếp của con người là một quá trình chủ đích hay không có chủ đích, có ý thức hay không có ý thức trong đó các cảm xúc và tư tưởng được diễn đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ”. [18] Theo từ điển Tâm lý học: “Giao tiếp là quá trình thiết lập và phát triển tiếp xúc giữa các cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hành động. Giao tiếp gồm hàng loạt các yếu tố như trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược hoạt động thống nhất, tri giác và tìm hiểu người khác. Giao tiếp có ba khía cạnh chính là giao lưu, tác động tương hỗ và tri giác”.[7,tr.83] Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau. Hay nói cách khác, giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người- người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác”. [35] Theo tác giả Nguyễn Văn Đồng: “Giao tiếp là tiếp xúc tâm lý có tính đa chiều và đồng chủ thể giữa người với người được quy định bởi các yếu tố văn hóa, xã hội và đặc trưng tâm lý cá nhân. Giao tiếp có chức năng thỏa mãn các nhu cầu

25. 14 vật chất và tinh thần của con người, trao đổi thông tin, cảm xúc định hướng và điều chỉnh nhận thức, hành vi của bản thân và của nhau, tri giác lẫn nhau, tạo dựng quan hệ với nhau và tác động qua lại lẫn nhau”. [10, tr.11] Tác giả Vũ Dũng cho rằng: “Giao tiếp là quá trình hình thành và phát triển sự tiếp xúc giữa người với người được phát sinh từ nhu cầu trong hoạt động chung, bao gồm sự trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược tương tác thống nhất tri giác và tìm hiểu người khác” hay “Giao tiếp là sự tác động tương hỗ của các chủ thể phát sinh từ nhu cầu hoạt động chung được thực hiện bằng những công cụ quen thuộc và hướng đến những thay đổi có ý nghĩa trong trạng thái, hành vi và cấu trúc ý – cá nhân của đối tác” [8] Dưới góc độ sư phạm, giao tiếp sư phạm được hiểu là quá trình thiết lập nên các mối quan hệ hai chiều lẫn nhau về tâm lý giữa người giáo dục với người được giáo dục nhằm truyền đạt và lĩnh hội tri thức khoa học, vốn sống, kỹ xảo, kỹ năng hoạt động từ đó tiến hành xây dựng nên những mối quan hệ sư phạm, thực hiện những tác động nhằm phát triển toàn diện – hài hòa những phẩm chất nhân cách cho học sinh. [3, tr.50] Trong quản trị và kinh doanh, giao tiếp được hiểu là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ giữa người và người, hoặc giữa người và các yếu tố xã hội nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định. [6] Từ những định nghĩa trên về giao tiếp, giao tiếp có những đặc điểm chung như sau: đó là quá trình tác động qua lại, trao đổi thông tin, ảnh hưởng lẫn nhau, nhận biết lẫn nhau giữa hai chủ thể giao tiếp. Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý tạo nên giữa hai hay nhiều người với nhau, chứa đựng một nội dung xã hội – lịch sử nhất định, mang lại sự hiểu biết, thông cảm lẫn nhau. Như vậy, giao tiếp là quá trình tiếp xúc tâm lý giữa người với người được phát sinh từ nhu cầu trong hoạt động chung, bao gồm sự trao đổi thông tin, nhận thức và ảnh hưởng lẫn nhau nhằm thực hiện mục đích nhất định của một hoạt động nhất định.

26. 15 1.2.1.2. Chức năng của giao tiếp Nghiên cứu về vai trò, chức năng của giao tiếp, A.N. Leonchiev đã đánh giá cao vai trò của giao tiếp trong quá trình hình thành nhân cách trẻ. Ông cho rằng hoạt động của trẻ bao giờ cũng nằm trong giao tiếp. Giao tiếp dưới hình thức cùng hoạt động, hoặc dưới hình thức giao tiếp ngôn ngữ hay thậm chí giao tiếp trong ý nghĩ cũng đều là điều kiện tất yếu và chuyên biệt của sự phát triển con người trong xã hội. Theo ông, trong quá trình giao tiếp, kế hoạch hoạt động chung được hình thành và các yếu tố hoạt động chung giữa các thành viên được phân bố. Trong hoạt động chung, sự trao đổi thông tin, sự kich thích lẫn nhau, sự kiểm tra và điều chỉnh hành động được thực hiện. [17] Theo tiêu chí mục tiêu, L.A.Karpenco cho rằng giao tiếp có 8 chức năng: – Chức năng tiếp xúc – mục tiêu: việc tiếp xúc như là trạng thái chuẩn bị chung để tiếp nhận và truyền đạt thông báo, củng cố quan hệ ở hình thức định hướng lẫn nhau thường xuyên. – Chức năng thông tin – mục đích: trao đổi các thông báo. – Chức năng kích thích – mục đích: kích thích tích cực đối tác giao tiếp, hướng họ thực hiện hành động nhất định. – Chức năng định vị – mục đích: định hướng và thống nhất hành động trong hoạt động chung. – Chức năng hiểu biết – mục đích: hiểu biết nội dung thông báo và hiểu biết lẫn nhau giữa các chủ thể giao tiếp. – Chức năng tạo động cơ – mục đích: khơi dậy ở đối tác những trãi nghiệm tình cảm cần thiết đồng thời qua sự giúp đỡ của họ thay đổi trải nghiệm, trạng thái của chính chủ thể. – Chức năng hình thành các mối quan hệ – mục đích: nhận thức và xác định vị trí bản thân trong hệ thống vai, vị thế, quan hệ. – Chức năng gây ảnh hưởng – mục đích: thay đổi trạng thái, hành vi, cấu trúc ý hướng cá nhân của đối tác.[8] Nhà Tâm lý học Xô viết B.Ph.Lomov cho rằng giao tiếp có ba chức năng:

27. 16 – Chức năng giao tiếp – thông tin. – Chức năng giao tiếp – điều chỉnh. – Chức năng giao tiếp – cảm xúc. [25] Theo A.A.Pruzin giao tiếp có các chức năng sau: – Chức năng công cụ của giao tiếp cần thiết cho sự trao đổi thông tin trong quá trình điều hành và trong quá trình lao động chung. – Chức năng nghiệp đoàn thể hiện ở việc đoàn kết nhóm lớn và nhóm nhỏ có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục và truyền đạt kiến thức, phương thức hoạt động và tiêu chuẩn đánh giá. – Chức năng tự thể hiện hướng đến việc tìm kiếm và đạt được sự hiểu biết lẫn nhau. [8] Ở Việt Nam, các nhà Tâm lý học cũng quan tâm nghiên cứu những chức năng khác nhau của giao tiếp. Tác giả Hoàng Anh cho rằng giao tiếp có các chức năng cơ bản: – Chức năng thông tin hai chiều giữa hai người hay hai nhóm người. – Chức năng tổ chức, điều khiển, phối hợp hành động của một nhóm người trong một hoạt động cùng nhau. – Chức năng giáo dục và phát triển nhân cách. Con người không thể sống cô lập, tách khỏi gia đình, người thân, bạn bè và cộng đồng người. [2,tr.172] Tác giả Nguyễn Quang Uẩn chia các chức năng giao tiếp: – Chức năng thông tin hai chiều (chức năng nhận thức). – Chức năng thể hiện và đánh giá thái độ xúc cảm. – Chức năng liên kết, phối hợp hoạt động. – Chức năng đồng nhất hóa: tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau, thông cảm, đồng cảm chung giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với nhóm, nhóm này với nhóm khác. – Chức năng giáo dục.[39] Dưới góc độ Tâm lý học giao tiếp, tác giả Nguyễn Văn Đồng cho rằng giao tiếp có các chức năng: – Chức năng thỏa mãn nhu cầu của con người. Đây là chức năng quan trọng

28. 17 nhất của giao tiếp. – Chức năng thông tin. – Chức năng nhận thức về tự nhiên, xã hội, về bản thân (tự nhận thức) và về người khác (tri giác xã hội). – Chức năng cảm xúc giúp con người thỏa mãn những nhu cầu xúc cảm, tình cảm. – Chức năng định hướng, tổ chức, phối hợp hoạt động và điều chỉnh hành vi của bản thân và của người khác. – Chức năng hình thành và phát triển các quan hệ liên nhân cách. [10, tr.24-30] Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn, giao tiếp có các chức năng như sau: – Chức năng thỏa mãn nhu cầu của con người. Đây là chức năng quan trọng nhất của giao tiếp và cũng là chức năng mà con người sử dụng sớm nhất trong giao tiếp. Giao tiếp là điều kiện cần thiết để con người tồn tại và phát triển. – Chức năng thông tin hai chiều giữa các chủ thể tham gia giao tiếp. Đây là chức năng có vai trò quan trọng thứ hai sau chức năng thỏa mãn nhu cầu của giao tiếp. Mỗi cá nhân trong giao tiếp vừa là nguồn phát thông tin vừa là nguồn thu thông tin. – Chức năng tổ chức, điều khiển, phối hợp hành động của một nhóm người trong cùng một hoạt động cùng nhau. Đây là chức năng dựa trên cơ sở xã hội. Nhờ chức năng này, con người có thể phối hợp cùng nhau để giải quyết một nhiệm vụ nhất định đạt tới mục tiêu đề ra trong quá trình giao tiếp. – Chức năng điều khiển, điều chỉnh hành vi. Chức năng này thể hiện ở sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau trong giao tiếp. Trong giao tiếp, cá nhân có thể tác động đến động cơ, mục đích, quá trình ra quyết định và hành động của người khác. – Chức năng xúc cảm. Chức năng này giúp con người thỏa mãn những nhu cầu xúc cảm, tình cảm. – Chức năng nhận thức và đánh giá lẫn nhau. Trong quá trình giao tiếp, các chủ thể luôn diễn ra quá trình nhận thức tri thức về tự nhiên, xã hội, nhận thức bản thân và nhận thức về người khác nhằm hướng tới những mục đích khác nhau trong giao tiếp.

29. 18 – Chức năng giáo dục và phát triển nhân cách. Giao tiếp giúp con người tiếp nhận những kinh nghiệm và những chuẩn mực thông qua đó có sự hình thành và phát triển nhân cách một cách toàn diện trên bình diện con người – cá nhân.[31] Tóm lại, giao tiếp có chức năng giáo dục và phát triển nhân cách. Thông qua giao tiếp các phẩm chất tâm lý của con người được hình thành và phát triển. 1.2.1.3. Phương tiện giao tiếp Phương tiện giao tiếp là tất cả những yếu tố mà các chủ thể giao tiếp dùng để thể hiện thái độ, tình cảm và những đặc điểm tâm lý khác đồng thời thiết lập, vận hành các mối quan hệ trong một cuộc giao tiếp. Phương tiện giao tiếp thường được chia thành hai nhóm là phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người, bằng ngôn ngữ con người có thể truyền đi bất cứ loại thông tin nào, như diễn tả tình cảm, ám chỉ, miêu tả sự vật. Ngôn ngữ là hệ thống ký hiệu (âm thanh hoặc chữ viết) dưới dạng từ ngữ chứa đựng ý nghĩa nhất định (tượng trưng cho sự vật, hiện tượng cũng như thuộc tính và các mối quan hệ của chúng) được con người quy ước và sử dụng trong quá trình giao tiếp. [10] Ngôn ngữ đặc trưng cho từng người. Sự khác biệt cá nhân về ngôn ngữ được thể hiện ở cách phát âm, sử dụng cấu trúc của câu, sự lựa chọn và sử dụng từ ngữ. Tùy tác dụng và biểu hiện, ngôn ngữ chia thành hai loại: ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ bên trong. a. Ngôn ngữ bên ngoài Ngôn ngữ bên ngoài là dạng ngôn ngữ được thể hiện tường minh ra bên ngoài bằng âm thanh hoặc chữ viết để tiến hành giao tiếp giữa các chủ thể. Ngôn ngữ bên ngoài là ngôn ngữ hướng vào người khác và được dùng để truyền đạt và tiếp thu tư tưởng. Ngôn ngữ bên ngoài được chia thành: ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ hướng vào người khác, biểu hiện bằng âm thanh và được tiếp nhận bằng thính giác. Ngôn ngữ nói gồm ngôn ngữ độc thoại và ngôn ngữ đối thoại. Ngôn ngữ đối thoại là ngôn ngữ diễn ra ở một người hay một số người, trong đó khi người này nói thì người khác nghe và ngược lại, đối thoại thường được thể hiện qua các hình thức như nói chuyện, tâm sự, giao lưu, đàm thoại, hội họp, tranh luận….

30. 19 Ngôn ngữ độc thoại là ngôn ngữ mà người nói nói cho một hay số đông người nghe mà không có chiều ngược lại một cách trực tiếp, độc thoại có người nghe được gọi là thuyết trình. Ngôn ngữ viết ra đời muộn hơn ngôn ngữ nói, biểu hiện bằng chữ viết và được thu thập bằng thị giác. Ngôn ngữ viết cho phép con người tiếp xúc với nhau một cách gián tiếp trong những khoảng không gian và thời gian rộng lớn. Ngôn ngữ viết có đặc điểm riêng là ngoài yêu cầu chặt chẽ về ngữ pháp còn cả yêu cầu về chính tả. Nó cũng chia thành ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại (đọc sách, báo). b. Ngôn ngữ bên trong Ngôn ngữ bên trong là dạng đặc biệt của ngôn ngữ, là loại ngôn ngữ chưa bộc lộ ra ngoài bằng các phương tiện vật chất. Ngôn ngữ bên trong không phát ra âm thanh, bao giờ cũng được rút gọn và cơ động cũng như tồn tại dưới cảm giác vận động và do cơ chế đặc biệt chi phối. Nó đóng vai trò rất quan trọng, là phương tiện của hoạt động nhận thức, phương tiện điều chỉnh tình cảm và ý chí của con người, đồng thời cũng là phương tiện để tự giáo dục. 1.2.1.4. Giao tiếp phi ngôn ngữ Giao tiếp phi ngôn ngữ là giao tiếp không dùng ngôn ngữ. Đó là các kích thích bên ngoài nhưng không phải là lời nói và chữ viết mà bao gồm tất cả những yếu tố thuộc về cử chỉ điệu bộ và những chuyển động biểu cảm khác. Loại giao tiếp này còn gọi là giao tiếp bằng ngôn ngữ tứ chi, là điệu bộ, cử chỉ, tư thế, hành vi, ánh mắt, nụ cười…đóng vai trò chủ yếu không chỉ trong việc truyền đạt thông tin mà còn biểu hiện tâm trạng, xúc cảm, tình cảm, thái độ…của chủ thể giao tiếp. Phương tiện phi ngôn ngữ trong giao tiếp có thể phân chia theo hệ thống: nét mặt, cử chỉ, điệu bộ hành vi. a. Giao tiếp qua nét mặt Nét mặt biểu lộ cảm xúc của con người. Theo các nhà tâm lý học thì nét mặt có thể biểu lộ sáu cảm xúc như vui, buồn, ngạc nhiên, tức giận, sợ hãi và ghê tởm. Trong giao tiếp nét mặt là yếu tố thường được chú ý. Nét mặt góp phần quan trọng tạo nên hình ảnh cá nhân trong mắt người khác. Trong giao tiếp thường nhật hoặc

31. 20 giao tiếp văn phòng, nét mặt thân thiện được khuyến khích sử dụng. Đó là nét mặt nhẹ nhõm, dễ gần khi có thể nhẹ nhàng nở nụ cười tươi với sự chuyển động tổng hợp của cơ mặt…Qua thực nghiệm khoa học và quan sát trong đời sống thực tế, người ta nhận thấy: thầy cô có nét mặt dịu hiền, cởi mở, vui tươi thường đem lại bầu không khí tốt, tạo cảm giác an toàn cho học sinh. Ngược lại, giáo viên có nét mặt buồn rầu, căng thẳng, bực tức, tạo ra bầu không khí nặng nề cho đối tượng giao tiếp. Sự biểu lộ trạng thái tâm lý trên nét mặt con người rất phức tạp, phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, cá tính của mỗi người, phong tục, tập quán…Năng lực biểu cảm qua nét mặt giúp cho tiến trình giao tiếp ngày càng nhạy cảm, tinh tế và sâu sắc hơn. b. Giao tiếp qua ánh mắt Nhà tâm lý học Nga X.R.Tankelevich đã tìm thấy trong tác phẩm của đại văn hào L.Tonxtoi có tới 85 ánh mắt phản ánh các nội dung tâm lý khác nhau. Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Năm 1975, Hetxo bằng thực nghiệm của mình đã nhận xét: khi người ta vui thì con ngươi mở rộng, khi giận dữ thì con ngươi thu hẹp lại. Ánh mắt còn biểu hiện nét tính cách của con người. Ánh mắt thể hiện cách thức giao tiếp: tín hiệu về sự đồng ý hay không đồng ý; tín hiệu về tình cảm (yêu, thích hoặc ghét, chê); tín hiệu về mức độ nhận thức; tín hiệu về nhu cầu, lòng ham muốn; tín hiệu về điều chỉnh hành vi, thái độ của hai bên. Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thừa nhận rằng: trong số các giác quan của con người, đôi mắt có thể chuyển tải lượng thông tin nhiều nhất (trên 80%) và có một sức chuyển tải lớn nhất. Ánh mắt còn là nơi tiếp nhận các thông tin cảm tính từ môi trường bên ngoài. Do vậy, biết giao tiếp bằng ánh mắt sẽ đem lại nhiều hiệu quả trong quá trình giao tiếp. c. Giao tiếp bằng nụ cười Trong giao tiếp người ta có thể dùng nụ cười để biểu lộ tình cảm, thái độ của mình. Con người có bao nhiêu kiểu cười thì có bấy nhiêu cá tính. Nụ cười cũng biểu lộ một phần tâm trạng và tính cách của người đang cười và đôi khi cười cũng còn được sử dụng như một tín hiệu âm thanh lấp đầy trong quá trình giao tiếp. Để diễn giải đúng ý nghĩa của nụ cười thì cần chú ý kết hợp quan sát cả đôi mắt và khóe

32. 21 miệng của người đang cười. Nụ cười đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn đến thành công giao tiếp. Một người không giỏi giao tiếp, tự ti về khả năng giao tiếp của mình nhưng lại sở hữu một thái độ thân thiện trong giao tiếp, luôn nở một nụ cười tươi thân thiện ngay cả khi không hài lòng thì người đó vẫn có thể có những cuộc giao tiếp thành công như bất kì một người giỏi giao tiếp nào. Những thực nghiệm tâm lý đã chứng minh rằng khi con người nở nụ cười với một đối tượng thì chắc chắn rằng phản ứng mà chúng ta nhận được đó chính là một nụ cười rất tươi. Tuy nhiên, trong từng tình huống khác nhau, nụ cười cũng phải phù hợp với thực tế giao tiếp. d. Dáng vẻ bề ngoài Dáng vẻ bề ngoài được xem là một dạng phương tiện đặc biệt trong giao tiếp phi ngôn ngữ. Dáng vẻ bề ngoài gồm hình dáng thân thể, cung cách đi đứng, trang phục và cung cách ứng xử. Hình dáng thân thể thường có sự tác động mạnh đến người tri giác trong giao tiếp trong đó yếu tố chiều cao được cho là yếu tố có tác động mạnh nhất. Cung cách đi đứng của một người cũng nói lên nhiều điều về họ như vị thế, tâm trạng, văn hóa, chủng tộc, cũng như sự nhận thức về bản thân. Trang phục bổ sung diện mạo cho con người bao gồm sự phối hợp các kiểu quần áo, màu sắc vải, trang sức…Trang phục là một phần của định hướng giao tiếp và góp phần giúp giao tiếp thành công. e. Cử chỉ trong giao tiếp Cử chỉ là sự vận động của tay chân và thân thể. Cử chỉ thường được dùng để minh họa, nhấn mạnh, bổ sung cho những gì đang nói hoặc thậm chí có thể thay thế lời nói thông qua các dấu hiệu trong cử chỉ. Cử chỉ cũng được con người dùng để biểu lộ cảm xúc và thái độ. f. Tiếp xúc thân thể Tiếp xúc thân thể thể hiện qua nhiều hình thức như bắt tay, ôm, vỗ vai, hôn má, đẩy…cũng phụ thuộc rất nhiều vào đặc trưng của các nền văn hóa. Cái bắt tay là hành động mang tính xã giao không lời hết sức phổ biến, ngoài ra ôm hôn xã giao, cung cách đi đứng…cũng biểu hiện nhiều ý nghĩa trong giao tiếp.

33. 22 g. Khoảng cách giữa các bên trong giao tiếp Khoảng cách giữa các bên trong giao tiếp nói lên mối quan hệ khá đặc biệt trong giao tiếp. Khoảng cách trong giao tiếp với người khác có một ý nghĩa nhất định. – Khoảng cách công cộng (trên 3,5m) phù hợp với tiếp xúc ở đám đông tụ tập theo nhóm. – Khoảng cách xã hội (1,2m – 3,5m) trong tiếp xúc với người lạ. – Khoảng cách cá nhân (0,45m – 1,2m) thường trong các bữa tiệc, giao tiếp ở cơ quan, với bạn bè. – Khoảng cách thân mật (0m – 0,45m) trong quan hệ thân mật, gần gũi như người thân trong gia đình, người yêu. h. Vị trí giao tiếp Vị trí chỗ ngồi của cá nhân trong giao tiếp cũng biểu hiện một ý nghĩa rất lớn trong giao tiếp – Vị trí góc: các cá nhân ngồi ở hai cạnh của một góc bàn phù hợp với câu chuyện tế nhị, lịch sự giữa hai người cũng như trong trường hợp hai người không hoàn toàn thoải mái về nhau. – Vị trí hợp tác thể hiện hai người ngồi cạnh nhau cùng nhìn về một hướng hoặc ngồi đối diện nhưng chiếc bàn có tác dụng như chỗ để giấy tờ mang tính tạm thời. – Vị trí cạnh tranh với hai người ngồi đối diện nhau và chiếc bàn đóng vai trò như là chiến tuyến. – Vị trí độc lập là cách sắp xếp không phải để đối thoại mà thể hiện vị trí của người không muốn bị ai quấy rầy hoặc không muốn bắt chuyện. Vị trí này thường trong thư viện hoặc trong quán ăn với những người không quen biết. 1.2.2. Kỹ năng 1.2.2.1. Khái niệm kỹ năng Kỹ năng là khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa ở nhiều góc độ khác nhau.

34. 23 Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn. (Từ điển Tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,1988) Kỹ năng là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hoạt động đó cho dù đó là hành động cụ thể hay hoạt động trí tuệ. (Từ điển Giáo dục học, NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội, 2000) Kỹ năng là khả năng vận dụng tri thức khoa học vào thực tiễn, trong đó khả năng được hiểu là “sức đã có” về mặt nào đó, để có thể làm tốt một việc gì. (Từ điển Giáo dục Hà Nội 1992) Một số tác giả xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của hành động, coi kỹ năng như là một phương tiện thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm vững. Tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng. [33] V.A.Kruchexki cho rằng: “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động đã được con người nắm vững từ trước”. [24, tr.78] Theo tác giả thì kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập, kỹ năng tạo cho con người khả năng thực hiện hành động trong những điều kiện khác nhau. Ph.N.Gonobolin (1973): Kỹ năng là những phương thức tương đối hoàn chỉnh của việc thực hiện những hành động bất kì nào đó. Các hành động này được hình thành trên cơ sở các tri thức và kỹ xảo – những cái được con người lĩnh hội trong quá trình hoạt động”.[11] Từ điển Tâm lý học (1983) của Liên Xô (cũ) định nghĩa: “Kỹ năng là giai đoạn giữa của việc nắm vững một phương thức hành động mới – cái dựa trên một quy tắc (tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng với tri thức đó, nhưng còn chưa đạt đến mức độ kỹ xảo”. [27, tr.376] Một số tác giả thì xem xét kỹ năng nghiêng về mặt năng lực của con người. Họ coi kỹ năng là năng lực thực hiện một công việc có kết quả với chất lượng cần thiết

35. 24 trong một thời gian nhất định, trong điều kiện mới; coi kỹ năng là một biểu hiện năng lực con người chứ không phải đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động, họ chú ý đến kết quả hành động. N.D.Levitov: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hành động phức tạp bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn có tính đến những điều kiện nhất định. [12] Người có kỹ năng là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có hiệu quả. Các tác giả K.K.Platonov và G.G.Golubev quan niệm: “Kỹ năng là năng lực của con người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong những khoảng thời gian tương ứng”.[5] Theo các tác giả kỹ năng được hình thành trên nền kiến thức. Lê Văn Hồng (1995): “Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp…) để giải quyết một nhiệm vụ mới”. [16, tr.109] Nguyễn Văn Đồng (2010): “Kỹ năng là năng lực vận dụng những tri thức đã được lĩnh hội để thực hiện có hiệu quả một hoạt động tương ứng trong những điều kiện cụ thể”. [10, tr.61] Điểm chung của các định nghĩa nêu trên: kỹ năng là khả năng hành động có hiệu quả, kỹ năng có được nhờ luyện tập tạo thành thói quen, kỹ năng là kiến thức trong hoạt động. Từ những định nghĩa về kỹ năng của các tác giả, chúng tôi quan niệm rằng kỹ năng là năng lực vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để thực hiện có kết quả một hành động nào đó. Kỹ năng là tiêu chuẩn để đánh giá năng lực hoạt động của con người, hình thành kỹ năng là hình thành năng lực hoạt động thực tiễn của con người tạo điều kiện cho mỗi cá nhân được thực hành vận dụng các kiến thức. Các tác giả cho rằng tri thức và kinh nghiệm đã có do thực hiện các hành động trước đó mang lại chính là điều kiện để hình thành kỹ năng. Vì vậy, muốn hình thành kỹ năng trong lĩnh vực hoạt động nào đó trước hết phải cung cấp các tri thức

36. 25 về hành động đó cho người học đồng thời tổ chức các hoạt động cho người học vận dụng các tri thức đã học vào thực hành. Thông qua rèn luyện và bằng luyện tập để hình thành kỹ năng cho người học. Cho nên, trong quá trình học tập ở trường, học sinh cần phải rèn luyện, tập luyện hệ thống kỹ năng giao tiếp. Mà để rèn luyện thành công thì ngoài hệ thống tri thức và kinh nghiệm đúng và đủ, ngoài ý chí kiên trì, bền bỉ còn cần có một thái độ mạnh mẽ, tích cực nữa. Nghĩa là cần có xúc cảm – tình cảm. Vậy, theo chúng tôi, kỹ năng là tổ hợp bởi 3 thành phần cơ bản Nhận thức đủ (LÝ) CHÂN Thái độ đúng (TÌNH) THIỆN Ý chí -hành động vững (CHÍ) MỸ 1.2.2.2. Các mức độ và giai đoạn hình thành kỹ năng Theo K.K.Platonov và G.G.Glubev có 5 mức độ hình thành kỹ năng, đó là: – Mức 1: Có kỹ năng sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử và sai, dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm. – Mức 2: Biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ. – Mức 3: Có kỹ năng chung nhưng còn mang tính rời rạc, riêng lẻ. – Mức 4: có những kỹ năng chuyên biệt để hành động. – Mức 5: Vận dụng sáng tạo những kỹ năng đó trong các tình huống khác nhau. [5, tr.51] Theo quan điểm của V.P.Bexpalko có 5 mức độ kỹ năng như sau: – Kỹ năng ban đầu: người học biết về nội dung một dạng kỹ năng nào đó, khi cần thiết có thể tái hiện những thao tác, hành động nhất định dưới sự hướng dẫn của người dạy. – Kỹ năng mức thấp: người học tự thực hiện được trình tự những thao tác cần thiết của một kỹ năng nào đó trong tình huống quen thuộc, tương tự nhưng chưa di chuyển được sang tình huống mới. – Kỹ năng trung bình: người học tự thực hiện thành thạo các thao tác đã biết trong các tình huống quen thuộc. Tuy vậy, việc di chuyển của các kỹ năng sang tình huống mới còn hạn chế.

37. 26 – Kỹ năng cao: người học tự lựa chọn các hệ thống các thao tác cần thiết trong các tình huống khác nhau. Bước đầu, người học đã biết di chuyển kỹ năng trong phạm vi nhất định. – Kỹ năng hoàn hảo: người học nắm được thành thạo hệ thống các thao tác khác nhau mà không gặp khó khăn gì.[1] Vấn đề hình thành kỹ năng được sự quan tâm của rất nhiều tác giả trong và ngoài nước. Mỗi tác giả có quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung đều thống nhất kỹ năng được hình thành trong hành động. Như vậy, quá trình hình thành kỹ năng là quá trình tiến hành hành động và luyện tập hành động trong thực tiễn đa dạng. 1.2.3. Kỹ năng giao tiếp 1.2.3.1. Khái niệm kỹ năng giao tiếp Kỹ năng giao tiếp là cơ sở cho việc giao tiếp hiệu quả. Có nhiều tác giả đưa ra những cách tiếp cận khác nhau về kỹ năng giao tiếp, cụ thể có thể kể đến: Tiếp cận ở khía cạnh kỹ năng xã hội, các tác giả Michelson, Sugai, Wood và Kazdin (1983) chỉ ra sáu yếu tố chính là trung tâm của khái niệm về kỹ năng xã hội là: – Được học hỏi. – Bao gồm các ứng xử cụ thể bằng lời và không lời. – Đòi hỏi sự bắt đầu và phản hồi thích hợp. – Tối đa hóa sự tưởng thưởng có giá trị từ những người khác. – Đòi hỏi thời điểm thích hợp và kiểm soát các hành vi cụ thể. – Bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngữ cảnh. Do đó, kỹ năng giao tiếp, theo nhóm tác giả trên, có thể hiểu đó là kỹ năng được hình thành qua giáo dục, rèn luyện bao gồm các hành vi ứng xử thích hợp bằng lời và không lời trong những tình huống, hoàn cảnh cụ thể nhằm đạt hiệu quả cao trong giao tiếp với người khác. [31, tr.110] Tác giả Savignon (2001) đã đề cập trong lý thuyết dạy giao tiếp về bốn yếu tố cấu thành nên năng lực giao tiếp:

38. 27 – Năng lực về ngôn ngữ (Grammatical Competence) – Năng lực về văn hóa và xã hội (Sociocultural Competence) – Năng lực về ngôn bản (Discourse Competence) – Năng lực về chiến lược giao tiếp (Strategic Competence) Theo Savignon, việc đề xuất các hoạt động cá nhân theo cặp và theo nhóm để tạo ra môi trường học ngôn ngữ đa dạng sẽ giúp cho người học có nhiều cơ hội tham gia vào quá trình học, từ đó xây dựng động cơ học tích cực, chủ động, tạo niềm tin và hứng thú cho bản thân trong việc học giao tiếp.[31, tr.110] Theo tác giả Nguyễn Văn Đồng thì kỹ năng giao tiếp là năng lực vận dụng có hiệu quả những tri thức về quá trình giao tiếp, về những yếu tố tham gia và tác động tới quá trình này cũng như sử dụng có hiệu quả và phối hợp hài hòa các phương tiện giao tiếp ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và phương tiện kỹ thuật để đạt mục đích đã định trong giao tiếp. [10, tr.60] Nhóm tác giả Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thạc cho rằng kỹ năng giao tiếp là khả năng nhận thức nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và những biểu hiện tâm lý bên trong của đối tượng và của bản thân chủ thể giao tiếp; là khả năng sử dụng hợp lí các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách tổ chức điều chỉnh, điều khiển quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích giao tiếp. KNGT là hệ thống những thao tác, cử chỉ, điệu bộ, hành vi được chủ thể giao tiếp phối hợp hài hòa, hợp lí nhằm bảo đảm đạt kết quả cao trong hoạt động giao tiếp, với sự tiêu hao năng lượng tinh thần và cơ bắp ít nhất, trong những điều kiện thay đổi. KNGT thực chất là sự phối hợp phức tạp giữa những chuẩn mực hành vi xã hội của cá nhân với sự vận động của cơ mắt, ánh mắt, nụ cười, tư thế đầu, cổ,vai, tay, chân đồng thời với ngôn ngữ nói, viết của chủ thể giao tiếp. Sự phối hợp hài hòa, hợp lí giữa các vận động mang nội dung tâm lý nhất định, phù hợp với mục đích, ngôn ngữ và nhiệm vụ giao tiếp cần đạt được của chủ thể giao tiếp. KNGT được hình thành qua các con đường: những thói quen ứng xử được xây dựng trong gia đình, do vốn sống kinh nghiệm cá nhân qua tiếp xúc với mọi người trong các quan hệ xã hội, rèn luyện trong môi trường qua các lần thực hành giao tiếp. [2, tr.201]

39. 28 Theo tác giả Nguyễn Ngọc Lâm thì KNGT là khả năng nhận biết nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và đoán biết diễn biến tâm lý bên trong của con người (với tư cách là đối tượng giao tiếp) trong quá trình giao tiếp, đồng thời biết sử dụng ngôn ngữ có lời và không lời, biết cách định hướng để điều chỉnh và điều khiển quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích đã định.[22] Từ những quan điểm trên cho thấy KNGT bao gồm các yếu tố: tri thức về quá trình giao tiếp tương đối hệ thống; xác định rõ chủ thể giao tiếp, môi trường giao tiếp, mục đích giao tiếp…; sử dụng phương tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và phương tiện kỹ thuật khác hiệu quả. Như vậy, trong nghiên cứu này KNGT được hiểu là năng lực vận dụng những hiểu biết về quá trình giao tiếp, sử dụng có hiệu quả phương tiện giao tiếp để định hướng và điều khiển quá trình giao tiếp. 1.2.3.2. Phân loại các kỹ năng giao tiếp KNGT bao gồm nhiều nhóm kỹ năng cụ thể tùy thuộc vào các cách tiếp cận khác nhau. Có thể nêu lên một vài cách tiếp cận sau: V.P.Darkharov dựa vào trật tự các bước tiến hành của một pha giao tiếp cho rằng để có KNGT thì cần có: kỹ năng thiết lập mối quan hệ trong giao tiếp; kỹ năng biết cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng giao tiếp; kỹ năng nghe và biết lắng nghe; kỹ năng tự chủ cảm xúc và hành vi; kỹ năng tự kiềm chế và kiểm tra đối tượng giao tiếp; kỹ năng diễn đạt dễ hiểu, ngắn gọn, mạch lạc, linh hoạt mềm dẻo trong giao tiếp; kỹ năng thuyết phục đối tượng giao tiếp; kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp; sự nhạy cảm trong giao tiếp.[15] Theo tác giả Nguyễn Văn Đồng, KNGT có thể phân loại thành KNGT ngôn ngữ, KNGT phi ngôn ngữ và KNGT liên nhân cách. KNGT ngôn ngữ chia thành KNGT nói với KNLN, kỹ năng diễn đạt và KNGT bằng văn bản với kỹ năng phân tích tình huống, kỹ năng tổ chức thông tin và kỹ năng trình bày văn bản. Kỹ năng phi ngôn ngữ bao gồm kỹ năng ăn mặc, kỹ năng kiểm soát tư thế, cử chỉ, kỹ năng kiểm soát biểu hiện nét mặt và cái nhìn, kỹ năng kiểm soát lĩnh vực phi ngôn ngữ của lời nói. Kỹ năng liên nhân cách bao gồm hai nhóm là nhóm kỹ năng điều chỉnh

40. 29 sự phù hợp, cân bằng trong giao tiếp gồm sự nhạy cảm trong giao tiếp, kỹ năng tạo dựng quan hệ, kỹ năng cân bằng nhu cầu của bản thân và của đối tượng giao tiếp, kỹ năng linh hoạt, mềm dẻo trong giao tiếp và kỹ năng tự chủ cảm xúc, hành vi. Nhóm kỹ năng đóng vai trò tích cực, chủ động trong giao tiếp gồm kỹ năng chủ động điều khiển quá trình giao tiếp, kỹ năng thuyết phục đối tượng giao tiếp và kỹ năng kiềm chế, kiểm tra người khác. [10, tr.63] Đề tài sử dụng cách phân loại KNGT thành ba nhóm KNGT: – Nhóm kỹ năng định hướng – Nhóm kỹ năng định vị – Nhóm kỹ năng điều chỉnh, điều khiển. a. Nhóm kỹ năng định hướng Nhóm kỹ năng này được biểu hiện ở khả năng dựa vào sự biểu cảm, ngữ điệu, thanh điệu của ngôn ngữ, cử chỉ, động tác, thời điểm và không gian giao tiếp để phán đoán chính xác về nhân cách cũng như mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp. Người có kỹ năng tri giác tốt có thể dễ dàng phát hiện sự không ăn khớp giữa lời nói và ngôn ngữ của thân thể. Nhóm kỹ năng này bao gồm các kỹ năng: – Kỹ năng đọc trên nét mặt, cử chỉ, hành vi, lời nói. Nhờ tri giác tinh tế và nhạy bén các trạng thái tâm lý qua nét mặt, cử chỉ, ngữ điệu, âm điệu của lời nói mà chủ thể giao tiếp phát hiện chính xác và đầy đủ thái độ của đối tượng. Ngôn ngữ diễn tả tình cảm hay còn gọi là ngôn ngữ biểu cảm rất phong phú. Nó thể hiện tính cách, trí tuệ, tình cảm,…Do vậy, có thể dựa vào đó để nhận xét, đánh giá và phán đoán đúng nội tâm của đối tượng giao tiếp. – Kỹ năng chuyển từ tri giác bên ngoài vào nhận biết bản chất bên trong của nhân cách. Sự biểu hiện các trạng thái tâm lý của con người qua ngôn ngữ và điệu bộ là rất phức tạp, vì cùng một trạng thái cảm xúc lại có thể biểu lộ ra bằng ngôn ngữ và điệu bộ khác nhau và ngược lại, sự biểu hiện ở bên ngoài như nhau có thể lại là biểu hiện cảm xúc tâm trạng khác nhau. Do vậy, kỹ năng này có thể giúp chúng ta thông qua những biểu hiện chung nhất bên ngoài mà phán đoán đúng các trạng thái, đặc điểm tâm lý của đối tượng.

42. 31 phù hợp với đối tượng giao tiếp, với hoàn cảnh, mục đích, nội dung, nhiệm vụ giao tiếp… Kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp. Phương tiện giao tiếp đặc trưng của con người là ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. Từ ngôn ngữ và ngữ điệu có tác động mạnh mẽ đến tình cảm của con người. Trong giao tiếp, chủ thể cần phải làm chủ các phương tiện giao tiếp của mình thì mới thu được hiệu quả trong giao tiếp. 1.2.3.3. Một số kỹ năng giao tiếp cơ bản KNGT gồm một số các KNGT cơ bản như: Kỹ năng làm quen, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng đặt câu hỏi, KNGT qua điện thoại, KNGT bằng thư tín, kỹ năng kiềm chế cảm xúc, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng giải quyết xung đột, kỹ năng thiết lập quan hệ xã hội, kỹ năng thuyết trình. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu kỹ năng làm quen, kỹ năng lắng nghe và kỹ năng giải quyết xung đột. a. Kỹ năng làm quen – Sự cần thiết của việc làm quen Trong cuộc sống cũng như trong công việc, con người thường xuyên phải tiếp xúc với những cá nhân, cộng đồng trong xã hội. Để thiết lập, duy trì và củng cố những mối quan hệ trong xã hội đòi hỏi cá nhân phải có kỹ năng làm quen để bắt đầu các mối quan hệ. Làm quen có ảnh hưởng rất nhiều đến mối quan hệ sau này của các đối tượng giao tiếp. Nếu không có sự làm quen thì con người không thể bắt đầu các mối quan hệ, sự tiếp xúc về mặt tâm lý, tư tưởng, tình cảm khi làm quen là cơ sở để con người có thể hiểu nhau hơn. Thông qua làm quen các đối tượng giao tiếp sẽ bộc lộ những đặc điểm tâm lý, tính cách của mình nhờ vậy mà người đối diện có thể đối xử phù hợp trong quá trình giao tiếp. Từ những thiện cảm ban đầu khi làm quen sẽ dẫn đến một mối quan hệ tốt đẹp sau này. – Các kiểu làm quen Xét trên cơ sở tính chủ đích khi làm quen, người ta chia thành hai loại: làm quen có chủ đích và làm quen không có chủ đích. Làm quen có chủ đích là làm quen với ai đó theo một mục đích đã đề ra, trong những trường hợp này thì chủ thể

43. 32 giao tiếp thường tìm hiểu trước những thông tin về đối tượng giao tiếp để việc làm quen đem lại hiệu quả cao. Làm quen không có chủ đích là con người làm quen mà không theo mục đích đã có từ trước, chủ thể giao tiếp thường rơi vào thế bị động. Xét trên phương diện mong muốn duy trì mối quan hệ chia thành hai loại: làm quen hướng tới mục đích lâu dài và làm quen xã giao. Làm quen hướng tới mục đích lâu dài trong trường hợp người trong cuộc mong muốn duy trì mối quan hệ lâu dài nhằm mục đích nào đó, chủ thể giao tiếp có sự chuẩn chị từ trước và rất thận trọng trong quá trình làm quen. Làm quen xã giao thường mang tính hời hợt trong tình huống chúng ta gặp một ai đó đòi hỏi phải diễn ra hoạt động giao tiếp giữa ta với đối tượng ngay lúc đó. Xét theo phương diện làm quen chia thành hai loại: làm quen trực tiếp và làm quen gián tiếp. Làm quen trực tiếp là kiểu làm quen không thông qua sự giới thiệu hay yếu tố trung gian nào, tính chủ động của người làm quen rất cao và có những yêu cầu riêng. Làm quen gián tiếp là hình thức mà cá nhân này quen với cá nhân khác thông qua sự giới thiệu của một người thứ ba hoặc phương tiện trung gian. – Các bước làm quen Nếu xét làm quen theo một tiến trình về thời gian thì có thể chia làm bốn bước, đó là: tìm hiểu đối tượng, chuẩn bị tâm thế, bắt đầu làm quen và hoàn tất quá trình làm quen. Tìm hiểu đối tượng là tìm hiểu về đặc điểm nhân thân, thông tin cá nhân, nghề nghiệp, chức vụ, sở thích, tính cách…, cần lưu ý đến lĩnh vực quan tâm hay sở thích của họ, cần phải có sự chọn lọc và khái quát hóa. Sau khi có những thông tin về đối tượng muốn làm quen, việc tiếp theo là chuẩn bị cho mình tâm thế sẵn sàng để làm quen với đối tượng để thể hiện được thiện chí, mong muốn được làm quen của chủ thể giao tiếp. Bắt đầu làm quen gồm các bước: chào hỏi, tự giới thiệu về mình, bày tỏ sự hân hạnh khi được làm quen, trao đổi một vài vấn đề chung, hỏi thăm thông tin của người muốn làm quen, lưu giữ thông tin cá nhân. Hoàn tất quá trình làm quen, kết thúc quá trình làm quen các đối tượng giao tiếp đã có được những thông tin cần thiết.

44. 33 b. Kỹ năng lắng nghe Kỹ năng lắng nghe là khả năng hiểu được nội dung lời nói, nhận biết được tâm trạng, cảm xúc và nhu cầu của người nói. Cần chú ý một số kỹ năng sau đây để có thể nâng cao hiệu quả của việc lắng nghe: Kỹ năng gợi mở. Để cho người đối thoạii tự nhiên và mạnh dạn chia sẻ những nội dung khó nói hoặc tế nhị, chúng ta cần tỏ ra am hiểu vấn đề và đồng cảm về cảm xúc cùng với những yếu tố giao tiếp phi ngôn ngữ để người nói cảm nhận được rằng mình đang quan tâm và hưởng ứng những gì họ nói. Có sự phản hồi thích hợp với những nội dung mà người nói chia sẻ. Đặt câu hỏi để làm rõ hơn vấn đề và cũng để thể hiện sự quan tâm đến nội dung đối thoại. Giữ im lặng những lúc cần thiết. Kỹ năng bộc lộ sự quan tâm. Khi lắng nghe, nên ngồi hướng về phía người đối thoại và thể hiện sự quan sát. Có sự tiếp xúc bằng mắt một cách hợp lý. Có những động tác, cử chỉ đáp ứng lại người nói như: gật đầu, mỉm cười… Kỹ năng tạo lập không khí giao tiếp thoải mái, bình đẳng. Tùy thuộc vào mức độ mối quan hệ mà cần giữ khoảng cách giao tiếp phù hợp. Khi một người đứng thì người kia cũng nên đứng và khi người kia ngồi thì người nghe cũng nên ngồi trong quá trình tương tác. Kỹ năng phản ánh lại. Người nghe sẽ diễn đạt lại ý của người nói theo cách hiểu của mình, giúp bạn xác định lại nhận thức của bản thân có đúng với những gì người đối thoại muốn chuyển tải không, vừa thể hiện sự quan tâm của bạn đối với người nói. c. Kỹ năng giải quyết xung đột Xung đột là sự va chạm của những xu hướng đối lập, mâu thuẫn nảy sinh trong bản thân cá nhân, trong quan hệ liên nhân cách hay liên nhóm kèm theo những chấn động về mặt tình cảm. Để xử lý xung đột cần quan tâm đến hai mức độ của nó. Với những xung đột mang tính đơn giản trong giao tiếp, có thể gọi là mâu thuẫn thì cần được xử lý sao cho nhẹ nhàng và ít thương tổn. Nếu xung đột cần được giải quyết triệt để chúng ta nên lựa chọn chiến lược giải quyết.

Văn Hóa Giao Tiếp Là Gì? Làm Thế Nào Để Giao Tiếp Tốt Trong Mọi Trường Hợp / 2023

Ngôn ngữ cơ thể góp phần rất lớn vào thành công của cuộc giao tiếp. Do đó, bạn đừng né tránh hay rụt rè giấu mình khi người khác nói chuyện với bạn. Ngược lại, bạn hãy duy trì sự thoải mái, không ngó lơ, phớt lờ dù bạn là người nói hay người nghe.

Một số dấu hiệu để đảm bảo cơ thể bạn đang quan tâm đến cuộc trò chuyện: Ánh mắt chú tâm, thi thoảng gật đầu đồng ý; đứng với tư thế hai bàn tay đan nhau ở phía trước; tuyệt đối không được khoanh tay lại; không được lộ cử chỉ cắn móng tay, siết chặt tay hay những hành vi khiến đối phương mất thoải mái và câu chuyện bị đứt quãng.

Khi giao tiếp, bạn cần phải nói năng rõ rang, mạch lạc, súc tích, tránh nói dong dài, lê thê. Phải kiểm tra xem họ có hiểu những gì bạn nói không và luôn sẵn lòng giải thích. Ngoài ra, bạn phải có thái độ chủ động trong giao tiếp, lắng nghe một cách tích cực. Có nghĩ, khi người khác đang nói, bạn cần ghi nhớ những điều quan trọng mà bạn thắc mắc hoặc muốn bày tỏ quan điểm. Sau đó, suy nghĩ về nó, có thể hỏi lại nếu không hiểu. Như vậy, bạn sẽ tiếp thu được nhiều hơn.

Bạn có rơi vào tình trạng những cuộc trò chuyện có xu hướng bị thu hẹp, khi mà nội dung chỉ xoay quanh những cuộc trao đổi hời hợt nơi công sở? Đó là vì bạn chưa thực hành giao tiếp kiên định bằng cách sẵn sàng cởi mở. Bạn hãy thành thật, chân thành, khéo léo trong giao tiếp, đừng sợ khi phải nói lên những vấn đề khó khăn đang gặp phải. Vì khi nói ra, có thể bạn sẽ tìm được đồng minh hoặc sẽ được giúp đỡ nhiệt tình.

Bạn không nên vội vàng, mất hết kiện nhẫn mà làm gián đoạn khi đối phương đang nói. Bạn cần phải cho họ thời gian để bày tỏ vấn đề và tập trung vào những gì học nói, để cho họ thấy bạn luôn sẵn sàng giúp đỡ họ khi cần. Nếu bạn gặp phải các cuộc giao tiếp dong dài, không đi vào vấn đề chính, bạn nên hít thở sâu và suy nghĩ cuộc hội thoại này vô cùng quan trọng. Hoặc nếu bạn bối rối về những gì họ yêu cầu bạn, hãy lặp lại suy nghĩ của bạn và xác nhận điều đó có chính xác không. Thay vì bạn nổi đóa và khiến cuộc trò chuyện nặng nề hơn.

1 Số Chú Ý Về Chức Năng Giao Tiếp Trong Đề Thi Đại Học Post 1 Docx / 2023

1 số chú ý về chức năng giao tiếp trong đề thi đại học

Note : Đôi khi, người nói có thể thêm một ít thông tin trong lời cám ơn của mình, đặc biệt là khi cám ơn những lời khuyên, động viên, khen ngợi. Example 1: A: What a beautiful dress you’re wearing! B: Thanks. I made it myself Example 2: A: Don’t worry, John. I believe you can make it B: Thank you. I’ll try my best

2. ANSWER – ĐÁP LẠI: That’s alright Never mind Don’t worry about it Don’t apologize It doesn’t matter It’s OK Forget about it No harm done It’s not your fault Please don’t blame yourself Example 1: A: I apologize for the noise last night B: Don’t worry about it Example 2: A: I’m very sorry. I just forgot to bring your book B: It’s alright Note: Người nói cũng có thể đưa ra lí do mình tha lỗi cho người khác. Example 1: A: I apologize for the noise last night B: Don’t worry about i t. I slept very well all night.

II. ADVICES, SUGGESTIONS AND WARNINGS:

B – LỜI ĐỀ XUẤT – SUGGESTIONS 1. SENTENCES AND STRUCTURES – CÁC CÂU VÀ CẤU TRÚC KHI CẦN ĐƯA RA MỘT Ý KIẾN ĐỀ XUẤT HAY ĐỀ NGHỊ: What/ How about: How about going to the concert tonight? Why don’t we: Why don’t we take a hiking trip tomorrow? Let’s: Let’s discuss this problm right now We could: We could eat at Pablo’s. It’s wonderfull I suggest we: I suggest we leave the party soon Have you thought of: have you ever thought of giving him a tie? 2. ANSWERS – CÁC CÂU ĐỂ TRẢ LỜI: It’s a good idea Sounds great/Sounds like fun I don’t think it’s a good idea Example 1: A: I’m so bored. Sitting around here makes me sick B: How about watching some movies? Example 2: A: Next Saturday is Jane’s birthday B: Really? So, let’s make her a surprising party

C – LỜI CẢNH BÁO – WARNINGS 1. SENTENCES AND STRUCTURES – CÁC CÂU VÀ CẤU TRÚC ĐỂ CẢNH BÁO AI ĐÓ VỀ NHỮNG VIỆC HỌ KHÔNG NÊN LÀM: Or: Don’t stay up late, or you’ll be late tomorrow Otherwise: Work harder, otherwise you won’t get promotion Watch out!: Watch out! There’s a hole on the ground Be careful!: Be careful! The box is very heavy You’d better: You’d better no swim too far away 2. ANSWER – CÁC CÂU HOẶC CẤU TRÚC ĐỂ TRẢ LỜI: OK! I will/won’t Don’t worry. I will/won’t Example 1: A: Don’t stay up late, or you’ll be late tomorrow B: Don’t worry, I won’t (stay up late) Example 2: A: You’d better submit the assignment on time B: OK. I will (submit the assignment on time)