Skkn Một Số Biện Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Yếu Kém

Vận dụng phương pháp tích cực vào việc dạy giải Toán có lời văn cho học

sinh lớp 4 (Đã được Hội đồng thẩm định SKKN năm học 2009 – 2010 công

nhận).

Một số biện pháp để nâng cao chất lượng học sinh yếu kém (Đã được Hội

đồng thẩm định SKKN năm học 2010 – 2011 công nhận ).

Một vài kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm ở lớp Bốn (Đã được Hội

đồng thẩm định SKKN năm học 2011 – 2012 công nhận ).

1

Đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO

CHẤT LƯỢNG HỌC SINH YẾU KÉM

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Vấn đề học sinh yếu kém luôn là vấn đề được được tất cả các ngành, các cấp

và toàn xã hội quan tâm. Đặc biệt vấn đề này càng được ngành giáo dục Việt Nam

hết sức chú trọng trong các năm học gần đây và đã đưa vào nội dung của cuộc vận

động “Hai không” để triển khai thực hiện sâu rộng trong toàn ngành. Thật xót xa

làm sao khi mà hằng ngày, hàng giờ, các phương tiện thông tin đại chúng vẫn đưa

tin về không ít học sinh đang “ngồi nhầm lớp”, thậm chí có em đã lên học cấp

THCS mà vẫn chưa đọc thông, viết thạo, … Để học sinh yếu kém, “ngồi nhầm

lớp” thực sự là một cái “Tội” – Tội của thầy và tội cho cả học sinh.

Thực tế cho thấy, bên cạnh số học sinh khá – giỏi, trong một lớp học bao giờ

cũng có vài em học sinh yếu kém. Điều đó đã dẫn đến sự chênh lệch về trình độ

tiếp thu của các em và nhất là đối với học sinh yếu kém thì học tập quả là một

gánh nặng. Gánh nặng đó, khiến các em khó vượt qua để theo kịp với các bạn

trong lớp.

Qua 15 trực tiếp giảng dạy, tôi đã gặp không ít học sinh yếu kém, các em yếu

kém ở nhiều dạng khác nhau, điều đó đã gây không ít khó khăn cho công tác chủ

nhiệm của tôi. Vậy làm cách nào để tạo động cơ học tập cho học sinh yếu kém ?

Đó chính là vấn đề mà tôi và tất cả các đồng nghiệp luôn trăn trở và cần có hướng

giải quyết ngay từ khi vừa nhận lớp.

Từ các lí do trên, sau nhiều năm vận dụng và chọn lọc, tôi mạnh dạn đưa ra

“Một số biện pháp để nâng cao chất lượng học sinh yếu kém”.

II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1. Cơ sở lí luận:

Bác Hồ đã từng căn dặn học sinh: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp

hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các

cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập

của các em….”

Muốn thực hiện tốt lời căn dặn đó của Người, đòi hỏi mỗi học sinh Tiểu học

phải đạt được các yêu cầu về chuẩn kiến thức, kĩ năng của lớp mình đang học.

Thế nhưng, trong một lớp học, bao giờ cũng có vài em chưa thực sự đạt đến

Luận Văn Đề Tài Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Trường Thcs Cát Hiệp

Lý luận: Nâng cao chất lượng dạy học là vấn đề mà tất cả các cơ sở giáo dục đều quan tâm, vấn đề mà hiện nay cả xã hội đang gởi trọn niềm tin và huy vọng vào các nhà trường, từ bậc học mầm non đến tiểu học, trung học và cả đại học, trung học nghề. Trong điều kiện phát triển kinh tế hội nhập hiện nay, vấn đề các sản phẩm đảm bảo chất lượng, chất lượng cao là yêu cầu không thể thiếu của các cơ sở sản xuất, nhất là đối với ngành giáo dục, sản phẩm đảm bảo chất lượng sẽ là điều kiện thuận lợi nhất để mỗi con người sau khi rời môi trường học tập dễ hòa nhập bắt nhịp vào cuộc sống, tham gia lao động sản xuất đạt hiệu quả và có năng suất cao. Trong ngành giáo dục nói chung, và trường THCS Cát Hiệp nói riêng vấn đề chất lượng học tập của học sinh là vấn đề mà người làm công tác quản lý trong nhà trường không thể nào không đề cập đến. Người cán bộ quản lý trong nhà trường, hoạt động của nhà trường có rất nhiều lĩnh vực khác nhau cần quan tâm, nhưng đích cuối cùng của các công việc ấy là làm thế nào để nâng cao chất lượng học tập của học sinh. Theo báo cáo của Ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa IX, phần kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết Đại Hội Đảng lần thứ IX về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2001 – 2005 ” .Chất lượng giáo dục còn nhiều yếu kém; khả năng chủ động, sáng tạo của học sinh, sinh viên còn yếu. Chương trình, phương pháp dạy và học còn lạc hậu, nặng nề, chưa thật phù hợp .”. Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010, đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo, báo cáo chỉ rõ ” Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. Đổi mới phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên. Coi trọng bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên khát vọng mãnh liệt xây dựng đất nước giàu mạnh, gắn liền lập nghiệp bản thân với tương lai của cộng đồng, của dân tộc, trau dồi cho học sinh, sinh viên bản lĩnh, phẩm chất và lối sống của thế hệ trẻ Việt Nam hiện đại. Triển khai thực hiện hệ thống kiểm định khách quan, trung thực chất lượng giáo dục, đào tạo “. Như vậy, đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới đã đặt ra cho ngành giáo dục và đào tạo nói chung và mỗi ngành học, mỗi nhà trường nói riêng, mỗi cán bộ quản lý vấn đề:làm gì, làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng dạy học trong nhà trường, chất lượng học tập của học sinh. Thực tiễn: Hiện trạng giáo dục trong những năm gần đây của trường THCS Cát Hiệp vấn đề chất lượng học sinh rất biến động, tuy có đạt được một số thành tích song so với yêu cầu của xã hội đặt ra thì nhà trường vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết tiếp. Kết quả học tập của học sinh chưa cao, số lượng học sinh sau khi tốt nghiệp bậc học trung học cơ sở thi đậu vào lớp 10 trung học phổ thông còn thấp so vớ các trường lân cận. Học sinh đạt danh hiệu học sinh giỏi các bộ môn cấp Huyện, cấp Tỉnh còn quá ít; Giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi các cấp còn ít . Nhìn chung thành tích giáo viên giỏi và học sinh giỏi của trường còn chưa đáng kể. Công tác quản lý của ban Giám Hiệu , đứng đầu là Hiệu trưởng còn lúng túng, chưa tìm được giải pháp thích hợp để nâng cao chất lượng học tập của học sinh, chưa huy động được các nguồn lực của xã hội tham gia vào công tác giáo dục. Mặt khác: trong quá trình tiếp nhận đầu vào về học sinh, nguồn học sinh này chiếm phần lớn chưa đảm bảo kiến thức của học sinh tiểu học ( đọc chưa thông, viết chưa thạo, làm các phép toán cơ bản của bậc tiểu học còn lúng túng chưa thành thạo ). Điều kiện kinh tế hiện tại của địa phương còn quá khó khăn, mức độ đầu tư chăm lo việc học tập của con em hầu như cha mẹ học sinh giao phó cho nhà trường. Hơn nữa, nhiều gia đình cha mẹ học sinh lại đi làm ăn xa, việc học hành, vui chơi sinh hoạt hằng ngày do các em tự liệu lấy Chính vì vậy mà kết quả học tập của các em không cao, làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của nhà trường. Bỡi thế nên tôi chọn đề tài này để nghiên cứu.

Biện Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Cho Học Sinh

"BIỆN PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CHO HỌC SINH " I. §Æt vÊn ®Ò Mục đích giáo dục tiểu học được coi như là mô hình nhân cách mong muốn mà xã hội " đặt hàng" với giáo dục , yêu cầu giáo dục và tạo điều kiện cho giáo dục thực hiện có chất lượng và hiệu quả mô hình nhân cách mong muốn đó . Như vậy có nghĩa là, căn cứ vào chiến lược con người cho một thời kỳ dài nói chung, vào nhu cầu nguồn nhân lực của từng giai đoạn phát triển đất nước nói riêng, xã hội đòi hỏi nền giáo dục phải bằng mọi cách tích cực , giáo dục và đào tạo cho được những con người phát triển nhiều mặt nhân cách mong muốn , đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước ngày càng đi lên những trình độ cao. Trước những yêu cầu của giáo dục như vậy , bản thân tôi là giáo viên tiểu học toi luôn luôn trăn trở làm gi ? làm bằng cách gì ? để cho trình độ học sinh ngày một đi lên. Chắc là khó đây ! nhất là đối với học sinh tiểu học . Như chúng ta đã biết : Trách nhiệm và sứ mệnh vô cùng cao quý của người giáo viên là những kỹ sư tâm hồn , những chiến sỹ trên mặt trận tư tưởng văn hóa trong sự nghiệp giáo dục và trong thời kỳ công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước . Theo kịp với các nước tiến tiến trên thế giới . Nghành giáo dục đã có đổi mới trong việc dạy và học . Dạy và học ở mõi lớp , mỗi cấp có nội dung chương trình , mục tiêu riêng của nó song đều đi đến đích cuối cùng là giáo dục thế hệ trẻ ngày càng hoàn thiện hơn về nhân cách tư duy năng lực trí tuệ . Giáo dục các em trở thành người con ngoan , trò giỏi là việc làm cực kỳ khó khăn . Để đạt được điều trên , tôi không có gì ngoài một số ý kiến nhỏ sau đây : II. THỰC TRẠNG DẠY HỌC HIỆN NAY Đối với giáo viên: Sau mấy năm thực hiện dạy theo chuyên đề thay sách do sở Giáo dục - Đào tạo triển khai . Một số giáo viên khi được nhà trường phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp cũng có nhiều băn khoăn lo lắng , e rằng phải gặp những khó khăn trong quá trình giảng dạy . Thế nhưng sau thời gian mệt mài , chăm chỉ , hầu hết các giáo viên đã nắm vững quy trình lên lớp cho tất cả các môn học . Giáo viên đã chú ý đến việc phát huy tính tích cực của học sinh , học sinh đã biết tự tìm ra kiến thức mới dưới sự hướng dẫn của giáo viên . Hình thức dạy học đa dạng , phong phú , các trò chơi được đưa vào dạy học một cách có hiệu quả nhằm giúp học sinh " học mà chơi , chơi mà học " nắm chắc bài một cách nhẹ nhàng thoải mái . Bên cạnh đó vẫn còn có phần ít giáo viên do trình độ nhận thức hay tuổi tác nên việc sáng tạo trong dạy học vẫn có phần hạn chế . Chủ yếu là chuyển tải nội dung trong sách giáo khoa , hình thức dạy học tẻ nhạt .Quy trình lên lớp chủ yếu rập khuôn vào sách giáo viên do Bộ ban hành nên học sinh chưa thật sự ham học . 2. Học sinh : Đa số phần đông học sinh có đầy đủ sách giáo khoa , đồ dùng học tập , chăm ngoan , ham học . Nhưng cũng không ít học sinh do hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn nên không có đủ đồ dùng học tập . Có một số ít phụ huynh chưa thật sự quan tâm con em mình . Riêng đối với lớp 1 , những ngày đầu đến lớp phần đông các em chưa quen với kỹ năng ngồi yên suốt mấy tiếng đồng hồ để học vì ở mẫu giáo các chủ yếu là chơi .( Đây là đối tượng giáo viên cần quan tâm ) Qua khảo sát chất lượng đầu năm như sau : Lớp Số H.S TIẾNG VIỆT TOÁN G % K % TB % Y % G % K % TB % Y % 1A 34 9 27 10 29,5 11 31,5 4 12 8 24 10 29,5 13 37,5 3 9 1B 32 9 27,7 8 24,8 12 38,2 3 9,3 8 24,8 8 24,8 13 41,1 3 9,3 Những học sinh xếp loại yếu là do các em không chú ý . III. GIẢI PHÁP CỤ THỂ Và tôi đã thiết kế một số câu đố vui, trò chơi Toán học cho học sinh lớp 1 khi học các bài về số có một chữ số : Ví dụ 1 : Bài 8: Các số 1 , 2 , 3 , 4 , 5 Trò chơi : " Nhớ nhanh, đoán đúng ". Mục đích : Củng cố phần ghi nhớ về chữ số 4 , 5 . Cách chơi : Học sinh A trong vai Ong nâu; Học sinh B trong vai Bướm vàng Ong nâu : Từ cửa bước vào . Chị chào các em. Các em học ngoan quá ! Giỏi quá! Học sinh : Chúng em chào chị Ong nâu! Ong nâu : Bây giờ để xem em nào học giỏi , đoán nhanh, đoán đúng hãy nghe chị nêu câu đố, nếu các em giải được tức là các em đã đoán được chị là là con thứ mấy trong gia đình rồi đấy. Có 1 nét xiên , đưa từ trên xuống Và một nét ngang, đưa từ trái qua Chia đôi nét ngang, thành một net thẳng Mau mau bạn nói tôi tên số gi? Học sinh : Chọn chữ số giơ lên. .( Nếu học sinh giải đố không đúng thì Cừu non phải hướng dẫn) Ong nâu : Đúng đấy ! Đúng đấy ! Đó là chữ số 4 . Vậy các bận đoán chị là con thứ mấy trong gia đình nào ? Học sinh : Chị là con thứ tư trong gia đình ạ ! Thứ tư ạ ! Ong nâu : Cảm ơn các em ! Cảm ơn các em ! ( Vẫy tay từ từ đi ra ) Số gì có một nét nằm ngang Nét thẳng đặt đứng Nét cong dưới cùng Học sinh : Giải đố ( giơ thẻ lên ) Bướm vàng : Đúng rồi ! Đó là chữ số 5 .Vậy mình là con thứ mấy trong gia đình nào ? Học sinh : Bạn là con thứ 5 trong gia đình ! con thứ năm ! Bướm vàng : Đúng đấy ! Dúng đấy ! Bố mẹ mình sinh được bảy người con ( 2 trai, 5 gái) . Mình là con thứ 5 trong gia đình .Để nuôi chúng mình , bố mẹ mình rất vất vả, phải làm việc liên tục mơi dủ cơm ăn , áo mặc cho các con.Để đền đáp công ơn của bố mẹ mình sẽ cố gắng học thật giỏi đấy . Trò chơi : Điền nhanh, điền đúng . Mục đích : Củng cố dãy số tự nhiên từ 1 đến 7 Chuẩn bị : Kẻ sẵn bốn băng ô lên bảng Cách chơi : Mỗi đội chọn một em lên điền .Sau dó nêu câu hỏi : Dãy số trên số nào lớn nhất ? Số nào bé nhất ? Số 7 đứng liền sau số nào ? Chữ số 7 được viết như thế nào? Cho cả đọc thơ : " Tôi là số bảy Đầu tôi nét ngang Lưng tôi nét xien Phần ngực phần bụng Gạch ngang rõ ràng " Ví dụ 3 : Bài 18 : Số 8 Trò chơi : Giải đố Mục đích : Ghi nhớ về hình dạng , cách viết chữ số 8 Chuẩn bị : Ba học sinh đọc trước ba câu đố Cách chơi : Ba học sinh lần lượt đọc câu đố của mình để cả lớp giải đố ( Ba học sinh từ ngoài đi vào , cúi chào các bạn ). Học sinh 1 : Thân tôi thắt lưng ong Đầu tròn đuôi cũng tròn trông lạ kỳ ( Là số mấy ? ) Cả lớp : Giải đố Học sinh 2 : Mình tôi hai chữ o tròn Gập đôi tôi chỉ một tròn nữa thôi ( Là số mấy ? ) Cả lớp : Giải đố Học sinh 3 : Có hai chữ o Nối liền một dải Chữ trên chữ dưới Hai đầu dính nhau ( Là số mấy ? ) Cả lớp : Giải đố Ví dụ 4 : Bài 19 : Số 9 Mục đích : Giúp học sinh phân biệt chữ số 6 và chữ số 9 . Trò chơi : Tiểu phẩm vui Cách chơi : Học sinh A trong vai số 6 Học sinh B trong vai số 9 Học sinh A : ( Đến nhà số 9 chơi ) . Chào bạn số 9 ạ ! Học sinh B : Thế bạn đến chơi hay có việc gì ? Học sinh A : Từ nhà tôi đến nhà bạn phải qua nhà các bạn 7 , 8 . Trời nóng . nực mệt thật đấy . Học sinh B : Này số 6 ơi , mình và bạn có cái gì giống nhau mà khi viết bằng kí hiệu Toán học có một vài bạn lớp 1 thường hay viết sai thế nhỉ ? Thật là lạ . Học sinh A : Đúng đấy ! Đúng đấy ! Mình nghỉ ra rồi : khi bạn lộn nhào tưởng là mình đấy . Học sinh B : Ừ ! Chỉ có thế mà cũng chẳng nhận ra nhỉ . Thế chúng mình cùng đọc bài thơ sau để các bạn ghi nhớ nào . Học sinh A , B : Lúc tôi lộn nhào Ai cũng gọi tôi " Chào anh sáu ạ " Nhưng lúc đứng dậy Đầu tròn trọc lóc Thân thì xiên xiên Đó là số chin Bạn ơi kẻo nhầm . IV. KẾT QUẢ Qua thực tế giảng dạy các trò chơi , phần câu đố , vần thơ ngắn gọn , dễ nhớ, dễ thuộc nhìn chung các em rất thích học. Trong giờ học các em cảm thấy thoải mái, tự tin. Chơi mà học , học mà chơi nhưng thực sự có hiệu quả rõ nét . Ngoài ra, việc dựa vào tâm lý lứa tuổi học sinh để dạy học cũng góp phần rất quan trọng vào công cuộc nâng cao kết quả học tập cho học sinh . Sau khi thực hiện theo những điều vừa nêu ở trên , tôi trực tiếp khảo sát, kết quả sau : T.Gian K.Tra Líp Sè Hs G % K % TB % Y % TuÇn 5 1A 34 9 27 10 29,7 12 34,3 3 9 1B 32 10 31,5 9 27,7 10 31,5 3 9.3 GIỮA Kú I 1A 34 10 29,7 10 29,7 11 31,6 3 9 1B 32 11 34,6 9 27,7 10 31,5 2 6,2 Kú i 1A 34 9 27 11 33,7 12 34,3 2 6 1B 32 11 34,8 10 31,5 10 31,5 1 3,2 Qua bài kiểm tra giữa học kỳ I, học kỳ I , dưới sự chỉ đạo của nghành giáo dục cấp trên , của ban lãnh đạo nhà trường . Tôi nghĩ rằng cứ thực hiện như những điều nói trên ít nhiều sẽ giúp các em học sinh học tiến bộ hơn , nhất là các em yếu .Nếu cứ theo đà này , mỗi một giáo viên chúng ta cần sáng tạo trong dạy học chắc hẳn các em tiếp thu theo nội dung sách giáo khoa mới sẽ có một kiến thức vững vàng, sẵn sàng học lên các lớp trên một cách tự tin . V.BÀI HỌC KINH NGHIỆM Từ những kết quả của quá trình dạy học tôi tự nhận thấy : để nâng cao chất lượng học tập cho học sinh giáo viên cần phải thực hiện tốt những vấn đề sau : - Trước hết người giáo viên phải thực sự yêu nghề , mến trẻ . Phải có tâm huyết với nghề . -Người giáo viên phải nắm vững đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học để chọn phương pháp dạy học phù hợp , kịp thời giúp đỡ những học sinh yếu , cá biệt - Người giáo viên vừa là người cô , vừa là người mẹ, vừa là người chị, vừa là người bạn để dễ dàng gần gũi với các em hơn .Nhờ đó mà dễ dàng giúp đỡ các em vượt qua mọi khó khăn để các em tự tin hơn trong học tập . - Trong quá trình giảng dạy giáo viên cần động viên , nhắc nhở kịp thời để các em có cố gắng, khắc phục kịp thời . - Trước khi lên lớp giáo viên phải nghiên cứu kỹ nội dung và phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng . Xin chân thành cảm ơn ./. ( Mong được góp ý : . mail của toâi [email protected] or coù theå lieân heä soá Tel: 01687107546 - 0383782899 )

Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mũi Nhọn

Trong kỳ thi HSG cấp tỉnh vừa qua, toàn tỉnh có 766 học sinh lớp 12 và 341 học sinh lớp 9 đạt giải. Số lượng, chất lượng học sinh đạt giải nhất, nhì, ba cao hơn năm trước, đặc biệt, một học sinh nữ của Trường THPT Hưng Nhân đã xuất sắc giành 2 giải nhất môn Toán học và Vật lý.

Đồng chí Nguyễn Văn Đầm, Trưởng phòng Giáo dục trung học, Sở Giáo dục và Đào tạo cho biết: Để đạt được kết quả trên, Sở Giáo dục và Đào tạo đã lựa chọn những giáo viên có kinh nghiệm và thành tích cao trong công tác bồi dưỡng HSG để xây dựng đề thi. Hội đồng ra đề thi được cách ly triệt để, đề thi in sao, niêm phong tới từng phòng thi. Kỳ thi chọn HSG lớp 12 cấp tỉnh có 1.480 thí sinh dự thi. Sở Giáo dục và Đào tạo đã điều động cán bộ từ huyện này sang huyện khác coi thi, cử 1 cán bộ thanh tra tại mỗi hội đồng để giám sát toàn bộ quá trình thi. Toàn bộ bài thi được chuyển về Sở Giáo dục và Đào tạo ngay sau khi hoàn thiện công tác coi thi. Cùng với đó, Sở đã thành lập tổ làm phách độc lập với hội đồng chấm thi, mỗi bài thi trải qua 2 vòng chấm dưới sự giám sát của Thanh tra Sở. Nhờ thế, kỳ thi được đánh giá khách quan, công khai, minh bạch, hiệu quả.

Là “địa chỉ” uy tín trong công tác đào tạo, bồi dưỡng học sinh thi HSG quốc gia, thầy giáo Nguyễn Văn Dũng, Hiệu trưởng Trường THPT Chuyên Thái Bình chia sẻ: Bên cạnh việc ôn luyện kiến thức cho học sinh, tại phòng thí nghiệm, các thầy cô giáo phụ trách đội tuyển đã trực tiếp thực hiện thí nghiệm kiểm tra trên tất cả các thiết bị và hướng dẫn học sinh ôn luyện, bảo đảm học sinh đều làm chủ được các thiết bị thí nghiệm thực hành của môn thi. Cùng với đó, để chuẩn bị tốt nhất cho kỳ thi chọn HSG quốc gia năm nay, trong thời gian ôn luyện, các đội tuyển HSG của trường đã được thi cọ xát với một số trường chuyên trong khu vực. Ngoài ra, nhà trường còn mời các thầy cô giáo có uy tín, các giáo sư đầu ngành của các trường THPT chuyên và các trường đại học, học viện để dạy các đội tuyển, qua đó vừa nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên vừa nâng cao kiến thức cho học sinh. Để đáp ứng yêu cầu nội dung thi HSG, đặc biệt là yêu cầu của các môn thi có nội dung phương án thí nghiệm thực hành, ngoài các thiết bị được cung cấp, một số giáo viên của trường đã lên các trường đại học, viện nghiên cứu để trực tiếp mua sắm hóa chất, thiết bị thí nghiệm thực hành.

Trường THPT Phụ Dực có thành tích dạy tốt, học tốt của tỉnh. Thầy giáo Trần Duy Sử, Hiệu trưởng nhà trường cho biết: Mặc dù không phải trường chuyên nhưng Trường THPT Phụ Dực luôn xác định công tác bồi dưỡng HSG là nhiệm vụ trọng tâm. Vì vậy, ngay từ đầu năm học, nhà trường dựa trên trình độ và kinh nghiệm của mỗi giáo viên để lựa chọn, phân công giáo viên giảng dạy và đảm nhiệm bồi dưỡng HSG các khối lớp; chỉ đạo giáo viên tiến hành nhiều đợt khảo sát, lựa chọn những học sinh có năng khiếu và đam mê với môn học để thành lập đội tuyển. Đối với quá trình bồi dưỡng HSG, nhà trường yêu cầu giáo viên dạy đội tuyển phải xây dựng kế hoạch cụ thể; chỉ đạo các tổ, nhóm chuyên môn thường xuyên trao đổi chuyên môn, kinh nghiệm bồi dưỡng, xây dựng các chuyên đề… để nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng HSG. Giáo viên, học sinh các đội tuyển đạt giải được nhà trường tuyên dương, khen thưởng kịp thời. Những năm qua, đội ngũ giáo viên của trường luôn nhiệt huyết, say mê, chủ động với công tác giảng dạy, bồi dưỡng HSG; tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác có hiệu quả các tư liệu giáo dục trên mạng internet để vận dụng vào bồi dưỡng cho học sinh… Nhờ vậy, kết quả thi HSG hàng năm của nhà trường luôn được giữ vững và nâng cao, đứng đầu khối THPT toàn tỉnh với 40 học sinh đạt giải cấp tỉnh (5 giải nhất, 11 giải nhì, 15 giải ba, 9 giải khuyến khích).

Đồng chí Nguyễn Viết Hiển, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo chia sẻ: Tâm lý là yếu tố rất quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn. Vì vậy, các cấp, các ngành và phụ huynh học sinh hãy đồng hành cùng ngành Giáo dục để động viên, khích lệ học sinh, giáo viên thi đua dạy tốt, học tốt; kịp thời biểu dương các thầy cô giáo và các em học sinh có thành tích tốt trong học tập, từ đó đưa phong trào giáo dục tỉnh nhà ngày càng phát triển.

Đặng Anh

Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Hsg Mũi Nhọn

Giáo dục, bồi dưỡng học sinh giỏi cho trường, địa phương là một trong số những công tác quan trọng và cần thiết không chỉ ở học sinh tiểu học mà còn rất quan trọng đối với học sinh THCS hiện nay. Việc đào tạo, nâng cao chất lượng học sinh giỏi THCS là cả một quá trình lâu dài đòi hỏi sự cố gắng nỗ lực của nhiều tập thể và cá nhân tại trường. Các tham luận về giải pháp nâng cao chất lượng có ý nghĩa cải thiện chất lượng một cách đáng kể.

Về thuận lợi, với sự hỗ trợ và tạo điều kiện từ phía gia đình học sinh, sự tân tâm giảng dạy của các thầy cô giáo trong nhà trường chất lượng học sinh ngày càng nâng cao, các em ngoan và chăm chỉ học hành. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất và trang thiết bị của nhà trường cũng được đầu tư đầy đủ và hiện đại giúp học sinh có thể dễ dàng tiếp thu bài giảng và thực hành.

Ngoài ra, một số phụ huynh cũng có thể do bận việc tham gia sản xuất lao động, kinh doanh nên ít có thời gian giám sát và động viên con em mình, đây cũng là lý do khách quan ảnh hưởng đến kết quả thi cử học sinh giỏi.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HSG MŨI NHỌN THCS

1. Đối với Ban Giám Hiệu nhà trường

– Phổ biến công tác giáo dục, nhiệm vụ cho từng bộ phận giáo viên, học sinh, địa phương để hỗ trợ học sinh trong việc học tập và nâng cao kiến thức.

– Tổ chức các buổi học nâng cao kiến thức và khả năng truyền đạt cho giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi.

– Khuyến khích động viên tinh thần và quà tặng cho giáo viên và học sinh có thành tích thi cử xuất sắc.

2. Đối với Giáo Viên Các Bộ Môn

– Luôn trau dồi kiến thức, tích cực trong các hoạt động giảng dạy, tâm huyết với nghề, tìm kiếm những phương pháp giảng dạ tốt nhất giúp học sinh tiếp thu hiệu quả.

– Tìm kiếm học sinh có tiềm năng, định hướng, nâng cao kiến thức cho học sinh, hỗ trợ giúp học sinh có 1 kế hoạch học tập và ôn luyện tốt, tinh thần vững chắc trước mỗi kỳ thi.

Ngoài ra, đối với phụ huynh cần phải động viên, chăm sóc sức khỏe và quan sát tâm sinh lý, giúp học sinh giảm được những áp lực trong học tập và đời sống.

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mũi Nhọn

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương trao Bằng khen của Bộ GD&ĐT cho học sinh đoạt giải quốc gia.

Triển khai nhiều giải pháp đồng bộ

Năm học 2021 – 2021, ngành giáo dục tỉnh xếp thứ 8/63 tỉnh, TP trong kỳ thi chọn HSG quốc gia với 64 giải, tăng 3 giải so với năm trước. Tiếp tục nằm trong tốp đầu các cuộc thi sáng tạo khoa học kỹ thuật, giải Toán qua mạng, Olympic Tiếng Anh, Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc…

Để đạt được những thành tích đó, ngay từ đầu năm học, Sở GD&ĐT chỉ đạo các đơn vị triển khai đồng bộ nhiều giải pháp đổi mới nội dung, chương trình, áp dụng phương pháp dạy học mới, mô hình tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đặt mục tiêu phát hiện, bồi dưỡng HSG, học sinh năng khiếu là nhiệm vụ trọng tâm của ngành.

Tại buổi lễ, 124 HSG cấp quốc gia và cấp tỉnh vinh dự được nhận Bằng khen của Bộ GD&ĐT, Chủ tịch UBND tỉnh và Giấy khen của Giám đốc Sở GD&ĐT. Các em còn nhận được nhận nhiều phần thưởng khác do Hội Khuyến học tỉnh, Bảo Việt Bắc Giang, Công ty Bảo Minh, Công ty Bảo hiểm Xuân Thành tặng. Nhân dịp này, 77 giáo viên có thành tích xuất sắc trong công tác bồi dưỡng HSG năm học 2021 – 2021 được tuyên dương.

Kinh nghiệm của Trường THPT Ngô Sĩ Liên (TP Bắc Giang) là hằng năm nhà trường đều có kế hoạch bồi dưỡng HSG, quan tâm chỉ đạo sát sao; giao cho giáo viên có kinh nghiệm phụ trách từng đội tuyển, có “chính sách” khuyến khích, đánh giá thi đua đối với giáo viên và học sinh công khai, minh bạch, khách quan để tạo động lực. Lựa chọn học sinh có tố chất, đam mê môn học, phù hợp với nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của các em. Còn Trường THPT Chuyên Bắc Giang là trường trọng điểm chất lượng cao cấp THPT của tỉnh luôn đi đầu trong đổi mới phương pháp dạy học, đội ngũ giáo viên cốt cán giỏi nghề, tâm huyết. Nhà trường thường xuyên quan tâm kết nối với các cựu học sinh, chuyên gia, nhiều tổ chức, cơ sở giáo dục trong nước để giáo viên và học sinh có cơ hội giao lưu, học tập kinh nghiệm, tư vấn hướng nghiệp củng cố vị thế, nâng cao hiệu quả dạy và học.

Phấn đấu giành mục tiêu cao hơn

Ghi nhận và chúc mừng thành tích của các thầy, cô giáo và học sinh trong các kỳ thi HSG năm học 2021 – 2021 tại buổi lễ, đồng chí Lê Ánh Dương mong muốn các cá nhân được tuyên dương tiếp tục cố gắng, gặt hái kết quả cao hơn nữa, có học sinh tham dự và đoạt giải cuộc thi cấp quốc tế. Đồng chí đề nghị ngành giáo dục xây dựng chiến lược cụ thể, có đầu tư bài bản hơn để làm tốt công tác phát hiện và bồi dưỡng HSG, có năng khiếu, đào tạo các thế hệ học sinh ưu tú, phát triển toàn diện đức- trí- thể- mỹ, đáp ứng nhu cầu hội nhập và phát triển xã hội. Phải đặt mục tiêu phấn đấu cao hơn để tạo động lực, quyết tâm hoàn thành.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ánh Dương tặng Bằng khen cho giáo viên có thành tích trong bồi dưỡng học sinh giỏi.

Sở GD&ĐT tiếp tục tham mưu với UBND tỉnh về chính sách đãi ngộ, tạo điều kiện phát huy năng lực đội ngũ giáo viên giỏi chuyên môn, tâm huyết, trách nhiệm với nghề. Bên cạnh đó, ngành chủ động đổi mới phương pháp bồi dưỡng HSG, mạnh dạn tham khảo, học tập kinh nghiệm của các địa phương có bề dày thành tích thi HSG như: Nam Định, Hải Phòng, Hà Nội…

Đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của đội ngũ chuyên gia và giáo viên ở T.Ư để tiếp tục nâng cao chất lượng GD&ĐT. Các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp và cá nhân luôn đồng hành, tham gia công tác khuyến học, khuyến tài, kịp thời khen thưởng, khích lệ giáo viên và học sinh có thành tích cao trong dạy và học.

Theo đại diện Sở GD&ĐT, để thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh, giữ vững vị trí tốp đầu toàn quốc, tăng số lượng, chất lượng giải HSG quốc gia, những năm tới, Sở chỉ đạo các đơn vị, nhà trường tiếp tục đổi mới công tác quản lý, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng HSG, học sinh năng khiếu trên cơ sở nâng cao chất lượng giáo dục đại trà và bảo đảm giáo dục toàn diện. Bám sát chỉ đạo của Bộ GD&ĐT về đổi mới phương pháp dạy học, đẩy mạnh việc dạy học phân hóa, cập nhật kịp thời những kiến thức, yêu cầu mới của cuộc thi HSG.

Các huyện, TP chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục của trường điểm các cấp học, đặc biệt là trường THCS trọng điểm chất lượng cao nhằm tạo nguồn cho Trường THPT Chuyên Bắc Giang. Đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị thí nghiệm, thực hành đối với các môn khoa học tự nhiên và môn Tiếng Anh. Chú trọng phát hiện, sàng lọc học sinh tham dự đội tuyển; có cơ chế khuyến khích giáo viên nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Tăng cường hoạt động tuyên truyền nhằm thay đổi nhận thức của phụ huynh, tạo điều kiện cho con em phát huy năng lực cá nhân.

Nhóm PV VH-XH

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Nuôi Dưỡng Trẻ Mầm Non

n và có trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo giá cả hợp lý, ổn định. Thực phẩm hợp đồng với nhà trường phải tươi sống như: Rau, thịt được nhận vào mỗi buổi sáng và được kiểm tra đảm bảo về chất lượng, đủ về số lượng hàng ngày thì BGH và nhân viên mới ký nhận và chế biến. Nếu thực phẩm không đảm bảo chất lượng như ẩm mốc, hôi thiu, kém chất lượngSẽ cắt hợp đồng. Đối với thực phẩm nấu chín thường xuyên lưu mẫu thức ăn trong tủ lạnh 24 tiếng đồng hồ, trong quá trình sử dụng thực phẩm nếu chất lượng thực phẩm không đảm bảo thì có biện pháp xử lý kịp thời không để tình trạng dùng thực phẩm kém chất lượng trước khi chế biến cho trẻ. * Nhà trường thành lập ban chỉ đạo y tế học đường gồm: Đ/C Hiệu trưởng là trưởng ban 1 Đ/C Hiệu phó phụ trách phần nuôi dưỡng cho trẻ là phó ban Đ/C CTCĐ, Đ/C nhân viên y tế, 3 Đ/C TTCM Đại diện cha mẹ học sinh Ban chỉ đạo có trách nhiệm đẩy mạnh công tác vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng chống các dịch bệnh trong nhà trường. Theo sự chỉ đạo của nhà trường ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch kiểm tra hàng ngày, định kỳ cụ thể và đột xuất được phân công cụ thể đến các thành viên trong ban chỉ đạo. * Để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trước hết cần phải chú ý đến: - Cách lựa chọn thực phẩm phải tươi, đảm bảo an toàn thực phẩm tức thức ăn không bị nhiễm các hóa chất độc hại. Để làm được điều đó nhà trường đã ký hợp đồng mua bán thực phẩm tươi sạch với từng nơi cung cấp. - Cách pha chế thực phẩm phải đảm bảo từ khâu chuẩn bị chế biến, ngâm rau sau đó mới rửa khi rửa rau phải rửa xong mới được thái. Chế biến theo quy trình một chiều từ sống đến chín, không được cho thức ăn sống lẫn với thức ăn đã được nấu chín. - Khi chia thức ăn phải được bỏ vào xoong có vung đậy để đảm bảo vệ sinh tránh bụi và ruồi, muỗi. ( Kiểm tra quá trình chia ăn cho trẻ) - Thức ăn hàng ngày phải được lưu mẫu vào tủ lạnh đúng quy trình24/24 giờ. Thực hiện biện pháp này tốt thì trẻ có khả năng chống đở bệnh tật cao, trẻ phát triển lành mạnh, hài hòa, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện về thể chất. * Nơi chế biến thực phẩm luôn thường xuyên giữ vệ sinh sạch sẽ có dụng cụ riêng cho thực phẩm sống và chín. - Vệ sinh khi chế biến thực phẩm: Thực phẩm được sơ chế trên bàn, sau khi sơ chế thì chế biến ngày, đun nấu kỹ đảm bảo chất lượng. Dụng cụ chế biến và phục vụ ăn uống cho trẻ đầy đủ, dùng cho chế biến sống và chín riêng, đảm bảo vệ sinh. - Bếp nấu ăn đảm bảo đủ ánh sáng và không khí. - Bếp thực hiện quy trình một chiều để đảm bảo vệ sinh. - Tổ chức bồi dưỡng kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm cho toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường tham gia ngay vào đầu năm học. - Nhà bếp luôn luôn hợp vệ sinh, đảm bảo bếp không bị bụi, có đủ dụng cụ cho nhà bếp và đồ dùng ăn uống cho trẻ, có đủ nguồn nước sạch cho trẻ phục vụ ăn uống. Ngoài ra trong nhà bếp có bảng tuyên truyền 10 nguyên tắc vàng về vệ sinh an toàn thực phẩm cho mọi người cùng đọc và thực hiện. Phân công cụ thể ở các khâu: chế biến theo thực đơn, theo số lượng đã quy định của nhà trường, đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng và hợp vệ sinh. * Vệ sinh nhân viên nhà bếp: + 100% nhân viên nhà bếp được trang bị đầy đủ quần áo, khẩu trang, tạp dề + 100% được khám sức khỏe theo định kỳ, có sức khỏe tốt, không mắc bệnh truyền nhiễm. + 100% giáo viên không được đeo nhẫn, vòng, đồng hồ trong khi chế biến thức ăn và rửa tay bằng xà phòng trước khi chế biến thức ăn đúng quy định thường xuyên. - Đối với nhân viên nấu ăn phải thường xuyên kiểm tra sức khoẻ trước khi làm việc vào đầu năm học mới, và sau sáu tháng làm việc tiếp theo. Trong quá trình chế biến thức ăn cho trẻ đầu tóc gọn gàng, móng tay luôn cắt ngắn và sạch sẽ, tuyệt đối không được bốc thức ăn khi chia cho trẻ. - Nhà trường phối hợp cùng với công đoàn tổ chức xây dựng vườn rau cho bé tại ngay sân trường để góp phần cung cấp dinh dưỡng và cải thiện bữa ăn cho trẻ luôn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. - Bếp được trang bị sử dụng bếp ga, nồi cơm điện không gây độc hại cho nhân viên và khói bụi cho trẻ. - Cọ rửa vệ sinh các dụng cụ chế biến thực phẩm hàng ngày sau khi sử dụng.Thùng rác thải, nước gạo luôn được thoát và để đúng nơi quy định, các loại rác thải được chuyển ra ngoài hàng ngày kịp thời. - Nhân viên phải mặc trang phục trong khi nấu ăn: đeo tạp dề, đội mũ khi chế biến, đeo khẩu trang trước khi chia thức ăn và rửa tay bằng xà phòng tiệt trùng Hàng ngày trước khi bếp hoạt động, nhà trường đã có kế hoạch phân công cụ thể các nhân viên cấp dưỡng thay phiên nhau đến sớm làm công tác thông thoáng phòng cho không khí lưu thông và lau dọn sàn nhà, kệ bếp, kiểm tra hệ thống điện, ga trước khi hoạt động. Nếu có điều gì biểu hiện không an toàn thì nhân viên cấp dưỡng báo ngay với lãnh đạo nhà trường để biết và kịp thời xử lý. - Ngoài công tác vệ sinh hàng ngày, định kỳ, hàng tháng phải tổng vệ sinh xung quanh nhà bếp, vệ sinh nhà bếp - dụng cụ nhà bếp - dụng cụ ăn uống nơi sơ chế thực phẩm sống-khu chế biến thực phẩm-chia cơm-nơi để thức ăn chín - Khu nhà bếp chế biến thực phẩm được đảm bảo vệ sinh và tránh xa nhà vệ sinh, bãi rác, khu chăn nuôikhông có mùi hôi thối xảy ra khi chế biến thức ăn. - Dao thớt sau khi chế biến luôn được rửa sạch để ráo hàng ngày và được sử dụng đúng giữa thực phẩm sống và chín.Người không phận sự không được vào bếp. Biện pháp 7: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chế độ ăn và nuôi dưỡng- chăm sóc trẻ: Để đảm bảo tiêu chuẩn ăn uống cho trẻ, để cho các bậc phụ huynh học sinh yên tâm và chính quyền địa phương cũng như các đoàn thể tin cậy ban giám hiệu nhà trường cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đôn đốc, giám sát thường xuyên, chặt chẽ, giúp chị em làm tốt nhiệm vụ, tránh phạm sai lầm. Qua công tác kiểm tra giúp chúng tôi biết được biện pháp nâng cao chất lượng nuôi dưỡng đã được thực hiện đến đâu, qua việc nắm bắt tình hình phát hiện những sai lệnh kịp thời để khắc phục. Ví dụ: Khi kiểm tra nhóm dinh dưỡng chúng tôi phát hiện thấy có một số loại thực phẩm không được tươi hoặc không đủ số lượng cân theo quy định ở trong thực đơn, nhà trường họp tổ rút kinh nghiệm ngay để các cô chấn chỉnh lại việc làm chưa tốt của mình. Tôi đã chỉ đạo nhà trường tiến hành kiểm tra như sau: - Kiểm tra các thao tắc chế biến món ăn, thực hiện quy chế ở các nhóm, có thể tiến hành kiểm tra đột xuất, không báo trước để tránh tư tưởng đối phó, kiểm tra các giờ kiểm tra bữa ăn, giờ ngũ của trẻ, vệ sinh phòng, nhóm lớp để biết giáo viên có thực hiện đúng và thường xuyên không. - Kiểm tra theo dõi chất lượng bữa ăn: cháu ăn có đúng thực đơn không? đủ số lượng cho cháu không? kiểm tra kỹ thuật chế biến món ăn có ngon, có hợp khẩu vị với trẻ không? trẻ ăn có hết suất của mình không ? - Kiểm tra sổ y tế: Theo dõi sức khỏe của cháu trên biểu đồ tăng trưởng , đối chiếu so sánh rút kinh nghiệm cho việc nuôi dưỡng chăm sóc sức khỏe cho trẻ. - Kiểm tra vệ sinh phòng nhóm lớp và vệ sinh nhà bếp (đồ dùng chế biến nấu ăn) - Phối hợp với phụ huynh học sinh cùng giám sát kiểm tra chất lượng ăn của trẻ thường xuyên trong năm học. Qua biện pháp trên tôi không chỉ đơn thuần là kiểm tra việc thực hiện biện pháp chăm sóc - dinh dưỡng cho trẻ đã đề ra mà còn giúp giáo viên trong trường chấn chỉnh lại việc làm của mình kịp thời và từ đó có ý thức làm việc cẩn thận, có trách nhiệm, không qua loa chiếu lệ Biện pháp 8: Chỉ đạo và giám sát việc xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn và quá trình thực hiện: Xây dựng thực đơn và tính khẩu phần ăn cho trẻ là một việc làm mang tính chất khoa học, nhằm mục đích sử dụng tiền ăn với chất lượng cao. Khi tiền ăn được phân phối hợp lý sẽ tránh được những chi tiêu không hợp lý, giảm tối đa sự thâm, thừa tiền ăn trong ngày. Chỉ đạo, giám sát việc xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn là một biện biện pháp thể hiện tính hiệu quả và tiết kiệm trong quản lý. Vì vậy tôi đã chỉ đạo đ/c hiệu phó phụ trách bán trú, kế toán, các tổ chăm sóc và các nhóm lớp hỗ trợ cho việc xây dựng thực đơn và đảm bảo khẩu phần ăn của trẻ, sau khi xây dựng thực đơn xong bố trí cho giáo viên trực tiếp xuống nhà bếp, các lớp tham quan dự giờ ăn của trẻ.từ đó tìm ra những món ăn thích hợp và bổ dưỡng đối với trẻ để chỉnh sủa được thực đơn cho phù hợp, thực đơn đi chợ hàng ngày phải có đầy đủ 3 chữ ký của người lên thực đơn, người thực hiện đi chợ và người nhận hàng khi đi chợ về. Số giao nhân thực phẩm hàng ngày phải ghi rõ số lượng và chất lượng thực phẩm khi nhận. hiệu trưởng phải có mặt từ 2- 3 lần/ tuần để duy trì thực hiện quy chế, để nắm bắt giá cả thực phẩm, để biết cách ước lượng thực phẩm bằng mắt và nhất là để kiểm soát thực đơn của trẻ trong ngày tránh tình trạng thất thoát thực phẩm, thực phẩm mua không rõ nguồn gốc, không đảm bảo chất lượng Hàng ngày kế toán vào sổ tính định lượng để cân đối tiền thu, tiền chi trong ngày của trẻ và biết được định lượng các chất và calo trẻ đạt được là bao nhiêu để kịp thời bổ xung vào ngày hôm sau. * Đánh giá khẩu phần ăn: - Hiện nay với cách tổ chức ăn uống ở trường mầm non Trung Mầu; lứa tuổi mẫu giáo được ăn hai bữa: một Chính, một bữa phụ theo yêu cầu của viện dinh dưỡng cần đạt 50% năng lượng trong ngày, phần còn lại trẻ được ăn tại gia đình. Khi đã có số lượng thức ăn của trẻ trong cả ngày ở trường mầm non và dựa vào nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng của trẻ để đánh giá khẩu phần . . Đánh giá khẩu phần ăn về các mặt: - Có đủ năng lượng so với yêu cầu không ? - Số gam Protein, Lipit, Gluxit và các vitamin, khoáng chất đặc biệt là Ca, P, Fe có đủ so với nhu cầu không ? - Tính cân đối của khẩu phần đã đạt chưa? Cụ thể là tỷ lệ động vật và protein thực vật có chiếm tỷ lệ bằng nhau theo yêu cầu, loại nào ít, loại nào nhiều? - Tỷ lệ Lipit động vật và Lipit thực vật? - Lượng vitamin A, D, E B1, C, B12 có đạt so với yêu cầu không? - Các chất khoáng như: Ca, P, Fe có đạt so với yêu cầu không? Qua số liệu trên có thể đánh giá khẩu phần ăn đó tốt hay chưa ? *Bổ xung. Dựa vào cách đánh giá trên ta sẽ có bổ xung cho khẩu phần ăn được hợp lý hơn. Ta có thể tính ra số lượng thức ăn mỗi loại khẩu phần ăn cần bổ xung. Qua điều tra khẩu phần ăn của trẻ ở trường cho thấy: khẩu phần ăn của trẻ ở trường có hôm còn thiếu năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết. - Các chất dinh dưỡng chưa được cân đối. Ví dụ: Tỷ lệ Protein động vật còn thấp hơn nhiều so với nhu cầu. Tỷ lệ các chất khoáng và vitamin chưa hợp lý. Đánh giá: Một điều cần chú ý là khẩu phần của trẻ còn bị bỏ thừa có khi tới 1/4 khẩu phần. Do trẻ ốm, mệt mỏi, do thời tiết, không ăn quen món ăn đó hoặc có hôm kỹ thuật nấu ăn chưa tốt, trẻ không thích ăn. Vì vậy cần phải theo dõi số lượng thức ăn để tính toán cho chính xác. C. KẾT LUẬN. I. Kết quả nghiên cứu: Qua quá trình nghiên cứu và đưa ra các biện pháp trong quản lý chỉ đạo thực hiên hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ sức khoẻ cho trẻ trong trường mầm non, nhà trường chúng tôi đã thu được rất nhiều kết quả hết sức khích lệ cụ thể như: Số trẻ đến trường ngày càng đông, tỉ lệ bán trú ngày càng được nâng cao. Các cháu được đảm bảo an toàn 100% tại trường. Trẻ suy dinh dưỡng tỷ lệ giảm xuống còn 2%, Trẻ mắc các loại bệnh còn 4,06% kết quả được thể hiện như sau: 1.Chất lượng chăm sóc , nuôi dưỡng trẻ: Đầu năm: Độ tuổi Tổng số trẻ Kênh bình thường Kênh SDD/ TC Bệnh TMH Trẻ mắc bệnh Sâu răng 18 - 36 tháng 3-4 tuổi 4-5 tuổi 5-6 tuổi Cộng Tỷ lệ Cuối năm: Độ tuổi Tổng số trẻ Kênh bình thường Kênh suy dinh dưỡng Trẻ mắc bệnh sâu răng Bệnh TMH 18 - 36 tháng 3-4 tuổi 4-5 tuổi 5-6 tuổi Tổng cộng Tỷ lệ 2. Về đội ngũ giáo viên, nhân viên: 100% cán bộ, giáo viên đã được học tập chuyên đề về vệ sinh an toàn thực phẩm do trung tâm vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh tổ chức. Qua kiểm tra, dự các buổi chế biến món ăn và chăm sóc trẻ 100% các cô đều đạt khá và giỏi, đặc biệt không có vụ ngộ độc nào xảy ra. Hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp trường có ... đồng chí tham gia đều đạt kết quả tốt 3. Về cơ sở vật chất: Nhà trường đã cải tạo 01 nhà bếp đảm bảo quy trình một chiều, có đủ đồ dùng phục vụ chăm sóc, nấu ăn cho trẻ như: Bàn chia ăn, xoong, nồi cơm ga, máy xay thịt, tủ lạnh, tủ đựng bát, đựng dụng cụ chế biến V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM: Chúng ta biết rằng việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ là một công việc khó khăn, vất vả, ảnh hưởng đến việc giáo dục phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ , đến lợi ích trước mắt và sau này cho thể hệ mầm non. Đó là đường lối của Đảng, là nguyện vọng chính đáng của các bậc phụ huynh. Vì vậy trong quá trình quản lý và chỉ đạo, Ban giám hiệu nhà trường phải xác định rõ được nhiệm vụ của mình trong việc chỉ đạo thực hiện hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ như: Xác định tầm quan trọng của công tác nuôi dạy và chăm sóc trẻ ở trường Mầm non,để xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ của nhà trường. Thường xuyên tổ chức cho cán bộ , giáo viên, nhân viên học tập các chuyên đề, bổ sung kiến thức và nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công tác. Xây dựng kế hoạch chỉ đạo rõ ràng, cụ thể , luôn bám sát hoạt động bán trú, tăng cương công tác kiểm tra . Nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Hàng năm thực hiện tổ chức các hội thi về công tác chăm sóc dinh dưỡng để tuyên truyền với phụ huynh, nhằm làm cho họ hiểu nhiều , sâu hơn về tầm quan trọng của ngành học mầm non để từ đó họ nhiệt tình tham gia giúp đỡ nhà trường trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ. Ngoài ra Ban giám hiệu nhà trường luôn có kế hoạch tham mưu với các cấp lãnh đạo Đảng , chính quyền, các cơ quan đoàn thể phối hợp với các ngành đóng trên địa bàn hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, khắc phục khó khăn, tích cực xây dựng các điều kiện thiết yếu về cơ sở vật chất để thu hút được đông trẻ đến trường, làm tăng thu nhập cho giáo viên cả về vật chất cũng như tinh thần để giáo viên có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ngày một tốt hơn. Không ngừng học hỏi các bạn bè đồng nghiệp,tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực quản lý và trình độ chuyên môn. Thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức, năng lực sáng tạo trong quản lý trường mầm non. Sau một thời gian nghiên cứu bản thân tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm như sau: Một là: Người quản lý phải ý thức rõ vai trò và trách nhiệm của mình không ngừng nghiên cứu, tìm hiều, học hỏi đồng nghiệp về kiến thức chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, học hỏi kinh nghiệm chăm sóc nuôi dưỡng qua các phương tiện truyền hình, tài liệu, tạp chí, sách báo... để đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng và giáo dục trẻ. Hai là: Giáo viên phải nắm vững kiến thức, kỹ năng chăm sóc nuôi dưỡng, nắm vững đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, phải có tấm lòng người mẹ thứ hai để chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, không ngừng nâng cao bồi dưỡng nghiệp vụ chăm sóc nuôi dưỡng. Đối với giái viên nuôi dưỡng luôn cập nhật hoá các phương pháp chế biến món ăn, vệ sinh an toàn thực phẩm, chế biến thực phẩm đảm bảo ngon mắt, ngon mũi, ngon miệng, hợp khẩu vị, trẻ ăn hết khẩu phần của mình, giúp trẻ tăng cân đều hàng tháng, luôn thay đổi cách chế biến các món ăn theo mùa phù hợp với địa phương. Ba là: Làm tốt công tác tuyên truyền đến nhân dân, các bậc phụ huynh học sinh kiến thức nuôi con theo khoa học, làm cho mọi người nhận thức được về vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non là rất cần thiết. Mặt khác tạo niềm tin cho các cấp lãnh đạo địa phương, các bậc phụ huynh qua từng việc làm cụ thể trong nhà trường. Bốn là: Làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục để phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành viên trong trường, tham mưu cho các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các tổ chức xã hội, các ban ngành đoàn thể để hỗ trợ kinh phí và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục. Đặc biệt là các bậc phụ huynh học sinh thống nhất yêu cầu, nội dung, biện pháp và phương pháp chăm sóc nuôi dưỡng hình thành cho trẻ những thói quen văn minh trong ăn uống, giao tiếp ở trường cũng như ở gia đình và ngoài xã hội. Năm là: Ban giám hiệu có kế hoạch thường xuyên kiểm tra giám sát việc thực hiện công tác chăm sóc nuôi dưỡng như chế biến các món ăn, tổ chức bữa ăn, tổ chức giấc ngủ, hình thành nề nếp thói quen vệ sinh văn minh trong ăn uống, học tập, vui chơi đối với trẻ. Sáu là: Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên về mọi mặt phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ, hội thảo sáng kiến kinh nghiệm, học hỏi kinh nghiệm của các trường điểm, cung cấp tài liệu, tạp chí, tập san về giáo dục mầm non cho giáo viên học tập nghiên cứu, đặc biệt là khâu nuôi dưỡng cách chọn mua thực phẩm đúng hợp đồng tươi ngon, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Bảy là: Nhà trường tổ chức làm rau sạch phục vụ cho ăn bán trú, động viên giáo viên, phụ huynh cung cấp lương thực, thực phẩm sạch cho nhà trường. Tám là: Nhà trường phối hợp với hội phụ huynh học sinh thành lập ban kiểm tra để thường xuyên theo dõi giám sát công tác chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ tai trường, có những phản ánh kịp thời cho ban giám hiệu để từ đó có những uốn nắn kịp thời. Chín là: Cân đo khám sức khoẻ cho trẻ theo định kỳ để báo cáo tình hình sức khoẻ của trẻ cho nhà trường và gia đình để có biện pháp chăm sóc giáo dục kịp thời. Với những kinh nghiệm trên tôi đã thực hiện trong quá trình chỉ đạo chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ tại trường đạt được một số kết quả góp phấn nhỏ bé vào sự nghiệp giáo dục trẻ ở trường mầm non. VI: KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT: Mở các lớp tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý, giúp cán bộ quản lý làm giàu tri thức và kinh nghiệm chỉ đạo. Tăng cường mở các lớp bồi dưỡng những kiến thức về dinh dưỡng và vệ sinh an thực phẩm, cách lựa chọn thực phẩm đến cách chế biến, bảo quản thực phẩm, thêm không chỉ cho cán bộ, giáo viên trong trường mầm non mà cả các bậc phụ huynh đều được năm bắt. Để phối kết với nhà trường và gia đình chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ đạt hiệu quả cao. Những kết quả đạt được của nhà trường trong năm học 2021-2016,đó là bằng chứng thực tiễn đã chứng minh sự cần thiết mà tôi đã nghiên cứu đưa ra các biện pháp chỉ đạo thực hiện hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ là rất đúng đắn. Mặc dù đã cố gắng, với tâm huyết của mình nhưng do khả năng có hạn, nên sáng kiến kinh nghiệm của tôi không tránh khỏi thiếu sót, hạn chế; rất mong được sự góp ý, chỉ bảo của lãnh đạo ngành giáo dục, của bạn bè đồng nghiệp để bài viết của tôi được hoàn thiện hơn. Phương Trung, ngày 25 tháng 4 năm 2021 Người viết Hoàng Thị Xuân PHẦN DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO: Trước khi viết sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã tham khảo các tài liệu như: - Chương trình CS-ND trẻ các độ tuổi - Cuốn sách hướng dẫn vệ sinh an toàn thực phẩm trong các cơ sở giáo dục mầm non ( NXB Giáo Dục). - Bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam của Bộ y tế - Viện dinh dưỡng. (NXB Y học Hà Nội Năm 2004). - 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý của THS Cù Thị Thủy - Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở Giáo dục giai đoan 2006 - 2010. - Sổ tính khẩu phần ăn dùng trong các trường mầm non do Sở GD & ĐT Thái Nguyên cấp phát. - Tài liệu bồi dưỡng hè. Kế hoạch nhiệm vụ năm học. - Nghi quyết Trung ương II (khóa VIII) NXB CTQG Hà Nội/ 1997 - Tài liệu bồi dưỡng cán bộ QL,I, III, NXB HVQLGD Hà Nội/2007 - Tài liệu bồi dưỡng CBQL. MN năm học 2013- 2014 - Chiến lược phát triển GD 1998- 2021 của bộ GD -ĐT

Đề Tài Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Tại Trường Mầm Non Chiềng Mung

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ, dạy trẻ cũng như trồng cây non, trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt, dạy trẻ tốt thì sau này các cháu trở thành người tốt”.

Thấm nhuần lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, có vị trí đặc biệt quan trọng trong suốt cuộc đời phát triển của mỗi con người.

Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, có lúc trong hoàn cảnh cực kỳ gian khó, tưởng như tan vỡ, nhưng giáo dục mầm non vẫn tồn tại, khôi phục và từng bước phát triển. Từ những cơ sở nuôi dạy trẻ lẻ tẻ, nhỏ bé, đến nay giáo dục mầm non đã có một mạng lưới rộng khắp trong toàn quốc với nhiều cơ sở khang trang, ở đó trẻ mầm non được chăm sóc, nuôi dạy theo khoa học trong tình thương yêu của những giáo viên mầm non – người mẹ hiền thứ hai của các cháu.

Giáo dục mầm non vượt qua những thủ thách, khó khăn là nhờ có những chủ trương, quyết sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ, có sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội. Song, điều chủ yếu và quan trọng nhất là nhờ các thế hệ đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên mầm non, bằng tấm lòng yêu trẻ, yêu nghề đã tận tuỵ, kiên trì mở lớp, bám lớp, bám trường, cống hiến không mệt mỏi cho sự nghiệp giáo dục mầm non.

Đến nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, giáo dục mầm non tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo thế hệ tương lai của đất nước có đủ đức, đủ tài, đáp ứng được yêu cầu phát triển của toàn xã hội đặc biệt là trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cùng với ngành giáo dục đào tạo hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện được nhiệm vụ đó, đòi hỏi giáo dục mầm non phải có đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn, có ý thức tổ chức, tinh thần đoàn kết, trách nhiệm cao, hết lòng vì sự nghiệp chung của toàn ngành.

Được thành lập từ tháng 8 năm 2004, với phương châm coi công tác chuyên môn là công tác trọng tâm, cơ bản của nhà trường. Ngay từ những ngày đầu thành lập, trường mầm non Chiềng Mung đã chú trọng công tác xây dựng đội ngũ giáo viên có trình độ, có kỹ năng nghiệp vụ sư phạm. Đến nay, các hoạt động của nhà trường đã đi vào nề nếp, chất lượng đội ngũ giáo viên từng bước được nâng lên. Tuy nhiên, do có sự điều động, luân chuyển giáo viên và đứng trước sự phát triển của xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi người giáo viên mầm non cần phải đổi mới, nâng cao khả năng thích ứng với các yêu cầu của toàn xã hội, đặc biệt là việc đưa chương trình giáo dục mầm non mới vào giảng dạy chính thức trong năm học 2009-2010.

Đứng trước tình hình đó, là một phó hiệu trưởng nhà trường phụ trách công tác chuyên môn, tôi có nhiều băn khoăn trăn trở: Làm thế nào để nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ, đặc biệt là chất lượng giáo dục trẻ mầm non trong nhà trường? Mà muốn năng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ thì khâu then chốt chính là nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên. Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, tôi đã suy nghĩ và mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tại trường mầm non Chiềng Mung”.

I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ, dạy trẻ cũng như trồng cây non, trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt, dạy trẻ tốt thì sau này các cháu trở thành người tốt”. Thấm nhuần lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, có vị trí đặc biệt quan trọng trong suốt cuộc đời phát triển của mỗi con người. Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, có lúc trong hoàn cảnh cực kỳ gian khó, tưởng như tan vỡ, nhưng giáo dục mầm non vẫn tồn tại, khôi phục và từng bước phát triển. Từ những cơ sở nuôi dạy trẻ lẻ tẻ, nhỏ bé, đến nay giáo dục mầm non đã có một mạng lưới rộng khắp trong toàn quốc với nhiều cơ sở khang trang, ở đó trẻ mầm non được chăm sóc, nuôi dạy theo khoa học trong tình thương yêu của những giáo viên mầm non – người mẹ hiền thứ hai của các cháu. Giáo dục mầm non vượt qua những thủ thách, khó khăn là nhờ có những chủ trương, quyết sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ, có sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội. Song, điều chủ yếu và quan trọng nhất là nhờ các thế hệ đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên mầm non, bằng tấm lòng yêu trẻ, yêu nghề đã tận tuỵ, kiên trì mở lớp, bám lớp, bám trường, cống hiến không mệt mỏi cho sự nghiệp giáo dục mầm non. Đến nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, giáo dục mầm non tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo thế hệ tương lai của đất nước có đủ đức, đủ tài, đáp ứng được yêu cầu phát triển của toàn xã hội đặc biệt là trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cùng với ngành giáo dục đào tạo hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện được nhiệm vụ đó, đòi hỏi giáo dục mầm non phải có đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn, có ý thức tổ chức, tinh thần đoàn kết, trách nhiệm cao, hết lòng vì sự nghiệp chung của toàn ngành. Được thành lập từ tháng 8 năm 2004, với phương châm coi công tác chuyên môn là công tác trọng tâm, cơ bản của nhà trường. Ngay từ những ngày đầu thành lập, trường mầm non Chiềng Mung đã chú trọng công tác xây dựng đội ngũ giáo viên có trình độ, có kỹ năng nghiệp vụ sư phạm. Đến nay, các hoạt động của nhà trường đã đi vào nề nếp, chất lượng đội ngũ giáo viên từng bước được nâng lên. Tuy nhiên, do có sự điều động, luân chuyển giáo viên và đứng trước sự phát triển của xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi người giáo viên mầm non cần phải đổi mới, nâng cao khả năng thích ứng với các yêu cầu của toàn xã hội, đặc biệt là việc đưa chương trình giáo dục mầm non mới vào giảng dạy chính thức trong năm học 2009-2010. Đứng trước tình hình đó, là một phó hiệu trưởng nhà trường phụ trách công tác chuyên môn, tôi có nhiều băn khoăn trăn trở: Làm thế nào để nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ, đặc biệt là chất lượng giáo dục trẻ mầm non trong nhà trường? Mà muốn năng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ thì khâu then chốt chính là nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên. Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, tôi đã suy nghĩ và mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tại trường mầm non Chiềng Mung”. II.BIỆN PHÁP THỰC HIỆN. 1,Khảo sát thực trạng: a.Đặc điểm tình hình nhà trường. *Về thuận lợi: Nhà trường luôn được đón nhận sự quan tâm của huyện uỷ – HĐND – UBND huyên, phòng giáo dục và đào tạo Mai Sơn và của cấp uỷ chính quyền địa phương. Trường có đội ngũ giáo viên trẻ khoẻ, nhiệt tình, có tâm huyết với nghề, có tinh thấn trách nhiệm với công việc được giao, luôn có ý thức phấn đấu và rèn luyện học tập để nâng cao trình độ nghiệp vụ, chất lượng giáo dục tăng lên so với các năm học trước đây. *Về khó khăn: -Cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, trang thiết bị của cô và trẻ chưa đáp ứng được việc dạy và học, đặc biệt là khi triển khai chương trình giáo dục mầm non mới. -Nhận thức của một bộ phận phụ huynh học sinh còn hạn chế, hiểu về ngành học chưa đầy đủ. -Nhà trường có nhiều điểm trường(8 điểm), các điểm nằm rải rác không tập trung, còn một số lớp không phân được độ tuổi, phải học ghép. -Học sinh là người dân tộc chiếm 2/3 số trẻ, khả năng nghe, hiểu và nói Tiếng Việt còn nhiều hạn chế nhất là trẻ 3 tuổi. -Giáo viên nhà trường 100% là nữ, đa số đang trong độ tuổi sinh đẻ ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy. b. Khảo sát chất lượng đội ngũ giáo viên nhà trường: Qua quá trình kiểm tra, dự giờ tham lớp, tìm hiểu thực trạng của nhà trường, tôi kết hợp điều tra đánh giá về phẩm chất chính trị, trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn và hiệu quả giáo dục, kết quả như sau: * Đội ngũ giáo viên: Tổng số CBGV Nữ Dân tộc Đảng viên BGH Giáo viên Hành chính Phục vụ Kế toán Y tế 37 37 7 16 4 31 1 0 0 1 *Phẩm chất đạo đức: Tổng số CBGV Tốt Khá Trung bình Kém 37 37 0 0 0 *Trình độ đào tạo: Tổng số CBGV Đại học Cao đẳng Trung cấp Sơ cấp 37 2 3 32 0 *Năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên: GVG cấp tỉnh GVG cấp huyện GVG cấp trường Xếp loại Giỏi Xếp loại khá Xếp loại đạt yêu cầu 4 12 15 15 13 3 *Số lượng học sinh đầu năm: Nhà trẻ Mẫu giáo Số lớp Số trẻ Số lớp Số học sinh 6 53 17 378 *Khảo sát chất lượng học sinh: -Chất lượng giáo dục: Mức độ Nhà trẻ Mẫu giáo Chung toàn trường Đạt chuẩn 85% 91,5% 89,75 Chưa đạt 15% 8,5% 10,25 -Chất lượng nuôi dưỡng: Khối Về cân nặng Về chiều cao Phát triển bình thường Suy dinh dưỡng Béo phì Cân đối Suy dinh dưỡng Nhà trẻ 94,8% 5,2% 0 98% 2% Mẫu giáo 906% 9,4% 0 93,4% 4,6% Chung toàn trường 93,2% 6,8% 0 96,6% 3,4% Qua kết quả điều tra tôi nhận thấy: -Nhà trường có đội ngũ giáo viên có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn, có nhiều giáo viên giỏi các cấp, đây là điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. -Tập thể sư phạm luôn đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. -Nhà trường được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của cấp uỷ chính quyền địa phương và của phòng GD&ĐT Mai Sơn. Bên cạnh đó còn một số tồn tại, đó là: -Công tác xã hội hoá giáo dục mầm non chưa cao. -Chưa có đủ biên chế giáo viên theo yêu cầu. -Trình độ nghiệp vụ, tay nghề chưa đồng đều, vẫn còn một số giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ mới. Đa số giáo viên khả năng tiếp cận và ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy còn yếu, chưa có khả năng sáng tạo, áp dụng lý luận vào thực tiễn cho phù hợp với thực tế địa phương. -Chất lượng giáo dục và chất lượng nuôi dưỡng còn thấp. c.Nguyên nhân: -Cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, phòng học chưa đủ, các phòng chức năng không có, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi chưa đáp ứng được việc dạy và học. Đặc biệt, chưa trang bị được máy vi tính cho các lớp. -Nhận thức của một bộ phận phụ huynh về ngành học còn hạn chế, chưa đầy đủ, chưa có sự phối hợp với giáo viên trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. -Học sinh là người dân tộc chiếm 2/3 số trẻ, khả năng nghe, hiểu và nói Tiếng Việt còn nhiều hạn chế nhất là trẻ 3 tuổi. -Giáo viên nhà trường 100% là nữ, đa số đang trong độ tuổi sinh đẻ ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy. 2.Các biện pháp: Từ những lý luận và thực tiễn nhà trường, tôi mạnh dạn đề ra các biện pháp nhằm năng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay, đó là: Biện pháp 1. Có kế hoạch xây dựng bộ máy tổ chức và sắp xếp, sử dụng đội ngũ giáo viên. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng, người cán bộ quản lý sắp xếp tốt bộ máy tổ chức thì công việc chỉ đạo sẽ có nhiều thuận lợi. Bộ máy này sẽ là cánh tay đắc lực giúp người quản lý điều hành công việc. Chính vì vậy, cùng với ban giám hiệu nhà trường tôi đã tìm hiểu, cân đối và bố trí công việc cho đội ngũ cán bộ giáo viên phù hợp với phẩm chất đạo đức, uy tín, trình độ và năng lực của mỗi người. Đồng thời cử đội ngũ cốt cán nhà trường làm tổ trưởng các tổ chuyên môn, thư ký chuyên môn. Việc sắp xếp bố trí giáo viên hợp lý, phù hợp với năng lực sở trường, vận dụng được thế mạnh của giáo viên đồng thời kích thích được ý chí phấn đấu vươn lên của mỗi cá nhân. Đồng thời cần phải dựa vào tình hình thực tế của từng điểm nhóm lớp để bố trí đội ngũ giáo viên sao cho mỗi điểm đều có giáo viên giỏi các cấp xen kẽ với các giáo viên còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ để chị em có thể kèm cặp giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Bên cạnh đó, tôi cũng bố trí để các điểm đều có sự cân bằng trong độ tuổi của cán bộ giáo viên. Những giáo viên trẻ có điều kiện và khả năng tiếp cận với kiến thức mới và với khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin sẽ là cầu nối để đưa các kiến thức, nội dung, phương pháp mới đến tất cả các giáo viên trong trường. Có sự chỉ đạo thống nhất từ chi uỷ chi bộ, Ban giám hiệu, Công đoàn, chi đoàn… trong việc sắp xếp bố trí công việc cho cán bộ giáo viên. Tham mưu với cấp trên bổ sung thêm biên chế cán bộ giáo viên cho nhà trường. *Bảng 1. Cách bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ, giáo viên. Khối lớp Tổng số GV Trình độ đào tạo Năng lực chuyên môn Đại học Cao đẳng Trung cấp Giỏi Khá Trung bình Nhà trẻ 6 0 0 6 2 3 1 Mẫu giáo bé 7 1 0 6 4 2 1 Mẫu giáo nhỡ 8 0 1 7 4 3 1 Mẫu giáo lớn 10 1 1 8 5 5 0 Cộng: 31 2 2 27 15 13 3 Biện pháp 2. Nâng cao nhận thức chính trị, phẩm chất nhà giáo. Để có được một tập thể sư phạm vững vàng về tư tưởng chính trị, có phẩm chất đạo đức nhà giáo, tôi đã chủ động cùng với chi bộ, nhà trường và các đoàn thể quán triệt đầy đủ các văn bản, chỉ thị, Nghị quyết của các cấp để cán bộ giáo viên học tập. Đồng thời cụ thể hoá các chỉ thị Nghị quyết đó vào thực tế nhà trường cho phù hợp. Đặc biệt là đưa các cuộc vận động lớn của Đảng và của Ngành giáo dục và đào tạo như cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Cuộc vận động “Hai không” với 4 nội dung; “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gươngđạo đức tự học và sáng tạo”… vào kế hoạch năm học và kế hoạch từng tháng cụ thể. Hướng dẫn cho cán bộ giáo viên đưa vào chương trình hành động của mỗi lớp, mỗi cá nhân. Mỗi cán bộ giáo viên phải là tấm gương cho học sinh noi theo. Cụ thể hoá tiêu chuẩn người giáo viên mầm non, thường xuyên học tập Điều lệ trường mầm non do Bộ giáo dục và đào tạo ban hành. Cùng với đó, tôi cùng tập thể sư phạm nhà trường xây dựng quy chế của nhà trường và nghiêm túc thực hiện. Biện pháp 3.Nâng cao trình độ nghiệp vụ tay nghề và khả năng vận dụng khoa học công nghệ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Để người giáo viên tự tin, chủ động trong việc thực hiện chương trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ thì phải nâng cao trình độ nghiệp vụ và khả năng sư phạm, kỹ năng cơ bản của người giáo viên phải thuần thục. Do đó, tôi cùng với nhà trường động viên, tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên được đi học nâng cao trình độ. Trong năm học nhà trường có 12 cán bộ giáo viên đang theo học lớp Đại học Mầm non hệ vừa học vừa làm, tiếp tục tạo điều kiện để giáo viên được đi học trong hè nâng trình độ trên chuẩn. Để giáo viên có kỹ năng sư phạm thuần thục, tôi thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề để chị em trực tiếp dạy mẫu, rút kinh nghiệm, thống nhất phương pháp. Đặc biệt, khi đưa chương trình giáo dục mầm non mới vào giảng dạy, ngoài việc hướng dẫn giáo viên nghiên cứu tài liệu, tôi tiến hành xây dựng tiết mẫu ở từng lĩnh vực cho toàn trường thực hiện và đưa về các tổ chuyên môn. Tiến hành cho giáo viên đi tham quan, học tập các trường trong huyện và trong tỉnh.Từ đó, chị em hiểu rõ về chương trình, những điểm mới và cách thức thực hiện chương trình sao cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và tình hình thực tế địa phương. Đất nước ta đang thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhiệm vụ của giáo dục mầm non cũng phải thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của xã hội. Do đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin là việc làm rất cần thiết đối với các trường mầm non nói chung và với trường chúng tôi nói riêng. Vì vây, bản thân tôi luôn tìm tòi, học hỏi việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý và giảng dạy. Qua đó, hướng dẫn chị em cùng học tập như việc soạn bài trên máy vi tính, làm các đồ dùng dạy học qua máy, học tập trên mạng internet, thiết kế các bài giảng điện tử từ các phần mềm trình chiếu như Power Point… Biện pháp 4. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho cô và trẻ. Để giáo viên có điều kiện thực hiện tốt chương trình thì cơ sở vật chất trang thiết bị là vô cùng quan trọng. Chính vì vậy, tôi cùng với Ban giám hiệu nhà trường đã xây dựng kế hoạch, tham mưu với các cấp các ngành, phối hợp với phụ huynh học sinh đầu tư làm mới, tu sửa các phòng học,các công trình phụ trợ như nhà bếp, sân trường, tường rào, đồ chơi ngoài trời, các nhà vệ sinh riêng cho trẻ nam và nữ; mua sắm trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi, học liệu cho cô và trẻ. Chính vì vậy, nhà trường đã từng bước khắc phục khó khăn để thực hiện tốt nhiệm vụ đã được Đảng và nhân dân giao phó. III. KẾT QUẢ Từ việc áp dụng các biện pháp nêu trên, cuối năm học chất lược đội ngũ giáo viên cũng nhữ chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ đã tăng lên rõ rệt. Cụ thể là: * Đội ngũ giáo viên: Tổng số CBGV Nữ Dân tộc Đảng viên BGH Giáo viên Hành chính Phục vụ Kế toán Y tế 38 38 7 16 4 31 1 1 0 1 *Năng lực chuyên môn của đội nggũ giáo viên: GVG cấp tỉnh GVG cấp huyện GVG cấp trường Xếp loại Giỏi Xếp loại khá Xếp loại đạt yêu cầu 4 12 15 15 13 3 *Kết quả dự giờ đột xuất và thao giảng trong năm học: Thời gian TSGV Dự giờ đột xuất Thao giảng Giỏi Khá Đạt KĐ Giỏi Khá Đạt KĐ Từ 21/9-30/10 19 2 14 3 0 Từ 02/11-17/11 32 9 22 1 0 Từ 30/11-5/2 10 1 6 3 0 Từ01/3-19/3 37 21 16 0 0 Từ 29/3-22/4 7 2 4 1 *Chất lượng giáo dục: Mức độ Nhà trẻ Mẫu giáo Chung toàn trường Đat chuẩn 92,3% 92,5% 92,4% Chưa đạt 7,7% 7,5% 7,6% *Chất lượng nuôi dưỡng: Khối Về cân nặng Về chiều cao PTBT SDD PTBT SDD SL % SL % SL % SL % Nhà trẻ 52 98,1 1 1,9 53 100 0 0 Mẫu giáo 358 94,7 20 5,3 372 98,4 6 1,6 Chung toàn trường 410 95,1 21 4,9 425 98,6 6 1,4 IV.BÀI HỌC KINH NGHIỆM. Từ thực tế quản lý và chỉ đạo về “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên” tại trường mầm non Chiềng Mung, tôi đã rút ra một số bài học kinh nghiệm sau: Trước hết, người cán bộ quản lý cần phải có năng lực, phẩm chất, có uy tín trước đội ngũ giáo viên, có khả năng quản lý chỉ đạo điều hành các hoạt động theo mảng được phân công phụ trách. Thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận và khoa học công nghệ. Phân công đúng người, đúng việc, làm cho mọi nười hiểu rõ chức trách nhiệm vụ của mình, biết phối hợp với nhau trong công tác. Xây dựng được kế hoạch ngắn hạn và dài hạn về công tác chuyên môn dựa vào các văn bản chỉ đạo của các cấp và của Nhà trường, tình hình thực tế của địa phương và tổ chức triển khai có hiệu quả. Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đặc biệt trong điều kiện hiện nay cần đẩy mạnh ứng dụng kiến thức khoa học mới vào chương trình cho phù hợp. Cần đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động trong ngày cho linh hoạt, phù hợp với tình thình thực tế của địa phương. Biết tạo ra kỷ cương trong nội bộ, đồng thời phải là trung tâm đoàn kết, quy tụ mọi người cùng chung tay xây dựng tập thể sư phạm nhà trường. Quan tâm tìm hiểu để nắm được tâm tư tình cảm, vướng mắc của cán bộ giáo viên để có hướng khắc phục. Tạo điểu kiện để giáo viên được học tâp ở mọi lúc, mọi nơi, nâng cao trình độ cho giáo viên. V.KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN. 1. Kết luận: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ngày một vững vàng, chủ động, sáng tạo trong công tác, thường xuyên đổi mới đáp ứng được yêu cầu của toàn xã hội trong bất cứ thời kỳ nào là mục tiêu quan trọng trong công tác chỉ đạo công tác chuyên môn trong trường mầm non. Để đạt được mục tiêu này, người cán bộ quản lý phụ trách công tác chuyên môn của nhà trường phải thực sự nâng cao tư tưởng chính trị, trình độ và năng lực chuyên môn và phát huy vai trò đầu tầu gương mẫu, là người đi trước về sau, nêu cao vai trò lãnh đạo trong công tác. Luôn đặt mình trong khối thống nhất chung của tập thể sư phạm nhà trường, nghiêm túc thực hiện nội quy tập thể. Có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác cho đội ngũ giáo viên để đội ngũ giáo viên thực sự có trình độ và năng lực công tác, biết áp dụng những kiến thức khoa học mới vào công việc hàng ngày của mình. 2. Đề xuất ý kiến: *Đối với nhà trường: -Nâng cao ý thức tự học, tự bồi dưỡng cho cán bộ giáo viên để thực hiện tốt mọi công việc được giao. -Tiếp tục có kế hoạch bổ sung, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi cho cô và trẻ. -Thực hiện tốt công tác xã hội hoá giáo dục mầm non trên địa bàn. *Đối với phòng giáo dục và đào tạo huyện Mai Sơn: -Điều động, bổ sung thêm biên chế cán bộ, giáo viên đủ theo kế hoạch phát triển giáo dục của Nhà trường. -Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên các trường mầm non đi tham quan học tập trong và ngoài tỉnh. -Bổ sung thêm tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo cho các nhà trường. Chiềng Mung, ngày 20 tháng 5 năm 2010 NGƯỜI VIẾT Đặng Thị Thu XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………. HIỆU TRƯỞNG

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên Tại Trường Mầm Non Hoa Hồng Quận Hai Bà Trưng

MỤC LỤC

1.1. Căn cứ nghiên cứu……………………………………………………………………………………………. 4

1.3. Ý nghĩa – tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu…………………………………………………… 6

2.1. Giới thiệu khái quát về nhà trường……………………………………………………………………… 7

2.2. Thực trạng việc tổ chức hoạt động góc tại trường MN Ngô Thì Nhậm …………………….. 8

Biện pháp 1: Bồi dưỡng giáo viên thông qua dự giờ ……………………………………………………. 11

Biện pháp 2: Bồi dưỡng giáo viên thông qua sinh hoạt tổ chuyên môn…………………………… 11

Biện pháp 3: Bồi dưỡng giáo viên thông qua tham quan, học tập kinh nghiệm………………… 12

Biện pháp 4: Cử giáo viên đi học các lớp ngắn hạn, dài hạn…………………………………………. 12

3.2. Phương hướng…………………………………………………………………………………………………. 13

3.3. Kế hoạch thực hiện……………………………………………………………………..14

1. Kết luận……………………………………………………………………………………………………………… 24

2. Khuyến nghị ……………………………………………………………………………………………………… 24

MỞ ĐẦU

– Quản lý là một tổ chức sắp xếp, bố trí hợp lý, đồng thời theo dõi, giám sát, chăm sóc, trông coi, nhằm định hướng việc sử dụng các nguồn nhân lực, tài lực, vật lực, vận hành đúng mục đích.

– Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung nhằm thực hiện những mục tiêu đã đề ra.

– Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc có tính kỷ luật cao luôn hoàn thành các nhiệm vụ .

– Quản lý là một thuộc tính của xã hội dù ở trình độ nào loài người ngay từ lúc sống thành bầy đàn cũng đã thể hiện tính tổ chức của mình thông qua vai trò của quản lý. Nhờ tính tổ chức cao mà xã hội không ngừng phát triển. Nếu xã hội ngừng nâng cao tính tổ chức thì xã hội đó sẽ ngừng phát triển. Chúng ta có thể nói, quản lý là thước đo sự tiến bộ xã hội, quản lý là đòn bẩy của sự tiến bộ xã hội. Nói một cách khác, sự tiến bộ xã hội có thể được đánh giá một phần thông qua công tác quản lý.

Quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường, có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch) đến giáo viên và học sinh đến các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động lực cho họ cùng cộng tác, phối hợp tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường, làm cho qui trình này vận động hướng tới việc hoàn thành những mục tiêu đã đề ra.

Đối tượng của quản lý giáo dục là những người thực hiện các hoạt động giáo dục (học sinh, phụ huynh, xã hội).

Tích chất của hoạt động giáo dục là phục vụ xã hội vì lợi ích văn minh, tiến bộ lâu dài của xã hội.

Mục đích của giáo dục nhằm dạy các trí thức văn hóa, khoa học, rèn luyện thói quen, kỷ năng, kỷ xảo trong lao động, khả năng ứng xử xã hội.

Trong nhà trường người cán bộ quản lý không phải là người làm giỏi hết tất cả mọi công việc mà phải là người biết cách tổ chức cho mọi người làm giỏi.

Trong quản lý giáo dục, nhiệm vụ trọng tâm của chủ thể quản lý là tổ chức thực hiện kế hoạch năm học, tổ chức cuộc sống vật chất và tinh thần cho tập thể sư phạm, xây dựng bầu không khí thoải mái trong tập thể sư phạm, tổ chức kiểm tra đánh giá các mặt hoạt động của nhà trường theo những tiêu chí đưa ra trong các chỉ thị đầu năm học. Để tổ chức tốt hoạt động của trường.

Xuất phát từ các khái niệm trên công tác quản lý giáo dục được thực hiện trong một phạm vi xác định, đó là nhà trường của bậc học Mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Hoạt động trung tâm của nhà trường là hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ. Đây chính là quá trình hình thành những tri thức, kỹ năng, thái độ … theo yêu cầu mục tiêu của cấp học. Để làm tốt công việc của người cán bộ quản lý, bên cạnh những hiểu biết về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, người hiệu phó còn phải hiểu các mối quan hệ giữa con người với nhau trong cuộc sống, phải nắm vững các vấn đề thuộc về lĩnh vực phương pháp giáo dục phải nắm vững bản chất của lao động sư phạm, của quá trình dạy học, quá trình phát triển về mặt sinh lý của trẻ là quá trình hoàn thiện và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ .

2. Cơ sở thực tiễn

Trẻ ở tuổi mầm non ngoài sự chăm sóc dạy dỗ của ông bà, cha mẹ trẻ ở gia đình thì yếu tố quan trọng quyết định lớn về sự phát triển toàn diện của những trẻ đến trường mầm non là đội ngũ giáo viên mầm non.

Từ nhận thức trên là một cán bộ quản lý tôi đã xác định việc xây dựng đội ngũ giáo viên là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà mình không được phép sao nhãng, phải bằng mọi cách để xây dựng một đội ngũ có đủ trình độ năng lực, sức khỏe mẫu mực, có đủ khả năng chăm sóc giáo dục trẻ theo yêu cầu hiện nay

Trên cơ sở thực trạng của trường Mầm non Hoa Hồng cùng với những kiến thức đã được học tôi chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên của trường Mầm non Hoa Hồng” làm tiểu luận tốt nghiệp khoá bồi dưỡng CBQLGD năm 2021.

NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Như chúng ta đã biết Ngành học Mầm non là bậc học đầu tiên, là nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Song việc bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên lại càng quan trọng hơn, quyết định hơn, làm đòn bảy để nâng cao chất lượng giáo dục mầm non. Do đó việc xây dựng bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên với phương châm là yêu nghề mến trẻ và thực sự là người mẹ hiền thứ hai của trẻ. Để đạt được mục tiêu trên chúng ta phải xây dựng được một đội ngũ giáo viên vững mạnh một đội ngũ cán bộ quản lý giỏi có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu của giáo dục hiện nay. Đó chính là tập thể sư phạm của nhà trường đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng “vừa hồng vừa chuyên”. Tập thể sư phạm bao gồm cán bộ quản lý và giáo viên, trong đó đội ngũ giáo viên là lực lượng chủ yếu trực tiếp tổ chức quá trình giáo dục.

Việc xây dựng đội ngũ giáo viên vững mạnh là việc làm rất càn thiết, thường xuyên và liên tục. Vì đội ngũ giáo viên là người quyết định đến chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non

1.1. Căn cứ nghiên cứu

Nghị Quyết Trung ương 4 (Khóa VII), Nghị Quyết Trung ương 2 (Khóa VIII), Nghị Quyết Trung ương 6 (Khóa IX) đều khẳng định mục tiêu giáo dục cho đất nước: Phải đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ, đặc biệt là nguồn nhân lực để đáp ứng công cuộc “Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa của đất nước”

Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 có nêu mục tiêu thực hiện chiến lược phát triển giáo dục: Xây dựng đội ngũ nhà giáo được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo. Để đạt được mục tiêu đó, “Chú trọng bồi dưỡng, nâng cao trình độ, chất lượng đội ngũ nhà giáo…”

Quyết định số 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 07 tháng 4 năm 2008 ban hành Điều lệ trường mầm non kèm theo thông tư 44/2010/TT-BGDĐT, Thông tư 05/2011/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ giáo dục đào tạo về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ trường mầm non.

1.2. Những khái niệm cơ bản về vấn đề nghiên cứu

Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ cho trẻ.

Những kỹ năng mà trẻ được tiếp thu qua chương trình sẽ là nền tảng cho việc học tập và thành công sau này của trẻ.Những năm đầu đời đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách và phát triển năng lực của trẻ, bởi trẻ bẩm sinh đã có khả năng tiếp thu học tập, não bộ đã được lập trình để tiếp nhận các thông tin cảm quan và sử dụng để hình thành hiểu biết và giao tiếp với thế giới.

Việc chăm sóc tốt cho trẻ từ lứa tuổi trẻ thơ sẽ góp phần tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai của trẻ. Giáo dục mầm nonsẽ chuẩn bị cho trẻ những kỹ năng như tự lập, sự kiềm chế, khả năng diễn đạt rõ ràng, đồng thời hình thành hứng thú đối với việc đến trường ở bậc tiếp theo là giáo dục tiểu học, tăng khả năng sẵn sàng để bước vào giai đoạn giáo dục phổ thông.

Để trẻ có bước đệm tốt nhất trước khi bước vào giáo dục tiểu học cần có 5 lĩnh vực phát triển là kỹ năng ngôn ngữ và nhận thức, kỹ năng giao tiếp và hiểu biết chung, sự trưởng thành tình cảm, năng lực xã hội, sức khỏe và thể chất.

Qua khảo sát của tổ chức Hỗ trợ phát triển giáo dục cho thấy, trẻ được đi học mẫu giáo liên tục từ 3 – 5 tuổi có lợi nhiều hơn cho mức độ sẵn sàng đi học của trẻ và có tỷ lệ thiếu hụt thấp hơn trẻ không được đi học liên tục từ 3 – 5 tuổi, đặc biệt là ở lĩnh vực phát triển kỹ năng giao tiếp và hiểu biết chung. Vì vậy, những trẻ khi bắt đầu đi học giáo dục tiểu học nhưng chưa được chuẩn bị thường bị thiệt thòi và thường khó có thể bắt kịp bạn bè.

Tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non là nhiệm vụ rất quan trọng trong công tác nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục, tạo tiền đề cho trẻ 5 tuổi bước vào lớp 1. Để thực hiện được điều này giáo dục mầm non cần tập trung ưu tiên các nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất, nhân lực, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi để trẻ có thể phát triển toàn diện.

Giáo viên mầm non cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc quyết định việc học tập và phát triển của trẻ nhỏ. Giáo viên được đào tạo sư phạm mầm non tốt sẽ có nhiều tương tác với trẻ tích cực hơn, nhanh nhạy hơn, cung cấp những trải nhiệm về phát triển nhận thức ngôn ngữ phong phú hơn. Do vậy, cần phải xây dựng được các chương trình đào tạo giáo viên tốt và các chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên mầm non đang giảng dạy để giúp họ có những kiến thức mới về sự phát triển của trẻ.

Giáo dục mầm non có vai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ, giúp trẻ phát huy được các khả năng trong con người trẻ. Chính vì thế cần quan tâm chú trọng cấp học này hơn nữa.

1.3. Ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu

Đối với trẻ thì ngoài gia đình thì cô giáo dạy mầm non có thể xem như một “người mẹ thứ hai” để giúp trẻ có thêm tự tin , học hỏi được nhiều điều và giáo dục những kiến thức đầu tiên cho trẻ trong môi trường trường lớp, chính vì vậy mà người làm giáo viên mần non có vai trò vô cùng quan trọng trong việc giáo dục ra một thế hệ “mầm non” tương lai cho đất nước

Giáo viên phải là người có kinh nghiệm, phải có tính linh hoạt, tính tích cực tìm tòi, sáng tạo, học hỏi kinh nghiệm qua mạng, từ bạn bè đồng nghiệp.

Giáo viên phải là người có kiến thức chuyên môn vững vàng. Có sáng tạo trong lời dẫn dắt bài dạy để gây hứng thú cho trẻ, thường xuyên nghiên cứu sưu tầm các bài thơ, câu truyện, trò chơi phù hợp để lồng ghép tích hợp vào bài dạy. Cần chuẩn bị đồ dùng đẹp, sinh động hấp dẫn. Cần nghiên cứu làm nhiều đồ dùng đẹp khoa học, dễ sử dụng để thu hút trẻ và nâng cao hiệu quả của giờ học.Trong khi dạy, nếu có đủ đồ dùng đẹp, nhất là đồ dùng đó do trẻ tự làm ra thì tiết học sẽ hấp dẫn hơn. Đó là một yếu tố giúp trẻ hào hứng trong học tập và giáo viên truyền thụ kiến thức cho trẻ có nhiều thuận lợi. Sử dụng và ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình giảng dạy một cách thành thạo và phù hợp. Giờ hoạt động phải biết sử dụng đồ dùng phù hợp, gây hứng thú cho trẻ. Biết chọn bài kết hợp phù hợp theo nội dung bài dạy và sắp xếp bài dạy hợp lý, biết chọn nội dung tích hợp, trình bày, hấp dẫn và phù hợp trẻ. Nắm vững đặc điểm nhận thức của từng cá nhân trẻ để có phương pháp dạy phù hợp. Phát triển khả năng nhận thức về toán cho trẻ và đảm bảo chất lượng giáo dục đồng bộ. Kết hợp trong giờ dạy khéo léo, sinh động hấp dẫn gây hứng thú cho trẻ.Trong quá trình dạy, giáo viên phải quan tâm đến kiến thức cá nhân để có biện pháp bồi dưỡng phù hợp.Phải tạo điều kiện dạy trẻ ở mọi lúc, mọi nơi. Các bài tập chuẩn bị cho giờ hoạt động chung cũng như dạy các kỹ năng về toán cho trẻ.Tạo môi trường, tâm thế thoải mái để trẻ hoạt động môn làm quen với toán. Giáo viên phải có sự tham mưu với nhà trường và phối hợp với các bậc phụ huynh để có đủ đồ dùng phục vụ cho trẻ hoạt động môn làm quen với toán.

2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu tại cơ sở giáo dục

2.1.Giới thiệu khái quát về đơn vị đang công tác:

Trường MN Hoa Hồng nằm tại 63 Ngõ Quỳnh – Phường Thanh Nhàn Quận HBT , được thành lập vào tháng 10 năm 2013, tổng diện tích 1313 m 2. Đa số nhân dân trong phường làm nghề tự do không ổn định có nhiều biến động về con người. Tổng số cán bộ giáo viên hiện nay là 42 người, cụ thể số lượng của 4 năm gần đây

Trường được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, hỗ trợ cơ sở vật chất, trang thiết bị . Bên cạnh đó, được sự quan tâm của lãnh đạo Phòng giáo dục, nhất là cán bộ phụ trách về chuyên môn phổ biến kịp thời về phương pháp đổi mới chăm sóc giáo dục trẻ.

Hiện nay, trường gồm có:

– Tổng số phòng học: 09 phòng

– Trường có 9 lớp học với tổng số học sinh là 430

Hiện tại, đội ngũ giáo viên của trường là lực lượng trẻ, tuổi đời từ 23 – 40 nhiều giáo viên trẻ mới ra trường.

+ BGH: 03 (03: Đại học)

+ Giáo viên: 26 (6 ĐH, 4 CĐ, 16 TC )

+ Kế toán: 01 ( ĐH)

+ Nhân viên y tế : 01

+ Bảo vệ lao công: 04

2.2. Những điểm mạnh, điểm yếu

– Trường luôn được sự quan tâm của Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận, của Đảng ủy và UBND phường Thanh Nhàn.

– Cơ sở vật chất được trang bị khang trang, rộng đẹp, đáp ứng được nhu cầu gửi con của phụ huynh.

– Đội ngũ cán bộ giáo viên, công nhân viên có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình trong công việc.

– 100% GV trẻ đều đi học lớp đại học sư phạm và 02 nhân viên nuôi dưỡng hoàn thành xong học lớp cao đẳng

– Diện tích sân nhỏ hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu của nhà trường trong các hoạt động như: Tổ chức ngày hội, ngày lễ; Tổ chức các hoạt động của cô và trẻ như hoạt động ngoài trời.

– Một số phụ huynh nghề nghiệp tự do, trình độ dân trí thấp nên cũng ảnh hưởng đến sự phối hợp giữa PH và nhà trường trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ.

– Việc áp dụng CNTT của một số giáo viên mới vào công tác giảng dạy còn hạn chế sử dụng chưa thật hiệu quả.

3. Những biện pháp thực hiện và phương hướng hoạt động 3.1 Những việc đã làm

Trước thực trạng đội ngũ giáo viên của trường, trong những năm qua, với vai trò là Phó Hiệu trưởng, bản thân tôi đã cố gắng nỗ lực để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên như sau:

Vào đầu năm học, nhà trường tổ chức chuyên đề, hướng dẫn cho giáo viên của mình thống nhất về phương pháp lên lớp, hướng dẫn và thống nhất làm hồ sơ sổ sách, Xây dựng kế hoạch năm học, tháng tuần; trong đó có kế hoạch tuyên truyền, kế hoạch bảo đảm an toàn tuyệt đối cho trẻ…Xây dựng các tiết mẫu để giáo viên dự giờ rút kinh nghiệm, học tập. Hướng dẫn tổ chức công tác tuyên truyền các bậc cha mẹ nuôi dạy con theo khoa học. xây dựng kế hoạch chơi theo chủ điểm. Thống nhất việc trang trí lớp theo chủ điểm quy định.

Đối với những giáo viên năng lực chuyên môn còn yếu, giáo viên mới ra trường, mỗi tuần tôi dự giờ một tiết/giáo viên, đưa ra những nhận xét, góp ý, khuyến khích giáo viên phát huy những mặt mạnh, kịp thời điều chỉnh những hạn chế, bên cạnh đó, truyền đạt lại những kinh nghiệm, những kỹ năng lên lớp để giáo viên tham khảo và sẽ dự giờ lại vào tuần sau để xem giáo viên có sự tiến bộ hay không.

Bản thân tôi là một Phó Hiệu trưởng còn ít kinh nghiệm quản lý, tôi không ngừng học hỏi kinh nghiệm ,tìm tòi, sáng tạo trong làm đồ dùng dạy học.

Ban Giám hiệu trường rất quan tâm đến công tác bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kỹ năng sư phạm cho giáo viên, áp dụng linh hoạt các biện pháp cũng như hình thức bồi dưỡng để từng bước nâng cao chất lượng cho giáo viên, luôn tạo điều kiện để đội ngũ giáo viên tiếp cận kiến thức mới, phương pháp mới để tổ chức vận dụng thiết thực vào tổ chức hoạt động cho trẻ.

Hiệu trưởng nhà trường có kinh nghiệm quản lý tốt, rất nhiệt tình với công việc, có tinh thần trách nhiệm và có thâm niên nghề nghiệp, đã qua lớp bồi dưỡng về công tác quản lý giáo dục, có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín với tập thể trong và ngoài nhà trường, có tinh thần dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến tập thể.

Để việc bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên có tay nghề chuyên môn vững, chất lượng cao để đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục của trường mình, trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng của cán bộ giáo viên trong những năm qua, trường đưa ra kế hoạch thực hiện một số công tác bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên mầm non trong nhà trường qua những biện pháp sau:

* Biện pháp 1: Bồi dưỡng giáo viên thông qua dự giờ

Ban Giám hiệu lên kế hoạch bồi dưỡng cho giáo viên thông qua phương thức dự giờ trên lớp, kế hoạch này được công khai trên Hội đồng sư phạm nhà trường.

Nhà trường sử dụng các hình thức: Kiểm tra định kỳ, kiểm tra toàn diện, kiểm tra chuyên đề…để đánh giá, xếp loại, rút kinh nghiệm, tư vấn cho giáo viên.

Qua dự giờ các tiết dạy của giáo viên, Ban Giám hiệu xác định mục đích, nội dung dự giờ, thời gian dự giờ, nghiên cứu hồ sơ kiểm tra, đánh giá lần trước để cùng phân tích ưu điểm, nhựợc điểm cần khắc phục trong thời gian tới, đồng thời đề xuất những ý kiến mới, sáng tạo trong quá trình tổ chức các hoạt động để giáo viên có thêm kinh nghiệm thiết kế bài dạy tốt hơn. Thông qua việc phân tích tiết dạy, bồi dưỡng cách thức làm việc cho giáo viên, giáo viên mới ra trường ít kinh nghiệm, đẻ tránh tình trạng giáo viên trẻ thụ động.

* Biện pháp 2: Bồi dưỡng giáo viên thông qua sinh hoạt Tổ chuyên môn

Ban giám hiệu chỉ đạo và hướng dẫn các Tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch năm học phải dựa trên kế hoạch năm của trường, từ đó cụ thể hóa thành kế hoạch tháng, tuần.

Kế hoạch tổ chuyên môn phải được Ban Giám hiệu duyệt và trở thành văn bản pháp lý để chỉ đạo hoạt động của tổ, Kế hoạch tổ bao gồm: Chuyên đề trong năm, kiểm tra dự giờ, kế hoạch làm đồ dùng đồ chơi,…

Tổ chuyên môn có nhiệm vụ duyệt kế hoạch của giáo viên trước khi trình ban Giám hiệu duyệt

Quy định thời gian họp tổ: 2lần/tháng:

– Lần 2: Tổ chức thao giảng, triển khai nội dung các chuyên đề, làm đồ dùng đồ chơi, hướng dẫn lập kế hoạch trong tháng, tuần, ngày.

* Biện pháp 3: Bồi dưỡng giáo viên thông qua tham quan, học tập kinh nghiệm

Tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm là một trong những biện pháp rất thú vị và thực tế, đem lại hiệu quả cao trong quá trình bồi dưỡng giáo viên. Do đó, hàng năm Hiệu trưởng nhà trường đều xây dựng kế hoạch tham quan học tập trường bạn, lớp đồng nghiệp ngay từ đầu năm.

* Biện pháp 4: Cử giáo viên đi học các lớp đào tạo ngắn hạn, dài hạn

Nhà trường khuyến khích và tạo điều kiện để các giáo viên học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: hiện tại truờng có 10 giáo viên đang theo học lớp Đại học .

Trong thời buổi công nghệ thông tin phát triển, nhà trường đã tạo điều kiện để Cán bộ giáo viên được học vi tính, ngoại ngữ. Cụ thể: Về tin học: 20/24 Cán bộ giáo viên có trình độ B, Về ngoại ngữ: 15/24 trình độ A, Nhờ các biện pháp nêu trên, trong những năm qua đội ngũ giáo viên đã có nhiều chuyển biến tốt về nhận thức, có ý thức trách nhiệm cao, có tinh thần xây dựng tập thể. Đặc biệt là đội ngũ đã thực sự gắn bó với nghề, xem nhà trường, lớp học là tổ ấm đã đóng góp rất lớn trong việc xây dựng trường vững mạnh làm cho phong trào nhà trường ngày càng ổn định về số lượng và chất lượng ngày càng cao.

– Về trình độ chính trị: Đã có 07 giáo viên được đứng trong hàng ngũ của Đảng, số đảng viên trong trường hiện nay là 10 đồng chí, trực thuộc Đảng Ủy phường Thanh Nhàn – Về trình độ văn hoá: 100% giáo viên có trình độ văn hoá 12/12

– Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Giáo viên đạt trình độ chuẩn: 24/24, tỷ lệ 100%; trong đó trên chuẩn là 10/24.

– Đội ngũ giáo viên đã có nhiều chuyển biến tốt trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng phong trào dạy giỏi qua các hội thi rất sôi nổi; 100% giáo viên tham gia hội giảng trường, mạnh dạn đăng ký phấn đấu giáo viên giỏi các cấp.

– Hằng năm, vào các đợt thi đua như 20/11 ngày nhà giáo Việt nam, và 8/3 nhà trường phát động 100% giáo viên hưởng ứng làm đồ dùng dạy học, đến nay tổng số đồ dùng bền đẹp, phục vụ tốt cho các tiết dạy

3.2 Phương hướng hoạt động

Khi thực hiện công việc, yêu cầu người giáo viên phải nắm vững các văn bản, chỉ thị, yêu cầu của ngành, từ đó có hướng xây dựng kế hoạch cho phù hợp.

Kế hoạch là một chức năng quan trọng của công tác quản lý trường mầm non. Chất lượng của kế hoạch và hiệu quả thực hiện kế hoạch quyết định chất lượng, hiệu quả của quá trình chăm sóc iáo dục trẻ. Trên cơ sở phương hướng nhiệm vụ năm học của ngành, tình hình cụ thể của trường, Ban Giám hiệu hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch của Tổ chuyên môn và kế hoạch của nhóm, lớp, giúp họ biết xác định mục tiêu, nhiệm vụ đúng đắn, đề ra các biện pháp rõ ràng, hợp lý và các điều kiện để đạt được mục tiêu đề ra

Chính vì thế, việc triển khai các văn bản, chỉ thị, yêu cầu của ngành đến giáo viên, và việc chỉ đạo xây dựng kế hoạch đảm bảo chất lượng và có khả năng thực thi là một yêu cầu bắt buộc để góp phần nâng cao năng lực sư phạm của giáo viên. Vì vậy, tôi dự kiến trong vòng một tháng tới sẽ thực hiện hai việc nêu trên. Cụ thể:

– Triển khai các văn bản, chỉ thị, yêu cầu của ngành đến giáo viên

– 100% giáo viên trường nắm rõ các văn bản, chỉ thị của ngành

– Tổ chức cuộc họp triển khai và phát tài liệu để giáo viên nghiên cứu thêm

– Giáo viên không có thời gian để nghiên cứu các văn bản, chỉ thị

– Giao nhiệm vụ cho Tổ, khối triển khai thêm trong các cuộc họp tổ.

– Hướng dẫn giáo viên, Tổ khối làm kế hoạch, giúp giáo viên nắm chắc nội dung phân phối chương trình

– 100% giáo viên biết cách làm kế hoạch và nắm chắc được nội dung chương trình

– Dựa trên cơ sở, phương hướng, nhiệm vụ năm học của ngành, Xây dựng kế hoạch mẫu, hướng dẫn cách thức thực hiện.

– Một số giáo viên thực hiện kế hoạch sơ sài, chủ yếu là để đối phó, lập kế hoạch chứ không thực hiện theo kế hoạch

– kiểm tra đột xuất giờ dạy của giáo viên, kiểm tra việc thực hiện chương trình, phát động thi đua để khuyến khích sự tích cực chủ động của giáo viên

3.3. Kế hoạch thực hiện phương hướng trên từ nay đến cuối năm học 2021 -2017

Để trở thành giáo viên giỏi, để có được bản lĩnh đứng lớp, nâng cao năng lực sư phạm cho bản thân, thì khâu soạn bài, chuẩn bị bài truớc khi lên lớp là điều vô cùng quan trọng. Bên cạnh đó, việc thực hiện đầy đủ hồ sơ chuyên môn và đổi mới phương pháp dạy học cũng là những lĩnh vực quan trọng để đánh giá năng lực sư phạm của giáo viên. Để nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên nhằm đẩy mạnh hiệu quả trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, chỉ đạo thực hiện chương trình là nhiệm vụ trọng tâm trong quản lý chuyên môn của Ban Giám hiệu nhằm giúp giáo viên thực hiện có hiệu quả, sáng tạo trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của trường. Vì vậy, tôi dự kiến trong vòng 3 tháng tới sẽ thực hiện những công việc như sau:

Hướng dẫn xây dựng các hồ sơ chuyên môn của giáo viên

– Giáo viên có đầy đủ các loại hồ sơ chuyên môn, thực hiện đúng theo quy định, sử dụng có hiệu quả

– Ban Giám hiệu và Khối trưởng

– Dựa trên quy chế chuyên môn của ngành, hướng dẫn thực hiện các loại hồ sơ chuyên môn của Sở, phòng.

– Một số giáo viên sao chép hồ sơ của đồng nghiệp, không quan tâm xây dựng hồ sơ đúng theo tình hình thực tế của trường, của lớp mình.

– BGH thống nhất và quy định nội dung, cách xây dựng các loại hồ sơ, thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nội quy, quy chế chuyên môn của giáo viên.

Các hoạt động dự kiến thực hiện trong vòng 1 năm sau tập huấn

Qua học tập các chuyên đề bồi dưỡng cán bộ quản lý mầm non, bản thân tôi học được rất nhiều điều bổ ích làm hành trang cho mình trên con đường sự nghiệp giáo dục sau này. Tôi sẽ cố gắng làm thật tốt nhiệm vụ của người cán bộ quản lý trường mầm non và luôn suy nghĩ: làm thế nào để đơn vị mình phát triển hơn nữa, chất lượng giáo dục cao hơn nữa. Muốn thế trước hết phải có đội ngũ mạnh.

Đội ngũ cán bộ giáo viên có vai trò quyết định trong việc chăm sóc giáo dục trẻ ở các trường mầm non vì vậy bất kỳ người quản lý nào không thể bỏ qua việc bồi dưỡng lực lượng cán bộ giáo viên. Mục tiêu của công tác bồi dưỡng là nhằm hoàn thiện quá trình đào tạo, khắc phục những thiếu sót lệch lạc trong công tác giảng dạy, về quan điểm, nội dung phương pháp giáo dục đồng thời theo kịp những yêu cầu của xã hội. Để phục vụ cho nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ đòi hỏi người giáo viên mầm non phải có phẩm chất, trình độ, năng lực đề cao lương tâm và nhân cách nhà giáo, lòng nhân ái tận tuỵ thương yêu trẻ, thể hiện ở tinh thần tự học, tự bồi dưỡng cải tiến nội dung phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ.

Từ những nhận thức nêu trên, tôi đề ra kế hoạch dự kiến thực hiện những công việc sau đây trong vòng một năm sau tập huấn:

– Nâng cao nhận thức của giáo viên về nâng cao năng lực sư phạm .

– Dựa vào các văn bản pháp quy của Đảng, ngành, trường

– Phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục trong nhà trường.

– Tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất và tinh thần cho giáo viên trong các hoạt động.

– Thực trạng đội ngũ giáo viên mới ra trường thiếu kinh nghiệm, khả năng sư phạm còn yếu.

– Tiến hành quán triệt đầy đủ các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, nhà nước về công tác xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Cung cấp các thông tin về đổi mới giáo dục mầm non

– Xây dựng phong trào thi đua học tập trong nhà trường để động viên giáo viên quyết tâm học tập, tạo điều kiện khuyến khích tinh thần giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau trong học tập

– Tạo điều kiện làm việc thoải mái cho giáo viên, giúp họ về vật chất và thời gian để yên tâm khi tham gia các lớp học.

– Trao quyền và nâng cao ý thức trách nhiệm, nêu cao tinh thần tôn trọng và học hỏi, tạo động lực làm việc

1. Kết luận

Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo. Việc nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên có ý nghĩa quyết định chất lượng đội ngũ giáo viên. Giáo viên là nguồn lực chủ yếu thực hiện các mục tiêu giáo dục trong nhà trường.

Chính vì vậy công tác nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên mầm non luôn được quan tâm đúng mức để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng đội ngũ giáo viên trong giai đoạn hiện nay. Làm tốt công tác nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên, chắc chắn đội ngũ giáo viên sẽ có một trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, tự tin hơn trong công việc của mình.

2. Khuyến nghị

Quan tâm hơn nữa về cơ sở vật chất, đặc biệt là đồ dùng đồ chơi theo thông tư 02 của Bộ giáo dục, các thiết bị văn phòng, xây dựng nhà lớp học và các phòng chức năng.

Tiếp tục phát triển, tạo điều kiện cho BGH và giáo viên ở các trường mầm non học tập, nâng cao trình độ quản lý và trình độ chuyên môn.

Tổ chức các lớp tập huấn bồi dưỡng cho BGH về việc quản lý hoạt động vui chơi theo chương trình đổi mới.

Tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên về các biện pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ theo chương trình đổi mới hiện nay.

Cần quan tâm phối hợp chặt chẽ với nhà trường, giáo viên để thực hiện tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ.

* Đối với giáo viên:

Tiếp tục thực hiện tốt các chuyên đề giáo dục, trong giảng dạy thường xuyên đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, sáng tạo cho trẻ. Thường xuyên ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy.Tích cực tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn.

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2021 Nguyễn Thị Thu Hằng

1. Trích: Nghị quyết Trung Ương 4 (Khóa VII)

Nghị quyết trung ương 2 (Khóa VIII)

Nghị quyết trung ương 6 (Khóa IX)

2. Chỉ thị chúng tôi ngày 15 tháng 6 năm 2006

3. Chuyên đề: “Quản lý nhân sự trong trường mần non”

4. Chuyên đề: “Lập kế hoạch phát triển trường mầm non”

5. Một số bài tiểu luận của anh chị khóa trước.

Đảm Bảo Môi Trường Giáo Dục An Toàn, Lành Mạnh, Thân Thiện, Phòng Chống Bạo Lực Học Đường

Theo Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là sự chủ động, tích cực của ngành GD&ĐT, sự nỗ lực của từng cán bộ, giáo viên, nhân viên trong ngành, việc xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học; xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng chống bạo lực học đường trong ngành GD&ĐT đã đạt nhiều kết quả. Theo đó, nhiều trường đã xây dựng và tổ chức thực hiện khá tốt bộ quy tắc ứng xử trong trường học. Mối quan hệ giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa trò với trò trở nên thân thiện, lành mạnh. Có thể nói, môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện là môi trường giáo dục mà người học được bảo vệ, không bị tổn hại về thể chất và tinh thần; không có tệ nạn xã hội, không bạo lực. Người học, cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên có lối sống lành mạnh, ứng xử văn hóa. Ở đó, người học được tôn trọng, đối xử công bằng, bình đẳng và nhân ái, được tạo điều kiện để phát triển phẩm chất và năng lực…

Xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, phòng chống bạo lực học đường là nhiệm vụ rất quan trọng của ngành giáo dục

Tuy nhiên, theo Sở GD&ĐT, việc xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, bất cập. Cụ thể, một số trường, ngoài nhiệm vụ dạy văn hóa, chưa thật sự quan tâm đúng mức đến việc giáo dục đạo đức, nhân cách học sinh. Tình trạng một số giáo viên thiếu gương mẫu trong lối sống, phát ngôn, giao tiếp. Vẫn còn một bộ phận học sinh chưa lễ phép, tôn trọng thầy cô, người lớn tuổi; cá biệt, một số học sinh vô lễ với thầy cô, chưa thân thiện với bạn bè. Bên cạnh đó, tình trạng bạo lực học đường vẫn còn xảy ra ở một số đơn vị. Biểu hiện dễ thấy nhất là việc giáo viên dùng đòn roi để “dạy dỗ” học sinh hoặc dùng những ngôn từ khiếm nhã chê bai học sinh. Ở học sinh, có em tỏ thái độ thiếu tôn trọng bạn bè, thiếu kiềm chế, thiếu kỹ năng giải quyết xung đột.

Hiệu trưởng Trường THCS Mỹ Thới (TP. Long Xuyên) Phùng Thị Bằng An chia sẻ: “Thời gian qua, tại Trường THCS Mỹ Thới đã xảy ra vụ việc đánh bạn của học sinh trường. Khi vụ việc xảy ra, các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương, nhà trường đến thăm hỏi, động viên học sinh ổn định tâm lý để tiếp tục đến trường. Về phía các em học sinh đánh bạn đã thấy việc làm sai trái và thành khẩn nhận lỗi và kết quả kỷ luật từ nhà trường. Qua vụ việc trên, nhà trường rút ra kinh nghiệm trong phòng chống bạo lực học đường như: không được chủ quan, tiếp nhận và xử lý thông tin cần phù hợp hơn… Vừa qua, UBND phường Mỹ Thới (TP. Long Xuyên) tổ chức lễ ra mắt mô hình “Phòng chống bạo lực học đường” Trường THCS Mỹ Thới. Ban điều hành mô hình, gồm: lãnh đạo phường, Công an phường, Ban Giám hiệu Trường THCS Mỹ Thới và giáo viên chủ nhiệm, cùng phụ huynh học sinh… sẽ phối hợp tổ chức các hoạt động vận động, tuyên truyền, giám sát học sinh chấp hành nghiêm nội quy trường học; các quy định về an ninh trật tự, trật tự an toàn giao thông, phòng chống bạo lực học đường…”.

Công tác giáo dục nói chung và việc xây dựng văn hóa ứng xử, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng chống bạo lực học đường trong trường học nói riêng được xác định là nhiệm vụ quan trọng, trọng tâm của ngành GD&ĐT, nhằm góp phần xây dựng xã hội học tập tốt đẹp.

PHƯƠNG LAN