Chức Năng Xã Hội Của Báo Chí

--- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Báo Chí Trong Đời Sống Xã Hội.
  • Trình Bày Một Số Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học
  • Trình Bày Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học
  • Giáo Dục Toàn Diện Cho Học Sinh: Thay Đổi Nhận Thức Và Hành Động
  • Tại Sao Cha Mẹ Phải Giáo Dục Con Cái
  • CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA BÁO CHÍ Báo chí là loại hình hoạt động thông tin chính trị xã hội có những chức năng xã hội của mình. Chỉ có hiểu những chức năng xã hội của báo chí là gì; bao gồm những chức năng nào; được thực hiện bằng cách nào … thì mới có thể bàn đến nội dung của hoạt động báo chí. I. KHÁI NIỆM

    1. Thuật ngữ chức năng: – Theo từ điển tiếng Việt: Chức năng là: + Hoạt động, tác dụng bình thường hoặc đặc trưng của một cơ quan, một hệ cơ quan nào đó trong cơ thể. + Tác dụng, vai trò bình thường hoặc đặc trưng của một người nào đó, một cái gì đó. – Theo ngữ nghĩa: Chức năng – tiếng La tinh là Functio được hiểu là sự tổng hợp vị trí, vai trò và tác dụng của một đối tượng, của một hoạt động nào đó. Mỗi một đối tượng tồn tại và vận động, mỗi loại hình hoạt động đều nhằm thực hiện những chức năng nhất định nào đó. Chức năng quy định cả hình thức của hoạt động, cả chất lượng của hoạt động, cả đặc điểm của hoạt động. Muốn hiểu và đánh giá đúng được kết quả hoạt động phải đặt nó trong mối tương quan với nhiệm vụ – như là biểu hiện cụ thể của chức năng. Hiểu được chức năng thì mới hiểu được bản chất của đối tượng nghiên cứu, mới xác định được phương hướng và phương pháp hoạt động, và do đó mới có thể hoạt động một cách phù hợp và có hiệu quả. Hay nói cách khác – chức năng là nhiệm vụ mang tính bản chất, nhiệm vụ khách quan. Như vậy, chức năng không phải là sự áp đặt một cách chủ quan, mà nó tồn tại một cách khách quan trên cơ sở của những quy luật nội tại của loại hình hoạt động. 2. Chức năng xã hội của báo chí: – Từ thuật ngữ chức năng báo chí (đồng nghĩa với các thuật ngữ sứ mệnh; bổn phận vốn có của báo chí, cái báo chí sinh ra để làm), ta hiểu được vị trí, vai trò và tác dụng của báo chí trong đời sống xã hội. Sự ra đời và tồn tại của báo chí đã khẳng định một cách khách quan vị trí, vai trò và tác dụng của báo chí trong đời sống xã hội. Tổng hợp vị trí, vai trò và tác dụng của báo chí cũng chính là chức năng xã hội của báo chí. Toàn bộ hoạt động của con người (hoạt động có ý thức), trong đó có hoạt động báo chí luôn mang đặc điểm mục tiêu. Con người chỉ bắt tay vào hoạt động khi đã xác định được mục tiêu, dự định đạt được kết quả mong muốn. Đối với nhà báo – xác định mục tiêu hoạt động phải phù hợp với những chức năng xã hội của báo chí. Thiếu hiểu biết đầy đủ về chức năng báo chí hoạt động của nhà báo có thể sẽ mâu thuẫn với những chức năng vốn có của báo chí. Chức năng của báo chí được hình thành không phải là do sự áp đặt một cách chủ quan từ đâu đó hay từ ai đó, mà tồn tại một cách khách quan trên cơ sở những quy luật nội tại của báo chí. Nói về tính khách quan của những chức năng trên cơ sở của những quy luật nội tại của báo chí – C.Mác viết: “… muốn cho báo chí có thể hoàn thành sứ mệnh của mình thì trước hết cần phải không có áp lực nào từ bên ngoài vào, cần phải thừa nhận là báo chí có những quy luật nội tại của mình”. (C.Mác và Ph. Ăng-ghen Toàn tập; Tập 1, tr.227). Vậy những nhiệm vụ khách quan đó của báo chí là gì? Do có vị trí đặc biết trong hệ thống xã hội và có ảnh hưởng to lớn đến các mặt của đời sống xã hội, vai trò của báo chí không chỉ thể hiện trong số lượng các mối quan hệ, trong khối lượng và ý nghĩa của những thông tin về các lĩnh vực mà báo chí phản ánh, mà còn ở chất lượng của các mối qaun hệ đó, có nghĩa là mở rộng phạm vi chiếm lĩnh thực tế, chú ý tới các lĩnh vực mới, thu hút các đối tượng công chúng mới, thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu thông tin của công chúng … Do đó, nhận thức rõ nhiệm vụ khách quan (chức năng) của báo chí là rất phức tạp. Lý luận báo chí của chủ nghĩa Mác- Lê nin và thực tiẽn hoạt động của báo chí cách mạng đã cho thấy báo chí tác động tới xã hội theo nhiều khuynh hướng, thực hiện một số nhóm chức năng: Chức năng tư tưởng, chức năng quản lý – giám sát xã hội, chức năng khai sáng – giải trí, chức năng kinh doanh … II. NHÓM CHỨC NĂNG TƯ TƯỞNG – Hoạt động tư tưởng là hoạt động tác động vào thế giới tinh thần của con người hình thành hệ ý thức xã hội cho phù hợp với những mục tiêu đã xác định. Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng luôn coi trọng công tác tư tưởng, coi công tác tư tưởng là một trong số những công tác quan trọng nhất, song song với công tác tổ chức và công tác kiểm tra. Nội dung công tác tư tưởng của Đảng ta: – Truyền bá hệ tư tưởng. – Truyền bá Cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng. Mục đích của công tác tư tưởng: – Để quần chúng nhân dân biến hệ tư tưởng của Đảng thành hệ tư tưởng của quần chúng nhân dân. – Để giác ngộ, nâng cao tính tự giác cho quần chúng nhân dân. – Để bồi dưỡng niềm tin, tình cảm cách mạng, cổ vũ hành động. Các loại hình của công tác tư tưởng: – Hoạt động lý luận (Quán triệt và phổ biến hệ tư tưởng; Tổng kết thực tiễn để hình thành đường lối chiến lược , chủ trương, chính sách). – Hoạt động tuyên truyền. – Hoạt động cổ động. (Khi đã có đường lối chiến lược, Chủ trương, chính sách … thì tuyên truyền và cổ động cho chúng). Các công cụ tư tưởng: – Hệ thống các trường lớp chính trị. – Sinh hoạt tư tưởng theo các cơ quan, đoàn thể, đơn vị, tổ chức … – Đội ngũ báo cáo viên. – Bảo tàng, Triển lãm, Pa nô, Áp phích, Các đội tuyên truyền … – Văn học nghệ thuật. – Báo chí (bao gồm các loại hình) là công cụ đặc biệt quan trọng. Trong số các công cụ tư tưởng của Đảng thì báo chí đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Chính vai trò, tác dụng của báo chí trong việc giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng đối với quần chúng nhân dân đã tạo thành nhóm chức năng tư tưởng của báo chí. Báo chí là công cụ tư tưởng quan trọng bởi lẽ báo chí hàng ngày hàng giờ thông qua hoạt động chuyển tải thông tin truyền bá hệ tư tưởng của Đảng vào quần chúng nhân dân, hướng tính tích cực xã hội của quần chúng nhân dân vào việc thực hiện những mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt ra. Nhóm chức năng tư tưởng của báo chí bao gồm các thành tố: 1. Chức năng mục tiêu: – Lý luận báo chí cách mạng đã chỉ rõ ý nghĩa to lớn của báo chí trong việc hình thành đời sống tinh thần của quần chúng nhân dân. Vai trò của báo chí cũng tăng nhanh đồng hành với sự phất triển của xã hội cùng với việc mở rộng quy mô của các hoạt động xã hội và thu hút quần chúng nhân dân tham gia vào các phong trào, các hoạt động xã hội. – Báo chí làm nhiệm vụ khách quan là chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, toàn diện và có định hướng. Cũng như mọi hoạt động khác của con người, hoạt động báo chí bao giờ cũng hướng tới những mục tiêu xác định. Mục tiêu của hoạt động báo chí là nâng cao tính tự giác cho đối tượng công chúng. (Tự giác là làm việc gì tự mình hiểu mà làm, không cần phải nhắc nhở, đốc thúc). Để nâng cao tính tự giác cho công chúng, báo chí phải nâng cao nhận thức và tự nhận thức cho họ. Nhận thức và tự nhận thức nằm trong mối quan hệ biện chứng. Nhận thức (là khả năng của con người phản ánh và tái hiện hiện thực vào tư duy) – là toàn bộ những tri thức về thế giới xung quanh: những quy luật, những hiện tượng, những khuynh hướng, những quá trình của đời sống xã hội. Còn tự nhận thức là hiểu được vị trí của mình trong thế giới, trong các mối quan hệ xã hội; hiểu được mục đích, ý nghĩa của cuộc sống, hiểu được mục đích và yêu cầu, hiểu được cách thức để đạt được mục đích và thỏa mãn những nhu cầu ấy … Sự tự giác là kết quả của nhận thức và tự nhận thức. Tự giác là động lực mạnh mẽ của hành vi, nó quy định tính tích cực xã hội của con người. – Để thực hiện tốt chức năng mục tiêu – báo chí phải: + Giúp cho công chúng nhận thức thế giới khách quan một cách toàn diện, sâu sắc và đúng đắn. + Định hướng xã hội cho công chúng một cách toàn diện, đúng đúng đắn và khoa học. 2. Chức năng định hướng. Để nâng cao tính tự giác cho đối tượng công chúng đòi hỏi báo chí phải định hướng cho họ một cách toàn diện và đúng đắn. Định hướng xã hội – là tác động, giáo dục, giúp đỡ cho công chúng hiểu và đánh giá đúng các sự kiện, hiện tượng của đời sống xã hội để từ đó họ xác định được mục tiêu, khuynh hướng và đặc điểm hành vi của mình. Sự định hướng như vậy thể hiện ở các mặt: – Thứ nhất: Qua thông tin báo chí cung cấp giúp cho công chúng hiểu được cái gì đang diễn ra. Sự định hướng bắt đầu từ hiểu biết tất cả các sự kiện hàng ngày diễn ra trong thế giới xung quanh để tạo thành bức tranh toàn cảnh về thế giới khách quan của con người mà con người sống trong nó. Đối với báo chí, mô hình thông tin, hệ thống các khái niệm về cuộc sống là rất quan trọng. – Thứ hai: Qua việc cung cấp thông tin báo chí giúp cho công chúng xác định rõ được rằng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể cần đạt tới cái gì, cả về trước mắt, cả về lâu dài từ quan điểm chính thống. – Thứ ba: Sự định hướng được thể hiện qua việc đánh giá các sự kiện, hiện tượng, các quá trình, các khuynh hướng, các nhân vật … (Đương nhiên là từ quan điểm chính thống). Sự đánh giá đó sẽ có sức thuyết phục, tác động mạnh mẽ tới đối tượng khi nó như là những kết luận được rút ra từ việc phân tích các sự kiện, hiện tượng, các quá trình, các khuynh hướng, các nhân vật … ấy của thực tiễn (từ quan điểm chính thống). – Thứ tư: Sự định hướng còn thể hiện ở việc phổ biến những giá trị, những chuẩn mực, những phương thức, phương pháp hoạt động … nhằm thực hiện những mục tiêu đề ra và đạt được những kết qủa cao nhất trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Kết quả định hướng của báo chí đến mức nào phụ thuộc vào mức độ công khai các vấn đề của đời sống xã hội; vào sự dễ hiểu, cập nhật của thông tin; vào khả năng phản ánh và xem xét công khai, thẳng thắn các vấn đề của đời sống xã hội trên báo chí. Định hướng của báo chí trong thực tế có thể toàn diện, sâu sắc và đúng đắn; có thể toàn diện nhưng không sâu sắc và đúng đắn; và cũng có thể là rất yếu kém. Báo chí cách mạng – với bản chất giai cấp và vai trò lịch sử của mình – phải định hướng một cách sâu sắc, toàn diện và đúng đắn, hình thành ý thức khoa học và tiến bộ cho công chúng xã hội, làm sao để công chúng báo chí nhận thức đúng về thế giới xung quanh, hiểu được vị trí và vai trò của mình để lựa chọn thái độ và hành vi cho phù hợp. Định hướng xã hội toàn diện, sâu sắc, đúng đắn và khách quan sẽ tác động trực tiếp tới hoạt động của công chúng trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ xã hội đã đề ra. Báo chí thực hiện chức năng mục tiêu, hình thành tính tự giác thông qua định hướng xã hội một cách toàn diện, sâu sắc, đúng đắn và khách quan – mang đặc điểm tổng hợp; có nghĩa là báo chí phải tác động tới các mặt của thế giới tinh thần, tới toàn bộ các bộ phận cấu thành của cấu trúc ý thức xã hội: Thế giới quan; Ý thức lịch sử, văn hóa và Dư luận xã hội. Thế giới quan: là quan niệm thành hệ thống về thế giới, về các hiện tượng tự nhiên và xã hội. TGQ thể hiện cả ở 2 phương diện: bức tranh thực tiễn về thế giới và mối quan hệ, quan điểm về thế giới. Hệ thống quan niệm này quy định lập trường, quan điểm, niềm tin, lý tưởng … của con người. TGQ là lăng kính mà thông qua đó con người nhận thức và đánh giá thế giới xung quanh, thẩm định các giá trị vật chất và tinh thần, bày tỏ thái độ trước các sự kiện, hiện tượng … của đời sống xã hội, xác định mục đích, phương hướng và đặc điểm của hành vi. TGQ là hạt nhân của cấu trúc ý thức xã hội, được hình thành là do cả một quá trình và nó bền vững, chậm thay đổi. Ý thức lịch sử, văn hóa: là thành tố thứ 2 của cấu trúc ý thức xã hội, nó đóng vai trò trung gian, truyền dẫn giữa TGQ và Dư luận xã hội (DLXH). Ý thức lịch sử, văn hóa là quan niệm của con người về lịch sử, về hiện tại trong mối quan hệ với quá khứ và tương lai. Để xem xét, thẩm định và đánh giá các sự kiện, hiện tượng của thực tiễn, con người phải hiểu và biết được lịch sử hình thành và vận động của thực tiễn, các mối quan hệ của thực tiễn với thời đại, với môi trường tự nhiên và xã hội … Bởi lẽ hiện tại như là quá trình vận động và phát triển của quá khứ, bị quy định bởi quá khứ và ảnh hưởng đến tương lai. Sự hình thành ý thức lịch sử, văn hóa do nhiều yếu tố: văn hóa truyền thống, kiến thức được trang bị bởi hệ thống nhà trường từ thấp đến cao, văn học nghệ thuật, các phương tiện thông tin đại chúng và tuyên truyền, kinh nghiệm sống … trong đó báo chí có vai trò đặc biệt quan trọng do khả năng cung cấp thông tin nhanh, đa dạng và phong phú: phổ biến những tri thức, những kinh nghiệm, những giá trị lịch sử, thẩm định và cổ động cho những giá trị lịch sử, tạo môi trường cho sự hình thành ý thức lịch sử, văn hóa. Dư luận xã hội: là thành tố động nhât, linh hoạt nhất của ý thức xã hội. DLXH là phản ứng, thái độ của xã hội trước một sự kiện, hiện tượng, vấn đề … hay một nhân vật nào đó. Đối tượng của DLXH là toàn bộ các sự kiện, hiện tượng … của đời sống xã hội. Chủ thể của DLXH là các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các nhóm xã hội, các vùng hay địa phương … DLXH xem xét và đánh giá các sự kiện thường ngày của đời sống xã hội xuất phát từ mối liên hệ đối với chúng. DLXH có thể tiến bộ, có thể lạc hậu, có thể thúc đẩy, có thể kìm hãm sự tiếp thu cái mới, sự phát triển của xã hội. Các thành tố của ý thức xã hội nằm trong mối liên hệ chặt chẽ, vận động một cách linh hoạt dưới sự tác động của thực tiễn. 3. Chức năng giáo dục chính trị tư tưởng. Chức năng giáo dục chính trị tư tưởng của báo chí được thể hiện ở sự giáo dục, bao gồm giáo dục thường xuyên và giáo dục lại đối với công chúng báo chí. Giáo dục – là hoạt động nhằm hình thành ý thức ở đối tượng. Khi nhận được những thông tin (về quá khứ và hiện tại, về những quy luật vận động và phát triển của xã hội, về những giá trị và chuẩn mực của cuộc sống …) tạo ra sự thay đổi về chất trong mỗi con người. Nếu những thông tin tiếp nhận ấy là chân thực và khách quan thì quan điểm riêng được hình thành sẽ là tích cực (và ngược lại). Để đạt được hiệu quả giáo dục, báo chí khi truyền bá những thông tin về thực tiễn phải giúp cho công chúng hiểu biết được những quy luật, những sự kiện, hiện tượng, những quá trình của đời sống xã hội, phải quan tâm đến việc tạo ảnh hưởng tư tưởng mạnh mẽ tới họ, phải phối hợp và gắn với những giá trị, những chuẩn mực, những tư tưởng hiện hành, có nghĩa là gắn với chức năng mục tiêu của hoạt động thông tin, với toàn bộ các hình thức định hướng xã hội. Nội dung quan trọng nhất của giáo dục là hình thành tư duy kinh tế, giáo dục ý thức chính trị, ý thức lao động, ý thức đạo đức, ý thức luật pháp, tinh thần yêu nước … và đấu tranh chống lại những tư tưởng và những chuẩn mực đạo đức xa lạ. Hoạt động giáo dục trong báo chí góp phần tạo ra niềm tin của công chúng. Sự xuất hiện của niềm tin đối với báo chí – đó là kết quả của việc tiếp thu thông tin cá nhân, hình thành từ sự tin tưởng vào những phản ánh, phân tích và đánh giá, đề xuất, kiến nghị và kết luận của báo chí. Niềm tin đối với báo chí khác với đức tin trong tôn giáo. Đức tin trong tôn giáo là sự ngộ nhận thiếu bằng chứng … còn niềm tin đối với báo chí được hình thành từ báo chí và do báo chí – thông qua những bằng cớ xác thực của thực tiễn. (Thông qua kỹ năng phản ánh, phân tích, đánh giá các sự kiện, hiện tượng, các quá trình, các khuynh hướng … hàng ngày của báo chí). Do vậy, để hình thành niềm tin của công chúng, đòi hỏi báo chí phải sử dụng một cách linh hoạt và sáng tạo các phương pháp tái tạo thực tiễn trong các tác phẩm báo chí, vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo những đặc điểm, những quy luật của hoạt động tuyên truyền, cổ động và tổ chức mà nhờ những phương pháp này thực hiện một cách hiệu quả nhiệm vụ giáo dục của báo chí. – Tuyên truyền: là hoạt động truyền bá những tư tưởng nền tảng, quan điểm cơ bản của hệ tư tưởng của chế độ. Nội dung tuyên truyền cơ bản: + Tuyên truyền hệ tư tưởng. + Tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. + Tuyên truyền các quan niệm khái quát về thời đại. + Tuyên truyền hình thành lối sống mới. – Cổ động: là hoạt động của báo chí để phổ biến những thông tin thời sự, tác động tích cực và có định hướng vào lập trường, thái độ, tình cảm … của công chúng. Bằng những thông tin phản ánh các sự kiện, hiện tượng hàng ngày về thực tiễn, cổ động được thể hiện trong những đánh giá rõ ràng nhằm hình thành nên mối quan hệ của công chúng với các sự kiện, hiện tượng ấy cho phù hợp với ý nghĩa của nó, định hướng hoạt động cho công chúng. – Tổ chức: Kết quả hoạt động tuyên truyền và cổ động của báo chí được phản ánh trong việc hình thành ý thức và tự ý thức ở công chúng, trong việc giáo dục ý thức, trong việc định hướng toàn diện, sâu sắc và đúng đắn (khoa học). Đó là bước đi đầu tiên, quan trọng của công tác tổ chức. Nó tạo điều kiện quan trọng và cần thiết cho tính tích cực trong các hoạt động xã hội của công chúng để chuyển sang bước thứ hai: tập hợp và hướng dẫn hoạt động của công chúng nhàm thực hiện những mục tiêu chung của xã hội trong từng giai đoạn xã hội cụ thể. Tuyên truyền, cổ động và tổ chức có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, đan xen trong nhau, là điều kiện và tiền đề của nhau khó có thể phân định rạch ròi. III. CHỨC NĂNG QUẢN LÝ – GIÁM SÁT XÃ HỘI CỦA BÁO CHÍ 1. Khái niệm. a). Quản lý – là sự tác động có ý thức, có hệ thống của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đảm bảo cho khách thể quản lý hoạt động có hiệu quả trong việc thực hiện những mục tiêu đã đề ra. b). Quản lý xã hội – khách thể quản lý là những tổ chức, những đơn vị, những cơ quan, đoàn thể, những cá nhân thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, của cả xã hội nói chung. Xã hội bản thân nó là một thực thể cực kỳ đa dạng và phức tạp về số lượng và chất lượng của các bộ phận cấu thành, về vị trí của chúng trong hệ thống xã hội, về chức năng xã hội của chúng, về tính chất của sự tác động lẫn nhau giữa chúng với nhau và giữa chúng với thế giới xung quanh. Mỗi một khách thể đó lại thuộc về một lớp những hệ thống hỗn hợp (chủ thể quản lý) lớn hơn (bao gồm cả yếu tố con người và sự vật). c). Bản chất của hoạt động quản lý – Chủ thể quản lý tác động tới khách thể quản lý bằng thông tin dưới dạng các quyết định quản lý. Hoạt động quản lý do vậy luôn gắn với quá trình thu thập, xử lý thông tin để soạn thảo các quyết định quản lý và khi đã có quyết định quản lý thì phổ biến những quyết định quản lý ấy một cách nhanh chóng, đầy đủ … tới khách thể quản lý. Hoạt động quản lý là hoạt động mang tính chu kỳ. Bất kỳ một chu kỳ quản lý nào cũng bắt đầu từ việc thu thập, xử lý thông tin và kết thúc bằng việc thu nhận những thông tin và cũng là điểm bắt đầu của chu kỳ quản lý mới. Việc khởi thảo chiến lược quản lý (những mục tiêu và nhiệm vụ lâu dài), soạn thảo và lựa chọn các quyết định quản lý, tổ chức thực hiện các quyết định quản lý, điều chỉnh và kiểm tra, tổng kết và đánh giá … cũng xuất phát từ việc thu thập thông tin, xử lý những thông tin thu thập được và kết thúc bằng việc phổ biến những thông tin mới. Như vậy, quản lý xã hội không thể tách rời quá trình liên tục sản xuất và tái sản xuất thông tin.

    Hiệu quả của hoạt động quản lý do vậy bị quy định bới sự “nhiễu thông tin” và trình độ, năng lực của chủ thể quản lý. – Nhiễu thông tin – là những yếu tố bên ngoài tác động thường xuyên, liên tục (cả tác động tích cực, cả tác động tiêu cực) vào quá trình quản lý. Sự tác động như vậy rất đa dạng. Một số có tác động với cường độ yếu, tác động trong một thời gian ngắn. Số khác tác động yếu nhưng lại thường xuyên hoặc lâu dài không làm rối loạn nghiêm trọng cơ cấu và chức năng của cả hệ thống. Thông tin đầy đủ và kịp thời về những tác động “nhiễu” như vậy tạo điều kiện cho chủ thể quản lý ổn định hệ thống trong trường hợp “nhiễu” yếu và thời gian tác động ngắn, và thích ứng, thích nghi trong trường hợp tác động “nhiễu” thường xuyên hay lâu dài. Có những tác động “nhiễu” phá hoại cơ cấu quản lý và gây rối loạn các chức năng của cả hệ thống hay một số bộ phận cấu thành nào đó của hệ thống quản lý. Để khắc phục – chủ thể quản lý phải khôi phục cơ cấu chức năng nhằm ổn định hệ thống, duy trì hoạt động của hệ thống. Để làm được điều đó cần phải thu thập thông tin đầy đủ và chính x

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Bảo Tàng Tỉnh
  • Giáo Dục Học Sinh Thông Qua Bảo Tàng
  • Phát Huy Chức Năng Giáo Dục Của Bảo Tàng
  • Công Tác Giáo Dục Của Bảo Tàng
  • Chức Năng Văn Hóa Của Văn Học (Phạm Ngọc Hiền)
  • Chức Năng Nhận Thức Và Dự Báo Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Mẫn Cảm Của Nghệ Sĩ Trước Thực Tại Và Chức Năng Dự Báo Của Văn Học
  • Tính Dự Báo Của Văn Chương
  • Tiểu Thuyết Quốc Ngữ Đầu Thế Kỷ Xx Và Chức Năng Dự Báo Của Văn Học
  • Mấy Vấn Đề Lý Luận Về Phê Bình Văn Học
  • Giảm Trừ Chức Năng Trung Gian Của Phê Bình Văn Học
  • Văn học nghệ thuật tồn tại trước hết với tư cách của một hình thái nhận thức, có khả năng mở rộng sự hiểu biết của con người. Mỗi tác phẩm văn học từ xưa tới nay đều có giá trị như một thành tựu trên chặng đường nhận thức chung của nhân loại. Vì thế, văn học luôn đưa ta tới những chân trời mới, giúp ta hiểu hơn cuộc sống không chỉ trong hiện tại mà cả trong quá khứ, không chỉ trong phạm vi đất nước mình mà cả ở những xứ sở xa xôi.

    Vì vậy chức năng đầu tiên của văn học là chức năng nhận thức và dự báo. Văn học đáp ứng nhu cầu hiểu biết của con người, trở thành “cuốn sách giáo khoa của đời sống”. Khi nắm bắt đời sống trong tính toàn vẹn thẩm mỹ của nó, nhà văn thường đem vào trong tác phẩm của mình một lượng thông tin phong phú và sinh động về đối tượng mà mình miêu tả. Đó là lượng thông tin thẩm mĩ, giàu hình tượng, dễ tiếp nhận đối với mọi người.

    Trong tác phẩm “Ông già và biển cả” chúng ta có thể hiểu thêm về biển, về sự phát hiện những quá trình vật lí, sinh học diễn ra trong lòng đại dương mà còn ở sự khám phá về mối tương quan giữa con người và biển, về bản lĩnh và khát vọng của con người trong cuộc đấu tranh xác lập ý nghĩa tồn tại của mình trước thế giới tự nhiên và thế giới con người.

    Phản ánh cuộc sống một cách toàn vẹn, sinh động, văn học còn có khả năng vươn tới tầm cao của sự khái quát, nắm bắt sự vận động bên trong của đời sống hiện thực. Chính từ độ chín của sự khám phá, khái quát ấy, văn học có khả năng dự báo tương lai.

    Nhờ năng lực ước đoán, tưởng tượng và sự nhạy cảm trước mọi biến động của lịch sử, nhiều nhà văn dự cảm được những biến động của lịch sử, những quá trình xã hội mới ngay khi thực tế đời sống quanh mình vẫn còn trong trạng thái bốn phương phẳng lặng.

    Nhà văn tài năng sẽ không đóng khung cuộc sống trong cái nhìn tĩnh quan mà luôn nhìn nhận đánh giá trong sự vận động, phát triển. Yếu tố tiên tri như một phẩm chất chung của những thành tựu văn học lớn. Tuy nhiên, mức độ dự báo, tính chất và nội dung dự báo không phải như nhau trong mỗi trào lưu văn học.

    Bên cạnh những tác phẩm tràn đầy dự cảm lạc quan và niềm tin mạnh mẽ vào con người cũng có không ít những tác phẩm, những xu hướng văn học bộc lộ thái độ bi quan, tuyệt vọng trước tương lai loài người. Đối mặt với hiện tại, thâm nhập sâu rộng vào quá trình thực tiễn, văn học hiện thực chủ nghĩa dễ nắm bắt được những tín hiệu của tương lai.

    Please follow and like us:

    Comments

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Sử Dụng Những Câu Lí Luận Văn Học Dùng Làm Văn Nghị Luận Hay
  • 5 Cách Mở Bài Văn Nghị Luận Ấn Tượng Lấy Lòng Ban Giám Khảo
  • Cách Viết Mở Bài Nghị Luận Văn Học Gây Ấn Tượng
  • 10 Cách Mở Bài Trong Thể Loại Nghị Luận Văn Học
  • Nhìn Lại Chức Năng Giải Trí Của Văn Học Nghệ Thuật
  • Tiểu Luận Hv Báo Chí Và Tuyên Truyền Đề Tài Chức Năng Xã Hội Của Báo Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Trung Tâm Phát Triển Giáo Dục Và Truyền Thông
  • Những Hình Thức Căn Bản Của Truyền Thông Giao Tiếp
  • Luận Văn: Kỹ Năng Giao Tiếp Của Học Sinh Trung Học, Hay, 9Đ
  • Vai Trò Của Giao Tiếp Trong Kinh Doanh
  • Giao Tiếp Và Vai Trò Của Giao Tiếp Trong Quản Trị Kinh Doanh. Ứng Dụng Trong Thực Tê
  • Vũ Trần Nam Linh

    Lớp Truyền hình K31A2

    Bài tập Cơ sở lí luận báo chí

    Đề bài: Chức năng xã hội của báo chí.

    1/ Khái niệm chức năng?

    Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam:

    1.1. Trong triết học, xã hội học, CN chỉ:

    a) Tác động của các đặc tính của một hệ thống khách thể đối với các

    hệ thống môi trường cùng nằm trong một hệ thống các quan hệ với khách

    thể đang xem xét một hệ thống các quan hệ nhất định (như CN giác quan,

    CN tiền tệ…).

    b) Kết quả đối với một hệ thống xã hội của một hiện tượng, sự kiện,

    yếu tố, thể chế xã hội có tác dụng góp phần vào sự vận hành, sự duy trì hệ

    thống xã hội đó. Định nghĩa này giả định rằng một hệ thống có một sự thống

    nhất nhất định, gọi là sự thống nhất CN.

    1.2. Trong ngôn ngữ học, CN chỉ:

    a) Nhiệm vụ, vai trò của các đơn vị ngôn ngữ hoặc của các yếu tố

    trong hệ thống ngôn ngữ, vd. CN khu biệt nghĩa của các âm vị, CN phân

    giới của các âm, CN hình thái học.

    b) Sự cụ thể hoá vai trò của một yếu tố ngôn ngữ trong lời nói cụ thể,

    vd. CN chủ ngữ, CN vị ngữ, CN định ngữ, vv.

    c) Vai trò của ngôn ngữ đối với xã hội như CN làm phương tiện giao

    tiếp và công cụ biểu hiện tư duy của con người.

    d) Tác dụng của ngôn từ cụ thể trong giao tiếp, vd. CN thông báo, CN

    cầu khiến, CN biểu cảm, vv.

    đ) Ngoài ra, cũng có một khuynh hướng ngữ pháp gọi là “ngữ pháp

    chức năng”.

    Nội dung cơng tác tư tưởng của Đảng ta:

    – Truyền bá hệ tư tưởng.

    – Truyền bá Cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng.

    Mục đích của công tác tư tưởng:

    – Để quần chúng nhân dân biến hệ tư tưởng của Đảng thành hệ tư tưởng

    của quần chúng nhân dân.

    – Để giác ngộ, nâng cao tính tự giác cho quần chúng nhân dân.

    – Để bồi dưỡng niềm tin, tình cảm cách mạng, cổ vũ hành động.

    Các loại hình của công tác tư tưởng:

    – Hoạt động lý luận (Quán triệt và phổ biến hệ tư tưởng; Tổng kết thực

    tiễn để hình thành đường lối chiến lược, chủ trương, chính sách).

    – Hoạt động tuyên truyền.

    – Hoạt động cổ động.

    (Khi đã có đường lối chiến lược, chủ trương, chính sách … thì tuyên

    truyền và cổ động cho chúng).

    Các công cụ tư tưởng:

    – Hệ thống các trường lớp chính trị.

    – Sinh hoạt tư tưởng theo các cơ quan, đoàn thể, đơn vị, tổ chức …

    – Đội ngũ báo cáo viên.

    – Bảo tàng, triển lãm, pa nô, áp phích, các đội tuyên truyền …

    – Văn học nghệ thuật.

    – Báo chí (bao gồm các loại hình) là công cụ đặc biệt quan trọng.

    Trong số các công cụ tư tưởng của Đảng thì báo chí đóng vai trị cực kỳ

    quan trọng. Chính vai trò, tác dụng của báo chí trong việc giáo dục chính trị,

    lãnh đạo tư tưởng đối với quần chúng nhân dân đã tạo thành nhóm chức

    năng tư tưởng của báo chí. Báo chí là công cụ tư tưởng quan trọng bởi lẽ báo

    chí hàng ngày hàng giờ thông qua hoạt động chuyển tải thông tin truyền bá

    hệ tư tưởng của Đảng vào quần chúng nhân dân, hướng tính tích cực xã hội

    của quần chúng nhân dân vào việc thực hiện những mục tiêu mà Đảng và

    Nhà nước đặt ra.

    Nhóm chức năng tư tưởng của báo chí bao gồm các thành tố:

    2.1.1. Chức năng mục tiêu:

    – Lý luận báo chí cách mạng đã chỉ rõ ý nghĩa to lớn của báo chí trong

    việc hình thành đời sống tinh thần của quần chúng nhân dân. Vai trò của báo

    chí cũng tăng nhanh đồng hành với sự phất triển của xã hội cùng với việc

    mở rộng quy mô của các hoạt động xã hội và thu hút quần chúng nhân dân

    tham gia vào các phong trào, các hoạt động xã hội.

    – Báo chí làm nhiệm vụ khách quan là chuyển tải thông tin một cách

    nhanh chóng, toàn diện và có định hướng. Cũng như mọi hoạt động khác của

    con người, hoạt động báo chí bao giờ cũng hướng tới những mục tiêu xác

    định. Mục tiêu của hoạt động báo chí là nâng cao tính tự giác cho đối

    tượng công chúng. (Tự giác là làm việc gì tự mình hiểu mà làm, không cần

    phải nhắc nhở, đốc thúc). Để nâng cao tính tự giác cho công chúng, báo chí

    phải nâng cao nhận thức và tự nhận thức cho họ. Nhận thức và tự nhận

    thức nằm trong mối quan hệ biện chứng. Nhận thức (là khả năng của con

    người phản ánh và tái hiện hiện thực vào tư duy) – là toàn bộ những tri thức

    về thế giới xung quanh: những quy luật, những hiện tượng, những khuynh

    hướng, những quá trình của đời sống xã hội. Còn tự nhận thức là hiểu được

    vị trí của mình trong thế giới, trong các mối quan hệ xã hội; hiểu được mục

    đích, ý nghĩa của cuộc sống, hiểu được mục đích và yêu cầu, hiểu được cách

    thức để đạt được mục đích và thỏa mãn những nhu cầu ấy … Sự tự giác là

    kết quả của nhận thức và tự nhận thức. Tự giác là động lực mạnh mẽ của

    hành vi, nó quy định tính tích cực xã hội của con người.

    Để thực hiện tốt chức năng mục tiêu – báo chí phải:

    + Giúp cho công chúng nhận thức thế giới khách quan một cách toàn

    diện, sâu sắc và đúng đắn.

    + Định hướng xã hội cho công chúng một cách toàn diện, đúng đúng

    đắn và khoa học.

    2.1.2. Chức năng định hướng.

    Để nâng cao tính tự giác cho đối tượng công chúng đòi hỏi báo chí phải

    định hướng cho họ một cách toàn diện và đúng đắn.

    Định hướng xã hội – là tác động, giáo dục, giúp đỡ cho công chúng

    hiểu và đánh giá đúng các sự kiện, hiện tượng của đời sống xã hội để từ

    đó họ xác định được mục tiêu, khuynh hướng và đặc điểm hành vi của

    mình.

    Sự định hướng như vậy thể hiện ở các mặt:

    – Thứ nhất: Qua thông tin báo chí cung cấp giúp cho công chúng hiểu

    được cái gì đang diễn ra. Sự định hướng bắt đầu từ hiểu biết tất cả các sự

    kiện hàng ngày diễn ra trong thế giới xung quanh để tạo thành bức tranh

    toàn cảnh về thế giới khách quan của con người mà con người sống trong

    nó. Đối với báo chí, mô hình thông tin, hệ thống các khái niệm về cuộc sống

    là rất quan trọng.

    – Thứ hai: Qua việc cung cấp thông tin báo chí giúp cho công chúng

    xác định rõ được rằng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể cần đạt tới cái gì,

    cả về trước mắt, cả về lâu dài từ quan điểm chính thống.

    – Thứ ba: Sự định hướng được thể hiện qua việc đánh giá các sự kiện,

    hiện tượng, các quá trình, các khuynh hướng, các nhân vật … (Đương nhiên

    là từ quan điểm chính thống). Sự đánh giá đó sẽ có sức thuyết phục, tác

    động mạnh mẽ tới đối tượng khi nó như là những kết luận được rút ra từ việc

    phân tích các sự kiện, hiện tượng, các quá trình, các khuynh hướng, các nhân

    vật … ấy của thực tiễn (từ quan điểm chính thống).

    Thứ tư: Sự định hướng còn thể hiện ở việc phổ biến những giá trị,

    những chuẩn mực, những phương thức, phương pháp hoạt động … nhằm

    thực hiện những mục tiêu đề ra và đạt được những kết qủa cao nhất trong

    những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể.

    Kết quả định hướng của báo chí đến mức nào phụ thuộc vào mức độ công

    khai các vấn đề của đời sống xã hội; vào sự dễ hiểu, cập nhật của thông tin;

    vào khả năng phản ánh và xem xét công khai, thẳng thắn các vấn đề của đời

    sống xã hội trên báo chí.

    Định hướng của báo chí trong thực tế có thể toàn diện, sâu sắc và đúng

    đắn; có thể toàn diện nhưng không sâu sắc và đúng đắn; và cũng có thể là rất

    yếu kém. Báo chí cách mạng – với bản chất giai cấp và vai trò lịch sử của

    mình – phải định hướng một cách sâu sắc, toàn diện và đúng đắn, hình thành

    ý thức khoa học và tiến bộ cho công chúng xã hội, làm sao để công chúng

    báo chí nhận thức đúng về thế giới xung quanh, hiểu được vị trí và vai trò

    của mình để lựa chọn thái độ và hành vi cho phù hợp. Định hướng xã hội

    toàn diện, sâu sắc, đúng đắn và khách quan sẽ tác động trực tiếp tới hoạt

    động của công chúng trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện

    các mục tiêu, nhiệm vụ xã hội đã đề ra.

    Báo chí thực hiện chức năng mục tiêu, hình thành tính tự giác thông qua

    định hướng xã hội một cách toàn diện, sâu sắc, đúng đắn và khách quan mang đặc điểm tổng hợp; có nghĩa là báo chí phải tác động tới các mặt của

    thế giới tinh thần, tới toàn bộ các bộ phận cấu thành của cấu trúc ý thức xã

    hội: Thế giới quan; Ý thức lịch sử, văn hóa và Dư luận xã hội.

    Thế giới quan: là quan niệm thành hệ thống về thế giới, về các hiện

    tượng tự nhiên và xã hội. TGQ thể hiện cả ở 2 phương diện: bức tranh thực

    tiễn về thế giới và mối quan hệ, quan điểm về thế giới. Hệ thống quan niệm

    này quy định lập trường, quan điểm, niềm tin, lý tưởng … của con người.

    TGQ là lăng kính mà thông qua đó con người nhận thức và đánh giá thế giới

    xung quanh, thẩm định các giá trị vật chất và tinh thần, bày tỏ thái độ trước

    các sự kiện, hiện tượng … của đời sống xã hội, xác định mục đích, phương

    hướng và đặc điểm của hành vi. TGQ là hạt nhân của cấu trúc ý thức xã hội,

    được hình thành là do cả một quá trình và nó bền vững, chậm thay đổi.

    Ý thức lịch sử, văn hóa: là thành tố thứ 2 của cấu trúc ý thức xã hội, nó

    đóng vai trị trung gian, truyền dẫn giữa TGQ và Dư luận xã hội (DLXH). Ý

    thức lịch sử, văn hóa là quan niệm của con người về lịch sử, về hiện tại trong

    mối quan hệ với quá khứ và tương lai. Để xem xét, thẩm định và đánh giá

    các sự kiện, hiện tượng của thực tiễn, con người phải hiểu và biết được lịch

    sử hình thành và vận động của thực tiễn, các mối quan hệ của thực tiễn với

    thời đại, với môi trường tự nhiên và xã hội … Bởi lẽ hiện tại như là quá trình

    vận động và phát triển của quá khứ, bị quy định bởi quá khứ và ảnh hưởng

    đến tương lai.

    Sự hình thành ý thức lịch sử, văn hóa do nhiều yếu tố: văn hóa truyền

    thống, kiến thức được trang bị bởi hệ thống nhà trường từ thấp đến cao, văn

    học nghệ thuật, các phương tiện thông tin đại chúng và tuyên truyền, kinh

    nghiệm sống … trong đó báo chí có vai trò đặc biệt quan trọng do khả năng

    cung cấp thông tin nhanh, đa dạng và phong phú: phổ biến những tri thức,

    những kinh nghiệm, những giá trị lịch sử, thẩm định và cổ động cho những

    giá trị lịch sử, tạo môi trường cho sự hình thành ý thức lịch sử, văn hóa.

    Dư luận xã hội: là thành tố động nhât, linh hoạt nhất của ý thức xã hội.

    DLXH là phản ứng, thái độ của xã hội trước một sự kiện, hiện tượng, vấn đề

    … hay một nhân vật nào đó. Đối tượng của DLXH là toàn bộ các sự kiện,

    hiện tượng … của đời sống xã hội. Chủ thể của DLXH là các giai cấp, các

    tầng lớp, các dân tộc, các nhóm xã hội, các vùng hay địa phương … DLXH

    xem xét và đánh giá các sự kiện thường ngày của đời sống xã hội xuất phát

    từ mối liên hệ đối với chúng. DLXH có thể tiến bộ, có thể lạc hậu, có thể

    thúc đẩy, có thể kìm hãm sự tiếp thu cái mới, sự phát triển của xã hội.

    Các thành tố của ý thức xã hội nằm trong mối liên hệ chặt chẽ, vận

    động một cách linh hoạt dưới sự tác động của thực tiễn.

    2.1.3. Chức năng giáo dục chính trị tư tưởng

    Chức năng giáo dục chính trị tư tưởng của báo chí được thể hiện ở sự

    giáo dục, bao gồm giáo dục thường xuyên và giáo dục lại đối với công

    chúng báo chí.

    Giáo dục – là hoạt động nhằm hình thành ý thức ở đối tượng. Khi nhận

    được những thông tin (về quá khứ và hiện tại, về những quy luật vận động

    và phát triển của xã hội, về những giá trị và chuẩn mực của cuộc sống …) tạo

    ra sự thay đổi về chất trong mỗi con người. Nếu những thông tin tiếp nhận

    ấy là chân thực và khách quan thì quan điểm riêng được hình thành sẽ là tích

    cực (và ngược lại). Để đạt được hiệu quả giáo dục, báo chí khi truyền bá

    những thông tin về thực tiễn phải giúp cho công chúng hiểu biết được những

    quy luật, những sự kiện, hiện tượng, những quá trình của đời sống xã hội,

    phải quan tâm đến việc tạo ảnh hưởng tư tưởng mạnh mẽ tới họ, phải phối

    hợp và gắn với những giá trị, những chuẩn mực, những tư tưởng hiện hành,

    có nghĩa là gắn với chức năng mục tiêu của hoạt động thông tin, với toàn bộ

    các hình thức định hướng xã hội.

    Nội dung quan trọng nhất của giáo dục là hình thành tư duy kinh tế,

    giáo dục ý thức chính trị, ý thức lao động, ý thức đạo đức, ý thức luật pháp,

    tinh thần yêu nước … và đấu tranh chống lại những tư tưởng và những chuẩn

    mực đạo đức xa lạ.

    Hoạt động giáo dục trong báo chí góp phần tạo ra niềm tin của công

    chúng. Sự xuất hiện của niềm tin đối với báo chí – đó là kết quả của việc tiếp

    thu thông tin cá nhân, hình thành từ sự tin tưởng vào những phản ánh, phân

    tích và đánh giá, đề xuất, kiến nghị và kết luận của báo chí. Niềm tin đối với

    báo chí khác với đức tin trong tôn giáo. Đức tin trong tôn giáo là sự ngộ

    nhận thiếu bằng chứng … còn niềm tin đối với báo chí được hình thành từ

    báo chí và do báo chí – thông qua những bằng cớ xác thực của thực tiễn.

    (Thông qua kỹ năng phản ánh, phân tích, đánh giá các sự kiện, hiện tượng,

    các quá trình, các khuynh hướng … hàng ngày của báo chí). Do vậy, để hình

    thành niềm tin của công chúng, đòi hỏi báo chí phải sử dụng một cách linh

    hoạt và sáng tạo các phương pháp tái tạo thực tiễn trong các tác phẩm báo

    chí, vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo những đặc điểm, những quy

    luật của hoạt động tuyên truyền, cổ động và tổ chức mà nhờ những phương

    pháp này thực hiện một cách hiệu quả nhiệm vụ giáo dục của báo chí.

    – Tuyên truyền: là hoạt động truyền bá những tư tưởng nền tảng, quan

    điểm cơ bản của hệ tư tưởng của chế độ. Nội dung tuyên truyền cơ bản:

    + Tuyên truyền hệ tư tưởng.

    + Tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

    + Tuyên truyền các quan niệm khái quát về thời đại.

    + Tuyên truyền hình thành lối sống mới.

    – Cổ động: là hoạt động của báo chí để phổ biến những thông tin thời

    sự, tác động tích cực và có định hướng vào lập trường, thái độ, tình cảm …

    của công chúng. Bằng những thông tin phản ánh các sự kiện, hiện tượng

    hàng ngày về thực tiễn, cổ động được thể hiện trong những đánh giá rõ ràng

    nhằm hình thành nên mối quan hệ của công chúng với các sự kiện, hiện

    tượng ấy cho phù hợp với ý nghĩa của nó, định hướng hoạt động cho công

    chúng.

    – Tổ chức: Kết quả hoạt động tuyên truyền và cổ động của báo chí

    được phản ánh trong việc hình thành ý thức và tự ý thức ở công chúng, trong

    việc giáo dục ý thức, trong việc định hướng toàn diện, sâu sắc và đúng đắn

    (khoa học). Đó là bước đi đầu tiên, quan trọng của công tác tổ chức. Nó tạo

    điều kiện quan trọng và cần thiết cho tính tích cực trong các hoạt động xã

    hội của công chúng để chuyển sang bước thứ hai: tập hợp và hướng dẫn hoạt

    động của công chúng nhàm thực hiện những mục tiêu chung của xã hội

    trong từng giai đoạn xã hội cụ thể.

    Tuyên truyền, cổ động và tổ chức có mối liên hệ chặt chẽ với nhau,

    đan xen trong nhau, là điều kiện và tiền đề của nhau khó có thể phân định

    rạch ròi.

    2.2/ Chức năng quản lý, giám sát

    Bài báo làm ví dụ: Bài báo “Nứt đập thủy điện do sai sót tất cả các

    khâu” của nhà báo Trí Tín đăng trên tờ VnExpss ngày 22 tháng 3 năm

    2012.

    Báo chí thực hiện chức năng quản lý xã hội bằng việc cung cấp và duy

    trì dòng thông tin tuần hoàn trong cơ thể xã hội theo cả 2 chiều. Một mặt,

    với khả năng nhanh chóng, kịp thời, chính xác và rộng khắp, báo chí (gồm

    tất cả các loại hình: báo in; phát thanh; truyền hình; báo mạng điện tử) là

    những phương tiện có ưu thế tuyệt đối trong việc chuyển đến khách thể quản

    lý những thông tin dưới dạng các quyết định quản lý. Mặt khác, báo chí

    phản ánh thực trạng tình hình không chỉ của đối tượng quản lý một cách đa

    dạng, phong phú, chính xác và kịp thời … tới xã hội, tới chủ thể quản lý,

    giúp cho chủ thể quản lý có thêm những nguồn thông tin để soạn thảo và tổ

    chức thực hiện các quyết định quản lý.

    Với đặc điểm của hoạt động thông tin, báo chí có tác động trực tiếp tới

    từng bộ phận cấu thành của hệ thống xã hội, tời toàn xã hội. Nhưng sự tác

    động như vậy cũng có thể diễn ra theo 2 hướng:

    – Nếu báo chí phục vụ cho mục tiêu tiến bộ, thông tin báo chí chân thực

    và đúng đắn thì báo chí sẽ tác động tới các quá trình xã hội, thúc đẩy xã hội

    phát triển.

    – Nếu báo chí phục vụ cho những mục tiêu vụ lợi thì báo chí sẽ làm rối

    loạn hệ thống quản lý, sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội.

    Bởi lẽ thông tin tự thân nó không thể thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển

    của xã hội mà chỉ có thể thông qua những người chịu sự tác động của thông

    tin, và họ thể hiện sự tác động đó trong hành vi của mình, trong kỹ thuật và

    công nghệ mới, trong những hình thức quản lý mới đối với sản xuất, xã hội,

    tổ chức lao động …

    2.3/ Chức năng khai sáng, giải trí

    Bài báo “Lê Văn Tuấn với thể loại âm nhạc mới: CROR” của tác gỉa

    Thanh Kiều trên tờ Thể Thao & Văn Hóa ngày 19 tháng 7 năm 2010.

    Sự phát triển rộng khắp của các loại hình báo chí là tiền đề quan trọng

    để cung cấp thông tin, nâng cao trình độ hiểu biết, văn hóa của công chúng,

    đồng thời thông qua báo chí xã hội hóa, đại chúng hóa những giá trị văn hóa

    tinh thần của nhân dân, giúp cho mọi thành viên trong xã hội có điều kiện bổ

    sung vốn tri thức, làm phong phú thêm đời sống tinh thần … của mình. Đây

    chính là điều kiện, là phương tiện để con người phát triển một cách toàn diện

    – mục đích cao cả của chế độ, mơ ước ngàn đời của nhân loại.

    việc viết một tác phẩm báo chí mà còn có thể đưa người đọc đến việc hiểu

    sai lệch vấn đề, thậm chí nắm bắt hoàn toàn sai thông tin. Ví dụ như tờ báo

    mạng chúng tôi chúng tôi chúng tôi 2sao.net.vn… Tất nhiên

    không phải bài báo nào của những tờ này cũng phạm phải những điều nêu

    trên nhưng càng ngày, những bài báo có chất lượng kém càng xuất hiện

    nhiều trên các tờ báo này.

    Để giải quyết các hạn chế, tiêu cực này, nhà nước cần có các chế tài

    xử phạt nghiêm ngặt hơn, các điều lệ trong Luật báo chí chặt chẽ hơn với

    những tờ báo, nhà báo viết các bài viết có chất lượng quá kém, làm sai lệch

    thông tin, ảnh hưởng xấu tới bộ mặt nền báo chí nói chung của Việt Nam.

    3.2/ Tích cực

    --- Bài cũ hơn ---

  • 50 Câu Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cơ Bản Thông Dụng Hàng Ngày Bạn Nên Biết
  • Trắc Nghiệm Tiếng Anh Giao Tiếp Đáp Án Dịch Nghĩa Chi Tiết
  • Chức Năng Giao Tiếp Và Câu Đáp Lại
  • Tuần 8. Việt Bắc (Trích)
  • Tai Lieu Tong Hop Mon Ky Nang Giao Tiep
  • Mẫn Cảm Của Nghệ Sĩ Trước Thực Tại Và Chức Năng Dự Báo Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Tính Dự Báo Của Văn Chương
  • Tiểu Thuyết Quốc Ngữ Đầu Thế Kỷ Xx Và Chức Năng Dự Báo Của Văn Học
  • Mấy Vấn Đề Lý Luận Về Phê Bình Văn Học
  • Giảm Trừ Chức Năng Trung Gian Của Phê Bình Văn Học
  • Phát Huy Hơn Nữa Vai Trò Của Phê Bình Văn Học
  • rong những năm trước đây, do nhiều nguyên nhân, lý luận văn học và mĩ học Mác xít mới chỉ biết đến 3 chức năng cơ bản của văn học là nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ. Theo đó, hoạt động sáng tạo và tiếp nhận văn học cũng thường bị giới hạn, hay nói đúng hơn là bị chi phối bởi ba chức năng này. Cho đến nay, sau ngót một thế kỷ với những biến cố thăng trầm, ba chức năng trên có thể có những cách lý giải khác, với những lối diễn đạt khác, nhưng về căn bản nó vẫn được thừa nhận, và thực tế cho thấy chưa chịu một sự chỉ trích phê phán thuyết phục nào.

    Tuy nhiên, từ đầu những năm chín mươi của thế kỷ XX đến nay, do sự đổi mới và phát triển của tư duy lý luận và sự phong phú, sinh động của thực tiễn sáng tạo cũng như tiếp nhận văn học nghệ thuật, ngoài ba chức năng quen thuộc, ở một số diễn đàn hội thảo khoa học, một số tiểu luận đăng trên báo và tạp chí, một số công trình và giáo trình lý luận văn học đã bước đầu đề xuất những chức năng mới của văn học như: chức năng giải trí, chức năng dự báo, chức năng giao tiếp, chức năng thông tin… Riêng chức năngdự báo đã có nhà lý luận đề xuất phương án kết hợp với chức năng nhận thức để thành chức năng nhân thức và dự báo của văn học, với lý do chức năng nhận thức tạo tiền đề cho chức năng dự báo. Những đề xuất này đã đầy đủ cơ sở khoa học, đã phù hợp với thực tiễn nghệ thuật hay chưa? Vẫn đang cần giới lý luận và sáng tác cùng suy nghĩ để tiếp tục làm sáng tỏ. Nhưng, với suy nghĩ cá nhân, chúng tôi cho rằng vấn đề dự báo chỉ thuộc về tác giả, còn vấn đề nhận thức thuộc về cả hai: tác giả và người đọc. Vì vậy, chúng tôi thiên về phía cho rằng dự báo là chức năng riêng, độc lập với chức năng nhận thức………..

    rong những năm trước đây, do nhiều nguyên nhân, lý luận văn học và mĩ học M ác xít mới chỉ biết đến 3 chức năng cơ bản của văn học là nhận thức, giáo dụcthẩm mỹ. Theo đó, hoạt động sáng tạo và tiếp nhận văn học cũng thường bị giới hạn, hay nói đúng hơn là bị chi phối bởi ba chức năng này. Cho đến nay, sau ngót một thế kỷ với những biến cố thăng trầm, ba chức năng trên có thể có những cách lý giải khác, với những lối diễn đạt khác, nhưng về căn bản nó vẫn được thừa nhận, và thực tế cho thấy chưa chịu một sự chỉ trích phê phán thuyết phục nào.

    Tuy nhiên, từ đầu những năm chín mươi của thế kỷ XX đến nay, do sự đổi mới và phát triển của tư duy lý luận và sự phong phú, sinh động của thực tiễn sáng tạo cũng như tiếp nhận văn học nghệ thuật, ngoài ba chức năng quen thuộc, ở một số diễn đàn hội thảo khoa học, một số tiểu luận đăng trên báo và tạp chí, một số công trình và giáo trình lý luận văn học đã bước đầu đề xuất những chức năng mới của văn học như: chức năng giải trí, chức năng dự báo,chức năng giao tiếp,chức năng thông tin…Riêng chức năng dự báođã có nhà lý luận đề xuất phương án kết hợp với chức năng nhận thức để thành chức năng nhân thứcdự báocủa văn học, với lý do chức năng nhận thức tạo tiền đề cho chức năng dự báo. Những đề xuất này đã đầy đủ cơ sở khoa học, đã phù hợp với thực tiễn nghệ thuật hay chưa? Vẫn đang cần giới lý luận và sáng tác cùng suy nghĩ để tiếp tục làm sáng tỏ. Nhưng, với suy nghĩ cá nhân, chúng tôi cho rằng vấn đề dự báochỉ thuộc về tác giả, còn vấn đề nhận thứcthuộc về cả hai: tác giả và người đọc. Vì vậy, chúng tôi thiên về phía cho rằng dự báo là chức năng riêng, độc lập với chức năng nhận thức.

    Thực ra, đây không phải là phát hiện hoàn toàn mới của các nhà lý luận văn học và mĩ học, mà là một vấn đề đã từng có từ rất lâu trong thực tiễn lịch sử nghệ thuật nhân loại nói chung và lịch sử văn học, nghệ thuật Việt Nam nói riêng. Một trong những chứng giải thuyết phục về chức năng dự báo của văn học là sáng tác của những nhà văn lớn thời đại Phục hưng. Ngay từ khi giai cấp tư sản mới hình thành, đại diện cho những lực lượng mới đang lên, chiếm lĩnh vũ đài lịch sử và quyết định chiều hướng đi lên của xã hội, bằng khả năng phân tích, phán đoán và kết hợp với những dự cảm tinh tế, trong các tác phẩm của mình, các nhà nhân văn chủ nghĩa đã cảnh báo trước về thói vụ lợi, lòng tham và các cuộc chinh phạt, tước đoạt đầy máu và nước mắt do chính giai cấp tư sản thực hiện. Gần hơn vào những năm đầu thế kỷ XX, M.Gorki – nhà văn vô sản Nga – dường như đã dự cảm trước được những biến cố lớn của thế kỷ, gần nhất là cuộc cách mạng vô sản Nga qua hình tượng Chim báo bão trong truyện ngắn cùng tên.

    Ở Việt Nam, vào cuối những năm ba mươi, đầu những năm bốn mươi của thế kỷ XX, trước tác động của lịch sử, các nhà thơ, nhà văn như: Tố Hữu, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nam Cao, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm… đã cho thấy trong sáng tác của họ những dự cảm về tương lại, những tín hiệu báo trước cuộc cách mạng tháng Tám sẽ diễn ra vào những năm sau đó không lâu. Tố Hữu viết:

    Ta nghe hè dậy bên lòng Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi!

    Nam Cao viết truyện Cơn giông,truyện Sống mòn,truyện Điếu vănvới cảm giác bức bối và với triết lý “sống tức là thay đổi”. Nguyên Hồng viết truyện Lửa, Nhân loại, Ngày mai,đặc biệt là tập truyện ký Cuộc sốngđể nói đến cái không khí ngột ngạt, cái sức nóng chuẩn bị bùng cháy vào một ngày nào đó không xa. Tô Hoài thì cảm thấy “Bốn phương và quanh mình đã nóng như lửa và thực sự lửa đang cháy. Mỗi người, người nào cũng đương cần tự quyết định chết hay là đứng lên? Một con đường” (Hồi ký Tự truyện). Còn Trần Huyền Trân và Thâm Tâm thì dự cảm da diết về các chuyến đi đầy quả quyết nhưng cũng đầy dùng dằng, lưỡng lự. Và gần đây, chắc ai cũng nhớ, vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, trong đời sống văn học nghệ thuật đã xuất hiện những phóng sự, những truyện ngắn, những tiểu thuyết, những vở kịch gây xôn xao dư luận, thu hút được sự quan tâm theo dõi của toàn xã hội. Các tác phẩm này không chỉ trực diện phản ánh những vấn đề gay cấn nóng bỏng của thực tại mà còn đưa ra được những dự báo, cảnh báo trước về những vấn đề của cơ chế chính sách, của đời sống xã hội và con người.

    Đó là chưa kể đến những tác phẩm như: Cù lao Tràm, Đứng trước biển của Nguyễn Mạnh Tuấn còn ra đời sớm hơn. Đặc biệt là hàng loạt phóng sự nghệ thuật của Trần Huy Quang, Minh Chuyên, Phùng Gia Lộc… làm khuấy động xã hội bằng những chất liệu hiện thực sinh động, có sức truyền cảm mạnh mẽ. Đó thực sự là những áp lực, những tín hiệu báo trước của thời kỳ đổi mới sẽ được chính thức khởi động vào năm 1986.

    Như vậy là, bằng mẫn cảm nghệ sĩ và tinh thần công dân của mình, các nghệ sỹ đã góp phần dân chủ hóa xã hội, đề xuất với Đảng và Nhà nước những vấn đề lớn của đời sống sản xuất vật chất và tinh thần xã hội để từ đó hoạch định chiến lược đổi mới, làm thay đổi diện mạo đất nước. So với yêu cầu phát triển, thành tựu văn học thời kỳ tiền đổi mới, tuy còn khiêm tốn nhưng rất đáng được ghi nhận. Đó là sự khởi đầu có ý nghĩa trọng đại góp phần mở ra một thời kỳ mới của đất nước. Ngay cả những người khó tính nhất cũng phải thừa nhận từ năm 1986 đến nay, đất nước ta đã đạt được những kỳ tích lớn lao. Cơ chế quản lý quan liêu bao cấp có thâm niên hàng mấy chục năm, khi tỏ ra không còn phù hợp đã nhanh chóng được thay thế; chính trị ổn định; kinh tế tăng trưởng; mức sống được cải thiện rõ rệt; bộ mặt đất nước đang thay đổi từng ngày, từng giờ. Cần phải khẳng định rằng trong thành tựu của công cuộc đổi mới có đóng góp đáng kể của văn học, nghệ thuật.

    Song, rất tiếc là trong quá trình chuyển giai đoạn những năm qua, văn học, nghệ thuật dường như không tiếp tục được mạch cảm hứng công dân, cảm hứng chính luận và vai trò tích cực của mình như thời kỳ tiền đổi mới. Dường như khi những bức bối của cuộc sống đã được giải quyết thì nhiệt huyếtcông dân và tâm huyếtnghệ sĩ có phần giảm và lắng xuống. Đáng lẽ phải phát huy tinh thần đó vào việc đề xuất, kiến giải những vấn đề mới, phản ánh cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực của quá trình đổi mới và đưa ra những dự báo chính xác cho tương lai… thì không ít nghệ sỹ, không ít tác phẩm lại có chiều hướng quay về với những “bi kịch nhỏ”, những số phận cá nhân, những toan tính đời thường, gặm nhấm quá khứ hoặc chạy theo cám dỗ của tiền bạc và hư danh, bỏ quên thiên chức cao quý của nghệ sỹ để chấp nhận mua vui, giải sầu cho những công chúng thấp kém về thị hiếu thẩm mỹ nhưng lại có tiền bằng những sáng tác ít giá trị nghệ thuật, nặng về câu khách thông qua các chi tiết giật gân, hiếu kỳ. Trong lịch sử văn học đã từng có những nhà văn nổi danh nhờ những “nhân vật nhỏ bé” như A.Sekhốp, những kiếp “đời thừa” và “sống mòn” như Nam Cao, nhưng với điều kiện nhà văn phải có tâm, có tài và số phận của những nhân vật nhỏ bé, những kiếp đời thừa, kiếp sống mòn trong tác phẩm phải mang một ý nghĩa xã hội – lịch sử và nhân sinh cao cả. Nếu không, nhà văn sẽ chết chìm trong thế giới nhân vật ô hợp và tầm thường do chính mình tạo ra.

    Dưới tác động hai mặt của cơ chế thị trường, văn học nghệ thuật và nghệ sỹ đang có thêm những yếu tố kích thích mới, những động lực sáng tạo mới. Nhưng cũng chính cơ chế thị trường đang làm nao núng không ít ngòi bút và hoen ố không ít tác phẩm. Ai cũng biết sexcó thể cần cho người này, người kia, từng nơi từng lúc và từng người, nhưng với văn chương chân chính thì không, nhất là loại sex rẻ tiền, ô uế như đã từng thấy trong một số tác phẩm gần đây. Bởi vì đó là chuyện sau cánh cửa chứ không phải là chuyện phơi ra trên trang giấy. Có chăng, nó phải được nghệ thật hóa và phải được thể hiện theo quy luật của cái đẹp. Hơn nữa, tình yêu của con người với tư cách là một đề tài vĩnh cửu, không chỉ có vậy mà nó còn mang những giá trị cao cả hơn, trong sáng hơn, nhân đạo hơn, nó nâng cao con người chứ không hạ thấp con người đến mức chỉ còn như những sinh vật bình thường. Khai thác vào những chuyện đời tư như một khuynh hướng mới hình thành trong văn học hiện nay, cũng là một hướng, nhưng ít có cơ hội để trở thành tác phẩm văn học lớn thực sự khi người viết mang động cơ vụ lợi và non kém về trình độ nghệ thuật.

    Xu hướng quay lại với quá khứ, khai thác vào đề tài lịch sử như một số nhà văn đang làm hiện nay cũng là một hướng có triển vọng. Xu hướng này đã từng làm một phong trào lớn thu hút nhiều trí thức văn nghệ sĩ thời kỳ cuối những năm ba mươi, đầu những năm bốn mươi của thế kỷ XX, đó là “Phong trào văn nghệ phục cổ”. Các nhà văn, nhà nghệ sĩ tham gia vào phong trào này xem đó là cách để trốn tránh thực tại, để thể hiện khát vọng yêu nước, tìm trong lịch sử những bài học về tinh thần chống ngoại xâm… mà không bị kiểm duyệt của thực dân Pháp. Ngày nay, lý do đó không còn có cơ sở để tồn tại, nhưng đề tài lịch sử, cảm hứng lịch sử thì vẫn sẽ mãi mãi là miền đất hứa của sáng tạo nghệ thuật. Vấn đề là ở chỗ nhà văn, nhà nghệ sĩ phải là người xâu chuỗi lịch sử, phát hiện ra trong dòng chảy của nó những mối liên hệ tinh thần giữa quá khứ – hiện tại – và tương lai. Nhà văn có thể biến lịch sử thành những cái cớ để gửi đến con người hiện tại những thông điệp về giá trị đạo đức tinh thần như ý của nhà văn Pháp A.Dumas từng nói, nhưng nhà văn không được bóp méo lịch sử, xuyên tạc lịch sử, thậm chí minh họa lịch sử một cách thô thiển, vụng về. Trong khi trở về với đề tài lịch sử, cần nhớ rằng bên cạnh nhà văn còn có các nhà sử học, các nhà văn hóa học và những người yêu mến lịch sử dân tộc. Đi ngược hành trình, nhà văn rất dễ cô đơn khi động cơ thiếu trung thực và không có người đồng hành.

    Cuộc chiến tranh cách mạng của dân tộc ta ở thế kỷ XX sẽ còn là đề tài lớn cho văn học, nghệ thuật những thế kỷ tiếp theo. Nhưng đó không phải là toàn bộ sứ mệnh của văn học. Nói đúng ra, nó vẫn chỉ là một trong những món nợ mà văn chương cần phải trang trải cho lịch sử dân tộc mà thôi. Trong cuộc sống xã hội hiện đại còn có bao nhiêu vấn đề quan yếu khác mà văn học nghệ thuật cần phản ánh. Trong quá trình đổi mới và hội nhập, vấn đề tìm kiếm, xây dựng một mô hình xã hội lý tưởng mới, một con đường phát triển mới, một trật tự xã hội mới, trong đó các giá trị tinh thần nói chung, giá trị con người nói riêng được tôn vinh; mọi tiềm năng sáng tạo được giải phóng, mọi nhu cầu hưởng thụ vật chất và văn hóa chính đáng được đáp ứng… đang là những vấn đề lớn mà nghệ sĩ chân chính không thể đứng ngoài cuộc. Chẳng lẽ ở đó không có đất cho những tác phẩm nghệ thuật lớn? Không có chỗ cho những xúc cảm nghệ thuật cao cả?

    Không thể phủ nhận được rằng trong tiến trình đổi mới và hội nhập hơn hai mươi năm qua, nền văn học, nghệ thuật của chúng ta đã cho thấy những dấu hiệu mới, những cách tân về phương diện hình thức và phương thức biểu hiện. Nhưng, cái mà giới văn học, nghệ thuật đang cần hiện nay là ý thức trách nhiệm nghệ sĩ – công dân trước xã hội. Một cách nhìn mới về chiến tranh, một thái độ mới về những số phận bị bỏ quên, những bi kịch nhỏ giữa đời thường… đối với văn học vẫn luôn luôn đáng khích lệ và trân trọng. Nhưng, những phát hiện lý giải mới về tâm lý, đạo đức của con người trong cơ chế thị trường; những vẫn đề mới nảy sinh trong đời sống xã hội như: vấn đề chuyển đổi hệ giá trị đạo đức tinh thần diễn ra trong thời kỳ đổi mới và hội nhập; những vấn đề lớn mang tính toàn cầu như vấn đề số phận con người trước sự biến đổi khí hậu, môi trường và những biến cố thiên tai, dịch bệnh… những tác động của làn sóng công nghiệp hóa đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn; những vấn đề tâm lý – xã hội nảy sinh trong quá trình đô thị hóa; những biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống, khuynh hướng bạo lực, bạo hành trong gia đình, nhà trường và xã hội đang gia tăng; lỷ lệ người chết do tai nạn giao thông và các nguyên nhân khác đang hàng ngày, hàng giờ cướp đi sinh mệnh của hàng trăm, hàng nghìn con người; vấn đề phân hóa giàu nghèo trong xã hội, đặc biệt là tâm lý bất an của con người hiện đại trước các tác động của xã hội và môi trường, trong đó, cái xấu, cái ác đang có chiều hướng lấn át làm lu mờ cái đẹp, cái thiện…, chẳng lẽ đó không phải là những vấn đề của con người xã hội mà văn học cần quan tâm sao?

    Chúng ta đang sống trong thời đại có những biến đổi khó lường. Những thành tựu của khoa học và công nghệ – sản phẩm trí tuệ của con người đạt được ở cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI này – sẽ cho phép các nhà khoa học ở từng lĩnh vực tiến hành xử lý các dữ kiện để đưa ra những dự báo toàn cầu, dự báo về từng khu vực và từng lĩnh vực. Có lẽ vì vậy mà ngày nay dự báo đã trở thành một ngành khoa học ( khoa học dự báo) đang phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ngoài trí tuệ của con người, máy tính sẽ là công cụ hữu hiệu giúp cho các ngành khoa học thực hiện các dự báo của mình. Còn văn học – sẽ dự báo tương lai như thế nào và bằng phương tiện nào?

    Nửa đầu thế kỷ XX, trước thảm họa khốc liệt của hai cuộc thế chiến trước nhịp độ phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật, nhiều nhà văn, nhà triết học hiện sinh ở phương Tây đã đưa ra những dự báo ảm đạm về thân phận của con người ( Huyền thoại Sidípscủa A.Camus là một ví dụ), về nguy cơ tha hóa của con người trước văn minh công nghiệp (vở kịch Những cái ghế của Ionessco là một ví dụ). Đặc biệt là khi người máy ra đời, đảm nhiệm những công việc phức tạp và đạt độ chính xác cao thì hình ảnh con người bằng xương bằng thịt dưới con mắt của các nhà “Kỹ trị” dường như có phần bị tha hóa trước những sản phẩm do chính mình chế tạo ra. Gần đây, khi chú Cừu Dolly ra đời và khi bản đồ gen người phát hiện, vấn đề nhân bản vô tính người được các nhà khoa học đưa ra như một khả năng có thể thực hiện đã khiến cho các nhà nhân văn, các nhà đạo đức học lên tiếng cảnh báo. Quả thực, đó không phải là những lo toan không có căn cứ. Song, chính nhờ các tiên cảm, dự báo mà trong quá trình phát triển, con người với tư cách là chủ nhân của lịch sử, là “trung tâm vũ trụ” đã không để cho máy móc lấn át vai trò của mình, trái lại, càng làm cho trí thông minh và khả năng lao động sáng tạo của con người ngày càng được đề cao bởi năng suất lao động và bởi các thao tác kỹ thuật nối dài khả năng của con người.

    Thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang đặt ra nhiều vấn đề bức thiết, trong đó có vấn đề con người – nhân tố chủ thể quyết định tốc độ và chiều hướng phát triển. Các mối quan hệ giữa con người với cơ chế, con người với máy móc công nghệ, con người với con người, con người với sản phẩm hàng hóa, con người với môi trường sống và lao động của mình… sẽ được đặt ra và giải quyết như thế nào? Đương nhiên, không phải chỉ là mối quan tâm của các nhà triết học, kinh tế học, chính trị học, đạo đức học… mà con là mối quan tâm của các nhà văn, các nghệ sĩ mẫn cảm trước thời cuộc. Muốn hay không, thời kỳ mới của lịch sử sẽ tạo ra những hệ giá trị mới, những chuẫn mực đạo đức tinh thần mới mà hôm nay, những người mang thiên chức nghệ sĩ có thể hình dung, tiên đoán. Ngay cả những niềm vui, nỗi buồn sâu xa về số phận, thân phận của mỗi cá nhân trong cộng đồng và trước thế sự cũng luôn luôn là những ám ảnh, những nghiền ngẫm suy tư của mỗi nhà văn, mỗi nhà nghệ sỹ để trong mỗi sáng tác của mình không chỉ hiển hiện thực tại mà còn thấp thoáng hình bóng của tương lai.

    Để dự báo và tiên đoán chính xác, mỗi nhà văn, mỗi nghệ sĩ, ngoài sự mẫn cảmdự cảmgần như là thanh khí tiên thiên của mình, còn đòi hỏi phải có các khả năng chiêm nghiệm,khả năng phân tích, phán đoán để nhận thức bản chất, nắm bắt quy luật và lôgic khách quan của cuộc sống, để trên cơ sở đó nhận diện tương lai ngay từ trong thực tại. Như vậy, cũng có nghĩa là muốn thực hiện tốt chức năng dự báo, nhà nghệ sỹ, về một phương diện nào đó, phải đồng thời là nhà khoa học, trước hết là khoa học nhân văn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Nhận Thức Và Dự Báo Của Văn Học
  • Cách Sử Dụng Những Câu Lí Luận Văn Học Dùng Làm Văn Nghị Luận Hay
  • 5 Cách Mở Bài Văn Nghị Luận Ấn Tượng Lấy Lòng Ban Giám Khảo
  • Cách Viết Mở Bài Nghị Luận Văn Học Gây Ấn Tượng
  • 10 Cách Mở Bài Trong Thể Loại Nghị Luận Văn Học
  • Chức Năng Phản Biện Xã Hội Của Báo Chí Ở Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Tượng, Chức Năng, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học
  • Đề Cương Môn Học Xã Hội Học Trong Lãnh Đạo, Quản Lý
  • 10 Chức Năng Quan Trọng Nhất Của Xã Hội / Văn Hóa Chung
  • Các Quan Hệ Xã Hội Thuộc Phạm Vi Điều Chỉnh Của Luật Hành Chính
  • Tiểu Luận Luật Sư Và Nghề Luật Sư
  • HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

    NGUYỄN VĂN MINH

    CHøC N¡NG PH¶N BIÖN X· HéI CñA B¸O CHÝ

    ë VIÖT NAM HIÖN NAY

    Chuyên ngành

    : Chính trị học

    Mã số

    : 62 31 20 01

    LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

    Người hướng dẫn khoa học:

    1. PGS,TS LÊ MINH QUÂN

    2. GS,TS NGUYỄN VĂN HUYÊN

    HÀ NỘI – 2014

    LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của

    riêng tôi. Các tài liệu, số liệu tham khảo, trích dẫn trình bày

    trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận

    án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên

    cứu nào khác.

    Tác giả luận án

    Nguyễn Văn Minh

    MỞ ĐẦU

    Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

    ĐẾN ĐỀ TÀI

    8

    1.1.

    BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

    Phản biện xã hội và phản biện xã hội của báo chí

    Chức năng phản biện xã hội của báo chí và các tiêu chí đánh

    giá việc thực hiện chức năng phản biện xã hội của báo chí

    Chương 3: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHỨC NĂNG PHẢN

    BIỆN XÃ HỘI CỦA BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

    Những yếu tố tác động đến việc thực hiện chức năng phản

    biện xã hội của báo chí ở Việt Nam hiện nay

    3.2. Những thành tựu, hạn chế và vấn đề đặt ra trong việc thực hiện

    chức năng phản biện xã hội của báo chí ở Việt Nam hiện nay đánh giá theo các tiêu chí của phản biện xã hội của báo chí

    Chương 4: NHỮNG QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNCAO

    3.1.

    CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHỨC

    NĂNG PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA BÁO CHÍ Ở VIỆT

    NAM HIỆN NAY

    4.1.

    4.2.

    Những quan điểm cơ bản về nâng cao chất lượng và hiệu quả

    thực hiện chức năng phản biện xã hội của báo chí ở Việt Nam

    hiện nay

    Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng và hiệu

    quả thực hiện chức năng phản biện xã hội của báo chí ở Việt

    Nam hiện nay

    KẾT LUẬN

    DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    93

    104

    138

    138

    DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

    CNH, HĐH

    :

    Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

    CNTB

    :

    Chủ nghĩa tư bản

    CNXH

    :

    Chủ nghĩa xã hội

    DLXH

    :

    Dư luận xã hội

    HTCT

    :

    Hệ thống chính trị

    MTTQ

    :

    Mặt trận Tổ quốc

    PBXH

    :

    Phản biện xã hội

    QLCT

    :

    Quyền lực chính trị

    QLNN

    :

    Quyền lực nhà nước

    XHCN

    :

    Xã hội chủ nghĩa

    1

    MỞ ĐẦU

    1. Tính cấp thiết của đề tài

    Báo chí cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng

    sản Việt Nam sáng lập và lãnh đạo, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ

    Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, lấy việc phục vụ cách mạng, phục vụ nhân

    dân làm mục tiêu cao cả của mình. Báo chí cách mạng nước ta được xác định

    là công cụ chủ yếu trong việc tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng,

    chính sách, phát luật của Nhà nước, tập hợp và đoàn kết, nâng cao và bồi

    dưỡng tri thức khoa học và tình cảm cách mạng trong quần chúng nhân dân.

    Từ khi ra đời, báo chí cách mạng nước ta đã có những đóng góp to lớn

    và hiệu quả vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất

    nước, xây dựng bảo vệ và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ

    nghĩa (XHCN). Trong công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo,

    báo chí nước ta đã đóng góp to lớn vào những thành tựu chung của đất nước,

    đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, trở thành nước đang phát

    triển với mức thu nhập trung bình (ở mức thấp); giữ vững ổn định chính trị,

    tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hoá – xã hội,

    củng cố quốc phòng – an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại; đưa đất nước

    bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và

    hội nhập quốc tế.

    Trong thời kỳ đổi mới, báo chí nước ta phát triển ngày càng mạnh mẽ

    cả về số lượng và chất lượng; chức năng, nhiệm vụ của báo chí ngày càng

    được mở rộng và nâng cao; báo chí không chỉ là cơ quan ngôn luận của Đảng

    và Nhà nước, mà còn là diễn đàn, là tiếng nói của nhân dân; không chỉ đưa

    đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân, mà còn phản

    ánh tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân đến với Đảng và Nhà

    nước. So với trước thời kỳ đổi mới, chức năng và nhiệm vụ của báo chí nước

    ta đã có sự đổi mới đáng kể. Trước đổi mới báo chí nước ta chỉ thực hiện

    3

    thành và phát triển. Tuy nhiên, PBXH của báo chí còn thấp so với yêu cầu,

    chưa kịp thời và hiệu quả còn hạn chế.

    Thực tiễn công cuộc đổi mới ngày càng định hình và làm rõ những

    chức năng của báo chí, trong đó có chức năng PBXH. Đến nay chức năng này

    được các cá nhân, tổ chức, thường xuyên đề cập, sử dụng đến thuật ngữ “chức

    năng phản biện của báo chí”. Đã có nhiều cuộc hội thảo, diễn đàn trao đổi về

    nội dung này và các ý kiến tập trung cho rằng cần phải khẳng định và tăng

    cường chức năng này trong hoạt động báo chí. PBXH của báo chí không chỉ

    còn là vấn đề chính trị, pháp lý mà còn là vấn đề văn hóa (văn hóa chính trị,

    văn hóa dân chủ, văn hóa pháp luật, văn hóa đổi mới, v.v.); là vấn đề dám

    nghĩ và dám làm, dám tranh luận và phản biện, dám tiếp thu và sửa chữa

    trước yêu cầu khách quan của thực tiễn đổi mới đất nước.

    Ở các nước phương Tây, với sự tồn tại của xu hướng chính trị và quyền

    lực khác nhau, sự tranh giành ảnh hưởng và uy tín trong xã hội đa nguyên chính

    trị, đa đảng đối lập, PBXH của báo chí có vị trí và vai trò rất lớn.

    Trong xã hội dân chủ tư sản, ý kiến của đại đa số nhân dân và dư luận xã

    hội được coi là áp lực quan trọng thậm trí đối trọng với quyền lực nhà nước.

    “Sức mạnh của báo chí truyền thông chính là bắt nguồn từ sức mạnh dư luận xã

    hội. Do đó nói báo chí là quyền lực thứ tư thực chất là quyền lực của nhân dân

    của dư luận xã hội mà báo chí là kênh truyền dẫn và liên kết sức mạnh của dư

    luận xã hội” và “Dilemmas of Pluralistdemocracy”

    (Những nan giải của nền dân chủ đa nguyên) của Robert chúng tôi . Tác giả đã đề cập các đặc trưng của báo chí trong điều kiện thị

    trường; những phương diện hoạt động chủ yếu của phóng viên, biên tập viên,

    cộng tác viên trong tòa soạn; cơ cấu, chức năng của tòa soạn; quan hệ giữa

    ban biên tập và độc giả – khán, thính giả; quy trình tổ chức in ấn, xuất bản

    báo; những thể loại báo chí, v.v.. Tác giả đề cập đến báo chí và các phương

    tiện truyền thông đại chúng trong việc quản lý xã hội về mặt chính trị – xã hội.

    Muốn tồn tại được trong nền kinh tế, báo chí phải biến đổi theo nó, tuy nhiên

    vấn đề là làm sao tìm được cho mình một hướng đi thích hợp. Báo chí cần

    trung thực, phản ánh một cách nhanh nhạy chính xác và đặc biệt những người

    cầm bút phải hết sức phòng, tránh trước những cám dỗ và cạm bẫy từ cuộc

    sống. Cuốn sách nêu tương đối chi tiết những kiến thức nghiệp vụ làm báo,

    giúp cho những nhà báo nhanh chóng nâng cao nghiệp vụ phát triển nghề

    nghiệp của mình.

    M.I.Sotak (2003) đã xuất bản cuốn sách: “Phóng sự – tính chuyên

    nghiệp và đạo đức” . Cuốn sách đã nêu và làm sáng tỏ phần lý luận chung về các yếu tố hình

    thành thể loại trong báo chí; đồng thời trình bày rõ hơn những khía cạnh, nội

    dung chính của các thể loại báo chí được phân theo tính chất của các thể loại

    12

    tin, thể loại phân tích, thể loại chính luận – nghệ thuật. Đặc biệt, mỗi thể loại

    được minh họa bằng nhiều bài viết hấp dẫn đã đăng tải trên báo và tạp chí ở

    Nga nhằm người đọc có thể hình dung trực quan về diện mạo các thể loại báo

    chí một cách sắc nét.

    E.P. Prô kôrốp (2004) cho xuất bản cuốn sách: “Cơ sở lý luận báo chí”,

    . Cuốn sách chủ yếu phân tích

    khái niệm công tác tư tưởng, vấn đề xây dựng đội ngũ những người làm công

    tác tư tưởng, trong đó có lĩnh vực báo chí. Các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản

    Trung Quốc coi tuyên truyền tư tưởng của Đảng là một phương tiện giáo dục,

    động viên quần chúng nhân dân và mang tính chính trị rất cao, có đặc điểm là

    công khai rộng rãi, kịp thời, nhanh nhạy, có thể đưa đường lối, chủ trương,

    chính sách của Đảng vào trong quần chúng nhanh nhạy nhất, rộng rãi nhất và

    biến thành hành động thực tế của quần chúng; có thể phản ánh một cách rộng

    rãi ý kiến, tiếng nói, ý chí, nguyện vọng của quần chúng; có thể kịp thời

    truyền bá tin tức trong nước và thế giới, trực tiếp tác động tới tư tưởng, hành

    vi và xu hướng chính trị của quần chúng, hướng dẫn, khích lệ, động viên, tổ

    13

    chức quần chúng phấn đấn thực hiện lợi ích căn bản của mình. Tác giả nhấn

    mạnh công tác tư tưởng, trong đó có báo chí phải kịp thời tổng kết kinh

    nghiệm và rút ra từ thực tiễn những hoạt động góp ý kiến, phê bình của báo

    chí đối với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.

    Năm 2007, trên Tạp chí Học tập và Nghiên cứu lý luận, số 8, Điền

    Trung Mẫn có bài Bàn về đổi mới công tác tư tưởng thời kỳ mới , cho rằng,

    báo chí muốn giàu tính đổi mới thì phải tạo dựng quan niệm mới, hình thành

    cơ chế mới, tiến hành sắp xếp, đổi mới một cách tổng thể; vận dụng hình thức

    mới, tiến hành đổi mới phương thức, cách làm tự do cởi mởi hơn, sâu hơn.

    Qua nghiên một số công trình nghiên cứu trên, có thể thấy các tác giả

    Trung Quốc đã đề cập đến hoạt động của báo chí thể hiện, vai trò vị trí, nhiệm

    vụ chức năng của báo chí. Nhằm nâng cao chất lượng của báo chí trong tình

    hình mới khi mà dân chủ ngày càng được mở rộng, trình độ dân trí ngày càng

    được nâng nên báo chí Trung Quốc đang được quan tâm đầu tư rất lớn cả về

    cơ chế chính sách lẫn con người, cơ sở vật chất phục vụ cho nhiệm vụ truyền

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nguyên Tắc Cơ Bản Đảm Bảo Thực Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Mối Quan Hệ Giữa Chức Năng Xã Hội
  • Lợi Ích Của Các Mối Quan Hệ Xã Hội Với Sức Khỏe Ít Ai Ngờ Tới
  • Bàn Về Mối Quan Hệ Giữa Nhà Nước, Thị Trường Và Xã Hội
  • Mạng Lưới Xã Hội Trong Khám Chữa Bệnh Cho Lao Động Nông Thôn
  • Luận Án: Chức Năng Phản Biện Xã Hội Của Báo Chí Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Báo Chí Đóng Vai Trò Quan Trọng Trong Giám Sát Và Phản Biện Xã Hội
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Của Quản Lý Hành Chính Trong Cơ Quan Viện Kiểm Sát Nhân Dân Đáp Ứng Yêu Cầu Cải Cách Tư Pháp
  • Vai Trò Của Các Cơ Quan Quản Lý Nhà Nước Trong Hoạt Động Hành Chính Nhà Nước Là Như Thế Nào ?
  • Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế
  • Hệ Thống Các Cơ Quan Nhà Nước Quản Lý Kinh Tế Ở Việt Nam ? Nguyên Tắc Quản Lý Kinh Tế Nhà Nước ?
  • , DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Download luận án tiến sĩ ngành chính trị học với đề tài: Chức năng phản biện xã hội của báo chí ở Việt Nam hiện nay, cho các bạn làm luận án tham khảo

    1. 1. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN VĂN MINH CHøC N¡NG PH¶N BIÖN X· HéI CñA B¸O CHÝ ë VIÖT NAM HIÖN NAY Chuyên ngành : Chính trị học Mã số : 62 31 20 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS,TS LÊ MINH QUÂN 2. GS,TS NGUYỄN VĂN HUYÊN HÀ NỘI – 2014
    2. 2. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tài liệu, số liệu tham khảo, trích dẫn trình bày trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác. Tác giả luận án Nguyễn Văn Minh
    3. 4. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNTB : Chủ nghĩa tư bản CNXH : Chủ nghĩa xã hội DLXH : Dư luận xã hội HTCT : Hệ thống chính trị MTTQ : Mặt trận Tổ quốc PBXH : Phản biện xã hội QLCT : Quyền lực chính trị QLNN : Quyền lực nhà nước XHCN : Xã hội chủ nghĩa
    4. 5. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Báo chí cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập và lãnh đạo, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, lấy việc phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân làm mục tiêu cao cả của mình. Báo chí cách mạng nước ta được xác định là công cụ chủ yếu trong việc tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, phát luật của Nhà nước, tập hợp và đoàn kết, nâng cao và bồi dưỡng tri thức khoa học và tình cảm cách mạng trong quần chúng nhân dân. Từ khi ra đời, báo chí cách mạng nước ta đã có những đóng góp to lớn và hiệu quả vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng bảo vệ và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trong công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, báo chí nước ta đã đóng góp to lớn vào những thành tựu chung của đất nước, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, trở thành nước đang phát triển với mức thu nhập trung bình (ở mức thấp); giữ vững ổn định chính trị, tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hoá – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại; đưa đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế. Trong thời kỳ đổi mới, báo chí nước ta phát triển ngày càng mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng; chức năng, nhiệm vụ của báo chí ngày càng được mở rộng và nâng cao; báo chí không chỉ là cơ quan ngôn luận của Đảng và Nhà nước, mà còn là diễn đàn, là tiếng nói của nhân dân; không chỉ đưa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân, mà còn phản ánh tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân đến với Đảng và Nhà nước. So với trước thời kỳ đổi mới, chức năng và nhiệm vụ của báo chí nước ta đã có sự đổi mới đáng kể. Trước đổi mới báo chí nước ta chỉ thực hiện
    5. 7. 3 thành và phát triển. Tuy nhiên, PBXH của báo chí còn thấp so với yêu cầu, chưa kịp thời và hiệu quả còn hạn chế. Thực tiễn công cuộc đổi mới ngày càng định hình và làm rõ những chức năng của báo chí, trong đó có chức năng PBXH. Đến nay chức năng này được các cá nhân, tổ chức, thường xuyên đề cập, sử dụng đến thuật ngữ “chức năng phản biện của báo chí”. Đã có nhiều cuộc hội thảo, diễn đàn trao đổi về nội dung này và các ý kiến tập trung cho rằng cần phải khẳng định và tăng cường chức năng này trong hoạt động báo chí. PBXH của báo chí không chỉ còn là vấn đề chính trị, pháp lý mà còn là vấn đề văn hóa (văn hóa chính trị, văn hóa dân chủ, văn hóa pháp luật, văn hóa đổi mới, v.v.); là vấn đề dám nghĩ và dám làm, dám tranh luận và phản biện, dám tiếp thu và sửa chữa trước yêu cầu khách quan của thực tiễn đổi mới đất nước. Ở các nước phương Tây, với sự tồn tại của xu hướng chính trị và quyền lực khác nhau, sự tranh giành ảnh hưởng và uy tín trong xã hội đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, PBXH của báo chí có vị trí và vai trò rất lớn. Trong xã hội dân chủ tư sản, ý kiến của đại đa số nhân dân và dư luận xã hội được coi là áp lực quan trọng thậm trí đối trọng với quyền lực nhà nước. “Sức mạnh của báo chí truyền thông chính là bắt nguồn từ sức mạnh dư luận xã hội. Do đó nói báo chí là quyền lực thứ tư thực chất là quyền lực của nhân dân của dư luận xã hội mà báo chí là kênh truyền dẫn và liên kết sức mạnh của dư luận xã hội” và “Dilemmas of Pluralistdemocracy” (Những nan giải của nền dân chủ đa nguyên) của Robert chúng tôi . Tác giả đã đề cập các đặc trưng của báo chí trong điều kiện thị trường; những phương diện hoạt động chủ yếu của phóng viên, biên tập viên, cộng tác viên trong tòa soạn; cơ cấu, chức năng của tòa soạn; quan hệ giữa ban biên tập và độc giả – khán, thính giả; quy trình tổ chức in ấn, xuất bản báo; những thể loại báo chí, v.v.. Tác giả đề cập đến báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng trong việc quản lý xã hội về mặt chính trị – xã hội. Muốn tồn tại được trong nền kinh tế, báo chí phải biến đổi theo nó, tuy nhiên vấn đề là làm sao tìm được cho mình một hướng đi thích hợp. Báo chí cần trung thực, phản ánh một cách nhanh nhạy chính xác và đặc biệt những người cầm bút phải hết sức phòng, tránh trước những cám dỗ và cạm bẫy từ cuộc sống. Cuốn sách nêu tương đối chi tiết những kiến thức nghiệp vụ làm báo, giúp cho những nhà báo nhanh chóng nâng cao nghiệp vụ phát triển nghề nghiệp của mình. M.I.Sotak (2003) đã xuất bản cuốn sách: “Phóng sự – tính chuyên nghiệp và đạo đức” . Cuốn sách đã nêu và làm sáng tỏ phần lý luận chung về các yếu tố hình thành thể loại trong báo chí; đồng thời trình bày rõ hơn những khía cạnh, nội dung chính của các thể loại báo chí được phân theo tính chất của các thể loại
    6. 16. 12 tin, thể loại phân tích, thể loại chính luận – nghệ thuật. Đặc biệt, mỗi thể loại được minh họa bằng nhiều bài viết hấp dẫn đã đăng tải trên báo và tạp chí ở Nga nhằm người đọc có thể hình dung trực quan về diện mạo các thể loại báo chí một cách sắc nét. E.P. Prô kôrốp (2004) cho xuất bản cuốn sách: “Cơ sở lý luận báo chí”, . Cuốn sách chủ yếu phân tích khái niệm công tác tư tưởng, vấn đề xây dựng đội ngũ những người làm công tác tư tưởng, trong đó có lĩnh vực báo chí. Các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc coi tuyên truyền tư tưởng của Đảng là một phương tiện giáo dục, động viên quần chúng nhân dân và mang tính chính trị rất cao, có đặc điểm là công khai rộng rãi, kịp thời, nhanh nhạy, có thể đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào trong quần chúng nhanh nhạy nhất, rộng rãi nhất và biến thành hành động thực tế của quần chúng; có thể phản ánh một cách rộng rãi ý kiến, tiếng nói, ý chí, nguyện vọng của quần chúng; có thể kịp thời truyền bá tin tức trong nước và thế giới, trực tiếp tác động tới tư tưởng, hành vi và xu hướng chính trị của quần chúng, hướng dẫn, khích lệ, động viên, tổ
    7. 17. 13 chức quần chúng phấn đấn thực hiện lợi ích căn bản của mình. Tác giả nhấn mạnh công tác tư tưởng, trong đó có báo chí phải kịp thời tổng kết kinh nghiệm và rút ra từ thực tiễn những hoạt động góp ý kiến, phê bình của báo chí đối với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Năm 2007, trên Tạp chí Học tập và Nghiên cứu lý luận, số 8, Điền Trung Mẫn có bài Bàn về đổi mới công tác tư tưởng thời kỳ mới , cho rằng, báo chí muốn giàu tính đổi mới thì phải tạo dựng quan niệm mới, hình thành cơ chế mới, tiến hành sắp xếp, đổi mới một cách tổng thể; vận dụng hình thức mới, tiến hành đổi mới phương thức, cách làm tự do cởi mởi hơn, sâu hơn. Qua nghiên một số công trình nghiên cứu trên, có thể thấy các tác giả Trung Quốc đã đề cập đến hoạt động của báo chí thể hiện, vai trò vị trí, nhiệm vụ chức năng của báo chí. Nhằm nâng cao chất lượng của báo chí trong tình hình mới khi mà dân chủ ngày càng được mở rộng, trình độ dân trí ngày càng được nâng nên báo chí Trung Quốc đang được quan tâm đầu tư rất lớn cả về cơ chế chính sách lẫn con người, cơ sở vật chất phục vụ cho nhiệm vụ truyền
    8. 26. 22 Chủ thể phản biện xã hội: Xây dựng kế hoạch PBXH phù hợp với kế hoạch, yêu cầu phản biện của cơ quan, tổ chức cần phản biện. Tổ chức đối thoại với cơ quan, tổ chức có yêu cầu phản biện khi cần thiết. Gửi kết quả phản biện bằng văn bản (văn bản phải được đóng dấu và có chữ ký của người có thẩm quyền) đến cơ quan, tổ chức yêu cầu phản biện. Chịu trách nhiệm về những nội dung phản biện của mình. Bảo đảm bí mật nội dung thông tin phản biện theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có văn bản dự thảo (nếu có). Gửi văn bản dự thảo và cung cấp đầy đủ những thông tin, tài liệu cần thiết đến chủ thể phản biện. Cử người có trách nhiệm thay mặt tổ chức của mình tham dự hội nghị phản biện do chủ thể phản biện tổ chức hoặc tham gia đối thoại theo yêu cầu của chủ thể phản biện. Trả lời bằng văn bản với chủ thể phản biện về việc tiếp thu ý kiến phản biện. Báo cáo đầy đủ (bằng văn bản) các ý kiến phản biện của chủ thể phản biện với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành văn bản, v.v.. Sau thời gian dài nghiên cứu, tổng kết, đánh giá các cơ quan chức năng đã đưa ra những quan điểm cơ bản về PBXH. Trước hết nó được thể hiện ở các văn kiện của Đảng từ văn kiện Đại hội X đến nay quy định MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội có chức năng PBXH. Có thể nói đây là bước tiến mới về chất trên con đường đổi mới mở rộng dân chủ ở nước ta, thực thi QLNN thuộc về nhân dân. Báo chí nước ta là một bộ phận trong HTCT, một tổ chức thành viên trong tổ chức MTTQ, do đó báo chí cũng thực hiện chức năng PBXH. Tuy nhiên, sự quy định đối với báo chí có chức năng phản biện xã hội của các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước còn chưa cụ thể và rõ ràng; có chăng chỉ là sự vận dụng, liên hệ cho hoạt động PBXH của báo chí, cho nên trong quá trình PBXH báo chí hiện còn gặp rất nhiều khó khăn. Nhận thức và thực tiễn PBXH của MTTQ và các đoàn thể chính trị – xã hội là những cơ sở lý luận và thực tiễn cần thiết, có thể tham khảo cho việc nghiên cứu về chức năng PBXH của báo chí ở nước ta hiện nay.
    9. 31. 27 4) Luận văn thạc sĩ báo chí học của Lại Thị Hải Bình (2006): “Báo chí với quá trình hình thành nhân cách của học sinh, sinh viên” góp phần làm sáng tỏ vai trò của báo chí trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta hiện nay; thực trạng đấu tranh chống tham nhũng của báo chí Việt Nam trong công cuộc đổi mới; đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của báo trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay. 6) Luận văn cử nhân báo chí học của Tạ Thị Nguyệt (2009): “Báo chí với phản biện xã hội” . Tác giả cho rằng, Chính phủ phải luôn phải lắng nghe ý kiến của nhân dân, báo chí là công luận “đệ tứ quyền”, một kênh quan trọng để thực hiện công việc vô cùng quan trọng đó. Gần 30 năm đổi mới vừa qua, thai nghén ra được những chính sách đúng, đưa lại thành công vang dội như “xé rào” trong công thương nghiệp, “khoán 10” trong nông nghiệp, v.v.. đã là những bằng chứng sinh động. Tác giả đã đề cấp đến việc báo chí đã phản ánh chuyển tải những thông tin của nhân dân đến Đảng và Nhà nước, nhằm sửa đổi, điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tiễn cơ sở. Đây là những yếu tố quan trọng cho báo chí tham gia tích cực và “thầm lặng” phản biện đường lối, chính sách. 4) Cũng tại Hội thảo trên, TS. Nguyễn Thu Trang có tham luận: “Báo chí trong việc lấy ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp góp ý cho các dự thảo chính sách kinh tế” đã nêu rõ: Thiếu thông tin, thiếu các thủ tục minh bạch, thiếu tranh luận, thì việc lấy ý kiến nhân dân về các dự thảo chủ trương, chính sách lớn đều không có hiệu quả. Vai trò của báo chí là đưa tin trung thực, làm cho thủ tục được minh bạch và thúc đẩy
    10. 37. 33 là chức năng quan trọng hàng đầu, nhờ có chức năng này, xã hội có nhiều thông tin hơn, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của công chúng, xã hội cởi mở, minh bạch hơn, dân chủ được phát huy và đề cao. Thông tin đa dạng, đa chiều, phong phú làm cho cuộc sống ngày càng sinh động hơn, quan hệ giữa người dân với các đảng phái chính trị và nhà nước gần gũi hơn. Báo chí có tính độc lập tương đối, có khả năng và chức năng PBXH – phản biện chính sách của nhà cầm quyền như một thực tế khách quan. Báo chí dùng sức mạnh của nhân dân, của dư luận xã hội làm cho chính quyền phải thay đổi chính sách (nếu có hạn chế, bất cập, sai sót), nếu không sẽ bị sụp đổ. Báo chí thực hiện tương đối có hiệu quả chức năng PBXH, khi phản biện của báo chí đến với nhà cầm quyền thường tạo ra những hiệu ứng tích cực. Do vậy, vai trò kiểm soát và thực thi QLCT,QLNN của báo chí ngày càng được tôn trọng và sử dụng có hiệu quả. Báo chí là công cụ của giai cấp thống trị, phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị, đều chịu sự kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp của chính quyền. Báo chí không thể không gắn với chính trị và kinh tế. Tự do báo chí, báo chí nhà nước hay báo chí tư nhân đều phải tuân thủ pháp luật. Ở những thời điểm khác nhau, sự thể hiện chức năng tư tưởng hay chức năng giải trí, chức năng tuyên truyền hay chức năng PBXH, v.v. có khác nhau nhưng đều bị chi phối bởi lợi ích chính trị và kinh tế. Ở Việt Nam, một số công trình nghiên cứu về PBXH và PBXH của báo chí từ ở một ngành, một lĩnh vực nhất định với những cách tiếp cận khác nhau đã bắt đầu xuất hiện. Các công trình này cho thấy, trong những năm đổi mới gần đây hoạt động của báo chí đã có yếu tố tích cực hơn, thực hiện các chức năng của báo chí ngày càng đầy đủ và hiệu quả hơn, dám nói những gì mà trước kia không dám nói, dám đi nhiều hơn vào những “vùng cấm”, nhân dân và xã hội tin tưởng ở báo chí hơn. Nhiều vấn đề bức xúc trong xã hội được báo chí phản biện một cách tích cực, hiệu ứng xã hội nhanh và mạnh mẽ hơn và các nhà lãnh đạo đã chú ý lắng nghe hơn.
    11. 40. 36 Chương 2 LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM 2.1. PHẢN BIỆN XÃ HỘI VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA BÁO CHÍ 2.1.1. Phản biện và phản biện xã hội 2.1.1.1. Phản biện Cuộc sống con người và xã hội loài người luôn diễn ra một cách tự nhiên, đó là loại bỏ những yếu tố sai lầm, dần tiếp thu những yếu tố tiến bộ, hợp lý, sửa chữa và tiệm cận đến yếu tố đúng đắn và như vậy thường gọi là phản biện. Những hành vi ban đầu mang tính tự nhiên, bột phát, đơn lẻ đó được lặp đi, lặp lại trở thành thói quen, nếp sống của con người, cộng đồng và xã hội. Khi xã hội phát triển đến trình độ cao, những hành vi, hành động đó chuyển thành hoạt động tự giác, có tổ chức và dần mang tính chuyên môn, chuyên nghiệp hơn. Đầu tiên là những hoạt động phản biện trong lao động, sản xuất, xây dựng, tự vệ và bảo vệ cộng đồng, xã hội; sau đến là những hoạt động phản biện trong cải tiến, phát minh, sáng chế khoa học, xây dựng đời sống văn hóa, xã hội, nghệ thuật; cao hơn là phản biện trong xây dựng chính sách, luật pháp, thiết lập và duy trì chế độ chính trị – xã hội và nhà nước, v.v.. Từ sự phát triển của thực tiễn cuộc sống, tư duy con người và xã hội loài người đã có nhiều quan niệm, định nghĩa, khái quát về phản biện. Theo nghĩa từ nguyên, phản có nghĩa là nghĩ, xét lại, theo Hán – Việt, chữ phản gồm 5 nghĩa; 1) trái, đối lập với chữ chính; 2) trả lại, trở về; 3) nghĩ, xét lại; 4) trở, quay; 5) trái lại, phản đối, trái lại không chịu. Biện là phân tích, biện luận. Nếu gắn phản với biện có nghĩa là phân định xấu, tốt, trên cơ sở phân tích, biện luận. Theo nghĩa trên, “có thể hiểu phản biện là đặt lại, xét lại một sự việc, một vấn đề trên cơ sở lập luận, phân tích một cách khách quan khoa học có sức thuyết phục, nhằm phát hiện hoặc đưa các chính kiến
    12. 41. 37 trở về đúng giá trị của nó. Ban đầu khái niệm phản biện thường dùng để nhận xét, đánh giá chất lượng một công trình khoa học, sau đó dần mở rộng ra lĩnh vực chính trị – xã hội” . Các Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hoá – Thông tin, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Nhà xuất bản Thanh Hóa, v.v. hiện nay cũng nhất trí với quan điểm trên. Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg ngày 30-1-2002 củaThủ tướng Chính phủ Về hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam nêu rõ; Phản biện là hoạt động cung cấp các thông tin, tư liệu cùng các ý kiến phân tích, đánh giá tính khả thi và các kiến nghị về sự phù hợp của nội dung đề án đối với mục tiêu và các điều kiện ràng buộc ban đầu hoặc thực trạng đặt ra. Theo đó, phản biện là một hoạt động khoa học, là quá trình diễn ra các hoạt động được đảm bảo bởi những nguyên tắc chặt chẽ, gồm các khâu đánh giá, phân tích, lập luận, thẩm định chất lượng, nhằm chứng minh, khẳng định hoặc bổ sung, bác bỏ một phần hay toàn bộ công trình nghiên cứu của cá nhân hoặc một nhóm người. Phản biện là sự tranh luận, đưa ra lập luận khác nhau để làm rõ đúng – sai một vấn đề nhất định. Phản biện là một hoạt động phân tích độc lập. Đây là một yếu tố rất quan trọng bảo đảm tính khách quan và chính kiến của chủ thể phản biện. Mất đi yếu tố này thì phản biện sẽ giảm hoặc không còn giá trị. Phản biện hoàn toàn không đồng nghĩa với phản bác, lại càng trái ngược với bài bác, v.v.. Phản biện có những cấp độ, phương diện khác nhau (mức độ thấp, mức độ trung bình, mức độ cao) mà đỉnh cao là phản biện lý luận, phản biện khoa học. 2.1.1.2. Phản biện xã hội PBXH là một vấn đề không mới, loài người đã làm quen với khái niệm này từ rất sớm và biến nó trở thành công cụ hữu hiệu để tạo ra nền dân chủ,
    13. 42. 38 tạo sự phát triển về chính trị của nhiều quốc gia tiên tiến. Trong thời đại ngày nay, PBXH vẫn là một trong những vấn đề hệ trọng, là đối tượng cần nghiên cứu, nhất là đối với các quốc gia đang phấn đấu cho nền dân chủ. PBXH là một hoạt động mang tính khoa học, là một hành vi khoa học trong hành động của con người, xuất hiện khi con người chuẩn bị hành động. Phản biện làm cho mỗi một hành vi được tiến hành trên cơ sở có một sự xác nhận có chất lượng khoa học đối với nó. Hơn nữa, PBXH là một khái niệm chính trị, biểu hiện đặc trưng, chuyên nghiệp nhất của đời sống chính trị và xã hội dân chủ. PBXH ở Việt Nam là một hiện tượng chính trị – xã hội mới, do sự phát triển của nền kinh tế thị trường, quá trình dân chủ hóa chính trị và xã hội trong thời kỳ đổi mới mang lại. Đến nay, hiện tượng xã hội này đã ngày càng định hình cả về nội dung, hình thức hoạt động (trong thực tiễn) lẫn quan niệm, khái niệm (trong lý luận). Với tính cách là một khái niệm mới xuất hiện ở nước ta trong những năm gần đây, nên khái niệm PBXH còn chưa được đề cập và phân tích, đánh giá một cách đầy đủ. Tuy nhiên khái niệm PBXH đã bắt đầu thu hút sự quan tâm của đông đảo của các thành viên trong xã hội nhất là những nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý trong đó có nhà báo. Văn kiện Đại hội X của Đảng đã khẳng định: “Phát huy vai trò và tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng đường lối chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội” [42, tr.4]. Theo cách giải thích các từ ngữ trong văn kiện Đại hội X của Đảng, PBXH là sự phản biện nói chung, nhưng có quy mô và lực lượng rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học, chuyên gia về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế – xã hội, khoa học – công nghệ, giáo dục y tế, văn hoá, môi trường, an ninh trật tự xã hội của Đảng, nhà nước và các tổ chức

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Tiểu Luận Vai Trò Của Chức Năng Giám Sát Và Phản Biện Xã Hội Trong Hoạt Động Báo Chí
  • 14 Nguyên Tắc Quản Lý Của Henry Fayol
  • 14 Nguyên Tắc Quản Trị Của Henry Fayol
  • Giáo Trình Môn Quản Trị Học
  • Tổng Quan Về Lý Thuyết Quản Lý
  • Cơ Cấu, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Xã Hội Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Đảng Ủy Xã Đông Minh
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Xã
  • Mô Tả Công Việc Trưởng Phòng Xuất Nhập Khẩu
  • Báo Cáo Thực Tập Tại Công Ty Tnhh Xây Dựng Thương Mại Đại An
  • 2.2. Chức năng của xã hội học

    xã hội học có 3 chức năng cơ bản: chức năng nhận thức, chức năng thực tiễn và chức năng tư tưởng.

    2.1.1. Chức năng nhận thức

    – Thực tế xã hội học là một hệ thống tri thức về lĩnh vực đối tượng mà nó nghiên cứu. xã hội học có vai trò lớn trong việc làm cho tri thức nhân loại phát triển đa dạng, phong phú hơn. Đặc biệt trong việc phát triển tư duy, khả năng sáng tạo, óc phân tích, khái quát trong các hoạt động tư duy của con người.

    – xã hội học trang bị cho chúng ta tri thức về những quy luật khách quan của sự vận động, phát triển của các hiện tượng, các quá trình xã hội… xã hội học đã góp phần hệ thống hoá những hiểu biết của con người về xã hội, góp phần sáng tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh về xã hội, cũng như các bộ phận, các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.

    – xã hội học với cơ sở lý luận của mình giúp chúng ta nhận thức sâu hơn về sự phát triển tương lai của xã hội.

    – Thông qua các nghiên cứu xã hội học thực nghiệm, xã hội học tạo cơ sở khách quan cho việc nhận biết đúng bản chất khuynh hướng, tính quy luật của các quá trình và các hiện tượng xã hội đang hàng ngày xảy ra xung quanh ta.

    Tất cả cái đó giúp con người nhận thức đúng về điều kiện tồn tại của bản thân và áp dụng nhận thức đó vào quá trình hoạt động thực tiễn theo tinh thần cải tạo xã hội.

    2.2.2. Chức năng thực tiễn

    Ở mức độ nào đó có thể xem chức năng này như một chức năng cơ bản và phổ biến của xã hội học. xã hội học cung cấp khối lượng thông tin khổng lồ cho các hoạt động thực tiễn của con người.

    Sự phong phú đa dạng của nhận thức xã hội học cả ở mặt lý luận và thực nghiệm làm cho xã hội học trở thành công cụ quan trọng trong quản lý xã hội.

    Các tri thức của xã hội học về sự phát triển của xã hội, về xu hướng phát triển của các hiện tượng và các quá trình xã hội là cơ sở quan trọng cho việc đề ra các quyết định quản lý. Các tài liệu thực nghiệm của các cuộc nghiên cứu xã hội học không những chỉ là những thông tin quan trọng trong việc xây dựng, đưa ra các quyết định quản lý, mà còn là phương tiện hữu ích để kiểm nghiệm các hoạt động thực tiễn, hoạt động quản lý con người.

    xã hội học còn giúp các nhà quản lý hiểu biết đúng nghĩa các hiện tượng, những quá trình mới nảy sinh trong đời sống xã hội, từ đó được những quyết sách đúng đắn phù hợp với yêu cầu khách quan của sự phát triển.

    xã hội học còn có vài trò đặc biệt quan trọng trong việc dự báo xã hội nhờ vào hệ thống các phạm trù, khái niệm những quy luật của mình mà ít nhiều phản ánh thực tế xã hội, phản ánh sự tác động lẫn nhau giữa các hiện tượng xã hội. xã hội học còn góp phần vào việc nghiên cứu, cải thiện chính bản thân công việc quản lý, cơ quan quản lý cũng như các phương pháp quản lý.

    2.2.3. Chức năng tư tưởng

    Thực tế, các giai cấp khác nhau quan tâm đến xã hội học cũng khác nhau. Điều đó cho thấy xã hội học có tính giai cấp và tính đảng. xã hội học Mác – Lênin phục vụ cho lợi ích của giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân lao động.

    xã hội học trang bị cho nhân loại những tư tưởng về tính toàn diện của xã hội, về tính tất yếu trong sự phát triển của xã hội, từ đó tạo cho họ niềm tin vào tương lai của loài người và càng vững tin hơn vào hành động của mình.

    xã hội học còn có vai trò lớn trong việc tổ chức và quản lý các quá trình tư tưởng hông qua việc thường xuyên điều tra thực trạng tư tưởng của quần chúng, giáo dục tư tưởng cũng như các khía cạnh hoạt động tư tưởng của nhân dân lao động.

    xã hội học còn tạo cho con người thói quen suy nghĩ theo quan điểm khoa học đối với các hiện tượng của đời sống xã hội, nâng tư duy thông thường thành tư duy khoa học trên cơ sở nhận thức sâu sắc xu thế phát triển của các hiện tượng và các quá trình xã hội. Từ đây xã hội học tham gia trực tiếp vào cuộc đấu tranh chống tệ quan liêu, mệnh lệnh, giáo điều, duy tâm trong suy nghĩ và hành động của con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Đảng
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Tổ Chức Bộ Máy Văn Phòng Đảng Ủy Khối
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Đảng Ủy
  • Công Tác Đánh Giá Năng Lực Nhân Viên Tại Công Ty Vinamilk
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Văn Phòng Đại Diện
  • Các Chức Năng Cơ Bản Của Xã Hội Học Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ,quyền Hạn Của Ubnd Xã
  • Tìm Kiếm Và Thay Thế Trong Microsoft Word
  • Usb Type C Là Gì? Có Giúp Sạc Và Truyền Dữ Liệu Nhanh Hơn Không?
  • Các Cổng Kết Nối Trên Điện Thoại
  • Usb Wifi Là Gì? Chức Năng Của Usb Wifi Có Gì Đặc Biệt?
  • 48973

    Chức năng của mỗi bộ môn khoa học được phản ánh một cách phong phú ở mối quan hệ và sự tác động qua lại của chính môn khoa học ấy với hoạt động thực tiễn xã hội. Người ta căn cứ vào nhu cầu của xã hội trong sự nhận thức và tác động đến thực tiễn xã hội để xác định chức năng của một môn khoa học. Chức năng của xã hội học pháp luật được quy định bởi nhu cầu phát triển trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và con người. Chức năng của xã hội học pháp luật bao gồm:

    Chức năng nhận thức

    Chức năng nhận thức của xã hội học pháp luật trước hết thể hiện ở chỗ, Xã hội học pháp luật trang bị cho người nghiên cứu môn học cách thức tiếp cận nghiên cứu các quy luật và tính quy luật của quá trình phát sinh, hoạt động và phát triển của pháp luật bằng trí thức xã hội học có việc nghiên cứu hệ thống các khái niệm, lý thuyết và phương pháp của môn học. Trong khi chỉ ra những quy luật khách quan của sự kiện, hiện tượng pháp luật, xã hội học pháp luật đã tạo ra những tiền đề để nhận thức triển vọng phát triển cao hơn của sự kiện, hiện tượng được nghiên cứu cũng như các mặt, các lĩnh vực sinh nhật của nó.

    Hoạt động điều tra, khảo sát xã hội học pháp luật cung cấp bằng chứng thực nghiệm giúp cho việc nhận thức một cách khách quan, Toàn diện, đầy đủ và chính xác về nguồn gốc, bản chất của pháp luật; thực trạng của hệ thống pháp luật; về trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật của giai cấp, các tầng lớp xã hội; về tình hình vi phạm pháp luật ở từng thời điểm, từng khu vực địa lý nhất định.

    Nghiên cứu xã hội học pháp luật nhằm làm sáng tỏ các nguyên nhân, điều kiện dẫn đến các hành vi sai lệch chuẩn mực pháp luật, hậu quả của hành vi sai lệch giúp cho các cá nhân, nhóm xã hội nhận thức đầy đủ hơn vị thế, vai trò của mình, từ đó có thái độ, hành vi phù hợp với các quy định chuẩn mực pháp luật, phát huy tính tích cực xã hội, hạn chế hành vi sai lệch.

    Xã hội học pháp luật còn là cơ sở phát triển tư duy khoa học, tạo điều kiện hình thành thói quen suy xét mọi hiện tượng xã hội và quá trình phức tạp trên cơ sở thực nghiệm khoa học. Đặc biệt, xem luyện kỹ năng cho các chủ thể có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước tác phong nắm bắt kịp thời thông tin, cụ thể, sâu sắc về các sự kiện, hiện tượng pháp luật xảy ra trong đời sống và xu hướng biến đổi của các quan hệ xã hội, chỉ ban hành pháp luật và quyết định áp dụng pháp luật khi có đầy đủ thông tin và những luận chứng khoa học về nó.

    Chức năng thực tiễn của xã hội học pháp luật có quan hệ mật thiết với chức năng nhận thức. Việc nghiên cứu xã hội học pháp luật không chỉ đơn thuần là vận dụng vào nhận thức hiện thực các sự kiện, hiện tượng pháp luật xảy ra trong thực tiễn mà quan trọng là đưa ra các giải pháp đúng đắn, Kịp thời kiểm soát các sự kiện, hiện tượng đó. Sự phong phú, đa dạng của xã hội học pháp luật cả ở mặt lý luận và thực nghiệm làm cho nó trở thành công cụ thiết yếu trong hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật. Hoạt động nghiên cứu xã hội học pháp luật, đặc biệt là những hoạt động điều tra, khảo sát của ý nghĩa như là cầu nối các nhà khoa học, các nhà lập pháp, hành pháp, tư pháp với tầng lớp nhân dân, chính từ đây đã tạo ra một quy trình khép kín và hoàn chỉnh về sự vận hành của hệ thống pháp luật, c ca ở mặt lý luận và thực nghiệm làm cho nó trở thành công cụ thiết yếu trong hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật. Hoạt động nghiên cứu xã hội học pháp luật, đặc biệt là những hoạt động điều tra, khảo sát của ý nghĩa như là cầu nối các nhà khoa học, các nhà lập pháp, hành pháp, tư pháp với tầng lớp nhân dân, chính từ đây đã tạo ra một quy trình khép kín và hoàn chỉnh về sự vận hành của hệ thống pháp luật, các của các văn bản pháp luật, của các văn bản pháp luật.

    Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, xã hội học pháp luật cùng cố và xây dựng những luận cứ khoa học giúp cho đảng và nhà nước hoạch định chủ trương, chính sách, pháp luật đúng đắn, kịp thời phù hợp với tình hình phát triển xã hội ở từng giai đoạn cụ thể. Quá trình xây dựng pháp luật đòi hỏi phải nghiên cứu sâu sắc thực tiễn xã hội, các quá trình kinh tế, chính trị, tư tưởng, tâm lý xã hội; đặc điểm dân cư, nhu cầu của các tầng lớp, các nhóm nghề nghiệp; dân tộc, giới tính, trình độ học vấn. Thông tin từ các cuộc khảo sát xã hội học sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng các quy định pháp luật phù hợp. Các cuộc khảo sát xã hội học pháp luật trên thế giới cho thấy, nhân tố chính làm giảm hiệu quả của pháp luật không phải là do sự thiếu vắng các cơ chế thực hiện pháp luật mà do sự không tương thích của pháp luật với những đòi hỏi khách quan trong việc điều tiết các lợi ích của xã hội. Sự tham gia của đông đảo tầng lớp nhân dân vào công việc xây dựng pháp luật sẽ đảm bảo được đầy đủ và toàn diện lợi ích, Ý nguyện của nhân dân và sẽ tạo điều kiện để đảm bảo thực hiện pháp luật nghiêm minh và có hiệu quả sau này. Thực tế đã cho thấy, các đề xuất về pháp luật như nâng giá điện, thu phí đối với xe mang biển xuống máy tính và Hà Nội, quy định vòng ngực, cân nặng đối với người tham gia giao thông hãy đề xuất xây dựng đường sắt cao tốc Bắc Nam… gặp phải sự phản đối gay gắt của dư luận do không phù hợp với lợi ích của đông đảo người dân.

    Hoạt động nghiên cứu xã hội học pháp luật về những mặt, khía cạnh của đời sống pháp luật cung cấp những thông tin được phản ánh từ cơ sở thực tiễn đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giúp họ cập nhật thường xuyên những thông tin cần thiết, kịp thời phát hiện được những mâu thuẫn, xung đột hay những sai lệch từ đó tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật.

    Chức năng dự báo

    – Trên cơ sở kết quả khảo sát thu thập thông tin, xử lý thông tin, các nhà xã hội học pháp luật phân tích tính logic, tính khách quan, nhận diện các sự kiện, hiện tượng pháp luật trong quá khứ và hiện tại, từ đó đưa ra các dự báo khoa học để làm sáng tỏ triển vọng phát triển xa hơn của những sự kiện, hiện tượng pháp luật trong tương lai.

    – Bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, xã hội học pháp luật thu thập thông tin định tính, định lượng đánh giá dự báo tác động pháp luật giúp các chủ thể có thẩm quyền nhận biết những khả năng có thể xảy ra khi văn bản pháp luật được ban hành. Đặc biệt là đối với các dự thảo, dự án luật, các nghiên cứu của xã hội học pháp luật sẽ làm sáng tỏ các điều kiện cụ thể mà ở đó các văn bản pháp luật đang được dự thảo hoặc sắp ban hành. Từ việc đánh giá tác động pháp luật đối với thực tiễn xã hội, giúp cho các chủ thể có thẩm quyền đưa ra phương án, các giải pháp tối ưu nhất nhằm nâng cao chất lượng của hệ thống pháp luật, chất lượng của các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành.

    – Dựa vào kết quả đánh giá thực trạng và ý thức pháp luật của các nhóm xã hội, về hành vi sai lệch chuẩn mực pháp luật, tội phạm và hiệu quả của các biện pháp đấu tranh phòng, chống hành vi sai lệch, tìm ra nguyên nhân để đưa ra những dự báo về diễn biến tình hình vi phạm pháp luật và phạm tội trong tương lai, giúp cho các chủ thể có thẩm quyền đưa ra các biện pháp hạn chế hành vi sai lệch và tội phạm.

    Chức năng dự báo của xã hội học pháp luật có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hoạt động xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật. Việc hiểu biết sự kiện hiện tại và xu hướng phát triển đó trong tương lai là yếu tố cần thiết giúp cho các cơ quan nhà nước thông qua các quyết định một cách đúng đắn. Lựa chọn một giải pháp tôi yêu khánh liền với việc nhận thức đúng đắn những hậu quả pháp lý và xã hội của việc ban hành quy định đó, cũng như môi trường mà ở đó quyết định được ban hành sẽ được thực hiện trong tương lai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Chứng Viên Và Tiêu Chuẩn Công Chứng Viên Theo Quy Định Hiện Nay
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Chứng Viên Theo Quy Định
  • Công Chứng Viên Với Vai Trò Là Bổ Trợ Viên Tư Pháp
  • Đề Cương Giới Thiệu Luật Công Chứng Năm 2014
  • Để Công Chứng Viên Xứng Đáng Là “người Gác Cổng”…
  • Bài 2: Các Chức Năng Cơ Bản Của Xã Hội Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Trong Quá Trình Hội Nhập Quốc Tế
  • Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Một Số Nhiệm Vụ Cơ Bản Thể Hiện Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Ta
  • Khoa Học Giáo Dục Và Chức Năng Xã Hội Của Khoa Học Giáo Dục
  • Tài Liệu Vai Trò Của Giáo Dục Đối Với Sự Phát Triển Của Xã Hội
  • Giáo Dục Với Chức Năng Tư Tưởng
  • Tóm tắt lý thuyết

    Các chức năng cơ bản của xã hội học được xây dựng trên cơ sở đối tượng nghiên cứu của xã hội học:

    • Chức năng nhận thức.
    • Chức năng thực tiễn.
    • Chức năng tư tưởng.

    Trang bị cho người học hệ thống tri thức khoa học về sự phát triển và các quá trình xã hội, phản ánh tính quy luật khách quan trong quá trình vận động, biến đổi của các hiện tượng xã hội, đồng thời chỉ ra cơ chế của quá trình chuyển biến đó.

    Tạo những tiền đề phương pháp trong quá trình nhận thức về những triển vọng nhằm phát triển hơn nữa đời sống xã hội.

    Xác định được nhu cầu phát triển của xã hội, của các tầng lớp, nhóm, các cộng đồng xã hội.

    Với hệ thống phương pháp luận thực chứng và các phương pháp nghiên cứu “ngành”, kết quả nghiên cứu xã hội học cung cấp những thông tin thể hiện tính khoa học (tính xác thực, độ tin cậy, tập trung và có chọn lọc…), không ngừng nâng cao nhận thức xã hội trong cộng đồng.

    Mọi hoạt động của con người đều được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý cụ thể, chứa đựng những vấn đề mang tính quy luật được rút ra từ kinh nghiệm thực tế của quá khứ và hiện tại.

    Trong các hoạt động thực tế, những nguyên lý này được xã hội học tiếp cận từ các chuẩn mực, các quy tắc…

    Ý nghĩa thực tiễn của các phương pháp xã hội học thực nghiệm cho phép khảo nghiệm tính đúng đắn, xác thực của các mô hình, các quyết sách trong công tác quản lý xã hội trên cơ sở lí luận và thực tiễn.

    Trong hoạt động khoa học xã hội học, các chức năng thực tiễn được thực hiện bằng các phương pháp luận nhận thức từ việc xác lập đối tượng nghiên cứu của mình.

    Chức năng thực tiễn và chức năng nhận thức có mối quan hệ biện chứng với nhau. Chức năng thực tiễn của xã hội học luôn luôn bắt nguồn từ bản chất khoa học của quá trình nhận thức.

    Khi nghiên cứu thực trạng của các quan hệ xã hội, những tri thức xã hội học tạo điều kiện đề con người có thể kiểm soát được quan hệ xã hội của mình và điều hoà các quan hệ đó phù hợp với yêu cầu khách quan của sự vận động, biến chuyển và tiến bộ xã hội.

    Năng lực dự báo: trên cơ sở nắm bắt chính xác các quy luật và xu hướng phát triển của xã hội thông qua các mối quan hệ xã hội. Tri thức xã hội học tạo tiền đề và là điều kiện đề thiết kế và điều chỉnh mối liên kết xã hội, phục vụ tốt công tác quản lý xã hội một cách khoa học.

    Củng cố mối liên hệ giữa khoa học với đời sống thực tế, phát huy tác dụng của xã hội học đối với công tác tổ chức, quản lý và điều tiết xã hội nói chung. Phát huy năng lực dự báo, quản lý và chỉ đạo.

    Xã hội học có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thực tiễn của các cơ quan quản lý xã hội bởi:

    • Nhu cầu của công tác quản lý đối với các hoạt động xã hội.
    • Nội dung có tính đặc thù của xã hội học.
    • Nối liền lý thuyết khoa học với hoạt động thực tiễn. Góp phần vào việc giải quyết đúng đắn nhiều vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển xã hội.

    Thể hiện ở việc phục vụ cho việc giáo dục quần chúng theo định hướng giá trị xã hội.

    Trang bị tri thức về các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, giáo dục lý tưởng xã hội. Thúc đẩy, duy trì các quan hệ mang tính nhân văn sâu sắc.

    Lập trường của nhà xã hội học chân chính phải luôn luôn đảm bảo tính khách quan, khoa học trong quá trình nghiên cứu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Xã Hội Của Nhà Nước Việt Nam
  • Hướng Dẫn Toàn Tập Word 2013 (Phần 1): Các Tác Vụ Cơ Bản Trong Word
  • Những Kiến Thức Cơ Bản Cần Biết Về Microsoft Word
  • 10 Tính Năng Trong Word 2013 Giúp Làm Việc Nhanh, Dễ Dàng Hơn
  • 10 Điểm Mới Trong Word 2010
  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Đảng Ủy Xã Đông Minh
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Xã
  • Mô Tả Công Việc Trưởng Phòng Xuất Nhập Khẩu
  • Báo Cáo Thực Tập Tại Công Ty Tnhh Xây Dựng Thương Mại Đại An
  • Hoạt Động Chuyên Môn Của Trạm Y Tế Xã, Phường
  • Thứ nhất, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ trang bị những tri thức khoa học, đó là hệ thống lý luận chính trị – xã hội và phương pháp luận khoa học mà chủ nghĩa Mác-Lênin đã phát hiện ra và luận giải quá trình tất yếu lịch sử dẫn đến hình thành,

    phát triển hình thái kinh tế – xã hội cộng sản, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Chức năng này cũng thống nhất với chức năng của triết học Mác-Lênin và kinh tế chính trị học Mác-Lênin, nhưng trực tiếp nhất là trang bị lý luận nhận thức về cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Không làm được chức năng này, chủ nghĩa xã hội khoa học sẽ không thể cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp nhận thức về chính trị – xã hội cho người nghiên cứu và hoạt động thực tiễn trong cách mạng xã hội chủ

    nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là cho các đảng cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa với chức năng lãnh đạo và quản lý xã hội.

    Thứ hai, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ trực tiếp nhất là giáo dục, trang bị lập trường tư tưởng chính trị của giai cấp công nhân cho đảng cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động –

    lập trường xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Chính các nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học đã có công lớn là xây dựng hệ thống lý luận phản ánh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân rồi tuyên truyền, giáo dục trở lại cho giai cấp công nhân hiện đại hiểu về sứ mệnh lịch sử và bản chất của chính mình. Hệ thống lý luận đó đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp công nhân hiện đại.

    Không có hệ tư tưởng cách mạng và khoa học, không có lập trường và bản lĩnh chính trị xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân, đảng của nó và nhân dân lao động không thể tiến tới giành chính quyền và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; không thể đấu tranh với các hệ tư tưởng và các hoạt động thù địch chống chủ nghĩa xã hội, chống nhân dân lao động.

    Thứ ba, chủ nghĩa xã hội khoa học có chức năng và nhiệm vụ định hướng về chính trị – xã hội cho mọi hoạt động của giai cấp công nhân, của đảng cộng sản, của nhà nước và của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực,

    sao cho sự ổn định và phát triển của xã hội luôn luôn đúng với bản chất, mục tiêu xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa; tức là qua từng nấc thang phát triển, tính chất xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thuộc mọi lĩnh

    vực của xã hội thể hiện ngày càng rõ hơn và hoàn thiện hơn.

    Chức năng và nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cơ Cấu, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Xã Hội Học
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Đảng
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Tổ Chức Bộ Máy Văn Phòng Đảng Ủy Khối
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Văn Phòng Đảng Ủy
  • Công Tác Đánh Giá Năng Lực Nhân Viên Tại Công Ty Vinamilk
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100