Chức Năng, Nhiệm Vụ Phòng Đối Ngoại

--- Bài mới hơn ---

  • 5 Nhiệm Vụ Công Tác Đối Ngoại Bảo Vệ Chủ Quyền Lãnh Thổ
  • Những Điểm Mới Và Những Nội Dung Cốt Lõi Của Đường Lối Đối Ngoại Trong Văn Kiện Đại Hội Xii Của Đảng
  • Đảng Bộ Cơ Quan Ban Đối Ngoại Trung Ương Phát Huy Vai Trò Của Tổ Chức Đảng Và Đảng Viên Trong Việc Thực Hiện Nhiệm Vụ Chính Trị Của Cơ Quan
  • Ban Đối Ngoại Trung Ương: 65 Năm Vững Bước, Trưởng Thành
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Cơ Cấu Tổ Chức Của Ban Tuyên Giáo Trung Ương
  • Ngoài các yếu tố về chất lượng sản phẩm, hay nguồn nhân lực thì các mối quan hệ hợp tác cũng góp phần quan trọng vào sự phát triển của doanh nghiệp. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thì việc đẩy mạnh các mối quan hệ đối ngoại lại càng được chú trọng hơn nữa. Lúc này vai trò của phòng đối ngoại đối với sự thành bại của doanh nghiệp lại càng rõ nét hơn.

    Trong bài viết này HRchannels sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về phòng đối ngoại và chức năng, nhiệm vụ của bộ phận này trong doanh nghiệp.

    Tầm quan trọng của phòng đối ngoại

    Chức năng, nhiệm vụ của phòng đối ngoại

    1. Gia tăng độ nhận diện thương hiệu, hình ảnh công ty với các đối tượng tiềm năng

    2. Quản lý mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các cơ quan truyền thông

    Mặc dù công chúng là đối tượng phòng đối ngoại cần hướng đến. Tuy nhiên để có thể tiếp cận với các đối tượng công chúng mục tiêu, phòng đối ngoại cần sự hỗ trợ của các cơ quan truyền thông. Bởi vì các cơ quan truyền thông có tác động rất lớn đến sự nhận thức của công chúng.

    Nhiệm vụ của phòng đối ngoại làm việc với các đơn vị cung cấp các dịch vụ, các cơ quan truyền thông. Chịu trách nhiệm tổ chức các sự kiện, các buổi phỏng vấn và các buổi gặp gỡ với giới truyền thông. Qua đó, xây dựng mối quan hệ đối ngoại và phát triển hình ảnh công ty trong mắt công chúng.

    Bên cạnh đó, phòng đối ngoại cũng là bộ phận liên hệ với các cơ quan truyền thông để triển khai các chương trình, chiến dịch nhằm quảng bá hình ảnh thương hiệu. Đồng thời phối hợp với cơ quan truyền thông trong việc xử lý khủng hoảng truyền thông.

    3. Thực hiện các hoạt động nhằm phát triển các mối quan hệ đối ngoại chiến lược cho công ty

    Trong doanh nghiệp, phòng đối ngoại là bộ phận có nhiệm vụ xây dựng các mối quan hệ chiến lược với các đối tượng bên ngoài. Đó có thể là khách hàng, đối tác, nhà đầu tư và các cơ quan truyền thông.

    4. Xây dựng và thực hiện các kế hoạch chiến lược nhằm phát triển các mối quan hệ với công chúng

    Mục tiêu của các hoạt động truyền thông và PR đều là tiếp cận với công chúng một cách hiệu quả. Trong vai trò của mình, phòng đối ngoại có nhiệm vụ tham gia vào các chương trình xây dựng thương hiệu, các hoạt động truyền thông và PR của doanh nghiệp.

    Phòng đối ngoại sẽ tiến hành việc khảo sát ý kiến, nghiên cứu thái độ của công chúng đối với các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, đối thủ cạnh tranh và độ nhận diện thương hiệu. Từ các kết quả phân tích nhận được, phòng đối ngoại sẽ xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch, dự tính kết quả, tính toán chi phí của mỗi chiến dịch truyền thông hay sự kiện. Bên cạnh đó, họ cũng theo dõi sát quá trình thực hiện kế hoạch, đảm bảo kế hoạch đạt hiệu quả tốt nhất và đúng tiến độ đã đặt ra.

    HRchannels – Great Solution. Great People!

    HRchannels – Dịch vụ tuyển dụng cao cấp

    Hotline: 08. 3636. 1080

    Email: [email protected] / [email protected]

    Website: www.hrchannels.com

    Địa chỉ: Tầng 10, CIT Building, Ngõ 15 Duy Tân – Cầu Giấy – Hà Nội

    Nguồn ảnh: internet

    --- Bài cũ hơn ---

  • 9 Dấu Ấn Đối Ngoại Việt Nam 2021
  • Kinh Tế Đối Ngoại Nước Ta Hiện Nay: Tình Hình Và Các Giải Pháp
  • Chức Năng Và Vai Trò Của Chính Sách Kinh Tế Đối Ngoại
  • Phân Tích Chức Năng Và Vai Trò Của Chính Sách Kinh Tế Đối Ngoại Đối Với Sự Phát Triển Của Một Quốc Gia
  • Kinh Tế Đối Ngoại Là Gì? Các Tiềm Năng Ngành Kinh Tế Đối Ngoại
  • Kinh Tế Đối Ngoại Là Gì? Các Tiềm Năng Ngành Kinh Tế Đối Ngoại

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Chức Năng Và Vai Trò Của Chính Sách Kinh Tế Đối Ngoại Đối Với Sự Phát Triển Của Một Quốc Gia
  • Chức Năng Và Vai Trò Của Chính Sách Kinh Tế Đối Ngoại
  • Kinh Tế Đối Ngoại Nước Ta Hiện Nay: Tình Hình Và Các Giải Pháp
  • 9 Dấu Ấn Đối Ngoại Việt Nam 2021
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Phòng Đối Ngoại
  • Trước khi trả lời câu hỏi trên thì các bạn cũng cần nắm được đối ngoại là gì, là có chức năng kinh tế, xây dựng cũng như củng cố được mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các nước với nhau, dựa theo nguyên tắc bình đẳng, win – win, đôi bên cùng có lợi và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

    Dó đó khái niệm kinh tế đối ngoại các bạn có thể hiểu đơn giản, là ngành học có sự nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề về mối quan hệ trao đổi, giao dịch ngoại thương giữa hai lãnh thổ, địa giới khác nhau trên toàn quốc. Ngoài ra thì có thể các bạn cũng đã biết.

    Và cũng không ít bạn đặt ra câu hỏi kinh tế đối ngoại tiếng Anh là gì?, thực tế thì các trường đại học kinh tế đối ngoại hay là cao đẳng kinh tế đối ngoại cũng có tên viết dưới dạng tiếng Anh và có sự xuất hiện của cụm từ “Foreign Economic relation”, đồng thời đó cũng chính là câu trả lời của câu hỏi trên.

    Đây cũng là một nội dung các bạn không thể bỏ qua khi đang tìm hiểu về ngành kinh tế đối ngoại, chính sách đối ngoại hay còn được gọi là chính sách ngoại giao. Là chiến lược do Nhà nước đưa ra nhằm bảo vệ lợi ích của quốc gia cùng với việc đạt được mục tiêu trên môi trường quan hệ quốc tế.

    Và những người nghiên cứu đưa ra các chính sách kinh tế đối ngoại sẽ là những nhà phân tích chính sách đối ngoại. Do mức độ toàn cầu hóa theo xu hướng những năm gần đây thì các hoạt động xuyên quốc gia ngày càng được mở rộng và có nhiều tương tác với các chủ thể phi quốc gia.

    Sự tương tác này cũng đánh giá cũng như giám sát những nỗ lực tối đa hóa lợi ích của ngoại giao kinh tế đa phương. Với mục tiêu là lợi ích quốc gia là tối quan trọng thì những chuyên gia quản lý Nhà nước về kinh tế đối ngoại cũng sẽ có các chính sách đối ngoại được Chính phủ thiết kế dựa trên quy trình ra quyết định cấp cao.

    Chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam nói riêng và của toàn thế giới nói chung thì tỉ lệ thay đổi cũng như phạm vi cũng sẽ khác nhau, cũng có thể sẽ bị tác động, ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau mà làm thay đổi được lợi ích quốc gia cùng với sự ổn định của chính quốc gia đó.

    2. Ngành kinh tế đối ngoại – nơi đào tạo những nhân tài

    Thực tế thì mỗi trường sẽ có những tổ hợp xét tuyển khác nhau, nên khá là khó nếu nêu ra được chi tiết hết. Tuy nhiên chúng tôi sẽ chia sẻ thông tin tại một số trường đại học kinh tế đối ngoại để các bạn nắm rõ được.

    * Đại học Ngoại thương Hà Nội: toán – lý – hóa, toán – văn -nhật; toán – văn – trung (D04); toán – văn – nga (D02); toán – văn – pháp (D03); toán – lý – anh, toán – văn – anh.

    * Đại học Kinh tế Tài chính thành phố Hồ Chí Minh: văn – sử – địa; toán – văn – anh; toán – lý – hóa; toán – lý – anh.

    * Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội: toán – văn – anh; toán – lý – anh.

    * Đại học kinh tế – luật thành phố Hồ Chí Minh: toán – văn – anh, toán – lý – anh, toán – lý – hóa.

    Ngoài ra cũng có một vài trường khác như: Đại học kinh tế đối ngoại tại tp HCM, Cao đẳng kinh tế đối ngoại tại tp HCM, Cao đẳng ngoại thương; Cao đẳng ngoại thương tphcm, CĐ kinh tế đối ngoại cũng có những tổ hợp môn để tuyển sinh riêng biệt, nhưng đa phần là các trường đều lựa chọn môn ngoại ngữ và toán. Tuy nhiên các tiêu chí tuyển sinh trường cao đẳng kinh tế đối ngoại thì sẽ thấp hơn so với hệ đại học, nên nếu bạn là người đam mê lĩnh vực này thì vẫn có cơ hội được tiếp cận nếu còn hạn chế về điểm số cũng như kiến thức.

    Hiện nay cũng không ít bạn khi tìm hiểu các thông tin về khái niệm kinh tế đối ngoại là gì có những suy nghĩ học trường cao đẳng kinh tế đối ngoại có tốt không? Hay Các ngành trường cao đẳng kinh tế đối ngoại có phong phú không? Chúng tôi cũng xin trả lời rằng các trường kinh tế đối ngoại dù là hệ cao đẳng hay đại học đều có chương trình đào tạo của ngành này được hướng đến những kiến thức chuyên sâu ngành nghề thông qua những môn học không thể bỏ qua như: Tài Chính quốc tế, vận tải và bảo hiểm, marketing quốc tế, pháp luật trong hoạt động kinh doanh quốc tế, hải quan, kế toán, chứng khoán, thương mại điện tử, thanh toán quốc tế…

    Chi tiết từng môn học thì sẽ được phụ thuộc và những chương trình học của thụ tại các trường cao đẳng – đại học kinh tế đối ngoại. Quan trọng là quá trình các bạn lĩnh hội kiến thức có đủ tốt, đủ sâu cùng với sự nghiêm túc với khoa kinh tế đối ngoại, thì câu hỏi trên có thể chỉ là thừa thãi.

    Thực tế thì hiện nay các trường đào tạo chuyên ngành kinh tế đối ngoại uy tín như Đại học – Cao đẳng Ngoại thương tp HCM, Đại học kinh tế – luật, Đại học kinh đối ngoại TP HCM, hay một số trường CD kinh tế đối ngoại uy tín khác như Cao đẳng kinh tế đối ngoại TP HCM … thì sẽ được tạo nhiều điều kiện một cách tối đa cũng như có nhiều cơ hội được lĩnh hội những kỹ năng nghiệp vụ đàm phán quốc tế, ngoại giao kinh tế, giao dịch thương mại, xây dựng, phát triển, phân tích quản trị dự án…

    Những yếu tố này chính là tiền đề, nền tảng đều giúp các bạn sinh viên sẽ tự tin hơn sau khi tốt nghiệp và dẹp bỏ được nỗi lo không cạnh tranh được thị trường việc làm hiện nay. Các ngành của trường cao đẳng kinh tế đối ngoại tphcm và trường kinh tế ngoại giao Việt Nam thì luôn được đề cao về vấn đề ngoại ngữ nhưng đặc biệt nhất vẫn là ngành kinh tế đối ngoại, các bạn sinh viên thường xuyên được học tập dưới sự giảng dạy của giáo viên nước ngoài.

    Chính vì vậy khi còn trên ghế nhà trường hãy cố học tập, rèn luyện những kỹ năng mềm một cách thành thạo cùng với trau dồi phản xạ giao tiếp ngoại ngữ để có thể đến gần hơn với

    Việc làm Thương mại điện tử

    3. Tình hình việc làm ngành kinh tế đối ngoại

    Dựa vào thống kê của trung tâm thông tin và dự báo kinh tế – xã hội quốc gia thì trong những năm tới ngành kinh tế đối ngoại sẽ trở thành một trong những việc làm có sự bùng nổ về nguồn việc làm. Thực tế thì đây cũng là ngành có nhiều lĩnh vực khác nhau để lựa chọn tại nhiều địa điểm làm việc, có khá là nhiều tin tức tuyển dụng trên chúng tôi Thậm chí cũng có nhiều trường cao đẳng kinh tế đối ngoại tuyển dụng các vị trí giảng viên dành cho ngành kinh tế. Như vậy cũng phần nào thấy được tiềm năng phát triển của ngành này.

    Và lúc này có lẽ các bạn cũng có thể tự tin trả lời câu hỏi Ngành kinh tế đối ngoại là gì? khi tham gia vào tham gia ứng tuyển những vị trí khác nhau tùy vào niềm đam mê cũng như điều kiện của các bạn đáp ứng được yêu cầu cũng như đòi hỏi của vị trí nào.

    Có thể nói hiện nay, vị trí việc làm này đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp, bởi vậy mà trên các trang mạng cùng với ban đối ngoại trung ương tuyển dụng cũng cập nhật thường xuyên các thông tin tìm kiếm ứng viên sáng giá.

    Tùy thuộc vào mục tiêu cũng như quy mô của từng doanh nghiệp mà chi tiết công việc này có nội dung khác nhau, nhưng có một vài nhiệm vụ chủ yếu thì các bạn có thể tham khảo được và tự tin trả lời câu hỏi ngành kinh tế đối ngoại làm gì:

    * Xây dựng, duy trì và phát triển những mối quan hệ tốt đẹp với các cơ quan chính quyền, đối tác, khách hàng…

    * Tổ chức thực hiện những buổi tiếp đón khách hàng của công ty.

    * Lập kế hoạch và theo dõi tiến độ hoàn thành công việc kinh doanh đối ngoại.

    * Phát triển thương hiệu, hình ảnh của công ty thông qua các hoạt động, sự kiện đối ngoại thường kỳ hoặc không thường kỳ khi được yêu cầu cũng như kế hoạch.

    * Trực tiếp báo cáo định kỳ hoặc theo yêu cầu về công tác quản lý, điều hành cũng như theo dõi quá trình hoạt động kinh doanh cho ban lãnh đạo của công ty.

    * Chủ động ưu tiên làm những hồ sơ Pháp lý dự án ở các Sở, Bộ, Ngành và Uỷ ban

    * Ngoài ra cũng báo cáo công việc và chịu trách nhiệm trực tiếp trước sự quản lý của trưởng phòng hoặc phó giám đốc.

    * Thực hiện một số nhiệm vụ phát sinh khác được phân công.

    Với những nội dung về nhiệm vụ của ngành kinh tế đối ngoại này thì các bạn cũng có thể thấy được nhà tuyển dụng sẽ có yêu cầu cũng như kỳ vọng khá cao đối với các ứng viên về các yếu tố như: tiếng Anh lưu loát đọc – nói – viết – nghe, khả năng giao tiếp, phản xạ nhanh, có kinh nghiệm làm việc thực tế sẽ được ưu tiên,…

    Đi cùng với sự hội nhập kinh tế đa quốc gia thì những ứng dụng công nghệ thông tin mạng cũng được phát triển hơn, các bạn cũng dễ dàng tìm được việc làm nhờ vào các phương tiện trực tuyến khác nhau. Và hiện nay, các website việc làm là cách được các bạn ứng viên được sử dụng nhiều bởi khả năng hiệu quả của các site này mang lại khi tim viec nhanh tai phu tho hay bất cứ tỉnh thành nào khác tại Việt Nam

    Tuy nhiên có không ít bạn vì tâm lý muốn tìm việc làm tại Trà Vinh, Hà Nội, Cần Thơ,…ngành kinh tế đối ngoại nhanh nên đã mắc phải những chiêu trò lừa đảo của kẻ xấu. Minh chứng là có không ít bạn đã “tiền mất tật mang”, vừa bị mất tiền đặt cọc vừa bị đánh cắp mất thông tin cá nhân tùy vào mục đích của từng đối tượng lừa đảo.

    Khi các bạn truy cập vào địa chỉ trên thì chỉ cần thao tác tìm kiếm Tây Ninh tuyển dụng kinh tế đối ngoại và đừng quên chọn tỉnh thành bạn đang muốn được làm việc. Sau khi thao tác xong thì màn hình sẽ hiện lên một danh sách các việc làm của ngành này để các bạn lựa chọn.

    Thêm vào đó các bạn có thể sử dụng thêm tính năng “so sánh lương” hoặc “tra cứu lương” để có thể thấy với những kinh nghiệm, kỹ năng chuyên môn bạn đang có phù hợp với nhà tuyển dụng nào và từ đó cũng dễ dàng đưa ra quyết định lựa chọn nơi để ứng tuyển.

    Như vậy bạn sẽ dễ dàng hơn trong quá trình tìm kiếm thông tin tuyển dụng và tự trả lời với bản thân câu hỏi “kinh tế đối ngoại là gì” và “học kinh tế đối ngoại ra làm gì?”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Phòng Hợp Tác Quốc Tế
  • Bod Là Gì? Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Bod
  • Việt Nam Và Liên Hợp Quốc: Một Ví Dụ Điển Hình Về Hợp Tác Phát Triển
  • Quyết Định 347/qđ.ub Năm 1988 Về Quy Định Tạm Thời Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quản Lý Về Mặt Nhà Nước Trên Lĩnh Vực Kinh Tế Đối Ngoại Do Tỉnh An Giang Ban Hành
  • Mô Tả Nhiệm Vụ, Chức Năng, Trách Nhiệm Của Giám Đốc Đối Ngoại
  • Đối Tượng, Nội Dung Và Chức Năng Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Tượng Của Văn Học
  • Đối Nội Là Gì? Những Chính Sách Đối Nội Hiện Nay Ở Việt Nam
  • Samsung Ra Mắt Đồng Hồ Thông Minh Galaxy Watch Active: Xu Hướng Thời Trang, Phong Cách Năng Động
  • Samsung Ra Mắt Đồng Hồ Thông Minh Galaxy Watch Active2 Tại Việt Nam: Khả Năng Theo Dõi Sức Khỏe Và Kết Nối Không Dây Vượt Trội
  • Đồng Hồ Thông Minh Samsung
  • 1. Đối tượng của văn học

    Văn học là nghệ thuật ngôn từ, là hình thức nghệ thuật sử dụng ngôn từ làm chất liệu. Văn học là một trong số các hình thái chiếm lĩnh thế giới bằng nghệ thuật.Văn học cũng như mọi loại hình nghệ thuật khác có đối tượng là thế giới con người, các quan hệ đa dạng của con người với thực tại.Nói cách khác, đối tượng của văn học là toàn bộ hiện thực khách quan trong mối liên hệ sinh động, muôn màu với cuộc sống con người. Hiện thực khách quan là cơ sở phản ánh, thể hiện của tác phẩm văn học, nhưng văn học chiếm lĩnh thế giới khách quan theo cách riêng của mình.

    2. Nội dung của văn học

    Từ sự ý thức về sự sống, văn học phản ánh cuộc sống trong tính toàn vẹn, cụ thể, cảm tính mà con người chủ thể là trung tâm. Văn học làm sống dậy những con người cá thể với những hành động, những quy tắc ứng xử do quan hệ của nhân vật và hoàn cảnh xung quanh hoặc thời đại lịch sử tạo nên. Văn học phản ánh hiện thực nhưng không sao chép giản đơn lại hiện thực đó.Những khoảng trống, những cuộc đời và số phận trong tác phẩm văn học đã được ý thức, lí giải theo nhiều góc độ, nhiều quan điểm khác nhau.Nội dung của văn học bao giờ cũng thể hiện những quan niệm, những của nhà văn về cuộc sống.

    Tóm lại, nội dung của văn học là cuộc sống được ý thức về mặt tư tưởng và giá trị, gắn liền với quan niệm về chân lí đời sống, với cảm hứng thẩm mĩ và thiên hướng đánh giá.

    3. Chức năng của văn học

    Văn học là “sách giáo khoa về cuộc sống”. Khổng Tử dạy ” Kinh thi có thể làm cho người ta phấn chấn, biết xem xét, biết hợp quần, biết oán giận”(Luận ngữ-Thiên Dương hoá). Nguyễn Đình Chiểu cũng viết ” Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà “. Những nhận định đó cho thấy tác dụng to lớn của văn học, trong đó tiêu biểu là ba chức năng nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ.

    a. Chức năng nhận thức

    Văn học phản ánh thế giới, giúp người đọc hiểu về cuộc sống muôn màu. Đó là những tri thức về thế giới loài vật, cây cỏ hoa lá, những tri thức về phong tục tập quán, về con người. Điều này lí giải tại sao chúng ta có thể tìm thấy những cứ liệu lịch sử, những tài liệu về xã hội học, dân tộc học trong các tác phẩm văn học. Ta có thể biết được tục ăn trầu, tục thách cưới, tục nối dây,…chính nhờ hàng loạt những tác phẩm thần thoại, cổ tích, sử thi được ghi chép, lưu truyền lại.

    Đặc điểm nhận thức của nghệ thuật gắn liền với bản thân đối tượng và yêu cầu nhận thức riêng của nó. Nghệ thuật hướng về hai đối tượng cơ bản xã hội và con người, nhưng không phải là ghi chép đời sống và mô tả con người mà là nghiên cứu đời sống xã hội và con người.Ở đây, văn học nghệ thuật đồng nghĩa với quá trình “hiểu biết, khám phá và sáng tạo” (Phạm Văn Đồng- dẫn theo Phương Lựu, sđd, trang 169). Khám phá thể hiện ở những khái quát mà nhà văn đạt tới và những vấn đề mà nhà văn nêu ra trong tác phẩm, thậm chí cả những dự báo về tương lai Văn học còn thể hiện chức năng nhận thức thông qua hoạt động tự nhận thức của chính nhà văn.Ý nghĩa nhận thức của nghệ thuật về con người còn thể hiện ở việc khám phá ra tính cách xã hội điển hình của một giai đoạn, một xã hội, một tầng lớp nào đó. Nó cũng thể hiện trong việc lí giải con người và đặc biệt là vào thế giới bên trong của con người, vào các quá trình tư duy và tình cảm của nó.

    b. Chức năng giáo dục

    Chức năng giáo dục có mối quan hệ chặt chẽ với chức năng nhận thức.Văn học có chức năng , cải tạo quan điểm, tư tưởng, đạo dức con người. Trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, chức năng giáo dục của văn học bộc lộ khác nhau. Ở ViệtNam, do đặc điểm lịch sử, văn học được sử dụng như một công cụ tuyên truyền giác ngô chính trị và động viên quần chúng, thực sự trở thành một phương tiện giáo dục có sức mạnh to lớn trong các cuộc đấu tranh giữ nước.

    Sự tác động của văn học nghệ thuật không phải là sự thuyết giáo suông, không phải là sự áp đặt mà đi theo một con đường đặc thù. Văn học thực hiện chức năng giáo dục thông qua việc đồng hành, đối thoại với bạn đọc, với khán giả. Đó chính là quá trình tự giáo dục bởi sự thay đổi trong bản thân mỗi người không còn chịu sự tác động từ bên ngoài mà diễn ra một cách tự giác.Có được sự tự giác ấy nhờ văn học có sự hấp dẫn đối với người đọc thông qua đặc trưng riêng về ngôn ngữ, nhân vật, chi tiết, cốt truyện. Sức tác động của văn học theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, mỗi ngày một ít, người đọc chịu sự ảnh hưởng, tự nguyện làm theo một mẫu nhân vật, một quan niệm, một triết lí sống mà không nghĩ rằng mình đã bị ép buộc.

    c. Chức năng thẩm mĩ

    Chức năng thẩm mĩ là chức năng đem lại sự hưởng thụ thẩm mĩ cho con người.Văn học có nhiệm vụ thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ, phát triển năng lực thẩm mĩ và thị hiếu thẩm mĩ của con người một cách toàn diện nhất với những thế mạnh riêng của nó.

    Văn học phản ánh cái đẹp vốn có trong thiên nhiên một cách chọn lọc, khái quát kĩ lưỡng làm nhân đôi giá trị của hiện thực.

    Văn học còn sáng tạo mới, vốn không có trong hiện thực.Tác phẩm chứa đựng cái nhìn mới của nhân vật về thế giới còn mang lại một vẻ đẹp mới của âm thanh, màu sắc, hình khối, ngôn ngữ.

    Tiếp xúc với tác phẩm văn học, được đắm mình trong cái đẹp, con người được bồi dưỡng về năng lực ra cái đẹp. Văn học góp phần bồi dưỡng cảm xúc, bồi dưỡng thị hiếu thẩm mĩ của con người, giúp con người biết cảm nhận vẻ đẹp trong tác phẩm, biết khám phá cái đẹp trong cuộc sống. Tác phẩm văn học còn nâng cao thị hiếu thẩm mĩ, giáo dục và những quan niệm và sở thích riêng của con người.

    Chức năng thẩm mĩ có vai trò rất lớn trong các chức năng của văn học nhưng không thể đề cao quá mức chức năng này bởi làm như thế sẽ sa vào quan niệm duy mĩ.

    * Mối quan hệ giữa ba chức năng

    Các chức năng của văn học không tồn tại tách rời mà có sự gắn bó một cách chặt chẽ, nhiều lúc sự phân định rạch ròi là khó có thể thực hiện được. Chức năng này có thể bao hàm một phần của chức năng kia, và do đó, thể hiện tốt chức năng này cũng đồng thời tạo điều kiện cho chức năng kia phát huy tác dụng.Ví dụ, chức năng nhận thức là cơ sở để chức năng giáo dục đạt hiệu quả. Nhận thức tốt thì giáo dục mới đạt hiểu quả cao. Giáo dục thẩm mĩ là một phần của chức năng giáo dục. Bởi một hình tượng văn học có giá trị thẩm mĩ cao sẽ đem lại hiệu quả giáo dục như mong muốn.

    Ngoài các chức năng cơ bản trên, người ta còn xác định thêm những chức năng khác của văn học: chức năng giao tiếp, chức năng giải trí, chức năng dự báo…

    Văn học có sức mạnh to lớn trong cải tạo xã hội, cải biến con người. Vì vậy văn học xứng đáng là một vũ khí đấu tranh giai cấp, đấu tranh xã hội. Mọi lực lượng xã hội đều sử dụng văn học như một vũ khí tuyên truyền hữu hiệu cho giai cấp mình. Vì thế, việc chọn lựa sách, hướng dẫn học sinh tiểu học đọc những tác phẩm văn học có tác dụng tốt về nhận thức, về đạo đức và thẩm mĩ có trách nhiệm lớn của giáo viên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đối Tượng, Nội Dung Và Chức Năng Của Văn Học. Le Thao Van Hoc Pptx
  • Bắt Giữ 3 Đối Tượng Theo Tà Đạo Hà Mòn Lẩn Trốn 8 Năm Trong Rừng
  • Đại Tá Võ Tấn Phong Tiếp Tục Làm Bí Thư Đảng Ủy Phòng An Ninh Đối Nội
  • Đảng Bộ Phòng An Ninh Đối Nội Tổ Chức Đại Hội Nhiệm Kỳ 2021
  • Phòng An Ninh Đối Nội: Hỗ Trợ Các Địa Phương Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Chức Năng Và Vai Trò Của Chính Sách Kinh Tế Đối Ngoại

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Tế Đối Ngoại Nước Ta Hiện Nay: Tình Hình Và Các Giải Pháp
  • 9 Dấu Ấn Đối Ngoại Việt Nam 2021
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Phòng Đối Ngoại
  • 5 Nhiệm Vụ Công Tác Đối Ngoại Bảo Vệ Chủ Quyền Lãnh Thổ
  • Những Điểm Mới Và Những Nội Dung Cốt Lõi Của Đường Lối Đối Ngoại Trong Văn Kiện Đại Hội Xii Của Đảng
  • Chức năng và vai trò của chính sách kinh tế đối ngoại Chức năng của chính sách kinh tế đối ngoại:

    Chính sách kinh tế đối ngoại của một quốc gia có 3 chức năng: chức năng kích thích, chức năng bảo hộ và chức năng phối hợp.

    Chức năng kích thích: với chức năng này chính sách kinh tế đối ngoại tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường ra nước ngoài, tham gia chủ động và mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế và mậu dịch quốc tế, khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước, thu hút ngày càng nhiều các nguồn lực từ bên ngoài như vốn, công nghệ và trình độ quản lý tiên tiến nhằm phát triển kinh tế quốc dân.

    – Chức năng bảo hộ: Với chức năng này, chính sách kinh tế đối ngoại tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có khả năng đứng vững và vươn lên trong các hoạt động kinh doanh quốc tế, tăng cường sức cạnh tranh với các hàng hóa và dịch vụ từ bên ngoài, tạo thêm việc làm và đạt tới quy mô tối ưu cho các ngành kinh tế, đáp ứng cho yêu cầu tăng cường lợi ích quốc gia

    – Chức năng phối hợp và điều chỉnh: Với chức năng này chính sách kinh tế đối ngoại tạo điều kiện cho nền kinh tế trong nước thích ứng với sự biến đổi và vận động mạnh mẽ của nên kinh tế thế giới, tham gia tích cực vào quá trình khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, thiết lập cơ chế điều chỉnh thích hợp trong điều kiện tỷ giá hối đoái thường xuyên thay đổi, tác động vào cán cân thanh toán quốc tế theo chiều hướng có lợi cho mỗi quốc gia.

    Vai trò:

    Với những chức năng trên, chính sách kinh tế đối ngoại có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia:

    • Chính sách kinh tế đối ngoại tạo cơ hội cho các việc phân phối hợp lý các nguồn lực trong nước và thu hút nguông lực ngoài nước vào việc phát triển các ngành và các lĩnh vực có hiệu quả cao của nền kinh tế quốc dân, khắc phục tình trạng thiếu các nguồn lực cho sự phát triển như nguồn vốn, nguồn công nghệ, sức lao động có trình độ cao và sự hạn hẹp của thị trường nội địa, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước vươn ra thị trường thế giới.
    • Chính sách kinh tế đối ngoại tạo khả năng cho việc phát triển phân công lao động quốc tế giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp ngoài nước, bảo đảm đầu vào và đầu ra cho nền kinh tế cho nền kinh tế trong nước một cách ổn định và phù hợp với tố độ phát triển cao của những thập kỷ gần đây, tạo thuận lợi cho việc hình thành các tập đoàn kinh doanh tầm cỡ đa quốc gia. Hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
    • Chính sách kinh tế đối ngoại phục vụ cho việc xây dựng các ngành công nghiệp mới có trình độ công nghiệp cao, phát triển các hình thức kinh doanh đa dạng và phong phú, tạo lập các khu vực có hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân, góp phần tăng nhanh GDP cũng như tăng nhanh tích lũy và tiêu dùng.
    • Chính sách kinh tế đối ngoại góp phần vào việc tăng cường sức mạnh và tiềm lực quốc phòng an ninh, phát triển quan hệ cả về kinh tế cũng như về chính trị, ngoại giao, văn hóa, khoa học công nghệ giữa các quốc gia và các đân tộc trên cơ sở độc lập, bình đẳng, giữ vững chủ quyền và các bên cùng có lợi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Chức Năng Và Vai Trò Của Chính Sách Kinh Tế Đối Ngoại Đối Với Sự Phát Triển Của Một Quốc Gia
  • Kinh Tế Đối Ngoại Là Gì? Các Tiềm Năng Ngành Kinh Tế Đối Ngoại
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Phòng Hợp Tác Quốc Tế
  • Bod Là Gì? Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Bod
  • Việt Nam Và Liên Hợp Quốc: Một Ví Dụ Điển Hình Về Hợp Tác Phát Triển
  • Đối Tượng, Nội Dung Và Chức Năng Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Và Phát Triển Nhân Cách
  • Giáo Dục Và Sự Phát Triển Nhân Cách
  • Bài 4: Sự Hình Thành Và Phát Triển Nhân Cách
  • Nhân Cách Và Giáo Dục Văn Hóa Nhân Cách
  • Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Là Gì? Gồm Những Gì? Dạy Cái Gì?
  • BÀI BÁO CÁO MÔN VĂN HỌC

    NHÓM 1

    DANH SÁCH NHÓM:

    1.TĂNG THỊ PHƯƠNG

    2. LÊ THỊ THẢO

    3. ĐỒNG THỊ DUNG

    4. CAM THỊ NHẤT

    5. NGÔ THỊ YẾN

    6. VI THỊ THU TRANG 7. VŨ THỊ UYÊN

    8. NGUYỄN THỊ NGỌC

    9. TRẦN NGỌC LAN.

    CHỦ ĐỀ 2:

    LÍ LUẬN VĂN HỌC

    I.ĐỐI TƯỢNG, NÔI DUNG VÀ CHỨC NĂNG CỦA VĂN HỌC.

    1. ĐỐI TƯỢNG

    2. NÔI DUNG

    3. CHỨC NĂNG.

    1. ĐỐI TƯỢNG CỦA VĂN HỌC:

    -Văn học là nghệ thuật ngôn từ, là hình thức nghệ thuật sử dụng ngôn từ làm chất liệu. Văn học là một trong số các hình thái chiếm lĩnh thế giới bằng nghệ thuật.

    -Văn học cũng như mọi loại hình nghệ thuật khác có đối tượng là thế giới con người, các quan hệ đa dạng của con người với thực tại.

    -Đối tượng của văn học là toàn bộ hiện thực khách quan trong mối liên hệ sinh động, muôn màu với cuộc sống con người.

    2.NÔI DUNG CỦA VĂN HỌC:

    -Nội dung của văn học không đồng nhất với đối tượng của văn học. Nội dung là đối tượng được ý thức, được tái hiện có chọn lọc, khái quát, đánh giá phù hợp với một tư tưởng về đời sống, một lí tưởng, niềm tin nhất định đối với cuộc đời. Đối tượng của văn học tồn tại trong cuộc sống, còn nội dung của văn học thì tồn tại trong tác phẩm.

    -Nội dung văn học tương đồng với đối tượng của nó (tính cách con người,các ý nghĩa đời sống, các kinh nghiệm quan hệ) nhưng là một chất lượng khác. Những gì đến được với ngòi bút nghệ sĩ đều phải trải qua dằn vặt, trăn trở, đớn đau hay rung động mãnh liệt. Người xưa nói: “Viết như máu chảy đầu ngọn bút” là vì vậy. Điển hình như Nguyễn Du phải trải qua “đau đớn” mới viết được Truyện Kiều …

    Đại Thi Hào Nguyễn Du và tác phẩm “Truyện Kiều”

    Tóm lại, nội dung của văn học là cuộc sống được ý thức về mặt tư tưởng và giá trị, gắn liền với một quan niệm về chân lí đời sống, với cảm hứng thẩm mĩ và thiên hướng đánh giá. Nhận thức nội dung của văn học, ý thức được những ưu thế riêng của văn học, cho phép nó có thể đáp ứng những nhu cầu xã hội phổ biến mà các hình thái ý thức xã hội khác không đáp ứng được.

    3. CHỨC NĂNG CỦA VĂN HỌC:

    *Khái niệm:

    – Văn học (nghĩa rộng): là tên gọi chung mọi tác phẩm bằng ngôn ngữ nói hay viết.

    – Văn học (nghĩa hẹp): là văn học nghệ thuật, tức các sáng tác ngôn từ, tưởng tượng, biểu hiện tình cảm con người như thơ, tiểu thuyết, tản văn, kịch…

    CHỨC NĂNG CỦA VĂN HỌC:

    – Chức năng nhận thức

    – Chức năng giáo dục

    – Chức năng thẩm mĩ

    – Chức năng giao tiếp

    – Chức năng giải trí.

    Chức năng nhận thức của văn học:

    – Văn học cung cấp tri thức bách khoa về hiện thực đời sống:

    Văn học cung cấp tri thức, mang đến sự hiểu biết cho con người. Nhưng văn học không như các môn khoa học khác, nhận thức hiện thực theo kiểu phân môn mà phản ánh cuộc sống trong toàn bộ tính toàn vẹn của nó.

    Ví dụ: Khi đọc tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu kí” của nhà văn Tô Hoài, người đọc tìm hiểu thêm nhiều chi tiết lí thú từ hình dáng đến tập tính sống của loài dế mèn, dế trũi, hay bọ ngựa… Thế giới loài vật trở nên sống động và gần gũi hơn trong mắt người đọc.

    Nhà văn Tô Hoài với tác phẩm “Dế Mèn Phiêu lưu kí”

    – Văn học là cái kho chứa khổng lồ những tri thức về đời sống xã hội. Văn học dễ dàng tái hiện lại quá khứ, chứa đựng cả những sự kiện lịch sử, cung cấp những tri thức có giá trị về lịch sử, kinh tế, quân sự, văn hóa,…

    Ví dụ: Các tiểu thuyết lịch sử như “Tam Quốc Diễn Nghĩa” của La Quán Trung hay “Hoàng Lê Nhất Thống Chí” của Ngô Gia Văn Phái đã đưa ta về với lịch sử, với quá khứ xa xăm của dân tộc.

    “Chí Phèo” của Nam Cao, “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố…phản ánh quá trình phá sản, bần cùng hóa của người nông dân đang diễn ra một cách khốc liệt.

    – Văn học còn giúp ta tìm hiểu thân phận của con người, khám phá các tinhs cách xã hội của một giai đoạn, một xã hội, một tầng lớp, một giai cấp…

    “Truyện Kiều” cũng dựng lại một xã hội nhơ bẩn, xem đồng tiền hơn cả con người, lấy sự vạn năng của đồng tiền để xoay chuyển cả thế gian vùi dập con người…

    – Văn học giúp con người tự nhận thức chính mình và cuộc sống.

    Bằng các hình tượng nghệ thuật, văn học giúp ta nhận thức được các giá trị tinh thần kết tinh trong thế giới đối tượng, khơi gợi khả năng biến quá trình nhận thức thế giới khách quan thành quá trình tự nhận thức về bản thân.

    – Văn học còn giúp con người tự nhận thức về mình.

    – Văn học giúp ta hiểu được giá trị của mình, biết mình phải làm gì và có thể làm gì cho cuộc sống chung khi cùng hòa mình vào công tác khôi phục đất nước sau chiến tranh, khí thế hừng hực lẫn tinh thần kiên cường biến chiến trường xưa thành một nông trường xanh tươi trong “Mùa lạc” của Nguyễn Khải, dòng thơ rỉ máu cua Hàn Mạc Tử…

    Một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu:

    Chân dung các nhà văn tiêu biểu

    Nhà văn Nguyễn Khải Nhà văn Nam Cao Nhà văn Ngô Tất Tố

    b. Chức năng giáo dục của văn học:

    – Văn học khơi gợi tư tưởng, tình cảm, nuôi dưỡng tâm hồn, niềm tin cho con người.

    -Văn học có khả năng hướng thiện, hướng con người đến cái thiện thông qua hình thành quan điểm đạo đức, khơi gợi tình cảm đạo đức cho con người. Từ hình tượng Lạc Long Quân và Âu Cơ trong truyền thuyết, đến cô Tấm, Thạch Sanh trong cổ tích, hình tượng Thúy Kiều, Nguyệt Nga, Lục Vân Tiên trong truyện thơ Nôm cho đến hình tượng mẹ Tơm, mẹ Suốt, anh hùng Núp trong văn thơ hiện đại đã ít nhiều ảnh hưởng mạnh mẽ đến quan niệm đạo đức của lớp lớp thế hệ người Việt Nam.

    – Văn học là nơi nuôi dưỡng tình cảm nhân ái:

    Những tác phẩm văn học ưu tú lioon khơi dậy trong tâm hồn ta khả năng đồng cảm, làm cho ta biết vui, biết buồn, dạy cho ta biết yêu, biết ghét, biết khinh bỉ sự phản trắc, cái tẹp nhẹp, tầm thường, lười biếng. Văn học khơi dậy ở ta niềm tin vào sự tất thắng của cái thiện, niềm tin vào cuộc sống…

    – Văn học biến sự giáo dục thành khả năng tự giáo dục, giúp con người tự hoàn thiện nhân cách. Nhân cách của con người được hình thành một cách trọn vẹn thông qua văn học. Các hình tượng văn học đã được nhà văn cẩn thận chọn lọc và gây được xúc cảm tự nhiên trong lòng người đọc. Ta kinh ghét Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến vì ta nhận ra được bộ mặt thật của chúng qua các động tác thoáng qua: “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng” hay “Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào”. Nhờ sự yêu, ghét hay thương cảm

    cho các nhân vật mà từ đó, nhân cách dần được hình thành trong người đọc một cách tự giác, dần biến tư tưởng, tình cảm thoangs qua ấy thành nhận thức của người đọc.

    Một đặc điểm khiến văn học dễ dàng đảm nhiệm chức năng giáo dục đó chính là tính cuốn hút của nó. Tác phẩm văn học hiện ra không phải như người thấy thuyết giáo mà như người đồng hành, người đối thoại với bạn đọc, với khán giả. Những chân lý, luân lý, đạo đức, tư tưởng, tình cảm mà văn học mang lại không khô khan trừu tượng như triết học hay khoa học mà rất sống động mà giàu hình ảnh, và được người đọc cảm thụ một cách thích thú.

    c. Chức năng thẩm mĩ:

    -Văn học mang lại sự hưởng thụ lành mạnh, bổ ích cho tâm hồn. Đi vào thế giới của văn học, người đọc chia sẻ buồn vui, sướng khổ với nhân vật. Yêu kẻ này, ghét kẻ kia hoàn toàn không dính dáng đến lợi ích vật chất người nào ngoài đời. Những giờ phút sống với tác phẩm là những giờ phút tâm hồn trong sáng, thanh thản nhất. Do đó văn học đem đến cho con người một niềm vui tinh thần hoàn toàn vô tư nhưng không bàng quan, vô trách nhiệm.

    -Văn học còn làm thỏa mãn thị hiếu thẩm mĩ của người đọc bằng vẻ đẹp ngôn từ, vần điệu, bằng kết cấu khéo léo, lôi cuốn của từng tác phẩm. Nó làm cho tâm hồn chúng ta rung động trước những hình tượng nhân vật điển hình, trước cách cảm, cách nghĩ của nhà văn chân chính là người có tâm hồn chân thành của mình để soi sáng những cảnh đời tối tăm, vỗ về người đau khổ, lên tiếng vạch trần cái xấu, cái ác, ca ngợi phẩm chất cao đẹp…

    d. Chức năng giải trí:

    -Các tác phẩm lành mạnh, có giá trị nội dung và nghệ thuật cao sẽ đem lại sự thư giãn cho con người sau những giờ làm việc căng thẳng, góp phần tái tạo sức khỏe và duy trì niềm vui, niềm tin trong cuộc sống. Thực tế cho thấy không it người có thói quen tốt là đọc sách và coi sách là món ăn tinh thần không thể thiếu hàng ngày.

    -Các chức năng văn học nêu trên luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Ngay trong chức năng nhận thức đã có tính giáo dục. Muốn cho hiệu quả nhận thức cao nhất thì cần phải thông qua đặc trưng thẩm mĩ. Ngược lại, chức năng thẩm mĩ không đơn thuần mang ý nghĩa duy mĩ mà phải phục vụ cho việc thể hiện tốt hai chức năng nhận thức và giáo dục. Tất cả các chức năng ấy tạo thành tác dụng to lớn của văn học trong việc không ngừng hoàn thiện phẩm chất cao quý của con người.

    Bài làm của nhóm em còn nhiều thiếu sót. Mong cô và các bạn nhận xét, đóng góp ý kiến cho bài làm của nhóm em được hoàn thiện hơn!

    --- Bài cũ hơn ---

  • De Thi 484 Cau Trac Nghiem Co So Van Hoa Viet Nam (Moi Nhat)
  • Chức Năng Nhiệm Vụ Của Phòng Giáo Dục Tiểu Học
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Vụ Giáo Dục Tiểu Học
  • Tiêu Chuẩn Đánh Giá Đảm Bảo Cl Về Thực Hiện Chức Năng Của Csgd
  • Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Sở Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Mô Tả Nhiệm Vụ, Chức Năng, Trách Nhiệm Của Giám Đốc Đối Ngoại

    --- Bài mới hơn ---

  • Quyết Định 347/qđ.ub Năm 1988 Về Quy Định Tạm Thời Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quản Lý Về Mặt Nhà Nước Trên Lĩnh Vực Kinh Tế Đối Ngoại Do Tỉnh An Giang Ban Hành
  • Việt Nam Và Liên Hợp Quốc: Một Ví Dụ Điển Hình Về Hợp Tác Phát Triển
  • Bod Là Gì? Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Bod
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Phòng Hợp Tác Quốc Tế
  • Kinh Tế Đối Ngoại Là Gì? Các Tiềm Năng Ngành Kinh Tế Đối Ngoại
  • 1. Vai trò của Giám đốc đối ngoại

    2. Nhiệm vụ của Giám đốc đối ngoại

    Giám đốc đối ngoại thực hiện công tác phối hợp xây dựng, quản lý và định hướng hoạt động PR của công ty, triển khai, giám sát chiến lược quảng bá thương hiệu qua các kênh truyền thông, thúc đẩy hình ảnh của công ty.

    Ngoài quản lý, phát triển các hoạt động truyền thông, quảng bá sản phẩm của công ty, Giám đốc đối ngoại còn làm nhiệm vụ tạo dựng mối quan hệ với các cơ quan, ban ngành với mục đích nâng cao hình ảnh, thương hiệu doanh nghiệp.

    Đảm bảo sự sáng tạo, hiệu quả trong hoạt động PR, tác động tích cực đến sự đánh giá của đối tác, khách hàng. Đồng thời kiểm soát, tham gia vào quá trình thực hiện, chất lượng công việc tốt nhất.

    3. Chức năng của Giám đốc đối ngoại trong doanh nghiệp

    Giám đốc đối ngoại có chức năng thực hiện các công tác quan hệ chiến lược cho đơn vị, là cầu nối giữa doanh nghiệp và khách hàng. Xây dựng mối quan hệ với các phương tiện truyền thông quan trọng, đồng thời cũng là phát ngôn viên, đại diện cho công ty phát biểu, giải thích và truyền đạt sự kiện trước đối tác, truyền thông.

    4. Yếu tố để trở thành Giám đốc đối ngoại

    Muốn trở thành Giám đốc đối ngoại, lãnh đạo một bộ phận nhân sự cấp dưới và đóng vị trí quan trọng trong ban giám đốc của doanh nghiệp thì cần rất nhiều yếu tố khác nhau.

    Thứ nhất là chuyên môn, Giám đốc đối ngoại cần có bằng cử nhân trở lên về lĩnh vực kinh tế/Marketing, MBA chuyên ngành quản trị kinh doanh/marketing/luật/ngoại giao. Có kiến thức chuyên môn sâu rộng.

    Thứ hai là kinh nghiệm làm việc lâu năm, không chỉ Giám đốc đối ngoại mà tuyển dụng nhân sự cấp cao cho ban giám đốc đều yêu cầu kinh nghiệm tối thiểu 3 năm cho vị trí quản lý, chức vụ tương đương.

    Thứ ba là khả năng quản lý tốt, phân tích, lập kế hoạch, chiến lược, kỹ năng xử lý truyền thông chuyên nghiệp, xây dựng được mối quan hệ rộng với các cơ quan, ban ngành,…

    Tiếp đến là các kỹ năng mềm giúp ích cho công việc và không thể thiếu như kỹ năng giao tiếp, thuyết trình, đàm phán,… Ngoài ra còn phải thành thạo máy tính, ngoại ngữ, các phần mềm quản lý, văn phòng.

    5. HRchannels – Dịch vụ tuyển dụng nhân sự cấp cao uy tín, hiệu quả và tiết kiệm chi phí

    Ở phương diện là ứng viên có nhu cầu làm việc Giám đốc đối ngoại, bạn có thể liên lạc với chúng tôi để tìm được công ty, tập đoàn lớn trong và ngoài nước một cách hiệu quả và nhanh chóng nhất. Với hơn 10 năm kinh nghiệm, xây dựng được đội ngũ tuyển dụng chất lượng, HRchannels tự tin đáp ứng các đòi hỏi của bạn, mang đến sự hài lòng tốt nhất cho khách hàng.

    Còn nếu bạn là doanh nghiệp đang cần tuyển nhân sự cho chức vụ này thì cũng đừng chần chừ và hãy đồng hành cùng chúng tôi, công ty của bạn sẽ có được giải pháp tối ưu, tiết kiệm được chi phí, thời gian tuyển dụng mà lại có được giám đốc đối ngoại xuất sắc.

    Website: http://hrchannels.com

    Hanoi Office 1: Floor 10, CIT Building, 15 Duy Tan str, Cau Giay, Hanoi

    Hanoi Office 2: B1 Villa – Vinhomes Botanica, Ham Nghi str, Nam Tu Liem, Hanoi

    Hai Phong Office: 108 Lach Tray Str, Ngo Quyen, HaiPhong

    HCM Office: Floor 9, Vietcomreal Building, 68 Nguyen Hue Str, District 1, HCMC

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ban Liên Lạc Đối Ngoại Uỷ Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc
  • Ban Đối Ngoại Trung Ương
  • Tham Mưu An Ninh Đối Ngoại Trong Thời Kỳ Hội Nhập
  • Cục Đối Ngoại Bộ Công An Triển Khai Công Tác Năm 2021
  • Công An Hà Nội Bổ Nhiệm 10 Trưởng Phòng
  • Đối Tượng, Nội Dung Và Chức Năng Của Văn Học. Le Thao

    --- Bài mới hơn ---

  • Trao Quyết Định Bổ Nhiệm Chức Danh Trưởng Phòng Giáo Dục Và Đào Tạo Huyện Cô Tô
  • Trả Lời “vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học Là Gì?”
  • Kiểm Tra Và Đánh Giá Gdbvmt Môn Vật Lý
  • Đối Tượng, Phương Pháp Và Chức Năng Của Kinh Tế Chính Trị Mác
  • Nêu Một Ví Dụ Về Ý Nghĩa Của Sự Phát Triển Kinh Tế Đối Với Cá Nhân, Gia Đình Và Xã Hội.
  • BÀI BÁO CÁO MÔN VĂN HỌC

    NHÓM 1

    DANH SÁCH NHÓM:

    1.TĂNG THỊ PHƯƠNG

    2. LÊ THỊ THẢO

    3. ĐỒNG THỊ DUNG

    4. CAM THỊ NHẤT

    5. NGÔ THỊ YẾN

    6. VI THỊ THU TRANG 7. VŨ THỊ UYÊN

    8. NGUYỄN THỊ NGỌC

    9. TRẦN NGỌC LAN.

    SƠ ĐỒ TÓM TẮT TIỂU CHỦ ĐỀ: ĐT, ND và CN của VH.

    ĐỐI TƯỢNG

    Văn học là nghệ thuật ngôn từ, là hình thức sử dụng từ ngữ làm chất liệu…

    Văn học có đối tượng là thế giới con người và các mối quan hệ đa dang của con người với thực tại.

    Đối tượng của văn học là toàn bộ hiện thực khách quan cuộc sống con người.

    NỘI DUNG

    Nội dung của văn học không đồng nhất với đối tượng của văn học:

    Nội dung văn học tương đồng với đối tượng của nó

    Nội dung của văn học là cuộc sống được ý thức về mặt tư tưởng, tình cảm và giá trị, gắn liền với một quan niệm về chân lí đời sống, cảm hứng thẩm mĩ và thiên hướng đánh giá

    CHỨC NĂNG

    Nhận thức

    Giáo dục

    Thẩm mĩ

    Giao tiếp

    Giải trí

    CHỦ ĐỀ 2:

    LÍ LUẬN VĂN HỌC

    I.ĐỐI TƯỢNG, NÔI DUNG VÀ CHỨC NĂNG CỦA VĂN HỌC.

    1. ĐỐI TƯỢNG

    2. NÔI DUNG

    3. CHỨC NĂNG.

    1. ĐỐI TƯỢNG CỦA VĂN HỌC:

    -Văn học là nghệ thuật ngôn từ, là hình thức nghệ thuật sử dụng ngôn từ làm chất liệu. Văn học là một trong số các hình thái chiếm lĩnh thế giới bằng nghệ thuật.

    -Văn học cũng như mọi loại hình nghệ thuật khác có đối tượng là thế giới con người, các quan hệ đa dạng của con người với thực tại.

    -Đối tượng của văn học là toàn bộ hiện thực khách quan trong mối liên hệ sinh động, muôn màu với cuộc sống con người.

    2.NÔI DUNG CỦA VĂN HỌC:

    -Nội dung của văn học không đồng nhất với đối tượng của văn học. Nội dung là đối tượng được ý thức, được tái hiện có chọn lọc, khái quát, đánh giá phù hợp với một tư tưởng về đời sống, một lí tưởng, niềm tin nhất định đối với cuộc đời. Đối tượng của văn học tồn tại trong cuộc sống, còn nội dung của văn học thì tồn tại trong tác phẩm.

    -Nội dung văn học tương đồng với đối tượng của nó (tính cách con người,các ý nghĩa đời sống, các kinh nghiệm quan hệ) nhưng là một chất lượng khác. Những gì đến được với ngòi bút nghệ sĩ đều phải trải qua dằn vặt, trăn trở, đớn đau hay rung động mãnh liệt. Người xưa nói: “Viết như máu chảy đầu ngọn bút” là vì vậy. Điển hình như Nguyễn Du phải trải qua “đau đớn” mới viết được Truyện Kiều …

    Đại Thi Hào Nguyễn Du và tác phẩm “Truyện Kiều”

    Tóm lại, nội dung của văn học là cuộc sống được ý thức về mặt tư tưởng và giá trị, gắn liền với một quan niệm về chân lí đời sống, với cảm hứng thẩm mĩ và thiên hướng đánh giá. Nhận thức nội dung của văn học, ý thức được những ưu thế riêng của văn học, cho phép nó có thể đáp ứng những nhu cầu xã hội phổ biến mà các hình thái ý thức xã hội khác không đáp ứng được.

    3. CHỨC NĂNG CỦA VĂN HỌC:

    *Khái niệm:

    – Văn học (nghĩa rộng): là tên gọi chung mọi tác phẩm bằng ngôn ngữ nói hay viết.

    – Văn học (nghĩa hẹp): là văn học nghệ thuật, tức các sáng tác ngôn từ, tưởng tượng, biểu hiện tình cảm con người như thơ, tiểu thuyết, tản văn, kịch…

    CHỨC NĂNG CỦA VĂN HỌC:

    – Chức năng nhận thức

    – Chức năng giáo dục

    – Chức năng thẩm mĩ

    – Chức năng giao tiếp

    – Chức năng giải trí.

    Chức năng nhận thức của văn học:

    – Văn học cung cấp tri thức bách khoa về hiện thực đời sống:

    Văn học cung cấp tri thức, mang đến sự hiểu biết cho con người. Nhưng văn học không như các môn khoa học khác, nhận thức hiện thực theo kiểu phân môn mà phản ánh cuộc sống trong toàn bộ tính toàn vẹn của nó.

    Ví dụ: Khi đọc tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu kí” của nhà văn Tô Hoài, người đọc tìm hiểu thêm nhiều chi tiết lí thú từ hình dáng đến tập tính sống của loài dế mèn, dế trũi, hay bọ ngựa… Thế giới loài vật trở nên sống động và gần gũi hơn trong mắt người đọc.

    Nhà văn Tô Hoài với tác phẩm “Dế Mèn Phiêu lưu kí”

    – Văn học là cái kho chứa khổng lồ những tri thức về đời sống xã hội. Văn học dễ dàng tái hiện lại quá khứ, chứa đựng cả những sự kiện lịch sử, cung cấp những tri thức có giá trị về lịch sử, kinh tế, quân sự, văn hóa,…

    Ví dụ: Các tiểu thuyết lịch sử như “Tam Quốc Diễn Nghĩa” của La Quán Trung hay “Hoàng Lê Nhất Thống Chí” của Ngô Gia Văn Phái đã đưa ta về với lịch sử, với quá khứ xa xăm của dân tộc.

    “Chí Phèo” của Nam Cao, “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố…phản ánh quá trình phá sản, bần cùng hóa của người nông dân đang diễn ra một cách khốc liệt.

    – Văn học còn giúp ta tìm hiểu thân phận của con người, khám phá các tinhs cách xã hội của một giai đoạn, một xã hội, một tầng lớp, một giai cấp…

    “Truyện Kiều” cũng dựng lại một xã hội nhơ bẩn, xem đồng tiền hơn cả con người, lấy sự vạn năng của đồng tiền để xoay chuyển cả thế gian vùi dập con người…

    – Văn học giúp con người tự nhận thức chính mình và cuộc sống.

    Bằng các hình tượng nghệ thuật, văn học giúp ta nhận thức được các giá trị tinh thần kết tinh trong thế giới đối tượng, khơi gợi khả năng biến quá trình nhận thức thế giới khách quan thành quá trình tự nhận thức về bản thân.

    – Văn học còn giúp con người tự nhận thức về mình.

    – Văn học giúp ta hiểu được giá trị của mình, biết mình phải làm gì và có thể làm gì cho cuộc sống chung khi cùng hòa mình vào công tác khôi phục đất nước sau chiến tranh, khí thế hừng hực lẫn tinh thần kiên cường biến chiến trường xưa thành một nông trường xanh tươi trong “Mùa lạc” của Nguyễn Khải, dòng thơ rỉ máu cua Hàn Mạc Tử…

    Một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu:

    Chân dung các nhà văn tiêu biểu

    Nhà văn Nguyễn Khải Nhà văn Nam Cao Nhà văn Ngô Tất Tố

    b. Chức năng giáo dục của văn học:

    – Văn học khơi gợi tư tưởng, tình cảm, nuôi dưỡng tâm hồn, niềm tin cho con người.

    -Văn học có khả năng hướng thiện, hướng con người đến cái thiện thông qua hình thành quan điểm đạo đức, khơi gợi tình cảm đạo đức cho con người. Từ hình tượng Lạc Long Quân và Âu Cơ trong truyền thuyết, đến cô Tấm, Thạch Sanh trong cổ tích, hình tượng Thúy Kiều, Nguyệt Nga, Lục Vân Tiên trong truyện thơ Nôm cho đến hình tượng mẹ Tơm, mẹ Suốt, anh hùng Núp trong văn thơ hiện đại đã ít nhiều ảnh hưởng mạnh mẽ đến quan niệm đạo đức của lớp lớp thế hệ người Việt Nam.

    – Văn học là nơi nuôi dưỡng tình cảm nhân ái:

    Những tác phẩm văn học ưu tú luôn khơi dậy trong tâm hồn ta khả năng đồng cảm, làm cho ta biết vui, biết buồn, dạy cho ta biết yêu, biết ghét, biết khinh bỉ sự phản trắc, cái tẹp nhẹp, tầm thường, lười biếng. Văn học khơi dậy ở ta niềm tin vào sự tất thắng của cái thiện, niềm tin vào cuộc sống…

    – Văn học biến sự giáo dục thành khả năng tự giáo dục, giúp con người tự hoàn thiện nhân cách. Nhân cách của con người được hình thành một cách trọn vẹn thông qua văn học. Các hình tượng văn học đã được nhà văn cẩn thận chọn lọc và gây được xúc cảm tự nhiên trong lòng người đọc. Ta kinh ghét Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến vì ta nhận ra được bộ mặt thật của chúng qua các động tác thoáng qua: “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng” hay “Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào”. Nhờ sự yêu, ghét hay thương cảm

    cho các nhân vật mà từ đó, nhân cách dần được hình thành trong người đọc một cách tự giác, dần biến tư tưởng, tình cảm thoangs qua ấy thành nhận thức của người đọc.

    Một đặc điểm khiến văn học dễ dàng đảm nhiệm chức năng giáo dục đó chính là tính cuốn hút của nó. Tác phẩm văn học hiện ra không phải như người thấy thuyết giáo mà như người đồng hành, người đối thoại với bạn đọc, với khán giả. Những chân lý, luân lý, đạo đức, tư tưởng, tình cảm mà văn học mang lại không khô khan trừu tượng như triết học hay khoa học mà rất sống động mà giàu hình ảnh, và được người đọc cảm thụ một cách thích thú.

    c. Chức năng thẩm mĩ:

    -Văn học mang lại sự hưởng thụ lành mạnh, bổ ích cho tâm hồn. Đi vào thế giới của văn học, người đọc chia sẻ buồn vui, sướng khổ với nhân vật. Yêu kẻ này, ghét kẻ kia hoàn toàn không dính dáng đến lợi ích vật chất người nào ngoài đời. Những giờ phút sống với tác phẩm là những giờ phút tâm hồn trong sáng, thanh thản nhất. Do đó văn học đem đến cho con người một niềm vui tinh thần hoàn toàn vô tư nhưng không bàng quan, vô trách nhiệm.

    -Văn học còn làm thỏa mãn thị hiếu thẩm mĩ của người đọc bằng vẻ đẹp ngôn từ, vần điệu, bằng kết cấu khéo léo, lôi cuốn của từng tác phẩm. Nó làm cho tâm hồn chúng ta rung động trước những hình tượng nhân vật điển hình, trước cách cảm nhận, cách nghĩ của nhà văn chân chính là người có tâm hồn chân thành của mình để soi sáng những mảnh đời tối tăm, vỗ về người đau khổ, lên tiếng vạch trần cái xấu, cái ác, ca ngợi phẩm chất cao đẹp…

    d. Chức năng giải trí:

    -Các tác phẩm lành mạnh, có giá trị nội dung và nghệ thuật cao sẽ đem lại sự thư giãn cho con người sau những giờ làm việc căng thẳng, góp phần tái tạo sức khỏe và duy trì niềm vui, niềm tin trong cuộc sống. Thực tế cho thấy không it người có thói quen tốt là đọc sách và coi sách là món ăn tinh thần không thể thiếu hàng ngày.

    -Các chức năng văn học nêu trên luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Ngay trong chức năng nhận thức đã có tính giáo dục. Muốn cho hiệu quả nhận thức cao nhất thì cần phải thông qua đặc trưng thẩm mĩ. Ngược lại, chức năng thẩm mĩ không đơn thuần mang ý nghĩa duy mĩ mà phải phục vụ cho việc thể hiện tốt hai chức năng nhận thức và giáo dục. Tất cả các chức năng ấy tạo thành tác dụng to lớn của văn học trong việc không ngừng hoàn thiện phẩm chất cao quý của con người.

    Bài làm của nhóm em còn nhiều thiếu sót. Mong cô và các bạn nhận xét, đóng góp ý kiến cho bài làm của nhóm em được hoàn thiện hơn!

    -The and-

    *Ý nghĩa, bài học giáo dục :

    -Đối với sinh viên:

    + Trang bị cho sinh viên những kiến thức kết tinh qua một hệ thống khái niệm cơ bản về văn học.

    + Là cơ sở bước đầu cho sinh viên trong việc hoc tập các bộ môn như: Lịch sử, phương pháp dạy học văn…

    + Góp phần tạo tiềm lực cho sinh viên sau khi ra trường có thể giảng dạy tốt môn TV, Văn học ở trường phổ thông.

    + Rèn cho sinh viên về khả năng giao tiếp có văn hóa, sử dụng ngôn ngữ trở nên mượt mà…

    + Biết đánh giá, lí giải và cảm nhận các hiện tượng đời sống như tình cảm, lẽ sống, tình người, xã hội, tự nhiên, thiện ác, xấu đẹp…qua các tác phẩm văn học.

    -Đối với học sinh tiểu học:

    + Giúp cho học sinh hiểu biết thêm về cuộc sống con người và tự nhiên. Hiểu biết sâu sắc về nét văn hóa dân tộc VN cũng như nước ngoài qua các tác phẩm trong chương trình học ở Tiểu học.

    + Giáo dục lòng biết ơn cho trẻ, giúp trẻ có những tư cách đạo đức tốt được rèn luyện từ nhỏ.

    + Bồi dưỡng ở các em một tình yêu văn học, ham học hỏi những điều mới lạ, nâng cao kiến thức.

    + Và đặc biệt là biết giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, yêu tiếng mẹ đẻ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Cơ Bản Của Triết Học
  • Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Phân Công Lại Nhiệm Vụ Của Bộ Trưởng Và Các Thứ Trưởng
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Vụ Giáo Dục Đại Học
  • Đánh Giá Kết Quả Học Tập Ở Tiểu Học.
  • Ý Nghĩa, Mục Đích Của Việc Đánh Giá
  • Giải Quyết Mối Quan Hệ Giữa Quốc Phòng, An Ninh Và Đối Ngoại

    --- Bài mới hơn ---

  • Chính Sách An Ninh Đối Ngoại Của Nhật Bản Có Gì Mới?
  • Những Điểm Mới Trong Chính Sách An Ninh Đối Ngoại Của Nhật Bản
  • Khu Nhà Ở Cán Bộ Tổng Cục An Ninh Giá Gốc 16 Triệu
  • Bộ Công An Sẽ Không Còn Những Tổng Cục Nào?
  • Tập Huấn 4 Đạo Luật Và Công Ước Của Liên Hợp Quốc
  • Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại

    Kế thừa kế sách “tạo lực, lập thế, tranh thời” của tổ tiên ta trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước; phát huy kết quả đường lối lãnh đạo trong cách mạng giải phóng dân tộc, với tinh thần cách mạng tiến công, để phù hợp với tình hình thế giới, khu vực và trong nước, từ năm 1991 đến nay, Đảng ta đã không ngừng đổi mới tư duy lãnh đạo, trong đó có đổi mới tư duy về việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

    Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đã đề cập đến mối quan hệ giữa quốc phòng và an ninh với việc xác định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh, quốc phòng  - an ninh với kinh tế trong các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội”(1). Cương lĩnh cũng chỉ rõ mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là giữ vững môi trường hòa bình cho sự nghiệp phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát huy tiềm năng, lực lượng mọi mặt của đất nước, cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… vào củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh quốc gia; việc củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của toàn dân và của Nhà nước. Do đó, cần phải “phối hợp lực lượng quốc phòng và an ninh trong cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự”(2). Tuy nhiên, lúc này Đảng ta chưa đặt vấn đề kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển của đất nước.

    Đến Đại hội VIII của Đảng (năm 1996), nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại mới rõ ràng, cụ thể hơn, nổi bật là nhận thức rõ vai trò của đối ngoại trong các hoạt động quốc phòng, an ninh, đặc biệt là các hoạt động đấu tranh trên mặt trận ngoại giao. Đảng chủ trương: “Kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế. Gắn chặt nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh, hai mặt có mối quan hệ khăng khít trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ trong tình hình mới. Phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng, an ninh với hoạt động đối ngoại”(3). Từ đây, mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại luôn được Đảng khẳng định và đề cập trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị về quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

    Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đại hội IX của Đảng (năm 2001) tiếp tục bổ sung những quan điểm mới về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và mối quan hệ giữa các hoạt động này. Văn kiện Đại hội khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh, quốc phòng và an ninh với kinh tế trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Phối hợp hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại”(4). Điểm mới trong nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng và an ninh lúc này là đã cụ thể hóa mối quan hệ đó vào trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, đưa vào hoạt động thực tiễn của các cấp, các ngành, trong đó nhấn mạnh cần phải tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương, cơ sở. Tuy nhiên, việc cụ thể hóa quan điểm, nhận thức của Đảng vẫn chỉ tập trung ở lĩnh vực quốc phòng, an ninh, chưa cụ thể hóa mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại thành chiến lược, chính sách, kế hoạch cụ thể.

    Đến Hội nghị Trung ương 8 khóa IX, với việc đề ra “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã trở nên đầy đủ, toàn diện, cụ thể và có bước phát triển hơn so với các kỳ đại hội trước, không chỉ trong trong hoạt động nhận thức mà còn cả trong hoạt động thực tiễn với sự cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương, chính sách thành quy hoạch, kế hoạch, quy chế quản lý và phối hợp hoạt động giữa các lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đến năm 2005, mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại được Nhà nước đưa vào Luật Quốc phòng. Điều 5 Luật Quốc phòng đã chỉ rõ nguyên tắc của hoạt động quốc phòng là “kết hợp với hoạt động an ninh và hoạt động đối ngoại”.

    Đại hội XI của Đảng (năm 2011) tiếp tục khẳng định việc “phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân; giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh”(7) là quan điểm nhất quán đối với công tác quản lý, phối hợp các hoạt động quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đặc biệt, Đảng nhấn mạnh việc tiếp tục chủ động, tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Điều này cho thấy, Đảng đã đề cập trực tiếp và đánh giá cao tầm quan trọng của hoạt động đối ngoại quốc phòng, an ninh đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Đến Đại hội XII (năm 2021), Đảng tiếp tục nhấn mạnh việc “kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại; tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh”, trong đó xác định quan điểm chủ động giữ nước trong thời bình: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”(8), và chỉ rõ quá trình hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cho nên cần phải chủ động trong việc dự báo, xử lý linh hoạt, kịp thời mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu, bất lợi. Việc xác định quan điểm nêu trên là rất cần thiết để tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động với việc chủ động giữ nước trong thời bình.

    Từ sau Đại hội XII của Đảng, các quan điểm nêu trên trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Trong quá trình triển khai thực hiện, các cấp, các ngành, nhất là các cơ quan thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã chủ động kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, năm 2021, Bộ Chính trị đã phê duyệt “Chiến lược Quốc phòng Việt Nam”, làm cơ sở cho việc hình thành các chiến lược cụ thể, như “Chiến lược Quân sự Việt Nam thời kỳ mới”, “Chiến lược Tác chiến trên không gian mạng” và Luật Quốc phòng (sửa đổi) năm 2021. Điều 3 Luật Quốc phòng năm 2021 đã xác định nguyên tắc của hoạt động quốc phòng là: “Kết hợp quốc phòng với an ninh, đối ngoại”. Việc kết hợp quốc phòng, an ninh và đối ngoại được xác định là một trong những nội dung quan trọng của nền quốc phòng toàn dân.

    Từ Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đến nay, nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại đã có sự phát triển mới, ngày càng toàn diện, đầy đủ và sâu sắc; từng bước thấy rõ hơn vai trò của an ninh, đối ngoại đối với quốc phòng và sự cần thiết phải gắn chặt quốc phòng, an ninh với đối ngoại trong một chiến lược thống nhất.

    Kết quả phát triển nhận thức về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại

    Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại được biểu hiện thông qua các kết quả cụ thể như sau:

    Về đối nội: Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại, chúng ta đã từng bước tăng cường tiềm lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước; sức mạnh quân sự, quốc phòng không ngừng lớn mạnh; thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được tăng cường, củng cố vững chắc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, giữ vững môi trường hòa bình, tạo ra những điều kiện thuận lợi để đất nước phát triển nhanh, toàn diện và vững chắc; sớm nhận diện và kịp thời đấu tranh có hiệu quả, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; ngăn chặn các nguy cơ chiến tranh và xung đột vũ trang.

    Về đối ngoại: Với những quan điểm, chủ trương, đúng đắn và sự nỗ lực không ngừng trên các phương diện, Đảng đã từng bước lãnh đạo đất nước phá thế bao vây cấm vận từ bên ngoài; giải quyết tốt mối quan hệ giữa đối tượng và đối tác; chuyển hóa tính chất, nâng cấp mối quan hệ với một số nước thành quan hệ đối tác, đối tác toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện; hình thành thế trận ngoại giao vững chắc, bao gồm: đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với các nước láng giềng; giải quyết các tranh chấp, bất đồng, mâu thuẫn với các nước trong khu vực bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; thiết lập quan hệ song phương với các nước, đưa quan hệ hợp tác với các đối tác đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn; từng bước xây dựng được vị thế, uy tín của Việt Nam là một trụ cột quan trọng trong các diễn đàn, các tổ chức quốc tế, khu vực. Đặc biệt, sự kiện Việt Nam trở thành Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2021 – 2021 với số phiếu bầu là 192/193 đồng ý, càng khẳng định rõ vị thế, uy tín của nước ta trên trường quốc tế… Với tư cách là một thành viên tích cực, chủ động và có trách nhiệm, Việt Nam đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.

    Bên cạnh những kết quả đạt được, việc quán triệt quan điểm, chủ trương của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại ở một số ngành, địa phương vẫn còn hạn chế; hệ thống luật pháp về việc giải quyết mối quan hệ này chưa hoàn thiện, việc cụ thể hóa sự kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại thành các quy hoạch, kế hoạch, quy chế, cơ chế hoạt động có lúc chưa đồng bộ; sự kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong việc giải quyết một số vấn đề cụ thể thiếu chặt chẽ; sự phối hợp trong nghiên cứu, dự báo về chiến lược quốc phòng, an ninh và đối ngoại có mặt chưa theo kịp diễn biến của tình hình.

    Phương hướng giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời gian tới

    Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục biến động nhanh chóng, phức tạp và khó lường, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bất ổn định, đe dọa đến môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới, tác động không nhỏ đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa… Điều đó đòi hỏi phải đồng thời thực hiện nhiều giải pháp khác nhau, trong đó nổi bật là sự kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Để thực hiện có hiệu quả việc giải quyết mối quan hệ này, cần tập trung vào một số phương hướng cơ bản sau:

    Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách về giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

    Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với mọi hoạt động quốc phòng, an ninh, đối ngoại và việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước đối với việc giải quyết mối quan hệ này phải thông qua đường lối, chủ trương và hệ thống pháp luật. Đường lối, quan điểm của Đảng về quốc phòng, an ninh và đối ngoại phải được luật hóa thông qua hệ thống pháp lệnh, nghị định, kế hoạch và các quy chế, quy định, bảo đảm tính nguyên tắc, tính pháp lý trong quá trình thực hiện.

    Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và việc kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đẩy mạnh việc xây dựng, hoạch định, hoàn thiện chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng giai đoạn cách mạng, không để rơi vào thế bị động, bất ngờ cả về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Ban hành và duy trì nghiêm các quy chế, quy định mới về việc phối hợp giữa các ngành, các cấp, các địa phương, đặc biệt là giữa các ngành quân đội, công an và ngoại giao. Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện về nội dung, hình thức, biện pháp kết hợp đấu tranh quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng, hành động sai trái, thù địch, xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

    Hai là, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao tiềm lực kinh tế, tăng cường tiềm lực quân sự, xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững chắc.

    Thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sẽ tạo điều kiện, cơ sở vật chất, kỹ thuật của đất nước, hình thành nền tảng để phát triển sức mạnh kinh tế, tạo dựng tiềm lực quân sự, quốc phòng và khả năng huy động tiềm lực kinh tế phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở đó, từng bước phát triển tiềm lực quân sự, quốc phòng, tạo thế và lực để xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng, an ninh là quá trình tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nhằm tạo ra nguồn lực tổng hợp bảo đảm tốt nhất cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

    Thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là tạo lập sức mạnh về kinh tế – xã hội, tạo cơ sở, tiền đề để tạo lập sức mạnh về quân sự, quốc phòng, an ninh, tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nếu không có sức mạnh, tiềm lực kinh tế thì không có sức mạnh, tiềm lực quân sự, quốc phòng, an ninh. Chính tiềm lực quân sự, quốc phòng, an ninh mạnh sẽ góp phần bảo vệ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước. Vấn đề quan trọng đặt ra là chú trọng triển khai thực hiện có hiệu quả việc phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh, bởi đây là bộ phận của công nghiệp quốc gia, một phần quan trọng của thực lực và tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.

    Mục đích cao nhất trong quan hệ đối ngoại là phục vụ lợi ích quốc gia – dân tộc, theo đó, trong quan hệ đối ngoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực, tuyệt đối không để Việt Nam rơi vào thế bị bao vây, cô lập, bị động, bất ngờ, đặc biệt là rơi vào trạng thái đối đầu có thể dẫn đến xung đột. Việt Nam cần tiếp tục tích cực, chủ động trong thiết lập, đẩy mạnh các mối quan hệ đối ngoại; trong hóa giải các bất đồng, mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích; trong đề xuất những giải pháp xây dựng hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới. Giải quyết quan hệ hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, khu vực trên tinh thần “hợp tác vì hòa bình và phát triển bền vững, cùng nhau giải quyết các vấn đề chung của khu vực và toàn cầu, các xung đột, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi”(9). Tiếp tục nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong việc giải quyết những vấn đề chung, xây dựng lòng tin chiến lược, hướng đến hòa bình và ổn định trong khu vực và trên thế giới.

    Bốn là, linh hoạt, sáng tạo trong giải quyết các vấn đề đối ngoại trên cơ sở lợi ích quốc gia – dân tộc.

    Trên tinh thần “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, Việt Nam cần phải linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo trong giải quyết các vấn đề đối ngoại, lấy lợi ích quốc gia – dân tộc là mục tiêu cao nhất, quan trọng nhất, có ý nghĩa định hướng hoạt động đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực. Lợi ích quốc gia – dân tộc Việt Nam là toàn diện, bao gồm lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích văn hóa…; lợi ích vật thể, lợi ích phi vật thể; lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; không chỉ có lợi ích trong nước mà còn các lợi ích hợp pháp khác ở ngoài nước.

    Trong giải quyết mọi vấn đề đối ngoại, với mọi đối tượng, đối tác, phải bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, thực hiện bình đẳng, cùng có lợi, với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; không nóng vội, mà phải “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”(10); tăng cường sự gắn kết an ninh và ổn định của nước ta với an ninh và ổn định của khu vực, từng bước nâng cao mức độ đan xen lợi ích về quốc phòng, an ninh theo hướng tăng cường nhận thức, hợp tác về các vấn đề có chung quan tâm và lợi ích; giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế, vì lợi ích quốc gia – dân tộc.

    Năm là, nâng cao tinh thần yêu nước và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.”

    Lịch sử Việt Nam đã chứng minh tinh thần yêu nước và đoàn kết của nhân dân là một động lực vô cùng to lớn, giúp dân tộc ta phát huy sức mạnh tổng hợp, giành chiến thắng trước mọi kẻ thù xâm lược lớn mạnh gấp mình rất nhiều lần. Tinh thần yêu nước đã tạo nên sức mạnh của dân tộc Việt Nam, giúp cho dân tộc tồn tại và phát triển qua những thử thách cam go, khốc liệt và hào hùng của lịch sử. Tuy nhiên, trước những biến động lớn của thời cuộc hiện nay, đòi hỏi tinh thần yêu nước Việt Nam, một mặt, phải duy trì, củng cố những đặc trưng làm nên sức mạnh truyền thống của dân tộc; mặt khác, phải xây dựng và củng cố thêm những nền tảng lý luận và sức mạnh mới nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Do đó, cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc của người Việt Nam; nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cấp, các ngành, các lực lượng, nhất là phát huy vai trò của hệ thống giáo dục, đào tạo và các phương tiện truyền thông trong việc tuyên truyền, giáo dục này; nghiên cứu, lựa chọn nội dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục phải phù hợp với từng hoàn cảnh, đối tượng cụ thể, nhất là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

    Đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu, nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, cần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Lấy lợi ích chung của quốc gia – dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động làm mục đích của cách mạng. Tích cực đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị các cấp; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tích cực, tự giác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xử lý hài hòa các mối quan hệ giai cấp và dân tộc, giai cấp, dân tộc và nhân loại, quốc gia và quốc tế, chiến lược và sách lược, lợi ích toàn bộ và bộ phận, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội; tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tổ chức, cá nhân cùng tiến bộ, trưởng thành, có đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng chung vì lợi ích quốc gia  - dân tộc./.

    (1) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 17

    (2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 87

    (3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 40

    (4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 117

    (5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 111

    (6) Bộ Quốc phòng: Quốc phòng Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2009, tr. 20 – 21

    (7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 238

    (8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2021, tr. 149

    (9) Chỉ thị số 25-CT/TW, ngày 8-8-2018, của Ban Bí thư “Về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030”, Hà Nội, 2021, tr. 3

    (10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 153

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kết Hợp Chặt Chẽ Quốc Phòng Với An Ninh Và Đối Ngoại Theo Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Đảng Ủy Phòng An Ninh Đối Ngoại: Gắn Việc Học Tập Và Làm Theo Bác Với Thực Hiện Nhiệm Vụ Chính Trị Được Giao
  • Thực Phẩm Chức Năng Cho Phụ Nữ Tiền Mãn Kinh Nào Là Tốt Nhất
  • Phụ Nữ Tiền Mãn Kinh Nên Ăn Gì? Tránh Ăn Gì? Để Kéo Dài Thanh Xuân
  • Loạn Sản Phẩm Hỗ Trợ Tiền Mãn Kinh
  • Phân Tích Chức Năng Và Vai Trò Của Chính Sách Kinh Tế Đối Ngoại Đối Với Sự Phát Triển Của Một Quốc Gia

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Và Vai Trò Của Chính Sách Kinh Tế Đối Ngoại
  • Kinh Tế Đối Ngoại Nước Ta Hiện Nay: Tình Hình Và Các Giải Pháp
  • 9 Dấu Ấn Đối Ngoại Việt Nam 2021
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Phòng Đối Ngoại
  • 5 Nhiệm Vụ Công Tác Đối Ngoại Bảo Vệ Chủ Quyền Lãnh Thổ
  • Câu hỏi: Phân tích chức năng và vai trò của chính sách kinh tế đối ngoại đối với sự phát triển của một quốc gia

    1. Khái niệm: CSKTĐN là một hệ thống các quan điểm, nguyên tăc, công cụ và biện pháp của nhà nước để quản lý hoạt động kinh tế đối ngoại trong một thời gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia đó
    2. Chức năng của CSKTĐN (3 Chức năng)

    Chức năng kích thích sự phát triển nền kinh tế của một quốc gia. chính sách thu hút đầu tư quốc tế tăng cường hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tăng nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia…

    Chức năng bảo hộ(bảo vệ) nền sản xuất trong nước, doanh nghiệp trong nước, sản phẩm trong nước trong chính sách TMQT có sử dụng công cụ hạn ngạch, các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm hạn chế lượng hàng hoá nhập khẩul, bảo vệ doanh nghiệp sản xuất hàng hoá thay thế nhập khẩu hoặc các ngành công nghiệp non trẻ trong nước

    Chức năng phối hợp và điều chỉnh: CSKTĐN có thể sử dụng kết hợp với các chính sách # của nhà nước để có thể đạt được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Chính sách tỷ giá hối đoái có thể kết hợp với chính sách tiền tệ nhằm quản lý lượng ngoại tệ trong nước đồng thời quản lý tỷ giá hối đoái ở mức mong muốn.

    Thông qua việc xây dựng và thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại đúng đắn sẽ góp phần thực hiện quá trình huy động và phân bổ nguồn lực của quốc gia như tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực: Chính sách khuyến khích xuất khẩu mặt hàng chế biến đòi hỏi nguồn nhân lực phải đáp ứng đủ cho hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu …

    + Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước tham gia tốt hơn vào quá trình phân công lao động quốc tế: có thể thực hiện quá trình chuyên môn hoá sâu hơn đồng thời tăng khả năng mở rộng sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu, mở rộng thị trường, mở rộng quan hệ hợp tác với đối tác nước ngoài

    + Góp phần vào việc xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp, các lĩnh vực kinh tế mới với trình độ công nghệ và sức cạnh tranh ngày càng cao, phát huy tốt hơn lợi ích của quốc gia.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Tế Đối Ngoại Là Gì? Các Tiềm Năng Ngành Kinh Tế Đối Ngoại
  • Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Phòng Hợp Tác Quốc Tế
  • Bod Là Gì? Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Bod
  • Việt Nam Và Liên Hợp Quốc: Một Ví Dụ Điển Hình Về Hợp Tác Phát Triển
  • Quyết Định 347/qđ.ub Năm 1988 Về Quy Định Tạm Thời Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quản Lý Về Mặt Nhà Nước Trên Lĩnh Vực Kinh Tế Đối Ngoại Do Tỉnh An Giang Ban Hành
  • Ban Đối Ngoại Trung Ương

    --- Bài mới hơn ---

  • Ban Liên Lạc Đối Ngoại Uỷ Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc
  • Mô Tả Nhiệm Vụ, Chức Năng, Trách Nhiệm Của Giám Đốc Đối Ngoại
  • Quyết Định 347/qđ.ub Năm 1988 Về Quy Định Tạm Thời Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quản Lý Về Mặt Nhà Nước Trên Lĩnh Vực Kinh Tế Đối Ngoại Do Tỉnh An Giang Ban Hành
  • Việt Nam Và Liên Hợp Quốc: Một Ví Dụ Điển Hình Về Hợp Tác Phát Triển
  • Bod Là Gì? Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Bod
  • Ban Đối ngoại Trung ương là cơ quan tham mưu của Ban Chấp hành Trung ương, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong lĩnh vực đối ngoại; đồng thời là cơ quan tổ chức thực hiện quan hệ đối ngoại của Đảng; cơ quan giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo, hướng dẫn công tác đối ngoại nhân dân và quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại trong hệ thống đảng, đoàn thể, tổ chức nhân dân.

    – Nghiên cứu tình hình các chính đảng và phong trào nhân dân trên thế giới; nghiên cứu, dự báo tình hình quốc tế, đề xuất kịp thời những đối sách của Đảng ta.

    – Chuẩn bị hoặc tham gia chuẩn bị các văn kiện đại hội, các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về lĩnh vực đối ngoại. Chủ trì hoặc tham gia nghiên cứu cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đảng.

    Thẩm định hoặc tham gia thẩm định các đề án về lĩnh vực đối ngoại của các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở Trung ương trước khi trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

    – Tổ chức các hoạt động đối ngoại của Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, đồng chí Thường trực Ban Bí thư và các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng công tác trong hệ thống Đảng.

    – Tổ chức triển khai các mối quan hệ của Đảng ta với các chính đảng, tổ chức trên thế giới mà Đảng ta có quan hệ và các hoạt động của Đảng ta tại các diễn đàn đa phương chính đảng mà Đảng ta tham gia.

    – Cử cán bộ làm công tác đối ngoại đảng ở một số địa bàn do Ban Bí thư quy định.

    – Hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, các quy chế, quy định về công tác đối ngoại của Đảng đối với các tỉnh ủy, thành ủy, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương.

    – Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các thỏa thuận cấp cao của Đảng ta với các đảng, tổ chức trên thế giới.

    – Xây dựng hoặc tham gia xây dựng chương trình hoạt động đối ngoại hằng năm của lãnh đạo cấp cao Đảng và Nhà nước, của các đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư công tác trong hệ thống Đảng.

    – Tổng hợp, trình duyệt và theo dõi, đôn đốc thực hiện kế hoạch hoạt động đối ngoại hằng năm của các cơ quan đảng, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và tổ chức nhân dân ở Trung ương; tổng hợp báo cáo công tác đối ngoại hằng năm của hệ thống chính trị.

    – Phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng xây dựng và quản lý ngân sách hoạt động đối ngoại của Đảng.

    – Tham gia ý kiến về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, miễn nhiệm, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong các cơ quan đối ngoại ở Trung ương theo phân cấp quản lý của Trung ương.

    7- Thực hiện một số nhiệm vụ do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao

    – Giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư theo dõi việc đi nước ngoài của cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý công tác trong hệ thống Đảng, đoàn thể (cả cán bộ đương chức và cán bộ đã nghỉ hưu).

    – Thực hiện những công việc khác do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao.

    II. TỔ CHỨC BỘ MÁY

    1- Lãnh đạo Ban

    1. Hoàng Bình Quân – Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban

    2. Trần Đắc Lợi – Phó Trưởng ban Thường trực

    3. Nguyễn Huy Tăng – Phó Trưởng ban

    4. Nguyễn Tuấn Phong – Phó Trưởng ban

    5. Nguyễn Mạnh Cường – Phó Trưởng ban

    6. Trương Quang Hoài Nam – Phó Trưởng ban

    2- Các đơn vị trong Ban

    1. Vụ Trung Quốc – Đông Bắc Á

    2. Vụ Lào – Cam-pu-chia

    3. Vụ Đông Nam Á – Nam Á – Nam Thái Bình Dương

    4. Vụ Tây Âu – Bắc Mỹ

    5. Vụ Nga – Đông Âu – Trung Á

    6. Vụ Trung Đông – Châu Phi – Mỹ Latinh

    7. Vụ Nghiên cứu tổng hợp

    8.Vụ Đối ngoại nhân dân

    9. Vụ Tổ chức – Cán bộ

    10. Vụ Lễ tân – Quản trị

    11. Văn phòng

    12. Tạp chí Đối ngoại

    (Theo Quyết định số 112-QĐ/TW, ngày 04/7/2017 của Bộ Chính trị Quyết định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Đối ngoại Trung ương)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tham Mưu An Ninh Đối Ngoại Trong Thời Kỳ Hội Nhập
  • Cục Đối Ngoại Bộ Công An Triển Khai Công Tác Năm 2021
  • Công An Hà Nội Bổ Nhiệm 10 Trưởng Phòng
  • Đảng Bộ Phòng An Ninh Đối Ngoại: Phấn Đấu Giữ Vững Danh Hiệu Trong Sạch, Vững Mạnh Tiêu Biểu
  • Bộ Đội Biên Phòng Thực Hiện Quản Lý Nhà Nước Về Quốc Phòng, An Ninh, Đối Ngoại Ở Khu Vực Biên Giới, Cửa Khẩu
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100