Top 13 # Xem Nhiều Nhất Chức Năng Đối Nội Đối Ngoại Của Nhà Nước Chủ Nô / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Photomarathonasia.com

Kiểu Nhà Nước Chủ Nô Là Gì ? Tìm Hiểu Về Kiểu Nhà Nước Chủ Nô / 2023

Kiểu nhà nước chủ nô là kiểu nhà nước đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người, ra đời trên sự tan rã của xã hội cộng sản nguyên thủy gắn liền với sự xuất hiện sở hữu tư nhân và sự hình thành những giai cấp đầu tiên – giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ.

Nhà nước chủ nô xuất hiện đầu tiên trên thế giới là Nhà nước Ai Cập cổ đại xuất hiện vào khoảng bốn nghìn năm trước Công nguyên, Nhà nước Xume (Sumer) cổ đại (vùng vịnh Pecxich) xuất hiện vào khoảng 2000 năm trước Công nguyên. Nhà nước Trung Quốc và Ấn Độ cổ đại cũng xuất hiện vào khoảng 2000 năm trước Công nguyên. Cơ sở kinh tế – xã hội của nhà nước chủ nô là quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ dựa trên chế độ sở hữu tư nhân của chủ nô về tư liệu sản xuất và nô lệ. Xã hội chiếm hữu nô lệ có hai giai cấp cơ bản và có sự mâu thuẫn đối kháng là chủ nô và nô lệ. Nô lệ được coi là công cụ biết nói và là một thứ hàng hoá mà chủ nô có thể mua bán trên thị trường. Xét về bản chất thì nhà nước chủ nô là bộ máy chuyên chính của giai cấp chủ nô, là công cụ thiết lập và bảo vệ quyền lực của giai cấp chủ nô, đồng thời, là bộ máy trấn áp giai cấp nô lệ và những người lao động tự do trong xã hội. Bộ máy của nhà nước chủ nô chủ yếu là bộ máy quân sự và cảnh sát. Phần lớn, các nhà nước chủ nô chưa có sự phân chia quyền lực trong bộ máy nhà nước.

Ở các nước phương Đông, hình thức chính thể của nhà nước chủ nô phổ biến là hình thức quân chủ chuyên chế với quyền lực vô hạn của vua hay quốc vương, hoàng đế. Ở Hy Lạp cổ đại và La Mã cổ đại, hình thức nhà nước phong phú hơn. Ngoài hình thức quân chủ chuyên chế, ở La Mã còn tồn tại hình thức cộng hòa quý tộc, ở Aten (Hy Lạp) còn có hình thức cộng hòa dân chủ mà ở đây đại hội nhân dân được coi là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Chức Năng Của Nhà Nước Chủ Nô Trong Hệ Thống Khoa Học Pháp Lý / 2023

Chức năng của nhà nước chủ nô trong hệ thống khoa học pháp lý

1. Chức năng đối nội:

– Chức năng bảo vệ và củng cố chế độ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và đối với người sản xuất (nô lệ), duy trì các hình thức bóc lột của chủ nô đối với nô lệ và những người lao động khác:

Đi đôi với việc củng cố, bảo vệ chế độ sở hữu chủ nô, nhà nước chủ nô còn thực hiện sự cưỡng bức lao động đối với nô lệ, bắt nô lệ lao động để làm giàu cho chủ nô, cho nhà nước, củng cố các hình thức phụ thuộc khác nhau của nô lệ và những người lao động khác vào giai cấp chủ nô.

– Chức năng trấn áp nô lệ và các tầng lớp người lao động khác về mọi mặt:

Từ những đặc điểm về kinh tế, chính trị, xã hội của xã hội chiếm hữu nô lệ đã dẫn tới những mâu thuẫn rất gay gắt giữa nô lệ với chủ nô. Trong xã hội thường xuyên xảy ra các cuộc khởi nghĩa liên tiếp của nô lệ và của những người lao động khác đứng lên chống lại nhà nước chủ nô, chống lại chủ nô tàn ác. Do sự phản kháng, sự đấu tranh thường xuyên của nô lệ nên chủ nô luôn phải vũ trang và sẵn sàng đàn áp nô lệ trong mọi tình huống và ở bất kỳ đâu. Nhà nước chủ nô đã sử dụng mọi biện pháp có thể mà chủ yếu là các biện pháp quân sự, bạo lực để đàn áp một cách dã man, tàn bạo các cuộc khởi nghĩa của nô lệ. Do bị hạn chế về nhiều mặt và bị đàn áp rất dã man nên hầu như các cuộc khởi nghĩa của nô lệ chống lại chủ nô đều bị thất bại, bị dìm trong máu

Ngoài việc trấn áp bằng bạo lực, nhà nước chủ nô còn thực hiện trấn áp về tinh thần đối với nô lệ và những người lao động khác. Ví dụ: ở nhà nước chủ nô Spac, những người nô lệ Hilot nếu sinh ra mà bị coi là khỏe mạnh hoặc thông minh thì sẽ bị giết chết để loại trừ khả năng phản kháng của họ trong tương lại. Thỉnh thoảng nhà nước lại tổ chức giết tập thể những người nô lệ để thị uy, khủng bố tinh thần người Hilot. Lợi dụng sự thấp kém, hạn chế của nô lệ, nhà nước chủ nô còn sử dụng tôn giáo để mê hoặc nô lệ, làm cho nô lệ luôn ở trong tình trạng khiếp đảm, run sợ, phụ thuộc, không dám đứng lên đấu tranh để thay đổi địa vị của mình trong xã hội.

– Chức năng kinh tế – xã hội:

Các nhà nước chủ nô trong những chừng mực nhất định đều tham gia vào các hoạt động kinh tế – xã hội, giải quyết những công việc thiết yếu cho xã hội. Ở một số nhà nước chủ nô mà đặc biệt là các nhà nước chủ nô phương Đông do những đặc điểm về địa lý, khí hậu, để sản xuất và sinh sống được, người dân buộc phải xây dựng những công trình thủy lợi với quy mô lớn để tưới tiêu, ngoài ra còn phải tổ chức việc khai phá rừng, chống các loại thú dữ, bảo vệ mùa màng và các vật nuôi trong gia đình … Tất cả những công việc trên đòi hỏi sự cố gắng của cả cộng đồng mới có thể thực hiện được. Những hoạt động kinh tế – xã hội nói trên lúc đầu do các công xã, bộ lạc đảm nhiệm nhưng khi xuất hiện nhà nước chủ nô thì nhà nước buộc phải đảm nhiêm. Vì vậy, các nhà nước chủ nô đã tiến hành nhiều hoạt động kinh tế – xã hội để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của xã hội vì sự tồn tại và phát triển của xã hội chiếm hữu nô lệ.

2. Chức năng đối ngoại:– Chức năng tiến hành chiến tanh xâm lược chống lại các nước khác, các dân tộc khác:

Các nhà nước chủ nô đều coi chiến tranh là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để làm giàu, thực hiện việc cướp đất, cướp tài sản của các dân tộc khác, bắt nhiều tù binh về làm nô lệ. Số tù binh bắt được sẽ làm tăng khả năng lao động bóc lột ở trong nước và còn có thể bán ra nước ngoài để thu lợi. Do vậy, các nhà nước chủ nô đều ra sức chuẩn bị lực lượng để tiến hành chiến tranh xâm lược các quốc gia khác, các dân tộc khác mỗi khi có điều kiện. Nhà nước chủ nô có thể bắt cả một đất nước, cả một dân tộc bại trận làm nô lệ và ra sức bóc lột họ. Chiến tranh xâm lược mà các nhà nước chủ nô tiến hành đã làm cho quan hệ giữa các nước luôn trong tình trạng căng thẳng, đồng thời, nó cũng làm cho mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ ngày càng trở nên gay gắt thêm.

– Chức năng phòng thủ đất nước và thực hiện quan hệ ngoại giao, buôn bán với các quốc gia khác:

Song song với việc tiến hành chiến tranh xâm lược, các nhà nước chủ nô phải thực hiện phòng thủ đất nước chống lại các cuộc xâm lăng từ bên ngoài. Biện pháp phổ biến là xây dựng và củng cố quân đội với số lượng đông, xây thành, đắp lũy và các pháo đài vững chắc.

Ngoài ra, tùy theo tình hình cụ thể mà các nhà nước chủ nô thực hiện quan hệ ngoai giao, buôn bán với các quốc gia khác.

Lễ Tân Ngoại Giao Có Thể Hiện Đường Lối Chính Sách Đối Ngoại Của Một Nhà Nước? / 2023

Lễ tân Ngoại giao có thể hiện đường lối chính sách đối ngoại của một nhà nước?

Lễ tân Ngoại giao không phải là nội dung chủ yếu của hoạt động đối ngoại nhưng lại là những công việc cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đối ngoại. Đó là bộ phận cấu thành của hoạt động đối ngoại của một Nhà nước.

Ở bất cứ nước nào, Lễ tân Ngoại giao cũng xuất phát từ đường lối chính sách đối ngoại, thể hiện và phục vụ đường lối chính sách đối ngoại đó. Biện pháp lễ tân cũng như mức độ lễ tân thường được đề ra và thực hiện trên cơ sở vận dụng đường lối chính sách đối ngoại vào tình hình quan hệ cụ thể của từng nước, với từng đối tác. Các cuộc chiêu đãi ngoại giao dù hình thức tổ chức như thế nào, ít nhiều đều mang tính chất chính trị, vì đó là cuộc gặp mặt của những người đại diện các chủ thể trong quan hệ quốc tế, đồng thời cũng là phương tiện dể duy trì và phát triển quan hệ.

Trong lịch sử có không ít thí dụ về ý nghĩa chính trị của các quà tặng. Năm 1792, vua Quang Trung biếu nhà Thanh chiến lợi phẩm lấy được ở chiến dịch Vạn Tượng, sách binh thư Việt Nam và một quyển sử về triều đại Lê Chiêu Thống. Những tặng phẩm đó vừa có ý nghĩa biểu dương sức mạnh quân sự của quân đội Tây Sơn, vừa nói lên lòng tự hào về nghệ thuật quân sự của dân tộc mình, vừa vạch rõ cho Triều đình nhà Thanh biết rằng những hành động kết cấu với bọn phản động nhà Lê nhất định sẽ thất bại.

Ngày nay, trong các chuyến thăm viếng chính thức, lễ đặt vòng hoa tưởng niệm không đơn thuần là một nghi lễ mang tính hình thức. Chuyến viếng thăm Ba Lan dự định vào tháng 11/1984 của Phó Thủ tướng CHLB Đức Genscher đã bị hoãn lại vì hai bên không thỏa thuận được về địa điểm đặt vòng hoa. Thực chất đây là biểu hiện của thái độ chính trị khác nhau giữa hai quốc gia vốn có những vấn đề do lịch sử để lại.

Vừa là công cụ chính trị của hoạt động đối ngoại của một Nhà nước, Lễ tân ngoại giao đồng thời lại là phương tiện thực hiện và cụ thể hóa các nguyên tắc cơ bản của Luật pháp quốc tế. Nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia đã được thể hiện trong việc sắp xếp ngôi thứ của các trưởng Cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài tại quốc gia tiếp nhận, trong việc sắp xếp chỗ ngồi cho các đoàn đại biểu tại các hội nghị quốc tế…

Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia được cụ thể hóa vào các quy định coi trọng các biểu tượng quốc gia như quốc kỳ, quốc huy hay quốc thiều mỗi nước, hoặc trong các nghi lễ đón tiếp dành cho các vị đứng đầu nhà nước, cũng như các đặc quyền dành cho đại diện các quốc gia. Nhiều nước đã quy định một số thủ tục lễ tân dựa trên các điều khoản của Công ước Vienna năm 1961 về quan hệ ngoại giao.

Căn cứ vào đâu để nói Lễ tân Ngoại giao là một phạm trù quốc tế?

TGVN. Lễ tân Ngoại giao ngày càng mang tính chất quốc tế, những nguyên tắc cơ bản về lễ tân đều được các nước công …

Liên hợp quốc là một trong những ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Việt Nam

TGVN. Chiều 21/10, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng tiếp Điều phối viên Liên hợp quốc, ông Kamal Malhotra và Trưởng đại diện các …

Chính quyền nước sở tại có thể xâm nhập nhà cửa của Cơ quan đại diện trong trường hợp khẩn cấp?

TGVN. Trong trường hợp cấp bách hoặc có nguy hại chung (cháy, ngập lụt, động đất đất…) chính quyền nước sở tại có thể xâm nhập …

Đối Tượng, Nội Dung Và Chức Năng Của Văn Học / 2023

BÀI BÁO CÁO MÔN VĂN HỌCNHÓM 1

DANH SÁCH NHÓM:

1.TĂNG THỊ PHƯƠNG2. LÊ THỊ THẢO 3. ĐỒNG THỊ DUNG 4. CAM THỊ NHẤT 5. NGÔ THỊ YẾN

6. VI THỊ THU TRANG 7. VŨ THỊ UYÊN8. NGUYỄN THỊ NGỌC9. TRẦN NGỌC LAN. CHỦ ĐỀ 2: LÍ LUẬN VĂN HỌC I.ĐỐI TƯỢNG, NÔI DUNG VÀ CHỨC NĂNG CỦA VĂN HỌC. 1. ĐỐI TƯỢNG 2. NÔI DUNG 3. CHỨC NĂNG.

1. ĐỐI TƯỢNG CỦA VĂN HỌC:

-Văn học là nghệ thuật ngôn từ, là hình thức nghệ thuật sử dụng ngôn từ làm chất liệu. Văn học là một trong số các hình thái chiếm lĩnh thế giới bằng nghệ thuật. -Văn học cũng như mọi loại hình nghệ thuật khác có đối tượng là thế giới con người, các quan hệ đa dạng của con người với thực tại. -Đối tượng của văn học là toàn bộ hiện thực khách quan trong mối liên hệ sinh động, muôn màu với cuộc sống con người. 2.NÔI DUNG CỦA VĂN HỌC:

-Nội dung của văn học không đồng nhất với đối tượng của văn học. Nội dung là đối tượng được ý thức, được tái hiện có chọn lọc, khái quát, đánh giá phù hợp với một tư tưởng về đời sống, một lí tưởng, niềm tin nhất định đối với cuộc đời. Đối tượng của văn học tồn tại trong cuộc sống, còn nội dung của văn học thì tồn tại trong tác phẩm. -Nội dung văn học tương đồng với đối tượng của nó (tính cách con người,các ý nghĩa đời sống, các kinh nghiệm quan hệ) nhưng là một chất lượng khác. Những gì đến được với ngòi bút nghệ sĩ đều phải trải qua dằn vặt, trăn trở, đớn đau hay rung động mãnh liệt. Người xưa nói: “Viết như máu chảy đầu ngọn bút” là vì vậy. Điển hình như Nguyễn Du phải trải qua “đau đớn” mới viết được Truyện Kiều …Đại Thi Hào Nguyễn Du và tác phẩm “Truyện Kiều”

Tóm lại, nội dung của văn học là cuộc sống được ý thức về mặt tư tưởng và giá trị, gắn liền với một quan niệm về chân lí đời sống, với cảm hứng thẩm mĩ và thiên hướng đánh giá. Nhận thức nội dung của văn học, ý thức được những ưu thế riêng của văn học, cho phép nó có thể đáp ứng những nhu cầu xã hội phổ biến mà các hình thái ý thức xã hội khác không đáp ứng được.

3. CHỨC NĂNG CỦA VĂN HỌC:

*Khái niệm: – Văn học (nghĩa rộng): là tên gọi chung mọi tác phẩm bằng ngôn ngữ nói hay viết. – Văn học (nghĩa hẹp): là văn học nghệ thuật, tức các sáng tác ngôn từ, tưởng tượng, biểu hiện tình cảm con người như thơ, tiểu thuyết, tản văn, kịch… CHỨC NĂNG CỦA VĂN HỌC:

– Chức năng nhận thức – Chức năng giáo dục – Chức năng thẩm mĩ – Chức năng giao tiếp – Chức năng giải trí.Chức năng nhận thức của văn học: – Văn học cung cấp tri thức bách khoa về hiện thực đời sống: Văn học cung cấp tri thức, mang đến sự hiểu biết cho con người. Nhưng văn học không như các môn khoa học khác, nhận thức hiện thực theo kiểu phân môn mà phản ánh cuộc sống trong toàn bộ tính toàn vẹn của nó. Ví dụ: Khi đọc tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu kí” của nhà văn Tô Hoài, người đọc tìm hiểu thêm nhiều chi tiết lí thú từ hình dáng đến tập tính sống của loài dế mèn, dế trũi, hay bọ ngựa… Thế giới loài vật trở nên sống động và gần gũi hơn trong mắt người đọc.Nhà văn Tô Hoài với tác phẩm “Dế Mèn Phiêu lưu kí” – Văn học là cái kho chứa khổng lồ những tri thức về đời sống xã hội. Văn học dễ dàng tái hiện lại quá khứ, chứa đựng cả những sự kiện lịch sử, cung cấp những tri thức có giá trị về lịch sử, kinh tế, quân sự, văn hóa,… Ví dụ: Các tiểu thuyết lịch sử như “Tam Quốc Diễn Nghĩa” của La Quán Trung hay “Hoàng Lê Nhất Thống Chí” của Ngô Gia Văn Phái đã đưa ta về với lịch sử, với quá khứ xa xăm của dân tộc. “Chí Phèo” của Nam Cao, “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố…phản ánh quá trình phá sản, bần cùng hóa của người nông dân đang diễn ra một cách khốc liệt. – Văn học còn giúp ta tìm hiểu thân phận của con người, khám phá các tinhs cách xã hội của một giai đoạn, một xã hội, một tầng lớp, một giai cấp… “Truyện Kiều” cũng dựng lại một xã hội nhơ bẩn, xem đồng tiền hơn cả con người, lấy sự vạn năng của đồng tiền để xoay chuyển cả thế gian vùi dập con người… – Văn học giúp con người tự nhận thức chính mình và cuộc sống. Bằng các hình tượng nghệ thuật, văn học giúp ta nhận thức được các giá trị tinh thần kết tinh trong thế giới đối tượng, khơi gợi khả năng biến quá trình nhận thức thế giới khách quan thành quá trình tự nhận thức về bản thân.

– Văn học còn giúp con người tự nhận thức về mình. – Văn học giúp ta hiểu được giá trị của mình, biết mình phải làm gì và có thể làm gì cho cuộc sống chung khi cùng hòa mình vào công tác khôi phục đất nước sau chiến tranh, khí thế hừng hực lẫn tinh thần kiên cường biến chiến trường xưa thành một nông trường xanh tươi trong “Mùa lạc” của Nguyễn Khải, dòng thơ rỉ máu cua Hàn Mạc Tử…Một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu: Chân dung các nhà văn tiêu biểu

Nhà văn Nguyễn Khải Nhà văn Nam Cao Nhà văn Ngô Tất Tốb. Chức năng giáo dục của văn học: – Văn học khơi gợi tư tưởng, tình cảm, nuôi dưỡng tâm hồn, niềm tin cho con người. -Văn học có khả năng hướng thiện, hướng con người đến cái thiện thông qua hình thành quan điểm đạo đức, khơi gợi tình cảm đạo đức cho con người. Từ hình tượng Lạc Long Quân và Âu Cơ trong truyền thuyết, đến cô Tấm, Thạch Sanh trong cổ tích, hình tượng Thúy Kiều, Nguyệt Nga, Lục Vân Tiên trong truyện thơ Nôm cho đến hình tượng mẹ Tơm, mẹ Suốt, anh hùng Núp trong văn thơ hiện đại đã ít nhiều ảnh hưởng mạnh mẽ đến quan niệm đạo đức của lớp lớp thế hệ người Việt Nam.

– Văn học là nơi nuôi dưỡng tình cảm nhân ái: Những tác phẩm văn học ưu tú lioon khơi dậy trong tâm hồn ta khả năng đồng cảm, làm cho ta biết vui, biết buồn, dạy cho ta biết yêu, biết ghét, biết khinh bỉ sự phản trắc, cái tẹp nhẹp, tầm thường, lười biếng. Văn học khơi dậy ở ta niềm tin vào sự tất thắng của cái thiện, niềm tin vào cuộc sống… – Văn học biến sự giáo dục thành khả năng tự giáo dục, giúp con người tự hoàn thiện nhân cách. Nhân cách của con người được hình thành một cách trọn vẹn thông qua văn học. Các hình tượng văn học đã được nhà văn cẩn thận chọn lọc và gây được xúc cảm tự nhiên trong lòng người đọc. Ta kinh ghét Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến vì ta nhận ra được bộ mặt thật của chúng qua các động tác thoáng qua: “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng” hay “Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào”. Nhờ sự yêu, ghét hay thương cảmcho các nhân vật mà từ đó, nhân cách dần được hình thành trong người đọc một cách tự giác, dần biến tư tưởng, tình cảm thoangs qua ấy thành nhận thức của người đọc. Một đặc điểm khiến văn học dễ dàng đảm nhiệm chức năng giáo dục đó chính là tính cuốn hút của nó. Tác phẩm văn học hiện ra không phải như người thấy thuyết giáo mà như người đồng hành, người đối thoại với bạn đọc, với khán giả. Những chân lý, luân lý, đạo đức, tư tưởng, tình cảm mà văn học mang lại không khô khan trừu tượng như triết học hay khoa học mà rất sống động mà giàu hình ảnh, và được người đọc cảm thụ một cách thích thú.c. Chức năng thẩm mĩ: -Văn học mang lại sự hưởng thụ lành mạnh, bổ ích cho tâm hồn. Đi vào thế giới của văn học, người đọc chia sẻ buồn vui, sướng khổ với nhân vật. Yêu kẻ này, ghét kẻ kia hoàn toàn không dính dáng đến lợi ích vật chất người nào ngoài đời. Những giờ phút sống với tác phẩm là những giờ phút tâm hồn trong sáng, thanh thản nhất. Do đó văn học đem đến cho con người một niềm vui tinh thần hoàn toàn vô tư nhưng không bàng quan, vô trách nhiệm. -Văn học còn làm thỏa mãn thị hiếu thẩm mĩ của người đọc bằng vẻ đẹp ngôn từ, vần điệu, bằng kết cấu khéo léo, lôi cuốn của từng tác phẩm. Nó làm cho tâm hồn chúng ta rung động trước những hình tượng nhân vật điển hình, trước cách cảm, cách nghĩ của nhà văn chân chính là người có tâm hồn chân thành của mình để soi sáng những cảnh đời tối tăm, vỗ về người đau khổ, lên tiếng vạch trần cái xấu, cái ác, ca ngợi phẩm chất cao đẹp…d. Chức năng giải trí: -Các tác phẩm lành mạnh, có giá trị nội dung và nghệ thuật cao sẽ đem lại sự thư giãn cho con người sau những giờ làm việc căng thẳng, góp phần tái tạo sức khỏe và duy trì niềm vui, niềm tin trong cuộc sống. Thực tế cho thấy không it người có thói quen tốt là đọc sách và coi sách là món ăn tinh thần không thể thiếu hàng ngày. -Các chức năng văn học nêu trên luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Ngay trong chức năng nhận thức đã có tính giáo dục. Muốn cho hiệu quả nhận thức cao nhất thì cần phải thông qua đặc trưng thẩm mĩ. Ngược lại, chức năng thẩm mĩ không đơn thuần mang ý nghĩa duy mĩ mà phải phục vụ cho việc thể hiện tốt hai chức năng nhận thức và giáo dục. Tất cả các chức năng ấy tạo thành tác dụng to lớn của văn học trong việc không ngừng hoàn thiện phẩm chất cao quý của con người.Bài làm của nhóm em còn nhiều thiếu sót. Mong cô và các bạn nhận xét, đóng góp ý kiến cho bài làm của nhóm em được hoàn thiện hơn!